Những điểm mới trong Điều lệ Đảng được Đại hội X thông qua

Điều lệ Đảng là bộ luật cơ bản của Đảng, quy định các nguyên tắc về tổ chức và hoạt động của Đảng, nhằm bảo đảm cho Đảng ta thống nhất ý chí và hành động, đủ sức mạnh lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản.

Điều lệ Đảng được xây dựng từ ngày thành lập Đảng; Mỗi kỳ đại hội toàn quốc của Đảng, Điều lệ Đảng đều được bổ sung sửa đổi những điểm cần thiết phù hợp với yêu cầu thực tiễn của tình hình, nhiệm vụ mới.

Hai quan điểm chỉ đạo của Trung ương về bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng đã được Đại hội X thông qua là:

1- Phải kiên định các nguyên tắc cơ bản về Đảng và xây dựng Đảng theo chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đồng thời tiếp thu kết quả tổng kết 20 năm đổi mới, các công trình nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn về xây dựng Đảng để xem xét, bổ sung sửa đổi một số điều cần thiết, bức xúc, chín muồi.

2- Phát huy dân chủ trong thảo luận, tập hợp đầy đủ, trung thực ý kiến tham gia của các cấp, các ngành, của cán bộ, đảng viên; tạo sự thống nhất cao trong toàn Đảng để bổ sung, sửa đổi Điều lệ Đảng.

Ban Chấp hành Trung ương khóa IX trình Đại hội X của Đảng 12 vấn đề cần bổ sung, sửa đổi ở 14 điểm trong Điều lệ Đảng. Sau đây là những vấn đề được Đại hội thảo luận thông qua.

1. Về bổ sung tiêu đề trong phần mở đầu Điều lệ Đảng.

Từ Đại hội VII của Đảng đến nay, phần mở đầu của Điều lệ không có tiêu đề. Nhiều ý kiến cho rằng, phần này đề cập những vấn đề hết sức cơ bản, quan trọng về xây dựng Đảng, nên nếu không có tiêu đề thì dễ bị coi là phần giới thiệu về Điều lệ Đảng. Vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội bổ sung tiêu đề của phần mở đầu là: Đảng và những vấn đề cơ bản về xây dựng Đảng. Đại hội đã biểu quyết thông qua với tỷ lệ 89, 13% đại biểu đồng ý.

2. Diễn đạt về Đảng

Thứ nhất, để nhận thức đầy đủ hơn, sát thực hơn về bản chất của Đảng, trước hết cần khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, giai cấp mà bản chất và lợi ích của nó gắn liền với chủ nghĩa xã hội, với xu thế phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại.

Hiện nay, trong xây dựng nền kinh tế thị trường định hưởng xã hội chủ nghĩa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế thì càng phải chăm lo, giữ vững và tăng cường bản chất giai cấp công nhân của Đảng. Nếu không nhận thức sâu sắc điều này thì dễ mơ hồ, phai nhạt lý tưởng, biến chất Đảng.

Thứ hai, thể hiện rõ mối quan hệ giữa Đảng với giai cấp và dân tộc. Trong điều kiện của Việt Nam, quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc là thống nhất. Thắng lợi của cách mạng Việt Nam qua các thời kỳ đều bắt nguồn từ việc Đảng giải quyết đúng đắn mối quan hệ mật thiết giữa giai cấp và dân tộc.

Đảng Cộng sản Việt Nam trở thành Đảng cầm quyền, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của nhân dân.

Thứ ba, về vấn đề lợi ích, Đảng không có mục đích nào khác ngoài mục đích phục vụ nhân dân, phục vụ dân tộc.

Khi tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng có khẩu hiệu: “Độc lập dân tộc - người cày có ruộng”.

Hiện nay Đảng nêu mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Mục tiêu đó thể hiện rõ sự thống nhất lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân và dân tộc trong thời kỳ mới.

Từ nhận thức như vậy, Điều lệ Đảng Đại hội X thông qua đã thể hiện:

Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc”.

Trong Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản, Mác-Ăngghen đã viết: “Giai cấp vô sản mỗi nước trong khi đấu tranh giành chính quyền phải tự vươn lên thành giai cấp dân tộc, phải tự mình trở thành dân tộc”.

Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra tại Đại hội II (1951): “Chính vì Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên phải là Đảng của dân tộc Việt Nam”.

