Trong những năm qua, Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn nhiều tài liệu dùng để bồi dưỡng công tác Đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở. Để tiếp tục đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở hiện nay, năm 2016, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức biên soạn Tài liệu bồi dưỡng bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở cho phù hợp với các văn bản chỉ đạo mới nhất của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Quy định thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Sau khi cuốn sách ra mắt bạn đọc, Ban Tuyên giáo Trung ương đã nhận được nhiều ý kiến góp ý, phản hồi của các tổ chức cơ sở đảng. Vì thế, trong lần tái bản này, chúng tôi đã chỉnh sửa một số nội dung cho phù hợp hơn, cập nhật nội dung Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) và bổ sung phần phụ lục - một số mẫu văn bản thiết thực nhất đối với cấp ủy cơ sở.
Nội dung cuốn sách tập trung trình bày những vấn đề cơ bản nhất của công tác xây dựng Đảng, những chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Đảng; về vị trí, tầm quan trọng nội dung và phương thức tiến hành công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật và công tác dân vận của chi bộ, đảng bộ cơ sở trong giai đoạn hiện nay; hướng dẫn thực hiện một số nguyên tắc, nghiệp vụ công tác cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở trên một số lĩnh vực quan trọng như: trong thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người bảo vệ tài nguyên môi trường; trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương; tuân thủ pháp luật của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội; phòng, chống "tự diễn biến", “tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên ở cơ sở.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với các đồng chí cùng các bạn và mong nhận được ý kiến đóng góp để lần xuất bản sau nội dung cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.
Tháng 1 năm 2017
BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Lời nói đầu LỜI NÓI ĐẦU
Trong những năm qua, Ban Tuyên giáo Trung ương đã biên soạn nhiều tài liệu dùng để bồi dưỡng công tác Đảng cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở. Để tiếp tục đáp ứng nhu cầu bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng cho đội ngũ bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở hiện nay, năm 2016, Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức biên soạn Tài liệu bồi dưỡng bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở cho phù hợp với các văn bản chỉ đạo mới nhất của Đảng, đặc biệt là Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng. Quy định thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Hướng dẫn một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng của Ban Bí thư Trung ương Đảng.
Sau khi cuốn sách ra mắt bạn đọc, Ban Tuyên giáo Trung ương đã nhận được nhiều ý kiến góp ý, phản hồi của các tổ chức cơ sở đảng. Vì thế, trong lần tái bản này, chúng tôi đã chỉnh sửa một số nội dung cho phù hợp hơn, cập nhật nội dung Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) và bổ sung phần phụ lục - một số mẫu văn bản thiết thực nhất đối với cấp ủy cơ sở.
Nội dung cuốn sách tập trung trình bày những vấn đề cơ bản nhất của công tác xây dựng Đảng, những chủ trương, đường lối của Đảng về xây dựng Đảng; về vị trí, tầm quan trọng nội dung và phương thức tiến hành công tác tư tưởng, công tác tổ chức, công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng, kỷ luật và công tác dân vận của chi bộ, đảng bộ cơ sở trong giai đoạn hiện nay; hướng dẫn thực hiện một số nguyên tắc, nghiệp vụ công tác cho bí thư chi bộ và cấp ủy viên ở cơ sở trên một số lĩnh vực quan trọng như: trong thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người bảo vệ tài nguyên môi trường; trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương; tuân thủ pháp luật của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội; phòng, chống "tự diễn biến", “tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên ở cơ sở.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với các đồng chí cùng các bạn và mong nhận được ý kiến đóng góp để lần xuất bản sau nội dung cuốn sách được hoàn chỉnh hơn.
Tháng 1 năm 2017
BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT
Bài 1 - TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ Bài 1
TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ
A. TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
I. HỆ THỐNG, CƠ CẤU VÀ CHỨC NĂNG CỦA TỔ CHỨC ĐẢNG
1. Hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng
a) Tổ chức đảng theo tổ chức hành chính nhà nước
Tổ chức cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức theo tổ chức hành chính nhà nước.
- Tại mỗi cấp hành chính nhà nước có các tổ chức đảng tương ứng:
+ Ở cấp Trung ương có Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
+ Ở cấp tỉnh có các đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
+ Ở cấp huyện có các đảng bộ huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
+ Ở cấp cơ sở có các tổ chức cơ sở đảng của xã, phường, thị trấn.
b) Hệ thống tổ chức đảng theo khối
- Ngoài hệ thống tổ chức cơ bản theo tổ chức hành chính nhà nước, các tổ chức đảng còn được thành lập theo khối.
Trung ương lập một số đảng bộ khối trực thuộc Trung ương. Hiện nay, có hai đảng bộ khối trực thuộc Trung ương là Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương và Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương. Các đảng bộ trực thuộc đảng ủy Khối trực thuộc Trung ương là các đảng bộ cấp trên trực tiếp cơ sở và đảng bộ cơ sở.
- Trong Đảng bộ Khối các cơ quan Trung ương có đảng bộ các cơ quan Trung ương của Đảng, Nhà nước và các tổ chức chính trị, xã hội.
- Trong Đảng bộ Khối doanh nghiệp Trung ương có các đảng bộ các doanh nghiệp lớn, đông đảng viên, các tổ chức kinh tế nhà nước.
- Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có đảng bộ khối cơ quan tỉnh, thành phố; ở các tỉnh, thành phố có nhiều doanh nghiệp thì có đảng bộ khối doanh nghiệp. Các đảng bộ trực thuộc hai khối nêu trên cũng như các đảng bộ khối thuộc đảng bộ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các đảng bộ tương đương cấp huyện, là đảng bộ cấp trên cơ sở.
- Trực thuộc các đảng bộ cấp trên cơ sở là các tổ chức cơ sở đảng. Đó là các đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở được thành lập tại các tổ chức kinh tế, xã hội, như cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp...
c) Hệ thống tổ chức đảng trong quân đội, công an
- Hệ thống tổ chức đảng trong quân đội và công an được tổ chức tương ứng với cơ cấu tổ chức của quân đội và công an, bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội và công an.
- Theo Điều lệ của Quân ủy Trung ương và Đảng ủy Công an Trung ương1.
2. Tổ chức cơ sở đảng
a) Tổ chức cơ sở đảng trong hệ thống tổ chức cơ bản của Đảng
- Tổ chức cơ sở đảng có hai loại hình là đảng bộ cơ sở và chi bộ cơ sở.
- Việc thành lập tổ chức cơ sở đảng căn cứ vào số lượng đảng viên chính thức và đặc điểm của cơ sở. Ở xã, phường, thị trấn, nếu có từ ba đảng viên chính thức trở lên, thì thành lập tổ chức cơ sở đảng trực thuộc đảng bộ cấp huyện. Nếu tại xã, phường, thị trấn, số đảng viên từ 30 trở lên thì thành lập đảng bộ cơ sở. Nếu tại xã, phường, thị trấn, số đảng viên dưới 30 thì lập chi bộ cơ sở trực thuộc đảng bộ huyện và tương đương.
- Trong Đảng bộ cơ sở có các chi bộ trực thuộc. Chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở được tổ chức theo nơi làm việc hoặc nơi ở của đảng viên; mỗi chi bộ ít nhất có ba đảng viên chính thức.
- Trực thuộc chi bộ có thể có các tổ đảng.
b) Các tổ chức cơ sở đảng khác
- Tại các tổ chức kinh tế, xã hội như cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp, đơn vị quân đội, công an và các đơn vị khác, có từ ba đảng viên chính thức trở lên thì thành lập tổ chức đảng nhưng không nhất thiết phải là tổ chức cơ sở đảng. Có thể thực hiện theo ba phương án sau:
+ Lập tổ chức cơ sở đảng (đảng bộ cơ sở, chi bộ cơ sở) như đối với xã, phường, thị trấn.
+ Lập chi bộ hoặc tổ đảng trực thuộc tổ chức cơ sở đảng.
+ Tại các cơ sở không đủ ba đảng viên chính thức thì giới thiệu đảng viên sinh hoạt ở tổ chức cơ sở đảng thích hợp.
- Thông thường đảng bộ cơ sở phải có 30 đảng viên trở lên, tuy nhiên vẫn có một số trường hợp đặc biệt như:
+ Lập đảng bộ cơ sở chưa đủ 30 đảng viên.
+ Lập chi bộ trực thuộc đảng bộ cơ sở có hơn 30 đảng viên.
+ Lập đảng bộ bộ phận trực thuộc đảng bộ cơ sở2.
Những trường hợp này do cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng xem xét quyết định.
3. Chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
- Chức năng của tổ chức cơ sở đảng
Tổ chức cơ sở đảng có hai chức năng cơ bản, đó là nền tảng của Đảng và là hạt nhân chính trị ở cơ sở. Điểm 1 Điều 21 Điều lệ Đảng quy định: "Tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) là nền tảng của Đảng, là hạt nhân chính trị ở cơ sở”3.
Về chức năng nền tảng của Đảng:
- Chức năng là "nền tảng" của Đảng xuất phát từ những vị trí, vai trò sau đây:
+ Tổ chức cơ sở đảng lãnh đạo, quản lý đảng viên và các tổ chức của đảng viên (chi bộ, tổ đảng) một cách trực tiếp (không qua cấp trung gian), trực tiếp ban hành, ra các quyết định về đảng viên và các chi bộ, tổ đảng; quản lý những mặt hoạt động cơ bản của đảng viên.
+ Các chủ trương, đường lối của Đảng chủ yếu được thực hiện thông qua tổ chức cơ sở đảng.
+ Các tổ chức cơ sở đảng là nơi lựa chọn, bồi dưỡng những quần chúng ưu tú để kết nạp vào Đảng, bổ sung đội ngũ của Đảng.
Về chức năng hạt nhân chính trị ở cơ sở:
- Hệ thống chính trị là tập hợp toàn bộ các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, được lập ra để thực hiện quyền lực chung của xã hội - quyền lực chính trị.
Hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội (Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Cựu chiến binh Việt Nam). Đảng là một thành viên của hệ thống chính trị, nhưng giữ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị.
- Chức năng "hạt nhân chính trị ở cơ sở" của tổ chức cơ sở đảng thể hiện ở hai điểm:
+ Tổ chức cơ sở đảng là thành viên hoạt động chính trị tích cực nhất trong hệ thống chính trị ở cơ sở vì lợi ích của giai cấp, của toàn xã hội. Vì vậy, Đảng luôn chủ động, tự giác thực hiện, là thành viên tích cực nhất trong hệ thống chính trị.
+ Tổ chức cơ sở đảng là thành viên trung tâm trong hệ thống chính trị ở cơ sở. Đảng lãnh đạo toàn diện các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở. Đảng giác ngộ, tổ chức, vận động quần chúng thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đảng đoàn kết và tập hợp mọi lực lượng ở cơ sở thành một khối thống nhất ý chí và hành động, tạo ra sức mạnh tổng hợp thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của cơ sở.
- Để đảm đương được chức năng là nền tảng của Đảng, hạt nhân chính trị ở cơ sở, tổ chức cơ sở đảng phải không ngừng phấn đấu, thực sự là một tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh.
b) Nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng
Điều 23 Điều lệ Đảng quy định tổ chức cơ sở đảng (chi bộ cơ sở, đảng bộ cơ sở) có năm nhiệm vụ cụ thể4. Từ năm nhiệm vụ này, có thể khái quát thành các mặt công tác cơ bản của tổ chức cơ sở đảng như sau:
Một là, công tác xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức.
- Xây dựng Đảng về chính trị: Đó là kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; kiên định những vấn đề có tính nguyên tắc trong công tác xây dựng Đảng. Nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng và bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng có hiệu lực, hiệu quả; nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chính sách phù hợp với quy luật khách quan và đặc điểm của cơ sở, tạo bước đột phá để phát triển.
- Xây dựng Đảng về tư tưởng: Đó là đẩy mạnh, học tập chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đẩy mạnh công tác giáo dục, bồi dưỡng lý luận chính trị, học tập nghị quyết của Đảng thiết thực và hiệu quả. Đồng thời, tích cực đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa"...
- Xây dựng Đảng về tổ chức: Đó là chú trọng tới việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên công chức. Đồng thời, xác định rõ cơ chế tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu; thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm kỷ luật, kỷ cương; nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên; kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những đảng viên không giữ được tư cách, vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, coi trọng công tác bảo vệ chính trị nội bộ; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng và công tác dân vận...
- Xây dựng Đảng về đạo đức: Đó là tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, coi đó là công việc thường xuyên của các tổ chức đảng, các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội, địa phương, đơn vị, gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, "lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm. Xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị.
Hai là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị5
- Lãnh đạo xây dựng chính quyền, các tổ chức kinh tế, hành chính, sự nghiệp, quốc phòng, an ninh và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở.
