Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI Đảng về bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, sau khi thảo luận Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương đề nghị bổ sung và sửa đổi một số điểm cụ thể trong Điều lệ Đảng, đã nhất trí tán thành những điểm bổ sung và sửa đổi cụ thể trong Điều lệ Đảng như sau:

I - PHẦN: ĐẢNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ XÂY DỰNG ĐẢNG

Sửa đoạn nói về phương châm xây dựng đảng: "Phải gắn liền việc xây dựng đảng với việc kiện toàn tổ chức và nâng cao năng lực của Nhà nước và với việc xây dựng, củng cố các tổ chức quần chúng" (Điều lệ, trang 16) như sau:

"Phải gắn liền việc xây dựng đảng với việc kiện toàn tổ chức, nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý của Nhà nước, và với việc xây dựng, củng cố các tổ chức quần chúng, các tập thể lao động".

II-CHƯƠNG I: ĐẢNG VIÊN

1- Sửa lại điều 1 nói về điều kiện và tiêu chuẩn đảng viên như sau: 
Điều 1: Những công dân Việt Nam từ 18 tuổi trở lên, có lao động, không bóc lột, thừa nhận và nguyện tích cực phấn đấu để thực hiện đường lối chính trị và Điều lệ của Đảng, nguyện hoạt động trong một tổ chức cơ sở đảng, phục tùng kỷ luật của Đảng, sẵn sàng nhận mọi nhiện vụ Đảng giao và đóng đảng phí theo quy định, đều có thể được xét để công nhận là đảng viên.

Người được công nhận là đảng viên phải là người trải qua rèn luyện trong phong trào cách mạng đã chứng tỏ là người ưu tú nhất trong quần chúng, có đủ các tiêu chuẩn sau đây: có giác ngộ về lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, có động cơ vào Đảng đúng đắn; trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội; gương mẫu và phát huy tác dụng tích cực trong lao động sản xuất, công tác, chiến đấu và học tập; có liên hệ chặt chẽ với quần chúng, được quần chúng tín nhiệm".

2- Điều 2: Về nhiệm vụ đảng viên:

-Về nhiệm vụ thứ nhất, sửa đoạn nói về vai trò gương mẫu của đảng viên (Điều lệ, trang 20) như sau:

"Phải gương mẫu trong lao động sản xuất, cải tạo và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, gương mẫu trong công tác, chiến đấu và học tập; đi đầu trong tiếp thụ và ứng dụng tiến bộ khoa học và kỹ thuật; tìm mọi cách tăng năng suất lao động, tăng hiệu suất công tác, hiệu quả chiến đấu; tích cực bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, của nhân dân, chống vô trách nhiệm, lãng phí, tham ô".

-Về nhiệm vụ thứ hai, sửa đoạn nói về sự rèn luyện của đảng viên (Điều lệ, trang 21) như sau:

"Phải thường xuyên tự rèn luyện về mọi mặt, thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, kịp thời sửa chữa những thiếu sót trong công tác và về phẩm chất cách mạng; đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chống thoái hoá biến chất và mọi biểu hiện tiêu cực trong lối sống".

-Về nhiệm vụ thứ ba, sửa đoạn nói về tuyên chuyền, vận động quần chúng, và đoạn nói về xây dựng chính quyền (điều lệ, trang 22) như sau:

"Phải thường xuyên làn công tác tuyên truyền, vận động gia đình và quần chúng thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, mệnh lệnh, độc đoán, chuyên quyền, xa rời thực tế, xa rời quần chúng.

Phải ra sức xây dựng chính quyền, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức quần chúng, nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật Nhà nước, kỷ luật của các đoàn thể cách mạng mà mình tham gia".

3- Sửa lại điều 5 và thời kỳ dự bị của đảng viên như sau:

"Điều 5: Về thời kỳ dự bị quy định như sau:

1. Thời gian dự bị là 12 tháng.

2. Thời kỳ dự bị tính từ ngày chi bộ tuyên bố kết nạp vào Đảng.

3...(như cũ)".

