Cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết Trung ương về “nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”

Để cụ thể hoá nội dung, đưa Nghị quyết đi vào cuộc sống, xin nêu một số suy nghĩ về việc vận dụng, cụ thể hoá các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:

1. Hoàn thiện mô hình tổ chức đảng đồng bộ, thống nhất với các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, đồng thời xây dựng mô hình tổ chức phù hợp ở những nơi có tính đặc thù.

Đối với tổ chức cơ sở đảng (TCCSĐ) ở xã, phường, thị trấn: Sắp xếp mô hình tổ chức của đảng bộ, chi bộ gắn với tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn dân cư, bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng đối với chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở, vừa tạo mô hình tổ chức thống nhất trong toàn Đảng, vừa có mô hình tổ chức phù hợp với đặc điểm, đặc thù của mỗi địa phương. Cụ thể: dưới đảng bộ cơ sở xã là chi bộ thôn (xóm, ấp, bản, buôn, làng...); dưới đảng bộ cơ sở phường, thị trấn nói chung là chi bộ tổ dân phố.

Những nơi có tính chất đặc thù (số lượng đảng viên ở tổ dân phố ít, các tổ chức chính trị - xã hội tổ chức theo khu phố hoặc khu dân cư...) và chi bộ đang tổ chức theo khu phố hoặc khu dân cư mà thực tiễn cho thấy đang phù hợp thì tiếp tục thực hiện theo mô hình trên, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn dân cư. Khi có đủ điều kiện thì tổ chức chi bộ theo mô hình chung là chi bộ tổ dân phố.

Những chi bộ thôn, tổ dân phố có đông đảng viên (không tính những đảng viên đã được miễn sinh hoạt, công tác), nếu có khó khăn về địa điểm sinh hoạt, phải lập nhiều chi bộ thì tiến hành thành lập đảng bộ bộ phận để thống nhất lãnh đạo các chi bộ, tổ chức chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn dân cư, khắc phục tình trạng trên một địa bàn dân cư có nhiều chi bộ nhưng chỉ có một tổ chức chính quyền, một tổ chức quần chúng.

Những đảng bộ cơ sở cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước hoạt động phân tán trên địa bàn nhiều tỉnh, thành phố, tổ chức đảng và các tổ chức chính trị - xã hội trực thuộc nhiều cấp trên khác nhau, cần sắp xếp lại bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất của TCCSĐ trong thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác cán bộ và các tổ chức chính trị - xã hội trong đơn vị. Những nơi còn tình trạng đảng bộ cơ sở trong đảng bộ cơ sở, thì cấp uỷ cấp trên xem xét để giao quyền cấp trên cơ sở cho đảng uỷ cơ sở đủ điều kiện hoặc thành lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng uỷ cơ sở, dưới đảng uỷ bộ phận là các chi bộ trực thuộc. Rà soát những đảng uỷ cơ sở được giao quyền cấp trên cơ sở hiện nay để nâng cấp những đảng uỷ có đủ điều kiện lên cấp uỷ cấp trên trực tiếp của TCCSĐ (tương đương cấp huyện).

Đối với TCCSĐ trong các tập đoàn kinh tế, tổng công ty lớn, tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con và các tổng công ty hạng đặc biệt có nhiệm vụ chính trị thống nhất, cùng ngành nghề chuyên môn và sản phẩm chính, có mối quan hệ gắn bó và chi phối lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị thì trên cơ sở tổng kết, rút kinh nghiệm những mô hình đã có từng bước thực hiện chủ trương thành lập tổ chức đảng toàn tập đoàn, toàn tổng công ty. Đảng uỷ tập đoàn, đảng uỷ tổng công ty là cấp uỷ cấp trên trực tiếp, có chức năng lãnh đạo toàn diện đối với các tổ chức đảng ở tổng công ty hoặc công ty trực thuộc; gắn công tác xây dựng đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh, công tác cán bộ và lãnh đạo các tổ chức chính trị - xã hội trong doanh nghiệp, khắc phục tình trạng tổ chức đảng ở tổng công ty và tổ chức đảng ở các công ty trực thuộc đều là TCCSĐ và cùng trực thuộc một cấp uỷ cấp trên. Đồng thời, cần có quy định cụ thể về mối quan hệ phối hợp công tác giữa đảng uỷ tập đoàn, tổng công ty với các cấp uỷ địa phương có liên quan. Đối với những ngành, lĩnh vực và đơn vị cơ sở có tính chất đặc thù cần nghiên cứu để có mô hình tổ chức phù hợp, không nhất thiết đưa tất cả các TCCSĐ về trực thuộc đảng ủy tập đoàn, đảng ủy tổng công ty.

2. Xây dựng tổ chức đảng và phát triển đảng viên ở những nơi chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc chưa có đảng viên.