- Liên hệ mật thiết với nhân dân, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân; lãnh đạo nhân dân tham gia xây dựng và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ở cơ sở.
Ba là, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách,. pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh. Kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng.
c) Nhiệm vụ của chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở
- Các chi bộ trong đảng bộ cơ sở được gọi là "chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở". Nhiệm vụ của chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở gắn liền với nhiệm vụ của đảng bộ cơ sở, đồng thời được xác định cụ thể theo Điểm 2 Điều 24 Điều lệ Đảng: "Chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị; giáo dục, quản lý và phân công công tác cho đảng viên; làm công tác vận động quần chúng và công tác phát triển đảng viên; kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật đảng viên; thu, nộp đảng phí"6.
Nội dung thực hiện những nhiệm vụ nêu trên là:
+ Căn cứ vào đặc điểm, chức năng và nhiệm vụ chính trị cụ thể của từng loại hình đơn vị, chi bộ lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nghị quyết của đảng ủy cơ sở.
+ Thường xuyên chăm lo xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh; chủ động đề phòng và kịp thời khắc phục những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật.
- Trong công tác xây dựng chi bộ, cần tập trung vào các vấn đề sau đây:
+ Giáo dục, quản lý và phân công công tác cho đảng viên để đảng viên thực hiện tốt vai trò tiên phong gương mẫu trong sản xuất, công tác, chiến đấu, học tập và rèn luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống.
+ Làm tốt công tác quần chúng và công tác phát triển đảng viên; thông qua công tác vận động nhân dân để phát triển ảnh hưởng của Đảng trong quần chúng.
+ Làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, khen thưởng và kỷ luật; kịp thời phát hiện và có biện pháp giáo dục đối với đảng viên mắc sai lầm, khuyết điểm; kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người không đủ tư cách đảng viên.
+ Giữ vững nền nếp, không ngừng nâng cao chất lượng sinh hoạt chi ủy, chi bộ; góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên. Trong sinh hoạt chi ủy, chi bộ cần thật sự coi trọng tự phê bình và phê bình, nêu cao tình thương yêu đồng chí, giúp nhau không ngừng tiến bộ.
II - THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH TRỊ CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
1. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở xã
- Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội theo nghị quyết của đảng bộ, chi bộ xã và của tổ chức đảng cấp trên, đặc biệt là nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; quản lý và sử dụng đất đai, vốn và các nguồn lực để phát triển kinh tế có hiệu quả, bền vững; phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói, giảm nghèo; chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới.
- Lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện tốt phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra"; giám sát mọi hoạt động ở cơ sở theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, kỷ cương; kịp thời giải quyết những vướng mắc phát sinh trong cộng đồng dân cư theo đúng pháp luật, không để xảy ra tình trạng khiếu kiện tập thể, vượt cấp hoặc lợi dụng dân chủ để làm mất ổn định chính trị ở cơ sở.
- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chính sách hậu phương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội.
2. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ của phường, thị trấn
Lãnh đạo chính quyền thực hiện các chủ trương, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện đúng chức năng quản lý hành chính nhà nước và công tác quản lý đô thị; chăm lo phát triển sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế, bảo vệ môi trường; thực hiện tốt các chính sách xã hội, xóa đói, giảm nghèo.
- Lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở.
- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân và chính sách hậu phương quân đội, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội.
3. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở cơ quan
- Lãnh đạo cán bộ, công chức và người lao động đề cao tinh thần trách nhiệm, tham gia xây dựng và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị của cơ quan theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Lãnh đạo cán bộ, công chức, người lao động phát huy tính chủ động, sáng tạo, làm tốt chức năng tham mưu, nghiên cứu đề xuất, quản lý hành chính nhà nước...; kiến nghị với lãnh đạo cơ quan về những vấn đề cần thiết; không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc, nâng cao hiệu quả công tác…
- Lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ quan, phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, người lao động, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; chăm lo đời sống vật chất tinh thần, cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ, công chức, người lao động.
- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, đoàn kết nội bộ, bảo vệ bí mật quốc gia, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ tài sản của cơ quan, Nhà nước, chống âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch...
4. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp nhà nước
- Tham gia xây dựng và lãnh đạo thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; bảo đảm quyền lợi hợp pháp của người lao động, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người lao động.
- Lãnh đạo thực hiện dân chủ trong doanh nghiệp; thực hiện công khai về phân phối; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực...
- Lãnh đạo đảng viên và quần chúng giám sát mọi hoạt động của doanh nghiệp theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, xây dựng lực lượng tự vệ mạnh, giữ vững an ninh, chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà nước và của doanh nghiệp.
5. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp
- Lãnh đạo xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, công tác chuyên môn của đơn vị theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hoàn thành nghĩa vụ của đơn vị đối với Nhà nước, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên và quần chúng.
- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng giám sát mọi hoạt động của đơn vị; đề cao tinh thần trách nhiệm, phát huy tính chủ động, sáng tạo, không ngừng cải tiến lề lối, phương pháp làm việc, nâng cao hiệu quả công tác, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao.
- Lãnh đạo thực hiện dân chủ ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của cán bộ, đảng viên và quần chúng, đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, trù dập, ức hiếp quần chúng và các hiện tượng tiêu cực khác (nhất là những tiêu cực trong tuyển sinh, cấp văn bằng, chứng chỉ, khám chữa bệnh, nghiên cứu khoa học và trong các hoạt động văn hóa, thể thao...).
- Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân, giữ vững an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội trong đơn vị; đoàn kết nội bộ, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng, đấu tranh chống âm mưu "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch; giữ gìn bí mật quốc gia, bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ tài sản của Nhà nước và của đơn vị.
6. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước liên doanh với nước ngoài
- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam và tuyên truyền, vận động, yêu cầu phía nước ngoài thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước Việt Nam, các quy định trong giấy phép đầu tư, hợp đồng liên doanh, điều lệ doanh nghiệp, hợp đồng và thỏa ước lao động đã ký kết. Đoàn kết, động viên đảng viên và các thành viên trong doanh nghiệp phấn đấu vì mục tiêu chung là thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ động ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện vi phạm pháp luật, bảo đảm lợi ích của Nhà nước Việt Nam, của các bên tham gia liên doanh, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và danh dự, nhân phẩm của người lao động.
- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam tích cực học tập, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức khoa học, công nghệ, ngoại ngữ, ý thức tôn trọng pháp luật và kỷ luật lao động.
- Lãnh đạo cán bộ, đảng viên, người lao động Việt Nam giữ gìn bí mật và chủ quyền quốc gia, thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội trong doanh nghiệp và tham gia các công tác xã hội ở địa phương.
- Đề xuất, kiến nghị lên cấp có thẩm quyền những vấn đề cần thiết liên quan đến doanh nghiệp.
7. Thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (gọi chung là doanh nghiệp tư nhân)
- Lãnh đạo đảng viên, người lao động trong doanh nghiệp; tuyên truyền và vận động chủ doanh nghiệp, các thành viên hội đồng quản trị và ban giám đốc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hợp đồng và các thỏa ước lao động đã ký kết. Đoàn kết, động viên đảng viên và các thành viên trong doanh nghiệp phấn đấu vì mục tiêu chung là thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Chủ động ngăn ngừa, khắc phục những biểu hiện vi phạm pháp luật trong sản xuất kinh doanh, làm thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, chủ doanh nghiệp, quyền lợi hợp pháp và nhân phẩm của người lao động.
- Lãnh đạo đảng viên, người lao động tích cực học tập, nâng cao trình độ về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ kiến thức khoa học, công nghệ, ngoại ngữ, ý thức tôn trọng pháp luật và kỷ luật lao động.
- Lãnh đạo đảng viên, người lao động và tuyên truyền, vận động chủ doanh nghiệp thực hiện tốt nhiệm vụ giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, các mặt công tác xã hội trong doanh nghiệp và ở địa phương.
- Đề xuất kiến nghị lên cấp có thẩm quyền những vấn đề cần thiết liên quan đến doanh nghiệp7.
III - NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG LÃNH ĐẠO VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA TỔ CHỨC CƠ SỞ ĐẢNG
Báo cáo chính trị được thông qua tại Đại hội lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Tập trung củng cố nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, nhất là tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế”8. Nâng cao chất lượng lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng là một nhiệm vụ và giải pháp tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh hiện nay, tập trung vào các nội dung sau:
1.Về nội dung lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
Chi bộ, đảng bộ cơ sở là hạt nhân chính trị, lãnh đạo toàn diện các mặt công tác ở cơ sở, cụ thể như sau: Một là, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị:
- Nắm vững các nhiệm vụ trụ cột: Phát triển kinh tế - xã hội là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; xây dựng, phát triển văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần của xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên. Chăm lo xây dựng chính quyền cơ sở, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân, bảo đảm sự phối hợp chặt chẽ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị ở cơ sở, hướng vào việc phát huy vai trò làm chủ của nhân dân.
- Tổ chức quán triệt và thực hiện nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Nắm chắc và phản ánh kịp thời mọi tâm tư, nguyện vọng, bảo đảm lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân; khơi dậy và phát huy mọi nguồn lực của nhân dân, không ngừng nâng cao trình độ về mọi mặt của nhân dân.
Hai là, tăng cường công tác xây dựng Đảng:
- Chi bộ, đảng bộ cơ sở không ngừng nâng cao chất lượng đảng viên về tư tưởng chính trị, về trình độ năng lực, về phẩm chất đạo đức, lối sống; đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác.
- Chi bộ, đảng bộ cơ sở coi trọng công tác phát triển đảng viên, bảo đảm tiêu chuẩn và chất lượng; coi trọng giáo dục rèn luyện đảng viên dự bị, đảng viên trẻ; thường xuyên làm tốt công tác quản lý đảng viên, kịp thời phát hiện và kiên quyết đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng bằng các hình thức thích hợp; phấn đấu không có đảng viên yếu kém.
2. Về phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng
Phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng cần được nâng cao chất lượng và đổi mới theo hướng dân chủ, hiệu quả, thiết thực... Sau đây là một số định hướng:
Một là, đổi mới việc ra nghị quyết của đảng bộ, chi bộ, của cấp ủy đảng theo hướng dân chủ hóa, khoa học, thiết thực, cụ thể, dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá... Những chủ trương công tác thuộc thẩm quyền quyết định của chính quyền và đoàn thể thì chính quyền và đoàn thể chủ động đề xuất, cấp ủy đảng bàn và có ý kiến về những nội dung quan trọng.
Hai là, xây dựng và thực hiện quy chế làm việc giữa bí thư cấp ủy với chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch ủy ban nhân dân, chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc và những người đứng đầu các đoàn thể để bàn và giải quyết kịp thời những công việc quan trọng và bức xúc trên địa bàn, bảo đảm cho cấp ủy đảng quán xuyến được các mặt công tác ở cơ sở.
Ba là, đảng bộ, chi bộ và cấp ủy đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ gồm nhiều thế hệ, kế tiếp nhau thông qua việc rèn luyện đội ngũ đảng viên; phát hiện và bồi dưỡng những người có đức, có tài để giới thiệu đảm đương các vị trí lãnh đạo trong hệ thống chính trị. Dựa vào nhân dân và thông qua hoạt động thực tiễn ở cơ sở để phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và kiểm tra cán bộ.
Bốn là, bảo đảm sự lãnh đạo của tổ chức đảng đối với các cuộc bầu cử ở cơ sở, trước hết là bảo đảm phát huy dân chủ, thực hiện đúng nguyên tắc, tiêu chuẩn. Việc bố trí bí thư đảng ủy đồng thời làm chủ tịch Hội đồng nhân dân hay chủ tịch Ủy ban nhân dân tùy thuộc tình hình cụ thể ở từng nơi.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc chấp hành nghị quyết của Đảng; kiểm tra công tác, đồng thời kiểm tra tư cách đảng viên. Chú trọng tìm hiểu, lắng nghe ý kiến nhận xét, đánh giá của quần chúng đối với đảng viên và tổ chức đảng thông qua việc thực hiện dân chủ ở cơ sở. Hằng năm, bí thư cấp ủy, chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch Ủy ban nhân dân tự phê bình trước đại diện của nhân dân.
3. Nâng cao chất lượng và đổi mới phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng trên một số lĩnh vực chủ yếu
Một là, phương thức lãnh đạo đối với chính quyền cơ sở.
- Đảng bộ, chi bộ, trực tiếp là đảng ủy, chi ủy lãnh đạo chính quyền cơ sở bằng việc đề ra chủ trương, nhiệm vụ, định hướng cho các hoạt động, các lĩnh vực công tác ở cơ sở và kiểm tra việc tổ chức thực hiện; bảo đảm chấp hành đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Tập thể cấp ủy thảo luận dân chủ, biểu quyết và ra nghị quyết theo đa số về kiện toàn tổ chức và đội ngũ cán bộ công tác chính quyền cơ sở thuộc thẩm quyền.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng, đảng viên, cấp ủy viên hoạt động trong cơ cấu chính quyền cơ sở, bảo đảm giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc các đoàn thể chính trị - xã hội và của nhân dân trong xây dựng và quản lý nhà nước; thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí...