 4- Sửa lại điều 8, đoạn nói về đảng viên xin ra khỏi Đảng (Điều lệ, trang 33) như sau:

"Nếu đảng viên xin ra khỏi Đảng thì chi bộ quyết định cho ra khỏi Đảng và báo cáo lên cấp trên cho đến cấp chuẩn y kết nạp đảng viên để kiểm tra lại".

III - CHƯƠNG II: VỀ NGUYÊN TẮC TẬP TRUNG DÂN CHỦ VÀ HỆ THỐNG TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG

1- Điều 12: (Điều lệ, trang 39) Bổ sung vào Điều lệ một chương nói về tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong các lực lượng vũ trang nhân dân như sau:

"Chương VI: tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong các lực lượng vũ trang nhân dân

Điều 37
Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, tập chung thống nhất về mọi mặt của Đảng theo một quy chế chặt chẽ do Ban Chấp hành Trung ương quy định.

Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam hoạt động theo Điều lệ Đảng và các nghị quyết, chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Phải thường xuyên chăm lo nâng cao bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân, xây dựng các lực lượng vũ trang trung thành vô hạn với Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội, tuyệt đối phục tùng sự lãnh đạo của Đảng, đoàn kết chặt chẽ chung quanh Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân lao động, nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật Nhà nước, đề cao kỷ luật tự giác, giữ gìn đoàn kết keo sơn trong nội bộ, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, hăng hái lao động xây dựng đất nước và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Điều 38:

Tổ chức đảng trong Quân đội nhân dân Việt Nam được tổ chức theo hệ thống dọc từ cơ sở đến toàn quân theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương. Ban Chấp hành Trung ương chỉ định Đảng uỷ quân sự trung ương. Đảng uỷ quân sự trung ương gồm một số uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương công tác trong quân đội và ngoài quân đội để lãnh đạo các mặt công tác đôí với toàn quân và giúp trung ương nghiên cứu, đề xuất các vấn đề về đường lối, nhiệm vụ quân sự, xây dựng và củng cố quốc phòng toàn dân... theo sự uỷ nhiệm và quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương. Đảng uỷ quân sự trung ương đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương mà thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư.

Ban Chấp hành đảng bộ các cấp do dân chủ bầu cử và được đảng uỷ cấp trên chuẩn y. Trong trường hợp đặc biệt, theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương thì do đảng uỷ cấp trên chỉ định.

Đảng uỷ các cấp có trách nhiệm lãnh đạo về mọi mặt các đơn vị thuộc quyền theo phạm vi chức năng và nội dung quy định cho từng cấp. Đảng uỷ quân khu còn có nhiệm vụ chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng toàn dân trên địa bàn quân khu. Các bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ, đặc khu uỷ trên địa bàn quân khu tham gia đảng uỷ quân khu.

Các cơ quan lãnh đạo của tổ chức đảng phải tuân thủ nghiêm ngặt nguyên tắc tập trung dân chủ, lãnh đạo tập thể đi đôi với phân công cá nhân phụ trách, bảo đảm chấp hành nghiêm túc nghị quyết của đảng uỷ, mệnh lệnh, chỉ thị của cơ quan chỉ huy cấp trên. Trên cơ sở bảo đảm sự lãnh đạo tập thể của tổ chức đảng, thực hiện chế độ một người chỉ huy ở tất cả các cấp trong quân đội.

Các tổ chức đảng và người chỉ huy trong các đơn vị quân đội nhân dân đống ở các địa phương phải tôn trọng và giữ mối quan hệ chặt chẽ với cấp uỷ đảng và chính quyền ở địa phương theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Ở mỗi cấp, có cơ quan chính trị và cán bộ chính trị đảm nhiệm công tác tư tưởng và công tác tổ chức của Đảng trong quân đội, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của cấp uỷ cấp mình và sự chỉ đạo của cơ quan chính trị cấp trên. Tổng cục chính trị là cơ quan chính trị của toàn quân, hoạt động dưới sự lãnh đạo của Ban Bí thư và sự lãnh đạo thường xuyên của Đảng uỷ quân sự Trung ương.