Những địa phương còn nhiều thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố, trường học, doanh nghiệp chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc chưa có đảng viên, cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cơ sở phân công cấp uỷ viên và đảng viên là cán bộ lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể phụ trách từng đơn vị. Cấp uỷ cơ sở giao nhiệm vụ cụ thể cho các chi bộ có điều kiện thuận lợi nhất phân công đảng viên thực hiện việc phát hiện, bồi dưỡng, giúp đỡ quần chúng phấn đấu vào Đảng hoặc tăng cường, luân chuyển cán bộ, đảng viên nơi khác đến để thành lập chi bộ và thực hiện nhiệm vụ giúp đỡ quần chúng, tạo nguồn kết nạp đảng viên. Công tác kết nạp đảng viên cần chú trọng việc bồi dưỡng, rèn luyện, thử thách, nâng cao nhận thức chính trị cho quần chúng cảm tình đảng trước khi chi bộ xem xét kết nạp, khắc phục tình trạng chạy theo số lượng mà hạ thấp tiêu chuẩn.

Các tỉnh, thành phố có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất tập trung thì thành lập đảng bộ cơ sở khu công nghiệp, khu chế xuất trực thuộc cấp uỷ cấp trên trực tiếp phù hợp (huyện uỷ, quận uỷ hoặc cấp uỷ tương đương). Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp, khu chế xuất nếu có đủ điều kiện thì thành lập chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở khu công nghiệp, khu chế xuất. Nếu chưa đủ điều kiện thành lập chi bộ thì cấp uỷ cấp trên giới thiệu những đảng viên này về sinh hoạt với tổ chức đảng phù hợp để bảo đảm quyền lợi chính trị của đảng viên.

Những doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài quy mô lớn, số lượng công nhân đông, tuỳ theo số lượng đảng viên mà thành lập đảng bộ cơ sở hoặc chi bộ cơ sở trực thuộc cấp uỷ cấp trên trực tiếp (quận uỷ, huyện uỷ hoặc cấp uỷ tương đương). Những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, số lượng công nhân và đảng viên ít thì thành lập chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở phù hợp (đảng uỷ cơ sở khu công nghiệp; đảng uỷ cơ sở cụm công nghiệp; đảng uỷ cơ sở xã, phường, thị trấn...); những nơi khó khăn, chưa đủ điều kiện để thành lập tổ chức đảng thì tiếp tục chuẩn bị, không nên thành lập tổ chức đảng một cách gượng ép.

Những đảng viên đã làm việc ổn định, lâu dài (từ một năm trở lên) trong các trường học, bệnh viện ngoài công lập, doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng vẫn sinh hoạt đảng ở nơi cư trú phải chuyển sinh hoạt đảng về nơi làm việc (nếu nơi đó có tổ chức đảng). ở những nơi chưa có tổ chức đảng và chưa đủ điều kiện thành lập tổ chức đảng thì cấp uỷ cấp trên trực tiếp của TCCSĐ xem xét và chuyển sinh hoạt đảng đối với số đảng viên này về tham gia sinh hoạt với một tổ chức đảng phù hợp, thuận lợi nhất để đảng viên tham gia sinh hoạt đảng và thực hiện nhiệm vụ đảng viên.   

3. Thực hiện chủ trương trẻ hoá, tiêu chuẩn hoá, thể chế hoá và nhất thể hoá chức danh cán bộ chủ chốt ở cơ sở.

Về thực hiện trẻ hoá cán bộ cơ sở: Đối với TCCSĐ ở xã, phường, thị trấn, cần đẩy mạnh và thực hiện nhất quán chủ trương đưa sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác ở cơ sở xã, phường, thị trấn và cơ sở sản xuất trong các thành phần kinh tế. Đây là thời gian (từ hai đến ba năm) để cán bộ rèn luyện, thử thách trước khi được tuyển vào công chức nhà nước hoặc cán bộ quản lý của doanh nghiệp. Cần nghiên cứu, sớm ban hành chính sách thu hút đối với sinh viên tốt nghiệp đại học, cao đẳng về công tác ở xã, phường, thị trấn, doanh nghiệp. Đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp để giải quyết đầu ra đối với những cán bộ ở xã, phường, thị trấn chưa được chuẩn hoá nhưng chưa đủ tuổi, chưa đủ năm công tác nghỉ chế độ.

Các tỉnh miền núi, vùng có đông đồng bào dân tộc thiểu số, cần tăng cường đầu tư, nâng cao chất lượng đào tạo của các trường phổ thông dân tộc nội trú, trường thiếu sinh quân. Phối hợp với các quân khu lựa chọn những thanh niên người dân tộc thiểu số sau khi đã hoàn thành tốt nghĩa vụ quân sự, tiếp tục đưa đi đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ học vấn, lý luận chính trị, kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ để tạo nguồn cán bộ cho cơ sở.

