Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng không ngừng tìm tòi, đổi mới và tổng kết lý luận - thực tiễn để có nhận thức ngày càng đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tìm tòi, đổi mới để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 

1- Quá trình tìm tòi, đổi mới để xây dựng và hoàn thiện dần mô hình "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa". 


Ði lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng thiêng liêng của cả dân tộc Việt Nam. Ðảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Ðảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn; không ngừng tìm tòi, đổi mới và tổng kết lý luận - thực tiễn để có nhận thức ngày càng đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

Trong thời gian dài trước đổi mới, cũng như nhiều nước khác, Việt Nam đã áp dụng mô hình chủ nghĩa xã hội kiểu Xô - Viết, với những đặc trưng chủ yếu là: xây dựng nền kinh tế khép kín về lực lượng sản xuất; không thừa nhận sự tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ; xây dựng quan hệ sản xuất với hai thành phần kinh tế quốc doanh và tập thể là chủ yếu, hạn chế và muốn nhanh chóng xóa bỏ sở hữu tư nhân, kinh tế tư nhân; chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và thị trường, thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung và bao cấp, coi kế hoạch là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế, xã hội chủ nghĩa, xác định nhiệm vụ sản xuất và phân bổ các nguồn lực theo kế hoạch pháp lệnh của Nhà nước là chủ yếu, coi thị trường chỉ là một công cụ thứ yếu bổ sung cho kế hoạch. Mô hình này đã thu được những kết quả quan trọng, nhất là đáp ứng được yêu cầu của đất nước thời kỳ có chiến tranh, nhưng sau đó bộc lộ rõ những khuyết điểm, tình hình kinh tế - xã hội đất nước ngày càng khó khăn. 

Từ những năm 1979 - 1986, Ðảng và nhân dân ta bước đầu đã có những tìm tòi, thử nghiệm để cải cách theo hướng thị trường. Tuy có những chuyển biến nhận thức và thực tiễn quan trọng, nhưng chủ yếu là cải cách thể chế cục bộ trong khuôn khổ cũ, chưa mang tính đột phá để đủ tạo ra một bước ngoặt căn bản trong quan điểm lý luận và thực tiễn về quá trình hình thành và phát triển nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. 

Ðại hội VI của Ðảng (12-1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước, mở ra một bước ngoặt có ý nghĩa quyết định trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; là một cột mốc đánh dấu bước chuyển quan trọng trong nhận thức của Ðảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. 



Ðại hội VI đã khẳng định phải giải phóng sức sản xuất. Ðã đưa ra chủ trương bố trí lại cơ cấu sản xuất và điều chỉnh lớn cơ cấu đầu tư; xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất theo hướng khẳng định cơ cấu kinh tế nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ, xóa bỏ những thành kiến thiên lệch trong sự đánh giá và đối xử với người lao động thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. 

Ðại hội VI khẳng định phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển mạnh các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh theo quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội. Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế là xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và trình độ phát triển của nền kinh tế, nhằm tạo ra động lực thúc đẩy các đơn vị sản xuất, kinh doanh nâng cao năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả. Xác định thực chất của cơ chế mới về quản lý kinh tế là cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, đúng nguyên tắc tập trung dân chủ. 

Ðại hội VI chủ trương kết hợp hài hòa các lợi ích của người lao động, tập thể và toàn xã hội, coi đó là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế; thực hiện phân phối theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, giải quyết các vấn đề xã hội theo hướng bảo đảm sự thống nhất hài hòa giữa chính sách kinh tế và chính sách xã hội, thực hiện công bằng xã hội, khắc phục xu hướng bình quân hóa trong phân phối. 