Ban Tổ chức trung ương, Ban Tuyên huấn trung ương và Uỷ ban Kiểm tra trung ương hướng dẫn và kiểm tra công tác xây dựng Đảng, công tác chính trị trong quân đội

Điều 39:

Tổ chức đảng ở cơ quan quân sự địa phương và các đơn vị bộ đội địa phương thành lập theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương. Tổ chức đảng ở cơ quan quân sự địa phương và đơn vị bộ đội địa phương đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, về mọi mặt của cấp uỷ địa phương, đồng thời chịu sự chỉ đạo của đảng uỷ quân sự cấp trên và sự hướng dẫn của cơ quan chính trị cấp trên theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.

Điều 40:

Tổ chức sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống an ninh và cảnh sát, và tổ chức của hệ thống an ninh do Ban Chấp hành Trung ương quy định"1.

2 - Bổ sung vào điều 13 của Điều lệ (trang 40) nói về bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng một đoạn như sau:

"Việc bầu cử cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng phải bảo đảm đầy đủ tính chất dân chủ và phải được chuẩn bị chu đáo để việc lựa chọn các thành viên được chính xác. Phải bảo đảm có sự đổi mới và bảo đảm tính kế thừa, tính liên tục trong Ban Chấp hành ".

IV - CHƯƠNG III: CƠ QUAN LÃNH ĐẠO CAO NHẤT CỦA ĐẢNG

Sửa lại điều 24 (Điều lệ, trang 51) như sau:

"Điều 23: Ban Chấp hành Trung ương họp hội nghị toàn thể cử ra Bộ Chính trị, Ban Bí thư, đồng thời cử Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương. Số uỷ viên Bộ Chính trị, và số bí thư do Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương quyết định. Ngoài số uỷ viên chính thức , Bộ Chính trị có một số uỷ viên dự khuyết.

Bộ Chính trị thay mặt Ban Chấp hành Trung ương lãnh đạo công tác của Đảng giữa hai kỳ Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương trên cơ sở các nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc và của Ban Chấp hành Trung ương.

Bộ Chính trị, thường kỳ và theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương, báo cáo công việc của mình trước Ban Chấp hành Trung ương.

Ban Bí thư lãnh đạo công việc hàng ngày của Đảng, nhất là công tác cán bộ, công tác đảng viên và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết của Đảng".

V - CHƯƠNG IV: TỔ CHỨC CỦA ĐẢNG Ở CẤP TỈNH, THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG, THÀNH PHỐ, THỊ XÃ, HUYỆN, QUẬN

1 - Sửa lại điều 27, đoạn nói về thời gian họp hội nghị toàn thể ban chấp hành thành phố, thị xã, huyện, quận (Điều lệ, trang 56) như sau:

"Hội nghị toàn thể ban chấp hành thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, huyện, quận thương lệ ba tháng họp hai lần. Trong trườn hợp cần thiết thì có thể họp bất thường".

2 - Sửa lại điều 29, đoạn nói về nhiệm vụ của bí thư, các phó bí thư (Điều lệ, trang 59) như sau:

"Điều 28: ...Bí thư và các phó bí thư căn cứ vào các nghị quyết của ban chấp hành, của ban thường vụ, các chỉ thị của cấp trên, giải quyết công việc hàng ngày của Đảng và tổ chức kiểm tra việc chấp hành các nghị quyết, chỉ thị ấy. Bí thư và các phó bí thư có chế độ làm việc tập thể dựa theo quy định chung của Ban Chấp hành Trung ương.