Diễn đạt nêu trên về Đảng là sự thể hiện trung thành với tư tưởng Hồ Chí Minh và nhất quán với tuyên ngôn của Mác-Ăngghen.

3. Diễn đạt về mục đích của Đảng  và tiêu chuẩn đảng viên

Đại hội X cũng thảo luận về việc chuyển cụm từ “không bóc lột” ở điểm 1, Điều 1 (về tiêu chuẩn đảng viên) lên phần mở đầu, thể hiện vào đoạn nói về mục đích của Đảng (sửa ở 2 điểm: phần mở đầu và điểm 1, Điều l). Đoàn Chủ tịch trình Đại hội hai phương án: Phương án 1: Chuyển cụm từ “không bóc lột, ở tiêu chuẩn đảng viên (điểm 1, Điều 1 của Điều lệ Đảng) đưa lên phần mở đầu, thể hiện ý này vào đoạn nói về mục đích của Đảng như sau:

“Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh, không còn người bóc lột người, thực hiện thành công chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là chủ nghĩa cộng sản”.

Điểm 1, Điều 1 của Điều lệ Đảng không còn cụm từ không bóc lột.

Phương án 2: Giữ như Điều lệ Đảng hiện hành.

Đại hội đã biểu quyết thông qua phương án 1 với tỉ lệ 80,65% đại biểu tán thành.

Vấn đề đảng viên làm kinh tế tư nhân (khi trong Điều 1, điểm 1 Điều lệ Đảng không còn cụm từ “không bóc lột” là đã thể hiện chủ trương của Đảng cho đảng viên làm kinh tế tư nhân).

Chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một nội dung cơ bản trong đường lối đổi mới kinh tế của Đảng, đã được khẳng định trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Thực hiện nhất quán chủ trương đó, trong 20 năm đổi mới vừa qua, khu vực kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội. Quan điểm của Đảng không xem kinh tế tư nhân gắn với chủ nghĩa tư bản, xác định kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hội nghị Trung ương 5 khoá IX đã khẳng định “những đảng viên làm chủ doanh nghiệp tư nhân, chấp hành tốt Điều lệ Đảng và pháp luật, chính sách của Đảng, Nhà nước thì vẫn là đảng viên của Đảng”.

Theo pháp luật hiện hành, những cán bộ, đảng viên trong biên chế nhà nước, tại ngũ trong lực lượng vũ trang không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân.

Hiện nay có doanh nghiệp sử dụng hàng nghìn lao động, vốn đầu tư vài ba trăm tỷ đồng. Chủ trương khuyến khích doanh nghiệp tư nhân là người Việt Nam và người nước ngoài đầu tư sản xuất kinh doanh theo pháp luật là chủ trương đúng đắn của Đảng ta. Vấn đề đặt ra là phải hạn chế mức độ bóc lột bằng quy định và chính sách của Nhà nước và chủ doanh nghiệp, bảo đảm quyền lợi của người lao động, đời sống của người lao động ngày càng được nâng cao, xử lý đúng đắn quan hệ giữa người sử dụng lao động và người lao động trong doanh nghiệp.

Đó chính là mối quan hệ biện chứng của sự phát triển của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Đây là vấn đề chính trị rất nhạy cảm, đã được tổ chức thảo luận ở đại hội đảng bộ các cấp, lấy ý kiến rộng rãi trong nhân dân, qua 4 kỳ hội nghị của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX, đã được đa số tán thành. Đại hội X của Đảng đã thống nhất cao chủ trương này, giao cho Ban Chấp hành Trung ương quy định: bảo đảm phát huy khả năng làm kinh tế của đảng viên, vừa giữ được tư cách đảng viên và bản chất của Đảng.

Đại hội đã thống nhất định hướng để giao cho Ban Chấp hành Trung ương quy định đảng viên làm kinh tế tư nhân theo hướng:

- Đảng viên không thuộc phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh Công chức và Luật phòng, chống tham nhũng; đảng viên không ở trong biên chế của hệ thống chính trị. (Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội), không tại ngũ quân đội và công an.

- Phải trực tiếp tham gia lao động: lao động chân tay, lao động quản lý, lao động điều hành sản xuất, lao động kỹ thuật ở doanh nghiệp do đảng viên làm chủ.

- Nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng, các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; có quan hệ bình đẳng, thân ái tôn trọng người lao động, thực hiện phân phối dân chủ, công bằng theo kết quả lao động và mức đóng góp vốn, thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội đối với người lao động; tham gia các hoạt động công ích và xã hội.

