Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng
 

Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV do đồng chí Lê Đức Thọ trình bày Ngày 17 tháng 12 năm 1976;

 

Thưa các đồng chí đại biểu thân mến,

 

Tại Đại hội này, bản Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Lê Duẩn trình bày đã tổng kết một cách sâu sắc tình hình cách mạng Việt Nam từ sau Đại hội Đảng lần thứ III đến nay, đồng thời đã vận dụng những nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, vạch ra một cách hoàn chỉnh và sáng tạo đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước, chỉ rõ những nhiệm vụ của Đảng và nhân dân ta trong giai đoạn mới. Trên cơ sở bản Báo cáo ấy, nghị quyết mà Đại hội sẽ thông qua chắc chắn là ngọn cờ cổ vũ nhân dân ta tiến tới những thắng lợi mới to lớn hơn nữa, xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

Tiếp sau Báo cáo chính trị, Đại hội xem xét bản Báo cáo về công tác xây dựng Đảng, nhằm:

 

- Kiểm điểm công tác xây dựng Đảng trong 16 năm qua, một thời kỳ mà công tác xây dựng Đảng đã diễn ra với nội dung rất phong phú, đã trải qua những chuyển hướng rất quan trọng gắn liền với quá trình tiến triển của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm quý báu soi sáng công tác xây dựng Đảng từ nay về sau.

 

- Xuất phát từ đường lối, nhiệm vụ mà Báo cáo chính trị đã đề ra, vạch rõ những phương hướng, nhiệm vụ về công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn mới, giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước, tăng cường hơn nữa sức chiến đấu và vai trò lãnh đạo của Đảng, bảo đảm cho Đảng làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình.

 

- Đề nghị sửa đổi và bổ sung những điểm trong Điều lệ Đảng, làm cho Điều lệ phản ánh được bước trưởng thành mới, những kinh nghiệm của Đảng trong thời gian qua, và phù hợp với những biến đổi về nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức của Đảng trong giai đoạn mới.

Được sự uỷ nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương, tôi xin trình bày bản Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng.

 

Phần thứ nhất

 

Công tác xây dựng đảng từ sau đại hội


lần thứ III đến nay và một số bài học


kinh nghiệm

 

I


Tình hình Đảng ta và những ưu điểm, khuyết điểm của công tác xây dựng Đảng trong thời gian qua

Trong lịch sử Đảng ta, khoảng thời gian từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III đến nay, sẽ được ghi lại như một thời kỳ đấu tranh vô cùng gian khổ, phức tạp, đầy thử thách, hy sinh và cũng chói lọi biết bao chiến công và thắng lợi huy hoàng. Trong những năm ấy, theo phương hướng mà Nghị quyết Đại hội lần thứ III vạch ra, Đảng đã giương cao hai ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, lãnh đạo cùng một lúc hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng: một mặt, tổ chức và động viên toàn dân tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cuộc kháng chiến lâu dài, khó khăn và vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc, chống tên đế quốc xâm lược đầu sỏ hiếu chiến, ngoan cố, có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh nhất; một mặt, tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc từ một cơ sở kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, lại trong điều kiện không ổn định, khi hoà bình, khi chiến tranh. Những nhiệm vụ cách mạng ấy càng khó khăn, phức tạp bao nhiêu thì thắng lợi giành được càng có ý nghĩa to lớn, sâu sắc bấy nhiêu.

 

Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước toàn thắng đã đập tan nền thống trị thực dân mới của đế quốc Mỹ, giải phóng hoàn toàn miền Nam, kết thúc vẻ vang và trọn vẹn nhiệm vụ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên phát triển rực rỡ của một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, xã hội chủ nghĩa, đồng thời đẩy tới quá trình khủng hoảng toàn diện của đế quốc Mỹ, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chúng, cổ vũ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.

 

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước gắn liền với thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, căn cứ địa vững chắc của cách mạng cả nước. Quá trình tăng cường nền chuyên chính vô sản và thúc đẩy ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, đã dẫn tới những biến đổi sâu sắc trong mọi mặt đời sống xã hội, nhờ đó miền Bắc đã đứng vững qua hai cuộc chiến tranh phá hoại tàn khốc của giặc Mỹ, đáp ứng yêu cầu chi viện sức người, sức của trên một quy mô rộng lớn cho cách mạng miền Nam, cũng như đã làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

 

Những thắng lợi có ý nghĩa lịch sử và có tính chất thời đại của cách mạng Việt Nam, những thắng lợi do Đảng ta tổ chức và cổ vũ, đã chứng minh đầy đủ rằng: Đảng ta, đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, được Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến sáng lập, giáo dục và rèn luyện, là một đảng Mác - Lênin vững mạnh, đã trải qua nhiều thử thách, có nhiều kinh nghiệm, xứng đáng là đội tiên phong lãnh đạo của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam anh hùng, và là một đội ngũ kiên cường của phong trào cộng sản quốc tế.

 

1. Quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng ta trước hết là quá trình tăng cường lãnh đạo chính trị và lãnh đạo tổ chức, xây dựng đường lối, chính sách đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ và tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối ấy.

 

Đảng đã phân tích chính xác lực lượng so sánh giữa địch và ta, những điều kiện trong nước và quốc tế, và với niềm tin vô hạn vào sức mạnh của nhân dân, của dân tộc, đã hạ quyết tâm tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng đã kế thừa và phát huy một cách rực rỡ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc trong lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước, đặc biệt là đã tổng kết những kinh nghiệm phong phú về đường lối và phương pháp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân từ Cách mạng Tháng Tám đến kháng chiến chống Pháp, vận dụng và tiếp tục phát triển những kinh nghiệm đó trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Trong suốt cuộc kháng chiến, Đảng đã theo dõi chặt chẽ và phân tích một cách sắc bén mọi diễn biến của tình hình, định rõ mục tiêu, phương châm, phương pháp đấu tranh trong từng thời kỳ nhất định; luôn luôn thực hiện chiến lược cách mạng tiến công, đồng thời biết giành thắng lợi từng bước, kết hợp chặt chẽ đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ chiến lược ở hai miền với phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới, tạo nên sức mạnh tổng hợp to lớn đánh Mỹ và thắng Mỹ. Về mặt tổ chức và chỉ đạo chiến tranh, Đảng đã động viên được mọi khả năng tiềm tàng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các tổ chức Đảng, Nhà nước và quần chúng, khéo phối hợp mọi lực lượng từ tiền tuyến đến hậu phương, sử dụng mọi phương tiện từ thô sơ đến hiện đại, xây dựng được lực lượng vũ trang hùng mạnh bao gồm ba thứ quân ở cả ba vùng chiến lược, đã tổ chức cuộc chiến tranh nhân dân với quy mô rộng lớn và trình độ phát triển rất cao.

 

Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, trên cơ sở Nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, các hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã căn cứ vào tình hình thực tế mà từng bước bổ sung và phát triển đường lối, từng bước cụ thể hoá nội dung và bước đi của ba cuộc cách mạng cho phù hợp với điều kiện của nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Đảng đã chỉ ra nhiệm vụ, phương hướng phát triển kinh tế, văn hoá cho từng thời kỳ, đã kịp thời có chủ trương đúng đắn chuyển hướng các mặt công tác khi bước vào chiến tranh cũng như khi hoà bình lập lại.

 

Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Đảng đã kịp thời nhận định tình hình, đề ra chủ trương rất sáng suốt, sớm hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, đã phân tích và giải quyết hàng loạt vấn đề cơ bản của cách mạng nước ta nói chung và của miền Nam nói riêng, kết hợp hoàn thành những nhiệm vụ còn lại của cách mạng dân tộc dân chủ với tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, kết hợp giữa cải tạo xã hội chủ nghĩa với xây dựng chủ nghĩa xã hội.

 

Trên lĩnh vực quan hệ quốc tế, trong tình hình rất phức tạp, đường lối đúng đắn của Đảng đã phát huy sức mạnh tổng hợp của ba dòng thác cách mạng, đoàn kết và tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, của các dân tộc bị áp bức, của phong trào công nhân quốc tế và của mọi lực lượng tiến bộ trên thế giới. Bằng cuộc chiến đấu anh dũng sáng ngời chính nghĩa của mình, chúng ta đã góp phần tích cực vào việc động viên mọi lực lượng cách mạng và tiến bộ của thời đại, hình thành trên thực tế một mặt trận rộng rãi của nhân dân thế giới chống đế quốc Mỹ phối hợp nhịp nhàng với cuộc kháng chiến của nhân dân ta. Trên những vấn đề chiến lược và sách lược của phong trào cộng sản quốc tế, Đảng đã có những quan điểm đúng đắn và độc lập của mình, đã góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chống những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa hữu và "tả".

 

Nhìn lại chặng đường đã qua, chúng ta rất tự hào nhận thấy rằng, trong những điều kiện vô cùng khó khăn, phức tạp của cách mạng nước ta và cách mạng thế giới, đường lối, chính sách của Đảng luôn luôn đúng đắn, sáng tạo, cả trên lĩnh vực đối nội và đối ngoại, về cách mạng dân tộc dân chủ, chống Mỹ, cứu nước cũng như về xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đường lối ấy vừa quán triệt tinh thần cách mạng tiến công, cách mạng triệt để, vừa thấm nhuần tính khoa học nghiêm túc trong việc phân tích lực lượng so sánh giữa ta và địch trong phạm vi nước ta và trên thế giới, vừa có sự chuyển hướng mạnh bạo, kịp thời nhằm mục tiêu cụ thể, vừa có sách lược và phương pháp đấu tranh thích hợp. Đường lối chính trị đúng đã tạo ra và nhân lên nhiều lần sức mạnh tổng hợp của Đảng ta về mọi mặt: sự thống nhất tư tưởng và tổ chức; sức chiến đấu của các tổ chức Đảng và Nhà nước, của cán bộ, đảng viên, sức mạnh của quần chúng làm chủ tập thể; sự đoàn kết và ủng hộ quốc tế. Đường lối ấy đã được cụ thể hoá và phát triển phong phú, được chứng minh là đúng và trở thành hiện thực là nhờ ở hoạt động thực tiễn đầy sáng tạo, ở cuộc chiến đấu hy sinh, dũng cảm của đông đảo cán bộ, đảng viên, của quân và dân, của các đảng bộ ở các ngành, các địa phương, các đơn vị cơ sở.

 

2. Quá trình xây dựng và trưởng thành của Đảng ta trong những năm qua gắn liền với quá trình xây dựng Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản, tổ chức và phát huy cao độ tinh thần làm chủ tập thể của quần chúng. Đó cũng là quá trình không ngừng thắt chặt mối liên hệ gắn bó giữa Đảng với quần chúng.

 

Đảng ta đã chăm lo xây dựng Nhà nước vững mạnh với một cơ cấu hoàn chỉnh từ trung ương đến cơ sở. Nhiều cán bộ cốt cán của Đảng đã được cử vào hoạt động trong các cơ quan nhà nước, đồng thời với việc thu hút những đại biểu ưu tú trong quần chúng ngoài Đảng. Đảng đã lãnh đạo bộ máy nhà nước làm tốt nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, tổ chức chiến đấu giỏi, bảo đảm mọi nhu cầu của chiến tranh. Cơ cấu quản lý kinh tế đã từng bước được kiện toàn, đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, cán bộ quản lý kinh tế đã phát triển mạnh và bắt đầu phát huy tác dụng.

 

ở miền Nam, trong những năm kháng chiến, Chính phủ Cách mạng lâm thời được thành lập đã có ảnh hưởng và uy tín to lớn trên trường quốc tế. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, hệ thống chính quyền được mau chóng xây dựng và từng bước kiện toàn, đã phát huy vai trò của nó trong việc trấn áp bọn phản cách mạng, xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân, tổ chức cuộc sống mới.

 

Vừa qua, chúng ta đã tiến hành thắng lợi rực rỡ cuộc Tổng tuyển cử bầu Quốc hội chung cả nước. Quốc hội đã cử ra Chính phủ và các cơ quan lãnh đạo khác của Nhà nước. Việc thống nhất nước nhà về mặt Nhà nước đã được hoàn thành tốt đẹp, bộ máy nhà nước được củng cố một bước.

 

Lực lượng chính trị của quần chúng ngày càng lớn mạnh. Hệ thống các đoàn thể quần chúng ở miền Bắc cũng như ở miền Nam nay đã thống nhất, tập hợp được quần chúng đông đảo, góp phần tích cực vào việc giáo dục và động viên quần chúng thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng.

 

Bằng hoạt động trực tiếp của mình và thông qua các tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản, Đảng đã phát huy được vai trò làm chủ tập thể của quần chúng trên nhiều lĩnh vực, củng cố mối liên hệ chặt chẽ giữa Đảng với nhân dân đông đảo, nên đã tập hợp được lực lượng và giành được sự ủng hộ mạnh mẽ của quần chúng để đấu tranh ngay trong những hoàn cảnh gay go, ác liệt, đòi hỏi phải chịu đựng những hy sinh và thử thách nặng nề nhất. Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã triển khai công tác giáo dục, động viên tinh thần trên một quy mô lớn với nhiều hình thức phong phú, gắn liền giáo dục yêu nước với giáo dục xã hội chủ nghĩa, phát động phong trào cách mạng sôi nổi và rộng rãi trong quần chúng, thu hút mọi tầng lớp, mọi giới, mọi lứa tuổi. Qua đó, tư tưởng "Không có gì quý hơn độc lập, tự do" và khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" thấm sâu vào quần chúng; truyền thống yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng được cổ vũ mạnh mẽ; lòng dũng cảm và trí sáng tạo của quần chúng được phát huy cao độ. Nhiều phần tử ưu tú, nhiều anh hùng, chiến sĩ thi đua đã nảy nở và trưởng thành.

 

Sau ngày đất nước được hoàn toàn giải phóng, ở miền Nam, nhân dân đang xây dựng quyền làm chủ của mình; khí thế cách mạng của quần chúng tiến bộ rõ rệt qua cuộc Tổng tuyển cử bầu cử Quốc hội chung của cả nước, xây dựng chính quyền và trấn áp bọn phản cách mạng, qua các phong trào thuỷ lợi, tăng vụ, khai hoang và các phong trào văn hoá, văn nghệ quần chúng, xây dựng nếp sống mới... Trên miền Bắc, trong việc tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý kinh tế, trong việc chăm lo đời sống và giáo dục, động viên nhiệt tình yêu nước và yêu chủ nghĩa xã hội, phong trào quần chúng lao động sản xuất cũng đang có đà đi lên.

 

3. Dựa trên đường lối chính trị đúng đắn và trong quá trình phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng trong cuộc đấu tranh để hoàn thành những nhiệm vụ cách mạng ấy, Đảng đã được xây dựng và trưởng thành thêm về tư tưởng và tổ chức. Theo phương hướng Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức đã có nhiều cố gắng nhằm tăng cường tính chất đảng của giai cấp công nhân, và bám sát yêu cầu của nhiệm vụ chính trị, bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của Đảng.

 

Trong những năm qua, sinh hoạt tư tưởng và sinh hoạt tổ chức của Đảng ta có nội dung vô cùng phong phú, sôi nổi. Đó là những năm đã diễn ra mấy lần chuyển hướng lớn về nhiệm vụ chính trị của Đảng. Những năm đầu sau Đại hội lần thứ III, miền Bắc chuyển mạnh vào nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội với việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong khi đó cách mạng miền Nam chuyển sang thế tiến công, dấy lên phong trào đồng khởi và đập tan cuộc Chiến tranh đặc biệt của địch. Từ năm 1965, cả nước chuyển vào chiến tranh, nhân dân ta đứng lên kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng thời bảo vệ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Từ sau khi ký Hiệp định Pari, tháng 1 năm 1973, Mỹ phải rút quân khỏi miền Nam, chúng ta vừa chiến đấu để bảo vệ thành quả cách mạng, vừa ra sức tăng cường lực lượng, tiến tới cuộc Tổng tiến công và nổi dậy đại thắng mùa Xuân 1975. Từ sau khi hoàn toàn giải phóng miền Nam, cách mạng lại bước vào một giai đoạn mới: tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước.

 

Những chuyển hướng ấy đã đặt ra biết bao yêu cầu to lớn và phức tạp đối với công tác tư tưởng và tổ chức. Thích ứng với tình hình đó, công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức đã có những chuyển hướng rất quan trọng trên một quy mô rộng lớn và nói chung đã đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của nhiệm vụ chính trị.

 

Công tác tư tưởng được tăng cường. Qua việc học tập lý luận, qua các đợt sinh hoạt chính trị, các cuộc nghiên cứu nghị quyết của Đại hội, của Ban Chấp hành Trung ương, và với nhiều hình thức khác, Đảng đã đem những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng giáo dục cho cán bộ, đảng viên, nhờ đó đã giúp các đồng chí xây dựng lập trường, quan điểm đúng đắn, nâng cao ý thức độc lập, tự chủ, tăng cường ý chí chiến đấu cách mạng, bồi dưỡng kiến thức và năng lực công tác. Những khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa hữu và "tả" trong một số cán bộ và đảng viên, đã bị phê phán và ngăn chặn.

 

Tổ chức của Đảng được chăm lo củng cố. Các cấp uỷ đảng, kể cả bộ máy các ban, từng bước được kiện toàn. Việc xây dựng bộ máy được tiến hành gắn liền với việc xây dựng chức trách, cải tiến lề lối làm việc và nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên. Tổ chức cơ sở Đảng tiếp tục được mở rộng. ở miền Bắc, từ 31.448 chi bộ, 16.340 đảng bộ cơ sở năm 1960, ngày nay Đảng đã có 95.486 chi bộ, 34.545 đảng bộ cơ sở ở khắp các địa phương, các ngành. ở miền Nam, trong chiến đấu ác liệt, kẻ địch đã dùng trăm phương nghìn kế từ bắn giết, tra tấn dã man đến những thủ đoạn dụ dỗ, mua chuộc, nhưng đông đảo đảng viên đã tỏ rõ lòng trung thành không bờ bến với Đảng, với cách mạng. Tuy cơ sở Đảng bị nhiều tổn thất, hàng chục vạn cán bộ, đảng viên đã bị hy sinh, tù đày, nhưng cơ sở Đảng vẫn ăn sâu, bám chắc trong quần chúng, và từ sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tổ chức cơ sở đã được mau chóng mở rộng và xây dựng ở hầu khắp các xã, xí nghiệp, v.v.. Các cuộc vận động xây dựng chi bộ và đảng bộ cơ sở bốn tốt ở miền Bắc, xây dựng chi bộ tự động công tác ở miền Nam, cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên gắn liền với các phong trào cách mạng của quần chúng đã góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở Đảng.

 

Trong công tác tổ chức, nhằm quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng đã phê phán nghiêm khắc những biểu hiện quan liêu, độc đoán cũng như những hiện tượng buông lỏng kỷ luật. Sự nhất trí cao về đường lối chính trị được bảo đảm và tăng cường bằng nguyên tắc tổ chức. Trong Đảng không có chia rẽ về chính trị. Khối đoàn kết, thống nhất của Đảng được củng cố là một yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh của Đảng. Trong chiến đấu gian khổ và trước những biến chuyển phức tạp của tình hình trong nước và trên thế giới, toàn Đảng luôn luôn vững vàng, đoàn kết chặt chẽ chung quanh Trung ương Đảng và Hồ Chủ tịch. Truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng được phát huy...

 

Bộ máy tổ chức và lực lượng cán bộ, đảng viên đã được sắp xếp thích ứng với nhiệm vụ chính trị của Đảng trong từng thời kỳ. Sau Đại hội lần thứ III của Đảng, Đảng tiếp tục tăng cường cán bộ cho các mặt trận kinh tế và văn hoá để đẩy mạnh nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Trong những năm chống Mỹ, cứu nước, Đảng đã tăng cường hàng vạn cán bộ cho quân đội, cho giao thông vận tải, cho miền Nam và làm nghĩa vụ quốc tế, điều động hàng chục vạn đảng viên ưu tú trẻ tuổi gia nhập quân đội; phân công lại cán bộ, đảng viên, sắp xếp lại một số tổ chức để bảo đảm hai nhiệm vụ chính là sản xuất và chiến đấu. Sau khi giải phóng miền Nam, đã sửa đổi lại hệ thống tổ chức, hợp nhất tỉnh, giải thể cấp khu và Trung ương Cục, bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, mau lẹ từ trung ương xuống địa phương phù hợp với điều kiện mới, từng bước kiện toàn các tỉnh uỷ, huyện uỷ, đảng uỷ cơ sở về số lượng, cơ cấu và chất lượng để bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ mới. Vừa sắp xếp, phân công lại cán bộ, đảng viên tại địa phương, vừa điều động một lực lượng lớn cán bộ từ miền Bắc vào để đáp ứng yêu cầu tiếp quản các thành phố, xây dựng chính quyền và quản lý các ngành, các cơ sở kinh tế, văn hoá.

 

Đảng ta đã xây dựng được đội ngũ đảng viên đông đảo, gồm trên 1.553.500 người, chiếm 3,13% dân số. Qua đấu tranh cách mạng ở cả hai miền, số đông đảng viên biểu lộ phẩm chất tốt, hàng chục vạn đảng viên đã hy sinh rất oanh liệt vì sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và hiện nay lớp lớp đảng viên đang nối bước, tận tuỵ phấn đấu, gương mẫu dẫn đầu quần chúng trong công cuộc hàn gắn những vết thương chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới.

 

Trong những năm chiến đấu quyết liệt chống Mỹ, cứu nước, đội ngũ đảng viên ở miền Bắc đã tăng lên mau chóng. Việc mở rộng hàng ngũ lúc ấy là cần thiết. Nó đã thu hút được nhiều phần tử ưu tú nảy nở trong phong trào quần chúng, thiết thực tăng cường lực lượng nòng cốt cho những nhiệm vụ chiến đấu và sản xuất, và nhờ vậy đã xây dựng thêm hàng vạn chi bộ và tổ chức cơ sở Đảng ở khắp các ngành, các đơn vị. Nhưng một khuyết điểm lớn ở nhiều nơi là đã chạy theo số lượng, kết nạp cả những người giác ngộ chính trị thấp, lẫn lộn đảng viên với quần chúng tích cực, trên thực tế dẫn tới hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên, gây ảnh hưởng không tốt đến tính giai cấp và tính tiên phong của Đảng. Những năm qua, khuyết điểm ấy đã được phê phán và ngăn chặn. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, tháng 4 năm 1970, Bộ Chính trị ra Nghị quyết "Về cuộc vận động nâng cao chất lượng đảng viên và kết nạp đảng viên lớp Hồ Chí Minh". Việc thực hiện nghị quyết ấy, mặc dù chưa thật đầy đủ, đã có tác dụng đưa công tác kết nạp đảng viên đi dần vào nền nếp, bảo đảm chất lượng hơn và đưa ra khỏi Đảng hàng vạn người không đủ tư cách đảng viên, góp phần làm cho hàng ngũ Đảng thêm trong sạch, vững mạnh.

 

Sự nghiệp đào tạo cán bộ được đẩy mạnh. Hệ thống trường đảng đã được xây dựng từ trung ương đến địa phương. Hệ thống trường đại học và trung học chuyên nghiệp được mở rộng. Một phong trào khá sôi nổi trong đông đảo cán bộ, đảng viên học tập văn hoá, chính trị, khoa học, kỹ thuật đã được phát động. Ngay trong chiến tranh, quy mô đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật để chuẩn bị cho tương lai vẫn được giữ vững và mở rộng. Đặc biệt là đội ngũ cán bộ quân sự đông đảo được đào tạo, bồi dưỡng và trưởng thành nhanh, đã đáp ứng tốt nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của các lực lượng vũ trang nhân dân. Sau ngày giải phóng miền Nam, Đảng đã và đang chăm lo thành lập các trường dạy văn hoá, mở rộng hệ thống trường Đảng và các trường chuyên môn, nghiệp vụ để bồi dưỡng và đào tạo cán bộ cho giai đoạn cách mạng mới.

 

Cùng với công tác kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách và các nhiệm vụ chính trị, công tác kiểm tra các vụ đảng viên vi phạm Điều lệ và kỷ luật của Đảng, vi phạm đạo đức cách mạng và pháp luật nhà nước và xử lý đơn từ khiếu tố của đảng viên và quần chúng đã đem lại những kết quả nhất định. Những việc đó đã góp phần vào việc giữ gìn kỷ luật của Đảng, giáo dục cán bộ, đảng viên, làm trong sạch hàng ngũ Đảng.

 

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam thật là vĩ đại. Những thành tích và ưu điểm trong công tác xây dựng Đảng là rất cơ bản và có tác dụng quyết định đối với thắng lợi của cách mạng. Nhưng càng có thành tích lớn thì Đảng ta càng phải nghiêm khắc với những nhược điểm và khuyết điểm còn tồn tại.

 

1. Về mặt lãnh đạo chính trị, đường lối chung về cách mạng xã hội chủ nghĩa đã được xác định đúng đắn, nhưng có những mặt chưa được cụ thể hoá đầy đủ. Công tác lãnh đạo trên một số mặt xây dựng quy hoạch kinh tế, chính sách, tổ chức và quản lý kinh tế, quản lý xã hội không theo kịp sự phát triển của nhiệm vụ chính trị. Do đó, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa chậm được củng cố; năng lực sản xuất chưa được khai thác đúng với khả năng; nguồn vốn, vật tư và lao động chưa được sử dụng với hiệu quả kinh tế cao và còn nhiều lãng phí; phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa chưa mạnh.

 

Việc chỉ đạo cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam cũng có lúc thiếu kịp thời. Sau khi miền Nam được hoàn toàn giải phóng, về nhiều mặt, còn thiếu chính sách cụ thể. Trong công tác lãnh đạo của các cấp, các ngành và hoạt động của cán bộ, đảng viên có một số nhược điểm và khuyết điểm, nổi bật nhất là nhận thức chưa thật đầy đủ về tính chất gay go, phức tạp của cuộc đấu tranh giai cấp trong giai đoạn mới, nắm không chắc quan điểm của Đảng về mối quan hệ giữa cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội; từ đó có những biểu hiện lơi lỏng trên một số lĩnh vực công tác mà chúng ta đang ra sức khắc phục.

 

2. Cơ cấu tổ chức bảo đảm chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa còn yếu ở nhiều khâu và chưa được xây dựng thành chế độ chặt chẽ và đồng bộ. Mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ và Nhà nước quản lý chưa được xác định rõ ở từng cấp, từng đơn vị. Nhiều cấp uỷ và tổ chức Đảng vừa bao biện, làm thay chính quyền, vừa buông lỏng lãnh đạo công việc của cơ quan nhà nước về nhiều mặt. Hiệu lực của bộ máy chính quyền các cấp chưa được phát huy mạnh mẽ. Pháp chế xã hội chủ nghĩa còn lỏng lẻo và thiếu sót trong lĩnh vực quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Hệ thống tổ chức và các chế độ quản lý kinh tế chưa được kiện toàn, có những điểm chưa phù hợp với điều kiện thực tế nước ta. Các tổ chức quần chúng chậm cải tiến phương thức hoạt động để phát huy vai trò làm chủ tập thể của mình trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; do đó, hiệu quả hoạt động còn hạn chế. Bộ máy của nhiều ngành, nhiều địa phương cồng kềnh, quyền hạn, trách nhiệm chưa rành mạch, lối làm việc quan liêu, xa quần chúng, xa thực tế và tình trạng phân tán, cục bộ, địa phương, bản vị còn khá phổ biến. Những chỗ yếu trong sự lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chuyên chính vô sản hiện nay là kỷ luật còn lỏng lẻo; trong tổ chức lãnh đạo và quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, mỗi bộ phận trong hệ thống chuyên chính vô sản chưa thực hiện tốt chức năng của mình và sự phối hợp giữa các bộ phận ấy chưa chặt chẽ, nhịp nhàng trên tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa và theo những chế độ, nội quy cụ thể. Hiện nay ở các địa phương phía Nam, bộ máy tổ chức của Đảng, chính quyền cũng như các đoàn thể quần chúng ở nhiều nơi chưa được kiện toàn đúng mức, và ở một số vùng còn có vấn đề phức tạp.

 

Những chỗ non kém, lỏng lẻo nói trên đưa tới tình trạng chậm trễ, lủng củng trong việc giải quyết nhiều vấn đề về sản xuất và đời sống nhân dân, đồng thời có ảnh hưởng không tốt đến việc củng cố nội bộ Đảng, đến việc ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên và quần chúng.

 

3. Công tác xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức còn có những nhược điểm, khuyết điểm và có những mặt công tác còn mang tính chất hữu khuynh. Công tác tư tưởng ở những bước ngoặt của cách mạng có lúc không kịp thời, buông lỏng và đấu tranh thiếu sắc bén chống những nhận thức mơ hồ, lệch lạc và những khuynh hướng sai lầm. Trình độ lý luận, văn hoá, khoa học, kỹ thuật của nhiều cán bộ, đảng viên chậm được nâng cao.

 

Trong công tác tổ chức, một số vấn đề về hệ thống, cơ cấu bộ máy của Đảng chậm được nghiên cứu để thay đổi cho phù hợp với những điều kiện mới, do đó tổ chức của Đảng có những mặt chưa hợp lý và thiếu năng động. Nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách, tự phê bình và phê bình chưa được chấp hành nghiêm chỉnh ở nhiều nơi. Tình trạng thiếu tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lỏng lẻo, mất đoàn kết trong quan hệ cá nhân còn khá phổ biến. Số tổ chức cơ sở Đảng thuộc loại yếu kém tương đối nhiều nhưng chậm được củng cố.

 

Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ còn thiếu quy hoạch; việc cất nhắc cán bộ trẻ và đưa cán bộ già yếu về hưu còn thiếu mạnh dạn; việc thường xuyên đổi mới từng phần đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý chậm được đặt ra với một ý thức và kế hoạch rõ ràng; tình hình đó có ảnh hưởng đến việc xây dựng đội ngũ cán bộ kế thừa của Đảng. Việc quản lý cán bộ thiếu chặt chẽ, chưa đi vào nền nếp.

 

Tình trạng lỏng lẻo trong công tác phát triển Đảng và quản lý đảng viên xảy ra ở nhiều nơi nhưng không được ngăn chặn kịp thời, việc nâng cao chất lượng đảng viên còn nhiều mặt làm kém. Tệ tham ô, quan liêu, độc đoán, chuyên quyền, thiếu trung thực nảy sinh trong hoàn cảnh Đảng lãnh dạo chính quyền đã và đang làm cho một bộ phận cán bộ, đảng viên giảm sút ý chí phấn đấu, thậm chí biến chất đi tới chỗ lợi dụng chức quyền làm điều sai trái, vi phạm pháp luật, ức hiếp quần chúng, v.v. nhưng việc giáo dục thiếu kịp thời và sâu sắc, kỷ luật không được nghiêm minh. Việc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng làm thiếu kiên quyết. Việc xem xét, giải quyết đơn từ khiếu tố làm rất chậm.

 

Hoàn cảnh chiến tranh không cho phép triệu tập Đại hội Đảng đúng kỳ hạn. Điều đó cũng có ảnh hưởng đến sự trưởng thành của Đảng và cán bộ, đảng viên, đến việc đào tạo cán bộ của Đảng.

 

Trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, nhiều cấp uỷ Đảng lại ít chăm lo công tác xây dựng Đảng. Ban Chấp hành Trung ương đã dần dần đúc kết kinh nghiệm và làm sáng rõ một số chủ trương, phương châm, biện pháp về xây dựng Đảng, về công tác cán bộ. Nhưng nhìn chung, việc tổng kết kinh nghiệm và nghiên cứu lý luận về xây dựng Đảng làm chậm. Việc chưa phân tích một cách sâu sắc, đầy đủ những đặc điểm của Đảng nắm chính quyền và lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện tiến thẳng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, và chưa nhấn mạnh đúng mức việc ngăn ngừa và đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực dễ nảy sinh trong hoàn cảnh mới đó, là một trong những nguyên nhân quan trọng ảnh hưởng đến xây dựng Đảng. Nhận thức về Đảng và công tác đảng của cán bộ, đảng viên, kể cả một số cán bộ làm công tác đảng, còn nhiều điểm chưa rõ, hoặc còn mang nặng tính chất đảng vụ đơn thuần. Chủ nghĩa kinh nghiệm trong công tác đảng còn nặng.

 

Một số nghị quyết quan trọng về xây dựng Đảng không được tổ chức thực hiện với hiệu quả cao. Tình trạng đó, một phần là do chưa làm cho cán bộ, đảng viên thông suốt về tư tưởng và quan điểm một cách sâu sắc, và trong nhiều trường hợp còn do sự chỉ đạo thiếu kế hoạch, thiếu biện pháp cụ thể, thiếu kiểm tra đôn đốc chặt chẽ, chưa khéo kết hợp công tác tư tưởng và công tác tổ chức, chưa biết gắn chặt công tác xây dựng Đảng với việc phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng và với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng.

 

Những khuyết điểm và nhược điểm ấy đã hạn chế nhiều chất lượng và kết quả công tác xây dựng Đảng.

 

II


Một số bài học kinh nghiệm về vận dụng đường lối và phương châm xây dựng đảng

Lịch sử xây dựng Đảng ta là lịch sử xây dựng thành công một chính đảng Mác - Lênin trong điều kiện một nước vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, nông nghiệp lạc hậu, mặc dù phải trải qua biết bao thử thách hiểm nghèo, phải chống trả đủ loại thù trong giặc ngoài, phong kiến và đế quốc, thực dân cũ và thực dân mới, nhưng vẫn không ngừng phát triển lớn mạnh và đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đó là lịch sử xây dựng và trưởng thành của một đảng đã từng lãnh đạo ba cao trào cách mạng tiến tới cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945, đã lãnh đạo hai cuộc kháng chiến vĩ đại đánh thắng hai đế quốc to là Pháp và Mỹ, hoàn thành vẻ vang cuộc cách mạng dân tộc dân chủ trong cả nước. Đó là lịch sử xây dựng và trưởng thành của một đảng đã nắm chính quyền từ trên 30 năm nay, đã lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc trên 20 năm và ngày nay đang lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội trên quy mô cả nước. Bài học thành công về xây dựng một đảng như vậy vô cùng phong phú, ở đây chỉ nêu lên một số nét chính:

 

1. Trong suốt quá trình xây dựng Đảng từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn luôn xác định Đảng là Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam và phấn đấu không ngừng nâng cao tính chất giai cấp công nhân của Đảng.

 

Khẳng định điều đó có nghĩa là khẳng định lập trường của Đảng ta là lập trường giai cấp công nhân, giai cấp gắn liền với nền sản xuất đại công nghiệp, tiêu biểu cho xu thế phát triển của thời đại, có hệ tư tưởng cách mạng và khoa học là chủ nghĩa Mác - Lênin. Khẳng định lập trường ấy, phân biệt ranh giới dứt khoát với lập trường của tiểu tư sản và tư sản là điều rất quan trọng đối với Đảng ta, một đảng mà số đông đảng viên xuất thân từ nông dân, tiểu tư sản và giác ngộ cách mạng bắt đầu từ chủ nghĩa yêu nước. Nhấn mạnh tính chất giai cấp công nhân của Đảng hoàn toàn không dẫn tới sự phân cách giữa Đảng, giai cấp với dân tộc, mà trái lại chính là làm cho Đảng ta một khi đứng vững trên lập trường giai cấp công nhân, có thể liên hệ chặt chẽ với nhân dân, phục vụ có hiệu quả nhất sự nghiệp cách mạng của nhân dân, của dân tộc. Đảng ta đã từng đấu tranh khắc phục lệch lạc ở cả hai phía: nói tính chất giai cấp theo quan niệm biệt phái, công đoàn chủ nghĩa hoặc thành phần chủ nghĩa, tách rời giai cấp khỏi dân tộc và ngược lại, mơ hồ, lẫn lộn về tính chất giai cấp của Đảng, coi Đảng là đảng của những người nghèo khổ, đảng của nông dân, lẫn lộn đảng với giai cấp và quần chúng, dẫn tới những lệch lạc hữu khuynh về tư tưởng và tổ chức.

 

Tính chất giai cấp công nhân của Đảng được thể hiện một cách sinh động trên mọi lĩnh vực chính trị, tư tưởng và tổ chức, được phát triển và nâng cao không ngừng, phù hợp với vai trò và sứ mệnh mà Đảng phải gánh vác trong từng giai đoạn của cách mạng nước ta.

 

a) Vấn đề có ý nghĩa quyết định nhất là Đảng ta tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, có đường lối chính trị độc lập, tự chủ, luôn luôn đúng đắn, sáng tạo. Nét nổi bật và xuyên suốt trong toàn bộ đường lối ấy từ trước đến nay là Đảng ta luôn luôn nắm vững hai ngọn cờ: độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, gắn liền hai mục tiêu phấn đấu vì độc lập dân tộc và vì chủ nghĩa xã hội, do đó, đã động viên rộng rãi mọi lực lượng của giai cấp và của dân tộc, kết hợp chặt chẽ sức mạnh của dân tộc với sức mạnh của thời đại.

 

Đường lối của Đảng thể hiện trung thành những lợi ích thiêng liêng của dân tộc, kết hợp đúng đắn với lợi ích của phong trào cách mạng thế giới. Trước và sau khi có chính quyền, Đảng luôn luôn xác định rõ trách nhiệm của mình đối với nghĩa vụ quốc tế, khẳng định Đảng là một bộ phận hợp thành của phong trào cộng sản quốc tế. Trong khi ra sức tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ quốc tế đối với cách mạng Việt Nam, Đảng đồng thời góp phần vào việc tăng cường lực lượng cách mạng trên thế giới, và tích cực làm tròn mọi nghĩa vụ quốc tế. Đảng đấu tranh chống mọi khuynh hướng sô vanh nước lớn và ích kỷ dân tộc.

 

Đảng ta luôn luôn xuất phát từ đặc điểm của cách mạng Việt Nam, từ những điều kiện cụ thể của đất nước và dân tộc ta mà vận dụng những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và những kinh nghiệm của phong trào cách mạng thế giới. Với tinh thần độc lập, tự chủ ấy, Đảng đã giải quyết thành công và sáng tạo các vấn đề đường lối và phương pháp cách mạng Việt Nam.