Hội nghị T.Ư 6 (khóa VI) đã phát triển thêm một bước, đưa ra quan điểm phát triển nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần kinh tế đi lên chủ nghĩa xã hội. Khẳng định chính sách kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài, có tính quy luật từ sản xuất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội và thể hiện tinh thần dân chủ về kinh tế, bảo đảm cho mọi người tự do làm ăn theo pháp luật; các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất vốn có bản chất riêng, nhưng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh không ngăn cách nhau mà có nhiều loại hình hỗn hợp, đan kết với nhau; kinh tế quốc doanh cần có lực lượng đủ sức chi phối thị trường, song không nhất thiết chiếm tỷ trọng lớn trong mọi ngành nghề; những ngành nghề, loại hoạt động nào mà kinh tế hợp tác xã, kinh tế gia đình, kinh tế tư nhân có thể làm tốt, có lợi cho nền kinh tế thì nên tạo điều kiện cho các loại hình kinh tế ấy phát triển. Xác định phải đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyển mạnh các đơn vị kinh tế sang hạch toán kinh doanh theo quan điểm phát triển của nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch gồm nhiều thành phần đi lên chủ nghĩa xã hội; thị trường vừa là một căn cứ, vừa là một đối tượng của kế hoạch hóa. Khâu trung tâm, đồng thời là điểm xuất phát để xây dựng cơ chế quản lý nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch là chuyển tất cả các đơn vị kinh tế, đặc biệt là các xí nghiệp quốc doanh sang cơ chế kinh doanh, gắn với thị trường, hoạt động theo nguyên tắc tự trang trải, tự phát triển và làm nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước. 

Ðại hội VII (6-1991) tiếp tục thực hiện chủ trương xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo hướng phát huy thế mạnh của các thành phần kinh tế, vừa cạnh tranh vừa hợp tác, bổ sung cho nhau trong nền kinh tế quốc dân thống nhất. Ðại hội đã đưa ra một kết luận mới rất quan trọng: sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng. Trên cơ sở đó, đã xác định xây dựng cơ chế vận hành nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách và các công cụ khác. Trong cơ chế đó, các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ sản xuất, kinh doanh, quan hệ bình đẳng, cạnh tranh hợp pháp, hợp tác và liên doanh tự nguyện; thị trường có vai trò trực tiếp hướng dẫn các đơn vị kinh tế lựa chọn lĩnh vực hoạt động và phương án tổ chức sản xuất, kinh doanh có hiệu quả; Nhà nước quản lý nền kinh tế nhằm định hướng, dẫn dắt các thành phần kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh theo cơ chế thị trường, kiểm soát chặt chẽ và xử lý các vi phạm pháp luật trong hoạt động kinh tế, bảo đảm sự hài hòa giữa phát triển kinh tế và phát triển xã hội. 

Ðại hội VIII (6-1996) xác định nhiệm vụ đẩy mạnh công cuộc đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ, tiếp tục phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện nhất quán, lâu dài chính sách phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần; lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế với mục tiêu xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp, hình thành tương đối đồng bộ cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Phát huy những kết quả đổi mới đã đạt được, sau nhiều năm nghiên cứu, tìm tòi, tổng kết lý luận - thực tiễn, Ðại hội IX (4-2001) chính thức đưa ra khái niệm "kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa", khẳng định chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của Việt Nam trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, là đường lối chiến lược nhất quán. Từ "nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa", đã khái quát thành "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"; đó không phải là sự đơn giản hóa khái niệm mà là bước phát triển mới rất quan trọng về tư duy lý luận và thực tiễn của Ðảng. 

Ðại hội X của Ðảng khẳng định những thành tựu rất quan trọng đã đạt được trong 5 năm 2001-2005, trong đó "Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa bước đầu được xây dựng". Hệ thống pháp luật, chính sách và cơ chế vận hành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xây dựng tương đối đồng bộ; một số loại thị trường mới hình thành; các thị trường hàng hóa, dịch vụ, lao động, khoa học và công nghệ, tài chính, bất động sản có bước phát triển phù hợp với cơ chế mới. Ðại hội cũng nhận định "Việc xây dựng thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn nhiều vướng mắc và chưa thật đồng bộ". Một số thị trường (tài chính, bất động sản, khoa học và công nghệ) phát triển chậm, chưa đáp ứng kịp yêu cầu; quản lý nhà nước đối với từng loại thị trường còn nhiều bất cập; một số nguyên tắc của thị trường bị vi phạm. Ðại hội xác định nhiệm vụ những năm tới phải "tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa"; yêu cầu phải nắm vững những nội dung quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta, nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước, phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh, phát triển mạnh các thành phần kinh tế, các loại hình sản xuất, kinh doanh. 