VI - CHƯƠNG V: TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG

1 - Bổ sung điều 30, đoạn nói về "Tổ chức cơ sở đảng ở xã bao gồm các tổ chức đảng hoạt động trong phạm vi một xã" ở điều này (Điều lệ, trang 62) như sau:

"Tổ chức cơ sở đảng ở xã, phường, thị trấn, bao gồm các tổ chức đảng hoạt động trong phạm vi một xã, một phường, một thị trấn".

2 - Sửa lại thời gian họp đại hội đại biểu hay đại hội đảng viên của tổ chức cơ sở đảng ở điều 32 (Điều lệ, trang 64) như sau:

"Đại hội đại biểu hay đại hội đảng viên của tổ chức cơ sở đảng có thành lập đảng uỷ cơ sở được triệu tập 5 năm hai lần ăn khớp với thời gian triệu tập đại hội đại biểu đảng bộ thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã, huyện, quận. Giữa hai kỳ đại hội, hàng năm đảng uỷ cơ sở mở hội nghị đại biểu gồm đại biểu do các chi uỷ, các đảng uỷ bộ phận (nếu có) cử ra để quyết định nhiệm vụ của đảng bộ và bầu cử bổ sung đảng uỷ cơ sở nếu cần".

3 - Sửa lại nhiệm kỳ của đảng uỷ và chi uỷ cơ sở (xã, xí nghiệp, v.v.) nói ở điều 34 (Điều lệ, trang 65) như sau:

"Nhiệm kỳ của đảng uỷ, chi uỷ cơ sở (xí nghiệp, xã, v.v) được quy định như đối với nhiệm kỳ của cấp uỷ huyện, quận, thành phố trực thuộc tỉnh, thị xã; nhiệm kỳ của đảng uỷ bộ phận và của chi uỷ trực thuộc đảng uỷ cơ sở hoặc trực thuộc đảng uỷ bộ phận là một năm".

4 - Sửa lại điều 36 đoạn quy định về nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan (Điều lệ, trang 72) như sau:

"Tổ chức cơ sở đảng ở cơ quan không quyết định nhiệm vụ, chủ trương, biện pháp công tác chuyên môn của cơ quan, nhưng có trách nhiệm kiểm tra cơ quan trong việc thực hiện các chính sách, nghị quyết của Đảng, pháp luật Nhà nước được thực hiện trong phạm vi cơ quan, kịp thời nêu gương tốt, ngăn chặn các trường hợp vi phạm chính sách, pháp luật trong cơ quan. Phải kiểm tra tình hình đảng viên trong cơ quan, kể cả đảng viên là thủ trưởng, thực hiện đường lối, chính sách, các nghị quyết của Đảng và pháp luật Nhà nước, kịp thời góp ý kiến với người thủ trưởng về những thiếu sót trong công tác của cơ quan và báo cáo những vấn đề cần thiết với cơ quan cấp trên có trách nhiệm của Đảng...". Những nhiệm vụ và quyền hạn khác của đảng bộ cơ quan trong việc tham gia ý kiến về tổ chức, cán bộ, đấu tranh chống quan liêu, giữ nguyên như phần còn lại ở điều 36 của Điều lệ Đảng.

VII - CHƯƠNG VI: UỶ BAN KIẾM TRA CÁC CẤP

Sửa Điều 39, nói về nhiệm vụ của Uỷ ban kiểm tra các cấp (Điều lệ, trang 75) như sau:

"Điều 42: Nhiệm vụ của Uỷ ban kiểm tra các cấp là: kiểm tra đảng viên (kể cả cấp ủy viên cùng cấp) chấp hành Điều lệ Đảng, nhằm vào việc chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, chấp hành kỷ luật của Đảng và pháp luật Nhà nước, tư cách đảng viên; kiểm tra việc thi hành kỷ luật của tổ chức đảng cấp dưới; kiểm tra tài chính của Đảng; giải quyết thư tố cáo đối với đảng viên, v.v. . (Đoạn tiếp theo của điều này vẫn giữ nguyên)''.