Để thể chế hoá tổ chức, hoạt động của TCCSĐ và chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức ở cơ sở, cần bổ sung, sửa đổi một số văn bản hiện hành của Đảng, Nhà nước và ban hành một số cơ chế, chính sách mới như:

 Quy định rõ trong Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp về việc thành lập tổ chức đảng, các đoàn thể chính trị - xã hội trong doanh nghiệp; quy định thời gian tối thiểu trong năm để công nhân, người lao động được tham gia học tập chính trị, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

 Bổ sung, sửa đổi một số điểm trong Luật Lao động, Luật Thi đua khen thưởng, Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân; Pháp lệnh Cán bộ, công chức; Pháp lệnh Dân số và kế hoạch hoá gia đình và các Nghị định 114, 121/NĐ-CP của Chính phủ về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn cho phù hợp với tình hình hiện nay.

Bổ sung, sửa đổi quy định về chức năng, nhiệm vụ của TCCSĐ trong doanh nghiệp nhà nước, trong cơ quan, đơn vị sự nghiệp theo hướng xác định rõ và tăng cường hơn vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất - kinh doanh, nhiệm vụ chính trị và công tác cán bộ. Đồng thời có quy định về chức năng, nhiệm vụ đối với những loại hình TCCSĐ đến nay chưa có quy định.

Bổ sung, sửa đổi các quy định, hướng dẫn của Trung ương về đánh giá chất lượng TCCSĐ và đảng viên theo hướng đảm bảo đánh giá đúng thực chất. Xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ trong Đảng, trong đó có quy chế dân chủ trong tổ chức và hoạt động của TCCSĐ.

Ban hành hướng dẫn về đảng viên làm kinh tế tư nhân, việc kết nạp chủ doanh nghiệp tư nhân vào Đảng; xử lý đảng viên có liên quan đến yếu tố nước ngoài... để thực hiện thống nhất trong toàn Đảng.

Về thực hiện “nhất thể hoá” hai chức danh cán bộ chủ chốt ở cơ sở:

Đối với xã, phường, thị trấn thực hiện thí điểm chủ trương đồng chí bí thư cấp uỷ đồng thời là chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn. Đối với những nơi quá khó khăn về cán bộ, cho phép vận dụng linh hoạt chủ trương chủ tịch HĐND, chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn không giữ một chức vụ quá hai nhiệm kỳ.

Các TCCSĐ trong cơ quan hành chính nhà nước, đơn vị sự nghiệp thực hiện thống nhất chủ trương thủ trưởng cơ quan, đơn vị hoặc một đồng chí lãnh đạo của cơ quan, đơn vị làm bí thư cấp uỷ.

Các doanh nghiệp nhà nước thực hiện thống nhất chủ trương chủ tịch hội đồng quản trị hoặc tổng giám đốc (giám đốc) đồng thời là bí thư cấp uỷ; khi một trong hai chức danh trên không được tín nhiệm thì phải xem xét, thay đổi chức danh kia. Khi thay đổi chức danh chủ tịch hội đồng quản trị hoặc tổng giám đốc (giám đốc) thì cũng thay đổi chức danh bí thư cấp uỷ.

Đối với những công ty cổ phần có vốn nhà nước, cấp uỷ và lãnh đạo cấp trên của công ty cần lựa chọn những cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực và có đủ điều kiện đại diện phần vốn của nhà nước để tham gia cấp uỷ và hội đồng quản trị của công ty.

Trong các đơn vị cơ sở thuộc công an nhân dân: Thực hiện chế độ thủ trưởng đơn vị đồng thời làm bí thư cấp uỷ, đồng chí lãnh đạo cấp phó làm phó bí thư và phụ trách công tác xây dựng lực lượng. Đồng thời, nghiên cứu việc thực hiện chế độ chính uỷ, chính trị viên ở một số đơn vị cơ động, chiến đấu tập trung và có tính đặc thù. Trong các học viện, trường đại học thuộc Bộ Công an có khoa chuyên ngành để đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ làm công tác đảng, công tác chính trị và công tác quần chúng trong lực lượng công an nhân dân.

Trong các loại hình TCCSĐ (xã, phường, thị trấn, cơ quan, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước, lực lượng vũ trang), thực hiện thí điểm chủ trương đại hội đảng bộ cơ sở bầu cấp uỷ, ban thường vụ, bí thư và phó bí thư đảng bộ để rút kinh nghiệm, nhằm thực sự mở rộng và phát huy dân chủ trong việc kiện toàn các cơ quan lãnh đạo của Đảng và đội ngũ cán bộ chủ chốt ở cơ sở.

4. Thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở xã, phường, thị trấn.

 Trên cơ sở phân loại xã, phường, thị trấn theo Nghị định số 159/2005/NĐ-CP của Chính phủ để xác định biên chế phù hợp với quy mô các xã, phường, thị trấn và mức phụ cấp trách nhiệm với từng chức danh cán bộ. Trong số cán bộ, công chức cơ sở hiện nay, cần nghiên cứu để phân loại và có chính sách phù hợp. Cụ thể là: Một số chức danh cán bộ chuyên trách (cán bộ bầu cử và cán bộ chuyên môn) có đủ điều kiện, tiêu chuẩn (về trình độ học vấn, trình độ chính trị, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, về độ tuổi...) theo quy định của Chính phủ thì được xem xét chuyển sang chế độ công chức nhà nước để tạo sự liên thông trong đội ngũ cán bộ các cấp. Số cán bộ này hưởng lương chuyên môn, được nâng lương theo niên hạn và phụ cấp trách nhiệm theo chức danh. Các chức danh cán bộ chuyên trách khác không đủ tiêu chuẩn để trở thành công chức nhà nước thì thực hiện theo chế độ hiện hành; khi được giữ chức vụ do bầu cử thì hưởng chế độ phụ cấp trách nhiệm và thực hiện chế độ bảo hiểm, khi thôi đảm nhiệm chức vụ bầu cử thì thôi hưởng phụ cấp và đóng bảo hiểm tự nguyện. Đối với cán bộ không chuyên trách (cả cấp xã và cấp thôn) cần thực hiện theo hướng tự quản, khoán kinh phí và đóng bảo hiểm tự nguyện. Chính phủ cần có hướng dẫn về khung số lượng cán bộ, công chức và khung mức phụ cấp để các địa phương thực hiện thống nhất, phù hợp với tình hình, đặc điểm cụ thể của mỗi nơi, khắc phục tình trạng quá chênh lệch giữa các địa phương, vùng, miền.

Thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với cấp uỷ viên các cấp như đối với đại biểu HĐND cùng cấp; có chế độ phụ cấp thu hút đối với cán bộ công tác ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Hằng năm, dành một số biên chế dự phòng (khoảng từ 5 đến 8%) cho phù hợp với từng nơi để các địa phương thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển và tăng cường cán bộ cho cơ sở. Mỗi năm, cán bộ chuyên trách, cấp uỷ viên cơ sở xã, phường, thị trấn cần được bồi dưỡng tập trung (từ 10 đến 15 ngày) để cập nhật kiến thức, bồi dưỡng kỹ năng, nghiệp vụ tại trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện hoặc trường chính trị tỉnh, thành phố. Kinh phí để thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức cơ sở  xã, phường, thị trấn do Chính phủ quy định phù hợp với Luật ngân sách Nhà nước và theo nguyên tắc địa phương đảm bảo là chủ yếu, ngân sách Trung ương hỗ trợ đối với các địa phương khó khăn.

Theo Tạp chí Xây dựng Đảng

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Chỉ thị của Bộ Chính trị về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

(ĐCSVN) - Ngày 9/3/2021, thay mặt Bộ Chính trị, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Chỉ thị số 01-CT/TW về việc nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của...

Hướng dẫn nghiên cứu, học tập, quán triệt, tuyên truyền Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng

(ĐHXIII) – Công tác tuyên truyền cần kế thừa những kinh nghiệm, cách làm sáng tạo, hiệu quả; tập trung tuyên truyền toàn diện, đồng bộ, phong phú, sinh động về thành công của Đại hội, về những nội dung cốt lõi, những vấn đề mới; chú trọng đấu tranh phản bác các quan điểm lệch lạc, sai trái, thù địch và định hướng dư luận xã hội theo đúng phương châm lấy “xây làm chính”, “lấy đẹp dẹp xấu”, “lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực”.

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng

(ĐCSVN) - Chúng tôi xin trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Chính sách nổi bật có hiệu lực từ tháng 3

(ĐCSVN) - Kéo dài thời hạn bảo hiểm xe máy bắt buộc tối đa 3 năm; người tham gia bảo hiểm y tế trong tình trạng cấp cứu được khám chữa bệnh tại bất kỳ cơ sở nào; giáo viên công lập không cần có chứng chỉ ngoại ngữ, tin...

11 nhóm người ưu tiên tiêm vắc xin Covid-19 tại Việt Nam

(ĐCSVN) - Bộ Y tế vừa ban hành Quyết định số 1210/QĐ-BYT ngày 09/02/2021, phê duyệt Kế hoạch tiếp nhận, bảo quản, phân phối và sử dụng vắc xin phòng COVID-19 giai đoạn 2021-2022. Vắc xin do COVAX Facility cung ứng, hỗ trợ cho Việt Nam.

Quy định mới về các trường hợp tinh giản biên chế

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 143/2020/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ-CP.

Liên kết website