2- Nhận thức rõ hơn về những đặc trưng chủ yếu của mô hình "nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" là căn cứ để tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 

Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, nhất là qua những năm thực hiện Nghị quyết Ðại hội IX của Ðảng, đã dần thấy rõ hơn những đặc trưng chủ yếu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam là: 

(1) Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường, phù hợp với điều kiện và đặc điểm cụ thể của Việt Nam; là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc bản chất của chủ nghĩa xã hội, nhằm mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh"; động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết dân tộc; đồng thời coi trọng khuyến khích cả vật chất và tinh thần, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội. Trong quá trình xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, những yếu tố, phương tiện và công cụ của kinh tế thị trường được sử dụng, phát triển để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tính chất xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế ngày càng được hình thành rõ nét hơn trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. 



Ðây là nền kinh tế thị trường có tổ chức, có sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản, vai trò làm chủ xã hội của nhân dân và sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, được nhân dân đồng tình và là chủ thể xây dựng; không phải là sự gán ghép khiên cưỡng, chủ quan giữa kinh tế thị trường và chủ nghĩa xã hội, mà là sự nắm bắt và tự giác vận dụng sáng tạo xu thế vận động khách quan của kinh tế thị trường trong thời đại ngày nay, tiếp thu có chọn lọc thành tựu của nền văn minh nhân loại, sử dụng và phát huy cao độ vai trò tích cực của kinh tế thị trường, đồng thời hạn chế tối đa những khuyết tật của tính tự phát trong kinh tế thị trường, nhằm thực hiện có kết quả mục tiêu từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, để Việt Nam có thể hội nhập với thế giới, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sớm trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Ðây cũng là thể hiện sự kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Ðảng và nhân dân ta, là kết quả của sự vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Ðảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng. 

(2) Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quan hệ sản xuất không ngừng được đổi mới và hoàn thiện, phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm giải phóng triệt để và thúc đẩy phát triển mạnh lực lượng sản xuất, cải thiện nhanh đời sống của nhân dân, tạo ra sự đồng thuận ngày càng cao trong xã hội, tạo động lực thu hút mạnh mọi nguồn lực trong và ngoài nước đầu tư cho phát triển, và giữ vững ổn định chính trị - xã hội; lấy phát triển lực lượng sản xuất làm động lực để không ngừng hoàn thiện và đổi mới quan hệ sản xuất. 

Thực hiện xóa bỏ mọi sự phân biệt đối xử theo hình thức sở hữu. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển lâu dài; trong đó, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, tạo môi trường và điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế cùng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân; phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển nền kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa, là một động lực phát triển kinh tế - xã hội; nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài được thu hút mạnh; kinh tế cổ phần ngày càng phát triển, trở thành hình thức tổ chức kinh tế phổ biến, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất và đầu tư. 

Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và thông qua phúc lợi xã hội; thực hiện công bằng trong phân phối để tạo động lực mạnh mẽ phát triển kinh tế - xã hội... 

Trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng không ngừng tìm tòi, đổi mới và tổng kết lý luận - thực tiễn để có nhận thức ngày càng đúng đắn hơn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, đồng thời tìm tòi, đổi mới để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. 

(3) Xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội; trong đó việc hình thành và phát triển một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, có sức cạnh tranh cao, có uy tín lớn là một nhiệm vụ chiến lược. 

Mọi công dân có quyền tự do đầu tư, kinh doanh trong những lĩnh vực, ngành nghề, địa bàn mà pháp luật không cấm; có quyền bất khả xâm phạm về quyền sở hữu hợp pháp; có quyền bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội và các nguồn lực phát triển, trong cung cấp và tiếp nhận thông tin. 