Hai là, phương thức lãnh đạo các đoàn thể nhân dân ở cơ sở.
- Đảng ủy, chi ủy có chương trình công tác vận động nhân dân; thường xuyên trực tiếp lắng nghe và đối thoại với nhân dân.
- Lựa chọn, giới thiệu cán bộ, đảng viên có phẩm chất và năng lực trong công tác vận động nhân dân để giới thiệu bầu vào ban chấp hành, làm cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở cơ sở.
- Phát huy vai trò, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên hoạt động trong các đoàn thể, bảo đảm sự lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ.
- Đảng ủy, chi ủy định kỳ làm việc với ban chấp hành từng đoàn thể và ban công tác Mặt trận ở cơ sở, tạo điều kiện để các đoàn thể thực hiện tốt vai trò của mình.
Ba là, phương thức lãnh đạo trong nội bộ hệ thống tổ chức của Đảng.
- Đảng ủy, chi ủy tăng cường chế độ lãnh đạo tập thể đi đôi với phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo và trách nhiệm cá nhân.
- Đảng bộ, chi bộ, đảng ủy, chi ủy lãnh đạo bằng việc ra nghị quyết và tổ chức thực hiện nghị quyết, nói đi đôi với làm, thực hiện "đảng viên đi trước, làng nước theo sau”.
- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ủy ban kiểm tra về chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật Nhà nước. Phát huy dân chủ đi đôi với tăng cường kỷ luật, giữ gìn đoàn kết nội bộ, đặc biệt coi trọng việc tu luyện, tu dưỡng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Tăng cường mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhân dân.
B. NHIỆM VỤ CỦA CHI ỦY VÀ BÍ THƯ CHI BỘ
I- NHIỆM VỤ CHI ỦY
Là cơ quan lãnh đạo của chi bộ giữa hai kỳ đại hội, chi ủy có nhiệm vụ tổ chức, thực hiện sự lãnh đạo của chi bộ theo các nội dung, nhiệm vụ đã được quy định tại điểm 2 Điều 24 Điều lệ Đảng.
Tổng hợp lại có những nội dung chính sau:
1. Lãnh đạo việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị của cấp trên
Chi ủy có nhiệm vụ chấp hành và lãnh đạo thực hiện nghiêm túc các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên. Cụ thể là:
- Tổ chức cho đảng viên nghiên cứu, quán triệt, nắm vững nội dung các nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, trực tiếp là của đảng ủy cơ sở; đặc biệt là những nghị quyết, chỉ thị có liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ lãnh đạo của chi bộ và nhiệm vụ chính trị của đơn vị.
- Căn cứ nội dung, yêu cầu của nghị quyết, chỉ thị, hướng dẫn của cấp trên và điều kiện cụ thể của địa phương, đơn vị mình,. chi ủy xây dựng dự thảo chương trình hành động của đơn vị và tổ chức hội nghị chi bộ thảo luận, quyết định để thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên.
- Trong quá trình triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, chương trình hành động thực hiện nghị quyết ở địa phương, đơn vị, gặp phải những vướng mắc, chi ủy có trách nhiệm tập hợp ý kiến của cán bộ, đảng viên và nhân dân, kịp thời phản ánh lên cấp trên và đề xuất phương hướng giải quyết.
- Chi ủy chịu sự kiểm tra, giám sát về mọi mặt của cấp ủy cấp trên, đặc biệt trong việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Chi ủy thường xuyên giữ mối liên hệ chặt chẽ với cấp ủy cấp trên trực tiếp thông qua việc báo cáo tình trình hoạt động của chi bộ và xin ý kiến chỉ đạo, nhất là đối với các vấn đề vượt quá phạm vi, trách nhiệm và quyền hạn của chi bộ.
2. Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị
Lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của chi bộ, chi ủy. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, chi ủy cần nắm vững và thực hiện tốt những vấn đề sau:
- Nắm vững nhiệm vụ chính trị của đơn vị mình. Trên cơ sở xây dựng và thực hiện đúng quy chế về mối quan hệ giữa chi bộ, chi ủy với chính quyền, người đứng đầu cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, để xây dựng nghị quyết lãnh đạo của chi bộ sát, đúng.
- Tổ chức, hướng dẫn đảng viên nghiên cứu, quán triệt đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị, quy định, hướng dẫn của cấp trên. Từ đó, vận dụng vào điều kiện thực tế của địa phương, cơ quan, đơn vị để thảo luận, đề ra nghị quyết lãnh đạo của chi bộ.
- Tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết bằng việc xây dựng chương trình công tác của chi ủy, chi bộ với nội dung công việc và kế hoạch cụ thể.
- Thường xuyên kiểm tra việc chấp hành nghị quyết chi bộ của đảng viên; kiểm tra hoạt động của chính quyền, các tổ chức, đoàn thể cùng cấp trong việc thực hiện nghị quyết của chi bộ. Kịp thời phát hiện và uốn nắn những lệch lạc, điều chỉnh, bổ sung biện pháp lãnh đạo để khắc phục những thiếu sót, hạn chế phát sinh khi thực hiện.
Trong công tác tổ chức, chi ủy yêu cầu mọi đảng viên phải phục tùng tổ chức, tôn trọng tập thể, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định của tổ chức đảng, nghị quyết của chi bộ. Đồng thời chi ủy lãnh đạo bằng thuyết phục và hành động gương mẫu của các cấp ủy viên.
3. Lãnh đạo công tác xây dựng chi bộ
a) Nâng cao chất lượng sinh hoạt chi ủy chi bộ
- Chi bộ, chi ủy họp thường lệ mỗi tháng một lần. Sinh hoạt chi bộ có các loại hình sau: Sinh hoạt ra nghị quyết lãnh đạo, sinh hoạt học tập, sinh hoạt phê bình, tự phê bình. Mỗi loại hình sinh hoạt có vai trò nhất định trong nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đảng viên về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật… Tùy tình hình và yêu cầu cụ thể, chi bộ có thể vận dụng một trong những hình thức sinh hoạt nói trên, hoặc kết hợp các hình thức với nhau làm cho sinh hoạt chi bộ trở nên phong phú, sinh động, bảo đảm tính chính trị, tính giáo dục, tính chiến đấu.
- Trước khi sinh hoạt chi bộ, chi ủy phải chuẩn bị tốt nội dung sinh hoạt (bằng văn bản); thông báo về nội dung sinh hoạt để đảng viên chuẩn bị ý kiến tham gia thảo luận tại cuộc họp, nhằm phát huy dân chủ, bảo đảm chất lượng sinh hoạt chi bộ.
- Trong sinh hoạt chi bộ, trách nhiệm của chi ủy, trước hết là của bí thư chi bộ, phải hướng dẫn đảng viên tập trung thảo luận một cách dân chủ, thẳng thắn, phát huy cao nhất trí tuệ tập thể, nhằm xây dựng nghị quyết chi bộ sát hợp với tình hình, nhiệm vụ thực tế ở đơn vị. Thực hiện tốt nguyên tắc tự phê bình và phê bình; phát huy vai trò, trách nhiệm của đảng viên, nâng cao tính chiến đấu và không ngừng củng cố sự đoàn kết thống nhất trong chi bộ.
- Sau khi có nghị quyết, chi bộ, chi ủy có kế hoạch triển khai thực hiện cụ thể, phân công nhiệm vụ cho từng đảng viên và tạo điều kiện để mỗi đảng viên hoàn thành nhiệm vụ được giao.
b) Chi ủy lãnh đạo, chăm lo xây dựng đội ngũ đảng viên
- Coi trọng công tác giáo dục, giúp mỗi đảng viên không ngừng nâng cao trình độ chính trị, nắm vững chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, hoàn thành tốt nhiệm vụ đảng viên.
- Gắn giáo dục với quản lý, phân công nhiệm vụ đảng viên, trong đó coi trọng việc quản lý về chính trị - tư tưởng, về trình độ và năng lực công tác, về sinh hoạt gia đình và quan hệ xã hội. Quản lý chặt chẽ về số lượng, chất lượng và cơ cấu đội ngũ đảng viên. Việc quản lý, giáo dục đảng viên phải được tiến hành thường xuyên, gắn với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương, cơ sở.
- Chi ủy thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, tổ chức cho mỗi đảng viên tự phê bình, tự đánh giá kết hợp với nhận xét, đánh giá của chi bộ, ý kiến phê bình góp ý của quần chúng và kiểm tra của cấp trên. Kịp thời phát hiện giúp đỡ những đảng viên vi phạm và kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những phần tử thoái hoá, biến chất.
- Chi ủy quan tâm lãnh đạo các tổ chức quần chúng và giao nhiệm vụ cho đảng viên làm tốt công tác phát triển Đảng. Tiến hành công tác phát triển đảng viên theo kế hoạch và quy định của Điều lệ Đảng nhằm tăng thêm sinh lực cho Đảng, trẻ hoá đội ngũ, bảo đảm sự kế thừa và phát triển của Đảng.
4. Lãnh đạo các đoàn thể
- Chi ủy có trách nhiệm chăm lo xây dựng các đoàn thể, nhưng không làm thay công việc của các đoàn thể. Tôn trọng phát huy vai trò, chức năng của các tổ chức đó; động viên và ủng hộ sáng kiến của quần chúng. Chỉ đạo, hướng dẫn, tạo điều kiện để các đoàn thể hoạt động có nền nếp, chất lượng và hiệu quả; đồng thời, phân công chi ủy viên phụ trách công tác đoàn thể ở đơn vị.
- Chi ủy lãnh đạo việc xây dựng và thực hiện quy hoạch cán bộ: giới thiệu đảng viên đủ tiêu chuẩn để ứng cử vào các chức danh lãnh đạo đoàn thể chính trị - xã hội. Bí thư chi bộ cùng chi ủy lãnh đạo trực tiếp tổ chức đoàn thanh niên cùng cấp về phương hướng, nhiệm vụ hoạt động, chỉ đạo đoàn thanh niên làm tốt công tác tư tưởng, tổ chức và cán bộ.
- Chi ủy khuyến khích, tạo điều kiện để các đoàn thể tích cực vận động đoàn viên, hội viên thi đua phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả công tác, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, thực hành dân chủ, công bằng xã hội, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chống buôn lậu và các biểu hiện tiêu cực khác. Duy trì và phát triển các phong trào thi đua chung của đơn vị và của từng đoàn thể.
- Theo định kỳ, hằng quý, hằng tháng, chi ủy làm việc với người phụ trách và các đoàn thể để góp ý kiến về việc tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của chi bộ và chương trình hành động của các đoàn thể. Thường xuyên duy trì, củng cố mối quan hệ mật thiết giữa chi ủy với người phụ trách các đoàn thể và quan hệ mật thiết giữa đảng viên với quần chúng trong đơn vị.
- Chi ủy lãnh đạo chặt chẽ việc tổ chức các kỳ đại hội, hội nghị công nhân viên chức, đại hội, hội nghị xã viên, đại hội và hội nghị các đoàn thể chính trị - xã hội. Phát huy vai trò, trách nhiệm chính trị của từng đảng viên trong các tổ chức, đoàn thể, qua đó tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, chi bộ đối với hoạt động của các tổ chức quần chúng ở đơn vị.
II- NHIỆM VỤ CỦA BÍ THƯ CHI BỘ
Bí thư Chi bộ là người đứng đầu chi bộ và là người có trách nhiệm tổ chức thực hiện sự lãnh đạo của chi bộ trên mọi mặt công tác theo quy định của Điều lệ Đảng. Cụ thể là:
1.Bí thư chi bộ chịu trách nhiệm chung về công tác lãnh đạo của chi ủy, chi bộ, đồng thời trực tiếp phụ trách công tác tư tưởng.
- Bí thư chi bộ đề xuất để chi ủy thống nhất phân công công tác cho từng chi ủy viên, cho đảng viên của chi bộ theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách.
Trên cơ sở phân công, mỗi chi ủy viên phụ trách từng công việc. Bí thư chi bộ thường xuyên theo dõi, đôn đốc để các mặt hoạt động của chi bộ được triển khai đồng bộ, đồng thời tạo điều kiện cho từng cấp ủy viên phát huy vai trò của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ được giao. Trong quá trình lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị, bí thư chi bộ phát huy đầy đủ vai trò đầu tàu, gương mẫu, cùng tập thể chi ủy làm tốt vai trò hạt nhân đoàn kết, lãnh đạo các hoạt động của đơn vị xây dựng chi bộ, chi ủy trong sạch, vững mạnh, cơ quan, đơn vị vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
- Trong công tác tư tưởng, bí thư chi bộ thường xuyên nắm bắt tình hình, dự báo chiều hướng phát triển về tư tưởng trong chi bộ và cơ quan, đơn vị, địa phương, nhất là những trường hợp cá biệt, đang có vướng mắc trong nhận thức tư tưởng. Bí thư chi bộ nhạy bén phát hiện vấn đề, nắm bắt tình hình tư tưởng, dư luận trong đơn vị, cùng chi ủy có những biện pháp thích hợp để làm tốt công tác tư tưởng.