 

b) Dựa trên đường lối chính trị đúng đắn, Đảng ta coi trọng tăng cường lãnh đạo tư tưởng. Thành công của Đảng trên lĩnh vực này là đã xây dựng lập trường, quan điểm đúng đắn cho cán bộ, đảng viên phần đông xuất thân từ nông dân, củng cố sự thống nhất tư tưởng trên cơ sở đường lối cách mạng của Đảng, ngăn chặn được mọi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa hữu và "tả". Đó còn là thành công trong việc kết hợp giáo dục chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, nhờ đó đã phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, động viên cao độ nghị lực và lòng dũng cảm, mọi tài năng, trí sáng tạo của cán bộ, đảng viên và của nhân dân ta để đưa sự nghiệp cách mạng tiến tới.

 

c) Chẳng những vạch ra đường lối đúng, khẩu hiệu đúng, Đảng ta, với ý chí chiến đấu kiên cường và hoạt động thực tiễn phong phú, đãtổ chức thực hiện thắng lợi đường lối chính trị của mình và rất coi trọng rèn luyện cán bộ, đảng viên trong phong trào quần chúng. Đảng vừa là lực lượng lãnh đạo, bộ tham mưu chính trị, vừa là lực lượng chiến đấu, là đội quân xung kích dẫn đầu và là người tổ chức các phong trào cách mạng của quần chúng. Đảng ta được rèn luyện và trưởng thành trong quá trình chiến đấu cách mạng lâu dài, đầy thử thách quyết liệt, dưới nhiều hình thức phong phú khác nhau: đấu tranh hợp pháp và không hợp pháp, quân sự và chính trị, khởi nghĩa và chiến tranh cách mạng, cải tạo và xây dựng hoà bình... Trải qua những lò lửa cách mạng ấy, sức chiến đấu và năng lực tổ chức của Đảng ngày càng được bồi dưỡng và phát huy.

 

Sau khi giành được chính quyền và tiến lên làm cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng trở thành hạt nhân lãnh đạo của nền chuyên chính vô sản, là người lãnh đạo toàn xã hội. Những nhiệm vụ tổ chức của Đảng lúc này có nội dung mới, có phạm vi rộng lớn khác trước, đó là việc xây dựng Nhà nước xã hội chủ nghĩa và hệ thống chuyên chính vô sản, là công việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội, tổ chức cuộc sống mới của hàng triệu người. Đảng đã và đang chăm lo xây dựng Nhà nước và các đoàn thể quần chúng vững mạnh, vận dụng sức mạnh tổng hợp của chế độ làm chủ tập thể, kết hợp các biện pháp về chính trị, tư tưởng, tổ chức, về giáo dục, kinh tế và hành chính để tổ chức thực hiện có hiệu quả nhất mọi đường lối, chính sách của Đảng.

 

d) Truyền thống tốt đẹp và nguồn sức mạnh cơ bản của Đảng ta là mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng nhân dân. Đảng có đường lối, chính sách phản ánh đúng đắn lợi ích và nguyện vọng của nhân dân, của các dân tộc, đại đa số cán bộ, đảng viên hy sinh phấn đấu, một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đi sát quần chúng, tuyên truyền thuyết phục quần chúng. Nhờ đó nhân dân ta rất tin tưởng và đoàn kết chặt chẽ trong Mặt trận dân tộc thống nhất trên cơ sở liên minh công nông dưới ngọn cờ của Đảng và của Hồ Chủ tịch kính mến.

 

Từ sau khi Đảng nắm chính quyền, trách nhiệm của Đảng trước quần chúng càng nặng nề, nội dung và phạm vi mối liên hệ với quần chúng trở nên rộng rãi hơn nhiều. Đảng nắm chính quyền có mối liên hệ với toàn dân và trên mọi lĩnh vực của đời sống. Đảng liên hệ với quần chúng không những thông qua các đoàn thể nhân dân và mặt trận, thông qua hoạt động hàng ngày của cán bộ, đảng viên mà còn thông qua cả một hệ thống cơ quan nhà nước trong việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Đảng chăm lo xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân một cách toàn diện, làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, làm chủ trong cả nước, trong từng địa phương và từng cơ sở. Quyền làm chủ tập thể của nhân dân được nâng cao thì tính tích cực và trí sáng tạo của quần chúng càng dồi dào, phong trào cách mạng của quần chúng càng sôi nổi, rộng lớn. Có sự lãnh đạo đúng của Đảng, có bộ máy nhà nước mạnh, lại có phong trào cách mạng của đông đảo quần chúng thì mọi nhiệm vụ cách mạng dù khó khăn phức tạp đến đâu cũng được hoàn thành thắng lợi.

 

đ) Một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng là sự đoàn kết, thống nhất nội bộ. Khối đoàn kết, thống nhất của Đảng đã được thử thách và tôi luyện trong quá trình chiến đấu lâu dài, lúc thuận lợi và lúc khó khăn, lúc cách mạng phát triển bình thường và trong những bước ngoặt phức tạp. Đó là sự thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức, thống nhất ý chí và hành động dựa trên đường lối cách mạng đúng đắn và những nguyên tắc tổ chức của đảng vô sản. Hạt nhân vững chắc của khối đoàn kết, thống nhất ấy là Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến. Đảng ta không dung túng mọi biểu hiện chia rẽ, bè phái, chăm lo bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất của Đảng như bảo vệ con ngươi của mắt mình, theo đúng lời căn dặn trong Di chúc của Hồ Chủ tịch.

 

Trong sinh hoạt tổ chức, Đảng ta luôn luôn cố gắng phấn đấu giữ vững chế độ tập trung dân chủ mà nội dung cơ bản của nó đã được Điều lệ Đảng xác định cụ thể.

 

Đảng coi trọng giữ gìn nguyên tắc lãnh đạo tập thể, trước hết là trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị, nhờ đó đã tạo ra sự nhất trí cao về đường lối trong Đảng, và bảo đảm về mặt tổ chức cho đường lối của Đảng được xây dựng đúng và được thực hiện thắng lợi. Đảng thường xuyên chống những lệch lạc ở cả hai phía: tập trung quan liêu, gia trưởng, độc đoán và phân tán, tản mạn, tự do vô kỷ luật, và qua từng bước, xây dựng các chế độ cụ thể về tổ chức và sinh hoạt nội bộ Đảng.

 

Trong khi vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ, Đảng chú trọng làm cho nội dung cụ thể và hình thức thể hiện của nó phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và đặc điểm hoàn cảnh hoạt động của Đảng trong mỗi thời kỳ khác nhau. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nội dung lãnh đạo của Đảng ngày càng phong phú và phức tạp; đặc biệt là trên lĩnh vực xây dựng và phát triển kinh tế, văn hoá thì sự lãnh đạo của Đảng càng phải tập trung thống nhất, đồng thời phải mở rộng quyền hạn, phát huy sáng kiến và tính chủ động của từng tổ chức, từng cán bộ, đảng viên. Lúc này việc thực hiện tập trung dân chủ trong Đảng gắn liền với việc thực hiện tập trung dân chủ trong bộ máy nhà nước, xác định vị trí của mỗi cấp, phân công trách nhiệm quản lý một cách đúng đắn, nhất là về mặt kinh tế.

 

e) Đảng ta vô cùng tự hào có lãnh tụ vĩ đại là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người đã sáng lập, giáo dục, rèn luyện Đảng ta, đã dẫn dắt Đảng ta vượt qua bao khó khăn hiểm nghèo đạt tới những thắng lợi rực rỡ ngày nay. Với sự chăm sóc của Hồ Chủ tịch, Đảng ta đã lựa chọn, rèn luyện và hình thành được một đội ngũ cốt cán lãnh đạo đã trải qua thử thách trong chiến đấu cách mạng lâu dài, nắm vững và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, có uy tín cao trong Đảng và trong nhân dân.

 

Bên cạnh đội ngũ cốt cán ấy, Đảng đã xây dựng được một đội ngũ cán bộ, đảng viên đông đảo, có phẩm chất cách mạng tốt đẹp.

 

Mối quan tâm hàng đầu của Đảng ta là giữ gìn và nâng cao chất lượng đảng viên mà nòng cốt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo; về mặt này, Đảng ta đã từng đấu tranh lâu dài với thiên hướng chạy theo số lượng hoặc những quan niệm không đầy đủ về chất lượng đảng viên. ở mỗi giai đoạn phát triển của cách mạng, Đảng lại phải cụ thể hoá tiêu chuẩn đảng viên, nâng cao chất lượng đảng viên, làm cho đội ngũ đảng viên luôn luôn tiến lên ngang tầm với yêu cầu mới của nhiệm vụ cách mạng.

 

Trong khi mở rộng hàng ngũ, phải bảo đảm thu hút được những người ưu tú nhất xuất thân từ giai cấp công nhân, nhân dân lao động, đã được thử thách trong phong trào cách mạng quần chúng; mặt khác, phải tỉnh táo phòng ngừa những phần tử cơ hội chui vào Đảng cầm quyền để mưu cầu danh lợi. Lại phải nghiêm ngặt kiểm tra nội bộ, loại trừ những tên phản động, nội gián, đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá về chính trị, về phẩm chất, đạo đức và những phần tử lạc hậu đã mất liên hệ với quần chúng, giữ gìn cho hàng ngũ của Đảng luôn trong sạch.

 

Để phát huy bản chất cách mạng và khoa học của Đảng, để Đảng làm tròn trách nhiệm lãnh đạo của mình, phải chăm lo giữ gìn phẩm chất cách mạng đi đôi với ra sức nâng cao kiến thức, năng lực của cán bộ, đảng viên tương ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ cách mạng, không tách rời các mặt đó và không coi nhẹ mặt nào. Phẩm chất của cán bộ, đảng viên phải thể hiện ở lòng trung thành với cách mạng, với Đảng, ở thái độ kiên quyết chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, ở nhiệt tình cách mạng, tinh thần hy sinh phấn đấu để hoàn thành nhiệm vụ được giao; đồng thời còn thể hiện ở lối sống trong sạch và lành mạnh. Phẩm chất và năng lực cuối cùng phải thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ.

 

Phẩm chất và năng lực gắn chặt với nhau, tạo điều kiện cho nhau. Từ sự đúng đắn của đường lối của Đảng cho tới mỗi thành công trong hoạt động hàng ngày của cán bộ, đảng viên đều là kết quả tổng hợp của tinh thần cách mạng và hiểu biết khoa học. Trong kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã thắng vì dám đánh và còn vì biết đánh, biết thắng. Trong xây dựng kinh tế, văn hoá cũng không thể khác. Là đội tiên phong của giai cấp công nhân, lực lượng lãnh đạo sự nghiệp sáng tạo xã hội mới, Đảng nhất thiết phải tiêu biểu cho những phẩm chất cách mạng cao đẹp nhất của giai cấp, của dân tộc và phải tập trung được tinh hoa, trí tuệ của thời đại.

 

g) Sau nữa, trong việc giữ gìn tính chất giai cấp công nhân của Đảng, một trong những vấn đề lâu nay được đặt ra là: trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cán bộ, phải chăm lo cải thiện cơ cấu thành phần xã hội của Đảng, tăng cường thành phần công nhân, nhất là công nhân đại công nghiệp trong Đảng, và có phương hướng lựa chọn đảng viên, đào tạo cán bộ một cách đúng đắn, phù hợp với tình hình và xã hội nước ta và nhiệm vụ cách mạng trong mỗi giai đoạn.

 

Thành phần xã hội xuất thân của đội ngũ cán bộ, đảng viên tuy không phải là yếu tố duy nhất hoặc yếu tố chủ yếu, nhưng rất quan trọng, vì nó góp phần bảo đảm tính chất giai cấp công nhân của Đảng, có ảnh hưởng không nhỏ đến sức chiến đấu, đến sự trong sạch về tư tưởng và tổ chức của Đảng. Không có ý thức đầy đủ và biện pháp mạnh mẽ tăng cường thành phần cơ bản, nhất là thành phần công nhân trong đội ngũ cán bộ, đảng viên là một thiên hướng sai lầm, thường đi liền với những lệch lạc hữu khuynh khác trong công tác xây dựng Đảng. Ngược lại, cường điệu quá mức ý nghĩa của thành phần xã hội xuất thân, cho rằng đường lối giai cấp trong công tác tổ chức, công tác cán bộ chủ yếu là phương hướng lựa chọn cán bộ, đảng viên về mặt thành phần xã hội, coi nhẹ tác dụng cải tạo của việc giáo dục chính trị, tư tưởng và rèn luyện cán bộ, đảng viên qua phong trào quần chúng cũng là một thiên hướng sai lầm dẫn đến biệt phái, hẹp hòi.

 

Vấn đề có ý nghĩa nguyên tắc hàng đầu là tăng cường phát triển Đảng và lựa chọn cán bộ trong công nhân, cơ sở giai cấp của Đảng. Điều đó phù hợp với yêu cầu tăng cường vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đồng thời cũng phù hợp với bước nhảy vọt của giai cấp công nhân từ địa vị làm thuê lên địa vị làm chủ và lãnh đạo xã hội mới, phù hợp với sự phát triển mau chóng về số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân trong quá trình đi lên của công cuộc công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà.

 

ở nông thôn, trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, chúng ta lựa chọn cán bộ và đảng viên trong nông dân lao động, trước hết là trong bần cố nông. Sau cải cách ruộng đất, trong phong trào hợp tác hoá nông nghiệp, chúng ta nhằm trước hết vào bần nông và trung nông lớp dưới. Sau hợp tác hoá nông nghiệp, giai cấp nông dân miền Bắc đã trở thành giai cấp nông dân tập thể, Đảng chủ trương lựa chọn cán bộ, đảng viên từ những xã viên tiên tiến xuất thân nông dân lao động. ở miền Nam sau ngày giải phóng và khi giai cấp nông dân tập thể chưa hình thành, chúng ta chú trọng lựa chọn cán bộ, đảng viên từ những nông dân lao động, trước hết là từ bần nông và những người lao động làm thuê bị bóc lột. Làm như vậy là phù hợp với những biến đổi xã hội và nhiệm vụ cách mạng ở nông thôn qua từng thời kỳ.

 

Trong khi lựa chọn cán bộ, đảng viên từ những công nhân và nông dân ưu tú, chúng ta chú trọng những người đã được rèn luyện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, những anh hùng, chiến sĩ thi đua, bộ đội, thanh niên xung phong có thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tầng lớp trí thức vốn là một lực lượng cách mạng tích cực trong đấu tranh chống đế quốc, ngày càng phát huy vai trò tích cực của mình trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trên miền Bắc, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa đã hình thành. Tính chất giai cấp và cơ cấu của tầng lớp ấy đã có những biến đổi cơ bản. Đó là tầng lớp trí thức chủ yếu xuất thân từ công nhân và nông dân, được đào tạo dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. Bản thân họ là một bộ phận đông đảo hợp thành đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước. Đảng đã phê phán những quan niệm hẹp hòi, thành kiến với trí thức, coi họ là tầng lớp không cơ bản. Phải ra sức đào tạo và sử dụng đúng đắn, phát huy khả năng của trí thức, nhất là số trí thức xuất thân từ công nhân, nông dân, từ những người đã qua sản xuất, chiến đấu. Đồng thời, cần quan tâm giúp đỡ anh chị em đó khắc phục những nhược điểm và khuyết điểm mà do những điều kiện đặc thù về lao động và sinh hoạt họ thường mắc phải.

 

Trong quá trình xây dựng Đảng từ trước đến nay, nói chung Đảng ta đã nắm vững và giải quyết thành công những vấn đề cơ bản nói trên. Đó là những yếu tố quyết định bảo đảm cho Đảng ta, một đảng mặc dù sinh ra và lớn lên ở một nước nông nghiệp lạc hậu, vốn là thuộc địa nửa phong kiến, giai cấp công nhân nhỏ bé, đã giữ vững được tính chất tiên phong cách mạng của chính đảng của giai cấp công nhân và đã lãnh đạo nhân dân ta làm nên những sự nghiệp cách mạng vĩ đại. Tiếp tục phấn đấu theo những phương hướng trên đây vẫn là điều có ý nghĩa quyết định để giữ gìn và tăng cường tính chất giai cấp công nhân của Đảng.

 

2. Có đường lối đúng và phương hướng xây dựng Đảng đúng, Đảng ta lại đã thành công trong nghệ thuật chỉ đạo công tác xây dựng Đảng, từng bước phát triển, hoàn chỉnh, cụ thể hoá và vận dụng tốt hơn các phương châm xây dựng Đảng, làm cho công tác xây dựng Đảng có chất lượng cao và đạt hiệu quả lớn.

 

a) Phương châm thứ nhất là, phải xây dựng Đảng vững mạnh về cả ba mặtchính trị, tư tưởng và tổ chức. Ba mặt ấy gắn liền với nhau, quyết định lẫn nhau. Xây dựng Đảng về tư tưởng và về tổ chức phải kết hợp chặt chẽ với nhau, phải xuất phát từ đường lối và nhiệm vụ chính trị, đồng thời bảo đảm cho đường lối và nhiệm vụ chính trị được xác định đúng, được thấu suốt và thực hiện đầy đủ.

 

Trước hết, Đảng ta quan niệm xây dựng Đảng là một quá trình thống nhất giữa các mặt xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đảng đặt đúng vị trí của mỗi mặt ấy, đồng thời kết hợp chặt chẽ các mặt ấy với nhau.

 

Đảng ta coi việc xây dựng Đảng về chính trị có ý nghĩa quan trọng hàng đầu. Đó là việc xác định đường lối, chính sách của Đảng trong mỗi giai đoạn cách mạng; và trong phạm vi từng đảng bộ, đó còn là việc vận dụng đường lối ấy để xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị của ngành hoặc địa phương, đơn vị mình. Có đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng mới có nội dung, phương hướng chính xác tiến hành giáo dục và đấu tranh tư tưởng, mới có căn cứ đánh giá, lựa chọn cán bộ và kiện toàn tổ chức. Nếu không đi từ xây dựng Đảng về mặt chính trị, hoặc xác định nhiệm vụ chính trị không đúng, nếu quan niệm xây dựng Đảng chỉ là loại công việc đơn thuần nghiệp vụ về tư tưởng và tổ chức, thì ngay những công tác này không tránh khỏi gặp nhiều lúng túng, thậm chí phạm sai lầm.

 

Đồng thời, Đảng ta rất coi trọng xây dựng Đảng về tư tưởng và tổ chức nhằm bảo đảm cho Đảng có đủ năng lực đề ra đường lối chính trị đúng, làm cho đường lối ấy được quán triệt và được thực hiện thắng lợi. Phục vụ đường lối, nhiệm vụ chính trị là mục tiêu, là lý do tồn tại của công tác tư tưởng, công tác tổ chức và cũng trong quá trình phục vụ ấy mà từng bước nâng cao chất lượng công tác tư tưởng và tổ chức. Sự phát triển của cách mạng đã và đang đặt ra biết bao vấn đề mới mẻ, phức tạp đòi hỏi công tác tư tưởng và tổ chức phải nhạy bén, năng động hơn, phải chuyển hướng kịp thời và đáp ứng tốt hơn nữa mọi yêu cầu của nhiệm vụ chính trị. Phải nâng cao trình độ lãnh đạo tư tưởng và tổ chức lên ngang tầm với yêu cầu về lãnh đạo chính trị, bảo đảm thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ chính trị, chủ động đáp ứng cả những yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong tương lai.

 

Đảng kết hợp chặt chẽ công tác tư tưởng với công tác tổ chức, chú trọng phát huy cả hai nguồn sức mạnh ấy. Trong nhiều năm qua, Đảng ta đã từng đấu tranh chống nhận thức duy tâm xem thường vai trò của tổ chức, cũng như xu hướng chỉ thiên về những biện pháp tổ chức và hành chính đơn thuần, coi nhẹ vai trò của công tác tư tưởng. Tư tưởng tách rời tổ chức sẽ dừng lại ở nhận thức, không thể biến thành hành động cách mạng. Tổ chức tách rời tư tưởng sẽ trở thành hành động mù quáng, sẽ dẫn tới độc đoán, mệnh lệnh, hạ thấp vai trò của yếu tố tự giác, của tính năng động chủ quan.

 

b) Phương châm thứ hai là, phải qua phong trào cách mạng của quần chúng, qua việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động mà tiến hành công tác xây dựng Đảng; tổ chức cho quần chúng tham gia xây dựng Đảng, góp phần kiểm tra sự hoạt động của Đảng, kiểm tra công tác và phẩm chất của cán bộ, đảng viên.

 

Đảng ta đã tổ chức và lãnh đạo những phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đồng thời Đảng cũng được xây dựng và trưởng thành từ trong những phong trào quần chúng ấy, Các phong trào Ba sẵn sàng, Ba đảm đang, Ba quyết tâm... cùng các phong trào lao động sản xuất, cải tiến quản lý, v.v. đã tập hợp được lực lượng quần chúng rộng rãi, đã góp phần tích cực xây dựng và củng cố Đảng. Những đảng bộ mạnh đều là những đảng bộ sau khi xác định đúng nhiệm vụ chính trị, đã đi vào tổ chức, lãnh đạo phong trào quần chúng sâu rộng thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ ấy, đồng thời gắn liền với việc phát huy vai trò làm chủ tập thể của quần chúng trong phong trào cách mạng mà xây dựng Đảng. Những đảng bộ này đã chú trọng đưa cán bộ, đảng viên vào hành động cách mạng, vào những mũi nhọn của phong trào quần chúng để thực hiện nhiệm vụ chính trị và cũng để nâng cao năng lực lãnh đạo, rèn luyện tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Qua phát huy vai trò làm chủ tập thể của quần chúng trong sản xuất và chiến đấu mà nhận xét, lựa chọn đảng viên mới, đề bạt cán bộ, phát hiện và loại trừ những phần tử xấu, cơ hội.

 

Thêm nữa, trong điều kiện Đảng nắm chính quyền, Đảng còn vận động quần chúng trực tiếp tham gia xây dựng Đảng với nhiều hình thức phong phú. Trong những năm qua, nhiều nơi đã thực hiện có nền nếp việc tổ chức cho quần chúng phê bình sự lãnh đạo của chi bộ, của đảng uỷ, phê bình đảng viên, góp ý kiến về phương hướng phấn đấu của đảng bộ trong các dịp đại hội xã viên, các cuộc tổng kết hàng năm, tham gia ý kiến về việc lựa chọn đảng viên mới, kiến nghị về việc bầu cử đảng uỷ và bố trí cán bộ cơ sở trong những dịp chuẩn bị Đại hội đảng bộ... Những việc làm này đã tỏ rõ tác dụng tích cực đối với việc xây dựng nội bộ Đảng, củng cố mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng, mở rộng sinh hoạt chính trị dân chủ trong quần chúng, góp phần ngăn chặn những hiện tượng thoái hoá, biến chất của một số cán bộ, đảng viên.

 

c) Phương châm thứ ba là, việc xây dựng Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, phải gắn liền với việc kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực của Nhà nước, gắn liền với việc xây dựng và củng cố các tổ chức quần chúng, hình thành sức mạnh tổng hợp của hệ thống chuyên chính vô sản.

 

Cùng với quá trình tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa, hệ thống chuyên chính vô sản được hình thành như một cơ cấu tổ chức tương ứng và để bảo đảm cho thắng lợi của cuộc cách mạng ấy.

 

Trong hệ thống ấy, mỗi tổ chức đều có vị trí quan trọng không thể thiếu được, đồng thời các tổ chức đó gắn bó chặt chẽ với nhau, tạo thành một cơ cấu thống nhất. Việc xây dựng Đảng phải đặt trong mối quan hệ khăng khít với việc xây dựng toàn bộ hệ thống chuyên chính vô sản.

 

Trong hệ thống chuyên chính vô sản, Đảng là hạt nhân lãnh đạo, Đảng có mạnh thì cả hệ thống mới mạnh. Sự lãnh đạo của Đảng ta đã bảo đảm cho hệ thống chuyên chính vô sản hoạt động theo một đường lối chính trị đúng đắn, cùng phối hợp hành động một cách chặt chẽ vì những mục tiêu chung. Mặt khác, có Nhà nước, có hệ thống chuyên chính vô sản mạnh thì sức mạnh của Đảng càng nhân lên gấp bội: đó là công cụ rất quan trọng, thông qua nó, đường lối của Đảng được thực hiện có hiệu quả, mối liên hệ giữa Đảng với quần chúng được tăng cường, và qua hoạt động trong những tổ chức ấy mà đông đảo cán bộ, đảng viên được rèn luyện và trưởng thành.

 

Đảng phải thường xuyên chăm lo xây dựng Nhà nước, xây dựng lực lượng vũ trang, một bộ phận của Nhà nước, và các đoàn thể quần chúng, đồng thời kết hợp chặt chẽ những việc đó với việc xây dựng nội bộ Đảng. Nơi nào chỉ đi vào xây dựng nội bộ Đảng một cách riêng rẽ, không chăm lo kiện toàn chính quyền, các đoàn thể quần chúng đặc biệt là Đoàn thanh niên, Công đoàn, Hội phụ nữ, đối lập vai trò lãnh đạo của Đảng với quyền lực của Nhà nước thì rốt cuộc tổ chức Đảng ở đó không thể được củng cố vững mạnh và cũng khó hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng.

 

d) Phương châm thứ tư là, việc nâng cao chất lượng cán bộ, đảng viên phải kết hợp với việc nâng cao chất lượng của chi bộ và đảng bộ cơ sở, với việc tăng cường cơ quan lãnh đạo và kiện toàn bộ máy tổ chức ở từng cấp, từng ngành.

 

Sức mạnh to lớn của Đảng là ở chỗ khéo kết hợp sức mạnh của tổ chức với sức mạnh của từng cán bộ, đảng viên. Khi kết nạp đảng viên, Đảng ta lựa chọn chặt chẽ từng người, đồng thời để hoạt động có hiệu quả, Đảng chú trọng xây dựng tổ chức. Tổ chức mạnh thì từng thành viên trong đó được giáo dục, rèn luyện tốt, phát huy được khả năng của mình và tạo ra sức mạnh mới về chất lượng, sức mạnh tập thể. Mặt khác, con người là nhân tố cơ bản nhất, năng động nhất của tổ chức; từng người mạnh làm cho tổ chức mạnh.

 

Đảng ta chú trọng xây dựng tổ chức, cố gắng làm cho chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu và mối quan hệ giữa các tổ chức, các cấp, các ngành từ trên xuống dưới được xây dựng hợp lý, khoa học, bảo đảm cho Đảng thật sự là một cơ thể thống nhất, hoàn chỉnh, mọi hoạt động nhịp nhàng, mau lẹ, đạt hiệu quả cao. Đồng thời, Đảng đòi hỏi phải lựa chọn chặt chẽ từng cán bộ, đảng viên theo đúng tiêu chuẩn quy định, không ngừng giáo dục, nâng cao phẩm chất và kiến thức của họ bằng mọi biện pháp, nhất là qua sinh hoạt chi bộ, qua công tác và sinh hoạt của tổ chức. Đặc biệt coi trọng việc lựa chọn, bố trí cho đúng số cán bộ lãnh đạo ở từng tổ chức, từng ngành, từng địa phương. Phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng tổ chức mà lựa chọn, xây dựng từng người cho thích hợp, lại phải biết khéo bố trí và kết hợp từng người để tạo thành những tập thể đồng bộ.

 

Trong những năm qua, Đảng đã đấu tranh khắc phục thiên hướng coi nhẹ và ít đi sâu vào xây dựng tổ chức, việc bồi dưỡng từng người còn tách rời xây dựng tổ chức, và chính vì vậy mà việc bồi dưỡng từng người cũng đạt hiệu quả thấp.

 

đ) Phương châm thứ năm là, trong công tác phát triển Đảng, phải coi trọng chất lượng, chống khuynh hướng chạy theo số lượng đơn thuần; phát triển Đảng luôn luôn đi đôi với củng cố Đảng. Một mặt, kết nạp những người thật sự ưu tú, đủ tiêu chuẩn; mặt khác, kịp thời đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất, những người không đủ tư cách đảng viên. Cảnh giác đề phòng những phần tử xấu, phản động, xu thời, vụ lợi chui vào Đảng.

 

Sức mạnh của tổ chức Đảng phụ thuộc một phần ở số lượng, nhưng trước hết là ở chất lượng đảng viên, tức là ở ý chí cách mạng và trình độ hiểu biết, ở sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của họ. Và số lượng chỉ có ý nghĩa, chỉ trở thành sức mạnh một khi nó tuân theo những yêu cầu về chất lượng.

 

Mặt khác, Đảng cần có một số lượng thích đáng đảng viên thì mới thành tổ chức, mới có đủ lực lượng chiến đấu, mới bảo đảm mối liên hệ chặt chẽ với quần chúng đông đảo, thực hiện được vai trò lãnh đạo của Đảng ở khắp các ngành, các địa phương, các đơn vị. Với ý nghĩa ấy, số lượng có quan hệ chặt chẽ với chất lượng.

 

Để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa số lượng và chất lượng đảng viên, Đảng vừa phải đấu tranh với thiên hướng hạ thấp yêu cầu về chất lượng chạy theo số lượng là chính, vừa phải khắc phục thái độ hẹp hòi, thiếu tích cực, chủ động tạo điều kiện để mở rộng hàng ngũ Đảng.

 

Việc phát triển Đảng lại phải kết hợp chặt chẽ với việc củng cố Đảng, kịp thời và kiên quyết đưa những phần tử xấu và những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng. Phát triển Đảng đúng phương hướng, đúng tiêu chuẩn là góp phần tích cực củng cố Đảng, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, bổ sung và đổi mới đội ngũ cán bộ. Mặt khác, phát triển đến đâu phải kịp thời củng cố đến đấy, và củng cố Đảng vững chắc mới có cơ sở để làm tốt công tác phát triển Đảng.

 

Trên đây là một số bài học về vận dụng đường lối và phương châm xây dựng Đảng. Đó là những bài học được rút ra từ thành công của công tác xây dựng Đảng ta. Ngược lại, những thiếu sót trong công tác xây dựng Đảng cũng là do chưa nắm vững, chưa thực hiện đúng điểm này hoặc điểm khác của những bài học kinh nghiệm ấy. Phân tích sâu sắc và áp dụng đúng đắn những bài học kinh nghiệm ấy là điều rất quan trọng để đưa công tác xây dựng Đảng tiếp tục tiến lên những bước mới trong giai đoạn cách mạng hiện nay của cả nước.

 

Phần thứ hai

 

Những nhiệm vụ, chủ trương về công tác


xây dựng Đảng trong giai đoạn mới


và một số đề nghị về sửa đổi điều lệ Đảng

 

Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng ta bước vào một cuộc chiến đấu mới, tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại, sâu sắc và triệt để nhất trong lịch sử: cách mạng xã hội chủ nghĩa trên quy mô cả nước. Trong giai đoạn cách mạng này, sau khi đã giành lại độc lập, thống nhất hoàn toàn và vĩnh viễn cho Tổ quốc, những người cộng sản chúng ta lãnh đạo nhân dân trực tiếp phấn đấu để biến thành hiện thực những lý tưởng cao cả, đẹp đẽ nhất của Đảng: xoá bỏ bóc lột và đem lại hạnh phúc và tự do đầy đủ nhất cho con người; xây dựng chủ nghĩa xã hội để tiến lên xây dựng chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam và góp phần vào sự nghiệp giải phóng loài người, xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới.

 

Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa là sự nghiệp vô cùng khó khăn và phức tạp do quy mô rộng lớn và toàn diện của những biến đổi cách mạng trên mọi lĩnh vực.

 

Sự nghiệp ấy càng khó khăn phức tạp gấp bội do ở chỗ nước ta đi thẳng từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; đất nước ta sau 30 năm chiến tranh ác liệt và 20 năm thống trị của chủ nghĩa thực dân kiểu mới ở miền Nam còn phải chịu đựng biết bao hậu quả nặng nề. Chủ nghĩa đế quốc, đứng đầu là đế quốc Mỹ và bọn tay sai đã bị đánh đổ, nhưng chưa chịu ngồi yên và đang tìm mọi cách để phá hoại sự nghiệp xây dựng hoà bình của nhân dân ta.

 

Cuộc đấu tranh nhằm giải quyết vấn đề ai thắng ai giữa hai con đường tư bản chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa là cuộc đấu tranh giai cấp gay go và phức tạp.

 

Chúng ta chẳng những phải đấu tranh xoá bỏ giai cấp bóc lột, khắc phục tính tự phát của sản xuất nhỏ, cải tạo nền kinh tế cá thể, xoá bỏ những di sản nặng nề của chủ nghĩa thực dân mới và tàn dư phong kiến, đập tan mọi âm mưu phá hoại của kẻ địch, mà quan trọng và khó khăn hơn, như Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ, là đi đôi với xoá bỏ cái cũ, chúng ta phải xây dựng cái mới từ gốc đến ngọn, phải tạo ra cả lực lượng sản xuất mới lẫn quan hệ sản xuất mới; tạo ra cả cơ sở kinh tế mới lẫn kiến trúc thượng tầng mới; tạo ra cả đời sống vật chất mới lẫn đời sống tinh thần và văn hoá mới.

 

Mặc dù có những khó khăn ấy, song chúng ta quyết tâm phấn đấu đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước mà nội dung cơ bản của nó như Báo cáo chính trị vạch ra là:

 

"Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt; đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng đề cao cảnh giác, thường xuyên củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và trật tự xã hội; xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất và xã hội chủ nghĩa; góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội".

 

Đường lối đó của Đảng là phù hợp với quy luật phát triển khách quan của cách mạng nước ta, là đòi hỏi cấp thiết của nhân dân cả nước; đó còn là nghĩa vụ quốc tế cao cả nhằm phát huy hơn nữa tác dụng của nước ta trong cuộc đấu tranh chung vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Đông Nam châu á và trên thế giới.

 

Chuyển sang giai đoạn mới, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân cả nước, đối với quốc tế rõ ràng tăng hơn trước;  Đảng ta quyết vươn lên làm tròn trách nhiệm ấy. Khó khăn tuy nhiều nhưng thuận lợi là cơ bản.

 

Đảng đã trải qua chiến đấu lâu dài, là một đảng Mác - Lênin vững mạnh, có đường lối luôn luôn đúng đắn, nội bộ đoàn kết, nhất trí, cơ sở Đảng phát triển rộng khắp, có đội ngũ cán bộ, đảng viên được rèn luyện thử thách. Sau thắng lợi vĩ đại của cuộc chống Mỹ, cứu nước và thống nhất nước nhà, đà phấn khởi của nhân dân cả nước dâng cao, uy tín và ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng thêm mở rộng. Đảng có bộ máy nhà nước chuyên chính vô sản vững chắc, với lực lượng vũ trang hùng hậu, có các đoàn thể quần chúng lớn mạnh là những công cụ có hiệu lực để thực hiện đường lối, chính sách của mình. Đảng đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm quý báu qua hơn 20 năm cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, đã có lực lượng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, kỹ thuật khá lớn; và ngày nay, với điều kiện xây dựng trong hoà bình, Đảng đã có thể tập trung mọi cố gắng của mình vào việc lãnh đạo, cổ vũ sức lao động sáng tạo của nhân dân cả nước hướng vào công cuộc xây dựng Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

Cả nước ta có đất đai và tài nguyên phong phú, có sức lao động dồi dào, có cơ sở vật chất - kỹ thuật mới bước đầu xây dựng. Nhân dân ta cần cù, thông minh và sáng tạo, thiết tha với độc lập và chủ nghĩa xã hội; khí thế cách mạng trong cả nước, và đặc biệt là ở miền Nam vừa mới được giải phóng, đang dâng lên; nền chuyên chính vô sản đã được thử thách.

 

Trên thế giới, cuộc đấu tranh giữa một bên là chủ nghĩa xã hội, phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hoà bình với một bên là chủ nghĩa đế quốc tuy diễn ra gay gắt và phức tạp, song ba dòng thác cách mạng không ngừng dâng cao; cuộc cách mạng mới về khoa học - kỹ thuật đang phát triển, quan hệ về kinh tế và khoa học, kỹ thuật giữa các nước ngày càng mở rộng.

 

Đó là những thuận lợi chủ quan và khách quan mà Đảng ta có thể tận dụng nhằm mục tiêu xây dựng đất nước ta và góp phần làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

 

Từ những yêu cầu rộng lớn của nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa trong phạm vi cả nước, nhiệm vụ chung của công tác xây dựng Đảng ta tronggiai đoạn hiện nay là phải nắm vững hơn nữa học thuyết Mác - Lênin về xây dựng Đảng và thực tiễn xây dựng Đảng ta, quán triệt sâu sắc đường lối, nhiệm vụ chính trị do Đại hội đã vạch ra, vận dụng và phát triển những bài học kinh nghiệm đã tổng kết, làm cho công tác xây dựng Đảng vừa bám chắc hơn nữa những nhiệm vụ chính trị trước mắt của Đảng, vừa sẵn sàng đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ lâu dài. Nâng cao tính chất giai cấp công nhân và chất lượng lãnh đạo toàn diện của Đảng, kết hợp tính cách mạng và tính khoa học, bảo đảm cho đường lối của Đảng luôn luôn đúng đắn, sáng tạo và được tổ chức thực hiện thắng lợi, bảo đảm cho Đảng thật sự vững mạnh, luôn luôn đoàn kết nhất trí, gắn bó chặt chẽ với quần chúng để trong bất cứ tình huống nào Đảng cũng có thể làm tròn nhiệm vụ lịch sử của mình.

 

1. Nâng cao chất lượng lãnh đạo chính trị của Đảng, cả về mặt xây dựng đường lối, chính sách cũng như về mặt tổ chức thực hiện đường lối. Bảo đảm cho Đảng tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, tiếp tục đi sâu nghiên cứu để phát triển, hoàn chỉnh và cụ thể hoá hơn nữa đường lối chính trị đúng đắn và có sáng tạo của Đảng, đường lối chung, đường lối trên từng mặt kinh tế, văn hoá, giáo dục, quốc phòng, ngoại giao, v.v. và thể hiện nó một cách cụ thể và sinh động trong các chính sách, chủ trương, quy hoạch, kế hoạch, biện pháp của mọi ngành, mọi cấp.