Nhà nước định hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường, phù hợp yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Trên cơ sở hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và sự hình thành, phát triển của các thị trường hàng hóa và dịch vụ, tài chính (vốn và tiền tệ), bất động sản, sức lao động, khoa học và công nghệ..., Nhà nước tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi để phát huy các nguồn lực cho phát triển theo cơ chế thị trường, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai và minh bạch, có trật tự, kỷ cương, các giao dịch thị trường diễn ra phù hợp với các nguyên tắc của kinh tế thị trường; hỗ trợ phát triển, chăm lo xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội quan trọng; bảo đảm tính bền vững và tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật; tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế, sử dụng một số biện pháp để hỗ trợ thị trường trong nước khi cần thiết, không trái với các cam kết khi hội nhập. Nhà nước thực hiện sự ưu đãi hoặc hỗ trợ phát triển không phân biệt hình thức sở hữu, đối với một số ngành, lĩnh vực, sản phẩm, đối với một số mục tiêu (như xuất khẩu, tạo việc làm, xóa đói, giảm nghèo, khắc phục những rủi ro), một số địa bàn, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không phân biệt thành phần kinh tế và phù hợp với các cam kết quốc tế của nước ta. Nhà nước quan tâm bồi dưỡng, đào tạo và biểu dương các doanh nhân có tài, có đức và thành đạt. 

Nhà nước định hướng, tạo môi trường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, hình thành một hệ thống doanh nghiệp Việt Nam nhiều về số lượng, có sức cạnh tranh cao, có thương hiệu uy tín, chủ lực là một số tập đoàn kinh tế lớn dựa trên chế độ cổ phần. Doanh nghiệp nhà nước không ngừng được đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả; chủ yếu dưới hình thức công ty cổ phần nhiều chủ sở hữu; phát huy vai trò nòng cốt, tập trung vào một số lĩnh vực kết cấu hạ tầng, sản xuất tư liệu sản xuất và dịch vụ quan trọng của nền kinh tế, một số lĩnh vực công ích; làm nòng cốt trong các tập đoàn kinh tế lớn có tầm cỡ khu vực và quốc tế. Các loại hình kinh tế tập thể, nhất là các hợp tác xã được đổi mới và phát triển mạnh. Kinh tế tư nhân được khuyến khích và phát triển, không hạn chế quy mô trong mọi ngành nghề, lĩnh vực, kể cả các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh quan trọng của nền kinh tế mà pháp luật không cấm. Thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào các ngành nghề, các lĩnh vực kinh doanh quan trọng. 

(4) Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phát triển kinh tế, xã hội và văn hóa gắn kết chặt chẽ, hài hòa. Các mục tiêu kinh tế và các mục tiêu xã hội được kết hợp chặt chẽ trên bình diện cả nước cũng như ở từng lĩnh vực, địa phương; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, thực hiện tốt các chính sách xã hội trên cơ sở phát triển kinh tế. Ðẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo; khuyến khích, tạo điều kiện để mọi người dân làm giàu chính đáng, đồng thời giúp đỡ người khác thoát nghèo, từng bước khá giả hơn; thực hiện chính sách ưu đãi xã hội đối với những người có công với nước; thực hiện các chính sách xã hội bảo đảm an toàn cuộc sống cho mọi thành viên trong cộng đồng, hỗ trợ những vùng bị thiên tai, những người gặp khó khăn cơ nhỡ. Càng đi vào kinh tế thị trường, càng chăm lo tốt hơn phúc lợi xã hội, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, văn hóa, chăm sóc sức khỏe nhân dân; càng phải đề cao vai trò của Nhà nước, của xã hội, phát huy các nguồn lực đầu tư cho lĩnh vực xã hội, thực hiện yêu cầu gắn kết hài hòa giữa kinh tế và xã hội. 

Phát triển văn hóa gắn kết chặt chẽ và đồng bộ với sự phát triển kinh tế, xã hội. Nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc phải thật sự trở thành nền tảng tinh thần của xã hội. Không ngừng xây dựng và hoàn thiện giá trị của con người Việt Nam thời kỳ CNH, HÐH, hội nhập kinh tế quốc tế; bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, đặc biệt là lý tưởng sống, năng lực, trí tuệ, đạo đức cao đẹp và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam. 

(5) Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, kết hợp nội lực với ngoại lực, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới thành nguồn lực tổng hợp để công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển đất nước nhanh và bền vững; trong đó nội lực là nhân tố quyết định đối với sự phát triển, các nguồn lực bên ngoài có vai trò rất quan trọng giúp cho phát huy nội lực mạnh hơn. 