- Tạo điều kiện cho các tổ chức đảng, đoàn thể trong doanh nghiệp của mình hoạt động thuận lợi.

- Giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống lành mạnh; giáo dục những người thân trong gia đình chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.

- Khi có điều kiện, tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp của mình để công nhân mua cổ phần và tham gia quản lý doanh nghiệp.

- Chịu sự kiểm tra, giám sát và quản lý của tổ chức đảng nơi mình sinh hoạt và nơi cư trú.

4. Về những nguyên tắc xây dựng Đảng (nêu trong phần mở đầu của Điều lệ Đảng)

Qua các nhiệm kỳ Đại hội, trong văn kiện của Đảng thường dùng các khái niệm:

- Các nguyên tắc xây dựng Đảng.

- Các nguyên tắc tổ chức của Đảng.

- Các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng.

- Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng.

Có khi cũng dùng khái niệm: chế độ hoặc quy luật, ví dụ:

+ Chế độ tập trung dân chủ.

+ Quy luật tự phê bình và phê bình.

Nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản, với 6 nội dung đã được quy định trong Điều lệ Đảng.

1. Cơ quan lãnh đạo các cấp của Đảng đều do bầu cử lập ra, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.

2. Toàn Đảng có một cơ quan lãnh đạo cao nhất đó là Đại hội đại biểu toàn quốc.

3. Cấp ủy báo cáo và chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước đại hội cùng cấp, chịu sự kiểm tra của cấp ủy cấp trên và chịu sự giám sát của cấp ủy cấp dưới.

4. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghị quyết của Đảng, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên, cá nhân phục tùng tổ chức, các tổ chức trong toàn Đảng phục tùng Đại hội toàn quốc và Ban Chấp hành Trung ương (chế độ phục tùng).

5. Nghị quyết của cơ quan lãnh đạo Đảng chỉ có giá trị khi có trên một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành.

6. Tổ chức đảng được quyền quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn được giao, song không được trái nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng,  pháp luật của Nhà nước và nghị quyết của cấp trên.

Tổng kết từ hoạt động thực tiễn, trong điều kiện mới, Đại hội X của Đảng đã quy định thành hệ thống các nguyên tắc hoạt động của Đảng, để làm căn cứ cho mọi tổ chức đảng và đảng viên thực hiện. Điều lệ Đảng đã xác định: Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: Tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, giữ mối liên hệ mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

5. Về giới thiệu người vào Đảng (Điểm 1, Điều 4)

Hiện nay, ở các cơ quan, doanh nghiệp, công đoàn là tổ chức đại diện cho quyền lợi chính đáng của công nhân và người lao động. Căn cứ đa số ý kiến tại đại hội đảng các cấp đề nghị ở các cơ quan, doanh nghiệp nơi không có tổ chức Đoàn  Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cần giao cho tổ chức công đoàn là một thành viên giới thiệu người vào Đảng.

Đại hội nhất trí bổ sung điểm 1, Điều 4 Điều lệ Đảng như sau: “ở các cơ quan, doanh nghiệp nơi không có tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, người vào Đảng là đoàn viên công đoàn, được ban chấp hành công đoàn cơ sở và một đảng viên chính thức giới thiệu”. Có 86,03% đại biểu tán thành với đề nghị này.

6. Về việc bầu ủy viên Trung ương dự khuyết (điểm 2, Điều 15)

Từ Đại hội VII của Đảng đến nay, Điều lệ Đảng không quy định bầu cấp ủy viên dự khuyết ở tất cả các cấp. Xuất phát từ yêu cầu đào tạo bồi dưỡng cán bộ trẻ, tăng cường số đồng chí trẻ tham gia Ban Chấp hành Trung ương, Đại hội đã nhất trí chủ trương có ủy viên dự khuyết ở cấp Trung ương; bổ sung điểm 2, Điều 15 của Điều lệ Đảng như sau: “Số lượng ủy viên Trung ương chính thức và ủy viên Trung ương dự khuyết do Đại hội quyết định”. Có 92, 19% đại biểu đồng ý có cấp ủy viên dự khuyết ở Trung ương. Đại hội đã đồng ý giao cho Ban Chấp hành Trung ương được quyền quyết định chuyển ủy viên Trung ương dự khuyết lên chính thức khi có đủ điều kiện như sau: “Ban Chấp hành Trung ương xem xét việc chuyển ủy viên Trung ương dự khuyết khi có đủ điều kiện để thay thế ủy viên Trung ương chính thức khi khuyết”.