 

Bảo đảm cho toàn Đảng, trên cơ sở quán triệt một cách sâu sắc nhiệm vụ mới của Đảng trong phạm vi cả nước, biết nắm vững khoa học và nghệ thuật tổ chức để nâng cao năng lực tổ chức thực hiện, trước hết là trong công tác lãnh đạo và sử dụng bộ máy nhà nước, trong việc xây dựng và sử dụng cả hệ thống chuyên chính vô sản để phát động, duy trì, phát triển các phong trào quần chúng tiến hành ba cuộc cách mạng một cách đồng đều và liên tục, nhằm mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, trước mắt là mục tiêu của kế hoạch 5 năm 1976 - 1980, kế hoạch mở đầu của giai đoạn mới.

 

2. Xây dựng bằng được cơ cấu tổ chức bảo đảm chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới và con người mới xã hội chủ nghĩa. Ra sức khắc phục bệnh quan liêu, tác phong thủ công nghiệp, lối chỉ đạo phân tán, sự vụ, thiếu tập trung dứt điểm.

 

Cơ cấu tổ chức ấy phải được hoàn thiện trong các mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, giữa trung ương và địa phương, ngành và cấp, cấp trên và cấp dưới, giữa các tập thể với nhau, giữa cá nhân và tập thể, gia đình và xã hội.

 

Cơ cấu tổ chức ấy phải được bảo đảm bằng bộ máy tinh giản, có hiệu lực của Đảng, của Nhà nước và của tổ chức quần chúng, trước hết là bộ máy nhà nước chuyên chính vô sản, trong đó khâu hết sức trọng yếu mà chúng ta phải xây dựng bằng được là hệ thống quản lý kinh tế theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, phù hợp đường lối của Đảng và đặc điểm của việc đưa nền kinh tế nước ta đi từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ăn khớp với hệ thống nhà nước và các tổ chức xã hội, chất lượng tổ chức của Đảng và của các đoàn thể quần chúng cũng phải được chuyển hướng theo những yêu cầu mới cao hơn trước.

 

Toàn bộ cơ cấu tổ chức ấy cuối cùng phải được bảo đảm bằng chế độ tổ chức chặt chẽ, bằng pháp chế nhà nước, làm cho chế độ trách nhiệm và quyền làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa ở mỗi khâu tổ chức, mỗi đơn vị, mỗi cá nhân được rõ ràng, rành mạch và được thực hiện bằng kỷ luật tự giác và tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa.

 

3. Xây dựng tổ chức Đảng trong toàn cơ thể từ cơ quan lãnh đạo cấp trên đến tế bào cơ sở thật vững mạnh về tư tưởng và tổ chức, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng được thông suốt từ trên xuống dưới, từ các trung tâm lãnh đạo đến các ngành, từ trong Đảng ra các đoàn thể quần chúng và nhân dân đông đảo.

 

Bảo đảm cho Đảng luôn luôn đoàn kết, thống nhất trên cơ sở đường lối, nhiệm vụ chính trị và nguyên tắc tập trung dân chủ, không thể có chia rẽ bè phái.

 

Bảo đảm cho tổ chức Đảng có tính năng động cao, có cơ cấu tổ chức phù hợp, có kỷ luật nghiêm minh và có tác phong chỉ đạo sâu sát, có điều tra nghiên cứu, có kế hoạch, có tổ chức hiệp đồng và kiểm tra, đôn đốc chặt chẽ.

 

Bảo đảm cho đội ngũ cán bộ, đảng viên vững vàng trước mọi thử thách, dám nghĩ, dám làm, có tinh thần hy sinh, xả thân vì cách mạng, không quan liêu mệnh lệnh, thoái hoá, biến chất, biết tôn trọng và xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân, có mối liên hệ gắn bó với quần chúng, nhanh chóng vươn lên nâng cao kiến thức và trình độ mọi mặt để đủ sức lãnh đạo và phục vụ tốt quần chúng.

 

Đảng phải mạnh ở mọi khâu tổ chức, đồng đều trong phạm vi cả nước, khắc phục từng bước tình hình chênh lệch về lực lượng cán bộ, đảng viên giữa các địa phương, các vùng. Đặc biệt trước mắt phải tập trung sức để tăng cường cơ sở Đảng về mọi mặt, xây dựng cơ cấu tổ chức của Đảng, Nhà nước và tổ chức quần chúng ở cấp huyện và xã gắn liền với nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản ở cơ sở và trên địa bàn huyện.

 

4. Gắn với kiện toàn cơ sở Đảng, ra sức nâng cao tư cách đảng viên và chất lượng đội ngũ đảng viên, loại trừ những phần tử đã thoái hoá, biến chất, những bọn đầu cơ và những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, bằng việc phát động và thông qua các phong trào cách mạng của quần chúng và bằng công tác nội bộ Đảng. Với tinh thần cảnh giác đầy đủ và bằng mọi biện pháp tích cực, đi sâu phát hiện và thanh trừ bằng được những phần tử đối địch còn ẩn nấp trong Đảng.

 

Ra sức tăng cường công tác kiểm tra dân chủ và kỷ luật của Đảng, bảo đảm kịp thời thi hành kỷ luật nghiêm minh của Đảng. Đồng thời chấn chỉnh công tác phát triển đảng viên, và chú trọng qua phong trào quần chúng đang có khí thế vươn lên mạnh mẽ, nhất là ở các vùng mới giải phóng, xây dựng lực lượng nòng cốt và kết nạp những người ưu tú nhất có đủ điều kiện vào Đảng để tăng cường cơ sở Đảng một cách vững chắc ở những nơi lực lượng Đảng còn mỏng.

 

5. Khẩn trương tăng cường công tác cán bộ về mọi mặt, đáp ứng kịp thời những nhiệm vụ công tác rộng lớn của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa trong cả nước.

 

Trước hết, tiến hành trên quy mô lớn việc bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, nhanh chóng tăng cường đội ngũ cán bộ về số lượng và chất lượng, nâng trình độ, năng lực cán bộ lên ngang tầm nhiệm vụ của giai đoạn mới. Chú trọng cả đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý, và cả đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ; vừa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách chung và cán bộ phụ trách cấp trên, vừa đào tạo, bồi dưỡng cán bộ phụ trách từng mặt và cán bộ phụ trách ở cơ sở. Mạnh dạn cất nhắc cán bộ theo yêu cầu của nhiệm vụ, xây dựng tính kế thừa liên tục trong các cơ quan lãnh đạo và quản lý, khắc phục tình trạng đề bạt cán bộ không vì nhiệm vụ, mà chỉ vì những lý do cá nhân.

 

Đồng thời, điều động, sắp xếp và sử dụng đội ngũ cán bộ sẵn có một cách có kế hoạch và hợp lý trong phạm vi cả nước, bảo đảm yêu cầu phát triển nông nghiệp, công nghiệp, trước hết là ở những ngành then chốt, tăng cường các cơ quan tham mưu, tổng hợp của Đảng và Nhà nước, tăng cường nhanh chóng cấp huyện và cơ sở phù hợp với yêu cầu lãnh đạo và tiến hành ba cuộc cách mạng ở mỗi vùng đất nước, nhất là đáp ứng kịp thời yêu cầu cán bộ của các cơ sở và địa phương phía Nam. Trên cơ sở đó, có chính sách đãi ngộ, chăm lo sức khoẻ của cán bộ phù hợp với điều kiện hiện nay.

 

Thực hiện đầy đủ những nhiệm vụ chung và các yêu cầu trên đây chính là giữ gìn và phát huy hơn nữa tính chất giai cấp công nhân của Đảng trong giai đoạn mới của cách mạng. Đó cũng là chấp hành nghiêm chỉnh Di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân".

 

Trên cơ sở những nhiệm vụ chung và các yêu cầu ấy, dưới đây xin lần lượt trình bày những nhiệm vụ về từng mặt công tác tư tưởng và tổ chức.

 

I- Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao trình độ, kiến thức mọi mặt, bảo đảm đường lối chính trị của Đảng

 

1. Nhiệm vụ của công tác tư tưởng trong giai đoạn hiện nay là phải ra sức làm tốt việc quán triệt đường lối do Đại hội đề ra, quán triệt các chính sách của Đảng, giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, không ngừng nâng cao kiến thức mọi mặt và bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên, qua đó bồi dưỡng lập trường tư tưởng của giai cấp công nhân, phê phán và khắc phục những tư tưởng tiểu tư sản, đấu tranh chống mọi ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và những tàn dư của tư tưởng phong kiến, ngăn ngừa và tẩy trừ những ảnh hưởng của các loại chủ nghĩa cơ hội.

 

Trước hết, thông qua sinh hoạt của Đảng, các lớp huấn luyện, sách, báo Đảng và mọi phương tiện thông tin văn hoá, văn nghệ khác, giáo dục đi giáo dục lại nhiều lần đường lối chung của Đảng, làm cho mọi cán bộ, đảng viên ở bất cứ lĩnh vực công tác nào cũng hiểu rõ được nội dung của các vấn đề nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng, nội dung xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới, con người mới, để từ đó vận dụng đường lối chung vào việc phát triển công tác của ngành mình, địa phương, đơn vị mình.

 

Cần đấu tranh khắc phục những quan điểm không đúng, trái với đường lối của Đảng, hiểu không đúng về đấu tranh giai cấp và đấu tranh giữa hai con đường ở nước ta: một mặt, không thấy hết tính chất phức tạp của đấu tranh giai cấp trong điều kiện mới, thiếu cảnh giác với những hoạt động của giai cấp tư sản, chưa tăng cường đúng mức trận địa kinh tế của chủ nghĩa xã hội; mặt khác, xem xét đấu tranh giai cấp tách khỏi đường lối chung của Đảng, tách khỏi cơ sở kinh tế, thu hẹp quan niệm chuyên chính vào vấn đề trấn áp; hiểu không đúng về nội dung từng cuộc cách mạng và mối quan hệ giữa ba cuộc cách mạng, chưa nắm vững công nghiệp hoá nước nhà là nhiệm vụ trung tâm, cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, tách rời cải tạo với xây dựng, nắm không vững các mối quan hệ trong nền kinh tế quốc dân.

 

Cần phê phán nghiêm khắc tình trạng một số cán bộ, đảng viên coi nhẹ nghiên cứu đường lối, chính sách, nghiên cứu lý luận, là một biểu hiện tệ hại nhất của chủ nghĩa kinh nghiệm. Cần nhận thức rõ tầm quan trọng của việc quán triệt đường lối, nhận rõ mọi việc chúng ta đang làm hàng ngày hàng giờ, từ việc làm kế hoạch, nghiên cứu chế độ, chính sách, đến việc tổ chức, vận động quần chúng thực hiện những nhiệm vụ cụ thể là đều nhằm xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới, con người mới, đều đòi hỏi phải thấu suốt và vận dụng đúng đắn có sáng tạo đường lối. Phải làm cho mọi cán bộ, đảng viên hiểu rằng bất cứ thành tựu nào mà nhân dân ta giành được hiện nay đều là sản phẩm tổng hợp của việc nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng.

 

Mỗi cán bộ, đảng viên chẳng những phải quán triệt đường lối chung, mà còn phải hiểu quan điểm của Đảng đối với từng lĩnh vực hoạt động xã hội, từng ngành công tác, từng vấn đề của cuộc sống, nhất là quan điểm của Đảng về lĩnh vực mà mình hoạt động. Có như vậy, thì trước quá trình chuyển biến cách mạng sâu sắc trong giai đoạn cách mạng hiện nay, người đảng viên được vũ trang bằng những tư tưởng khoa học của Đảng mới có thể giữ được vai trò tiên phong của người cộng sản, mới có điều kiện để tham gia lãnh đạo tập thể của tổ chức Đảng, và mới có khả năng động viên, tổ chức quần chúng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, kịp thời giải đáp những vấn đề do quần chúng đề ra.

 

Giáo dục đường lối không thể tách rời với giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin; thấu suốt đường lối là hiểu những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin được vận dụng một cách sinh động vào thực tiễn Việt Nam, và nắm vững những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin lại là một cơ sở để bảo đảm quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng. Đảng phải coi trọng cả hai mặt giáo dục đó. Gắn chặt hai mặt đó với nhau một cách nhuần nhuyễn, làm cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối của Đảng thấm sâu vào cán bộ, đảng viên và quần chúng, và trở thành hệ tư tưởng của toàn dân, coi đó là một trong những điều kiện đầu tiên quyết định thắng lợi của cách mạng.

 

Trên cơ sở bồi dưỡng lý luận Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, cần phê phán và khắc phục những biểu hiện hữu khuynh là chính, thể hiện ở trình độ lý luận thấp không bảo đảm quán triệt đầy đủ đường lối trong cải tạo và xây dựng, trong trấn áp phản cách mạng và tăng cường quản lý kinh tế, văn hoá, quản lý nhà nước, ở việc thiếu nghiêm túc trong việc xây dựng và thực hiện chế độ tổ chức, và thiếu biện pháp kiên quyết phát động mạnh mẽ các phong trào quần chúng tiến hành ba cuộc cách mạng.

 

Trên cơ sở bồi dưỡng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, cần xây dựng phương pháp tư tưởng của giai cấp công nhân, khắc phục bệnh chủ quan mà những biểu hiện phổ biến là: trong việc đánh giá tình hình, thiếu xem xét toàn diện, thiếu phân tích khoa học; khi phong trào lên thì chỉ một chiều thấy thắng lợi và thuận lợi, khi gặp khó khăn, va vấp thì lại phủ nhận thành tích và ưu điểm; trong việc quyết định chủ trương thì dựa vào cảm tính, căn cứ vào nguyện vọng chủ quan, không nắm vững quy luật khách quan, không xuất phát từ thực tế, thiếu điều tra nghiên cứu.

 

Cùng với việc giáo dục lý luận và đường lối, chính sách, phải ra sức bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản, kiên quyết đấu tranh khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, bè phái và bệnh quan liêu, công thần, địa vị.

 

Trong công tác tư tưởng, phải coi trọng giáo dục tinh thần yêu nước xã hội chủ nghĩa gắn liền với giáo dục lý tưởng cộng sản, giáo dục tinh thần quốc tế vô sản và ý thức làm tròn nghĩa vụ quốc tế, nhằm nâng cao ý chí chiến đấu, tinh thần cách mạng tiến công ra sức phấn đấu chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hăng hái lao động, công tác và học tập với tinh thần sáng tạo, với một nhiệt tình cách mạng sôi nổi, một khí phách anh hùng như trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước trước đây; quyết tâm đạp bằng mọi khó khăn, gian khổ, mau chóng xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh. Khắc phục những nhận thức tiêu cực về chủ nghĩa xã hội, những nhận thức mơ hồ về nền kinh tế thực dân kiểu mới, mất cảnh giác đối với bọn đế quốc và tay sai, khắc phục lối làm việc cầm chừng, tâm lý nghỉ ngơi, hưởng thụ, thái độ tiêu cực, bị động, ngại khó, thiếu trách nhiệm, nửa chừng dừng lại.

 

Phải nâng cao ý thức một lòng một dạ phục vụ nhân dân, xây dựng ý thức tôn trọng quyền làm chủ tập thể của nhân dân, gần gũi cuộc sống và tâm tư, tình cảm của quần chúng, chống tệ quan liêu, thói cửa quyền, chỉ phụ trách trước cấp trên mà thiếu trách nhiệm đối với quần chúng, với cấp dưới, tách rời hoặc đối lập hai mặt ấy, thậm chí nhẫn tâm trước những đau khổ của quần chúng. Quan liêu, cửa quyền, xa thực tế, xa quần chúng là nguy cơ của một đảng cầm quyền, là nguồn gốc của biết bao hư hỏng. Trên lĩnh vực tư tưởng, nó là nguyên nhân của bệnh chủ quan, của sự xói mòn bản chất cách mạng của cán bộ, đảng viên, dẫn đến thoái hoá, biến chất về chính trị và sinh hoạt; nguồn gốc tư tưởng của nó là sự mơ hồ về lập trường, quan điểm giai cấp, quan điểm quần chúng, là sự sa sút ý chí phấn đấu và nhiệt tình cách mạng. Công tác tư tưởng phải giải quyết tốt những nguyên nhân đó, đồng thời phải góp phần giải quyết tốt những nguyên nhân về mặt tổ chức và những biện pháp tổ chức để khắc phục bệnh quan liêu.

 

Phải phát huy truyền thống cách mạng của Đảng, nâng cao ý thức giữ gìn và bảo vệ sự đoàn kết, thống nhất trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối chính trị đúng đắn và sáng tạo của Đảng, rèn luyện ý thức tổ chức và kỷ luật, ý thức dân chủ, tập thể, tinh thần làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của cấp dưới, của cán bộ, đảng viên, thành khẩn tự phê bình và phê bình. Phải kiên quyết đấu tranh chống chia rẽ bè phái trong Đảng dưới các biểu hiện và mức độ khác nhau như bản vị, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, độc đoán, gia trưởng, kiêu ngạo, tự mãn, đặt mình lên trên tổ chức, tự tách mình ra khỏi tổ chức, phát ngôn tuỳ tiện các vấn đề về đường lối, chính sách, thậm chí tạo ra những bè nhóm nhỏ trong Đảng dù có tổ chức hay không có tổ chức.

 

Nêu cao phẩm chất trung thực, thật thà, ý thức bảo vệ chân lý; chống thói dối trá, báo cáo sai sự thật, luồn cúi nịnh hót, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh. Phát huy tinh thần cần kiệm, liêm chính, quý trọng và bảo vệ của công, giữ gìn lối sống giản dị, trong sạch, lành mạnh; chống thói đặc quyền đặc lợi, tệ tham ô, móc ngoặc, xâm phạm tài sản của Nhà nước, của tập thể và của nhân dân; chống mọi ảnh hưởng của lối sống tư sản, sa đoạ, đồi trụy.

 

Cổ vũ mạnh mẽ tinh thần ham học tập, không ngừng trau dồi kiến thức mới để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chống bệnh chủ quan, tự mãn, bệnh lười học, lười suy nghĩ.

 

Bên cạnh việc giáo dục lý luận, chính trị và bồi dưỡng phẩm chất, đạo đức cách mạng, cần khẩn trương đẩy mạnh việc giáo dục kiến thức văn hoá, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước cho đội ngũ đảng viên và cán bộ, trước hết là cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý.

 

Phải phấn đấu để mọi cán bộ, đảng viên đều sớm được học qua một chương trình lý luận chính trị nhất định và có những kiến thức cần thiết về văn hoá, kỹ thuật, quản lý phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ công tác của mỗi người, rồi sau đó lại tiếp tục nâng cao lên.

 

Phải dấy lên một phong trào học tập sôi nổi. Mỗi cán bộ, đảng viên phải vũ trang cho mình tinh thần khát khao hiểu biết, nghị lực cần cù học tập, học trong sách vở và trong cuộc sống thực tế, trong lao động và trong đấu tranh, hàng ngày hàng giờ phải tìm tòi thu nhận thêm những kiến thức mới. Chỉ như vậy họ mới xứng đáng với danh hiệu chiến sĩ tiên phong, mới làm tròn vai trò người lãnh đạo quần chúng. Cán bộ lãnh đạo phải gương mẫu học tập, phải biểu dương những người tích cực học tập, phê bình nghiêm khắc những người lười học.

 

Tóm lại, công tác giáo dục tư tưởng và nâng cao trình độ kiến thức mọi mặt trong Đảng phải góp phần làm cho người cán bộ, đảng viênthật sự tiêu biểu cho con người mới xã hội chủ nghĩa, con người làm chủ tập thể: tiêu biểu về mặt phẩm chất cách mạng, về trình độ tri thức, về phong cách sống; và tất cả những điều đó phải được thể hiện trong lao động sản xuất, trong công tác, trong chiến đấu. Nói cách khác, người cán bộ, đảng viên phải là sự thể hiện sinh động và cụ thể bản chất cách mạng và khoa học của Đảng, phải là tiêu biểu nhất của con người mới xã hội chủ nghĩa.

 

2. Nâng cao chất lượng của công tác tư tưởng, trước hết là tính khoa học và tính chiến đấu của công tác ấy.

 

Công tác giáo dục lý luận Mác - Lênin phải đi kịp bước phát triển của những vấn đề lý luận và thực tiễn cách mạng trong nước, tiếp thụ được những kinh nghiệm mới nhất của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội của các nước anh em. Phải làm sáng rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, nâng cao trình độ tự giác, tăng cường khả năng tư duy lý luận của cán bộ, đảng viên, khắc phục mọi biểu hiện của chủ nghĩa kinh nghiệm. Phải phê phán sâu sắc những quan điểm sai trái với đường lối của Đảng, đấu tranh kịp thời với những biểu hiện tiêu cực trong quá trình chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, tăng cường sinh hoạt tự phê bình và phê bình trong các ngành, các cấp. Chúng ta phản đối lối phê bình chụp mũ, quy kết tư tưởng một cách độc đoán, thái độ đấu tranh thô bạo, thiếu tình, thiếu lý, nhưng không vì thế mà đi đến xuê xoa, nể nang, không đấu tranh nội bộ một cách nghiêm túc, không phân tích sâu sắc tính chất và nguyên nhân sai lầm, khuyết điểm để có thể khắc phục một cách triệt để.

 

Để nâng cao tính khoa học và tính chiến đấu, bảo đảm cho công tác tư tưởng đạt hiệu quả lớn hơn, cần nắm vững những phương châm chỉ đạo công tác đó như sau:

 

- Công tác giáo dục tư tưởng phải gắn chặt với thực hiện nhiệm vụ chính trị, với phong trào cách mạng của quần chúng, đi sát từng đối tượng, kịp thời giải đáp những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống, thiết thực góp phần thúc đẩy ba cuộc cách mạng, thúc đẩy phát triển sản xuất, tổ chức đời sống.

 

- Kết hợp chặt chẽ nội dung giáo dục về ba mặt: lý luận Mác - Lênin và đường lối, chính sách của Đảng, kiến thức khoa học xã hội và khoa học tự nhiên, phẩm chất và đạo đức cách mạng của giai cấp vô sản. Kết hợp giáo dục lý luận, quan điểm cơ bản với giáo dục tình hình, nhiệm vụ trước mắt.

 

- Kết hợp chặt chẽ công tác giáo dục tư tưởng với công tác tổ chức, thông qua các biện pháp tổ chức mà biến tư tưởng thành hành động cách mạng, bảo đảm cho tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin ăn sâu vào cuộc sống, trở thành nếp sống của xã hội.

- Kết hợp giáo dục tư tưởng trong học tập với việc rèn luyện trong thực tiễn cách mạng, bảo đảm cho nhiệt tình cách mạng, kiến thức khoa học mà cán bộ, đảng viên thu nhận được vừa sâu sắc và vững chắc, vừa cơ bản và toàn diện.

 

- Kết hợp việc giáo dục cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt nội bộ Đảng, trong sinh hoạt cơ quan nhà nước và các đoàn thể với việc phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tổ chức cho quần chúng phê bình cán bộ, đảng viên. Kết hợp công tác tư tưởng trong Đảng với công tác tư tưởng ngoài xã hội.

 

- Kết hợp việc bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm cách mạng với việc phê phán một cách triệt để những biểu hiện tư tưởng phi vô sản; biểu dương ưu điểm đi đôi với nghiêm khắc phê bình khuyết điểm.

 

Để nâng cao chất lượng công tác tư tưởng, cần nắm vững những biện pháp mấu chốt dưới đây:

 

Công tác giáo dục đường lối của Đảng phải làm rộng rãi, có tổ chức chu đáo, có nền nếp từ trên xuống dưới, cải tiến sinh hoạt chính trị của các tổ chức Đảng, làm cho hội nghị chi bộ, hội nghị cán bộ thật sự là trường học chính trị, tư tưởng quan trọng bậc nhất của người cộng sản. Thường xuyên tổ chức thông báo tình hình trong nước, tình hình quốc tế và các vấn đề khác, bảo đảm cho toàn Đảng có nhận định đúng và thông suốt về các vấn đề thời cuộc.

 

Để làm tốt công tác giáo dục nói trên, các cấp uỷ Đảng phải xây dựng lực lượng báo cáo viên chuyên về từng loại vấn đề, bao gồm uỷ viên ban chấp hành và cán bộ chủ chốt có trình độ lý luận và kinh nghiệm thực tế về những vấn đề mình được phân công, có tín nhiệm và khả năng làm công tác tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và quần chúng.

 

Xây dựng, kiện toàn hệ thống trường lớp của Đảng và Nhà nước, nhất là ở miền Nam. Kiện toàn và mở rộng các trường phổ thông lao động, các lớp bổ túc văn hoá và tích cực xoá sạch nạn mù chữ. Phát triển các lớp dự bị đại học để tăng nhanh hơn nữa nguồn đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật có chất lượng từ những người đã qua sản xuất, chiến đấu. Sắp xếp hợp lý mạng lưới các trường đại học và trung học chuyên nghiệp trong cả nước; nâng cao chất lượng giảng dạy trong các trường này cả về giáo dục chính trị và giáo dục chuyên môn. Hệ thống trường Đảng, cần kiện toàn đội ngũ cán bộ giảng dạy và tăng cường cơ sở vật chất, vừa tăng thêm quy mô trường lớp tập trung, vừa mở rộng hệ thống học tại chức. Xây dựng hệ thống trường lớp đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý ở trung ương và các ngành, các địa phương; tiến hành tổng kết kinh nghiệm để hoàn chỉnh từng bước nội dung chương trình học tập cho các loại cán bộ; phân công hợp lý giữa trường Đảng và trường đào tạo cán bộ quản lý của các ngành. Ngoài chương trình đào tạo cơ bản, từng thời gian cần bổ túc cho cán bộ những kiến thức mới về lý luận, đường lối, về quản lý kinh tế, khoa học, kỹ thuật.

 

Mở rộng công tác nghiên cứu lý luận là điều kiện then chốt để nâng cao chất lượng công tác giáo dục chính trị và tư tưởng. Công tác nghiên cứu lý luận phải nhằm góp phần tổng kết kinh nghiệm cách mạng nước ta, xây dựng cơ sở lý luận của cách mạng Việt Nam, phát triển và cụ thể hoá đường lối của Đảng, góp phần bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin, chống chủ nghĩa cơ hội các loại. Cũng cần cố gắng tổ chức nghiên cứu những vấn đề mới đang đặt ra cho các nước xã hội chủ nghĩa, cho phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Cần tổ chức công tác nghiên cứu lý luận một cách hợp lý, nhằm động viên và phối hợp được lực lượng cán bộ nghiên cứu khoa học ở nhiều ngành khác nhau và thu hút cả cán bộ hoạt động thực tiễn tham gia.

Báo chí, đài, thông tin, văn hoá, văn nghệ... là những công cụ có hiệu lực của Đảng trong việc giáo dục nhân dân và giáo dục cán bộ, đảng viên về đường lối, chính sách của Đảng, góp phần xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa, đấu tranh chống những nọc độc của chủ nghĩa thực dân mới, chống văn hoá đồi trụy phản động, phê phán những quan điểm tư tưởng không vô sản trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội, nhất là ở miền Nam. Cán bộ, đảng viên phải đọc sách báo Đảng; các tổ chức đảng cần nắm chắc các công cụ thông tin văn hoá, văn nghệ để thông qua đó mà làm cho đường lối, chính sách của Đảng thâm nhập một cách sinh động vào đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng.

 

II


Hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bảo đảm xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế mới, nền văn hoá mới, con người mới

 

Nhiệm vụ có tính chất bao trùm của công tác tổ chức trong giai đoạn mới là không ngừng hoàn thiện cơ cấu tổ chức với ý nghĩa toàn diện của nó trên quy mô toàn xã hội, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản trong sự nghiệp xây dựng chế độ mới, nền kinh tế mới, nền văn hoá mới, con người mới, thúc đẩy mạnh mẽ các phong trào quần chúng tiến hành ba cuộc cách mạng, đưa lịch sử nước ta phát triển với nhịp độ chưa từng thấy.

 

1. Như Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ, việc tạo lập chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa đòi hỏi trước hết phải xây dựng ở các cấp, các ngành từ trung ương đến cơ sở, bao trùm tất cả mọi hoạt động, một hệ thống các mối quan hệ đúng đắn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

 

Trong cơ cấu tổ chức chung của cả xã hội, Đảng, Nhà nước, nhân dân là một tổng thể thống nhất, trong đó Đảng là người lãnh đạo, nhân dân lao động là người làm chủ tập thể, Nhà nước là người quản lý. Sự lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý của Nhà nước, vai trò giáo dục, động viên, vận động quần chúng của các đoàn thể cuối cùng là nhằm phát huy được quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động mà nòng cốt là liên minh công nông, phát huy được sức mạnh vô tận của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.

 

Khi chưa có chính quyền, cũng như khi đã có chính quyền, Đảng luôn luôn khẳng định chân lý: cách mạng bao giờ cũng là sự nghiệp của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng.

 

Đảng quyết định đường lối, chính sách và chương trình hành động của Đảng trong từng thời kỳ, và bằng cách thông qua cán bộ, đảng viên và tổ chức của Đảng trong bộ máy nhà nước và trong tổ chức quần chúng, biến đường lối, chính sách ấy thành nhiệm vụ, chủ trương, biện pháp, chương trình hành động cụ thể của toàn bộ hệ thống chuyên chính vô sản, thành hành động cách mạng của quần chúng.

 

Đảng lãnh đạo Nhà nước một cách toàn diện: quyết định đường lối, chính sách, phương hướng hoạt động của Nhà nước; quyết định những vấn đề quan trọng về hệ thống quản lý, về bộ máy tổ chức và cán bộ; chăm lo xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước vững mạnh, xây dựng lực lượng cán bộ của Đảng có năng lực làm nòng cốt trong các cơ quan nhà nước. Đảng dựa vào các tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng để kiểm tra hoạt động của các cơ quan nhà nước trên tất cả các lĩnh vực. Tất cả những việc đó là nhằm bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng, quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động được thực hiện triệt để.

 

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân xây dựng chính quyền để thực hiện quyền làm chủ của mình. Sự lãnh đạo của Đảng, quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động chỉ có thể thực hiện triệt để thông qua Nhà nước, bằng Nhà nước, người đại diện của nhân dân trong công tác quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, văn hoá và đời sống xã hội, và thông qua các tổ chức quần chúng là người giáo dục, động viên, vận động quần chúng thực hiện quyền làm chủ của mình.

 

Nhà nước chuyên chính vô sản, với sứ mệnh lịch sử trọng đại là cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới, vừa là bộ máy hành chính, vừa là tổ chức quản lý kinh tế, văn hoá, đời sống, trấn áp phản cách mạng, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội, củng cố quốc phòng. Điều đó nói lên tầm quan trọng to lớn của Nhà nước ta. Trong giai đoạn mới, sức mạnh của Đảng, của nhân dân một phần quan trọng thể hiện ở sức mạnh của Nhà nước; sự trưởng thành của Đảng chính là ở quá trình không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo Nhà nước, phát huy vai trò và hiệu lực của Nhà nước, của hệ thống chuyên chính vô sản.

 

Đảng phấn đấu nâng cao năng lực vận dụng và phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chuyên chính vô sản, có nghĩa là Đảng phải biết xây dựng, kiện toàn, lãnh đạo từng tổ chức làm tốt chức năng của nó, biết phối hợp hoạt động của mọi tổ chức trong hệ thống ấy một cách nhịp nhàng, đồng bộ, bảo đảm thống nhất sự lãnh đạo về đường lối, chủ trương, phương hướng của Đảng với công việc tổ chức quản lý nhà nước và công tác vận động, giáo dục quần chúng của các đoàn thể nhân dân trong Mặt trận dân tộc thống nhất. Đảng phải khéo vận dụng tổng hợp các biện pháp chính trị và tổ chức, hành chính và kinh tế, pháp chế và giáo dục, thuyết phục và cưỡng bức để phát động quần chúng vượt qua mọi khó khăn, thực hiện có hiệu quả nhất nhiệm vụ của giai đoạn mới. Đảng phải biết xây dựng và sử dụng Nhà nước và các đoàn thể như những công cụ mạnh mẽ để tổ chức, động viên đông đảo quần chúng phấn đấu xây dựng xã hội mới, và qua việc thu hút quần chúng tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội dưới nhiều hình thức khác nhau mà giáo dục nâng cao giác ngộ chính trị, phát huy tính tự giác và năng lực sáng tạo của quần chúng nhân dân, đưa quần chúng đông đảo tham gia các phong trào sôi nổi cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến hành ba cuộc cách mạng, mà lúc này trước hết là phong trào lao động sản xuất.

 

Để làm tốt các việc đó, việc xác định đúng đắn mối quan hệ giữa các tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản, mà trước hết là giữa Đảng và Nhà nước, có ý nghĩa rất quan trọng. Sai lầm coi nhẹ chính quyền, không phát huy chức năng của chính quyền, không biết xây dựng tốt cơ quan nhà nước cũng chính là sai lầm hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, vi phạm quyền làm chủ tập thể của nhân dân.

 

Đảng phải ra sức xây dựng chính quyền, phát huy vai trò và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Nhà nước phải được tổ chức đúng, phải hoạt động đúng để làm tròn nhiệm vụ của Nhà nước chuyên chính vô sản.

 

Bằng kế hoạch nhà nước chính xác, bằng chính sách, chế độ cụ thể, bằng những biện pháp tổ chức quản lý có hiệu lực, Nhà nước phải cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng và tổ chức thực hiện đường lối ấy để bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân về chính trị, kinh tế, văn hoá và xã hội.

 

Phải kiện toàn và thực hiện đầy đủ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Chấn chỉnh lại tổ chức và chế độ quản lý, phát huy vai trò và đẩy mạnh hoạt động của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, của Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp, làm cho các cơ quan nhà nước làm đầy đủ chức năng và hiệu lực của mình; kiên quyết khắc phục tình trạng hoạt động lỏng lẻo, làm việc chiếu lệ, hình thức trong các cơ quan dân cử.

 

Trong sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phải khắc phục tình trạng bao biện, làm thay còn khá phổ biến hiện nay, nhất là ở cấp cơ sở và trong các vùng mới giải phóng. Các tổ chức Đảng cần nhận rõ Đảng lãnh đạo nhân dân chứ không phải thay thế nhân dân làm chủ Nhà nước, Đảng lãnh đạo Nhà nước chứ không phải là thay thế Nhà nước làm chức năng chuyên chính. Đảng bắt buộc tất cả các tổ chức của Đảng và cán bộ, đảng viên phải tôn trọng quyền lực của cơ quan chính quyền, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định, chỉ thị của cơ quan nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng.

 

Song, chống bao biện, sự vụ không có nghĩa là hạn chế sự lãnh đạo của Đảng dừng lại ở chủ trương, phương hướng chung chung, khoán trắng công việc tổ chức thực hiện cho chính quyền. Trái lại, sự lãnh đạo của Đảng đối với mọi hoạt động của Nhà nước cần được tăng cường hơn nữa. Cải tiến và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là sự bảo đảm cao nhất của chuyên chính vô sản, của sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước và là một điều quyết định để tăng cường hiệu lực của Nhà nước chuyên chính vô sản.

 

Đảng cần thường xuyên xem xét, chỉ ra đường lối, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của Nhà nước trong từng thời kỳ và từng ngành khác nhau. ở một số ngành đang tồn tại những vấn đề quan điểm, chủ trương, phương hướng chưa rõ ràng hoặc chưa nhất trí, đòi hỏi phải có sự lãnh đạo chặt chẽ hơn nữa của Đảng. Nhiều khâu then chốt trong tổ chức thực hiện cũng đang đòi hỏi Đảng phải chỉ đạo sát hơn nữa.

 

Các cấp uỷ Đảng phải thống nhất lãnh đạo chính trị, tư tưởng gắn liền với lãnh đạo kinh tế, sản xuất, đẩy mạnh đồng thời ba cuộc cách mạng. Hoạt động kinh tế phải xuất phát từ đường lối chính trị của Đảng và ngược lại, lãnh đạo chính trị, tư tưởng sẽ không có nội dung nếu tách rời với lãnh đạo kinh tế. Cũng không thể máy móc chia tách công việc lãnh đạo của Đảng với công việc quản lý nhà nước, đòi hỏi Đảng chỉ lãnh đạo công việc này mà không lãnh đạo công việc kia. Là đảng cầm quyền, Đảng phải quan tâm tất cả, phải chịu trách nhiệm về hết thảy mọi việc có quan hệ đến vận mệnh của đất nước, đến quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Đảng không bao biện công tác chỉ đạo hàng ngày của chính quyền, nhưng trên tất cả mọi mặt của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội, không có việc gì mà Đảng không cần xem xét đến, phân tích, có chủ trương và phương hướng chỉ đạo.

 

Song, như vậy không có nghĩa là Nhà nước chỉ đóng vai trò thụ động, việc gì cũng chờ ý kiến của cấp uỷ Đảng. Ngay trong quá trình chuẩn bị nghị quyết của Đảng, các cơ quan nhà nước phải góp phần tích cực nghiên cứu, đề xuất ý kiến, và để biến nghị quyết ấy thành hiện thực, các cơ quan nhà nước còn phải xem xét và có hàng loạt quyết định cụ thể về chính sách cải tạo và xây dựng, có kế hoạch, biện pháp, chế độ thể lệ cụ thể về tài chính, vật tư, lao động, v.v.. Trong quá trình Nhà nước thực hiện những quyết định nói trên, tổ chức Đảng không được can thiệp vụn vặt; phải phát huy chức năng của Nhà nước, của người thủ trưởng cơ quan, đơn vị; đồng thời phải theo dõi tình hình, kiểm tra, đôn đốc, uốn nắn, giúp đỡ kịp thời để cơ quan nhà nước hoàn thành tốt nhiệm vụ.

 

Trên những quan điểm và phương hướng ấy, định rõ mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước nói chung và cụ thể ở từng ngành, từng cấp khác nhau, xây dựng chức trách, chế độ cụ thể giữa cấp uỷ và Uỷ ban nhân dân địa phương, giữa tổ chức Đảng ở cơ quan và người thủ trưởng, giữa đảng uỷ và giám đốc xí nghiệp, giữa chi uỷ, đảng uỷ với ban quản trị hợp tác xã, v.v. bảo đảm cho các bộ máy trong hệ thống chuyên chính vô sản hoạt động nhịp nhàng, đồng bộ, có hiệu quả cao nhất, phát động bằng được các phong trào quần chúng rộng rãi.