2. Bí thư chi bộ thường xuyên giữ mối quan hệ chặt chẽ với người phụ trách cơ quan, đơn vị
- Trong công tác lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của đơn vị, mối quan hệ giữa bí thư chi bộ và người phụ trách cơ quan, đơn vị là mối quan hệ về trách nhiệm, tôn trọng, đoàn kết, giúp đỡ nhau, phát huy vai trò và cùng nhau lãnh đạo, điều hành, quản lý đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.
- Xây dựng và thực hiện tốt quy chế làm việc giữa chi ủy với lãnh đạo cơ quan, đơn vị, giữa bí thư chi bộ với người phụ trách cơ quan, đơn vị.
- Bí thư chi bộ cần có đủ trình độ, kiến thức, cả về chuyên môn nghiệp vụ và công tác đảng; đồng thời, có khả năng tham gia vào việc kiểm tra công tác của người phụ trách đơn vị khi cần thiết.
- Bí thư chi bộ và người phụ trách đơn vị cần bảo đảm sự thống nhất về quan điểm và các quyết định thuộc về chủ trương công tác xây dựng cơ quan, đơn vị. Trong trường hợp khẩn cấp, đột xuất, không thể chờ đợi sự bàn bạc thống nhất về chủ trương công tác theo quy định, thì người phụ trách cơ quan, đơn vị có quyền chủ động quyết định, sau đó hai bên đều có trách nhiệm thảo luận, thống nhất và báo cáo lên cấp trên để xin ý kiến chỉ đạo. Trong trường hợp hai bên không thống nhất ý kiến, thì bí thư chi bộ có trách nhiệm báo cáo với chi ủy và báo cáo lên cấp ủy cấp trên xem xét, quyết định.
- Các ý kiến và quyết định của bí thư chi bộ phải dựa trên nguyên tắc tập trung dân chủ, phải có sự thảo luận, thống nhất trong cấp ủy. Bí thư chi bộ phải chịu trách nhiệm trước những ý kiến và quyết định của mình trước cấp ủy và chi bộ.
3. Bí thư chi bộ chuẩn bị ra nghị quyết của chi bộ
Thông thường, việc ra nghị quyết được thực hiện một cách phổ biến theo các bước sau:
Bước 1: Bí thư chi bộ chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi ủy.
Bí thư chi bộ chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi ủy, xác định những nội dung cốt lõi, trọng tâm và cần thiết của mỗi kỳ sinh hoạt để đưa ra chi ủy thảo luận, quyết định. Nội dung sinh hoạt có hai dạng chủ yếu là họp chi bộ hằng tháng và nội dung sinh hoạt chuyên đề.
Bước 2: Chủ trì sinh hoạt chi ủy chuẩn bị nội dung sinh hoạt chi bộ.
Sau khi đã chuẩn bị chu đáo nội dung sinh hoạt, bí thư chi bộ thông báo thời gian, triệu tập các chi ủy viên đến họp. Trong cuộc họp chi ủy, cần ghi biên bản cuộc họp. Khi tổ chức cuộc họp chi ủy, các bước tiến hành theo thứ tự sau:
- Bí thư chi bộ nêu dự kiến những nội dung sinh hoạt chi bộ mà mình đã chuẩn bị; nhấn mạnh những trọng tâm cần đi sâu thảo luận và yêu cầu cần đạt được khi thảo luận trong cấp ủy.
- Bí thư chi bộ yêu cầu và khuyến khích các chi ủy viên thảo luận kỹ để thống nhất quan điểm, mục tiêu, lựa chọn phương hướng và giải pháp tổ chức thực hiện. Trong quá trình thảo luận, cần phát huy dân chủ, nêu cao tinh thần chủ động, sáng tạo của từng chi ủy viên.
- Bí thư chi bộ lắng nghe, tiếp thu đầy đủ ý kiến của các chi ủy viên, tóm tắt, kết luận và ghi văn bản thành dự thảo nghị quyết chi bộ, với sự nhất trí của chi ủy.
Bước 3: Chủ trì sinh hoạt chi bộ.
- Bí thư chi bộ chủ trì các cuộc sinh hoạt chi bộ. Trong sinh hoạt chi bộ, bí thư phải nêu lý do, mục đích, nội dung, chương trình, dự kiến thời gian sinh hoạt; thay mặt chi ủy trình bày nội dung sinh hoạt, nhấn mạnh những vấn đề trọng tâm để chi bộ tập trung thảo luận thư ký ghi biên bản, ý kiến phát biểu của đảng viên.
- Trên cơ sở ý kiến thảo luận của đảng viên, bí thư chi bộ tổng hợp, khái quát, kết hợp với chuẩn bị của chi ủy thành những kết luận để chi bộ biểu quyết, thông qua nghị quyết của chi bộ. Nội dung nghị quyết của chi bộ thể hiện sự lãnh đạo toàn diện, có trọng tâm, trọng điểm, có nội dung và biện pháp tổ chức thực hiện cụ thể. Đồng thời, phải phân công từng đảng viên, từng bộ phận chịu trách nhiệm thực hiện.
4. Tổ chức thực hiện nghị quyết
Đây là khâu có ý nghĩa quyết định trong quá trình hoạt động lãnh đạo của chi bộ. Vì vậy, bí thư chi bộ phải làm tốt những công việc sau:
Một là, lập chương trình, kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện nghị quyết.
- Trong chương trình, kế hoạch thực hiện cần cụ thể hoá các vấn đề nêu trong nghị quyết, làm rõ những yêu cầu cần đạt được, những điểm cần chú ý, từng việc phải làm và phương pháp tổ chức thực hiện.
- Xác định thời gian hoàn thành từng việc cụ thể, có việc phải hoàn thành ngay, có việc phải hoàn thành trong từng tháng, từng quý. Thường xuyên đôn đốc mọi người giữ nghiêm kỷ luật trong công tác, bảo đảm thời gian, tiến độ thực hiện nghị quyết.
- Có kế hoạch kiểm tra việc thực hiện nghị quyết, xác định mục tiêu, nội dung cần kiểm tra và cách tiến hành kiểm tra.
Hai là, phân công trách nhiệm, phối hợp hoạt động của các tổ chức, cá nhân để thực hiện nghị quyết của chi bộ.
- Bí thư chi bộ phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng cho từng chi ủy viên, tổ trưởng đảng và đảng viên để thực hiện tốt các nội dung của nghị quyết.
- Thay mặt chi ủy, chi bộ Bí thư là đầu mối phối hợp với người đứng đầu cơ quan, chính quyền, đoàn thể cung cấp để triển khai hoạt động của các tổ chức trong đơn vị theo động chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức, bảo đảm nghị quyết được thực hiện một cách đồng bộ, có hiệu quả.
- Bí thư chi bộ theo dõi, đôn đốc, nắm chắc tình hình thực hiện nghị quyết chi bộ của các tổ chức trong đơn vị; nắm vững những công tác trọng tâm, trọng điểm, tập trung chỉ đạo trong từng thời gian.
Ba là, kiểm tra, sơ kết, tổng kết.
- Nội dung kiểm tra bao gồm:
+ Kiểm tra việc chấp hành nghị quyết chi bộ của các tổ chức và cán bộ, đảng viên thuộc quyền.
+ Kiểm tra và phát hiện những chủ trương, chỉ tiêu giải pháp trong nghị quyết lãnh đạo chưa sát thực, cần bổ sung, hoàn chỉnh; phát hiện vấn đề mới do thực tế đặt ra cần nghiên cứu.
+ Đánh giá kết quả hoạt động của từng bộ phận và cá nhân trong quá trình thực hiện nghị quyết của chi bộ. Biểu dương những cá nhân và bộ phận làm tốt, phê bình, nhắc nhở những việc làm chưa tốt.
- Để làm tốt việc sơ kết, tổng kết, bí thư chi bộ cần chú ý một số điểm sau:
+ Xác định rõ kết quả, chất lượng các mặt công tác đạt được đánh giá đúng mức những ưu điểm, khuyết điểm, những việc làm tốt, những việc chưa đạt yêu cầu trong quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết, thực hiện chương trình hành động; tìm ra những nguyên nhân chủ quan, khách quan làm cơ sở để rút kinh nghiệm trong công tác lãnh đạo; xác định rõ trách nhiệm của từng bộ phận và từng cá nhân.
+ Rút ra được những kinh nghiệm bổ ích, cụ thể, lấy đó làm bài học kinh nghiệm của chi bộ trong công tác lãnh đạo.
+ Kiến nghị, đề nghị với cấp trên trong việc lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ.
_______
Chú thích
1. Theo quy định, hiện nay ở Trung ương còn có Đảng ủy Ngoài nước dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Ban Bí thư Trung ương.
2. Cấp ủy cấp trên (cấp huyện) trực tiếp xem xét, quyết định việc tổ chức đảng đó trực thuộc cấp ủy cấp trên nào cho phù hợp.
3. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.35.
4. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.39-40.
5. Cần chú ý phân biệt giữa công tác xây dựng Đảng về chính trị với công tác thực hiện nhiệm vụ chính trị (hướng ra bên ngoài) của tổ chức đảng.
6. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.41.
7. Nhiệm vụ chính trị của tổ chức cơ sở đảng trong quân đội và công an có quy định riêng.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2016, tr.204-205.
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1 Phân tích chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng? Liên hệ với đảng bộ, chi bộ nơi đồng chí đang sinh hoạt.
2. Phân tích phương thức lãnh đạo của tổ chức cơ sở đảng? Theo đồng chí và từ thực tiễn ở cơ sở đồng chí, cần đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng bộ, chi bộ ở cơ sở hiện nay như thế nào?
3. Chi ủy có những nhiệm vụ chủ yếu nào? Nhiệm vụ chủ yếu của bí thư chi bộ là gì? Liên hệ thực tế.
4. Làm thế nào để nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ?
Bài 2 - CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ Bài 2
CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG VÀ CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
A. CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
I- MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG
1. Tư tưởng và công tác tư tưởng của Đảng
- Tư tưởng là hình thức tồn tại của ý thức con người, sự kết tinh của quá trình nhận thức, tư duy, bao gồm các quan niệm, quan điểm, chủ kiến, dự định của con người về các sự vật, hiện tượng của thế giới xung quanh...
- Công tác tư tưởng là hoạt động có mục đích của một giai cấp, một chính đảng nhằm xây dựng, phát triển, hoàn thiện hệ tư tưởng, phổ biến, truyền bá hệ tư tưởng vào quần chúng, cổ vũ, động viên, lôi cuốn, thúc đẩy quần chúng có hành động tích cực và sáng tạo để thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng. Theo V.I. Lênin, công tác tư tưởng có ba hình thái chủ yếu: hình thái lý luận, hình thái tuyên truyền và hình thái cổ động...
Công tác lý luận bao gồm nghiên cứu lý luận và giáo dục lý luận. Nghiên cứu lý luận nhằm xây dựng, phát triển lý luận làm cơ sở cho việc xây dựng đường lối chung và xác định nhiệm vụ cách mạng trong mỗi giai đoạn cụ thể. Giáo dục lý luận là hoạt động có mục đích, có tổ chức, theo chương trình, kế hoạch nhằm nâng cao trình độ lý luận của cán bộ, đảng viên và nhân dân.
Công tác tuyên truyền là hoạt động phổ biến truyền bá các nguyên lý lý luận, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng vào quần chúng; tạo sự thống nhất tư tưởng trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội.
Công tác cổ động là hoạt động cổ vũ, động viên trực tiếp và gián tiếp nhằm thúc đẩy quần chúng tham gia các hoạt động xã hội cụ thể, thực hiện chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng.
- Công tác tư tưởng có vai trò quan trọng xuất phần từ tầm quan trọng của lý luận đối với sự nghiệp cách mạng và việc đưa lý luận vào quần chúng. Cách mạng xã hội chủ nghĩa là hành động tự giác của hàng triệu quần chúng. Đảng thông qua công tác tư tưởng để tạo nên sự tự giác trong hành động của quần chúng. Công tác tư tưởng tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh chính trị - tinh thần to lớn trong Đảng và toàn xã hội, góp phần tạo nên thắng lợi của sự nghiệp cách mạng. C. Mác nói: "Lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng"1. V.I. Lênin cũng chỉ rõ: "Nâng cao sự giác ngộ của quần chúng, hiện nay cũng như bất cứ lúc nào, vẫn là nền tảng và nội dung chủ yếu của toàn bộ công tác của chúng ta"2.
