Đại hội X: Kiên định, tìm tòi và sáng tạo

Đại hội X Đảng Cộng sản Việt Nam diễn ra tại một thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại: đất nước trải qua 20 năm đổi mới thành công và chuẩn bị gia nhập WTO. Thời điểm lịch sử đó đặt ra cho Đại hội nhiệm vụ tổng kết, đánh giá lại 20 năm đổi mới, trên cơ sở đó, nhận diện bối cảnh phát triển mới và đề ra đường lối và chiến lược phát triển đất nước trong giai đoạn tới. 

Sứ mệnh của Đại hội là rõ ràng: nhìn lại lịch sử, hướng tới tương lai, thiết kế lộ trình phát triển của giai đoạn 2006-2010 nhằm mục tiêu thu hẹp khoảng cách tụt hậu phát triển của Việt Nam so với thế giới và tạo lập các cơ sở tiền đề cho giai đoạn xây dựng Việt Nam thành nước công nghiệp. 

Nhìn lại lịch sử, nhận diện thời cuộc 

Tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X khẳng định: Công cuộc đổi mới trong 20 năm qua đã đạt những thành tựu to lớn và có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi bộ mặt của đất nước, cải thiện đáng kể đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ta. 

Sự khẳng định này dựa trên kết quả thực tiễn của 20 năm đổi mới. Nó xua tan những hoài nghi, do dự về con đường phát triển mà đất nước đã lựa chọn. Kinh tế thị trường mở cửa, hội nhập quốc tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa được chính thức tuyên bố là phương thức phát triển phù hợp với điều kiện và nhu cầu của đất nước, với đòi hỏi của thời đại; đồng thời, bảo đảm cho nước ta hội nhập thành công vào quỹ đạo phát triển chung của thế giới. Sự khẳng định này bao hàm định hướng phát triển cơ bản của đất nước trong giai đoạn tới. 

Bên cạnh đó, Đại hội cũng nhận thức một cách sâu sắc những yếu kém và vấn đề bức xúc lớn đang đặt ra. Đó là tình trạng kinh tế vẫn kém phát triển, tụt hậu xa so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới, dễ bị tác động hơn bởi những biến động từ bên ngoài; là tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên; là nạn tham nhũng, lãng phí, quan liêu còn rất nghiêm trọng v.v... 

Nhìn lại chặng đường 20 năm đổi mới, Đại hội X rút ra 5 bài học lớn: Một là, trong quá trình đổi mới phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Hai là, đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa, có bước đi, hình thức và cách làm phù hợp, bảo đảm sự gắn kết chặt chẽ và đồng bộ giữa phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa - nền tảng tinh thần của xã hội. 

Ba là, đổi mới phải vì lợi ích của nhân dân, dựa vào nhân dân, phát huy vai trò chủ động, sáng tạo của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn nhạy bén với cái mới. 

Bốn là, phát huy cao độ nội lực, đồng thời khai thác ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới. 

Năm là, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, không ngừng đổi mới hệ thống chính trị, xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm quyền lực thuộc về nhân dân. 

Với những bài học quý báu nêu trên, việc tổng kết 20 năm đổi mới đem lại cơ sở thực tiễn - lịch sử vững chắc để Đại hội X xác định một đường lối, chiến lược phát triển đất nước phù hợp cho giai đoạn tới. 

Đại hội X cũng phân tích, dự báo tình hình quốc tế trong những năm tới. Đại hội nhận định: Hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn; toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế khách quan, cạnh tranh giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường... ngày càng gay gắt; khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn, tác động nhiều mặt đến tất cả các nước. Tuy nhiên, hòa bình chưa bền vững; những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, ly khai, khủng bố, những tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên thiên nhiên vẫn tiếp diễn ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp. Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt. Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia và các tổ chức quốc tế phối hợp cùng nhau giải quyết. Đối với khu vực châu Á - Thái Bình Dương, Đại hội nhận định rằng xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định như tranh chấp ảnh hưởng và quyền lực, biên giới, lãnh thổ, biển đảo, tài nguyên; những bất ổn về kinh tế, chính trị, xã hội ở một số nước. Đó là một bức tranh toàn cầu và khu vực sinh động, với những xu hướng chủ đạo rõ ràng. Nhưng mặt khác, bức tranh thế giới đó cũng rất phức tạp, tiềm ẩn nhiều rủi ro và khó dự đoán. Nó bao hàm những thời cơ lịch sử hiếm có cũng như những thách thức to lớn, nhất là đối với các nước đang phát triển. 