 

2. Trong khi nhấn mạnh vai trò của Nhà nước và mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước, Đảng không thể xem nhẹ vai trò của các đoàn thể quần chúng, xem nhẹ việc xây dựng mối quan hệ đúng đắn giữa Đảng, Nhà nước với các tổ chức quần chúng. Phải xây dựng mối liên hệ mật thiết giữa Đảng và Nhà nước với quần chúng, đấu tranh chống tệ quan liêu trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.

 

Để đẩy mạnh sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất thiết Đảng và Nhà nước phải phát huy vai trò làm chủ tập thể của các tổ chức quần chúng, làm cho phong trào cách mạng trong quần chúng, ở từng giới, từng tầng lớp, từng lứa tuổi, dấy lên mạnh mẽ. Các tổ chức quần chúng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu tổ chức của cả hệ thống chuyên chính vô sản, là tổ chức bảo đảm cho quần chúng tham gia công việc của Nhà nước và kiểm tra công việc của Nhà nước, đồng thời là trường học về chủ nghĩa xã hội, trường học xây dựng con người làm chủ tập thể.

 

Đảng phải chăm lo xây dựng và nâng cao trình độ mọi mặt của Công đoàn và giai cấp công nhân, xây dựng Đoàn thanh niên và thế hệ trẻ, xây dựng Nông hội (ở địa phương phía Nam), xây dựng và củng cố hợp tác xã và giai cấp nông dân tập thể, xây dựng tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, củng cố và phát huy vai trò của Mặt trận thống nhất trên cơ sở liên minh công nông. Đồng thời, phải chăm lo cải thiện đời sống quần chúng. Nếu không làm như vậy thì không thể phát huy được vai trò làm chủ tập thể của quần chúng. Nhà nước phải phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể, tạo mọi điều kiện cho từng đoàn thể phát huy chức năng của mình. Cần định chế độ mời các đại diện của các đoàn thể tham gia các kỳ sinh hoạt của Hội đồng nhân dân các cấp, ban hành các luật, các chính sách, chế độ bảo đảm cho tổ chức quần chúng phê bình công việc của chính quyền trong các buổi sinh hoạt của mình, thực hiện tốt trách nhiệm và quyền hạn của quần chúng tham gia ý kiến vào công việc quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý xã hội.

 

Từng thời gian, các cấp uỷ cần đi sâu nghiên cứu các phong trào quần chúng ở đơn vị mình, chỉ ra cho từng đoàn thể nhiệm vụ, phương hướng hoạt động, và lãnh đạo tốt sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và các đoàn thể trong việc thực hiện những nhiệm vụ cụ thể để tạo ra các phong trào quần chúng sâu rộng, bền bỉ, liên tục, có mục tiêu rõ ràng, cụ thể.

 

Trong mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân, vấn đề đặt ra hiện nay không phải chỉ là Đảng và Nhà nước động viên quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị do Đảng và Nhà nước đề ra, cũng không phải chỉ là sự mở rộng dân chủ của Đảng và Nhà nước nhằm thu hút quần chúng đóng góp ý kiến một cách chủ động, có sáng tạo vào công việc chung của Đảng và Nhà nước, mà hơn thế nữa, còn phải xây dựng bằng được một hệ thống các quan hệ đúng đắn giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân với cơ chế hoàn chỉnh và những biện pháp có hiệu lực, nhằm xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa.

 

Song song với công tác tư tưởng, Đảng và Nhà nước phải tăng cường biện pháp tổ chức để khắc phục bằng được bệnh quan liêu trong bộ máy của mình. Không làm như thế thì không thể có đường lối, chủ trương chính xác, và bộ máy của Đảng và Nhà nước không thể có hiệu lực. Tình trạng cách bức trong bộ máy, thái độ hời hợt, tác phong đại khái, xa quần chúng của cán bộ, đảng viên và tình trạng bộ máy tổ chức cồng kềnh, biên chế hành chính nặng nề, một nguyên nhân quan trọng của bệnh quan liêu, là hoàn toàn xa lạ với cơ cấu tổ chức bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động. Nọc độc của bệnh quan liêu không dừng lại ở chỗ làm cho một số cán bộ, đảng viên bị hư hỏng và thoái hoá, biến chất, mà còn làm cho công tác phạm sai lầm, đi chệch đường lối, chính sách của Đảng, làm cho tổ chức không còn đủ hiệu lực, làm giảm sút bản chất cách mạng của Đảng và Nhà nước, và như vậy sẽ tạo điều kiện cho kẻ thù xen vào nội bộ tổ chức, phá hoại từ bên trong.

 

Một nhiệm vụ quan trọng của công tác tổ chức, nhất là trong bước ngoặt chuyển từ chiến tranh sang hoà bình, từ chiến đấu sang xây dựng kinh tế, văn hoá, là phải khắc phục bệnh quan liêu, bệnh mệnh lệnh, cửa quyền một cách toàn diện chẳng những bằng công tác tư tưởng mà điều rất quan trọng là bằng biện pháp tổ chức, bằng cơ cấu và chế độ tổ chức, chế độ quản lý.

 

Tổ chức, các chế độ phải bảo đảm cho quần chúng thực hiện đầy đủ quyền làm chủ tập thể của mình, nói lên ý kiến của mình trên tất cả các vấn đề về sản xuất, phân phối và đời sống, về nội dung và cách tiến hành ba cuộc cách mạng, về xây dựng kinh tế, phát triển văn hoá, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội và cả về xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng.

 

Các tổ chức Đảng và Nhà nước phải định kỳ tổ chức các cuộc sinh hoạt để bảo đảm cho quần chúng phát biểu ý kiến về các vấn đề đó, làm cho quần chúng hiểu rõ tình hình chung của đất nước, của địa phương, những khó khăn và thuận lợi, tạo điều kiện cho quần chúng phát huy tính chủ động và sáng tạo để cùng với Đảng và Nhà nước khắc phục khó khăn; bảo đảm cho quần chúng có điều kiện đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo của tổ chức Đảng, công tác quản lý của Nhà nước, kiểm tra công tác của chính quyền, phê bình cán bộ, đảng viên.

 

Phải bằng mọi cách tổ chức cho quần chúng đóng góp ý kiến vào việc xây dựng các pháp luật, các công việc trọng yếu của toàn quốc hay của mỗi địa phương, và thu hút quần chúng tham gia rộng rãi vào công tác quản lý kinh tế, quản lý nhà nước. Cần thường kỳ triệu tập các hội nghị những người có năng suất cao, những cán bộ, công nhân, nông dân tập thể có phát minh, sáng kiến, những hội nghị tổng kết kinh nghiệm tại chỗ, kinh nghiệm của những điển hình tiên tiến, tiến hành việc làm thử những vấn đề quan trọng và mới.

 

Các cấp cơ sở cần áp dụng một cách đều đặn hình thức bình công, báo công, định kỳ mỗi năm ít nhất hai lần tổ chức cho quần chúng phê bình công tác của tổ chức Đảng và chính quyền ở cơ sở, phê bình cán bộ, đảng viên. Đồng thời, phải nâng cao chất lượng tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ở cơ sở, bồi dưỡng và nâng cao trình độ mọi mặt của quần chúng để quần chúng kịp thời phê bình những cán bộ, đảng viên làm trái với đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật, chế độ, thể lệ Nhà nước, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân, biến việc đó thành một thói quen trong nếp sống hàng ngày của quần chúng bằng nhiều hình thức: trực tiếp phê bình, ghi sổ góp ý ở mỗi cơ quan, thông qua báo chí, gửi thư hoặc tiếp xúc với các cơ quan có trách nhiệm.

 

ở các cấp trên, Chính phủ phải báo cáo và tự phê bình trước Quốc hội, Uỷ ban nhân dân phải báo cáo và tự phê bình trước Hội đồng nhân dân, cấp uỷ yêu cầu Hội đồng nhân dân và các tổ chức quần chúng góp ý kiến về sự lãnh đạo của cấp uỷ.

 

Trong quá trình lãnh đạo và chỉ đạo sản xuất, công tác, phải bảo đảm tốt việc nắm tình hình, tổ chức tốt việc theo dõi, phân tích diễn biến của tình hình. Vì vậy, phải tổ chức tốt hệ thống thông tin của Đảng và Nhà nước từ trên xuống và từ dưới lên. Trung ương Đảng và Chính phủ, các cấp uỷ Đảng và cơ quan nhà nước không phải chỉ nắm tình hình thông qua báo cáo của các cơ quan cấp dưới trực tiếp, mà phải định chế độ trực tiếp nhận báo cáo thường xuyên của cả nhiều cơ sở, ở những lĩnh vực hoạt động khác nhau và phải trực tiếp kiểm tra, tìm hiểu tình hình thực tế. Các cơ quan nghiên cứu quy hoạch, kế hoạch, nghiên cứu khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế, quản lý nhà nước phải thật sự gắn liền với sản xuất và đời sống để thấy rõ khả năng cách mạng vô tận của quần chúng và trên cơ sở đó, có quan điểm đúng đắn, có cơ sở khoa học và có tư tưởng cách mạng tiến công trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch nhà nước.

 

Cần định chế độ cho cán bộ ở mọi cương vị công tác, trước hết là cán bộ lãnh đạo và quản lý, thường xuyên đi sát thực tế ở cấp dưới và cơ sở, nghiên cứu kinh nghiệm của quần chúng ở cơ sở. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thường xuyên liên hệ với quần chúng nơi mình công tác, sinh sống. Mỗi đại biểu Quốc hội và uỷ viên Hội đồng nhân dân phải thực hiện chế độ liên hệ với cử tri, tập hợp được ý kiến của quần chúng, của cơ sở. Các chi bộ phải kiểm tra công tác quần chúng của đảng viên.

 

Phải bằng mọi biện pháp tăng cường công tác kiểm tra. Cùng với công tác kiểm tra của Đảng, phải tăng cường công tác kiểm tra của Nhà nước và của quần chúng.

 

Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp phải giám sát, kiểm tra, đánh giá công tác của các cơ quan do mình bầu ra, buộc các cơ quan này phải trả lời những vấn đề do đại biểu của nhân dân đề ra một cách nghiêm túc. Các bộ phận thanh tra của từng bộ, cơ quan phải được kiện toàn để kiểm tra công tác của ngành và đơn vị cấp dưới một cách có hiệu quả.

 

Các đoàn thể nhân dân phải tham gia và thu hút quần chúng tham gia kiểm tra công việc của cơ quan nhà nước có liên quan đến chức trách tham gia quản lý của tổ chức mình, đến việc bảo vệ quyền lợi chính đáng của các tầng lớp quần chúng. Những hình thức tổ chức kiểm tra của quần chúng công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, v.v. mà nhiều nơi đã áp dụng một cách có hiệu quả trong việc đấu tranh để khắc phục những biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, chống lãng phí, tham ô, cần được tổng kết để áp dụng một cách rộng rãi và hình thành hệ thống kiểm tra nhân dân.

 

Tất cả những việc trên đây đều là những biện pháp tích cực để khắc phục và ngăn chặn bệnh quan liêu, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động trong việc tham gia xây dựng chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

 

3. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương đã chỉ rõ: "Nội dung của làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa bao gồm nhiều mặt: làm chủ về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội; làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên, làm chủ bản thân; làm chủ trong phạm vi cả nước, trong mỗi địa phương, mỗi cơ sở; là kết hợp hữu cơ quyền làm chủ tập thể với quyền tự do chân chính của từng cá nhân". Chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa phải được bảo đảm bằng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, bằng con người mới xã hội chủ nghĩa.

 

Cơ cấu và chế độ tổ chức để bảo đảm chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa phải quán triệt đầy đủ nội dung và những yêu cầu đó của chế độ làm chủ tập thể, làm cho chế độ đó thật sự vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Vì thế, muốn phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản, không thể chỉ dừng lại ở việc giải quyết đúng các mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và các đoàn thể quần chúng, mà còn đòi hỏi phải giải quyết một loạt vấn đề về các mối quan hệ giữa trung ương với địa phương, giữa cấp trên và cấp dưới, giữa địa phương, đơn vị, tập thể này với địa phương, đơn vị, tập thể khác, giữa cá nhân và tập thể, giữa gia đình và xã hội trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, v.v..

 

Trên lĩnh vực tổ chức, điều đó đòi hỏi phải xác định đúng đắn vị trí, quyền hạn, trách nhiệm, mối quan hệ hiệp đồng của các cấp, các ngành, của từng địa phương, từng đơn vị cơ sở, từng tập thể lao động, v.v. trên mọi lĩnh vực hoạt động xã hội mà trong giai đoạn cách mạng hiện nay khâu trung tâm là xây dựng quản lý kinh tế và tổ chức đời sống.

 

Trong phạm vi cả nước, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Nhà nước phải bảo đảm quyền làm chủ tập thể ở cả các cấp trung ương, địa phương và cơ sở bằng luật tổ chức Hội đồng Chính phủ và các bộ, luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân các cấp, bằng kế hoạch nhà nước, bằng pháp luật, chính sách, chế độ, thể lệ của Nhà nước, bằng phân cấp quản lý cụ thể tạo ra những điều kiện về cơ sở vật chất và kỹ thuật, và những điều kiện khác thích ứng với quyền hạn, nhiệm vụ và quyền làm chủ ở mỗi cấp.

 

Từng bộ, chẳng những phải có trách nhiệm đối với các đơn vị cơ sở trực thuộc, mà còn có trách nhiệm trong phạm vi toàn ngành, kể cả ở trung ương và địa phương; phải tạo điều kiện cần thiết cho việc phát huy quyền làm chủ của địa phương về công tác của ngành, lại phải thực hiện sự phối hợp, hiệp đồng để hỗ trợ cho các ngành có liên quan khác làm tốt trách nhiệm của mình. Bộ trưởng không phải chỉ là người chỉ đạo công tác chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ đơn thuần, mà còn phải là người bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng được quán triệt trong ngành, ở đơn vị cơ sở trực thuộc; phải liên hệ chặt chẽ với cấp uỷ và chính quyền địa phương, góp phần cùng địa phương và cơ sở phát động tốt phong trào quần chúng, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng trong quần chúng.

 

Trong phạm vi từng địa phương, từng cơ sở, từng tập thể, các cấp, các ngành đều phải xác định vị trí và trách nhiệm cụ thể của địa phương, đơn vị và tập thể mình chẳng những đối với sản xuất, phân phối, văn hoá, đời sống và quyền làm chủ tập thể về mọi mặt của quần chúng trong địa phương, đơn vị mình, mà còn phải xác định vị trí, trách nhiệm và quyền làm chủ tập thể ấy trong phạm vi rộng lớn hơn và đối với cả nước. Cần làm rõ hơn nữa vị trí và trách nhiệm trọng yếu của địa phương đối với Trung ương và toàn quốc. Chính quyền địa phương vừa là cấp chính quyền địa phương, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương, đồng thời là một cấp của chính quyền nhà nước trung ương, chịu trách nhiệm trước nhà nước trung ương; phải làm tốt trách nhiệm quản lý trên lãnh thổ đối với kinh tế trung ương ở địa phương. Cấp uỷ địa phương, tỉnh, thành phố phải nắm chắc tình hình diễn biến trong sản xuất và đời sống của quần chúng ở các cơ sở của trung ương đặt ở địa phương, thông qua lãnh đạo tổ chức Đảng và tổ chức quần chúng ở các đơn vị ấy mà phát động mạnh mẽ các phong trào quần chúng lao động sản xuất, công tác, kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng ở các đơn vị cơ sở ấy.

 

Các tổ chức Đảng, cơ quan nhà nước lại phải có chế độ tổ chức để bảo đảm phát huy vai trò, trách nhiệm và quyền làm chủ của từng gia đình, từng công dân đối với xã hội, đối với cả nước.

 

Toàn bộ việc xây dựng cơ cấu tổ chức của Đảng, Nhà nước, các tổ chức quần chúng và của toàn xã hội cần quán triệt hơn nữa yêu cầu xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, quán triệt đường lối phát triển kinh tế, văn hoá của Đảng, nhằm giải quyết một cách đúng đắn các mối quan hệ hữu cơ giữa xây dựng chế độ làm chủ tập thể và xây dựng nền kinh tế mới, nền văn hoá mới, con người mới, giữa xây dựng kinh tế và các lĩnh vực hoạt động khác, giữa cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, giữa công nghiệp và nông nghiệp, giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, giữa kinh tế và quốc phòng, giữa tự lực cánh sinh và mở rộng quan hệ với nước ngoài nhằm phát huy mọi khả năng tiềm tàng của đất nước.

 

Trong khi nhấn mạnh vị trí của công tác tổ chức bảo đảm nhiệm vụ kinh tế, cần nhận thức rõ hơn nữa vị trí của văn hoá, giáo dục, thể hiện tầm quan trọng của việc xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa đối với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, trong khi coi trọng kiện toàn tổ chức kinh tế, phải thấy đầy đủ tầm quan trọng của việc củng cố và xây dựng các ngành giáo dục, thông tin, văn hoá của các trường học, các vườn trẻ, lớp mẫu giáo, của các đoàn thể, nhất là Đoàn thanh niên, Công đoàn, Hội phụ nữ. Trong khi nhấn mạnh vị trí của kinh tế, văn hoá, không thể xem nhẹ vị trí của quốc phòng, trị an, của các lực lượng vũ trang đối với toàn bộ sự phát triển của cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đảng bao giờ cũng phải nắm vững và lãnh đạo chặt chẽ lực lượng vũ trang và cơ quan an ninh.

 

Phải trên quan điểm mới của việc xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa mà nghiên cứu cả việc cải tiến phương pháp lãnh đạo, bảo đảm trong từng thời gian tập trung sức của một hoặc nhiều địa phương, nhiều ngành để giải quyết những khâu then chốt của một vài địa phương, đơn vị cấp dưới hoặc một vài mặt công tác có tác dụng thúc đẩy sự phát triển trong phạm vi rộng hơn về kinh tế, văn hoá, xã hội. Phải xây dựng bằng được tinh thần hợp tác xã hội chủ nghĩa và sự hiệp đồng có hiệu lực bằng biện pháp tổ chức, khắc phục một cách kiên quyết tư tưởng bản vị, cục bộ, địa phương chủ nghĩa, tính tự do, tản mạn, lối làm việc phân tán của sản xuất nhỏ.

 

Rõ ràng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa đang đề ra cho công tác tổ chức biết bao vấn đề mới mẻ và phức tạp trong việc giải quyết các mối quan hệ xã hội bao quát và rộng rãi trên mọi lĩnh vực. Các mối quan hệ hữu cơ ấy của xã hội đều đòi hỏi phải được xây dựng thành quy chế tổ chức, thể hiện bằng chức trách, chế độ cụ thể, bằng luật pháp và các quy định về tổ chức bộ máy, về chế độ làm việc và tổ chức chỉ đạo thực hiện, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa.

 

Để làm tốt việc đó phải nghiên cứu tỉ mỉ, từng bước bổ sung và hoàn chỉnh, làm cho chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa được bảo đảm bằng cơ cấu tổ chức, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản, sức mạnh tổng hợp của cả nước trong sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

III


Phát huy truyền thống đoàn kết, thống nhất, tăng cường dân chủ và kỷ luật của đảng

 

1. Cơ sở của truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng là đường lối, chính sách đúng đắn, thấm nhuần tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin và những nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Cơ sở ấy được củng cố bằng tình cảm cách mạng trong sáng và tình thương yêu đồng chí sâu sắc của những người cộng sản đã tạo nên sức mạnh phi thường của Đảng ta.

 

Bước vào giai đoạn mới, hơn bao giờ hết, Đảng ta cần làm quán triệt những kinh nghiệm lớn đó để phát huy hơn nữa truyền thống đoàn kết, thống nhất của Đảng, bảo đảm cho Đảng không thể có chia rẽ, bè phái, đưa sự nghiệp cách mạng nước ta tiến lên giành thắng lợi huy hoàng hơn nữa.

 

a) Trước hết phải bảo đảm trong bất cứ tình huống nào sự thống nhất về đường lối của Đảng.

 

Quá trình thực hiện sự thống nhất về đường lối phải là quá trình xây dựng, phát triển, cụ thể hoá đường lối một cách đúng đắn, quá trình đấu tranh để quán triệt đường lối ấy trong thực tiễn, để ngăn chặn và khắc phục những biểu hiện nhận thức lệch lạc về đường lối, cũng như để loại trừ mọi âm mưu chống đối nhằm chia rẽ hàng ngũ của Đảng. Đảng ta đã và sẽ không ngừng làm cho đường lối của Đảng được thấm sâu vào đông đảo đảng viên và quần chúng. Chẳng những phải xây dựng sự nhất trí cao về đường lối chung mà còn phải không ngừng tăng cường thống nhất trên những vấn đề về đường lối, quan điểm thuộc từng lĩnh vực công tác.

 

Trong quá trình chấp hành đường lối của Đảng, không thể tránh khỏi trong cán bộ, đảng viên còn có những ý kiến khác nhau về những vấn đề này hay vấn đề khác. Đảng ta coi đó là hiện tượng bình thường. Việc thảo luận một cách nghiêm túc trong Đảng về những ý kiến khác nhau để tìm ra những chủ trương, biện pháp và kết luận đúng đắn không thể coi là mất đoàn kết. Nhưng sẽ là một hiện tượng rất không tốt nếu để cho những nhận định và ý kiến khác nhau ấy kéo dài làm ảnh hưởng đến sự thống nhất ý chí và hành động cách mạng. Càng không thể để cho chủ nghĩa cá nhân xen vào những vấn đề quan điểm khác nhau để gây chia rẽ, bè phái trong Đảng.

 

Bởi vậy, bước vào giai đoạn mới, Đảng và mỗi đảng bộ phải chăm lo tổng kết kinh nghiệm làm rõ những vấn đề về quan điểm, chủ trương, chính sách, nhất là về cải tạo và phát triển kinh tế, tổ chức đời sống, tổ chức việc thảo luận dân chủ trong Đảng, kịp thời phân tích những ý kiến khác nhau và dựa vào tập thể để tìm ra những kết luận chính xác, tạo cơ sở cho sự thống nhất ngày càng cao trong toàn Đảng và trong mỗi đảng bộ. Đảng phải không ngừng nâng cao giác ngộ chính trị, bồi dưỡng lý luận, nâng cao kiến thức, giáo dục phương pháp tư tưởng, tạo điều kiện cho cán bộ, đảng viên đi sâu đi sát thực tế sản xuất và đời sống, theo kịp tình hình và nhiệm vụ mới. Phải ra sức khắc phục sự chênh lệch về trình độ lý luận, kiến thức và thực tiễn trong Đảng, bảo đảm cho sự nhất trí trên các vấn đề đường lối, chính sách, chủ trương công tác, v.v. được dễ dàng, nhanh chóng và có cơ sở tự giác cao.

 

ở những bước ngoặt, những thử thách quyết liệt của cách mạng, những lúc cách mạng gặp khó khăn, Đảng càng phải coi trọng công tác tư tưởng, giáo dục về tình hình và nhiệm vụ mới, làm rõ thuận lợi và khó khăn, khẳng định đúng ưu điểm và thành tích, những nhược điểm và khuyết điểm, kịp thời ngăn chặn những biểu hiện bi quan, dao động, kém tin tưởng và những ảnh hưởng của những quan điểm lệch lạc hữu khuynh, "tả" khuynh, những nhận thức sai lệch về đường lối, chính sách của Đảng trong cán bộ, đảng viên và quần chúng.

 

Nếu có những phần tử cơ hội, bất mãn, thoái hoá, chống lại đường lối độc lập, tự chủ của Đảng, Đảng phải có thái độ kiên quyết nhất. Phải tăng cường sự thống nhất về đường lối và quan trọng nhất là trong các cơ quan lãnh đạo của Đảng, nâng cao cảnh giác về chính trị của đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng, và phát huy hiệu lực của bộ máy chuyên chính. Đó là những điều kiện cơ bản để nhanh chóng đập tan những âm mưu và hành động chia rẽ của chúng ngay từ khi mới được nhen nhóm lên.

 

Đường lối độc lập, tự chủ của Đảng là sự vận dụng có sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin và những kinh nghiệm của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam. Giữ gìn đường lối độc lập của Đảng không có nghĩa là theo quan điểm dân tộc hẹp hòi, xa rời chủ nghĩa quốc tế vô sản. Trong khi nắm vững đường lối độc lập của mình, Đảng không một phút lơi lỏng nghĩa vụ quốc tế cao cả và mãi mãi sẽ nêu cao truyền thống của chủ nghĩa quốc tế vô sản. Song, lợi ích của Đảng, của cách mạng nước ta, của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đòi hỏi Đảng ta phải không ngừng đấu tranh chống mọi khuynh hướng của chủ nghĩa cơ hội, hữu, "tả" có thể ảnh hưởng vào trong Đảng.

 

Đảng phải chủ động chỉ ra cho cán bộ, đảng viên những quan điểm đúng đắn và sai trái trong phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, những luận điệu xuyên tạc của giai cấp thù địch trên mọi lĩnh vực, giúp cho mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cho các cán bộ cao cấp và trung cấp, chủ động phân biệt được đúng sai trên các vấn đề về đường lối, quan điểm.

 

b) Sự đoàn kết, nhất trí về đường lối phải được bảo đảm bằng sự thống nhất về mặt tổ chức trên cơ sở tuân thủ một cách nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng.

 

Đảng phải không ngừng đấu tranh để thực hiện một cách đầy đủ hơn nữa nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, thể hiện một cách cụ thể nguyên tắc ấy bằng các chế độ công tác, sinh hoạt cụ thể, để tăng cường thống nhất hành động, khắc phục một cách kiên quyết và có hiệu quả những biểu hiện gia trưởng, độc đoán, mất dân chủ, hoặc tự do chủ nghĩa, vô nguyên tắc thường xảy ra. Đó là điều kiện tất yếu để tăng cường đoàn kết và sức chiến đấu của Đảng.

 

Đảng ta nhất thiết phải làm cho nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng, mà nội dung cơ bản là chế độ dân chủ và kỷ luật của Đảng, trở thành hành động tự giác của mọi đảng viên, làm cho nguyên tắc ấy, như dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đã khẳng định, "một mặt, bảo đảm phát huy tính tích cực và tính sáng tạo của mọi tổ chức của Đảng và đảng viên trong việc tham gia xây dựng và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng; mặt khác, bảo đảm sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng".

 

c) Sự chặt chẽ về nguyên tắc là vấn đề sống còn của Đảng và bảo đảm quan trọng nhất cho sức sống, sự trong sạch và vững mạnh của Đảng. Mặt khác, đối với những người cộng sản, bên cạnh tính nguyên tắc, còn có ý chí và tình cảm cách mạng trong sáng, có tình thương yêu đồng chí của những người cộng sản, sự tôn trọng và tin cậy lẫn nhau giữa những người cùng chung lý tưởng.

 

Đáng tiếc là tình hình mất đoàn kết, thậm chí mất đoàn kết nghiêm trọng ở một số tổ chức của Đảng nhiều khi chỉ là do chủ nghĩa cá nhân, bệnh công thần, địa vị, nhỏ nhen và ích kỷ, tư tưởng cục bộ, bản vị, địa phương chủ nghĩa hoặc do những nhận thức không đúng đắn về vấn đề dân tộc; tình cảm địa phương, họ hàng, thôn xóm gây nên.

 

Nâng cao tính đảng của đảng viên, xây dựng tình thương yêu đồng chí và tình cảm cách mạng đúng đắn, ra sức đấu tranh để khắc phục chủ nghĩa cá nhân và những biểu hiện tiêu cực trên đây của cán bộ, đảng viên là một yêu cầu không thể xem nhẹ để tăng cường thống nhất ý chí và hành động trong Đảng.

 

Đảng ta là một, dân tộc ta là một; ý chí và tình cảm cách mạng của Đảng là thống nhất. Mỗi cán bộ, đảng viên phải vì lợi ích chung của Đảng, của cách mạng mà đấu tranh chống lại những biểu hiện tiêu cực ấy, trước hết là ở chính mình, để giữ gìn đoàn kết, thống nhất của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. Trong Đảng tuyệt đối không bao giờ được có bè phái, gây nhóm nhỏ.

 

2. Để tăng cường đoàn kết thống nhất, quán triệt nguyên tắc tập trung dân chủ trong sinh hoạt và hoạt động của Đảng, phải không ngừngmở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ tập thể của toàn Đảng theo những yêu cầu mới về lãnh đạo kinh tế, văn hoá, đời sống, quốc phòng, trị an, v.v. bảo đảm cho trí tuệ tập thể, tính tích cực, sáng tạo của toàn Đảng và quần chúng đảng viên được phát huy một cách triệt để trong việc trực tiếp hoặc thông qua đại diện của mình, tham gia ý kiến trong tổ chức Đảng để quyết định những vấn đề cơ bản nhất của toàn Đảng, của mỗi đảng bộ và nâng cao tính tự giác của đảng viên trong việc chấp hành các quyết định ấy.

 

Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa nền kinh tế từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa càng khó khăn, phức tạp bao nhiêu thì Đảng càng phải ra sức đấu tranh để thực hiện triệt để chế độ dân chủ trong nội bộ Đảng, ra sức nâng cao chất lượng lãnh đạo tập thể của Đảng bấy nhiêu. Đó cũng là điều kiện tất yếu để giành thắng lợi.

 

a) Dân chủ nội bộ trước hết phải được phản ánh vào việc thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tập thể là nguyên tắc lãnh đạo cao nhất của Đảng và trong việc xây dựng các cơ quan lãnh đạo tập thể của Đảng. Nó bảo đảm các nghị quyết của tổ chức Đảng có chất lượng cao, có tính khoa học, thiết thực.

 

Cần chấm dứt tình trạng mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức trong các cơ quan lãnh đạo tập thể của Đảng. Điều đó đòi hỏi trước hết phải bảo đảm cho các hội nghị của Đảng từ trên xuống dưới phải được chuẩn bị chu đáo và được tiến hành một cách thật sự dân chủ; các quyết định của hội nghị phải phản ánh và tập trung được ý chí và trí tuệ sáng tạo của tập thể, của những người am hiểu vấn đề, của đông đảo cán bộ, đảng viên và quần chúng, đề cập và giải quyết được những vấn đề then chốt nhất, cấp thiết nhất của cuộc sống, khắc phục một cách kiên quyết bệnh gia trưởng, độc đoán, hình thức trong sinh hoạt tập thể cũng như những biểu hiện gò ép, dân chủ hình thức hoặc buông lỏng lãnh đạo trong việc bầu cử các cấp uỷ Đảng.

 

Các tổ chức Đảng từ trung ương đến cơ sở cần theo quy định của Điều lệ Đảng mà triệu tập Đại hội đảng bộ đều đặn, đúng kỳ hạn.Từng cấp uỷ căn cứ vào Điều lệ Đảng và hướng dẫn của cấp trên mà xây dựng và thực hiện các nguyên tắc sinh hoạt dân chủ trong Đảng, định ra các chế độ sinh hoạt tập thể bảo đảm cho chương trình nghị sự của cơ quan lãnh đạo tập thể trên những vấn đề cơ bản phải được tập thể cân nhắc và quyết định. Việc chuẩn bị hội nghị phải trải qua những thủ tục nhất định về công tác điều tra, nghiên cứu, về việc lấy ý kiến của các cơ quan có trách nhiệm và của cấp dưới, làm cho hội nghị được tiến hành nhanh gọn, nhưng có chất lượng cao. Cơ quan lãnh đạo phải nắm vững tình hình thực tế, có thời gian suy nghĩ về các phương án và ý kiến khác nhau, việc thảo luận trong hội nghị phải thật sự dân chủ, cởi mở, và có kết luận rõ ràng, không bị ràng buộc bởi một áp lực nào. Việc kết luận, biểu quyết các vấn đề phải trên cơ sở phân tích rõ ý kiến đúng sai; nghị quyết của hội nghị phải được tập thể thông qua một cách thật sự dân chủ, tránh chủ quan, phiến diện.

 

Dân chủ trong Đảng có quan hệ chặt chẽ với dân chủ trong quần chúng. Là người lãnh đạo quần chúng, Đảng và cán bộ, đảng viên không thể có những quyết định và ý kiến đúng đắn nếu xa cách quần chúng, không phát huy trí tuệ và không lắng nghe ý kiến và kinh nghiệm của quần chúng. Đảng tổ chức cho đông đảo quần chúng có tổ chức tham gia ý kiến vào các vấn đề trọng yếu trong phạm vi toàn quốc hoặc từng địa phương, nhất là trong các dịp mở Đại hội Đảng toàn quốc và Đại hội của đảng bộ địa phương và cơ sở. Chất lượng lãnh đạo tập thể, xét đến cùng, đòi hỏi cán bộ và cơ quan lãnh đạo của Đảng phải vừa có lập trường giai cấp vững vàng, quan điểm quần chúng đúng đắn, vừa sát thực tế sản xuất và đời sống, sát quần chúng, đấu tranh chống quan liêu.

 

Việc bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp, như dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị "phải bảo đảm đầy đủ tính chất dân chủ và phải được chuẩn bị chu đáo để việc lựa chọn các thành viên được chính xác. Danh sách những người ứng cử và những người được đề cử phải được những người bầu cử thảo luận, người bầu cử có quyền nhận xét, chất vấn các vấn đề cần thiết về người ứng cử, bầu hay không bầu đối với mỗi người ứng cử, không một cơ quan hay một đảng viên nào được gò ép". Dân chủ trong bầu cử chỉ có thể thực hiện tốt trên cơ sở làm cho đại biểu hiểu rõ tiêu chuẩn của uỷ viên Ban chấp hành, hiểu rõ phẩm chất và năng lực của từng ứng cử viên, loại trừ các hành động bè phái, vô nguyên tắc làm cho các đại biểu hiểu sai lệch về các ứng cử viên. Bởi vậy, để thật sự phát huy dân chủ, phải có sự lãnh đạo đúng đắn.

 

Đoàn chủ tịch của Đại hội, trên cơ sở báo cáo của cấp uỷ và phân tích ý kiến của các đại biểu, của cán bộ, đảng viên, trong trường hợp cần thiết có thể công khai giới thiệu những người ưu tú mà đại biểu chưa nắm được, giới thiệu có phân tích lý lẽ về danh sách những người xét thấy xứng đáng; còn các đại biểu thì coi đó là những ý kiến để tham khảo, cân nhắc, và bằng phiếu kín sử dụng đầy đủ quyền đại biểu của mình, không chịu bất cứ một áp lực nào. Việc giới thiệu đó không thể coi là gò ép hoặc bắt buộc. Đoàn chủ tịch phải ngăn chặn những hiện tượng lôi kéo, bè cánh trong các cuộc bầu cử và phải báo cáo kịp thời lên cấp trên nếu có.

 

ở cấp trên, trước khi lựa chọn người để giới thiệu vào cấp uỷ phải lấy ý kiến của cán bộ, đảng viên. ở các đơn vị cơ sở, trước khi bầu cử cấp uỷ, tổ chức Đảng còn phải lấy kiến nghị của quần chúng về những người mà quần chúng xét thấy xứng đáng được bầu vào cấp uỷ. Chỉ có trên cơ sở tiến hành như vậy, việc lựa chọn người vào cấp uỷ mới thật dân chủ và chính xác.

 

b) Dân chủ nội bộ và chất lượng lãnh đạo còn phải được thể hiện đầy đủ trong mọi sinh hoạt và hoạt động thường xuyên của Đảng.

 

Nghiêm túc thực hiện chế độ báo cáo trước tập thể, trước cấp dưới đã bầu ra mình là một yêu cầu không thể thiếu để bảo đảm sinh hoạt dân chủ của Đảng, là một bộ phận không thể tách rời của việc hoàn chỉnh chế độ bầu cử trong Đảng. Ban chấp hành các cấp của Đảng phải tăng cường chế độ thông báo, thông tin, báo cáo từ trên xuống và từ dưới lên, làm cho toàn Đảng, toàn đảng bộ, toàn thể thành viên của cơ quan lãnh đạo tập thể hiểu được tình hình chung của địa phương và công việc đã làm, những khó khăn, thuận lợi của mỗi đảng bộ. Tổ chức và người phụ trách cấp trên phải thật sự lắng nghe và tôn trọng ý kiến của cấp dưới, tập hợp ý kiến và kinh nghiệm của cán bộ, đảng viên và quần chúng, nêu các vấn đề mà toàn Đảng hay mỗi đảng bộ cần quan tâm để cho cấp dưới thảo luận, tham gia ý kiến.

 

Cần phê phán nghiêm khắc và kiên quyết chấm dứt tình trạng ở không ít cấp uỷ, Ban thường vụ trong thực tế biến thành cấp trên của Ban chấp hành, uỷ viên Ban chấp hành trong thực tế chủ yếu là người tiếp thu và truyền đạt ý kiến của Ban thường vụ, Ban thường vụ không tôn trọng và lắng nghe ý kiến của các uỷ viên Ban chấp hành, không thường xuyên nghiêm túc báo cáo công việc đã làm trước Ban chấp hành, còn các uỷ viên Ban chấp hành thì ngoài các kỳ sinh hoạt tập thể, không phản ánh những ý kiến và kinh nghiệm của mình cho các cơ quan thường trực cấp uỷ. Cũng cần phê phán nghiêm khắc và chấm dứt tình trạng cấp trên không chấp hành quy định của Điều lệ Đảng về chế độ báo cáo trước cấp dưới, không chịu sự kiểm tra của các tổ chức đã bầu ra mình, cán bộ chủ chốt không chịu lắng nghe những ý kiến trái với ý kiến của mình, thậm chí đàn áp những ý kiến đó.

 

Nhằm khắc phục những khuyết điểm đó, trong các điều cơ bản của nguyên tắc tập trung dân chủ, bản dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị nói rõ: "Các Ban chấp hành phải báo cáo và chịu trách nhiệm... trước cơ quan lãnh đạo cấp trên và đảng bộ cấp dưới". "Ban thường vụ... phải báo cáo tình hình chung và công việc đã làm trước Ban chấp hành theo định kỳ".