- Trong quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh thường xuyên quan tâm, chăm lo đến công tác tư tưởng. Công tác tư tưởng được xác định là nhiệm vụ của toàn Đảng, của tất cả đảng viên, trước hết là cấp ủy các cấp và đồng chí bí thư cấp ủy"3. Báo cáo chính trị được thông qua tại Đại hội XII ghi rõ: “Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hơn nữa tính chiến đấu, tính thuyết phục, hiệu quả của công tác tư tưởng phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong xã hội .."4.
2. Nội dung, nhiệm vụ công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở
Nội dung công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở tập trung vào thực hiện các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, tăng cường giáo dục, nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, thống nhất nhận thức và hành động trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở cơ sở. Đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của công tác tư tưởng.
Nội dung chính trong công tác giáo dục chính trị, tư tưởng ở cơ sở là:
- Giáo dục lý luận chính trị, bao gồm giáo dục nhận thức về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên và mỗi người dân hiểu, từ đó kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
- Giáo dục quan điểm, đường lối của Đảng; các nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư; nghị quyết của tổ chức đảng cấp trên và của cấp mình.
- Giáo dục, nâng cao nhận thức về thời cơ và thách thức của đất nước, của từng địa phương, ngành, cơ sở trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
- Giáo dục, nâng cao cảnh giác cách mạng, chống âm mưu và thủ đoạn "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, phá hoại về tư tưởng, chính trị của các thế lực thù địch, cơ hội.
- Giáo dục tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, tinh thần tương thân, tương ái, hướng về cội nguồn, làm việc thiện, giữ gìn truyền thống, đạo lý tốt đẹp của dân tộc, v.v..
Hai là, tuyên truyền, cổ vũ, động viên quần chúng tham gia các phong trào thi đua yêu nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của đơn vị.
- Tuyên truyền, đưa đường lối của Đảng vào cuộc sống, biến nghị quyết của Đảng thành hiện thực. Tuyên truyền việc vận dụng đường lối, chính sách chung của Đảng vào việc hoạch định chủ trương, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội ở cơ sở; tham gia giải quyết những vấn đề kinh tế - xã hội ở địa phương, cơ sở.
- Động viên mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân đoàn kết thống nhất, phát huy truyền thống, khắc phục khó khăn, huy động mọi nguồn lực để phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân, hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước.
- Giải đáp kịp thời, đúng đắn những vướng mắc về nhận thức, định hướng chính trị trong xây dựng đời sống văn hóa, thực hiện các chính sách xã hội, chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước ở địa phương, cơ sở. Chủ động giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh từ cơ sở, không để lan rộng thành vấn đề tư tưởng chính trị...
- Thông qua sinh hoạt đảng, đoàn thể, các cuộc họp nhân dân để tuyên truyền, nêu gương "người tốt, việc tốt”, phê phán những việc làm sai trái, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật, trái với đạo đức xã hội, vi phạm các quy ước tập thể, cộng đồng.
Ba là, tăng cường giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc và có hiệu quả việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh theo Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị khóa XII.
- Chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho đảng viên thông qua việc phân công, giao nhiệm vụ, rèn luyện qua thực tiễn, qua đấu tranh phê bình và tự phê bình, tiếp thu ý kiến đóng góp xây dựng của quần chúng, qua nêu gương điển hình tiên tiến.
- Thường xuyên và trực tiếp quản lý, giáo dục, theo dõi, diễn biến, thực trạng đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực hiện Điều 23 Điều lệ Đảng, tổ chức cơ sơ đảng có nhiệm vụ: “... thường xuyên giáo dục, rèn luyện và quản lý cán bộ, đảng viên, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng, tính chiến đấu, trình độ kiến thức, năng lực công tác"5.
- Trong công tác giáo dục, xây dựng đạo đức mới, cần coi trọng các nguyên tắc "xây" đi đôi với "chống", lấy “xây” là chính; nói đi đôi với làm, nêu gương người tốt, việc tốt, người thực, việc thực của chi bộ, đảng bộ, của địa phương, cơ sở; phải tu dưỡng đạo đức suốt đời.
Bốn là, công tác tư tưởng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xây dựng đời sống văn hóa, bồi dưỡng, xây dựng con người mới với những đức tính, phẩm chất tốt đẹp.
- Xây dựng đời sống văn hóa, bồi dưỡng, xây dựng con người mới ở cơ sở là nhiệm vụ cơ bản, thường xuyên của công tác tư tưởng. Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng: “Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh””6.
- Quán triệt quan điểm, chủ trương trên, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải thường xuyên quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa" ở cơ sở, xây dựng làng, ấp, xã, phường... văn hóa, gia đình văn hóa, xây dựng con người mới với những đức tính tốt đẹp, đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa của con người Việt Nam.
Xây dựng đời sống văn hóa tinh thần lành mạnh, đi đôi với đấu tranh chống tệ nạn xã hội, chống mê tín, dị đoan và các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, lối sống thực dụng, xa hoa trụy lạc…
Năm là, công tác tư tưởng trực tiếp tham gia đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng đảng bộ, chi bộ trong sạch, vững mạnh.
- Coi trọng, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng chỉnh đốn Đảng trên lĩnh vực tư tưởng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII và các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, chú trọng làm tốt hơn việc nêu gương những người tốt, việc tốt; lấy nhân tố tích cực để đẩy lùi tiêu cực. Phê phán, đấu tranh với những biểu hiện sa sút về tư tưởng chính trị, vô trách nhiệm, vụ lợi cá nhân, vi phạm những chuẩn mực đạo đức, lối sống "tự diễn biến", “tự chuyển hóa”…
- Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tự phê bình và phê bình; thường xuyên nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, xây dựng chi bộ, đảng bộ trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của chi bộ, đảng bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, công chức trong sạch, liêm chính; xây dựng và củng cố quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân.
Sáu là, chủ động tiến công, triển khai có hiệu quả cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng; thực hiện nghiêm túc những chỉ thị, quy định của Đảng về bảo vệ Đảng, xử lý kịp thời những thông tin bịa đặt, hoạt động tán phát tài liệu, thư nặc danh, mạo danh có nội dung xấu.
- Không ngừng nâng cao bản lĩnh chính trị, vững vàng trước mọi thử thách, khó khăn cho cán bộ, đảng viên, lấy xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh làm phương hướng cơ bản.
- Thực hiện nghiêm những chỉ thị, quy định về bảo vệ Đảng, trước hết là những quy định về những điều đảng viên không được làm, trong đó có quy định đảng viên không được nói và làm trái với Cương lĩnh, đường lối của Đảng, không truyền bá quan điểm cá nhân trái với quan điểm của Đảng, gây hoang mang, hoài nghi trong Đảng và nhân dân... Có những biện pháp xử lý các trường hợp vi phạm phù hợp theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
3. Phương châm tiến hành công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở
Một là, công tác tư tưởng phải gắn chặt với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của chi bộ, đảng bộ cơ sở trong từng giai đoạn.
Thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị là mục đích, yêu cầu trực tiếp của công tác tư tưởng. Do đó, việc tổ chức tuyên truyền, giáo dục cho cán bộ, đảng viên quán triệt sâu sắc nhiệm vụ chính trị, có ý chí, quyết tâm cao để vượt qua mọi khó khăn, thách thức, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ là công việc thường xuyên trong công tác tư tưởng của các tổ chức cơ sở đảng. Chỉ có xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và gắn bó chặt chẽ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác tư tưởng ở cơ sở mới có sức sống và phát huy hiệu quả.
Thực hiện phương châm này, công tác tư tưởng phải đi trước, đi cùng với các hoạt động của chi bộ, đảng bộ.
Hai là, giáo dục toàn diện, kết hợp ba mặt giáo dục: lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của Đảng; kiến thức văn hóa, quản lý, kỹ thuật; phẩm chất đạo đức cách mạng.
Mục đích của giáo dục toàn diện cả ba mặt nêu trên nhằm làm cho cán bộ, đảng viên và nhân dân hiểu rõ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có những kiến thức nhất định về văn hóa, khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ cần thiết cho công việc của mình; có phẩm chất đạo đức, lối sống cao đẹp. Tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên ở cơ sở thực hiện nhiệm vụ giáo dục, nâng cao giác ngộ chính trị là tấm gương để quần chúng noi theo.
Ba là, công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức, với phong trào cách mạng của quần chúng, nói đi đôi với làm.
- Công tác tư tưởng phải gắn với công tác tổ chức và các công tác khác để "tư tưởng biến thành hành động”. Phải gắn với công tác tổ chức với những hình thức, biện pháp, kế hoạch cụ thể để tập hợp, lôi cuốn đông đảo cán bộ, đảng viên và tổ chức cho nhân dân tham gia, tạo thành lực lượng đông đảo quần chúng tự giác hành động theo sự dẫn dắt của tư tưởng, lý luận khoa học.
- Công tác tư tưởng phải gắn liền với công tác tổ chức và qua tổ chức để kịp thời nắm được diễn biến tư tưởng của quần chúng, từ đó có nội dung, biện pháp phù hợp với từng đối tượng cụ thể, tạo sự ổn định về tư tưởng, chính trị, thúc đẩy các phong trào hoạt động có hiệu quả.
- Sự gắn bó giữa công tác tư tưởng với công tác tổ chức đòi hỏi người làm công tác tư tưởng ở cơ sở phải thực hiện tốt các bước tiến hành hoạt động tư tưởng: tìm hiểu, nắm bắt tư tưởng, phân tích, đánh giá tình hình và tiến hành công tác tư tưởng trong từng tổ chức, với từng đối tượng cụ thể.
Bốn là, phát huy dân chủ, thực hành dân chủ trong công tác tư tưởng.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, "dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn"7. Đại hội XII đã xác định dân chủ xã hội chủ nghĩa cùng với phát huy sức mạnh toàn dân tộc là động lực chủ yếu đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới ở nước ta hiện nay. Tạo môi trường dân chủ trong thảo luận, tranh luận khoa học, khuyến khích tìm tòi, sáng tạo để hát huy trí tuệ của cá nhân và tập thể trong công tác tư tưởng.
- Phát huy dân chủ trong công tác tư tưởng nhằm nâng cao hiểu biết của cán bộ, đảng viên và nhân dân thông qua trao đổi, thảo luận, tranh luận thẳng thắn, đạt tới sự nhất trí có căn cứ khoa học về những vấn đề quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách hiện hành.
Năm là, bảo đảm thông tin kịp thời, đa dạng, có định hướng.
- Quyền được thông tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân yêu cầu phải tổ chức thông tin kịp thời, chính xác có định hướng trong công tác tư tưởng. Kinh nghiệm thực tiễn cho thấy, nhiều khi nảy sinh tư tưởng sai lầm, lệch lạc, có hại cho công tác lãnh đạo và việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng bộ, chi bộ chỉ vì thiếu thông tin, hoặc thông tin sai lệch.
- Nội dung thông tin cần đa dạng, phong phú. Tổ chức tốt thông tin kịp thời các vấn đề lớn trong Đảng và xã hội. Các thành tựu xây dựng đất nước, thành tựu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của địa phương, đơn vị; thời sự quốc tế... là một cách làm công tác tư tưởng có hiệu quả hiện nay, nhất là trong điều kiện bùng nổ thông tin và tình hình kinh tế, chính trị trên thế giới biến động nhanh chóng và phức tạp.
Sáu là, toàn chi bộ làm công tác tư tưởng, kết hợp công tác tư tưởng trong Đảng với công tác tư tưởng của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị, tổ chức xã hội.
- Công tác tư tưởng là nhiệm vụ của chi bộ, đảng bộ cơ sở và của mỗi cán bộ, đảng viên, trước hết là cấp ủy, chịu trách nhiệm chính là bí thư. Công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở phải kết hợp với công tác tư tưởng của các tổ chức chính trị - xã hội ở cơ sở. Kết hợp công tác tư tưởng trong Đảng với công tác tư tưởng trong toàn xã hội.
- Công tác tư tưởng là công tác với con người và vì con người. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa X nêu rõ: "Công tác tư tưởng của Đảng là công tác đối với con người, một nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững những quy luật riêng của tư tưởng, có thái độ, phương pháp khoa học, kết hợp chặt chẽ giữa yêu cầu định hướng tư tưởng với sự tự nguyện, giữa lý trí và tình cảm, giữa lời nói và việc làm, giữa "xây" và "chống", lấy "xây" làm chính..."8.