7. Về nhiệm kỳ đại hội của tổ chức cơ sở đảng và chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở (thuộc 2 điều, Điểm 1 Điều 22 và điểm 3 Điều 24 của Điều lệ Đảng)

Điều lệ Đảng hiện hành quy định nhiệm kỳ đại hội của đảng bộ cơ, sở xã, phường, thị trấn là năm năm một lần, các tổ chức cơ sở đảng khác năm năm hai lần; chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở mỗi năm một lần.

Trong tình hình hiện nay, nhiệm kỳ đại hội tổ chức cơ sở đảng ở các cơ quan, doanh nghiệp nhiệm kỳ năm năm hai lần, nhiệm kỳ đại hội chi bộ mỗi năm một lần là quá ngắn để triển khai nghị quyết của đại hội.

Đại hội nhất trí sửa điểm 1, Điều 22 của Điều lệ Đảng là: “Đại hội đại biểu hoặc đại hội đảng viên của các tổ chức cơ sở đảng do cấp ủy cơ sở triệu tập năm năm một lần...”. Có 88,46% đại biểu đã đồng ý với quy định sửa đổi này.

Về nhiệm kỳ của đại hội chi bộ, Đại hội nhất trí sửa điểm 3, Điều 24 của Điều lệ Đảng là: “Đại hội chi bộ do chi ủy triệu tập năm năm hai lần; nơi chưa có chi ủy thì do bí thư chi bộ triệu tập. Khi được đảng ủy cơ sở đồng ý có thể triệu tập sớm hơn hoặc muộn hơn, nhưng không quá sáu tháng”. Có 89,30% đại biểu tán thành.

8. Về sinh hoạt định kỳ của đảng bộ (điểm 6 Điều 22)

Hiện nay, do không quy định sinh hoạt đảng bộ nên việc trao đổi thông tin trong đảng bộ và đảng viên tham gia đóng góp ý kiến trực tiếp cho cấp ủy bị hạn chế; các đảng viên khó thực hiện việc giám sát hoạt động của cấp ủy. Vì vậy, để phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm của đảng viên và cấp ủy đảng cần quy định chế độ sinh hoạt định kỳ của đảng bộ. Đại hội nhất trí bổ sung điểm 6, Điều 22 của Điều lệ Đảng như sau: “Đảng bộ cơ sở họp thường lệ mỗi năm hai lần, họp bất thường khi cần. Chi bộ cơ sở họp thường lệ mỗi tháng một lần; họp bất thường khi cần”. Có 86,67% đại biểu đồng ý với bổ sung này.

9. Thay việc chỉ định ủy viên thường vụ cấp ủy địa phương tham gia đảng ủy công an địa phương bằng việc phân công đồng chí phó bí thư cấp ủy địa phương phụ trách đảng ủy công an địa phương

Qua thảo luận ở đại hội đảng bộ các cấp, đa số ý kiến đồng tình việc đồng chí phó bí thư cấp ủy địa phương không tham gia ban thường vụ đảng ủy công an địa phương và đảng ủy bộ đội biên phòng tỉnh (nếu có) mà phân công phụ trách hai đảng bộ này. Việc phân công chỉ cần đưa vào quy định của Bộ Chính trị, không cần đưa vào Điều lệ Đảng.

Đại hội nhất trí sửa điểm 2, Điều 29 thành: “Đảng ủy công an tỉnh, thành, huyện, quận, thị xã do đại hội cùng cấp bầu”. Bỏ đoạn “Đồng chí ủy viên thường vụ cấp ủy tỉnh, thành, huyện, quận, thị ủy được chỉ định tham gia”. Có 86,50% đại biểu tán thành.

10. Về kiểm tra, giám sát trong Đảng

- Kiểm tra, giám sát trước hết là nhiệm vụ của cấp ủy. Kiểm tra gắn với thi hành kỷ luật trong Đảng. Công tác kiểm tra phải gắn với công tác giám sát, có giám sát mới phát hiện được các vấn đề mới, khắc phục được thiếu sót khuyết điểm ngay từ lúc mới manh nha. Hiện nay, Quốc hội đã có Luật Giám sát, nhưng Đảng chưa giao nhiệm vụ giám sát cho cơ quan nào. Đại hội nhất trí giao chức năng giám sát cho cấp ủy các cấp, giao chức năng và nhiệm vụ giám sát cho ủy ban kiểm tra các cấp.