 

Trong các điều cụ thể khác, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị quy định rõ chế độ và thời hạn cấp trên phải báo trước cho cấp dưới và yêu cầu Ban chấp hành các cấp "ít nhất 6 tháng một lần nêu các vấn đề cần thiết cho cấp dưới thảo luận để đề đạt ý kiến và phê bình sự lãnh đạo của cấp trên". Việc thực hiện đúng những quy định đó nhất định sẽ tạo ra sinh lực mới trong sinh hoạt Đảng và sẽ có tác dụng to lớn đối với việc nâng cao trách nhiệm của toàn Đảng đối với sự lãnh đạo tập thể của Đảng.

 

Cần thực hiện nghiêm túc và có chất lượng chế độ tự phê bình và phê bình từ trên xuống và từ dưới lên. Đó là một yêu cầu bức thiết để nâng cao chất lượng lãnh đạo tập thể, tăng cường sinh hoạt dân chủ và đoàn kết, nhất trí trong Đảng, bảo đảm cho quyền kiểm tra của mỗi đảng viên đối với công việc của Đảng được tôn trọng một cách đầy đủ.

 

Là Đảng nắm chính quyền, trong Đảng thường có những tổ chức và đảng viên chỉ thích nghe ưu điểm, thành tích, không thích nghe phê bình khuyết điểm, không chịu sự kiểm tra của tập thể cấp dưới, thậm chí trấn áp phê bình đối với cấp dưới, xu nịnh, luồn cúi với cấp trên, báo cáo láo thành tích để mưu lợi ích riêng hay lợi ích cục bộ. Lại có những đảng viên sợ bị đụng chạm đến quyền lợi, địa vị, cấp bậc, sợ bị truy chụp, bị thành kiến nên tự tước bỏ quyền dân chủ của mình.

 

Các tổ chức Đảng phải có thái độ nghiêm khắc nhất trước tình trạng đó. Lại phải kiên quyết chống những biểu hiện hình thức chủ nghĩa và sai trái trong tự phê bình và phê bình: tự phê bình và phê bình không căn cứ vào tình hình thực tế, không nhằm thúc đẩy công việc, mà lại nhằm đả kích cá nhân; không nhằm nâng cao chất lượng chấp hành đường lối, chính sách và các nghị quyết, cải tiến lãnh đạo, giữ gìn phẩm chất cách mạng của đảng viên, mà lại đi vào những vấn đề vụn vặt thuộc về sinh hoạt. Qua tự phê bình và phê bình, phải rút ra những kinh nhiệm để quy định thành chế độ, biện pháp nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục, ngăn ngừa các thiếu sót.

 

Phải làm cho vũ khí tự phê bình và phê bình, nhất là phê bình từ dưới lên, thật sự trở thành vũ khí sắc bén của toàn Đảng, làm cho tự phê bình và phê bình thật sự là một quy luật phát triển của Đảng. Việc đó sẽ có tác dụng to lớn đối với việc củng cố Đảng.

Chính vì yêu cầu đó, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) nhấn mạnh: "Các tổ chức của Đảng từ trung ương đến cơ sở và mọi đảng viên phải nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình, cấp trên phải tự phê bình trước cấp dưới và tổ chức tốt việc phê bình từ dưới lên. Tự phê bình và phê bình phải thành thật, thẳng thắn và nhằm mục đích hoàn thành nhiệm vụ, xây dựng tổ chức, giúp đỡ nhau tiến bộ. Đảng nghiêm cấm những hành động trấn áp phê bình, trù dập cá nhân, và có thái độ nghiêm khắc đối với bất cứ cán bộ, đảng viên và tổ chức nào phạm các khuyết điểm ấy".

 

3. Đồng thời với việc mở rộng dân chủ, Đảng ta phải hết sức quan tâm đến việc tăng cường kỷ luật sắt của Đảng, đến công tác kiểm tra của Đảng.

 

a) Bảo đảm cho đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng, các quy tắc sinh hoạt Đảng, kế hoạch nhà nước và pháp chế xã hội chủ nghĩa được triệt để chấp hành là nội dung cơ bản của việc tăng cường kỷ luật của Đảng trong điều kiện Đảng nắm chính quyền.

 

Đông đảo đảng viên ta có ý thức chấp hành đường lối, chính sách của Đảng và Điều lệ Đảng. Chính ý thức ấy đã giúp cho nhiều tổ chức Đảng và đảng viên phát huy tính chủ động, sáng tạo, và ngay trong những điều kiện hoạt động khó khăn nhất, trong lòng địch, xa cách với Trung ương, với cấp trên, đã vững vàng đưa phong trào quần chúng tiến lên. Tuy nhiên, ở không ít tổ chức và đảng viên, tình hình lỏng lẻo trong việc chấp hành nghị quyết và các quy tắc sinh hoạt Đảng hầu như đã trở thành thói quen mà không hề bị phê phán nghiêm khắc.

 

Có những cán bộ, đảng viên thường không nghiên cứu kỹ những biện pháp chấp hành triệt để các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, thậm chí còn phát ngôn tùy tiện về các nghị quyết của Đảng, cho cấp trên là không sát, cường điệu đặc điểm của địa phương, đơn vị mình, và tùy tiện truyền bá ý kiến riêng của mình.

 

Kỷ luật sắt của Đảng không cho phép tồn tại tình trạng tự do chủ nghĩa và vô trách nhiệm đó. Việc chấp hành các nghị quyết của Đảng, các quy tắc sinh hoạt Đảng là vô điều kiện đối với mỗi đảng viên và tổ chức của Đảng.

 

Đảng không cho phép đảng viên bảo lưu ý kiến trái với đường lối của Đảng. Nhưng Đảng cho phép đảng viên được đề đạt ý kiến về những vấn đề mình xét thấy không phù hợp hoặc có thiếu sót trong các nghị quyết của Đảng, và hơn nữa còn yêu cầu mỗi tổ chức và đảng viên phải phát huy tính chủ động và sáng tạo trong việc chấp hành các nghị quyết. Nguyên tắc của Đảng là trong khi tập thể và cấp trên chưa thay đổi ý kiến thì vẫn phải chấp hành đúng các nghị quyết. Nguyên tắc "thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, toàn Đảng phục tùng Ban Chấp hành Trung ương" là một nguyên tắc đầy sức chiến đấu của một đảng Mác – Lênin. Nó bảo đảm về mặt tổ chức cho Đảng ta mãi mãi là một đảng thống nhất có sức mạnh chiến đấu bách chiến bách thắng.

 

Tập thể lãnh đạo không phủ nhận trách nhiệm cá nhân, trái lại phải trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân. Mọi cá nhân trên cương vị của mình phải chủ động đóng góp ý kiến với tập thể để tập thể có được quyết định chính xác, và dám chịu trách nhiệm trong việc chấp hành các nghị quyết của tập thể, dám tự phê bình và thành khẩn nhận khuyết điểm của mình trong việc chấp hành các nghị quyết ấy.

 

Chấp hành nghị quyết của Đảng là giữ gìn sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, là chấp hành ý chí thống nhất của toàn Đảng, của mỗi đảng bộ, và là nghĩa vụ thiêng liêng của mọi tổ chức Đảng và đảng viên. Chính để bảo đảm hơn nữa yêu cầu đó, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) có những đề nghị bổ sung cụ thể và nhấn mạnh việc chấp hành nghiêm chỉnh, vô điều kiện và triệt để các nghị quyết, chỉ thị của Đảng.

 

Việc chấp hành các nghị quyết của Đảng còn đòi hỏi các tổ chức và cán bộ lãnh đạo của Đảng phải biết tổ chức chỉ đạo xây dựng kế hoạch thi hành các nghị quyết. Phải có chế độ tổ chức và kiểm tra việc chấp hành nghị quyết, xác định cụ thể trách nhiệm của các cấp, các ngành, chỉ đạo tốt sự phối hợp hành động trong việc tổ chức thực hiện nghị quyết, định rõ chế độ báo cáo và xin chỉ thị, chế độ, thời gian sơ kết, tổng kết việc thực hiện.

 

Trong điều kiện Đảng nắm chính quyền, lãnh đạo quản lý kinh tế và tổ chức đời sống, đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng được biến thành kế hoạch nhà nước, thành pháp luật, mệnh lệnh, quy chế của Nhà nước. Vì thế, chấp hành kế hoạch, pháp luật, mệnh lệnh, quy chế Nhà nước cũng chính là chấp hành đường lối và các nghị quyết của Đảng. Đảng viên và tổ chức Đảng phải là người gương mẫu nhất trong việc chấp hành mọi quyết định của Nhà nước. Nếu thiếu sự gương mẫu ấy sẽ không thể có được sự thống nhất về ý chí và hành động trong chính ngay hàng ngũ của Đảng, lực lượng lãnh đạo của toàn xã hội.

 

Cần thấy rõ mối quan hệ hữu cơ giữa việc chấp hành kỷ luật của Đảng, việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng với việc chấp hành kỷ luật của Nhà nước và việc thực hiện triệt để nguyên tắc tập trung dân chủ trong chế độ quản lý kinh tế, quản lý xã hội của Nhà nước chuyên chính vô sản. Pháp lệnh, mệnh lệnh Nhà nước càng được tôn trọng bao nhiêu, kỷ luật nội bộ sẽ càng được củng cố bấy nhiêu. Sự phân công quản lý, chế độ trách nhiệm trong hệ thống tổ chức nhà nước càng hợp lý và chặt chẽ bao nhiêu, kế hoạch nhà nước, chủ trương, chính sách, biện pháp tổ chức quản lý do Nhà nước ban hành càng chính xác bao nhiêu, thì càng tạo điều kiện thuận lợi bấy nhiêu cho lãnh đạo của cấp dưới, cho việc phát huy tính chủ động sáng tạo và ý thức chấp hành của đông đảo cán bộ, đảng viên. Vì vậy, những đảng viên hoạt động trong bộ máy nhà nước, đặc biệt những đảng viên là cán bộ lãnh đạo, giữ vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất và việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Đảng cần hết sức chăm lo bồi dưỡng, giúp đỡ đội ngũ cán bộ ấy, làm cho họ có tính đảng cao, có ý thức tổ chức và kỷ luật tốt, có năng lực thật sự thi hành nghị quyết, và kiểm tra chặt chẽ các đồng chí đó trong việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước.

 

b) Để tăng cường kỷ luật và giữ gìn sự thống nhất ý chí và hành động của Đảng, cần đặc biệt coi trọng việc tăng cường công tác kiểm tra của Đảng, phải nghiêm túc thi hành kỷ luật của Đảng và chấp hành pháp chế xã hội chủ nghĩa.

 

Công tác kiểm tra phải nhằm vào việc chấp hành đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng, việc tuân thủ Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước, việc bảo đảm dân chủ và kỷ luật trong Đảng.

 

Với tính chiến đấu đầy đủ và tinh thần tích cực nhất, công tác ấy phải được tiến hành thường xuyên nhằm phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, và điều cơ bản nhất là nhằm chủ động ngăn chặn và hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết điểm.

 

Trong nhiệm kỳ của mình, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các Ban chấp hành và Ban thường vụ các cấp coi trọng tổng kết kiểm điểm công tác, thực hiện tự phê bình và phê bình để có thể tự mình kiểm tra việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng.

 

Các cấp uỷ Đảng phải trực tiếp và thông qua các ban giúp việc và Uỷ ban kiểm tra mà tiến hành công tác kiểm tra một cách chu đáo, chặt chẽ nhất. Qua công tác kiểm tra, phải rút ra những kinh nghiệm để xây dựng thành các chế độ công tác nhằm phát huy ưu điểm, ngăn chặn khuyết điểm.

 

Điều lệ Đảng đã dành một chương nói riêng về thi hành kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức Đảng.

 

Khẳng định lại và bổ sung các quy định của Điều lệ Đảng, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đã nhấn mạnh về kỷ luật sắt nghiêm túc và tự giác của Đảng, và chỉ rõ rằng: "mọi biểu hiện buông lỏng kỷ luật của Đảng đều làm yếu Đảng, phá hoại tính chặt chẽ và sự thống nhất về tổ chức của Đảng, làm suy yếu mối quan hệ giữa Đảng với quần chúng và hiệu lực của hệ thống chuyên chính vô sản".

Kỷ luật của Đảng phải công minh, không cho phép đảng viên nào có đặc quyền đặc lợi. Những cán bộ giữ chức vụ trọng yếu phạm sai lầm thường gây tác hại lớn. Tình trạng không công bằng trong việc thi hành kỷ luật, buông lỏng kỷ luật của Đảng đối với đảng viên, đặc biệt đối với những đảng viên giữ cương vị phụ trách, là một nguyên nhân quan trọng làm cho kỷ luật sắt của Đảng bị xem nhẹ và rất lỏng lẻo ở nhiều nơi.

 

Việc thi hành kỷ luật của Đảng cần tập trung vào những biểu hiện tiêu cực trong việc chấp hành đường lối, chính sách và nguyên tắc tổ chức của Đảng. Gây mất đoàn kết nội bộ, bè phái, lôi kéo vây cánh, không nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chính sách và nghị quyết của Đảng, kế hoạch và pháp luật nhà nước, vô trách nhiệm, thoái hoá, biến chất, báo cáo láo để tạo thành tích cá nhân hoặc cục bộ trong việc chấp hành kế hoạch nhà nước, v.v. là những sai lầm nghiêm trọng nhất. Đối với những sai lầm ấy, Đảng phải có hình thức kỷ luật nghiêm khắc nhất; còn đối với những khuyết điểm thông thường về tác phong sinh hoạt, Đảng cần hết sức quan tâm giúp đỡ để sửa chữa, đồng thời khi xét thấy cần thiết cũng cần có kỷ luật thích đáng; tổ chức của Đảng không được bỏ qua, vì những khuyết điểm ấy, nếu không được sửa chữa, nhiều khi lại là nguồn gốc của những sai lầm dẫn đến thoái hoá, biến chất về chính trị.

 

Nhằm tăng cường kỷ luật của Đảng, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đã có những đề nghị bổ sung và quy định cụ thể làm cho việc thi hành kỷ luật của Đảng được chặt chẽ. Đối với các tổ chức của Đảng, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) bổ sung hình thức kỷ luật "giải tán" và có những quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm cho hình thức kỷ luật này không bị lạm dụng.

 

Đảng ta rất nghiêm khắc đối với những sai lầm, khuyết điểm. Song, khi quyết định kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức của Đảng, nhất là khi quyết định khai trừ ra khỏi Đảng hoặc giải tán tổ chức là những hình thức kỷ luật cao nhất của Đảng, cần hết sức thận trọng; phải điều tra, nghiên cứu kỹ càng, đi sâu tìm hiểu bản chất, tránh chỉ nhìn hiện tượng và phải căn cứ vào những bằng chứng xác thực. Phải nghe người phạm kỷ luật hoặc người đại diện cho tổ chức bị thi hành kỷ luật trình bày ý kiến trước khi tập thể tổ chức có thẩm quyền quyết định kỷ luật. Đối với những đảng viên đã bị thi hành kỷ luật, sau một thời gian sửa chữa khuyết điểm, nếu đã thật sự tiến bộ, tổ chức Đảng có trách nhiệm phải xem xét và kết luận về việc sửa chữa ấy, và trong việc sử dụng, cất nhắc, phải coi như kỷ luật đã được xoá bỏ, không được có định kiến.

 

Trong việc thi hành kỷ luật của Đảng và kỷ luật Nhà nước đối với cán bộ, đảng viên, có thể có những thiếu sót. Khi đã phát hiện thiếu sót thì phải kiên quyết sửa chữa, không vì một lẽ gì mà để cán bộ, đảng viên phải chịu oan trái. Đối với những người vì hằn thù cá nhân mà quy kết oan, vì để bảo vệ uy tín cá nhân hoặc vì bất kỳ lý do nào khác mà cố tình xử trí sai hoặc không minh oan, thì cần có kỷ luật nghiêm khắc. Với tinh thần đó, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) còn đề nghị những bổ sung và sửa đổi cụ thể nhằm bảo đảm cho việc thi hành kỷ luật được chính xác, nghiêm minh, việc xem xét thư từ khiếu nại của đảng viên được nghiêm túc, quyền của đảng viên không bị vi phạm.

 

IV


kiện toàn hệ thống tổ chức và bộ máy của đảng

 

1. Là đội tiên phong của giai cấp và của dân tộc, Đảng ta, theo quy định của Điều lệ Đảng, đã xây dựng hệ thống tổ chức của mình từ trung ương đến cơ sở theo đơn vị hành chính, đơn vị sản xuất hoặc công tác, ăn khớp với hệ thống tổ chức các cấp của Nhà nước.

 

Trong khi nắm vững nguyên tắc trên đây về xây dựng hệ thống tổ chức Đảng, Đảng ta, theo yêu cầu về lãnh đạo và chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, cũng đã chú trọng thích đáng đến tính chất và đặc điểm cụ thể của một số ngành và lĩnh vực hoạt động. Chính vì vậy mà Điều lệ Đảng đã cho phép Ban Chấp hành Trung ương, trong những trường hợp đặc biệt, được lập ra một số tổ chức Đảng theo hệ thống ngành dọc và một số tổ chức đặc biệt của Đảng ở những khu vực quan trọng về kinh tế, chính trị.

 

Những quy định đó của Điều lệ Đảng về căn bản là phù hợp với thực tế. Việc lập quá nhiều hệ thống tổ chức của Đảng theo ngành dọc trong thực tế sẽ phát sinh tình trạng phân tán nặng nề và không hợp lý trong hệ thống tổ chức của Đảng và tổ chức quần chúng, sẽ gây nên những hậu quả không lường hết đối với sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng, đối với việc sử dụng hợp lý lực lượng đảng viên và quần chúng, đối với việc phát động thống nhất các phong trào quần chúng và việc ứng phó với mọi tình thế trong phạm vi một địa phương. Phải hạn chế việc lập các tổ chức của Đảng theo hệ thống ngành dọc, và ngay trong trường hợp được phép thành lập, các tổ chức Đảng trong hệ thống đó hoạt động ở địa phương cũng cần giữ mối quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ địa phương và phải chịu sự lãnh đạo của cấp uỷ địa phương về những vấn đề mà địa phương có trách nhiệm. Đó là điều phải khẳng định.

 

Tuy nhiên, cơ cấu tổ chức của Đảng không thể đơn giản, bởi vì cơ cấu tổ chức của Nhà nước và xã hội trong quá trình tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, đưa nền sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, là rất phức tạp. Sự lãnh đạo và chỉ đạo đối với các tổ chức Đảng ở các đơn vị sản xuất, kinh doanh, v.v. trực thuộc các cơ quan nhà nước cấp trên đòi hỏi phải có sự kết hợp chặt chẽ và sự phân công, phân nhiệm rõ ràng giữa tổ chức Đảng ở cấp quản lý các đơn vị ấy với các cấp uỷ địa phương nơi đơn vị đóng, nhằm thúc đẩy mọi hoạt động ở cơ sở.

 

Bởi vậy, trong khi xây dựng hệ thống lãnh đạo và chỉ đạo của Đảng, chúng ta không thể đơn giản. Một mặt, phải kiện toàn mạnh mẽ hệ thống lãnh đạo của Đảng theo bốn cấp từ trung ương đến cơ sở, không để yếu ở một khâu nào; mặt khác, phải có những hình thức tổ chức linh hoạt phù hợp với tình hình của một số ngành và một số lĩnh vực hoạt động có đặc điểm riêng để cơ cấu và hệ thống tổ chức của Đảng phù hợp với tình hình và đặc điểm đó.

 

2. Trong hệ thống tổ chức của Đảng, việc kiện toàn Ban chấp hành các cấp của Đảng là khâu then chốt đối với toàn bộ sự hoạt động của Đảng và của cả hệ thống chuyên chính vô sản.

 

a) Là hạt nhân lãnh đạo chính trị của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương và các cấp tiêu biểu cho ý chí và trí tuệ của toàn Đảng hay của mỗi đảng bộ nhất thiết phải được kiện toàn về tổ chức và nâng cao về năng lực và hiệu lực lãnh đạo.

 

Uỷ viên Ban Chấp hành của Đảng ở mỗi cấp, phụ trách công tác ở mỗi lĩnh vực, có những yêu cầu khác nhau về trình độ và năng lực, nhưng mỗi đồng chí đều phải là những đảng viên ưu tú được đảng viên và quần chúng tín nhiệm, phải là những đồng chí thật sự trung thành, thật sự thông suốt và nhất trí với đường lối và quan điểm của Đảng. Chẳng những phải nhất trí mà còn phải hăng hái chấp hành và có khả năng đóng góp vào sự lãnh đạo tập thể của Ban chấp hành, có năng lực và sức chiến đấu để tổ chức thực hiện các nghị quyết của Ban chấp hành ở ngành, địa phương, đơn vị mình chịu trách nhiệm.

 

Trong việc xây dựng cấp uỷ, trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn uỷ viên Ban chấp hành, phải chú trọng yêu cầu về cấu tạo và phân công của cấp uỷ, bảo đảm cho cấp uỷ bao quát được công việc, nhạy cảm với tình hình thực tế ở cấp dưới và cơ sở, và thể hiện được tính kế thừa và tính liên tục trong xây dựng cơ quan lãnh đạo của Đảng.

 

Ban chấp hành các cấp phải có những đồng chí ưu tú hoạt động ở các ngành, ở các đoàn thể quan trọng, có những đồng chí công tác ở cấp dưới và ở cơ sở, khéo kết hợp giữa cán bộ cũ và cán bộ mới, chú trọng cán bộ nữ, cán bộ người dân tộc ở vùng dân tộc. Phải thường xuyên đổi mới một bộ phận trong cấp uỷ một cách có kế hoạch, hết sức chú trọng tăng cường lực lượng trẻ đã được rèn luyện, thử thách, có sức khoẻ, có kiến thức quản lý kinh tế, quản lý chuyên môn, vào cấp uỷ. Trong cấp uỷ phải rất coi trọng nâng cao tỷ lệ thành phần xuất thân từ công nhân. Thực hiện các chủ trương đó hoàn toàn không có nghĩa là rải đều uỷ viên Ban chấp hành ở các ngành, các cấp, cấu tạo các thành phần vào cấp uỷ một cách hình thức, máy móc, biến cấp uỷ thành một tổ chức có tính chất liên hiệp.

 

Trong Ban thường vụ các cấp tỉnh, thành, huyện, quận, v.v. ngoài các đồng chí chuyên trách công tác Đảng, công tác của Nhà nước, nên có đồng chí phụ trách Thanh niên và Công đoàn (nhất là ở các thành phố) để tăng cường tổ chức thực hiện và công tác phát động các phong trào quần chúng.

 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng được bầu ra từ Đại hội toàn quốc lần thứ III đến nay đã phấn đấu hết sức mình để làm tròn nhiệm vụ lịch sử do Đại hội đã đề ra.

 

Trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài, việc chậm triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc đã không cho phép kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương thật phù hợp với những yêu cầu nhiệm vụ chính trị ngày càng rộng lớn và sự trưởng thành nhanh chóng của đội ngũ cán bộ qua các phong trào chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

 

Đại hội toàn quốc lần này sẽ bầu Ban Chấp hành Trung ương mới phản ánh được sự trưởng thành của Đảng, ý chí và trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân ta trong giai đoạn mới.

 

Trong Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị phải được kiện toàn để kịp thời đề ra cho Đảng những chủ trương, chính sách và biện pháp cơ bản thuộc về đường lối, phương châm cách mạng một cách sáng tạo, đặc biệt là các vấn đề về vận dụng đường lối, phương châm xây dựng và quản lý kinh tế, tổ chức đời sống, củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị và công tác đối ngoại. Bộ Chính trị còn phải rất chú trọng kiểm tra sự chính xác của các nghị quyết lớn của Đảng, bảo đảm sự nhất trí về chính trị, tư tưởng trong Đảng và phải đích thân chọn lọc, bồi dưỡng, sắp xếp đội ngũ cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước.

 

Ban Bí thư cần được kiện toàn gồm một phần là Uỷ viên Bộ Chính trị với nhiệm vụ chỉ đạo và kiểm tra toàn diện công việc hàng ngày của Đảng, chỉ đạo công tác của các tổ chức Đảng và chỉ đạo sự phối hợp, thống nhất giữa các tổ chức trong hệ thống chuyên chính vô sản nhằm huy động các tổ chức tập trung sức thực hiện những nhiệm vụ mấu chốt của Đảng trong từng thời gian.

 

Để phù hợp với truyền thống của Đảng, đề nghị Ban Chấp hành Trung ương sẽ cử ra Tổng Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thay cho chức Bí thư thứ nhất hiện nay.

 

Những nhiệm vụ nặng nề hiện nay của cách mạng ở vùng mới giải phóng đòi hỏi phải được lãnh đạo tập trung hơn nữa. Cần phải cải tiến sự phân công và cách làm việc của Trung ương Đảng và Chính phủ, các Ban của Trung ương, các bộ và Uỷ ban Nhà nước, bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo và chỉ đạo tập trung, thống nhất, trực tiếp và tại chỗ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường vụ Hội đồng Chính phủ đối với các mặt công tác ở các tỉnh và thành phố phía Nam.

 

Cùng với việc kiện toàn Ban Chấp hành Trung ương, cần coi trọng kiện toàn Hội đồng Chính phủ, các bộ và cơ quan nhà nước, các Ban chấp hành các đoàn thể, nhất là Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ. ở mỗi bộ và cơ quan từ nay cần có Phó thủ trưởng thứ nhất để thay mặt thủ trưởng khi vắng và thường trực giải quyết công việc.

 

Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, nhất là Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, là những đơn vị hành chính kinh tế có quy mô tương đối lớn và hoàn chỉnh, có tầm quan trọng chiến lược về nhiều mặt. Các cấp uỷ, Uỷ ban nhân dân, các ngành cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương phải được kiện toàn tương xứng với nhiệm vụ lãnh đạo và quản lý toàn diện trên địa bàn chiến lược của một tỉnh, thành phố, vừa có khả năng vận dụng đường lối, chính sách của Đảng, quản lý tốt công tác của Nhà nước, vừa có đủ sức để phát hiện các vấn đề chung với Trung ương, góp phần cụ thể hoá đường lối, chính sách của Đảng. Uỷ ban nhân dân và các cơ quan trực thuộc phải được tổ chức cho phù hợp với trách nhiệm quản lý kinh tế, quản lý nhà nước theo vị trí mới.

 

Các tỉnh uỷ, thành uỷ chẳng những phải lãnh đạo kinh tế địa phương mà còn phải lãnh đạo chính quyền địa phương làm tốt trách nhiệm quản lý theo lãnh thổ đối với kinh tế trung ương. Đối với tổ chức Đảng ở các đơn vị sản xuất, kinh doanh, sự nghiệp, giáo dục, y tế, v.v. trực thuộc bộ, do các bộ quản lý chỉ đạo về kinh tế, chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ, được giao về đảng bộ địa phương (tỉnh, thành phố hoặc quận, huyện, thị xã, v.v.), tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc phải trực tiếp và thông qua các cấp uỷ quận, huyện, thị xã mà chỉ đạo tốt việc lãnh đạo các đơn vị ấy chấp hành các chính sách được thực hiện ở địa phương, hướng dẫn và kiểm tra sự lãnh đạo của các đảng uỷ, chi uỷ ở các đơn vị ấy đối với việc thực hiện nhiệm vụ kế hoạch nhà nước do cấp trên giao và chỉ đạo tốt công tác xây dựng Đảng, công tác của các đoàn thể quần chúng và phong trào thi đua lao động sản xuất của quần chúng ở các đơn vị ấy.

 

Việc kiện toàn các huyện uỷ và tổ chức lại cấp huyện, xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế địa bàn kết hợp giữa nông nghiệp (lâm nghiệp ở miền núi) với công nghiệp, nông dân với công nhân, Nhà nước với nông dân, kinh tế toàn dân với kinh tế tập thể, đã trở thành một vấn đề then chốt của Đảng và Nhà nước.

 

Phải nhanh chóng kiện toàn cấp huyện làm cho huyện thật sự là cứ điểm để tiến hành ba cuộc cách mạng, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền nông nghiệp sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới xã hội chủ nghĩa ở nông thôn.

 

Việc kiện toàn các huyện uỷ làm cho các huyện uỷ đủ sức lãnh đạo toàn diện trên địa bàn huyện, với vị trí quan trọng đó, phải được tiến hành gắn liền với việc kiện toàn bộ máy của cấp huyện nói chung, và với việc tổ chức lại sản xuất và lao động của xã, hợp tác xã (ở các tỉnh phía Nam còn phải gắn liền với cải tạo xã hội chủ nghĩa ở nông thôn), bảo đảm hình thành cơ cấu kinh tế ngày càng chặt chẽ trên địa bàn huyện nhằm sớm thực hiện thâm canh, hiện đại hoá, chuyên môn hoá và liên hiệp hoá nông nghiệp.

 

Theo yêu cầu ấy, các cấp tỉnh, thành phố và cấp trung ương cần phối hợp chặt chẽ các ngành nhằm tập trung sức để triển khai nhanh chóng việc kiện toàn cấp huyện, tăng cường cán bộ cho huyện và có quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ huyện và xã, hợp tác xã, nhất là đối với các huyện ở các tỉnh phía Nam, miền núi và các huyện trọng điểm.

 

Cần nhanh chóng tạo điều kiện về ngân sách, vốn, cơ sở vật chất và kỹ thuật cho huyện, xây dựng cấp huyện thật sự là cấp kế hoạch, trước mắt là về nông nghiệp (lâm nghiệp), tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. Sớm hình thành bộ máy quản lý với màng lưới kinh tế kỹ thuật và hệ thống trạm, trại do huyện trực tiếp phụ trách, bảo đảm cho cấp huyện chủ động chỉ đạo sản xuất, kinh doanh, khắc phục lối quản lý theo kiểu hành chính cung cấp.

 

Trên cơ sở làm tốt các công việc trên đây, chuyển hướng mạnh mẽ sự lãnh đạo của các huyện uỷ, theo hướng bảo đảm cho các huyện uỷ vừa tăng cường lãnh đạo toàn diện hơn nữa, vừa đi sâu vào lãnh đạo kinh tế theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Sự lãnh đạo của các huyện uỷ phải sâu sát, cụ thể và có tầm nhìn xa hơn nữa. Huyện uỷ chẳng những phải lãnh đạo tốt việc xây dựng và thực hiện kế hoạch hàng năm, từng vụ sản xuất, mà để làm tốt việc đó, còn phải lãnh đạo tốt việc xây dựng và thực hiện quy hoạch, kế hoạch cải tạo và xây dựng các phương án phát triển kinh tế, văn hoá và tổ chức đời sống dài hạn của huyện; chẳng những phải lãnh đạo và chỉ đạo từng xã, từng hợp tác xã làm tốt trách nhiệm của mình đối với nhân dân trong phạm vi từng đơn vị, mà còn phải biết nắm vững khả năng tiềm tàng về nhân tài vật lực trong toàn huyện, lãnh đạo các xã, hợp tác xã, các cơ sở trực thuộc và nhân dân trong huyện cùng nhau hợp tác góp phần xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng các công trình phúc lợi có tính chất chung của toàn huyện, ở từng vùng, hoặc phát triển những ngành nghề với quy mô lớn hơn vượt ra phạm vi từng xã, hợp tác xã, theo quy hoạch, kế hoạch, bước đi và phương hướng sản xuất chung của huyện.

 

Cùng với cấp huyện, các cấp thành phố trực thuộc tỉnh, các thị xã, quận hoặc khu phố thuộc thành phố trực thuộc là cấp trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật Nhà nước xuống thực hiện ở cơ sở, là cấp trực tiếp quản lý phần lớn đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng. Các cấp uỷ đó phải được tăng cường mạnh về chất lượng để đủ sức xây dựng và củng cố các chi bộ và đảng bộ cơ sở, đưa các chi bộ tiến lên đồng đều, đưa phong trào quần chúng tiến lên mạnh mẽ.

 

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cần ổn định tổ chức của Ban chấp hành các cấp từ trung ương đến cơ sở. Theo hướng đó, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị thời gian tiến hành Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng và nhiệm kỳ của Ban Chấp hành Trung ương là 5 năm, thời gian tiến hành Đại hội đảng bộ các cấp tỉnh, thành phố, huyện, quận, v.v. và nhiệm kỳ Ban chấp hành các cấp đó là 2 năm; thời gian tiến hành Đại hội ở chi bộ, đảng bộ cơ sở là 1 năm và nhiệm kỳ của các đảng uỷ cơ sở là 2 năm, của chi uỷ là 1 năm.

 

b) Việc kiện toàn các ban chuyên môn, các Đảng đoàn, các Ban cán sự của Ban Chấp hành Trung ương và của cấp uỷ địa phương là một khâu không thể tách rời với việc kiện toàn sự lãnh đạo của các Ban chấp hành, một công tác có ý nghĩa quan trọng đối với toàn bộ đời sống và sinh hoạt của Đảng.

 

Cần kiện toàn và chỉ đạo tốt các ban để các ban có thể chuẩn bị một cách chu đáo các vấn đề đưa ra Ban chấp hành quyết định, giúp Ban chấp hành quản lý hoạt động của các Đảng đoàn ở từng đoàn thể, các ban cán sự ở từng ngành, kiểm tra việc các cấp, các ngành quán triệt và thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, các nghị quyết của Ban chấp hành, giúp Trung ương và các cấp uỷ quản lý công tác cán bộ.

 

Cần nghiên cứu để xác định rõ hơn trách nhiệm của Ban Tổ chức trung ương và các cấp trong việc phối hợp với các ban khác giúp Trung ương và cấp uỷ tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác tổ chức, công tác xây dựng Đảng.

 

Các ban chuyên trách công tác ở từng khối (như công nghiệp, nông nghiệp, khoa giáo, v.v.) cũng cần phối hợp với các ban tuyên huấn, tổ chức và uỷ ban kiểm tra để hướng dẫn, kiểm tra công tác tư tưởng, công tác tổ chức của Đảng ở các cơ quan và đơn vị cơ sở lớn trực thuộc từng cấp theo một quy định của Ban Chấp hành Trung ương nhằm giúp cho công tác xây dựng Đảng ở các đơn vị ấy gắn chặt chẽ hơn với nhiệm vụ chính trị của Đảng và với công tác quản lý cán bộ.

 

Trong giai đoạn mới, với sự phát triển phức tạp của nhiệm vụ lãnh đạo kinh tế, đời sống và của cơ cấu tổ chức của Đảng và Nhà nước trong phạm vi cả nước, nếu không kiện toàn tốt các ban thì không thể cải tiến và nâng cao chất lượng lãnh đạo của các Ban chấp hành.

 

Các ban phải gồm những cán bộ có tín nhiệm, có năng lực và phải được tổ chức phù hợp với vị trí, nhiệm vụ và đặc điểm của từng cấp, từng địa phương. Từng ban phải được tổ chức gọn nhẹ, không ôm đồm quá nhiều công việc, và phải biết giúp cấp uỷ phát huy khả năng nghiên cứu của các cơ quan nhà nước.

 

Để phát huy đầy đủ hiệu lực của các ban, phải có quy chế để mọi tổ chức và cán bộ, đảng viên tôn trọng chức năng, quyền hạn của các ban do Trung ương quy định.

 

Về các Đảng đoàn, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) lần này đề nghị chỉ thành lập Đảng đoàn trong các cơ quan lãnh đạo của Nhà nước, của các đoàn thể và tổ chức quần chúng do bầu cử mà lập ra. Theo hướng đó, Đảng đoàn Quốc hội, Đảng đoàn trong Hội đồng nhân dân các cấp, trong Đại hội đại biểu của các tổ chức quần chúng sẽ gồm những đảng viên chính thức được cử làm đại biểu (và chỉ hoạt động trong thời gian chuẩn bị và tiến hành hội nghị). ở trong các Ban chấp hành của các đoàn thể quần chúng, Đảng đoàn do Ban chấp hành đảng bộ đồng cấp chỉ định, gồm một số đảng viên trong các cơ quan đó, sẽ hoạt động thường xuyên theo quy định của Điều lệ Đảng và hướng dẫn của Trung ương. Nhiệm vụ của Đảng đoàn là bằng công tác vận động, thuyết phục thực hiện đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng, tăng cường ảnh hưởng của Đảng, tăng cường đoàn kết và mối liên hệ chặt chẽ giữa cán bộ trong Đảng và ngoài Đảng trong các tổ chức mình hoạt động, nghiên cứu để đề nghị cấp uỷ quyết định phương hướng, chủ trương công tác đối với tổ chức ấy và quản lý cán bộ theo quy định của Trung ương.

 

Trong các cơ quan nhà nước như bộ, tổng cục, uỷ ban, ty, sở... thực hiện chế độ thủ trưởng, sẽ không thành lập Đảng đoàn. ở các cơ quan đó, tuỳ theo tình hình cụ thể, theo một quy định của Ban Chấp hành Trung ương, sẽ thành lập Ban cán sự của Đảng để giúp Trung ương và cấp uỷ đảm nhiệm một số công tác bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng, nhất là về công tác cán bộ được quán triệt và thực hiện trong cơ quan. Các Ban cán sự này sẽ tập thể thảo luận những đề nghị của thủ trưởng cơ quan về nhiệm vụ, phương hướng, chính sách cơ bản về phát triển công tác của ngành, về kế hoạch nhà nước hàng năm và kế hoạch dài hạn để đề nghị lên cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước quyết định; thảo luận và thông qua những chủ trương, biện pháp trọng yếu về nhiệm vụ kế hoạch ấy, những chính sách hoặc công tác quan trọng do thủ trưởng đề nghị; làm công tác cán bộ theo chức năng của Đảng đoàn hiện nay.