II- MỘT SỐ VẤN ĐỀ NGHIỆP VỤ CÔNG TÁC TƯ TƯỞNG CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
1. Về nghiệp vụ công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở
a) Xây dựng tổ chức lực lượng làm công tác tư tưởng ở cơ sở
- Thực hiện phương châm toàn đảng bộ, chi bộ làm công tác tư tưởng, lấy quần chúng giáo dục quần chúng, cấp ủy và bí thư phải chủ động, tích cực làm công tác tư tưởng, huy động toàn chi bộ, đảng bộ làm công tác tư tưởng dưới sự chỉ đạo của cấp ủy đảng. Trong công tác này, cơ quan và đội ngũ cán bộ tuyên giáo có vai trò tham mưu và giúp cấp ủy trực tiếp thực hiện tốt công tác tư tưởng ở cơ sở.
- Bồi dưỡng những đảng viên có khả năng, trình độ và nhiệt tình tham gia đội ngũ báo cáo viên, tổ chức mạng lưới tuyên truyền viên của xã, phường phụ trách các buôn, thôn, xóm, ấp, bản.
- Cấp ủy chủ trì, chỉ đạo, phối hợp hoạt động giữa các tổ chức, các lực lượng trên địa bàn tham gia làm công tác tư tưởng. Ở xã, phường, thị trấn lực lượng này bao gồm: cán bộ tuyên giáo của đảng ủy, cán bộ làm công tác văn hóa thông tư của chính quyền, các đoàn thể, các hội, nhà trường, đơn vị bộ đội, công an, biên phòng... đóng trên địa bàn. Các cán bộ hưu trí, cựu chiến binh, giáo viên các trường học, cán bộ y tế cơ sở, cán bộ các trung tâm khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, khuyến công... là cộng tác viên quan trọng của các tổ chức đảng trong tiến hành công tác tư tưởng.
b) Các phương pháp công tác tư tưởng
- Phương pháp công tác tư tưởng có thể khái quát thành ba nhóm chính là:
+ Nhóm phương pháp dùng lời nói như giảng bài, báo cáo, thuyết trình, kể chuyện, nói chuyện thời sự, tọa đàm...
+ Nhóm phương pháp trực quan bao gồm sử dụng các phương tiện phục vụ cho công tác tư tưởng, như chiếu phim, triển lãm, panô, áp phích.
+ Nhóm phương pháp thực tiễn như tổ chức tham quan di tích, tổ chức lễ hội...
- Đối với cơ sở, công tác tư tưởng có thể vận dụng linh hoạt, tập trung vào các nội dung chính sau:
+ Thực hiện tốt chế độ thông tin, bảo đảm các kênh thông tin hoạt động đều và có định hướng đúng đắn; đồng thời chủ động, nhạy bén đón nhận thông tin phản hồi, kịp thời phát hiện những âm mưu và thủ đoạn phản tuyên truyền, các thủ đoạn phá hoại tư tưởng của các thế lực thù địch, cơ hội để chủ động đấu tranh, làm chủ trận địa tư tưởng.
+ Thuyết phục bằng lý lẽ và bằng thực tế. Người làm công tác tư tưởng phải nắm chắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, hiểu được các trạng thái tư tưởng, trình độ và đặc điểm nhận thức của quần chúng, từ đó lựa chọn nội dung lý luận và thực tế phù hợp để thuyết phục đối tượng. Tránh tuyên truyền, giáo dục theo kiểu áp dụng các lý lẽ sáo mòn, cũ kỹ, các ví dụ xa thực tế, không sát tâm lý đối tượng.
+ Tăng cường các hoạt động thực tiễn như chiếu phim, tổ chức các hội thi, kẻ vẽ panô, áp phích, v.v.. Tổ chức tốt các hoạt động tập thể ở cơ sở như hội diễn, lễ hội, các hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội.
+ Trong công tác tư tưởng, phương pháp nêu gương được thực hiện bằng những việc nêu điển hình tốt để học tập và phê phán các hành động xấu, sai trái. Ở cơ sở, tấm gương điển hình tiên tiến, sống động, nhất quán giữa nói và làm của cán bộ, đảng viên có tác động giáo dục, thuyết phục trực tiếp và mạnh mẽ.
c) Các hình thức của công tác tư tưởng ở cơ sở
- Tiến hành công tác tư tưởng thông qua sinh hoạt đảng, sinh hoạt các tổ chức, đoàn thể. Cần nâng cao chất lượng, nội dung của hội nghị chi bộ để không ngừng nâng cao nhận thức cho đảng viên. Đảng viên phải thực hiện tốt vai trò người tuyên truyền, giáo dục và cổ động trong sinh hoạt các đoàn thể quần chúng.
- Tổ chức định kỳ các hoạt động thông tin thời sự về tình hình trong nước và quốc tế. Kết hợp thông tin định kỳ với sử dụng hệ thống thông tin đại chúng, các thiết chế văn hóa để làm công tác tư tưởng; tuyên truyền, cổ động cho đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân.
- Thông qua các hoạt động tập thể, các sinh hoạt cộng đồng để tiến hành công tác tư tưởng, nhất là hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, các dịp hội làng xã, lễ, tết… Tăng cường giáo dục, tuyên truyền, cổ động cho các chủ trương, chính sách của Đảng, nếp sống văn hóa mới, đấu tranh phê phán các tệ nạn, hủ tục, làm lành mạnh hóa các quan hệ xã hội.
- Tổ chức tốt các cuộc vận động, các sinh hoạt văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí để vận động nhân dân hăng hái tham gia xây dựng đời sống văn hóa; tạo không khí phấn khởi, vui tươi, lành mạnh, phấn đấu thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
- Tổ chức các cuộc gặp gỡ, đối thoại thông qua các cuộc tiếp dân, tọa đàm, trao đổi, thảo luận... với nhân dân theo các đề tài khác nhau, nhất là những vấn đề nhân dân đang quan tâm.
2. Một số giải pháp nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở
a) Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy, tham gia của hệ thống chính trị ở cơ sở, đẩy mạnh công tác tư tưởng trong tình hình mới
Cấp ủy trước hết là bí thư, người đứng đầu cơ quan, chính quyền, đoàn thể cần có chương trình, kế hoạch lãnh đạo, chỉ đạo, tiến hành công tác tư tưởng. Định kỳ, đại diện cấp ủy nghe ý kiến phản ánh về tình hình tư tưởng, chính trị trong cán bộ, đảng viên và nhân dân từ cán bộ có trách nhiệm trong chính quyền, Mặt trận và các tổ chức, đoàn thể. Từ đó, cấp ủy tổng hợp và thống nhất nhận định, đánh giá tình hình tư tưởng, có chủ trương, biện pháp lãnh đạo về tư tưởng và chỉ đạo triển khai thực hiện thống nhất trong cơ quan, đơn vị, địa phương.
b) Phát huy dân chủ, tự do tư tưởng, đồng thời giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật phát ngôn theo quy định
Phát huy dân chủ nói chung, dân chủ trong công tác tư tưởng nói riêng theo tư tưởng, phong cách Hồ Chí Minh. Tôn trọng và lắng nghe các ý kiến đề xuất, tâm tư nguyện vọng của quần chúng; phân tích, tổng hợp, đánh giá đúng tình hình tư tưởng của từng đối tượng để xác định nội dung, hình thức, biện pháp giáo dục, giải quyết đúng đắn, phù hợp; động viên và tạo điều kiện để mọi người phát huy tự do tư tưởng, góp ý kiến vào sự lãnh đạo của chi bộ, đảng bộ, tham gia làm công tác tư tưởng theo khả năng.
Thực hiện nghiêm các quy định về kỷ luật phát ngôn. Kịp thời phát hiện và xử lý những biểu hiện tự do tùy tiện, lợi dụng dân chủ để truyền bá các quan điểm trái với quan điểm, đường lối của Đảng, gây hoài nghi, dao động, mâu thuẫn, mất đoàn kết trong tổ chức đảng và trong nhân dân.
c) Nêu cao vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, thực hiện nói đi đôi với làm, nói và làm đúng đường lối, chính sách, pháp luật
Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực hiện các yêu cầu sau:
- Có nhận thức tư tưởng, chính trị đúng đắn, tích cực tham gia làm tốt công tác tư tưởng cho gia đình mình và quần chúng được phân công.
- Phải nói và làm đúng theo nghị quyết của Đảng; nói đi đôi với làm, thực sự là tấm gương về mọi mặt cho quần chúng noi theo; đồng thời làm tốt việc giải quyết tư tưởng cho bản thân, gia đình và những người xung quanh. Mỗi cán bộ, đảng viên phải thực sự là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng của Đảng ở cơ sở.
B. CÔNG TÁC TỔ CHỨC CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
I- VỊ TRÍ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC TỔ CHỨC
1. Tổ chức và công tác tổ chức
- Tổ chức là sự liên kết con người với nhau theo những nguyên tắc, chế độ, điều lệ, quy định nhất định để hành động, nhằm đạt những mục đích đề ra.
- Tổ chức do con người lập ra nhằm liên kết và phát huy khả năng, sức mạnh của từng cá nhân, bộ phận riêng lẻ thành sức mạnh tổng hợp. Tổ chức vừa là sản phẩm của con người, vừa là chủ thể quy định con người, điều khiển hành vi của con người. Tổ chức là một chỉnh thể, trong đó các bộ phận, các hệ thống hoạt động trong quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau, cùng phát triển, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và điều kiện, hoàn cảnh xã hội tương ứng trong từng giai đoạn cụ thể. Trong đời sống xã hội, có nhiều tổ chức khác nhau, như tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội, văn hóa, quân sự, v.v..
- Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn luôn coi trọng công tác tổ chức và xây dựng các tổ chức cách mạng ngày càng vững mạnh. Công tác tổ chức của Đảng là sự xây dựng, kiện toàn các mối quan hệ trong tổ chức đảng (từ cơ sở đến toàn Đảng), hình thành hệ thống tổ chức, tạo nên một chỉnh thể thống nhất, có tính ổn định và bền vững.
Công tác tổ chức của Đảng bao gồm những quy định, những nguyên tắc tổ chức và hoạt động buộc tất cả mọi tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên của Đảng phải chấp hành để tạo nên sự thống nhất ý chí và hành động, bảo đảm giữ vững vai trò lãnh đạo nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
2. Vị trí, vai trò công tác tổ chức của Đảng
- Công tác tổ chức là một trong những mặt cơ bản trong công tác xây dựng Đảng. Nghị quyết Đại hội XII xác định nhiệm vụ "Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh"9 về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Bằng công tác tổ chức, Đảng tiến hành quản lý, sắp xếp, phân công lực lượng một cách khoa học, phối hợp một cách đồng bộ, nhịp nhàng hoạt động của các đảng viên, các tổ chức đảng và toàn Đảng; thiết lập những mối quan hệ giữa cấp trên và cấp dưới, giữa đảng viên với tổ chức đảng, giữa các tổ chức của Đảng và giữa tổ chức đảng với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị ở cơ sở.
- Công tác tổ chức được tiến hành một cách khoa học là điều kiện và có tính quyết định việc thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng; góp phần tăng cường kỷ luật trong Đảng, làm cho Đảng đoàn kết, thống nhất, giữ gìn Đảng trong sạch, vững mạnh, chống lại mọi âm mưu, thủ đoạn phá hoại, chia rẽ của các thế lực thù địch, cơ hội.
- Công tác tổ chức luôn là nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết. Đảng ta luôn yêu cầu mọi cấp, mọi ngành, mọi cán bộ, đảng viên mà trước hết là cơ quan lãnh đạo và người đứng đầu phải chăm lo sự vững mạnh của tổ chức và làm tốt công tác tổ chức.
3. Nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng
Tập trung dân chủ là nguyên tắc cơ bản bảo đảm cho sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh của Đảng, bảo đảm sự tồn tại và phát triển bền vững của Đảng. Quy định thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, bao gồm:
Việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt đảng được thể hiện ở việc tổ chức đảng phải xây dựng và thực hiện nghiêm quy chế làm việc. Căn cứ vào quy định của Điều lệ Đảng, quy chế làm việc của cấp ủy cấp trên và hướng dẫn của ban tổ chức cấp ủy cấp trên, tổ chức đảng các cấp xây dựng quy chế làm việc bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và thực hiện đúng trách nhiệm, quyền hạn được giao. Tổ chức đảng phải báo cáo với tổ chức đảng cấp trên và thông báo cho tổ chức đảng cấp dưới biết quy chế làm việc của mình.
b) Về chế độ tự phê bình và phê bình
Tự phê bình và phê bình là nguyên tắc được thực hiện thường xuyên trong sinh hoạt đảng. Để thực hiện tốt tự phê bình và phê bình ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần thực hiện nghiêm túc các quy định sau:
- Báo cáo kiểm điểm của cấp ủy phải lấy ý kiến đóng góp của cấp ủy cấp dưới trực tiếp, của lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể cùng cấp, phải có ý kiến của cấp ủy cấp trên trực tiếp.
- Báo cáo kiểm điểm của lãnh đạo ban, ngành, đoàn thể phải lấy ý kiến đóng góp của cơ quan chuyên môn và của cấp ủy cùng cấp.