VIII - CHƯƠNG IX: VIỆC THI HÀNH KỶ LUẬT TRONG ĐẢNG

1. Sửa lại điều 49 quy định về hình thức kỷ luật của Đảng (Điều lệ, trang 87) như sau:

"Tuỳ theo tình hình cụ thể, mức độ và tính chất các sai lầm của đảng viên và của tổ chức đảng, tổ chức có thẩm quyền của Đảng sẽ áp dụng các hình thức kỷ luật như sau:

Đối với đảng viên: khiển trách, cảnh cáo, cách chức, khai trừ ra khỏi đảng. 
Đối với tổ chức của đảng: khiển trách, cảnh cáo, giải tán".

2. Sửa lại điều 52 như sau:

"Điều 55: Khi nghị quyết về khai trừ đảng viên ra khỏi Đảng hoặc giải tán một tổ chức đảng chưa được cấp uỷ có thẩm quyền chuẩn y thì đảng viên đó vẫn được tham gia sinh hoạt đảng, tổ chức đó vẫn được hoạt động. Việc tạm đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, tạm đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của một cấp uỷ viên hoặc tạm đình chỉ hoạt động của một tổ chức đảng chỉ được áp dụng trong trường hợp hết sức đặc biệt và khi được cấp uỷ có thẩm quyền do Trung ương quy định chuẩn y".

3. Sửa lại điều 54 (Điều lệ, trang 98) như sau:

"Điều 57: Chậm nhất là một năm, sau khi đảng viên bị thi hành kỷ luật, tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật hoặc chi bộ nơi đảng viên sinh hoạt phải nghe đảng viên báo cáo về tình hình sửa chữa khuyết điểm để có kết luận về việc sửa chữa đó; nếu xét thấy đảng viên thật sự đã sửa chữa và tiến bộ thì quyết định hoặc đề nghị lên cấp trên đã quyết định thi hành kỷ luật công nhận đảng viên đã sửa chữa khuyết điểm. Tồ chức đảng không có định kiến trong việc sử dụng, cất nhắc những đảng viên đó".

*      *

*

Ban Chấp hành Trung ương căn cứ vào nghị quyết này để bổ sung sửa chữa vào Điều lệ Đảng và tổ chức việc làm quán triệt trong toàn Đảng, bảo đảm cho Điều lệ Đảng được triệt để chấp hành.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Hướng dẫn xác định nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế

Ngày 05/6/2019, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 31/2019/TT-BTC hướng dẫn việc xác định nguồn kinh phí và quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế. Thông tư áp dụng từ năm ngân sách 2019, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2019 đến hết ngày 31/12/2021.

Ban hành kế hoạch triển khai, sắp xếp lại các cơ quan báo chí

Bộ trưởng Bộ Thông tin-Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng vừa ký ban hành Kế hoạch số 1738/KH-BTTTT triển khai sắp xếp các cơ quan báo chí theo Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến 2025.

Tăng lương cơ sở lên 1.490.000 đồng/tháng từ ngày 1/7/2019

(ĐCSVN) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng....

Quy hoạch báo chí chính thức được Thủ tướng phê duyệt

(ĐCSVN) – Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc vừa phê duyệt quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025. ...

Tiêu chuẩn, điều kiện kết nạp lại vào Đảng đối với đảng viên đã bị đưa ra khỏi Đảng do vi phạm chính sách DS&KHHGĐ

(ĐCSVN) – Đảng viên sau khi bị đưa ra khỏi Đảng, lại vi phạm chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình (DS&KHHGĐ); quần chúng đã vi phạm chính sách DS&KHHGĐ trong trường hợp sinh con thứ năm trở lên. Cả hai trường hợp này đều không được...

Phê duyệt tổng biên chế công chức năm 2019

(ĐCSVN) - Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng biên chế năm 2019 là 259.598 người (giảm hơn 5.000 so với năm 2018). ...

Liên kết website