Đại hội X của Đảng với nhận thức về con đường đi lên CNXH ở nước ta

Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ở nước ta đã trải qua một quá trình lâu dài và không đơn giản. Trong quá trình đó Đảng ta đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tham khảo kinh nghiệm quốc tế, xuất phát từ thực tiễn đất nước, có nhiều tìm tòi, sáng tạo trong nhận thức lý luận, nhất là trong thời kỳ đổi mới. Đại hội X của Đảng trên cơ sở tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới đã có một bước tiến mới quan trọng trong nhận thức về con đường đi lên CNXH của rước ta. Văn kiện Đại hội X đã khẳng định “Nhận thức về CNXH và con đường đi lên CNXH ngày càng sáng tỏ hơn”. Nhận thức đó được thể hiện tập trung trong Báo cáo chính trị và các Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương khóa IX trình Đại hội. 

Kiên định con đường đã chọn 


Trong hơn 76 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam, dù trong hoàn cảnh nào Đảng ta vẫn luôn kiên định con đường XHCN, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và CNXH. Kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt đường lối cách mạng Việt Nam. Đường lối đó không chỉ phù hợp trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ trước đây, mà còn là đường lối chỉ đạo trong giai đoạn cách mạng XHCN, trong công cuộc đổi mới hiện nay. Ngay cả trong những năm 80, 90 của thế kỷ XX, khi chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu bị sụp đổ, Đảng ta vẫn luôn kiên định con đường XHCN. Từ thực tiễn cách mạng thế giới và trong nước, Đảng và nhân dân ta nhận thức sâu sắc rằng, chỉ có con đường độc lập dân tộc và CNXH, Tổ quốc ta mới được độc lập, tự do, nhân dân ta mới trở thành người làm chủ, tự quyết định con đường phát triển của mình. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “có tiến lên CNXH thì nhân dân mình mỗi ngày một no ấm thêm, Tổ quốc mỗi ngày một giàu mạnh thêm”. 

Thực tiễn lịch sử Việt Nam trong hơn một thế kỷ qua đã cho thấy rằng con đường kết hợp độc lập dân tộc với CNXH là con đường tất yếu khách quan, hợp quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam. Sự lựa chọn con đường XHCN là sự lựa chọn của Đảng, Bác Hồ, và cũng chính là sự lựa chọn của nhân dàn, của lịch sử. Sự ra đời của Đảng ta năm 1930; thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 với sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp năm 1954; thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tố quốc năm 1975; thắng lợi của công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay là những mốc son chói lọi trên con đường đó, của sự lựa chọn lịch sử dân tộc. Trong nhũng năm đổi mới nhờ kiên định con đường XHCN, chúng ta vừa giữ vững thành quả cách mạng và mục tiêu cách mạng, vừa kiên quyết đổi mới, dám từ bỏ những phương pháp và mô hình sai lầm, sáng tạo phương pháp mới, cách làm mới, mô hình mới để xây dựng CNXH có hiệu quả hơn. Chúng ta vừa giữ vững ổn định chính trị - xã hội, vừa phát triển kinh tế - xã hội với tốc độ tương đối cao; vừa giữ vững nền độc lập dân tộc vừa chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. 

Như vậy, sự kiên định con đường XHCN đòi hỏi phải dám đổi mới và biết đổi mới; đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, cả về nhận thức và hoạt động thực. Ở đây có mối quan hệ biện chứng giữa kiên định và đổi mới, muốn kiên định con đường XHCN, phải đổi mới được nhận thức và đưa được nhận thức đó vào thực tiễn, tạo ra được những thành quả của CNXH trong cuộc sống; trái lại, có kiên định con đường XHCN thì mới đổi mới đúng hướng, mới bảo đảm độc lập dân tộc và CNXH cho đất nước. Chính trong quá trình đổi mới, trên cơ sở kiên định con đường XHCN, Đảng ta từng bước hình thành những nhận thức mới về CNXH ngày càng phù hợp hơn, từng bước khắc phục những quan niệm giáo điều, đơn giản, ấu trĩ, duy ý chí về CNXH. Những nhận thức mới đó về CNXH được thể hiện tập trung trong Cương lĩnh năm 1991 và đã được bổ sung, phát triển về sau này, nhất là qua tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới. Tất nhiên sự vận động, phát triển của thực tiễn và nhận thức đòi hỏi Đảng ta phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để bổ sung, phát triển hơn nữa nhận thức đó. 

Điểm xuất phát và mục tiêu 

Nước ta đi lên CNXH xuất phát từ một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, từ một xã hội tiền tư bản, có những yếu tố giai đoạn đầu tư bản chủ nghĩa (TBCN) với nền sản xuất nhỏ là phổ biến, bỏ qua chế độ TBCN. Đặc điểm xuất phát này quy định cả nội dung, hình thức, bước đi và thời gian của con đường đi lên CNXH ở nước ta. Khi nói về đặc điểm xây dựng CNXH ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Đặc điểm to nhất... là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên CNXH, không phải kinh qua giai đoạn phát triển TBCN”. Khái niệm “tiến thẳng ở đây không có nghĩa là “quá độ trực tiếp” lên CNXH mà chỉ có nghĩa là “không phải kinh qua chế độ TBCN” hay “bỏ qua chế độ TBCN”. Mà “bỏ qua chế độ TBCN” tức là bỏ qua việc xác lập vai trò thống trị của cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tâng TBCN nhưng phải biết kế thừa và phát huy những nhân tố tích cực được tạo ra trong lòng CNTB để xây dựng CNXH. 