Nền kinh tế độc lập tự chủ trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh, có sức cạnh tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế. 

Hội nhập và hợp tác quốc tế dựa trên các nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ và phát triển nền văn hóa dân tộc trong hội nhập kinh tế quốc tế, lấy phục vụ lợi ích đất nước làm lợi ích cao nhất và là nguyên tắc chủ đạo, đồng thời linh hoạt, mềm dẻo, phù hợp thông lệ quốc tế. Phát huy vai trò chủ thể của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế; khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài và đầu tư ra nước ngoài. Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế để chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng phát huy lợi thế so sánh, đổi mới công nghệ và trình độ quản lý, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của sản phẩm và dịch vụ Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới. 

3- Những nội dung quan trọng trong tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 

(1) Nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta. 

Từ thực tiễn 20 năm đổi mới, một trong những bài học lớn Ðại hội X của Ðảng đã rút ra là: "Trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Ðổi mới không phải từ bỏ mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà là làm cho chủ nghĩa xã hội được nhận thức đúng đắn hơn và được xây dựng có hiệu quả hơn". 

Ðại hội đã xác định: "Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới. 

Ðể đi lên chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế". 



Ðại hội đã xác định phải "nắm vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường ở nước ta" với những nội dung đặc trưng chủ yếu như đã nêu trên. 

(2) Phát triển đồng bộ và quản lý có hiệu quả sự vận hành các loại thị trường cơ bản theo cơ chế cạnh tranh lành mạnh. 

Ðại hội X của Ðảng đã chỉ rõ phương hướng phát triển và quản lý các loại thị trường cơ bản (hàng hóa và dịch vụ, tài chính, bất động sản, sức lao động, khoa học và công nghệ); với tư tưởng xuyên suốt là: "Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật về kinh tế thị trường, tạo lập đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường, để các giao dịch thị trường diễn ra phù hợp với các nguyên tắc của thị trường. Hoàn thiện hệ thống quy tắc vận hành của các tổ chức tham gia thị trường đáp ứng yêu cầu của kinh tế thị trường và thông lệ quốc tế. Ðiều chỉnh mạnh chức năng, nhiệm vụ và tổ chức bộ máy của Nhà nước, tăng cường vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo môi trường kinh doanh và hỗ trợ doanh nghiệp phát triển, không can thiệp trực tiếp vào sản xuất, kinh doanh". 

Những vấn đề cốt lõi trong phát triển các loại thị trường, Ðại hội X của Ðảng đã chỉ ra là: 

- Phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ theo hướng thu hẹp những lĩnh vực Nhà nước độc quyền kinh doanh, xóa bỏ độc quyền doanh nghiệp; tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý giá; đẩy mạnh tự do hóa thương mại phù hợp với cam kết hội nhập kinh tế quốc tế; tạo bước phát triển mới đối với thị trường dịch vụ, nhất là những dịch vụ cao cấp, có hàm lượng trí tuệ cao, giá trị gia tăng lớn. 

- Phát triển vững chắc thị trường tài chính bao gồm thị trường vốn và thị trường tiền tệ theo hướng đồng bộ, có cơ cấu hoàn chỉnh, nâng cao chất lượng hoạt động, hiện đại hóa và đa dạng hóa, mở cửa theo lộ trình hội nhập kinh tế quốc tế. 

- Phát triển thị trường bất động sản, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất và bất động sản gắn liền với đất theo hướng bảo đảm quyền sử dụng đất chuyển thành hàng hóa một cách thuận lợi, làm cho đất đai thật sự trở thành nguồn vốn cho phát triển; thị trường bất động sản trong nước có sức cạnh tranh so với thị trường khu vực, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư; 

Nhà nước vừa quản lý tốt thị trường bất động sản vừa là nhà đầu tư bất động sản lớn nhất. 

- Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động; phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm; có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động; đẩy mạnh xuất khẩu lao động, có chính sách nhập khẩu lao động chất lượng cao; hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công quyền; đa dạng hóa các hình thức giao dịch việc làm; bảo đảm quyền lựa chọn chỗ làm việc và nơi cư trú của người lao động; thực hiện rộng rãi chế độ hợp đồng lao động; bảo đảm quyền lợi của cả người lao động và người sử dụng lao động. 

- Phát triển thị trường khoa học và công nghệ theo hướng phần lớn sản phẩm khoa học và công nghệ (trừ nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu phục vụ xây dựng đường lối, chiến lược, chính sách phát triển) trở thành hàng hóa, được mua bán thuận lợi trên thị trường; chuyển các tổ chức nghiên cứu và phát triển thuộc nhiều loại hình sang hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp. 

(3) Tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách để phát triển mạnh và có hiệu quả các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. 

Nhà nước định hướng, tạo môi trường để phát triển có hiệu quả các doanh nghiệp theo cơ chế thị trường, thực hiện Chiến lược quốc gia về phát triển doanh nghiệp. 

Ðại hội X đã chỉ rõ phương hướng hoàn thiện cơ chế, chính sách để các doanh nghiệp nhà nước thật sự hoạt động trong môi trường cạnh tranh, công khai minh bạch, nâng cao hiệu quả; tổng kết thực tiễn để sớm có chính sách, cơ chế cụ thể khuyến khích phát triển mạnh hơn các loại hình kinh tế tập thể; xóa bỏ mọi rào cản, tạo tâm lý xã hội và môi trường kinh doanh thuận lợi cho các loại hình doanh nghiệp của tư nhân và các hộ kinh doanh cá thể; cải thiện môi trường pháp lý và kinh tế, đa dạng hóa các hình thức và cơ chế để thu hút mạnh nguồn lực của các nhà đầu tư nước ngoài vào những ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh quan trọng. 

(4) Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế nhằm chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình, phù hợp với chiến lược phát triển đất nước 

Ðể tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại, Ðại hội X đã xác định nhiệm vụ khẩn trương đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập những điều kiện thuận lợi hơn nữa để thu hút mạnh các nguồn vốn quốc tế như vốn ODA, vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp, tín dụng thương mại và các nguồn vốn quốc tế khác. 

(5) Nâng cao vai trò và hiệu lực quản lý Nhà nước. 

Ðại hội X của Ðảng xác định các chức năng Nhà nước phải tập trung làm tốt; những nội dung rất quan trọng là: 

- Ðịnh hướng sự phát triển bằng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế, chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của thị trường. Ðổi mới căn bản công tác quy hoạch, kế hoạch phù hợp yêu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, phát huy tối đa mọi lợi thế so sánh của quốc gia, vùng và địa phương, thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế - xã hội. 

- Tạo môi trường pháp lý và cơ chế, chính sách thuận lợi để phát huy các nguồn lực của xã hội cho phát triển, các chủ thể hoạt động kinh doanh bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh, công khai, minh bạch, có trật tự, kỷ cương. 

- Hỗ trợ phát triển, xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng, hệ thống an sinh xã hội. 

- Bảo đảm tính bền vững và tính tích cực của các cân đối kinh tế vĩ mô, hạn chế các rủi ro và tác động tiêu cực của cơ chế thị trường. 

- Tác động đến thị trường chủ yếu thông qua cơ chế, chính sách và các công cụ kinh tế; đồng thời sử dụng kịp thời có hiệu quả một số biện pháp cần thiết khi thị trường trong nước hoạt động không có hiệu quả hoặc thị trường khu vực và thế giới có biến động lớn. 

- Thực hiện quản lý nhà nước bằng hệ thống pháp luật, giảm tối đa sự can thiệp hành chính vào hoạt động của thị trường và doanh nghiệp. Tách chức năng quản lý hành chính của Nhà nước khỏi chức năng quản lý kinh doanh của doanh nghiệp, xóa bỏ "chế độ chủ quản"; tách hệ thống cơ quan hành chính công khỏi hệ thống cơ quan sự nghiệp; phát triển mạnh các dịch vụ công cộng (giáo dục, khoa học và công nghệ, y tế, văn hóa, thể dục thể thao). 