- Cấp ủy cấp trên gợi ý cho cá nhân và tập thể cấp ủy của cơ quan, tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp những nội dung cần làm rõ khi kiểm điểm, tự phê bình và phê bình. Thường trực cấp ủy cấp trên có trách nhiệm tổng hợp, phân tích, chọn lọc các vấn đề để đưa xuống các tổ chức đảng, cấp ủy cấp dưới gợi ý cho tập thể và cá nhân tự phê bình và phê bình.
- Tổ chức lấy ý kiến đóng góp của Mặt trận Tổ quốc, ban chấp hành các đoàn thể chính trị - xã hội, hội đồng nhân dân cùng cấp, phát huy vai trò giám sát, góp ý kiến xây dựng Đảng của nhân dân.
c) Về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ra nghị quyết
Trong việc ra nghị quyết lãnh đạo, nghị quyết thi hành kỷ luật đảng viên và tổ chức đảng, điểm 5 Điều 9 Điều lệ Đảng quy định: "Nghị quyết của các cơ quan lãnh đạo của Đảng chỉ có giá trị thi hành khi có hơn một nửa số thành viên trong cơ quan đó tán thành"10. Quy định này được cụ thể hóa như sau:
- Đối với đại hội đảng, hội nghị đảng viên: số thành viên của đại hội đại biểu là tổng số đại biểu chính thức được triệu tập có đủ tư cách dự đại hội; số thành viên của đại hội đảng viên, hội nghị đảng viên là tổng số đảng viên chính thức trong đảng bộ, chi bộ, trừ số đảng viên đã được giới thiệu sinh hoạt tạm thời ở đảng bộ khác và đảng viên đã được miễn công tác và sinh hoạt đảng không có mặt ở đại hội (nếu đảng viên đó có mặt ở đại hội, hội nghị đảng viên, tham gia bầu cử, biểu quyết thì vẫn tính), trừ số đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, bị khởi tố, truy tố, tạm giam.
- Đối với ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra, số thành viên được tính là: tổng số cấp ủy viên đương nhiệm của ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ cấp ủy, ủy viên ủy ban kiểm tra đương nhiệm (trừ số thành viên đang bị đình chỉ sinh hoạt đảng, bị khởi tố, truy tố, tạm giam).
- Trường hợp kết nạp đảng viên, công nhận đảng viên chính thức, xóa tên đảng viên, khai trừ đảng viên thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí đề nghị và được cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định với sự nhất trí của trên một nửa số thành viên.
- Trường hợp giải tán tổ chức đảng thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên cấp ủy cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định với sự đồng ý của trên một nửa số thành viên.
II- NỘI DUNG CÔNG TÁC TỔ CHỨC Ở CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
1. Công tác đảng viên
a) Về giáo dục đảng viên
- Giáo dục đảng viên là một nhiệm vụ quan trọng thường xuyên của chi bộ, đảng bộ cơ sở nhằm xây dựng đội ngũ đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.
- Nội dung chủ yếu trong giáo dục đảng viên là về tư tưởng chính trị, trình độ, năng lực và về phẩm chất đạo đức, lối sống.
- Việc tổ chức giáo dục, bồi dưỡng đảng viên ở chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần vận dụng những hình thức và phương pháp phù hợp với đặc điểm của từng chi bộ, đảng bộ, sao cho có hiệu quả nhất. Cụ thể:
+ Theo dõi, quản lý chặt chẽ việc tham gia học tập các chương trình giáo dục lý luận chính trị dành cho đảng viên.
+ Tổ chức phổ biến, quán triệt triển khai thực hiện nghị quyết của Đảng; xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết, trong đó xác định những công việc trọng tâm, những vấn đề bức xúc mà quần chúng ở địa phương, cơ quan, đơn vị đang quan tâm để tập trung giải quyết kịp thời, hiệu quả.
+ Tổ chức cho đảng viên học tập về chuyên môn, nghiệp vụ, quản lý..., để nâng cao trình độ về mọi mặt, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ phát triển mới của đất nước.
b) Về công tác quản lý đảng viên
- Chi bộ, đảng bộ cơ sở có nhiệm vụ quản lý chặt chẽ đội ngũ đảng viên; đồng thời đòi hỏi mỗi đảng viên phải tự giác đặt mình trong sự quản lý của chi bộ, đảng bộ. Đây là một nguyên tắc tổ chức cần phải được thực hiện một cách nghiêm túc, không để một đảng viên nào đứng ngoài sự quản lý của tổ chức đảng. Công tác quản lý đảng viên phải được tiến hành thường xuyên, chặt chẽ với những nội dung và hình thức có tính khoa học; phải được tiến hành thận trọng, tỉ mỉ, chu đáo và toàn diện.
- Nội dung quản lý đảng viên bao gồm: quản lý về chính trị, tư tưởng; quản lý về trình độ, năng lực công tác; quản lý về sinh hoạt và quan hệ xã hội; quản lý đội ngũ đảng viên. Thực hiện tốt công tác quản lý đảng viên sẽ góp phần quan trọng để làm tốt công tác cán bộ cũng như công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng ngay từ cơ sở.
c) Về phân công công tác cho đảng viên
- Để tạo điều kiện và phát huy năng lực của đảng viên trong thực hiện nhiệm vụ, cần phải có sự phân công công tác cụ thể, phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của từng tổ chức cơ sở; phù hợp với năng lực, sức khỏe và điều kiện cụ thể của từng đảng viên.
- Nội dung phân công cho đảng viên gồm các mặt công tác: công tác vận động quần chúng; công tác chính quyền, công tác đoàn thể và công tác đảng. Tùy theo khả năng, trình độ và tín nhiệm của đảng viên trước quần chúng, tổ chức đảng thảo luận và giao nhiệm vụ cho đảng viên. Tổ chức đảng cơ sở cần luôn luôn yêu cầu đảng viên, dù ở cương vị công tác nào cũng phải phát huy vai trò lãnh đạo, phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
d) Tiến hành sàng lọc đội ngũ đảng viên, đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng
Công tác sàng lọc đảng viên cần được thực hiện với tinh thần kiên quyết nhưng thận trọng, khách quan, đúng thủ tục, có bước đi thích hợp, bảo đảm đạt mục đích, yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
- Đối với những đảng viên giữ được tư cách đảng viên, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có trình độ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, được quần chúng tín nhiệm thì tiếp tục bồi dưỡng và phát huy để ngày càng tiến bộ.
- Đối với những đảng viên hạn chế về kiến thức, năng lực hoặc hoàn cảnh khó khăn thì phải giúp đỡ họ.
- Đối với những đảng viên vi phạm tư cách, vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, không hoàn thành nhiệm vụ được giao thì giáo dục, xử lý kỷ luật hoặc định thời hạn phấn đấu, nếu không có chuyển biến thì đưa ra khỏi Đảng.
- Đối với những người cơ hội về chính trị, nói và làm trái quan điểm đường lối của Đảng, suy thoái về đạo đức lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu, cố tình vi phạm kỷ luật Đảng và pháp luật của Nhà nước thì khai trừ ra khỏi Đảng.
đ) Về công tác phát triển đảng viên
- Phát triển đảng viên là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, được thực hiện chủ yếu ở chi bộ, đảng bộ cơ sở. Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải nâng cao nhận thức và thường xuyên chăm lo công tác phát triển đảng viên.
- Chi bộ, đảng bộ cơ sở xây dựng kế hoạch cụ thể, có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ để bảo đảm chất lượng của công tác phát triển đảng. Phải coi trọng chất lượng, bảo đảm tiêu chuẩn, không chạy theo số lượng.
- Để làm tốt công tác phát triển đảng, cần nắm vững và thực hiện tốt một số khâu cơ bản sau đây:
+ Thông qua phong trào của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội, kết hợp với sự giới thiệu của tổ chức quần chúng, tập thể cấp ủy lựa chọn quần chúng tích cực để có kế hoạch bồi dưỡng.
+ Cử quần chúng tích cực đi dự các lớp bồi dưỡng đối tượng kết nạp đảng để họ có những hiểu biết nhất định về Đảng, về quyền và nhiệm vụ đảng viên, xác định động cơ phấn đấu vào Đảng đúng đắn.
+ Phân công đảng viên chính thức bồi dưỡng, giúp đỡ theo dõi quá trình rèn luyện, phấn đấu, trưởng thành của quần chúng tích cực. Hằng tháng, hằng quý, đảng viên được phân công phải báo cáo kết quả phấn đấu của quần chúng; nếu bảo đảm đủ tiêu chuẩn, được tổ chức, đoàn thể quần chúng thừa nhận, sẽ gợi ý để quần chúng làm hồ sơ, viết đơn xin vào Đảng.
+ Tổ chức trang nghiêm lễ kết nạp đảng viên theo quy định.
+ Tiếp tục giáo dục, thử thách, rèn luyện, phân công đảng viên chính thức trực tiếp giúp đỡ đảng viên dự bị để họ phấn đấu trở thành đảng viên chính thức đúng thời hạn quy định của Điều lệ Đảng.
2. Công tác cán bộ
- Công tác cán bộ có vị trí rất quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: cán bộ là gốc của mọi công việc, “công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”11. Vì vậy, chi bộ, đảng bộ cơ sở phải làm tốt công tác cán bộ và xây dựng đội ngũ cán bộ theo chức năng, nhiệm vụ quy định.
- Nội dung cơ bản của công tác cán bộ:
Một là, lựa chọn cán bộ.
+ Thông qua phong trào quần chúng và thực hiện nhiệm vụ chính trị của đảng viên mà lựa chọn, phát hiện những đảng viên có đủ phẩm chất, năng lực, có khả năng phát triển. Từ đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, phân công, giao nhiệm vụ để rèn luyện, thử thách và tạo điều kiện để đảng viên học tập nâng cao trình độ, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi của công tác cán bộ và tiêu chuẩn của người cán bộ.
+ Về lựa chọn cán bộ, Báo cáo chính trị tại Đại hội XII yêu cầu: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ. Có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài”12.
Hai là, đánh giá, nhận xét cán bộ.
Việc đánh giá, nhận xét cán bộ giữ vai trò quan trọng, có tác dụng phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế, thiếu sót của mỗi cán bộ, để tiếp tục bồi dưỡng, bố trí, sử dụng cán bộ hợp lý. Để đánh giá đúng cán bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở, cần nắm vững và thực hiện tốt những quy trình cơ bản sau:
+ Cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ phù hợp với yêu cầu và nhiệm vụ chính trị của đơn vị, lấy đó là căn cứ để đánh giá cán bộ. Lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị hiệu quả công tác của cán bộ và sự tín nhiệm của nhân dân làm thước đo chủ yếu.
+ Đánh giá, nhận xét cán bộ một cách khoa học, khách quan, công tâm theo một quy trình chặt chẽ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, phát huy dân chủ, dựa vào tập thể và ý kiến nhận xét của nhân dân, thông qua hình thức và phương pháp phù hợp. Nhận xét, đánh giá phải công khai và trực tiếp
Ba là, quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ.
+ Thường xuyên chăm lo giáo dục đội ngũ cán bộ tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng. Xây dựng và tổ chức thực hiện nghiêm túc tiêu chuẩn đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; có biện pháp giáo dục, khắc phục kịp thời những khuyết điểm, thiếu sót về đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên.
+ Định kỳ tổ chức tốt việc sơ kết, rút kinh nghiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, trên cơ sở đó có chủ trương, biện pháp bồi dưỡng nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
3. Một số vấn đề về bảo vệ chính trị nội bộ
- Công tác bảo vệ chính trị nội bộ có quan hệ đến sự sống còn của Đảng và của chế độ, là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, bảo đảm sự trong sạch về chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn kịp thời những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thừ địch đánh vào nội bộ ta.
- Nội dung trọng tâm của công tác bảo vệ chính trị nội bộ trong giai đoạn hiện nay là "bảo vệ Cương lĩnh, Điều lệ Đảng; bảo vệ nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; bảo vệ Hiến pháp và pháp luật; bảo vệ cán bộ, đảng viên về mặt chính trị"13.
- Để thực hiện tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần nắm vững và thực hiện những mặt công tác chủ yếu sau:
+ Làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận thức sâu sắc về nhiệm vụ bảo vệ chính trị nội bộ trong tình hình hiện nay. Không ngừng nâng cao cảnh giác, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, bảo vệ tổ chức đảng, bảo vệ cán bộ, đảng viên, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, giữ gìn bí mật nội bộ và bí mật quốc gia.
+ Căn cứ vào nội dung, yêu cầu của công tác bảo vệ chính trị nội bộ và sự hướng dẫn của tổ chức đảng cấp trên, chi bộ, đảng bộ cơ sở xây dựng và thực hiện quy định về bảo vệ chính trị nội bộ. Nội dung các quy định bảo vệ chính trị nội bộ của chi bộ, đảng bộ cơ sở không được trái với quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.