 

ở những bộ, tổng cục (hoặc ty, sở) có nhiều đơn vị cơ sở trực thuộc mà tổ chức Đảng ở các đơn vị đó được giao về trực thuộc đảng bộ địa phương, Ban cán sự được Trung ương (hoặc cấp uỷ) giao trách nhiệm giúp cho các đảng uỷ cơ sở quán triệt các nghị quyết của Đảng về đường lối, chính sách thuộc về công tác của ngành, về phương hướng phát triển và nhiệm vụ kế hoạch dài hạn và hàng năm của ngành, hướng dẫn các đảng uỷ ấy vận dụng các nghị quyết nói trên vào hoạt động thực tiễn của đảng bộ cơ sở, và cùng với cấp uỷ địa phương phụ trách các tổ chức cơ sở Đảng ấy xây dựng và thực hiện quy hoạch đào tạo cán bộ lãnh đạo kể cả bí thư đảng uỷ cơ sở, theo quy định của Trung ương. Giữa Ban cán sự và cấp uỷ địa phương phải có quan hệ chặt chẽ, theo đúng chế độ thông báo cho nhau rõ về nhiệm vụ và tình hình thực hiện kế hoạch nhà nước, về công tác xây dựng Đảng và công tác quần chúng ở các đơn vị cơ sở, góp ý kiến cho nhau và tạo điều kiện để giúp đỡ nhau làm tốt trách nhiệm được giao.

 

Cần xác định cơ cấu tổ chức và cách làm việc của Ban cán sự cho phù hợp với nhiệm vụ nói trên. Việc thành lập các Ban cán sự không được làm yếu trách nhiệm của thủ trưởng, trái lại phải giúp cho thủ trưởng bảo đảm tốt việc quán triệt và chấp hành đường lối, chính sách của Đảng trong ngành và nâng cao hiệu lực của chế độ thủ trưởng. Ban cán sự không quyết định những công việc cụ thể thuộc công tác chỉ đạo hàng ngày của thủ trưởng.

 

3. Để hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Đảng, cần giải quyết một số vấn đề về hệ thống tổ chức của Đảng ở những ngành và lĩnh vực hoạt động có những đặc điểm riêng.

 

a) ở một số bộ, tổng cục và ty, sở có những tổ chức và đơn vị cơ sở trực thuộc hoạt động trong những hoàn cảnh đặc biệt như lưu động, phân tán ở nhiều địa phương mà không có địa điểm tập kết cố định hoặc có những hoàn cảnh đặc biệt cần giữ bí mật mà xét trong thực tế không thể giao tổ chức Đảng ở các đơn vị ấy về trực thuộc đảng bộ địa phương cấp dưới hoặc một cấp uỷ nào được, trong những trường hợp ấy, thì phải tuỳ tình hình cụ thể theo quy định của Trung ương mà giao cho Ban cán sự Đảng chỉ đạo toàn diện hoạt động của các tổ chức Đảng ở các đơn vị ấy, hoặc thành lập những đảng bộ riêng bao gồm tổ chức Đảng ở cơ quan và các tổ chức Đảng ở các đơn vị trực thuộc nói trên. Trường hợp tổ chức Đảng ở các đơn vị ấy chỉ có ít, số lượng đảng viên không nhiều thì có thể nhập vào tổ chức Đảng ở cơ quan để hoạt động.

 

Các đảng bộ trên đây không phải là những đảng bộ tổ chức theo hệ thống ngành dọc bao gồm tất cả các tổ chức Đảng ở các đơn vị cơ sở trực thuộc bộ hoặc ty, sở. Chỉ trong trường hợp đặc biệt và rất hạn chế, được Trung ương ra quyết định như Điều lệ Đảng quy định, mới thành lập tổ chức Đảng theo hệ thống ngành dọc.

 

Các tổ chức Đảng trong các đảng bộ trên đây hoạt động ở địa phương nào đều phải chịu sự chỉ đạo của cấp uỷ địa phương đó về các mặt chấp hành các chính sách và pháp luật Nhà nước được thực hiện ở địa phương, về công tác quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự xã hội ở địa phương và về quan hệ với quần chúng ở địa phương, theo một chế độ chặt chẽ do Trung ương quy định.

 

b) Các tổ chức cơ sở Đảng ở cơ quan trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bao gồm những đảng viên phần lớn là cán bộ do Trung ương, hoặc cấp uỷ và các cơ quan trực thuộc quản lý. Những đảng viên này lại là những công dân sống và hoạt động tại thành phố, thị xã, quận, khu phố, v.v. nơi cơ quan đóng.

 

Đặc điểm đó đòi hỏi các đảng bộ cơ quan một mặt phải chịu sự chỉ đạo và kiểm tra toàn diện của Trung ương (hoặc của tỉnh uỷ, thành uỷ nếu là cơ quan cấp tỉnh, thành phố) về việc quán triệt và chấp hành đường lối, chính sách của Đảng về công tác chuyên môn của cơ quan, về công tác chính trị tư tưởng, về công tác Đảng, công tác quần chúng gắn liền với công tác quản lý cán bộ trong cơ quan; mặt khác phải chịu sự chỉ đạo của cấp uỷ địa phương nơi cơ quan đóng về việc chấp hành các chính sách được thực hiện ở địa phương, về quan hệ với quần chúng ở địa phương. Việc đưa đảng viên ở cơ quan về tham gia công tác ở đường phố với yêu cầu thích đáng để sử dụng hợp lý lực lượng đảng viên hoạt động ở địa phương là việc làm cần thiết. Cần rút kinh nghiệm ở những nơi làm tốt và nghiên cứu tổ chức thích hợp để chỉ đạo tốt công tác này.

 

Các ban giúp Trung ương phụ trách quản lý cán bộ do Trung ương quản lý sẽ giúp Trung ương chỉ đạo công tác của các đảng bộ cơ quan gắn với công tác quản lý cán bộ; đồng thời từng đảng bộ cơ quan chịu sự chỉ đạo của cấp uỷ địa phương nơi cơ quan đóng về các mặt thuộc trách nhiệm của cấp uỷ địa phương. Về tổ chức, hệ thống tổ chức chỉ đạo các đảng bộ cơ quan cấp trung ương và tỉnh, thành phố sẽ theo quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương.

 

c) Tổ chức Đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, được tổ chức theo hệ thống ngành dọc từ cơ sở trở lên.

 

Quân đội nhân dân Việt Nam là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước chuyên chính vô sản đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp và toàn diện của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định sự trưởng thành và chiến thắng của quân đội. Trung ương Đảng ta đã lãnh đạo chặt chẽ quân đội về mọi mặt, quyết định mọi vấn đề về đường lối, nhiệm vụ xây dựng và chiến đấu của quân đội, quy định những nguyên tắc, chế độ lãnh đạo, hình thức cơ cấu tổ chức Đảng, chế độ, tổ chức công tác chính trị và công tác cán bộ trong quân đội, làm cho quân đội ta luôn luôn là quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, của dân tộc có truyền thống cách mạng tốt đẹp, đã cùng với nhân dân cả nước giành toàn thắng trong Cách mạng Tháng Tám và trong hai cuộc kháng chiến lâu dài chống hai đế quốc Pháp và Mỹ.

 

Trong giai đoạn mới của cách mạng, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, tăng cường sức mạnh của các lực lượng vũ trang, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh là một nhiệm vụ chiến lược quan trọng của toàn Đảng và toàn dân ta và là một chức năng cơ bản của Nhà nước xã hội chủ nghĩa.

 

Để đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ mới, cần phải tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với quân đội; đảm bảo cho mọi nhiệm vụ của lực lượng vũ trang cũng như mọi chủ trương và biện pháp quan trọng được Bộ Chính trị quyết định; tăng cường trách nhiệm chỉ đạo và kiểm tra của Ban Bí thư đối với các tổ chức Đảng trong quân đội; tăng cường chế độ lãnh đạo của Đảng và chế độ công tác chính trị trong quân đội.

 

Theo hướng đó, phải nghiên cứu để cải tiến sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kiện toàn tổ chức của Đảng và chế độ tổ chức công tác chính trị trong quân đội cho phù hợp với sự phát triển về tổ chức và nhiệm vụ mới của quân đội.

 

Quân uỷ Trung ương do Ban Chấp hành Trung ương chỉ định, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của Bộ Chính trị và Ban Bí thư, có nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo mọi mặt công tác của Đảng trong quân đội theo quy định của Trung ương Đảng.

 

Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam phụ trách công tác Đảng - công tác chính trị trong quân đội - dưới sự lãnh đạo của Quân uỷ Trung ương. Các Ban Tổ chức, Tuyên huấn và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương có trách nhiệm giúp Trung ương hướng dẫn và kiểm tra công tác xây dựng Đảng trong quân đội.

 

Tổ chức cơ sở của Đảng trong quân đội có thể lập ở đại đội, tiểu đoàn, trung đoàn và các đơn vị tương đương khác theo yêu cầu xây dựng quân đội nhân dân chính quy và hiện đại.

 

Đảng uỷ các đơn vị quân đội đóng ở địa phương nào đều phải liên hệ chặt chẽ với cấp uỷ địa phương đó và lãnh đạo đơn vị chấp hành tốt các chủ trương, chính sách được thực hiện ở địa phương theo quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương.

 

Nhiệm vụ, quyền hạn của Quân uỷ Trung ương và cách tổ chức của các cấp uỷ Đảng trong quân đội sẽ do Ban Chấp hành Trung ương quy định cụ thể cho phù hợp với tình hình tổ chức và nhiệm vụ của quân đội trong thời bình cũng như trong thời chiến.

 

Sự lãnh đạo của các tổ chức Đảng đối với đơn vị quân đội là nhằm làm cho mọi đường lối, chủ trương, chính sách chung của Đảng, đường lối, nhiệm vụ quân sự của Đảng được quán triệt trong đơn vị, làm cho mọi nghị quyết của cấp uỷ, mệnh lệnh, chỉ thị về chính trị, quân sự, kinh tế và mọi nhiệm vụ cấp trên giao cho đơn vị được triệt để chấp hành, làm cho toàn quân đoàn kết xung quanh Trung ương Đảng, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân, sẵn sàng hy sinh chiến đấu bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, lao động quên mình, xây dựng đất nước giàu mạnh, tăng cường đoàn kết nội bộ, đoàn kết giữa quân đội với nhân dân, đề cao ý thức kỷ luật tự giác nghiêm minh, động viên cán bộ, chiến sĩ ra sức học tập chính trị, quân sự, học tập kiến thức sản xuất, xây dựng kinh tế, không ngừng nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa và trình độ về mọi mặt, hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ.

 

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức chiến đấu của lực lượng vũ trang, các tổ chức Đảng trong quân đội phải thực hiện đúng đắn nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ vững nguyên tắc lãnh đạo tập thể, kết hợp giữa tập thể lãnh đạo với cá nhân phụ trách.

 

Trong điều kiện quân đội ta đã trưởng thành, cán bộ quân đội ta đã trưởng thành, cần thực hiện thật tốt chế độ lãnh đạo tập thể của cấp uỷ Đảng đi đôi với việc thực hiện chế độ thủ trưởng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương. Việc này cần được chuẩn bị chu đáo cả về tư tưởng và tổ chức, giáo dục kỹ về trách nhiệm mới của cán bộ và bồi dưỡng cho cán bộ cả về quân sự, chính trị, hậu cần, văn hoá, khoa học, kỹ thuật.

 

4. Cải tiến phương pháp lãnh đạo và tác phong công tác là một bộ phận không thể tách rời khỏi việc kiện toàn bộ máy tổ chức của Đảng, một yêu cầu bức thiết để nâng cao năng lực lãnh đạo và cải tiến tổ chức chỉ đạo thực hiện của Đảng, phát huy hiệu lực quản lý của Nhà nước, bảo đảm quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động.

 

Từ những bài học kinh nghiệm đã qua và những yêu cầu của nhiệm vụ mới, chúng ta phải ra sức khắc phục bệnh thủ công nghiệp và tác phong quan liêu, xây dựng phương pháp và tác phong công tác cách mạng và khoa học của Đảng. Phương pháp và tác phong ấy, qua những kinh nghiệm tốt của Đảng ta, có thể khái quát trên những nét cơ bản sau đây:

 

Một là, lãnh đạo phải toàn diện, phải phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức Đảng, chính quyền và quần chúng; từng thời gian phải tập trung sức chỉ đạo dứt điểm để hoàn thành đúng thời hạn những nhiệm vụ và biện pháp mấu chốt. Phải quyết định công việc trên cơ sở nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, nắm quy luật phát triển của sự vật, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn; làm việc phải có điều tra, nghiên cứu, có chương trình, kế hoạch. Chống chủ quan và tác phong tuỳ tiện, phân tán.

 

Hai là, bảo đảm tập thể và dân chủ thật sự, đồng thời có phân công phân nhiệm cho cá nhân một cách rõ ràng và có kỷ luật chấp hành nghị quyết một cách nghiêm chỉnh. Chống tác phong gia trưởng, độc đoán, tự do chủ nghĩa, vô kỷ luật.

 

Ba là, thường xuyên kiểm tra, đi sát giúp đỡ thiết thực cấp dưới và cơ sở, chỉ đạo cụ thể tại chỗ, chỉ đạo riêng để lãnh đạo chung, làm thử những vấn đề quan trọng và mới để rút kinh nghiệm. Chống tác phong quan liêu, giấy tờ, đại khái, phô trương, hình thức.

 

Bốn là, coi trọng xây dựng và sử dụng tổ chức, dựa vào tổ chức để phát động cán bộ, đảng viên và quần chúng tiến hành mọi công tác. Tránh xáo trộn bộ máy, chỉ sử dụng cá nhân, không dựa vào tổ chức.

 

Năm là, coi trọng sơ kết, tổng kết công tác, thực hiện tự phê bình và phê bình, thường xuyên nâng cao năng lực và trình độ của mình và của cán bộ, đảng viên, không ngừng đưa công tác tiến lên những bước mới. Chống sự vụ, chủ quan, thoả mãn.

 

Năm phương thức công tác trên đây là một thể hữu cơ của phương pháp lãnh đạo và tác phong đại công nghiệp của giai cấp công nhân; nó phải thể hiện quan điểm, tính chiến đấu, khả năng và tình cảm cách mạng của giai cấp công nhân trong tổ chức thực tiễn; nó mang đầy đủ tính khoa học, tính chiến đấu, tính quần chúng trong phương pháp lãnh đạo và tác phong công tác của Đảng ta.

 

Phải thực hiện thống nhất phương pháp lãnh đạo và tác phong ấy từ trên xuống dưới, cụ thể hoá và vận dụng nó một cách linh hoạt cho phù hợp với vị trí, nhiệm vụ của từng cấp, từng ngành. Đó là một cuộc đấu tranh gay gắt với thói quen và nếp xấu của tác phong quan liêu và thủ công nghiệp, của bệnh sự vụ, lối làm việc phân tán, tản mạn, tự do tuỳ tiện của sản xuất nhỏ. Cuộc đấu tranh ấy đòi hỏi sự phấn đấu rất cao của mỗi cán bộ, đảng viên và tổ chức của Đảng và Nhà nước; đồng thời đòi hỏi phải có quy chế chặt chẽ về mặt tổ chức và tạo điều kiện cơ sở vật chất cần thiết để hỗ trợ.

 

Theo hướng đó, các tổ chức của Đảng và Nhà nước cần xây dựng và thực hiện tốt các chế độ công tác: chế độ hội nghị, chế độ thông tin, chế độ báo cáo và xin chỉ thị, chế độ chỉ đạo riêng và kiểm tra việc thi hành nghị quyết, chế độ đi xuống dưới và cơ sở, chế độ tổng kết kinh nghiệm công tác, tự phê bình và phê bình.

 

Cùng với đà phát triển của nền kinh tế quốc dân, của khoa học hiện đại, Đảng và Nhà nước phải quan tâm từng bước tăng cường điều kiện và phương tiện công tác, áp dụng các phương tiện hiện đại trong công tác phục vụ lãnh đạo và xây dựng bộ máy, trước hết là trong việc xây dựng hệ thống thông tin, tổ chức phương tiện liên lạc, và tăng cường các phương tiện nghiên cứu thích ứng với hoàn cảnh lãnh đạo và quản lý Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong cả nước thống nhất.

 

5. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là cánh tay đắc lực và đội hậu bị tin cậy của Đảng. Đoàn là tổ chức gần Đảng nhất và là trường học cộng sản chủ nghĩa của thanh niên. Ngày nay, khi tên Đảng đã được đổi là Đảng Cộng sản Việt Nam thì việc đổi tên Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh thành Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là phù hợp với nguyện vọng chính đáng của thế hệ trẻ.

 

Những năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, thừa kế được truyền thống đấu tranh anh dũng của Đảng và của dân tộc, của các Đoàn thanh niên tiền bối và các phong trào Ba sẵn sàng, Năm xung phong, v.v., Đoàn đã phát huy tốt lực lượng thanh niên đông đảo trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, góp phần động viên, tổ chức thanh niên lập nên biết bao kỳ tích mãi mãi sẽ được ghi vào lịch sử đấu tranh anh dũng của Đảng và của dân tộc.

 

Song những thiếu sót trong công tác lãnh đạo của nhiều tổ chức Đảng và trong công tác của Đoàn, nhất là trong việc xây dựng Đoàn thành đội hậu bị của Đảng, đang làm cho không ít tổ chức của Đoàn chưa phát huy được đầy đủ vai trò của Đoàn là trường học cộng sản chủ nghĩa của thanh niên, là lực lượng xung kích cách mạng thực hiện có hiệu quả mọi nhiệm vụ và đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

 

Ngày nay, thế hệ thanh niên mới đang đứng trước những nhiệm vụ hết sức nặng nề của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Sự nghiệp vĩ đại ấy, và những hậu quả nặng nề về nhiều mặt do chiến tranh để lại trên đất nước, đặc biệt là hậu quả của chế độ thực dân kiểu mới ở các địa phương phía Nam, đang đặt ra trước thanh niên biết bao vấn đề phức tạp, khó khăn và mới mẻ nảy sinh ra hàng ngày trong lao động, học tập, chiến đấu và đời sống, đòi hỏi mỗi thanh niên, trước hết là mỗi đoàn viên, phải đem ý chí phấn đấu, hoài bão và năng lực tổ chức của mình để góp phần giải quyết.

 

Là đội hậu bị của Đảng, Đoàn có trách nhiệm trực tiếp và trọng yếu đối với công tác xây dựng Đảng, đối với việc xây dựng thế hệ cách mạng cho đời sau. Chất lượng của Đoàn, của đoàn viên có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của đảng viên, đến việc xây dựng đội ngũ của Đảng. Đặc biệt ở các địa phương phía Nam, nếu như yêu cầu xây dựng cơ sở đảng vững mạnh là bức thiết để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thì việc xây dựng Đoàn vững mạnh và rộng khắp lại là vấn đề bức thiết trước hết để tạo điều kiện cho công tác nói trên.

 

Tất cả những điều đó đòi hỏi phải ra sức củng cố, xây dựng và phát triển Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, người tiêu biểu cho quyền làm chủ của thanh niên, người được Đảng giao cho trách nhiệm giúp Đảng chỉ đạo hoạt động của Đội Thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh và tổ chức Nhi đồng Hồ Chí Minh, lực lượng hậu bị trẻ tuổi nhất của Đoàn và của Đảng.

 

Các tổ chức của Đảng cần giúp cho các tổ chức của Đoàn nhận rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ của Đoàn trên mọi lĩnh vực, từ đó mà phát huy truyền thống của Đoàn, nâng cao chất lượng sinh hoạt và hoạt động của Đoàn. Cần giúp cho Đoàn tăng cường việc giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối, chính sách của Đảng cho đoàn viên, thanh niên, chuyển hướng tổ chức và phương pháp công tác của Đoàn cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ mới của Đoàn trong các lực lượng vũ trang, trong các xí nghiệp, ở nông thôn, trong các trường học, v.v., tổ chức tốt các đội thanh niên xung kích trên các mặt trận kinh tế, văn hoá, xã hội; phát huy mạnh mẽ quyền làm chủ tập thể của thanh niên.

 

Trong công tác xây dựng Đoàn, cần nâng cao tư cách đoàn viên với tiêu chuẩn chặt chẽ. Qua phong trào quần chúng, Đoàn cần kết nạp những thanh niên ưu tú có giác ngộ vào Đoàn, đề phòng những phần tử xấu tìm cách vào Đoàn, vào các Ban chấp hành của Đoàn; kịp thời thanh lọc những phần tử đó nếu có. Phải đặc biệt quan tâm tới việc đào tạo đội ngũ cán bộ của Đoàn; lựa chọn những anh hùng, chiến sĩ thi đua và những cán bộ có kiến thức và năng lực vận động quần chúng để đưa vào Ban chấp hành các cấp của Đoàn. Các ban của Đảng, trước hết là các Ban tổ chức, tuyên huấn, dân vận, phải giúp cấp uỷ làm tốt các việc đó.

 

Các tổ chức của Đoàn phải phấn đấu để nâng cao chất lượng hoạt động của mình, tăng cường công tác chính trị, tư tưởng và tổ chức trong nội bộ, phát triển các hình thức tổ chức và hoạt động rộng rãi để tập hợp đông đảo thanh niên xung quanh Đoàn, mở rộng mặt trận thanh niên. Đoàn phải kịp thời đề đạt với tổ chức Đảng những vấn đề trọng yếu về công tác Đoàn và phong trào thanh niên, đưa phong trào thanh niên tiến lên mạnh mẽ, bền bỉ và rộng khắp. Đoàn phải tích cực chủ động trong việc tham gia xây dựng Đảng, bồi dưỡng, lựa chọn, giới thiệu những đoàn viên ưu tú bổ sung vào đội ngũ của Đảng, đào tạo những cốt cán của Đoàn thành cán bộ để cung cấp cho Đảng và cho các yêu cầu của sự nghiệp cách mạng. Các cơ quan nhà nước, các ngành, các cấp cần có kế hoạch chăm sóc thế hệ trẻ về mọi mặt, tạo điều kiện cho Đoàn và phong trào thanh niên phát huy đầy đủ vai trò của mình về mọi mặt, nhất là những vấn đề có liên quan đến lợi ích và quyền làm chủ của thanh niên.

 

V


Ra sức nâng cao chất lượng, xây dựng và kiện toàn các chi bộ, Đảng bộ cơ sở

 

1. Nâng cao chất lượng của chi bộ và đảng bộ cơ sở là một nhiệm vụ thường xuyên và quan trọng hàng đầu của công tác xây dựng Đảng

 

Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiến hành trên quy mô cả nước là cuộc cách mạng triệt để và sâu sắc nhất trong lịch sử của nhân dân ta. Trong sự nghiệp ấy, sức mạnh, trí sáng tạo, vai trò làm chủ tập thể của quần chúng, đời sống, tâm tư, tình cảm và những nguyện vọng thiết thực nhất của quần chúng gắn liền với sự lãnh đạo và sức sống mãnh liệt của Đảng mà trực tiếp là của các chi bộ, đảng bộ cơ sở. Mỗi việc làm đúng hay sai, tốt hay không tốt của chi bộ, đảng bộ cơ sở đều ảnh hưởng trực tiếp và tức thời đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, đều tác động mạnh mẽ đến lòng tin của quần chúng đối với Đảng, đối với cách mạng.

 

Phải từ bài học cơ bản đã được tổng kết về xây dựng Đảng mà rút ra những bài học kinh nghiệm, những việc mấu chốt để không ngừng nâng cao chất lượng của tổ chức cơ sở Đảng một cách toàn diện trong giai đoạn mới.

 

a) Trước hết các chi bộ, đảng bộ cơ sở phải nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, nắm vững tình hình, đặc điểm của đơn vị cơ sở để xác định vị trí, nhiệm vụ chính trị của mình và của đơn vị, trong từng thời gian đề ra được những nhiệm vụ, phương hướng, mục tiêu, biện pháp phấn đấu chính xác, bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng.

 

Trong giai đoạn mới, những nhiệm vụ, mục tiêu ấy là nội dung cơ bản của kế hoạch nhà nước và những chủ trương, biện pháp phấn đấu tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng. Toàn bộ các mục tiêu, biện pháp ấy cuối cùng phải đem lại hiệu quả thiết thực trong sản xuất và công tác, trong việc cải tạo, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất, trong nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự xã hội và tổ chức đời sống của quần chúng.

 

b) Các chi bộ, đảng bộ cơ sở phải phát huy mạnh mẽ và thật sự bảo đảm quyền làm chủ tập thể của quần chúng lao động, kiện toàn tổ chức và phối hợp hoạt động của chính quyền, của các đoàn thể quần chúng, tạo nên sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chuyên chính vô sản ở cơ sở dưới sự lãnh đạo của chi uỷ, đảng uỷ.

 

Sự lãnh đạo của chi bộ và đảng bộ phải nhằm mục tiêu thúc đẩy mạnh mẽ phong trào quần chúng tiến hành ba cuộc cách mạng, bảo đảm hoàn thành các nhiệm vụ của đơn vị cơ sở. Và cũng chỉ có trong các phong trào ấy mới xây dựng được chi bộ và đảng bộ cơ sở thành hạt nhân lãnh đạo và pháo đài chiến đấu của Đảng ở cơ sở.

 

Để làm tròn trách nhiệm đó, chi bộ, đảng bộ cơ sở nhất thiết phải xây dựng được chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa của nhân dân lao động về chính trị, về kinh tế (cả trong sản xuất và phân phối), về văn hoá và xã hội; phải biết giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với chính quyền và quần chúng, biết phát huy quyền lực của cơ quan chính quyền, hiệu lực của cơ quan quản lý và tác dụng giáo dục, động viên quần chúng của các đoàn thể trong việc tổ chức thực hiện những nhiệm vụ cụ thể.

 

c) Phải nắm chắc khâu trung tâm của công tác củng cố tổ chức cơ sở Đảng là củng cố chi bộ, thường xuyên giữ vững chế độ và nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, làm cho chi bộ, tổ chức tế bào đầu tiên của Đảng, thật sự là hạt nhân lãnh đạo chính trị, là đơn vị chiến đấu ở cơ sở và là trường học giáo dục, rèn luyện đảng viên.

 

Các chi bộ phải thảo luận kỹ đường lối, chính sách và các nghị quyết của Đảng, nhiệm vụ của địa phương và đơn vị, thảo luận kế hoạch, biện pháp để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ ấy, thực hiện tự phê bình và phê bình, đánh giá tình hình chung và kết quả công tác.

 

Mọi cán bộ, đảng viên phải nhận rõ rằng hễ nơi nào, lúc nào mà sinh hoạt của chi bộ bị buông lỏng, rời rạc, hoặc không có nội dung chính trị, tư tưởng cụ thể, thiết thực thì nơi đó, lúc đó bắt đầu đã có nguy cơ đi chệch đường lối, chính sách của Đảng, hạ thấp vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên, làm cho kỷ luật của Đảng bị lỏng lẻo, các biểu hiện tiêu cực nảy sinh và phát triển, sự gắn bó giữa Đảng và quần chúng bị suy yếu.

 

Sinh hoạt chi bộ bao gồm cả sinh hoạt của tổ Đảng và hoạt động của đảng viên. Tổ Đảng chẳng những là nơi hằng ngày nắm sát tư tưởng của quần chúng, kịp thời động viên, lãnh đạo đảng viên và quần chúng giải quyết những khó khăn trong sản xuất, công tác, đời sống, mà còn là nơi kiểm tra thường xuyên tư cách và công tác của đảng viên, nơi trao đổi tâm tư, tình cảm của đảng viên.

 

Phân công đảng viên và kiểm tra đảng viên thực hiện nhiệm vụ là biện pháp quan trọng để tổ chức thực hiện các nghị quyết của Đảng, để giữ mối liên hệ giữa đảng viên và quần chúng, qua đó mà nâng cao chất lượng đảng viên và chất lượng lãnh đạo tập thể của chi bộ. Mỗi đảng viên (trừ một số ít đồng chí già yếu, ốm đau), ngoài công tác chuyên môn, phải làm công tác Đảng, công tác quần chúng, công tác xã hội do chi bộ phân công.

 

d) Phải bố trí, bồi dưỡng tốt đội ngũ cốt cán, làm cho đội ngũ ấy thật sự vững vàng, gương mẫu, có năng lực lãnh đạo kinh tế, văn hoá, chuyên môn, v.v. và biết giữ gìn đoàn kết nội bộ.

 

Cốt cán tốt từ trong đội ngũ đảng viên tốt mà ra. Ngược lại, có đội ngũ cốt cán tốt thì mới có điều kiện để thúc đẩy việc nâng cao chất lượng đảng viên, phát huy trí tuệ tập thể của đảng viên và của quần chúng, bảo đảm cho việc xác định và tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị thu được kết quả tốt.

 

Bởi vậy việc bồi dưỡng, bố trí đội ngũ cốt cán ở cơ sở, phải được coi là biện pháp hết sức quan trọng để củng cố cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng chi bộ, đảng bộ cơ sở.

 

đ) Phải vừa phát huy tính chủ động và sáng tạo của chi bộ, đảng bộ cơ sở, vừa tăng cường sự chỉ đạo cụ thể của cấp trên

 

Các chi bộ và đảng bộ cơ sở hoạt động trong mối liên hệ thường xuyên với quần chúng và với thực tiễn, phải chủ động giải quyết những vấn đề được đặt ra hàng ngày, hàng giờ trong sản xuất, công tác và đời sống của quần chúng, nên thường là nơi sáng tạo những kinh nghiệm quý báu.

 

Song tính chủ động và sáng tạo ấy cũng chỉ có thể được phát huy theo phương hướng đúng đắn trên cơ sở quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và được sự chỉ đạo chặt chẽ của cấp trên. Các cấp uỷ Đảng và cơ quan nhà nước cấp trên trực tiếp, nhất là ở cấp huyện và tương đương, phải coi trọng việc nghiên cứu để tổng kết và phát huy những kinh nghiệm sáng tạo của cơ sở, giúp đỡ cơ sở giải quyết những khó khăn trong công tác quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, quản lý đời sống của quần chúng. Trong công tác, sinh hoạt và tác phong của mình, cấp trên phải thật sự gương mẫu.

 

2. Những yêu cầu và biện pháp trọng yếu trên đây là những bài học kinh nghiệm cơ bản và thiết thực để xây dựng tổ chức cơ sở Đảng. Muốn đưa các chi bộ và đảng bộ cơ sở, dù là "trung bình" hay "yếu kém", trở thành những chi bộ và đảng bộ tốt, phải căn cứ vào những bài học kinh nghiệm ấy mà xem xét chỗ mạnh, chỗ yếu của từng cơ sở và tìm ra những nguyên nhân chủ yếu để giải quyết.

 

Sự yếu kém của nhiều tổ chức cơ sở Đảng có nguyên nhân về những thiếu sót của bản thân cơ sở hoặc về sự chỉ đạo của cấp trên, có nguyên nhân về những thiếu sót trong chỉ đạo công tác quần chúng; và trong điều kiện Đảng nắm chính quyền thì điều không kém phần quan trọng và nhiều khi có tính chất quyết định trước hết, lại còn do những thiếu sót của cấp trên trong việc xây dựng và chỉ đạo các chính sách, chế độ, các biện pháp về quản lý được thực hiện ở cơ sở. Bởi vậy phải quan tâm xem xét một cách toàn diện để giải quyết tốt các nguyên nhân đó.

 

Trong những điều kiện mới, Đảng và Nhà nước ta đã và sẽ phát động các phong trào tổ chức lại sản xuất, cải tiến công tác quản lý trên quy mô rộng lớn, gắn liền với việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Phải củng cố tốt các chi bộ và đảng bộ cơ sở để phát động quần chúng đẩy mạnh các phong trào rộng lớn đó và qua các phong trào ấy mà củng cố và xây dựng tổ chức cơ sở Đảng.

 

Xây dựng và củng cố các chi bộ và đảng bộ cơ sở vững mạnh, ăn sâu, bám chắc trong quần chúng, có khả năng lãnh đạo ba cuộc cách mạng, là nhiệm vụ cấp thiết của tất cả các đảng bộ. Điều đó lại càng cấp thiết hơn đối với các đảng bộ ở các địa phương phía Nam, nơi mà trải qua chiến đấu ác liệt với quân thù, cơ sở Đảng bị tổn thất nặng nề, ngày nay lại phải chuyển sang đảm nhiệm những nhiệm vụ hoàn toàn mới mẻ trong khi trình độ văn hoá của số đông đảng viên còn thấp, việc giáo dục lý luận cơ bản về chủ nghĩa xã hội, việc bồi dưỡng về kiến thức cải tạo quan hệ sản xuất, quản lý kinh tế, tổ chức đời sống quần chúng còn chưa tiến hành được bao nhiêu.

 

Phải thấy hết tính cấp thiết của việc xây dựng cơ sở Đảng ở những nơi còn quá mỏng hoặc chưa có; đồng thời, phải thấy rõ tính cấp thiết của việc củng cố các chi bộ, đảng bộ cơ sở có đông đảng viên, nhưng chất lượng thấp, thậm chí có những vấn đề phức tạp.

 

Vấn đề đặt ra trước hết là phải có biện pháp tích cực nhất nhằm xây dựng ở cơ sở được một đội ngũ cốt cán, thật sự vững vàng, vừa có phẩm chất vừa có năng lực, để từ đó xây dựng tổ chức và phát động các phong trào quần chúng. Đó không phải chỉ là trách nhiệm của các đảng bộ ở các địa phương phía Nam mà là trách nhiệm chung của toàn Đảng, của các cấp, các ngành trong cả nước.

 

3. Từ những bài học kinh nghiệm đã qua và những yêu cầu của nhiệm vụ lãnh đạo kinh tế, đời sống trong thời kỳ mới, cần xác định rõ hơn nữa nhiệm vụ, chức năng của các tổ chức cơ sở Đảng và chuyển hướng cơ cấu của tổ chức cơ sở Đảng cho phù hợp với yêu cầu của nhiệm vụ mới.

 

a) Theo yêu cầu của phương hướng đó, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đã bổ sung, sắp xếp lại những nhiệm vụ của tổ chức cơ sở Đảng.

 

Bản dự thảo quy định toàn diện những nhiệm vụ chính trị và tổ chức mà tổ chức cơ sở Đảng phải đảm nhiệm và nhấn mạnh: "Các tổ chức cơ sở Đảng phải đặt trọng tâm công tác lãnh đạo của mình vào việc hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch nhà nước. Phải không ngừng củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tiến hành cải tạo quan hệ sản xuất (nơi chưa tiến hành), tăng cường công tác quản lý, củng cố kỷ luật lao động, tăng cường cơ sở vật chất và kỹ thuật và cải tiến kỹ thuật, đẩy mạnh cách mạng tư tưởng và văn hoá, nhằm mục tiêu tăng năng suất lao động, hiệu suất công tác, hiệu quả chiến đấu, không ngừng chăm lo đời sống tinh thần và vật chất và nâng cao trình độ của quần chúng, lãnh đạo quần chúng làm tròn nghĩa vụ đối với Nhà nước".

 

Do tính chất công tác, quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ sở có khác nhau, nên chức năng lãnh đạo của tổ chức Đảng ở từng loại cơ sở có những đặc điểm khác nhau.

 

Các tổ chức cơ sở Đảng nói chung phải lãnh đạo toàn diện các công tác ở đơn vị và phải rất coi trọng công tác kiểm tra, coi đó là một nội dung quan trọng của sự lãnh đạo của tổ chức Đảng.

 

Các đơn vị cơ sở sản xuất, kinh doanh, giáo dục, y tế theo chế độ thủ trưởng, chịu sự chỉ đạo của cơ quan Nhà nước cấp trên về nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh hoặc công tác chuyên môn. Thủ trưởng của đơn vị, do cơ quan của Đảng và Nhà nước cấp trên cử ra, chịu trách nhiệm trước cấp trên về hoạt động của đơn vị mình. Tổ chức cơ sở Đảng ở đơn vị có trách nhiệm lãnh đạo và kiểm tra mọi mặt hoạt động của đơn vị và chịu trách nhiệm về công tác của mình trước tổ chức Đảng cấp trên. Sự lãnh đạo của tổ chức Đảng ở các loại cơ sở ấy phải nhằm làm cho đường lối, chính sách của Đảng được quán triệt trong mọi hoạt động của đơn vị, phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng, thực hiện đúng đắn chế độ công nhân, viên chức tham gia quản lý, giáo dục và động viên quần chúng chấp hành đúng các chỉ thị, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, hoàn thành kế hoạch Nhà nước và các nhiệm vụ của đơn vị.

 

Đối với các nhiệm vụ, chỉ tiêu của kế hoạch nhà nước do cấp trên quyết định, thủ trưởng chuẩn bị, báo cáo để đảng uỷ cho ý kiến trước khi đưa lên cấp trên.

 

Đối với những vấn đề thuộc quyền quyết định của đơn vị, thủ trưởng sử dụng bộ máy chuyên môn nghiên cứu, chuẩn bị đề án để đảng uỷ thảo luận và quyết định những chủ trương, biện pháp lớn. Những quyết định của đảng uỷ phải phù hợp với chỉ thị của cơ quan quản lý cấp trên. Nếu có ý kiến khác thì đề đạt ý kiến lên cấp trên.

 

Đảng uỷ không quyết định các vấn đề thuộc phạm vi chỉ huy sản xuất, kinh doanh và quản lý công việc hàng ngày thuộc quyền của thủ trưởng. Các quyết định, mệnh lệnh của thủ trưởng phải được mọi đảng viên và quần chúng trong đơn vị chấp hành.

 

Trong quá trình thủ trưởng chỉ đạo thực hiện kế hoạch, đảng uỷ dựa vào cán bộ, đảng viên và các tổ chức quần chúng để kiểm tra hoạt động của thủ trưởng và bộ máy quản lý, bảo đảm cho đường lối, chính sách của Đảng và kế hoạch nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh. Ngược lại, thủ trưởng đơn vị phải tôn trọng đầy đủ sự lãnh đạo của đảng uỷ theo chức trách của đảng uỷ và phải biết dựa vào quần chúng, tôn trọng và phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng.

 

ở các hợp tác xã, tổ chức cơ sở Đảng là người đại diện lập trường của giai cấp công nhân, phải nắm vững đường lối, quan điểm của Đảng và phát huy quyền làm chủ tập thể của xã viên, lãnh đạo Đại hội xã viên quyết định phương hướng, nhiệm vụ sản xuất và lãnh đạo tốt công tác quản lý của hợp tác xã, kết hợp đúng đắn lợi ích chung của Nhà nước với lợi ích của tập thể và của xã viên. Nghị quyết của tổ chức Đảng phải được đảng viên trong ban quản trị hợp tác xã và trong Đại hội xã viên, bằng công tác vận động, thuyết phục của mình, biến thành quyết định của xã viên; không được gò ép, mệnh lệnh. ở các xã thuộc các tỉnh phía Nam, trong khi chưa tổ chức hợp tác xã, tổ chức Đảng phải thông qua tổ chức chính quyền, nông hội và các tổ chức vần công đổi công, các đoàn thể quần chúng để lãnh đạo các mặt công tác và vận động quần chúng tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp.