- Tiếp tục đổi mới chính sách tài chính và tiền tệ, bảo đảm tính ổn định và sự phát triển bền vững của nền tài chính quốc gia. 

- Phân định rõ chức năng, mối quan hệ giữa Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong quản lý nhà nước về kinh tế và xã hội. 

Ðại hội X của Ðảng yêu cầu phải thực hiện đồng bộ, kiên quyết các giải pháp để phòng, chống tham nhũng trong bộ máy nhà nước; khẩn trương xây dựng và thực hiện kiên quyết hệ thống pháp luật đồng bộ về phòng ngừa, phát hiện và xử lý những người có hành vi tham nhũng. 

Ðại hội X của Ðảng đã đề ra những chủ trương lớn và hết sức quan trọng đối với việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những chủ trương đó cần được sớm cụ thể hóa và thể chế hóa trên cơ sở tiếp tục tổng kết lý luận-thực tiễn, nghiên cứu tìm tòi đổi mới, có những quyết sách đột phá phù hợp, để sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. 

Theo PGS, TSKH Nguyễn Văn Ðặng,Phó Trưởng ban Kinh tế T.Ư,Ủy viên Hội đồng Lý luận T.Ư, Báo Nhân dân ngày 11-12/7/2006

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Tăng lương cơ sở lên 1.490.000 đồng/tháng từ ngày 1/7/2019

(ĐCSVN) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng....

Quy hoạch báo chí chính thức được Thủ tướng phê duyệt

(ĐCSVN) – Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa phê duyệt quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. ...

CPTPP: Cánh cửa lớn nhưng nhiều thách thức

Ngày 14/1/2019, Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) sẽ chính thức có hiệu lực với Việt Nam, hứa hẹn mở ra cơ hội đẩy mạnh xuất khẩu cho nhiều ngành hàng, giúp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế....

Quy hoạch cán bộ có ý nghĩa cực kỳ quan trọng

(ĐCSVN) – Trung ương nhấn mạnh và khẳng định, trong công tác cán bộ, việc quy hoạch cán bộ là khâu mở đầu, có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bảo đảm cho công tác cán bộ đi vào nền nếp, chủ động, có tầm nhìn xa, đáp ứng yêu...

Chọn cán bộ có đức, có tài, có triển vọng vào quy hoạch

(ĐCSVN) – Yêu cầu của Ban Chỉ đạo Quy hoạch cán bộ cấp chiến lược là quy trình giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương cần tiến hành thận trọng, nghiêm túc, khách quan, chống “chạy” chức, “chạy” quy hoạch....

Tiêu chuẩn, điều kiện kết nạp lại vào Đảng đối với đảng viên đã bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách DS&KHHGĐ

(ĐCSVN) – Đảng viên sau khi bị đưa ra khỏi Đảng, lại vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (DS&KHHGĐ); quần chúng đã vi phạm chính sách DS&KHHGĐ trong trường hợp sinh con thứ năm trở lên. Cả hai trường hợp này đều không được...

Cán bộ có chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu

(ĐCSVN) - Đó là một trong những nội dung chính trong Hướng dẫn thực hiện trách nhiệm nêu gương cán bộ, đảng viên, nhất là lãnh đạo chủ chốt các cấp theo tinh thần Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII), vừa được Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam...

Phê duyệt tổng biên chế công chức năm 2019

(ĐCSVN) - Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng biên chế năm 2019 là 259.598 người (giảm hơn 5.000 so với năm 2018). ...

Bảo đảm bộ máy tinh gọn, hiệu quả tại các cơ quan giúp việc tỉnh, thành ủy

(ĐCSVN) - Ban Bí thư vừa ban hành Quy định số 04-QĐi/TW quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy cơ quan chuyên trách tham mưu, giúp việc tỉnh ủy, thành ủy....

Không có “vùng cấm”

(ĐCSVN) – Vừa qua, Bộ Chính trị, Ban Bí thư và UBKT Trung ương đã kiên quyết xử lý nghiêm những cán bộ vi phạm trong đó có cả một số cán bộ cấp tướng. Điều đó chứng minh cho quan điểm của Đảng là không có “vùng cấm” trong...

Liên kết website