Hướng tới tương lai 

Từ những phân tích và dự báo nói trên, Đại hội X cho rằng những năm tới là cơ hội lớn để nước ta tiến lên. Nhận định này có hàm ý sâu sắc vì giai đoạn phát triển tới có một đặc thù nổi bật là nước ta “hội nhập sâu và toàn diện vào nền kinh tế thế giới và khu vực”. Chính đặc điểm này quy định những “điểm nhấn”, điểm mới trong tư duy phát triển, định hướng chiến lược và hệ giải pháp hành động. 

Đại hội X xác định mục tiêu và phương hướng tổng quát của 5 năm 2006 - 2010 là: Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đổi mới mạnh mẽ, toàn diện và đồng bộ hơn, động viên mọi nguồn lực của toàn xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển nhanh và bền vững nhằm sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Phấn đấu đến năm 2010: tổng sản phẩm trong nước tăng gấp 2,1 lần so với năm 2000; mức tăng trưởng GDP bình quân hàng năm 7,5% - 8%, đồng thời nỗ lực phấn đấu cao nhất để có thể đạt trên 8%/năm. 

Mục tiêu và phương hướng phát triển tổng quát nêu trên bao gồm nhiều nội dung phong phú. Không có điều kiện giới thiệu đầy đủ các nội dung này, ở đây chỉ đề cập đến một số điểm nhấn nổi bật, có giá trị khắc họa thực chất chặng đường phía trước. 

Thứ nhất, mục tiêu phát triển trọng tâm, nổi bật của giai đoạn 2006- 2010 là đưa nước ta thoát khỏi tình trạng kém phát triển thu nhập thấp, với mức GDP/đầu người phải đạt năm 2010 là 950-1000 USD. Tuy nhiên, điểm đặc sắc ở đây lại là sự nhấn mạnh chất lượng và tính bền vững của quá trình tăng trưởng, đặt yêu cầu nâng cao năng lực cạnh tranh thành một ưu tiên chiến lược. Sự dịch chuyển mức độ ưu tiên phát triển này - từ lượng sang chất - phản ánh sự thay đổi quan trọng trong tư duy phát triển của Đảng khi đất nước bước vào giai đoạn mới, trong đó, hội nhập và cạnh tranh quốc tế nổi lên thành những nhiệm vụ quyết định triển vọng đất nước. Đó là tư duy phát triển trong hội nhập, dựa vào hội nhập và coi cạnh tranh quốc tế là một trong những động cơ mạnh mẽ nhất thúc đẩy sự phát triển. Tư duy mới này bao hàm thái độ và quyết tâm mới đối với hội nhập: vượt qua giới hạn “chủ động hội nhập” của Đại hội VIII và IX để chuyển sang “chủ động và tích cực hội nhập” tại Đại hội X. 

Thứ hai, luận điểm “đảng viên được làm kinh tế tư nhân” được chấp nhận tại Đại hội X đánh dấu một bước tiến chất lượng mới rất quan trọng trong tư duy đổi mới của Đảng. Đại hội VI (1986) đã khởi động công cuộc đổi mới toàn diện bằng luận điểm “phát triển nền kinh tế nhiều thành phần” với hàm nghĩa mọi người dân đều được quyền kinh doanh tư nhân. Đến Đại hội X, luận điểm đó đã mở rộng ra cho các đảng viên. Bằng sự mở rộng này, tính chính đáng, sứ mệnh lịch sử cao cả của kinh tế tư nhân trong sự nghiệp phát triển quốc gia, dân tộc đã được thừa nhận đầy đủ và hoàn toàn: toàn thể mọi thành viên của dân tộc, các đảng viên cộng sản lẫn người dân đều có quyền tham gia vào công cuộc phục hưng đất nước theo đúng cách đổi mới đã chọn. Về thực chất, luận điểm này thể hiện sự đồng thuận cao độ của Đảng và dân tộc vào con đường phát triển kinh tế thị trường mở cửa theo định hướng XHCN. Đây thực sự là một tầm cao mới, cả về mặt lịch sử - thực tiễn lẫn về mặt lý luận, của tư duy đổi mới. 