 

Khác với quyết định của thủ trưởng ở các đơn vị cơ sở sản xuất, kinh doanh, các quyết định của thủ trưởng các cơ quan không phải chỉ được cán bộ, công nhân viên trong đơn vị, cơ quan, thực hiện mà còn có hiệu lực chỉ đạo cho các cấp, các ngành và đơn vị cơ sở cấp dưới thực hiện. Đặc điểm đó của công tác của các cơ quan không cho phép tổ chức cơ sở Đảng ở cơ quan quyết định nhiệm vụ, chủ trương, biện pháp tiến hành công tác chuyên môn của cơ quan. Tuy nhiên, để phát huy trí tuệ của đảng viên trong cơ quan, nâng cao tính chiến đấu của chi bộ, đảng bộ cơ quan, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị Đại hội nâng cao trách nhiệm của đảng bộ cơ quan để cho các đảng uỷ, chi bộ cơ quan có trách nhiệm góp ý kiến vào việc xây dựng kế hoạch công tác hàng năm của cơ quan, và việc thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong cơ quan, tăng cường kỷ luật công tác, động viên cải tiến công tác của cơ quan, tích cực đấu tranh chống quan liêu. Tổ chức cơ sở Đảng ở cơ quan phải giám sát tình hình đảng viên trong cơ quan, kể cả người phụ trách thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, chấp hành pháp luật Nhà nước trong cơ quan, những ai làm sai trái thì kịp thời phát hiện để góp ý kiến với người phụ trách và báo cáo những vấn đề cần thiết với cơ quan lãnh đạo của Đảng cấp trên. Các đảng uỷ, chi uỷ ở cơ quan có trách nhiệm tham gia ý kiến vào việc lựa chọn, cất nhắc cán bộ trong cơ quan theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

 

b) Để bảo đảm cho sinh hoạt và hoạt động của các tổ chức cơ sở Đảng được tiến hành thuận lợi, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghịbổ sung một số điểm về tổ chức của tổ chức cơ sở Đảng.

 

Trên quan điểm Đảng là tổ chức lãnh đạo và chiến đấu, tổ chức cơ sở Đảng phải ăn khớp với đơn vị cơ sở hành chính, cơ sở sản xuất hoặc công tác; Điều lệ Đảng đã khẳng định tổ chức Đảng ở đơn vị cơ sở là tổ chức cơ sở Đảng. Trong tình hình trước đây, nhất là khi Đảng hoạt động bí mật, nhiều tổ chức cơ sở trong xã hội còn nhỏ bé, số đảng viên chưa nhiều, thì hầu hết ở mỗi đơn vị cơ sở chỉ thành lập một chi bộ, ở đó chi bộ là tổ chức cơ sở của Đảng. Sau khi Đảng có chính quyền, nhất là trong quá trình phát triển của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, bên cạnh những đơn vị cơ sở quy mô nhỏ, mà ở đó thường chỉ thành lập một chi bộ, còn có rất nhiều đơn vị cơ sở quy mô lớn, số lượng đảng viên đông, nếu ở đó chỉ thành lập một chi bộ thì sinh hoạt và hoạt động của chi bộ có khó khăn, công tác lãnh đạo và công tác tổ chức và xây dựng Đảng không thể tiến hành tốt được. Vì vậy, ở những đơn vị cơ sở đó tổ chức cơ sở Đảng phải bao gồm nhiều chi bộ.

 

Điều lệ Đảng do Đại hội lần thứ III thông qua lấy mức 50 đảng viên để chia tổ chức cơ sở Đảng có đông đảng viên ra làm nhiều chi bộ; qua kinh nghiệm thực tế thì với điều kiện được tổ chức ăn khớp với đơn vị sản xuất, chiến đấu, công tác, tổ chức chi bộ nói chung chỉ nên gồm từ 3 đến 30 đảng viên. Ngay trong một đơn vị cơ sở lớn, tổ chức Đảng ở những bộ phận như phân xưởng, cục, hợp tác xã ở các xã có nhiều hợp tác xã, phường,v.v. nếu có quá 30 đảng viên và được cấp trên đồng ý, cũng có thể được chia ra làm nhiều chi bộ. Tổ chức Đảng ở bộ phận họp Đại hội đảng viên để cử ra đảng uỷ bộ phận (gọi tắt là đảng uỷ phân xưởng, cục, hợp tác xã, v.v.) thay cho hình thức liên chi uỷ trước đây để có đủ quyền hạn của một cấp uỷ Đảng.

 

Những quy định trên đây về chức năng, nhiệm vụ và tổ chức cơ sở Đảng sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng ở cơ sở, nâng cao chất lượng đảng viên trong giai đoạn mới.

 

VI


Xác định đúng và nâng cao tư cách đảng viên, bảo đảm chất lượng đội ngũ của Đảng

 

1. Trong vấn đề đảng viên, vấn đề quan trọng trước hết là phải xác định đúng đắn và bảo đảm chặt chẽ tư cách đảng viên, khắc phục những biểu hiện lệch lạc khi hữu, khi "tả" mà chủ yếu là những lệch lạc hữu thường bắt nguồn từ những nhận thức không đầy đủ về tư cách đảng viên.

 

Đảng ta đòi hỏi mỗi đảng viên phải xứng đáng là chiến sĩ tiên phong cách mạng của giai cấp công nhân. Trên quan điểm đó, phải xác định rõ tư cách đảng viên. Đảng viên, như Hồ Chủ tịch đã căn dặn, phải vừa là "người lãnh đạo", vừa là "người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

 

a) Trước hết, đảng viên phải là người có giác ngộ lý tưởng cộng sản, tuyệt đối trung thành với cách mạng, tự nguyện suốt đời hy sinh phấn đấu vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Điều đó đòi hỏi đảng viên phải nhất trí với đường lối của Đảng, quyết tâm phấn đấu với tinh thần trách nhiệm cao nhất để thực hiện đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng và mọi nhiệm vụ Đảng giao cho.

 

Trong giai đoạn mới, sự giác ngộ và tinh thần cách mạng đó phải được thể hiện ở ý chí phấn đấu, ở hành động gương mẫu, sự dũng cảm và thái độ cộng sản chủ nghĩa trong lao động sản xuất, trong công tác, trong đấu tranh để cải tạo xã hội, cải tạo thiên nhiên. Trên vị trí chiến đấu của mình, đảng viên phải gương mẫu về mọi mặt; sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc, tìm cách tăng năng suất lao động, tăng hiệu suất công tác, hiệu quả chiến đấu, tích cực đấu tranh để bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân, chống lãng phí, tham ô; phải tích cực tham gia củng cố quốc phòng, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự xã hội và góp phần xây dựng lực lượng vũ trang vững mạnh. Những nơi chưa tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa thì đảng viên phải là người đi đầu trong phong trào cải tạo xã hội chủ nghĩa.

 

b) Đảng viên phải có hiểu biết nhất định về lý luận Mác - Lênin, nắm được đường lối, chính sách của Đảng, có năng lực đảm nhiệm công việc được giao, có năng lực lãnh đạo quần chúng và góp phần vào công tác lãnh đạo của tổ chức Đảng. Vì vậy phải không ngừng học tập và tích cực phấn đấu và rèn luyện để nâng cao giác ngộ chính trị, đạo đức cách mạng, kiến thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, về ba cuộc cách mạng, về quản lý kinh tế, khoa học, kỹ thuật, quản lý xã hội và nâng cao năng lực công tác của mình.

 

Học tập là một vấn đề thuộc tính đảng của đảng viên. Đảng viên phải vừa có phẩm chất, đạo đức tốt, vừa phải có trình độ và năng lực. Điều đó đòi hỏi phải nỗ lực phấn đấu cao để đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ mới không ngừng phát triển.

 

c) Đảng viên phải tôn trọng và ra sức góp phần xây dựng chế độ làm chủ tập thể của nhân dân lao động, liên hệ chặt chẽ với quần chúng, làm tốt công tác tuyên truyền, vận động, tổ chức quần chúng

 

Điều đó đòi hỏi mỗi đảng viên phải xác định rõ quan điểm hết lòng hết sức phục vụ quần chúng, hy sinh hơn quần chúng, biết đặt lợi ích của Đảng, của nhân dân, của tập thể lên trên lợi ích cá nhân. Tuyệt đối không được có đặc quyền đặc lợi, không được có thái độ cửa quyền, mệnh lệnh, chuyên quyền, độc đoán, vi phạm lợi ích của quần chúng, trái lại phải chăm lo đời sống và phát huy tính sáng tạo và quyền làm chủ của quần chúng, chăm lo xây dựng chính quyền và đoàn thể quần chúng, nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp và pháp luật Nhà nước, kỷ luật của đoàn thể quần chúng mà mình tham gia.

 

d) Đảng viên phải chăm lo xây dựng Đảng, có ý thức tổ chức và kỷ luật, có tinh thần tự phê bình và phê bình, bảo vệ Đảng, bảo vệ sự đoàn kết thống nhất của Đảng

 

Để xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đảng viên phải đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo chung của Đảng, của chi bộ; phải tuân theo các quy tắc sinh hoạt Đảng, nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, nêu cao cảnh giác cách mạng, giữ gìn bí mật của Đảng. Phải đấu tranh với mọi hành động trái với lợi ích chung của Đảng, trước hết là chống mọi biểu hiện thoái hoá, cơ hội và bè phái để bảo vệ sự thống nhất về đường lối chính trị và tổ chức, và bảo vệ uy tín của Đảng.

 

đ) Phải nêu cao tinh thần quốc tế vô sản, góp phần làm tròn nghĩa vụ quốc tế của Đảng

 

Là đảng của giai cấp công nhân, Đảng yêu cầu đảng viên phải nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và chấp hành nghiêm chỉnh đường lối quốc tế của Đảng, góp phần tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa, với phong trào cộng sản và công nhân quốc tế trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. Mỗi đảng viên phải góp phần làm tròn nghĩa vụ quốc tế của Đảng và có ý thức ấy trong khi phấn đấu để hoàn thành mọi nhiệm vụ công tác thường xuyên của mình, cũng như trong việc trực tiếp làm các nhiệm vụ quốc tế theo sự phân công của Đảng khi cần đến.

 

Dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đã sắp xếp lại và bổ sung các nhiệm vụ của đảng viên theo những quan điểm trên đây về tư cách đảng viên. Việc đó sẽ giúp cho đảng viên dễ hiểu và dễ nhớ hơn những nhiệm vụ của mình.

 

Tư cách đảng viên là những điều kiện cơ bản mà đảng viên cần có và là những điều cơ bản làm cơ sở để phân rõ ranh giới giữa đảng viên và quần chúng tích cực ngoài Đảng. Phấn đấu để có đầy đủ tư cách đảng viên và để làm tròn nhiệm vụ đảng viên là yêu cầu của Đảng đối với mọi đảng viên. Vi phạm những điều cơ bản ấy thì không còn đủ tư cách đảng viên.

 

 Tuy nhiên, đảng viên giữ vị trí công tác khác nhau, hoạt động trong những điều kiện và hoàn cảnh khác nhau, trong các tầng lớp quần chúng mà trình độ về nhiều mặt có khác nhau. Vì vậy, trên những quy định chung, đối với từng hoàn cảnh cụ thể, từng loại đảng viên cụ thể, Đảng phải đề ra những yêu cầu phù hợp với nhiệm vụ mà đảng viên phải gánh vác, với trình độ quần chúng mà đảng viên có trách nhiệm lãnh đạo.

 

Trong quá trình hoạt động, có những đảng viên do điều kiện tuổi tác, sức khoẻ, hoàn cảnh riêng nên năng lực hoạt động có thể bị hạn chế, không cống hiến được nhiều cho cách mạng như trước. Đảng yêu cầu đảng viên đó phải giữ vững phẩm chất cách mạng và làm việc theo sự phân công thích đáng của Đảng. Những đồng chí thật sự không còn đủ sức khoẻ để hoạt động có thể được miễn công tác. Đảng cần có hình thức và chế độ sinh hoạt phù hợp với sức khỏe của các đồng chí đó; tổ chức Đảng không được vì vậy mà đánh giá sai lệch tư cách đảng viên của các đồng chí đó.

 

2. Phấn đấu để nâng cao chất lượng đảng viên theo yêu cầu của Đảng, để mỗi đảng viên thật sự xứng đáng là người chiến sĩ tiên phong của giai cấp công nhân, là một nhiệm vụ cơ bản có tầm quan trọng đặc biệt.

 

Quá trình nâng cao chất lượng đảng viên, Đảng ta đã rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu:

 

a) Phải nhằm vào nhiệm vụ chính trị chung của Đảng, của từng địa phương và đơn vị cơ sở, vào trách nhiệm cụ thể của từng đảng viên trong từng chi bộ và tổ chức nơi đảng viên hoạt động mà nâng cao chất lượng đảng viên và đề cao trách nhiệm của đảng viên đối với chất lượng của tổ chức nơi mình sinh hoạt, công tác.

 

Muốn xây dựng tốt đảng viên, phải xây dựng tốt tổ chức. Đánh giá đảng viên, nâng cao chất lượng đảng viên phải gắn liền với đánh giá và nâng cao chất lượng của tổ chức. Khuynh hướng đơn giản trong việc đánh giá đảng viên và nâng cao chất lượng đảng viên, không xem xét nguyên nhân toàn diện cả về tổ chức lẫn đảng viên để khắc phục mặt tiêu cực của đảng viên, thường không đem lại kết quả tốt. Trái lại không thấy hết tính năng động chủ quan của đảng viên đối với tổ chức, đổ trách nhiệm hoàn toàn cho tổ chức đối với những mặt tiêu cực của đảng viên, cũng là một khuynh hướng không đúng đắn.

 

b) Phải cải tiến sinh hoạt và hoạt động của tổ chức Đảng, của chi bộ, đưa đảng viên vào vị trí chiến đấu trong phong trào quần chúng, và qua phong trào quần chúng mà giáo dục, rèn luyện đảng viên, nâng cao năng lực của đảng viên, sàng lọc đội ngũ Đảng. Đóng cửa Đảng để củng cố, không gắn với việc đấu tranh thực hiện nhiệm vụ chính trị và với phong trào quần chúng, sẽ dẫn đến tu dưỡng đảng viên theo kiểu duy tâm, làm giảm tính chiến đấu của Đảng. Song nếu chỉ đưa đảng viên vào hoạt động trong phong trào cách mạng của quần chúng, mà coi nhẹ các biện pháp về tư tưởng và về tổ chức trong nội bộ Đảng, không coi trọng rèn luyện đảng viên qua sinh hoạt Đảng, học tập... thì cũng không thể xây dựng tốt người đảng viên. Phải coi trọng cả hai mặt đó và phải kết hợp chặt chẽ hai mặt đó với nhau không được tách rời.

 

c) Nâng cao chất lượng đảng viên phải được tiến hành một cách toàn diện cả về phẩm chất cách mạng lẫn về kiến thức và năng lực hành động, không được xem nhẹ mặt nào. Chỉ nhấn mạnh một mặt nào cũng sẽ dẫn đến hạn chế chất lượng đảng viên. Đương nhiên và tùy từng nơi, từng lúc phải nhằm vào yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và những nhược điểm, khuyết điểm chủ yếu của từng đảng viên và của đội ngũ đảng viên mà đề ra nội dung, phương hướng và biện pháp cụ thể để rèn luyện đảng viên cho thích hợp.

 

d) Nâng cao chất lượng đảng viên, phải quán triệt yêu cầu vừa phát huy mặt ưu điểm, vừa phê phán, khắc phục mặt tiêu cực, và giúp đảng viên khắc phục khó khăn trong công tác, đời sống, tạo điều kiện thuận lợi cho đảng viên hoạt động. Phải chú trọng việc biểu dương, học tập những đảng viên ưu tú; có chế độ cho cấp trên của chi bộ, đảng bộ cơ sở mở hội nghị những đảng viên ưu tú, để thúc đẩy công tác và nâng cao chất lượng đảng viên; đồng thời phải coi trọng việc giáo dục và có kỷ luật nghiêm minh đối với đảng viên phạm sai lầm, kiên quyết đưa những phần tử cơ hội, thoái hoá biến chất, những người không còn đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, cũng như bổ sung những người ưu tú có đủ điều kiện vào Đảng. Việc đó phải được coi là một quy luật bình thường trong sinh hoạt Đảng, một vấn đề sống còn của Đảng, một tất yếu khách quan để củng cố Đảng. Khuynh hướng chỉ nhấn mạnh một chiều mặt này hay mặt khác đều dẫn đến sai lầm làm giảm sức chiến đấu của Đảng.

 

đ) Phải đánh giá đúng đội ngũ đảng viên và từng đảng viên để có yêu cầu, biện pháp nâng cao chất lượng phù hợp. Để đáng giá đúng đảng viên phải nắm vững quan điểm có tính nguyên tắc về tư cách đảng viên, không hạ thấp yêu cầu cơ bản đối với đảng viên; đồng thời phải có quan điểm lịch sử, quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện trong khi nhận xét ưu điểm, khuyết điểm của đảng viên; như vậy thì mới không phạm sai lầm hữu hoặc "tả".

 

Từ những kinh nghiệm trên đây, các tổ chức Đảng phải không ngừng phấn đấu để nâng cao chất lượng đảng viên, phải tăng cường công tác giáo dục, rèn luyện đảng viên, nâng cao chất lượng của đội ngũ đảng viên, khắc phục một cách có hiệu quả tình trạng đảng viên "trung bình" thậm chí yếu kém còn khá nhiều trong Đảng. Việc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng là một nhiệm vụ quan trọng để củng cố Đảng. Những biểu hiện hữu khuynh không kiên quyết đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng thường là do nhận thức không đúng đắn về tư cách đảng viên, do sự lỏng lẻo trong công tác kiểm tra tư cách đảng viên và do thiếu quy định các chính sách và biện pháp tổ chức chỉ đạo cụ thể, thiếu biện pháp phát động phong trào cách mạng của quần chúng để qua đó mà sàng lọc đội ngũ của Đảng.

 

Đảng phải có biện pháp tích cực hơn nữa đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng, để sàng lọc đội ngũ của mình, quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên và từng đảng viên, làm cho tổ chức Đảng thật sự trong sạch, vững vàng, phải không chút do dự loại ngay ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất, những người đã mất tinh thần chiến đấu cách mạng, những phần tử lợi dụng chức vụ, quyền hạn để ức hiếp quần chúng, đầu cơ trục lợi, xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa, v.v.. Để những phần tử này trong Đảng chỉ làm yếu Đảng và mất ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng. Phải kết hợp chặt chẽ giữa phát động phong trào quần chúng với công tác nội bộ Đảng để làm tốt việc này, coi đó là một vấn đề hết sức quan trọng để bảo đảm tính chất Đảng và hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng.

 

Trong đội ngũ của Đảng, ở một số vùng mới giải phóng đã phát hiện có một số phần tử đầu hàng, phản bội nhận làm tay sai cho địch; lại có hiện tượng một số địa phương đã phục hồi đảng tịch hoặc để cho đảng viên đã bị mất liên lạc, nằm im, bị địch bắt, sinh hoạt Đảng trở lại mà không theo đúng các chính sách cụ thể đã được quy định đối với từng loại trường hợp, cũng không trải qua kiểm tra chặt chẽ và qua các thủ tục cần thiết. Những hiện tượng ấy cần được tổ chức có trách nhiệm của Đảng xem xét rất kỹ lưỡng. Phải kiểm tra lại mọi trường hợp đã được tập hợp, phục hồi không đúng nguyên tắc, mọi trường hợp được kết nạp không đúng thủ tục; kết hợp chặt chẽ việc sưu tầm hồ sơ do địch để lại với việc lấy ý kiến quần chúng và việc kiểm tra nghiêm ngặt những hoạt động của đảng viên trong quá trình tham gia cách mạng và các phong trào quần chúng để đánh giá đúng thực chất của từng người và đưa ra khỏi Đảng những phần tử lợi dụng những sơ hở đã qua để trà trộn vào đội ngũ của Đảng.

 

Phải xây dựng nền nếp quản lý chặt chẽ đảng viên, giúp cho Đảng nắm chắc đảng viên và kịp thời giúp đỡ đảng viên phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, đề phòng những sơ hở cho kẻ địch và những phần tử đầu cơ lợi dụng chui vào Đảng.

 

Theo phương hướng đó, Đảng ta sẽ tiến hành phát thẻ Đảng và sẽ làm cho công tác này thành một phong trào sâu rộng trong Đảng, vừa có ý nghĩa giáo dục chính trị sâu sắc, vừa có tác dụng quan trọng củng cố Đảng về mặt tổ chức, nâng cao chất lượng đảng viên và sàng lọc đội ngũ của Đảng.

 

3. Chất lượng đảng viên phải được bảo đảm ngay từ khi kết nạp đảng viên mới

 

Công tác phát triển Đảng qua các thời kỳ đều đạt những kết quả tốt, đồng thời cũng phạm khuyết điểm: khi thì mở quá rộng, khi lại hẹp hòi hoặc đóng cửa Đảng. Trong các khuyết điểm thì tổ chức bừa bãi, thiếu chặt chẽ dẫn đến hạ thấp tiêu chuẩn là khuyết điểm chính.

 

a) Phải ra sức chấn chỉnh công tác kết nạp đảng viên. Theo phương châm "coi trọng chất lượng, chống khuynh hướng chạy theo số lượng đơn thuần", "phát triển Đảng luôn luôn phải đi đôi với củng cố Đảng", công tác phát triển Đảng phải luôn luôn lấy tiêu chuẩn làm cơ sở và phải được chỉ đạo chặt chẽ.

 

Song song với việc sàng lọc đội ngũ của Đảng, việc bổ sung vào Đảng những người ưu tú qua thử thách trong các phong trào là một việc phải làm thường xuyên, không bao giờ ngừng để tăng sức chiến đấu mới trong Đảng.

 

Song, phải nhận rõ Đảng ta là đảng lãnh đạo chính quyền, được nhân dân rất tín nhiệm, đảng viên thường được giao những trách nhiệm trọng yếu trong các tổ chức Đảng, Nhà nước và đoàn thể quần chúng. Trong điều kiện ấy, thường có nhiều phần tử cơ hội tìm cách chui vào Đảng. Cho nên, đồng thời với việc tiếp tục nâng cao cảnh giác, đề phòng những phần tử địch chui vào Đảng để phá hoại, phải rất chú trọng ngăn ngừa những phần tử cơ hội tìm cách vào Đảng để lợi dụng hoặc có mưu đồ chính trị riêng.

 

ở miền Nam, trải qua chiến đấu vô cùng ác liệt, cơ sở Đảng nói chung, nhất là ở các đô thị và ở các vùng địch tạm chiếm lâu, rất mỏng. Việc xây dựng cơ sở Đảng, nhất là ở các xí nghiệp, các hải cảng, đồn điền, doanh điền, các phường, xã chưa có chi bộ, các vùng dân tộc, vùng tôn giáo tập trung, đã trở thành một nhiệm vụ chính trị và tổ chức rất cấp thiết để bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng ở cơ sở. Các cấp uỷ Đảng ở cơ sở phải cử cán bộ, đảng viên về để phát động các phong trào quần chúng và xây dựng các tổ chức quần chúng,đặc biệt là Đoàn thanh niên; phải phát triển mạnh các nhóm cảm tình, các tổ trung kiên, trên cơ sở đó phát hiện, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú và lựa chọn những người ưu tú nhất có đủ tiêu chuẩn để kết nạp vào Đảng. Tất nhiên, không được vì vậy mà hạ thấp tiêu chuẩn đảng viên, dẫn đến kết nạp người không đủ tiêu chuẩn vào Đảng. Nhất thiết không được vì để xây dựng tổ chức, "thanh toán cơ sở trắng" mà kết nạp người vào Đảng một cách gượng ép, bừa bãi.

 

Phải nắm vững phương châm, phương hướng phát triển Đảng và vận dụng cho sát với đặc điểm từng vùng. Lại phải rất tỉnh táo, đề phòng những âm mưu và thủ đoạn của bọn CIA và bọn phản động tìm cách đưa người của chúng vào hàng ngũ Đảng. Cùng với công tác phát triển Đảng, cần có kế hoạch điều chỉnh đảng viên, nhất là ở các cơ sở quốc doanh để nhanh chóng thành lập chi bộ ở các cơ sở chưa có chi bộ.

 

b) Trên quan điểm cơ bản trên đây về chất lượng đảng viên, cần làm rõ và nâng cao điều kiện kết nạp đảng viên. Dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị bổ sung một số điểm vào điều 1 chương đảng viên: "Những công dân Việt Nam, có lao động, không bóc lột, từ 18 tuổi trở lên, trải qua rèn luyện trong đấu tranh cách mạng, đã chứng tỏ là người ưu tú nhất trong quần chúng, có giác ngộ về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, gương mẫu trong lao động, sản xuất, công tác, chiến đấu và học tập, có liên hệ chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm, nếu thừa nhận và nguyện tích cực phấn đấu để thực hiện đường lối chính trị và Điều lệ Đảng, nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở Đảng, phục tùng kỷ luật của Đảng và đóng đảng phí theo quy định, đều có thể được công nhận là đảng viên".

 

Khi xem xét để kết nạp người vào Đảng, phải bảo đảm đầy đủ các điều kiện đó, phải xét kỹ động cơ vào Đảng, xem xét người xin vào Đảng trong thực tế sẽ có khả năng làm tròn những nhiệm vụ của đảng viên hay không. Phải bảo đảm là người có lý lịch rõ ràng, không phạm những điều do Trung ương quy định về tiêu chuẩn chính trị.

 

Là đảng nắm chính quyền, Đảng không chủ trương kết nạp những người ngoại kiều vào Đảng. ở những nơi tập trung đông người đã nhập quốc tịch Việt Nam thì phải xét rất kỹ lưỡng để kết nạp một số ít người có đủ tiêu chuẩn. Những Việt kiều đã vào các đảng anh em, khi về nước, trải qua xem xét kỹ, nếu đã rõ ràng là người có đủ điều kiện đảng viên, cũng phải xét kết nạp theo đúng thủ tục.

 

Điều kiện để kết nạp người vào Đảng phải được cụ thể hoá cho phù hợp với từng loại đối tượng.

 

Khi xem xét sự giác ngộ của người công nhân, phải đặc biệt chú trọng tinh thần hy sinh tận tụy, ý thức vì lợi ích chung trong việc nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, tham gia xây dựng nền nếp quản lý xí nghiệp, đấu tranh để bảo vệ của công, xây dựng cho tập thể đơn vị, làm việc, lao động tích cực không phải vì đồng lương, vì khen thưởng.

 

Khi xem xét giác ngộ của người nông dân phải rất coi trọng các mặt: ý thức làm chủ tập thể trong đấu tranh giữa hai con đường ở nông thôn, trong việc tiến hành ba cuộc cách mạng, trong tiếp thu cải tạo xã hội chủ nghĩa, tiếp thu cách mạng kỹ thuật, đưa hợp tác xã đi lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, trong ý thức đối với liên minh công nông, đối với nghĩa vụ Nhà nước. Họ không phải là người tính toán riêng tư, chỉ lo vun vén cho bản thân và gia đình, là người lao động tích cực không phải chỉ vì công điểm.

 

Đối với các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, sự giác ngộ đó không phải chỉ thể hiện ở ý thức xây dựng lực lượng vũ trang, bảo vệ Tổ quốc, ở lòng hy sinh, tinh thần dũng cảm trong đấu tranh chống địch, mà còn phải thể hiện ở sự giác ngộ cả về đường lối chung của Đảng, ở lập trường kiên định và lòng thiết tha đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.

 

Đối với trí thức, sự giác ngộ phải được thể hiện rõ ở quan điểm đối với đường lối chung của Đảng, đối với ba cuộc cách mạng, đối với đường lối phát triển kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật, v.v. của Đảng trong từng ngành; sự giác ngộ ấy phải thể hiện trong công tác phát minh, sáng tác và chỉ đạo thực tiễn; không phải là làm những việc ấy vì động cơ cá nhân, vì thành tích và danh lợi, uy tín cá nhân.

 

Đương nhiên còn phải xem xét toàn diện và đầy đủ các mặt khác.

 

c) Để bảo đảm chất lượng của đội ngũ, Đảng ta phải tiếp tục coi trọng kết nạp đảng viên từ giai cấp công nhân, từng bước nâng cao tỷ lệ đảng viên xuất thân từ công nhân, coi đó là phương hướng giai cấp chính trong thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời Đảng không coi nhẹ kết nạp đảng viên trong nông dân tập thể, trong trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác như đã tổng kết. ở các tỉnh phía Nam, ở những ấp, xã đã bắt đầu tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa trong nông nghiệp, tổ chức Đảng không được kết nạp những người nông dân làm ăn riêng lẻ vào Đảng.

 

d) Quy định một cách chặt chẽ và tuân thủ một cách nghiêm ngặt các thủ tục kết nạp đảng viên, là điều kiện hết sức quan trọng và có tính nguyên tắc về mặt tổ chức để bảo đảm chất lượng đảng viên. Để thủ tục kết nạp đảng viên được chặt chẽ hơn, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) nhấn mạnh hơn nữa tính tự nguyện của người xin vào Đảng.

 

"Người xin vào Đảng phải hoàn toàn tự nguyện, phải làm đơn xin vào Đảng...". Trong điều kiện hiện nay, trong phạm vi cả nước, chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, chính sách của Đảng và Điều lệ Đảng đều được phổ biến rộng rãi trong nhân dân; tổ chức Đảng có ở khắp nơi. Đó là điều kiện thuận lợi để quần chúng tìm hiểu và gần gũi với Đảng. Vì vậy quần chúng nào tự thấy có đủ điều kiện, thiết tha xin vào Đảng thì có thể phát biểu nguyện vọng của mình, làm đơn xin vào Đảng theo hướng dẫn của tổ chức Đảng, không phải chờ người khác giới thiệu mới xin vào Đảng. Cố nhiên tổ chức Đảng và đảng viên phải tăng cường làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục quần chúng; chi bộ phải phân công đảng viên tốt tuyên truyền, giáo dục và tích cực giúp đỡ quần chúng phương hướng phấn đấu để trở thành đảng viên.

 

Dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị người xin vào Đảng phải được hai đảng viên chính thức có ít nhất hai năm tuổi đảng và đã cùng công tác một năm trở lên bảo đảm là có đủ điều kiện vào Đảng. Nếu là đoàn viên Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh được chi đoàn nhận xét là có đủ điều kiện vào Đảng và được Ban Chấp hành của Đoàn ở cơ sở bảo đảm thì chỉ cần một đảng viên có điều kiện trên bảo đảm. Dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị quyết định của chi bộ về kết nạp đảng viên dự bị và việc công nhận đảng viên dự bị thành đảng viên chính thức phải được sự đồng ý ít nhất của 2/3 số đảng viên chính thức của chi bộ, đồng thời đề ra những việc phải làm để việc thẩm tra, xem xét kết nạp đảng viên và chuẩn y kết nạp đảng viên được chặt chẽ. Dự thảo yêu cầu chi bộ phải tổ chức lấy ý kiến nhận xét của quần chúng về người định kết nạp vào Đảng để tham khảo, và sau khi quyết định kết nạp người vào Đảng (trừ một số trường hợp đặc biệt cần giữ bí mật), chi bộ phải công bố quyết định ấy cho quần chúng biết. Chi bộ phải thẩm tra lại công tác tuyên truyền riêng biệt của người bảo đảm đối với người xin vào Đảng và phải bảo đảm là người đó đã được giải thích kỹ về Điều lệ Đảng, được tuyên tuyền, giáo dục kỹ về đường lối, chính sách của Đảng.

 

Về thời kỳ dự bị của đảng viên, dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đề nghị quy định: những công nhân đã trực tiếp sản xuất từ 5 năm trở lên và những cán bộ, nhân viên, chiến sĩ hoạt động chuyên nghiệp từ 5 năm trở lên trong bộ máy của Đảng, của Nhà nước, của các đoàn thể và trong các lực lượng vũ trang, nếu được kết nạp vào Đảng thì được hưởng thời kỳ dự bị một năm. Các thành phần khác, 18 tháng. Những chiến sĩ đang làm nghĩa vụ quân sự, những công nhân, cán bộ, nhân viên chưa có đủ thời gian lao động hoặc hoạt động trên đây thì căn cứ vào thành phần giai cấp bản thân trước đó để quyết định thời kỳ dự bị. Việc định thời kỳ dự bị dài hơn trước là cần thiết để đảng viên dự bị đủ thời gian rèn luyện, thử thách thêm, và để việc xét công nhận thành đảng viên chính thức có căn cứ chính xác.

 

Xã hội nước ta đang ở thời kỳ chuyển tiếp có nhiều biến động phức tạp về thành phần giai cấp. Có những công nhân, nông dân trong một thời gian ngắn đã trở thành kỹ sư, cán bộ chuyên nghiệp, chiến sĩ trong lực lượng vũ trang; có những học sinh, nông dân chỉ trong vòng mấy năm đã trở thành công nhân, cán bộ, trong khi đó có những cán bộ không phải là công nhân, đã qua rèn luyện thử thách nhiều năm trong bộ máy của Đảng, Nhà nước, v.v.. Bởi vậy, việc quy định quá chi tiết từng loại thời kỳ dự bị cho từng thành phần giai cấp, tầng lớp sẽ gây nên những sự phức tạp không cần thiết. Tuy đứng về quan điểm giai cấp, Đảng ta quy định thời kỳ dự bị cho từng thành phần như vậy, nhưng do tính chất phức tạp của tình hình thành phần giai cấp hiện nay, nhất là ở vùng mới được giải phóng, cho nên khi xét để kết nạp người vào Đảng, cần phải xem xét cụ thể nguồn gốc giai cấp và chất lượng chính trị của từng người, không thể đơn giản chỉ nhìn một mặt về thành phần giai cấp. Đối với một số vùng có những đặc điểm khác nhau về phân hoá giai cấp xã hội, Ban Chấp hành Trung ương sẽ có những quy định cụ thể xét cần thiết để bảo đảm công tác kết nạp đảng viên được chặt chẽ.

 

Dự thảo Điều lệ (sửa đổi) chỉ rõ những nội dung cơ bản để giáo dục đảng viên dự bị và đề nghị bỏ việc kéo dài thời kỳ dự bị của đảng viên dự bị khi xét để chuyển thành đảng viên chính thức, bởi vì quy định ấy có thể gây nên tình hình thiếu tích cực trong việc rèn luyện, giúp đỡ đảng viên dự bị và tình trạng thiếu kiên quyết đưa người không còn xứng đáng ra khỏi danh sách đảng viên dự bị.

 

Những quy định bổ sung trong Điều lệ Đảng là cơ sở cho việc chỉ đạo chặt chẽ hơn nữa công tác đảng viên, bảo đảm đầy đủ hơn tư cách đảng viên.

 

Để tăng cường công tác đảng viên nói chung, công tác kết nạp đảng viên nói riêng, các tổ chức Đảng, trước hết là các cấp uỷ Đảng phải quán triệt các quy định của Điều lệ Đảng về vấn đề đảng viên, làm cho từng đảng viên và đông đảo quần chúng thấu suốt những quy định đó, bồi dưỡng một đội ngũ biết làm công tác đảng viên, công tác kết nạp đảng viên, công tác quản lý đảng viên.

 

VII


Xây dựng đội ngũ cán bộ lớn mạnh phù hợp với yêu cầu của giai đoạn mới

 

Để xây dựng một đội ngũ cán bộ đủ sức đáp ứng những yêu cầu của nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ tổ chức rộng lớn, phức tạp của giai đoạn mới, phải tạo ra một sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức, quan điểm về công tác cán bộ; đồng thời có những biện pháp thiết thực, tỉ mỉ nhằm cải tiến mạnh mẽ tất cả các khâu từ đào tạo, bồi dưỡng đến bố trí, sử dụng và quản lý cán bộ.

1. Trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, phải nhận thức đúng đắn ý nghĩa của vấn đề thành phần xã hội xuất thân và nắm vững phương hướng lựa chọn cán bộ như đã nêu trong bài học kinh nghiệm ở phần thứ nhất của báo cáo này.

 

Trong tình hình hiện nay, chúng ta cần thiết phải nhấn mạnh thêm về vấn đề tăng cường lựa chọn, đào tạo cán bộ từ những phần tử ưu tú trong giai cấp công nhân, vì ý nghĩa nguyên tắc của nó đối với việc xây dựng chính đảng Mác - Lênin và vì lâu nay trong vấn đề này chúng ta còn nhiều thiếu sót.

 

Phải phấn đấu tăng cường thành phần công nhân, nhất là công nhân đại công nghiệp trong đội ngũ cán bộ các loại, ở các cấp, các ngành, trước hết là trong cán bộ lãnh đạo chung, cán bộ quản lý công nghiệp, quân đội, công an, trong đội ngũ cán bộ ở các thành phố, các khu công nghiệp và nhất là ở cấp cơ sở.

 

Với ý thức giai cấp và tính đảng sâu sắc, phải quy định nhiều biện pháp cụ thể để làm bằng được việc này. Trong việc chiêu sinh các lớp đào tạo của trường Đảng các cấp cần định tỷ lệ học viên xuất thân từ công nhân; trong việc chiêu sinh vào các trường đại học (kể cả các lớp dự bị đại học) cũng phải quy định tỷ lệ học viên là công nhân và những người đã qua sản xuất, chiến đấu. Cần xem xét lại và bổ sung một số chính sách, chế độ cần thiết để những công nhân được cử đi đào tạo hoặc trở thành cán bộ không bị ảnh hưởng nhiều đến thu nhập và đời sống gia đình. Các xí nghiệp, các ngành công nghiệp chẳng những phải chăm lo đào tạo cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật cho mình từ trong công nhân, mà phải có trách nhiệm hàng năm cung cấp cho Trung ương và các tỉnh uỷ, thành uỷ một số công nhân có triển vọng đào tạo thành cán bộ lãnh đạo chung, cán bộ làm công tác đảng, cán bộ đoàn thể quần chúng. Đương nhiên cần lựa chọn những công nhân có triển vọng làm công tác lãnh đạo, công tác quản lý, tránh tình trạng đưa đi đào tạo hoặc đề bạt những công nhân không có triển vọng về mặt này, trong khi họ lại là những công nhân lành nghề mà nếu để ở cương vị cũ thì họ có thể cống hiến được nhiều hơn.