Đại hội nhất trí bổ sung chức năng giám sát và làm rõ nhiệm vụ giám sát của ủy ban kiểm tra các cấp ở Điều 32. của Điều lệ Đảng như sau: “Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương”. Có 87,01% đại biểu đồng ý với bổ sung này.

11. Về trách nhiệm và thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên của chi bộ

 Cấp ủy viên, cán bộ lãnh đạo ở cấp nào cũng phải chịu sự quản lý chặt chẽ của chi bộ. Để tăng cường trách nhiệm quản lý của chi bộ đối với đảng viên, cần giao cho chi bộ có quyền thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo đối với tất cả đảng viên, kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên là cán bộ diện cấp ủy cấp trên quản lý khi vi phạm về phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).

Vì vậy, Ban Chấp hành Trung ương trình Đại hội bổ sung vào điểm 1, Điều 36 của Điều lệ Đảng như sau: “Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tường, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao)”. Có 85,82% đại biểu đồng ý với bổ sung trên.

12. Về công tác cán bộ

Quá trình thực hiện qua các kỳ đại hội, nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đồng thời đề cao trách nhiệm của các thành viên trong hệ thống chính trị, quyền hạn của thủ trưởng cơ quan, đơn vị theo quy định của pháp luật đã được thực hiện nhất quán có kết quả tốt Trong các nhiệm kỳ qua, Điều lệ Đảng hiện hành chưa ghi điểm này. Đại hội nhất trí quy định vấn đề này thành một điểm thuộc Điều 41 của Điều lệ Đảng như sau: “Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ”. Có 89,56% đại biểu đồng ý với quy định bổ sung này.

Để thực hiện Điều lệ Đảng Đại hội X thông qua, Bộ Chính trị giao cho Ban Tổ chức Trung ương và các cơ quan có liên quan xây dựng Quy định thi hành Điều lệ Đảng nhằm cụ thể hoá các quan điểm, nguyên tắc, các quy định của Điều lệ Đảng áp dụng vào thực tiễn hoạt động của các cấp uỷ đảng, các tổ chức đảng và đảng viên.

Theo Hoàng Việt Phương, tạp chí Thông tin công tác tư tưởng lý luận, tháng 8/2006

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

3 trường hợp đặc cách tuyển dụng công chức

(ĐCSVN) - Tăng lương cơ sở, lương hưu; đặc cách tuyển dụng công chức; công dân được quyền đề xuất bản án, quyết định thành án lệ; sĩ quan công an là giáo sư, phó giáo sư... có thể được kéo dài hạn tuổi phục vụ… là những chính sách mới nổi bật sẽ có hiệu lực từ tháng 7/2019.

Sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở đào tạo cán bộ

(ĐCSVN) - Phấn đấu đến năm 2025, mỗi bộ, ngành, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương chỉ có tối đa 1 cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; 25% cơ sở đào tạo, bồi dưỡng bảo đảm tự chủ về thực hiện nhiệm vụ và tổ chức bộ máy, nhân sự và bảo đảm tự chủ chi thường xuyên; 75% bảo đảm tự chủ tối thiểu 50% chi thường xuyên.

Hướng dẫn xác định nguồn kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế

Ngày 05/6/2019, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 31/2019/TT-BTC hướng dẫn việc xác định nguồn kinh phí và quản lý, sử dụng kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế. Thông tư áp dụng từ năm ngân sách 2019, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 25/7/2019 đến hết ngày 31/12/2021.

Ban hành kế hoạch triển khai, sắp xếp lại các cơ quan báo chí

Bộ trưởng Bộ Thông tin-Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng vừa ký ban hành Kế hoạch số 1738/KH-BTTTT triển khai sắp xếp các cơ quan báo chí theo Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến 2025.

Tăng lương cơ sở lên 1.490.000 đồng/tháng từ ngày 1/7/2019

(ĐCSVN) - Chính phủ vừa ban hành Nghị định 38/2019/NĐ-CP quy định mức lương cơ sở đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Theo đó, từ ngày 1/7/2019, mức lương cơ sở là 1.490.000 đồng/tháng....

Liên kết website