Thứ ba, đường lối CNH, HĐH được thông qua tại Đại hội X cũng có những điểm đặc sắc cần nhấn mạnh: 

- Một là, quan điểm dựa vào hội nhập để rút ngắn quá trình CNH, HĐH. Quan điểm này thể hiện cách tiếp cận mới của Đảng đến phương thức thực hiện CNH, HĐH trong thời đại toàn cầu hóa. Cách tiếp cận này còn bao hàm yêu cầu gắn CNH, HĐH với phát triển kinh tế tri thức, coi đây là một định hướng quan trọng hàng đầu của đường lối CNH, HĐH của Việt Nam trong thời đại thế giới đang chuyển nhanh và mạnh sang kinh tế tri thức. Đó là hai yếu tố phản ánh đậm nét tính thời đại - hiện đại của đường lối CNH, HĐH của Đại hội X. 

- Hai là, cách nhìn nhận mới về chủ thể tiến hành CNH, HĐH. Tiếp tục thừa nhận vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, Đại hội X nhấn mạnh sự tồn tại bình đẳng, lâu dài và tầm quan trọng của các thành phần kinh tế trong sự nghiệp xây dựng đất nước, đề cao vai trò của hình thức kinh tế cổ phần, đặt yêu cầu thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài. Đại hội đề ra nhiệm vụ thực hiện Chiến lược Quốc gia về phát triển doanh nghiệp, coi đây là một giải pháp mạnh để nâng cao vị thế Việt Nam trong nền kinh tế thế giới và khu vực. 

Ba là, nhất quán với cách tiếp cận CNH, HĐH gắn với hội nhập quốc tế và kinh tế tri thức, trên cơ sở xác định giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực thúc đẩy CNH, HĐH, coi nguồn nhân lực là thế mạnh tiềm năng chủ yếu của nước ta nhưng hiện tại lại đang là một khâu rất yếu, Đại hội đặt vấn đề quyết liệt đối với nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, xây dựng chiến lược đào tạo, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài”. 

Đối với giáo dục - đào tạo, yêu cầu đặt ra là phải đổi mới mạnh mẽ, toàn diện, thực hiện những giải pháp cải cách cơ bản, lâu dài nhằm chấn hưng nền giáo dục Việt Nam, chuyển dần mô hình giáo dục hiện nay sang mô hình giáo dục mới - mô hình xã hội học tập với hệ thống học tập suốt đời. 

Đối với lĩnh vực khoa học – công nghệ, yêu cầu cấp bách là đổi mới cơ chế quản lý, phấn đầu đến năm 2010, năng lực khoa học và công nghệ nước ta đạt trình độ của các nước tiên tiến trong khu vực trên một số lĩnh vực quan trọng. 

Đây là những định hướng nhằm tạo ra một lợi thế so sánh động quyết định trên cơ sở thế mạnh tiềm năng to lớn của Việt Nam trong cuộc đua tranh phát triển với thế giới. 

Thứ tư, Đại hội X định hình rõ hơn đường nét cấu trúc của một xã hội Việt Nam dân chủ, công bằng và văn minh. Đó là một xã hội hướng tới sự giàu có vật chất nhưng không “duy kinh tế”. Đại hội đặc biệt nhấn mạnh khía cạnh “văn minh tinh thần”. 

- Đại hội X đặt ra các nhiệm vụ: Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển. 

- Phát triển văn hóa để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. 