Do điểm xuất phát thấp về kinh tế - xã hội nên chúng ta phải thực hiện kiểu “quá độ gián tiếp” từ xã hội tiền tư bản, lên CNXH với nhiều khâu trung gian, nhiều bước quá độ, nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội có tính chất quá độ, đan xen để thực hiện bước chuyển tiếp lên CNXH. Đây cũng là sự nghiệp rất khó khăn, phức tạp phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài, với nhiều chặng đường. Nếu nhân dân Trung Quốc đang xây dựng CNXH đặc sắc Trung Quốc mà giai đoạn đầu dài khoảng 100 năm, thì chúng ta mới hoàn thành giai đoạn tạo tiền đề cho công nghiệp hóa và đang trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa để phấn đấu đến năm 2020 cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Sau đó còn bao nhiêu giai đoạn nữa, là những giai đoạn gì và độ dài của thời kỳ quá độ là bao nhiêu năm thì cho đến nay chúng ta vẫn chưa xác định rõ được. Để xác định được chắc chắn chúng ta cần tiếp tục đẩy mạnh tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận. 

Mục tiêu, lý tưởng của Đảng ta là xây dựng thành công CNXH và CNCS, đó cũng là mục tiêu của con đường XHCN ở nước ta. Tuy nhiên, CNXH là gì? bản chất, đặc trưng của nó ra sao thì hiện nay câu trả lời không phải giản đơn và đã hoàn toàn thống nhất. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng CNXH, có thời kỳ chúng ta đã mắc phải sai lầm chủ quan duy ý chí và giáo điều trong việc áp dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và mô hình CNXH Xô-viết. Trong những năm đổi mới, Đảng ta đã có sự nhận thức đúng hơn thực chất những tư tưởng của các nhà kinh điển mác-xít, đã bổ sung, phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin trên một loạt các vấn đề, vận dụng phù họp hơn với thục tiễn Việt Nam. Từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, chúng ta đã nhận thức lại ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về mục tiêu, bản chất, đặc trưng của CNXH. Cương lĩnh năm 1991 đã khái quát 6 đặc trưng của CNXH. Đến Đại hội X, Báo cáo chính trị đã bổ sung một số điểm mới trong mô hình CNXH ở nước ta: “Xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”. Đây chính là đặc trưng tổng quát nhất của mô hình xã hội XHCN mà chúng ta đang xây dựng. Cụ thể hóa đặc trưng tổng quát đó, Văn kiện Đai hộí X đã nêu lên những đặc trưng cụ thể, trong đó có những đặc trưng mới chẳng hạn như “Có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản”. 

Tiếp tục đổi mới và phát triển đất nước theo định hướng XHCN 

Cương lĩnh năm 1991 đã nêu lên 7 phương hướng cơ bản chỉ đạo quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Qua thực tiễn 20 năm đổi mới, Đảng ta đã có sự bổ sung, phát triển, cụ thể hóa những phương hướng đó. Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Để đi lên CNXH, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ XHCN, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế”. 

Văn kiện Đại hội X đã cụ thể hóa những phương hướng trên đây thành các nội dung sau: 

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Đây là một đột phá lý luận rất sáng tạo của Đảng ta. Kinh tế thị trường định hướng XHCN là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam. 

Dựa trên thành quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn những năm qua, Văn kiện Đại hội X đã góp phần làm sáng tỏ khái niệm “định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường”, qua đó bác bỏ quan điểm phủ nhận định hướng XHCN trong kinh tế thị trường. 

Nắm vững định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường có nghĩa là: 

+ Thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; giải phóng mạnh mẽ và không ngừng phát triển sức sản xuất, nâng cao đời sống nhân dân; đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích mọi người vươn lên làm giàu chính đáng... 

+ Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. 

+ Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục..., giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người. Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội. 

+ Phát huy quyền làm chủ xã hội của nhân dân, bảo đảm vai trò quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng. 

Để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, Văn kiện Đại hội X đã nhấn mạnh phải nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước; phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh; phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình tổ chức sản xuất kinh doanh. 

- Đẩy mạnh công,nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với phát triển kinh tế tri thức. Từ một nền sản xuất nhỏ đi lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN, nhất thiết phải ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp. Muốn phát triển lực lượng sản xuất không có cách nào khác là phải tiến hành công nghiệp hóa và kết hợp ngay từ đầu công nghiệp hóa với hiện đại hóa, đồng thời gắn với phát triển kinh tế tri thức. Tranh thủ cơ hội thuận lợi do bối cảnh quốc tế tạo ra và lợi thế của nước ta để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng XHCN, trong đó đặc biệt coi trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn, giải quyết đồng bộ vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân. 

- Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để làm nền tảng tinh thần của xã hội. Văn kiện Đại hội X khẳng định: “Tiếp tục phát triển sâu rộng và nâng cao chất lượng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, gắn kết chặt chẽ và đồng bộ hơn với phát triển kinh tế-xã hội, làm cho văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”. Để văn hóa thật sự làm nền tảng tinh thần của xã hội, phải nâng cao chất lượng, hiệu quả của giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ - những lĩnh vực được coi là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 

- Phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Phát huy dân chủ XHCN, bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu và bản chất của chế độ ta. Để thực hiện mục tiêu đó, vấn đề trung tâm là phải xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN thật sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình chủ yếu bằng nhà nước, thông qua nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng. Nhà nước là công cụ chủ yếu để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, Văn kiện Đại hội X đã nhấn mạnh vấn đề “xây dựng một xã hội dân chủ”; xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền XHCN; xây dựng, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát các cơ quan công quyền; tiếp tục đổi mới hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp; tích cực phòng ngừa và kiên quyết chống tham nhũng, lãng phí. 

- Tăng cường quốc phòng và an ninh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Xây dựng XHCN và bảo vệ Tổ quốc XHCN là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong điều kiện mới phải nhận thức sâu sắc mối quan hệ này cũng như quan hệ giữa kinh tế với quốc phòng - an ninh - đối ngoại, giữa thế trận quốc phòng với thế trận an ninh; nhận thức sâu sắc và toàn diện hơn khái niệm “an ninh quốc gia” và khái niệm “bảo vệ Tổ quốc”, từ đó đề ra các chủ trương, chính sách phù hợp. 

- Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đó là đường lối chiến lược, là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo và Tổ quốc. Văn kiện Đại hội X đã nhấn mạnh nhiệm vụ tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. 

- Mở rộng quan hệ đối ngoại, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Văn kiện Đại hội X đã nêu bật đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế. Chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế trên các lĩnh vực khác... 

- Đổi mới, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Văn kiện Đại hội X coi đây là “nhiệm vụ then chốt, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta”. Thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn phải được coi là quy luật tồn tại và phát triển của Đảng. Trên ý nghĩa đó, văn kiện Đại hội X đã nhấn mạnh 5 nhiệm vụ trong công tác xây dựng Đảng hiện nay. 

+ Nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng. 

+ Kiện toàn và đổi mới hoạt động của tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. 

+ Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng; tăng cường quan hệ gắn bó giữa Đảng với nhân dân; nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát. 

+ Đổi mới tổ chức, bộ máy và công tác cán bộ. 

+ Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng. 

Tóm lại, dựa trên tổng kết lý luận - thực tiễn 20 năm đổi mới, Văn kiện Đại hội X của Đảng đã góp phần làm sáng tỏ con đường đi lên CNXH ở nước ta. Con đường đó phản ánh tính phổ biến và tính đặc thù của CNXH Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những điều đã rõ vẫn còn nhiều điều cần phải tiếp tục đi sâu nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để tìm câu trả lời cho những vấn đề do cuộc sống đặt ra, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong thế kỷ XXI. 

Theo GS., TS Lê Hữu Nghĩa, báo Nhân dân ngày 29/6/2006

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tăng 7,19% mức trợ cấp hàng tháng đối với quân nhân phục viên, xuất ngũ

Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư 106/2019/TT-BQP hướng dẫn điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc....

Những trường hợp được miễn, không phải nộp lệ phí cấp căn cước công dân

(ĐCSVN)-  Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 59/2019/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp căn cước công dân, trong đó nêu rõ các trường hợp được miễn, không phải nộp lệ phí căn cước công dân....

Phê duyệt hơn 253 nghìn biên chế công chức năm 2020

(ĐCSVN) - Tổng biên chế công chức năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là 253.517 biên chế (giảm 6.081 biên chế so với năm 2019). 

3 trường hợp đặc cách tuyển dụng công chức

(ĐCSVN) - Tăng lương cơ sở, lương hưu; đặc cách tuyển dụng công chức; công dân được quyền đề xuất bản án, quyết định thành án lệ; sĩ quan công an là giáo sư, phó giáo sư... có thể được kéo dài hạn tuổi phục vụ… là những chính sách mới nổi bật sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2019.

Sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đào tạo cán bộ

(ĐCSVN) - Phấn đấu đến năm 2025, mỗi bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương chỉ có tối đa 1 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; 25% cơ sở đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm tự chủ về thực hiện nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, nhân sự và bảo đảm tự chủ chi thường xuyên; 75% bảo đảm tự chủ tối thiểu 50% chi thường xuyên.

Hướng dẫn xác định nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế

Ngày 05/6/2019, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 31/2019/TT-BTC hướng dẫn việc xác định nguồn kinh phí và quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế. Thông tư áp dụng từ năm ngân sách 2019, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2019 đến hết ngày 31/12/2021.

Tăng lương cơ sở lên 1.490.000 đồng/tháng từ ngày 1/7/2019

(ĐCSVN) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng....

Liên kết website