 

Tiêu chuẩn cơ bản của mọi cán bộ là luôn luôn phải có đủ cả hai mặt phẩm chất và năng lực tương ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị trong mỗi giai đoạn cách mạng, với yêu cầu của công việc mà Đảng và Nhà nước giao cho. Hai mặt ấy quyện chặt với nhau tạo thành giá trị, thành chất lượng của người cán bộ và thể hiện tập trung ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ của họ.

 

Phẩm chất và năng lực cán bộ phải được xem xét trong quá trình người đó chấp hành nhiệm vụ mà Đảng giao phó, phải được đánh giá căn cứ vào kết quả hoàn thành nhiệm vụ chính trị của Đảng. Không thể có cách đánh giá nào khác. Đương nhiên điều đó không có nghĩa là xem xét một cách hình thức, chỉ nhìn vào một công việc riêng rẽ, chỉ căn cứ vào một kết quả nhất thời. Phải phân tích cụ thể hoàn cảnh khách quan và sự nỗ lực chủ quan của người cán bộ, chú ý những biểu hiện về lập trường, quan điểm trong những vấn đề đường lối của Đảng, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật trong quá trình thi hành nhiệm vụ; phải xem xét qua nhiều sự việc khác nhau, qua nhiều hoàn cảnh khác nhau, khi dễ dàng lúc thuận lợi, nhất là qua những lúc có khó khăn, phức tạp.

 

Trong điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước, cơ cấu đội ngũ cán bộ trở nên phong phú và phức tạp khác trước. Chúng ta phải xây dựng tiêu chuẩn cụ thể cả về trình độ văn hoá, chuyên môn cho từng loại cán bộ ở mỗi ngành, mỗi cấp khác nhau để làm căn cứ cho việc lựa chọn, bố trí cán bộ và thúc đẩy hơn nữa việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Phải căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ và yêu cầu của công tác mà lựa chọn, bố trí, cất nhắc cán bộ, phê phán nghiêm khắc lối sử dụng, đề bạt cán bộ dựa vào cảm tình, yêu ghét riêng tư, vào quan hệ cá nhân, quan hệ địa phương, để lôi kéo bè cánh trong Đảng.

 

Trong việc vận dụng tiêu chuẩn đối với cán bộ kỹ thuật, chuyên môn, một mặt cần khắc phục quan niệm lệch lạc cho rằng loại cán bộ này chỉ cốt có kiến thức chuyên môn giỏi là đủ, còn về phẩm chất tư tưởng chính trị có thể châm trước. Song mặt khác, cần phê phán quan niệm đòi hỏi cán bộ kỹ thuật, chuyên môn cũng phải có quá trình đào tạo, rèn luyện về chính trị, có trình độ hiểu biết chính trị, lý luận như cán bộ lãnh đạo chung, hoặc thành kiến không đúng với một số nhược điểm về tác phong sinh hoạt của họ.

 

Cán bộ lãnh đạo và cán bộ quản lý giữ một vị trí rất quan trọng. Vì vậy trên những tiêu chuẩn chung về phẩm chất và năng lực của người cán bộ, các cán bộ này phải là những đồng chí vừa nhạy bén về chính trị, tỉnh táo và kiên quyết đấu tranh với những khuynh hướng, quan điểm sai trái với đường lối, chính sách của Đảng, vừa có năng lực tổ chức và kiến thức quản lý, biết phát huy sức mạnh của tập thể, phát huy tính tích cực và chủ động của cấp dưới, tập trung được kiến thức và trí tuệ của cán bộ và quần chúng. Phải là những đồng chí có nhiệt tình, có tính chủ động, quyết đoán, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trước cấp trên và trước quần chúng để chủ động giải quyết một cách cụ thể, thiết thực những vấn đề đặt ra trong quá trình lãnh đạo và quản lý.

 

2. Phải có chính sách bồi dưỡng, đào tạo, bố trí, sử dụng đúng cán bộ, nhất là trong điều kiện hiện nay, cả đối với cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý và cán bộ khoa học, kỹ thuật

 

Một nhiệm vụ cấp bách và trọng yếu của công tác cán bộ trong thời gian tới là phải tích cực bồi dưỡng, nâng cao, bổ sung, và đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước. Phải vừa bồi dưỡng cán bộ đương chức, vừa đào tạo, lựa chọn cán bộ mới, trẻ, tuyển lựa chủ yếu từ những người trưởng thành từ dưới lên qua các phong trào cách mạng của quần chúng, qua thực tiễn sản xuất, công tác và chiến đấu, đã tỏ ra vững vàng, có năng lực và có bản lĩnh. Phải mạnh dạn bổ sung vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý những cán bộ có trình độ khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ đã trưởng thành trong thực tiễn, có phẩm chất tốt, có năng lực tổ chức tương xứng với nhiệm vụ. Tuy nhiên, phải tỉnh táo, không để những phần tử cơ hội, xu thời len lỏi vào đội ngũ cán bộ ấy.

 

ở những cơ quan, bộ phận chuyên trách về khoa học, kỹ thuật nhất thiết phải bố trí những cán bộ có kiến thức và năng lực về khoa học, kỹ thuật phụ trách. Những địa phương, đơn vị thiếu cán bộ lãnh đạo và quản lý, không đủ sức làm tròn nhiệm vụ, cần được bổ sung những cán bộ có năng lực từ nơi khác đến. Cần kiên quyết đưa về hưu những đồng chí đến tuổi mà sức yếu, năng lực hạn chế, đồng thời thực hiện đầy đủ chế độ đối với cán bộ về hưu và thi hành tốt các chính sách về đãi ngộ vật chất và tổ chức tốt sinh hoạt về chính trị cho các đồng chí đó. Tình trạng một số đồng chí tuổi già sức yếu, năng lực hạn chế vẫn không chịu về hưu, e ngại cán bộ mới, trẻ không đủ vững vàng, không thể thay thế mình được là không có lý do chính đáng và căn cứ thực tế. Tre già măng mọc là một quy luật khách quan, làm trái quy luật ấy thì không thể xây dựng được Đảng, xây dựng được tổ chức.

 

Vì lợi ích của cách mạng, chính sách cán bộ của Đảng là luôn luôn phải coi trọng việc mạnh dạn cất nhắc cán bộ trẻ, cán bộ mới, kết hợp đúng đắn giữa cán bộ cũ với cán bộ mới, cán bộ già và cán bộ trẻ, vừa để đáp ứng những nhiệm vụ trước mắt, vừa để bảo đảm tính kế thừa trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu lâu dài.

 

Tình trạng cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý chừng nào bị hẫng ở nhiều cơ quan, nhiều cấp, nhiều ngành hiện nay, chính là do chúng ta chưa làm tốt việc đó.

 

Những nhận thức lệch lạc như đánh giá không đúng phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ mới, cán bộ trẻ xuất hiện trong phong trào, đề bạt cán bộ theo kiểu xếp đặt ngôi thứ, "sống lâu lên lão làng", lấy quá trình cống hiến làm thước đo chính về phẩm chất và năng lực của cán bộ, bố trí, đề bạt cán bộ chỉ vì để đoàn kết, vì con người mà không vì yêu cầu công tác v.v. tuy đã được phê phán nhiều nhưng vẫn còn là một trở ngại lớn cho công tác cán bộ.

 

Tình hình đó cùng với những thiếu sót trong công tác quản lý cán bộ, việc không nắm chắc thực chất của cán bộ và những chính sách, chế độ đãi ngộ chưa thoả đáng càng làm cho việc đổi mới từng bộ phận đội ngũ cán bộ lãnh đạo và quản lý gặp nhiều khó khăn.

 

Cần làm cho mỗi cán bộ thấu suốt chính sách cán bộ để đấu tranh kiên quyết chống những tàn tích tư tưởng phong kiến còn tồn tại trên đây và chống bệnh quan liêu trong công tác quản lý cán bộ. Cần tích cực phát hiện và thật sự coi trọng những tài năng mới để đề bạt vào các cương vị lãnh đạo đúng lúc, đúng chỗ.

 

Một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của người lãnh đạo là lựa chọn và đào tạo cho Đảng được nhiều cán bộ tốt, kể cả việc chuẩn bị sẵn sàng để khi cần có cán bộ đủ sức kế tục cương vị lãnh đạo của mình. Phải biết tìm tòi, phát hiện những tài năng mới, dám giao cho họ những trách nhiệm nặng hơn, tạo cho họ những điều kiện thuận lợi để phát huy khả năng và trưởng thành mau chóng. Đồng thời, phải tổ chức đào tạo cán bộ mới trên quy mô lớn một cách có hệ thống: một mặt, phải đưa hàng loạt cán bộ, thanh niên công nhân, nông dân ưu tú, bộ đội đã trải qua thử thách trong sản xuất và chiến đấu đi học tập văn hoá, chính trị, khoa học, kỹ thuật, mặt khác, phải đưa những cán bộ khoa học, kỹ thuật, đã qua thực tiễn sản xuất, chiến đấu, có triển vọng về công tác lãnh đạo, quản lý, đi học tập về chính trị và quản lý. Tất cả những việc đó không thể làm một cách chắp vá mà phải nhìn xa, có quy hoạch, có kế hoạch lâu dài.

 

Đồng thời, Đảng cần có chính sách đầy đủ đối với cán bộ cũ, sửa chữa những thiếu sót ở một số đảng bộ trong việc chấp hành chính sách đối với cán bộ cũ. Cần khắc phục tình trạng sử dụng không đúng chỗ và nhất là tình trạng chỉ sử dụng mà không bồi dưỡng cho nên nhiều cán bộ cũ sớm bị cùn đi, không thích ứng nổi với nhiệm vụ của giai đoạn mới; đó là sự lãng phí nghiêm trọng những nguồn vốn quý báu nhất của cách mạng.

 

Cán bộ cũ và mới, cán bộ già, cán bộ trẻ cần đoàn kết với nhau để hoàn thành nhiệm vụ chung. Phải học tập lẫn nhau, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Cán bộ cũ phải đặt cho mình nghĩa vụ đào tạo cán bộ mới, ủng hộ và giúp đỡ cán bộ mới. Về phần mình, cán bộ mới, trẻ phải khiêm tốn, tôn trọng cán bộ cũ, chống mọi biểu hiện kiêu căng, tự mãn.

 

Đảng cần có chính sách đúng đối với cán bộ khoa học, kỹ thuật, văn học, nghệ thuật. Đội ngũ cán bộ này giữ vị trí trọng yếu trong cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong đội ngũ ấy có nhiều anh chị em đã được rèn luyện, thử thách trong kháng chiến chống đế quốc, trong ba cuộc cách mạng, nhiều anh chị em xuất thân từ công nông, con em công nông, cán bộ. Đảng coi trọng phát huy đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật đúng với vị trí then chốt của cách mạng khoa học - kỹ thuật trong ba cuộc cách mạng. Chú trọng bồi dưỡng, sử dụng, cất nhắc những cán bộ có triển vọng, có cống hiến; ngoài việc mạnh dạn cất nhắc một số vào các cương vị lãnh đạo và quản lý, cần bố trí những cán bộ ưu tú vào các cương vị phụ trách chuyên môn, khoa học, kỹ thuật, đưa nhiều anh chị em xuống chỉ đạo kỹ thuật ở cấp huyện và cơ sở, đào tạo nhiều cán bộ kỹ thuật cho cơ sở. Chú trọng sử dụng anh chị em theo đúng ngành nghề, và bồi dưỡng một cách toàn diện cả về chính trị và chuyên môn, qua học tập lý thuyết và rèn luyện trong thực tế. Chú trọng phát hiện bồi dưỡng, sử dụng nhân tài, có chính sách khuyến khích về tinh thần và vật chất, tạo điều kiện cho anh chị em đi sâu vào nghiên cứu và chỉ đạo khoa học, kỹ thuật, phát minh sáng chế, vừa tiếp thu và phát huy kinh nghiệm tiên tiến trong nước, vừa nắm vững và vận dụng được khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới, đáp ứng các yêu cầu trước mắt và lâu dài của cách mạng khoa học - kỹ thuật ở nước ta.

 

Những cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật ở miền Nam trước đây làm việc trong bộ máy chính quyền cũ, trừ một số ít là phần tử phản động, ác ôn, cam tâm làm tay sai cho giặc Mỹ, còn hoặc nhiều hoặc ít đều có tinh thần dân tộc. Ngày nay miền Nam được hoàn toàn giải phóng, những anh chị em này cũng được giải phóng khỏi sự nô dịch của đế quốc Mỹ và tay sai, nay đã có dịp đem hết sức lực và tài năng phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chúng ta thành tâm giúp đỡ anh chị em đó cải tạo tiến bộ về chính trị, tư tưởng, tạo điều kiện để anh chị em làm việc và cống hiến được nhiều nhất cho đất nước, sớm trở thành trí thức xã hội chủ nghĩa.

 

Kháng chiến đã thắng lợi, một số khá đông cán bộ quân đội đang và sẽ được chuyển sang công tác ở ngành khác. Các cấp uỷ Đảng trong quân đội khi điều động cán bộ phải chú trọng đáp ứng yêu cầu của Đảng. Những kinh nghiệm về tổ chức và lãnh đạo mà cán bộ đã tích luỹ trong thời gian ở quân đội là rất quý; tuy nhiên cần bồi dưỡng cho anh em những kiến thức theo yêu cầu của nhiệm vụ mới được giao. Cần sắp xếp công tác thích hợp để anh em có thể cống hiến được tốt nhất, chú trọng cất nhắc kịp thời những đồng chí có phẩm chất, năng lực, rất coi trọng đào tạo vợ con liệt sĩ thành cán bộ lãnh đạo và quản lý. Các ngành, các địa phương phải chấp hành đúng chính sách của Đảng đối với cán bộ quân đội chuyển ngành, sẵn sàng tiếp nhận những cán bộ được Đảng và Nhà nước điều động về, có kế hoạch bồi dưỡng, đào tạo các đồng chí đó, coi đó là một nghĩa vụ, một biện pháp để quán triệt chính sách cán bộ của Đảng.

 

Điều động cán bộ cho các tỉnh phía Nam, đáp ứng đến mức cao nhất nhu cầu về cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật, nghiệp vụ và cả cán bộ lãnh đạo cho các địa phương đó. Ngược lại, cần điều động một số cán bộ ở các địa phương phía Nam để tăng cường cho các bộ, các ngành trung ương, làm cho các cơ quan trung ương sát hơn với thực tiễn chung của cả nước. Việc điều động cán bộ, bố trí cán bộ phải xuất phát từ lợi ích chung của cách mạng, căn cứ vào tiêu chuẩn cán bộ là chính, không được chỉ vì ích lợi riêng của từng người, lợi ích cục bộ của từng địa phương. Cán bộ phải phục tùng sự điều động của tổ chức, không thể viện lý do này hay lý do khác để từ chối trách nhiệm được giao, dù ở địa phương hay ở trung ương, ở địa phương này hay ở địa phương khác.

 

Trong đội ngũ cán bộ, Đảng ta luôn coi trọng việc bồi dưỡng, đào tạo, cất nhắc cán bộ người dân tộc ít người, cán bộ nữ, kể cả cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, và cán bộ khoa học, kỹ thuật. Song việc này ở nhiều nơi vẫn chưa chấp hành tốt. Phải quan tâm hơn nữa mở rộng đội ngũ cán bộ người dân tộc ít người, cán bộ nữ; có quan điểm giai cấp và quan điểm quần chúng chính xác để đánh giá đúng phẩm chất và năng lực của các cán bộ ấy, mạnh dạn đề bạt những người xứng đáng vào các cương vị lãnh đạo và quản lý.

 

Đảng và Nhà nước ta quý trọng và sử dụng mọi khả năng có ích cho sự nghiệp chung, không phân biệt là đảng viên hay người ngoài Đảng. Trong cơ quan nhà nước và trong các đoàn thể, mọi người đều được sử dụng và đánh giá theo phẩm chất và năng lực của họ, qua sự cống hiến của mỗi người cho cách mạng, cho nhân dân. Cán bộ là đảng viên phải đoàn kết với cán bộ là người ngoài Đảng để cùng giúp đỡ nhau hoàn thành nhiệm vụ, không được có đầu óc hẹp hòi, biệt phái.

 

3. Trên cơ sở những quan điểm và chính sách chung trên đây phải cải tiến công tác cán bộ một cách toàn diện và nâng cao chất lượng các mặt nghiệp vụ công tác cán bộ, nghiên cứu tốt các chính sách, chế độ cụ thể.

 

Phải đi từ xây dựng tổ chức, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu, biên chế của từng tổ chức và tiêu chuẩn từng loại cán bộ trong tổ chức ấy mà xem xét đánh giá cán bộ hiện có và điều động, bố trí cán bộ. Một khi đã xác định cơ cấu tổ chức hợp lý thì việc bố trí cán bộ phải phục tùng, phải phục vụ bằng được yêu cầu ấy. Không nên điều động cán bộ một cách tuỳ tiện.

 

Phải bố trí cân đối, đồng bộ giữa các loại cán bộ, giữa cấp trên và cấp dưới. Rất coi trọng tăng cường cán bộ cho cơ sở, nhất là cho các đô thị và nông thôn vùng mới được giải phóng. Vừa phải kiện toàn các cơ quan lãnh đạo, vừa rất coi trọng xây dựng những cơ quan tham mưu mạnh; vừa chăm lo bố trí những cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý vững vàng, vừa quan tâm phát hiện và sử dụng những chuyên gia giỏi trên từng lĩnh vực hoạt động.

 

Việc bố trí, điều động cán bộ phải đi vào quy hoạch, kế hoạch trước mắt và lâu dài. Phải căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, nhiệm vụ tổ chức, vào sự phân tích đội ngũ cán bộ hiện có mà đáp ứng nhu cầu cán bộ hiện nay đến mức cao nhất. Đồng thời phải tiến hành lựa chọn và lập danh sách cán bộ dự bị để chủ động chuẩn bị đáp ứng nhu cầu bố trí, đề bạt cán bộ trong những năm tới. Phải căn cứ vào khả năng phát triển của từng người mà có ý đồ đào tạo và bố trí cho đúng; lại phải thường xuyên kiểm tra, bổ sung và sàng lọc cán bộ dự bị qua thực tiễn phong trào. Trong việc bố trí, sử dụng cán bộ, cần chú trọng ổn định công tác theo yêu cầu chuyên môn hoá cán bộ.

 

Phương pháp lựa chọn, đề bạt cán bộ phải dân chủ, công khai. Bầu cử các cơ quan lãnh đạo của Đảng và Nhà nước phải thật sự dân chủ. Ngay việc bổ nhiệm các chức vụ quản lý cũng phải tiến hành trên cơ sở dân chủ, lắng nghe ý kiến của quần chúng, đảng viên bên dưới, và có sự tham gia ý kiến của đảng uỷ, chi uỷ cơ quan. Cần rút kinh nghiệm để mở rộng việc áp dụng phương pháp lựa chọn, đề bạt cán bộ, kết hợp việc cán bộ, nhân viên trong đơn vị ấy bỏ phiếu đề cử, với việc cấp trên ra nghị quyết bổ nhiệm.

 

Đẩy mạnh và cải tiến các biện pháp đào tạo cán bộ để nâng cao chất lượng công tác này hơn nữa.

 

Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt quy hoạch cán bộ là một biện pháp đặc biệt trọng yếu có tính chất quyết định để tăng cường công tác cán bộ về mọi mặt.

 

Phải có quy hoạch, kế hoạch cụ thể, tỷ mỷ để mở rộng đào tạo cán bộ mới một cách cơ bản có hệ thống, đi đôi với chăm lo bồi dưỡng cán bộ hiện có bằng nhiều hình thức. Chú trọng đào tạo cán bộ cho các địa phương phía Nam; vừa khẩn trương đào tạo, bồi dưỡng cán bộ đương giữ chức vụ lãnh đạo và quản lý mà hầu hết những đồng chí này đã qua rèn luyện vững vàng, nhưng thiếu kiến thức văn hoá, thiếu lý luận và khả năng quản lý kinh tế, quản lý nhà nước, vừa lựa chọn số đồng chí ưu tú còn trẻ tuổi đưa đi học tập một cách cơ bản. Tích cực đào tạo, bồi dưỡng cán bộ các dân tộc ít người và cán bộ người miền xuôi lên công tác ở miền núi. Ra sức đào tạo, bồi dưỡngcán bộ nữ để có điều kiện đưa thêm nhiều cán bộ nữ vào các cơ quan lãnh đạo và quản lý.

 

Việc đào tạo cán bộ phải quán triệt yêu cầu của nhiệm vụ kế hoạch nhà nước ngắn hạn và dài hạn; phải trên tiêu chuẩn cán bộ và yêu cầu công tác mà định mục tiêu, nội dung, phương pháp, biện pháp đào tạo, tránh chỉ nhìn mặt bồi dưỡng lý luận hoặc khoa học cơ bản mà không coi trọng năng lực tổ chức thực tiễn, chỉ chú trọng chuyên môn, nghiệp vụ mà xem nhẹ giáo dục chính trị, tư tưởng hoặc ngược lại; tránh chỉ đào tạo, bồi dưỡng bằng học trong sách vở mà không chú trọng rèn luyện trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, trong sinh hoạt của chi bộ, chi đoàn và các đoàn thể chính trị khác.

 

Tăng cường hơn nữa tổ chức quản lý cán bộ. Đảng phải lãnh đạo chặt chẽ công tác cán bộ, phải quy định thống nhất đường lối, phương châm, chính sách lớn về công tác cán bộ và kiểm tra việc thực hiện. Các cấp uỷ Đảng xem xét và quyết định việc lựa chọn, bố trí cán bộ chủ chốt ở các ngành, các cấp. Đồng thời, phải đề cao trách nhiệm của Nhà nước và các đoàn thể quần chúng trong việc quản lý số cán bộ hoạt động ở những cơ quan ấy, bảo đảm việc quản lý cán bộ gắn liền với việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị. Những việc quan trọng về công tác cán bộ phải do tập thể cấp uỷ, tập thể Ban cán sự, Đảng đoàn (trong đó các đồng chí thủ trưởng cơ quan tham gia) quyết định. Đồng thời đồng chí bí thư cấp uỷ và thủ trưởng các ngành, các đơn vị phải đích thân chỉ đạo công tác cán bộ. Làm như vậy là cần thiết để bảo đảm cho cấp uỷ Đảng nắm chắc tổ chức và việc bố trí, sử dụng, đề bạt, điều động cán bộ được chính xác, ít bị sai sót, bảo đảm đoàn kết thống nhất trong Đảng, ngăn ngừa có hiệu quả tệ độc đoán, chuyên quyền, chủ nghĩa cá nhân, tệ bè phái và chủ nghĩa cơ hội trong các cơ quan của Đảng và Nhà nước.

 

Trong điều kiện mới của đất nước thống nhất, việc phân cấp và phân công quản lý cán bộ phải phù hợp với sự phát triển của nhiệm vụ chính trị và của đội ngũ cán bộ, vừa bảo đảm cho cơ quan lãnh đạo cấp trên thống nhất quản lý chặt chẽ số cán bộ chủ chốt, vừa tăng cường quyền hạn, trách nhiệm của cấp dưới để việc quản lý cán bộ được sát và kịp thời. Phải phân công trách nhiệm giữa cấp trên và cấp dưới trực tiếp sử dụng cán bộ, giữa ngành trung ương và cấp uỷ địa phương cho rõ ràng, hợp lý và bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ trong công tác quản lý cán bộ. Tăng cường trách nhiệm của chi bộ, đảng bộ cơ quan trong việc quản lý cán bộ. Phải xây dựng và thực hiện có nền nếp các chế độ, thủ tục về quản lý cán bộ, bao gồm quản lý đội ngũ cán bộ, quản lý từng cán bộ, các chế độ tuyển dụng, điều động, đề bạt cán bộ, chế độ nhận xét, chế độ xây dựng, bổ sung hồ sơ lý lịch, v.v. bảo đảm cho việc nắm cán bộ có hệ thống, cả về phẩm chất và năng lực, quá khứ và hiện tại một cách có nền nếp, khoa học.

Cần chăm lo săn sóc đời sống và sức khoẻ cán bộ. Phải trên cơ sở xác định rõ hơn nữa vị trí mới của từng cấp, nhất là các cấp huyện, cơ sở lớn và của từng ngành, nhất là các ngành trọng điểm mà cải tiến chế độ tiền lương, các thang bậc lương, quán triệt hơn nữa nguyên tắc phân phối theo lao động, góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng. Đồng thời có chế độ thoả đáng đối với cán bộ cũ, cán bộ có nhiều cống hiến qua hai cuộc kháng chiến nhưng sức khoẻ và năng lực làm việc hiện nay có hạn; bổ sung những chế độ cần thiết đối với cán bộ hoạt động ở miền núi, có chính sách bồi dưỡng và đãi ngộ tốt hơn nữa đối với cán bộ cơ sở xã, phường, săn sóc chu đáo con cái những cán bộ, đảng viên đã hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước... Cần nghiên cứu chính sách cụ thể để áp dụng chế độ thâm niên đối với cán bộ, khắc phục tình trạng nâng lương theo tỷ lệ cố định không căn cứ vào sự phát triển tài năng của cán bộ. Các chế độ, chính sách đãi ngộ của Nhà nước vừa phải thể hiện sự chăm sóc sức khoẻ và đời sống của cán bộ trong điều kiện cho phép, vừa phải góp phần vào việc giữ gìn phẩm chất cách mạng tốt đẹp của người đảng viên, người cán bộ cách mạng, nêu cao lối sống cần kiệm giản dị, phát huy tinh thần đồng cam cộng khổ giữa cán bộ và quần chúng, giữa cấp trên và cấp dưới.

 

VIII


Xây dựng Đảng, chấp hành đúng điều lệ đảng là nhiệm vụ của toàn đảng

 

Bước vào giai đoạn cách mạng mới, phải xác định rõ, phải đặt rất cao vị trí của công tác xây dựng Đảng. Đó là vì nhiệm vụ cách mạng càng nặng nề, phức tạp, phong trào quần chúng càng rộng lớn thì vai trò của Đảng càng quan trọng, trách nhiệm của Đảng càng tăng lên, Đảng càng phải nâng cao sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của mình. Bất kỳ một sự lơi lỏng nào trong công tác xây dựng Đảng, làm trái Điều lệ của Đảng đều gây tổn hại đến vai trò lãnh đạo của Đảng, đến sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, chẳng những chỉ trước mắt mà thậm chí còn để lại những hậu quả xấu lâu dài về sau.

 

Xây dựng Đảng, chấp hành đúng Điều lệ Đảng là nhiệm vụ chung của toàn Đảng. Mọi đảng viên dù hoạt động ở ngành nào, dù giữ những chức vụ gì cũng đều có nghĩa vụ chung là xây dựng Đảng, đều phải nghiêm chỉnh thi hành Điều lệ của Đảng.

 

Cần đặc biệt nhấn mạnh: lãnh đạo công tác xây dựng Đảng theo đúng Điều lệ Đảng là một chức năng cơ bản của cấp uỷ Đảng, là một bộ phận khăng khít và rất trọng yếu trong nội dung lãnh đạo toàn diện của các cấp uỷ Đảng. Nếu chỉ lo lãnh đạo sản xuất và công tác chuyên môn mà buông lỏng công tác xây dựng Đảng, không biết kết hợp chặt chẽ hai mặt công tác đó là không làm đúng chức năng của một cấp uỷ Đảng và cũng là tự biến mình thành một cơ quan kinh tế chuyên môn mà thôi. Cũng sẽ sai lầm nếu quan niệm xây dựng Đảng chỉ như một biện pháp cụ thể để bảo đảm hoàn thành từng nhiệm vụ sản xuất, chuyên môn trước mắt giống như các biện pháp kinh tế, kỹ thuật. Đương nhiên, công tác xây dựng Đảng và việc thi hành Điều lệ Đảng không có mục tiêu nào khác hơn là bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của Đảng. Song mặt khác, mỗi bước tiến lên của việc thực hiện nhiệm vụ chính trị phải đồng thời là một bước mới tăng cường sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị, phải chăm lo xây dựng Đảng làm cho Đảng lớn mạnh, có đầy đủ tính chất một đảng kiểu mới của giai cấp công nhân, vững vàng lãnh đạo nhân dân ta tiến tới mục tiêu xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, giữ vững độc lập, thống nhất của Tổ quốc. Xét về ý nghĩa của nó đối với tiền đồ và vận mệnh lâu dài của Đảng, đối với vai trò lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp cách mạng, thì công tác xây dựng Đảng rõ ràng vừa là nhiệm vụ tổ chức, vừa là nhiệm vụ chính trị vô cùng quan trọng, một nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược lớn lao, có tính chất quyết định đối với mọi thắng lợi của cách mạng. Điều đó đòi hỏi các cấp uỷ không thể quan niệm công tác xây dựng Đảng một cách tủn mủn, hẹp hòi, mà phải đặt đúng vị trí và nội dung của nó trong toàn bộ sự lãnh đạo của mình.

 

Có ý thức đúng rồi, lại còn phải có đầy đủ kiến thức về công tác xây dựng Đảng thì các cấp uỷ mới có thể nâng cao chất lượng công tác này. Xây dựng Đảng là một môn khoa học. Để làm tốt công tác này, chúng ta phải trang bị cho mình những kiến thức phong phú và có hệ thống, đó là những nguyên lý về xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin, đường lối, phương châm xây dựng Đảng ta, các nguyên tắc, chính sách của Đảng trên các lĩnh vực công tác tư tưởng và tổ chức, các chế độ và phương pháp tiến hành từng mặt công tác xây dựng Đảng... Thêm nữa phải có những hiểu biết rất sâu rộng về triết học, chính trị, kinh tế, xã hội, phải hiểu lịch sử phong trào cộng sản thế giới và lịch sử cách mạng Việt Nam, hiểu về dân tộc và con người Việt Nam, hiểu công việc quản lý nhà nước của các ngành khác nhau,...

 

Thực tiễn xây dựng Đảng lại đang không ngừng phát triển, nhiều vấn đề mới đã và đang đặt ra đòi hỏi phải được soi sáng. Vì vậy, phải đi sâu nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm, vận dụng sáng tạo những nguyên lý chung vào thực tiễn Việt Nam, phát triển hơn nữa lý luận xây dựng Đảng.

 

Đảng đòi hỏi cán bộ, đảng viên, bên cạnh việc nâng cao trình độ hiểu biết về lý luận, về đường lối, chính sách, về văn hoá, kỹ thuật, quản lý, phải ra sức học tập nâng cao hiểu biết về công tác xây dựng Đảng. Các trường Đảng và các cơ quan có trách nhiệm phải làm tốt việc biên soạn sách giáo khoa và giảng dạy về công tác xây dựng Đảng.

 

Sau nữa, phải sắp xếp tổ chức và cải tiến lề lối làm việc để có thể chỉ đạo công tác xây dựng Đảng tốt hơn.

 

Trong các Ban thường vụ cấp uỷ, phải cải tiến cách phân công và lề lối làm việc để đồng chí bí thư và phó bí thư thường trực có thể dành nhiều thì giờ chỉ đạo công tác xây dựng Đảng.

 

Đối với các nghị quyết của Đại hội và của Trung ương về công tác xây dựng Đảng, cấp uỷ phải nghiên cứu chu đáo, các đồng chí bí thư và thường vụ phải đích thân chỉ đạo một nơi lấy kinh nghiệm thực tế lãnh đạo chung và để thiết thực bồi dưỡng ngay cho các đồng chí trong cấp uỷ. Các uỷ viên Ban chấp hành phụ trách các ngành chuyên môn, nói chung cũng phải được phân công làm một số công việc về xây dựng Đảng, chăm lo gắn chặt công tác xây dựng Đảng với công tác chuyên môn ngay trong ngành ấy.

 

Cần kiện toàn các Ban tổ chức, tuyên huấn, Uỷ ban kiểm tra về bộ máy, về con người, về chế độ và phương pháp làm việc để xứng đáng là tham mưu của cấp uỷ về công tác xây dựng Đảng. Cấp uỷ, trước hết là đồng chí bí thư và phó bí thư thường trực, phải chỉ đạo chặt chẽ các ban này, giúp họ quán triệt nhiệm vụ chính trị, thường kỳ nghe báo cáo, kiểm tra công tác và chỉ ra phương hướng hoạt động của họ, chỉ đạo việc kết hợp ba ban đó trong công tác xây dựng Đảng, cũng như kết hợp giữa ba ban ấy với các ban, các ngành khác để gắn chặt công tác xây dựng Đảng với nhiệm vụ chính trị. Từng ban phải cải tiến cách làm việc của mình, bảo đảm nhạy cảm hơn, gắn chặt hơn nữa công tác nghiên cứu, kiểm tra và tổ chức chỉ đạo công tác xây dựng Đảng với phong trào quần chúng thực hiện nhiệm vụ chính trị của Đảng.

 

Toàn bộ công tác xây dựng Đảng phải được tiến hành trên cơ sở Điều lệ Đảng, bộ luật chung của toàn Đảng.

 

Trong Đảng không thể có tình hình đảng viên không nghiên cứu Điều lệ Đảng, không tuân thủ nghiêm ngặt Điều lệ Đảng, và không đấu tranh với những hiện tượng vi phạm Điều lệ Đảng.

 

Bản Điều lệ Đảng, Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đại hội thông qua sẽ là văn kiện thiết yếu của mọi đảng viên. Những nguyên tắc cơ bản về xây dựng Đảng, các chương, các điều của bản Điều lệ đã được toàn Đảng thảo luận, đóng góp ý kiến, đều phản ánh những nguyên tắc lêninnít về đảng kiểu mới được vận dụng sát với điều kiện cụ thể của Đảng ta, phản ánh những kinh nghiệm quý báu của Đảng ta từ trước đến nay, và thể hiện những bước trưởng thành mới của Đảng từ sau Đại hội toàn quốc lần thứ III đến nay. Những điều mới được bổ sung vào Điều lệ nói lên quyết tâm của toàn Đảng xây dựng Đảng ta luôn luôn là một đảng Mác - Lênin xứng đáng với lòng tin cậy của giai cấp công nhân và nhân dân ta, với sự đồng tình, ủng hộ của các đảng anh em và bè bạn khắp năm châu.

 

Chính vì những lý do đó, chương cuối cùng của dự thảo Điều lệ (sửa đổi) đã ghi rõ: "Mọi đảng viên và tổ chức của Đảng đều phải nghiên cứu kỹ lưỡng và nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng, kịp thời đấu tranh chống mọi hiện tượng vi phạm Điều lệ Đảng".

Thưa các đồng chí,

 

Nhìn lại bước đường đã qua, chúng ta vô cùng tự hào về Đảng ta, về những chặng đường đầy gian lao thử thách mà Đảng ta đã vượt qua, về những gì Đảng đã cống hiến cho sự nghiệp cách mạng của giai cấp, của dân tộc. Cùng với lịch sử chiến đấu kiên cường và thắng lợi vinh quang của mình, Đảng đã không ngừng lớn mạnh, sự lãnh đạo của Đảng ngày càng già dặn, vững vàng.

Trên chặng đường mới, những nhiệm vụ cách mạng vô cùng vẻ vang và cũng rất nặng nề đang chờ đón chúng ta. Sau khi đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ "đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào", chúng ta đang ra sức tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước, biến thành hiện thực điều mong muốn cuối cùng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là "xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới".

 

Đảng ta quyết không ngừng vươn lên, phát huy những truyền thống tốt đẹp, củng cố đội ngũ, tăng cường sức chiến đấu, nâng cao năng lực lãnh đạo, hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình trong giai đoạn mới. Đảng ta quyết mãi mãi xứng đáng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ thiên tài của Đảng, của giai cấp công nhân và nhân dân ta, người anh hùng dân tộc vĩ đại, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào cộng sản quốc tế; xứng đáng với những hy sinh cao cả của các anh hùng, liệt sĩ, của biết bao đồng chí, đồng bào trong mấy chục năm chiến đấu đã qua. Đảng ta quyết tiến lên, làm tròn nhiệm vụ trong giai đoạn mới, xứng đáng với lòng tin yêu của nhân dân cả nước, đáp lại những tình cảm tốt đẹp của nhân dân cách mạng thế giới đối với dân tộc ta, với Đảng ta.

 

Đảng Cộng sản Việt Nam:


Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng


và sửa đổi Điều lệ Đảng,
 Nxb. Sự thật,


Hà Nội, 1977.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Chính thức bỏ chế độ “viên chức suốt đời” từ 1/7/2020

(ĐCSVN) – Chiều ngày 25/11, Quốc hội tiến hành biểu quyết thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức với 426/454 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, chiếm 88,20% tổng số đại biểu Quốc hội....

Quốc hội chốt lộ trình tăng tuổi nghỉ hưu 60 với nữ, 62 với nam

(ĐCSVN) – Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035....

Ban hành Quy định Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền

(ĐCSVN) – Thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Quy định số 205-QĐ/TW của Bộ Chính trị, ngày 23/9/2019 về việc Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền.

Bộ Chính trị kết luận về độ tuổi tái cử nhiệm kỳ 2020 - 2025

(ĐCSVN) - Thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Trần Quốc Vượng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư vừa ký ban hành Kết luận số 60-KL/TW về độ tuổi tái cử chính quyền và trình độ chuyên môn, lý luận chính trị đối với nhân sự...

Coi trọng chất lượng cấp ủy trong xây dựng nhân sự khóa mới

(ĐCSVN) - Cấp ủy các cấp tiến hành xác định tiêu chuẩn, cơ cấu, số lượng cấp ủy viên đối với từng địa bàn, lĩnh vực công tác quan trọng theo phương châm: Phải coi trọng chất lượng cấp ủy, không vì cơ cấu mà hạ thấp tiêu chuẩn và...

Liên kết website