- Hệ thống chính trị của Việt Nam dựa trên hai trụ cột chính: dân chủ và nhà nước pháp quyền, đặt trên nền tảng định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Thứ năm, đường lối đối ngoại cũng có những điểm nhấn mới, tương ứng với sự thay đổi của hoàn cảnh, mục tiêu và yêu cầu phát triển của giai đoạn hội nhập. Kiên trì đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, với chính sách đối ngoại rộng mở, theo tinh thần đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế. Đường lối đối ngoại của Đại hội X đặc biệt nhấn mạnh hai điểm: 

- Một là đưa các quan hệ quốc tế đã thiết lập đi vào chiều sâu, ổn định và bền vững; 

- Hai là mở rộng công tác đối ngoại nhân dân theo phương châm “chủ động, linh hoạt, sáng tạo và hiệu quả”. 

Hai điểm nhấn này định vị mục tiêu ưu tiên và phương thức đối ngoại của Việt Nam trong hoàn cảnh mới. 

Trên đây là một số nội dung quan trọng và mang tính đặc thù của đường lối Đại hội X. Đó không phải là toàn bộ đường lối, cũng không hẳn là những điểm quan trọng nhất. Song là những «điểm nhấn». Việc lướt qua những điểm nhấn này giúp hình dung tính kiên định và sự nhất quán của một đường lối phát triển quốc gia; Mặt khác, nó cho thấy những nội dung mới, các điểm chốt, những mục tiêu và giải pháp đặc thù trong đường lối phát triển của một giai đoạn mới. Chính đây là điểm thể hiện tính sáng tạo, linh hoạt của Đảng. 

Tất nhiên, không phải tất cả mọi vấn đề đường lối đã được Đại hội X thông qua đều là tuyệt đối hoàn hảo. Vẫn còn rất nhiều điểm, kể cả những điểm cơ bản, then chốt nhất, cần được tranh luận, thảo luận một cách rộng rãi, dân chủ và với tinh thần trách nhiệm. Đó chính là khoảng mở dành cho sự sáng tạo, cũng là dành cho trách nhiệm cá nhân đóng góp vào công cuộc phát triển đất nước. Tinh thần Đại hội X cũng là như vậy. 

Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, Tạp chí Tài chính tháng 6/2006

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tăng 7,19% mức trợ cấp hàng tháng đối với quân nhân phục viên, xuất ngũ

Bộ Quốc phòng vừa ban hành Thông tư 106/2019/TT-BQP hướng dẫn điều chỉnh trợ cấp hàng tháng đối với quân nhân, người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc....

Những trường hợp được miễn, không phải nộp lệ phí cấp căn cước công dân

(ĐCSVN)-  Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 59/2019/TT-BTC quy định mức thu, chế độ thu, nộp và quản lý lệ phí cấp căn cước công dân, trong đó nêu rõ các trường hợp được miễn, không phải nộp lệ phí căn cước công dân....

Phê duyệt hơn 253 nghìn biên chế công chức năm 2020

(ĐCSVN) - Tổng biên chế công chức năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là 253.517 biên chế (giảm 6.081 biên chế so với năm 2019). 

3 trường hợp đặc cách tuyển dụng công chức

(ĐCSVN) - Tăng lương cơ sở, lương hưu; đặc cách tuyển dụng công chức; công dân được quyền đề xuất bản án, quyết định thành án lệ; sĩ quan công an là giáo sư, phó giáo sư... có thể được kéo dài hạn tuổi phục vụ… là những chính sách mới nổi bật sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2019.

Sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đào tạo cán bộ

(ĐCSVN) - Phấn đấu đến năm 2025, mỗi bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương chỉ có tối đa 1 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; 25% cơ sở đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm tự chủ về thực hiện nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, nhân sự và bảo đảm tự chủ chi thường xuyên; 75% bảo đảm tự chủ tối thiểu 50% chi thường xuyên.

Hướng dẫn xác định nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế

Ngày 05/6/2019, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 31/2019/TT-BTC hướng dẫn việc xác định nguồn kinh phí và quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế. Thông tư áp dụng từ năm ngân sách 2019, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2019 đến hết ngày 31/12/2021.

Tăng lương cơ sở lên 1.490.000 đồng/tháng từ ngày 1/7/2019

(ĐCSVN) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng....

Liên kết website