+ Thực hiện nghiêm các chế độ, thủ tục, quy chế quản lý cán bộ, đảng viên, bao gồm các mặt công tác như: tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, kết nạp đảng viên, lựa chọn đảng viên bầu vào cấp ủy cử đi công tác nước ngoài, tiếp xúc với người nước ngoài, bố trí vào cơ quan trọng yếu, cơ mật của Đảng…
+ Trong sinh hoạt đảng, cần nghiêm túc xem xét tình hình tư tưởng chính trị của cán bộ, đảng viên. Khi thấy có những biểu hiện chưa phù hợp với quan điểm của Đảng, cần trao đổi thẳng thắn trong sinh hoạt, nâng cao nhận thức chung của cán bộ, đảng viên; kịp thời báo cáo lên cấp ủy cấp trên xem xét, chỉ đạo giải quyết.
+ Tất cả mọi đảng viên đều có trách nhiệm tham gia công tác bảo vệ chính trị nội bộ. Bí thư, hoặc phó bí thư cấp ủy phụ trách công tác bảo vệ chính trị nội bộ, khắc phục nhận thức lệch lạc cho rằng bảo vệ chính trị nội bộ chỉ là nhiệm vụ của người lãnh đạo, quản lý và của các cơ quan chuyên trách; đồng thời tránh khuynh hướng sa vào những vấn đề cụ thể thuộc nhiệm vụ, chức năng của cơ quan chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Công tác bảo vệ chính trị nội bộ phải được tiến hành thường xuyên, theo phương châm: lấy việc tích cực xây dựng nội bộ trong sạch, vững mạnh, chủ động phòng ngừa là chính; đồng thời coi trọng việc rà soát, thẩm tra nội bộ một cách chặt chẽ, có trọng điểm: kết hợp lắng nghe ý kiến của nhân dân với công tác nghiên cứu điều tra của cơ quan có trách nhiệm.
------------
Chú thích
1. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t.1, tr 580.
2. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, t.18, tr. 472.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr. 42.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 200.
5. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.39-40.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.126.
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, t.15, tr.325.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Sđd, tr. 42.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Sđd, tr.181.
10. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.18.
11. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.313.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.207.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.207.
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Nhiệm vụ công tác tư tưởng của chi bộ, đảng bộ cơ sở là gì?
2. Cần làm gì và làm như thế nào để làm tốt công tác tư tưởng ở cơ sở? Liên hệ thực tế với chi bộ nơi đồng chí đang sinh hoạt.
3. Công tác tổ chức của chi bộ, đảng bộ cơ sở bao gồm những nội dung cơ bản nào?
4. Cần làm gì để làm tốt công tác đảng viên trong chi bộ, đảng bộ cơ sở? Liên hệ thực tế.
Bài 3 - CÔNG TÁC DÂN VẬN, CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ Bài 3
CÔNG TÁC DÂN VẬN, CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
A. CÔNG TÁC DÂN VẬN CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
I- QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO CÔNG TÁC DÂN VẬN
Công tác vận động nhân dân thường được gọi là công tác dân vận. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: "Dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân, để thực hành những công việc nên làm, những công việc Chính phủ và Đoàn thể đã giao cho »1.
Công tác dân vận là một trong những công tác cơ bản của Đảng ta, có ý nghĩa chiến lược trong mọi thời kỳ cách mạng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, gắn liền với từng bước trưởng thành của Đảng, dân vận và gắn bó với nhân dân trở thành một truyền thống tốt đẹp của Đảng ta. Nghị quyết Trung ương 7 khóa XI đã nêu rõ các quan điểm sau của công tác dân vận.
- Cách mạng là sự nghiệp của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ.
- Động lực thúc đẩy phong trào nhân dân là phát huy quyền làm chủ, đáp ứng lợi ích thiết thực của nhân dân; kết hợp hài hòa các lợi ích; quyền lợi phải đi đôi với nghĩa vụ công dân; chú trọng lợi ích trực tiếp của người dân; huy động sức dân phải đi đôi với bồi dưỡng sức dân; việc gì có lợi cho dân thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì hết sức tránh.
- Phương thức lãnh đạo công tác dân vận của Đảng phải gắn liền với công tác xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. Mọi quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước phải phù hợp với lợi ích của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Mỗi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu để nhân dân tin tưởng, noi theo.
- Công tác dân vận là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức, đoàn viên, hội viên các đoàn thể nhân dân, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang. Trong đó, Đảng lãnh đạo chính quyền tổ chức thực hiện Mặt trận, đoàn thể làm tham mưu và nòng cốt.
- Nhà nước tiếp tục thể chế hóa cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" thành quy chế, quy định để các tổ chức trong hệ thống chính trị; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thực hiện công tác dân vận; các hình thức tập hợp nhân dân phải phong phú, đa dạng, khoa học, hiệu quả.
II- NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC DÂN VẬN CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
1. Nội dung
a) Tổ chức, động viên nhân dân, hình thành các phong trào hành động thực hiện tốt các nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh gắn với chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân
Để có phong trào hành động cách mạng của nhân dân và bảo đảm hoạt động đúng hướng, chi bộ, đảng bộ cơ sở cần có chủ trương, biện pháp hợp lòng dân; có mục tiêu nhiệm vụ cụ thể, thiết thực; có sự phối hợp đồng bộ trong tổ chức chỉ đạo thực hiện, đặc biệt là sự phối hợp giữa Mặt trận, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội và các cấp chính quyền; có cán bộ và lực lượng nòng cốt; có đầu tư điều kiện vật chất - kỹ thuật…
Căn cứ vào tình hình cụ thể ở chi bộ, đảng bộ cơ sở cần khởi xướng và phát động các phong trào quần chúng phù hợp, đáp ứng nguyện vọng, lợi ích của nhân dân.
- Trên địa bàn nông thôn: Chi bộ, đảng bộ cơ sở cần tiếp tục đẩy mạnh các phong trào đoàn kết, giúp đỡ nhau trong việc phát triển kinh tế hộ, phát triển kinh tế trang trại, xóa đói, giảm nghèo, phát triển hộ giàu; các phong trào nhân đạo, từ thiện, xây dựng nông thôn mới...; kết hợp chặt chẽ công tác dân tộc với công tác tôn giáo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
- Ở thành phố, thị xã thị trấn: Chi bộ, đảng bộ cơ sở xây dựng nếp sống văn minh đô thị; vận động nhân dân bỏ vốn kinh doanh, phát triển sản xuất, dịch vụ, thực hiện tốt các chính sách và pháp luật của Nhà nước, bảo đảm vệ sinh môi trường; vận động nhân dân tham gia xây dựng các quỹ từ thiện nhân đạo, giúp đỡ những gia đình khó khăn, những người cô đơn, bất hạnh, người lang thang cơ nhỡ; bảo đảm an ninh, trật tự đường phố, phòng ngừa và chống tội phạm, tệ nạn xã hội.
- Trong các doanh nghiệp nhà nước: Chi bộ, đảng bộ cơ sở tổ chức các phong trào hướng vào mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất kinh doanh; không ngừng học tập chuyên môn, nâng cao tay nghề, ý thức tổ chức kỷ luật, ứng dụng và làm chủ công nghệ mới; giải quyết tốt các mối quan hệ phát sinh hằng ngày giữa tập thể công nhân và người quản lý doanh nghiệp theo đúng Luật lao động và Luật công đoàn.
- Trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài: Chi bộ, đảng bộ cơ sở tổ chức các phong trào nhằm thực hiện đúng chính sách, pháp luật của Nhà nước, bảo đảm lợi ích hợp pháp của các bên trong doanh nghiệp; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh; thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh và công tác xã hội ở địa phương.
- Trong các đơn vị sự nghiệp, cơ quan: Tổ chức đảng có trách nhiệm lãnh đạo xây dựng và thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ công tác chuyên môn; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động; hoàn thành nghĩa vụ của đơn vị đối với Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thông qua thực hiện dân chủ ở cơ sở, thực hiện công bằng xã hội, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; thực hiện tốt nhiệm vụ quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự, an toàn xã hội, đề cao cảnh giác cách mạng, bảo vệ nội bộ, giữ gìn bí mật của Đảng và Nhà nước.
b) Vận động và tổ chức nhân dân thực hiện dân chủ ở cơ sở
Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn là sự cụ thể hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý nhà nước, khắc phục tình trạng quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng, lãng phí.
Tùy theo điều kiện cụ thể, chi bộ, đảng bộ cơ sở lựa chọn những vấn đề sát hợp để vận động và tổ chức thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở.
+ Tổ chức đảng và chính quyền có trách nhiệm thông tin kịp thời và công khai cho nhân dân biết các quy định của Nhà nước và chính quyền địa phương về thủ tục hành chính giải quyết các công việc có liên quan đến dân; kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hằng năm của cơ sở; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai; các nghị quyết của hội đồng nhân dân và quyết định của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn và của cấp trên liên quan đến địa phương; dự toán và quyết toán ngân sách xã, phường, thị trấn hằng năm; dự toán và quyết toán thu, chi các quỹ, dự án, các khoản huy động đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng của xã, thôn, buôn, làng, ấp, bản và kết quả thực hiện.
+ Chi bộ, đảng bộ cơ sở lãnh đạo hệ thống chính trị và chính quyền thực hiện công khai cho nhân dân được biết về các công trình, dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực tiếp cho cơ sở; chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo; điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chính liên quan đến xã, phường, thị trấn.
+ Chi bộ, đảng bộ cơ sở lãnh đạo thực hiện chủ trương thông báo cho nhân dân được biết về: Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ ở cơ sở; chủ trương và kết quả thực hiện về công tác văn hóa, xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật tự, an toàn xã hội của cơ sở; sơ kết, tổng kết hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; những việc khác mà chính quyền thấy cần thiết và nhân dân yêu cầu được thông báo.
+ Những hình thức để thông tin công khai cho nhân dân gồm: Bằng văn bản; niêm yết công khai; hệ thống truyền thanh và các tổ chức văn hóa, thông tin, tuyên truyền cơ sở; các cuộc tiếp xúc cử tri; các kỳ họp của hội đồng nhân dân xã, của ủy ban nhân dân xã, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể; các hội nghị, các cuộc họp của thôn, buôn, làng, ấp, bản; tại cuộc họp sơ kết 6 tháng, tổng kết cuối năm, kiểm điểm hoạt động của hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.
+ Tổ chức đảng, chính quyền và các đoàn thể ở cơ sở tổ chức để nhân dân bàn và quyết định trực tiếp các vấn đề quan hệ đến lợi ích thiết thân của nhân dân, như: chủ trương và mức đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng và các công trình phúc lợi công cộng; lập và thu, chi các loại quỹ theo quy định của pháp luật; xây dựng hương ước, quy ước làng văn hóa, tổ dân phố văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín, dị đoan, các tệ nạn xã hội... Những khoản dân đóng góp, ủng hộ với mục đích tương trợ, nhân đạo, từ thiện do chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, các hội và các tổ chức xã hội tuyên truyền, vận động nhân dân phải theo nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện, không được áp đặt, phân bổ bình quân nhất loạt.
+ Khi đã có ý kiến bàn bạc thống nhất của dân và có nghị quyết của đảng ủy, chi bộ và chương trình hành động của chính quyền thì chi bộ, đảng bộ cơ sở tổ chức nhân dân thực hiện, đồng thời lắng nghe ý kiến của dân trong quá trình thực hiện để kịp thời phát huy hoặc uốn nắn.
+ Để thực hiện "dân kiểm tra", chi bộ, đảng bộ cơ sở cần tạo điều kiện để nhân dân ở cơ sở thực hiện giám sát, kiểm tra. Những việc nhân dân ở cơ sở giám sát, kiểm tra gồm: hoạt động của hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; kết quả thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân và quyết định của ủy ban nhân dân; hoạt động của đại biểu hội đồng nhân dân và cán bộ, công chức nhà nước tại địa phương; giải quyết việc khiếu nại, tố cáo của công dân; dự toán và quyết toán ngân sách xã, phường, thị trấn; kết quả nghiệm thu và quyết toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chương trình dự án do Nhà nước, các tổ chức và cá nhân đầu tư tài trợ trực tiếp cho cơ sở; quản lý và sử dụng đất đai; thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của Nhà nước, các khoản đóng góp của nhân dân; kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng liên quan đến cán bộ cơ sở; việc thực hiện chế độ chính sách ưu đãi, chăm sóc giúp đỡ thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những gia đình người có công với nước; chính sách bảo hiểm xã hội, cứu tế xã hội.
Cách thức kiểm tra, giám sát: Có thể trực tiếp kiểm tra, giám sát và phát hiện, tố cáo các hành vi xâm phạm quyền làm chủ của nhân dân; có thể thực hiện kiểm tra, giám sát thông qua hoạt động của Mặt trận, các đoàn thể, tổ chức xã hội, Ban Thanh tra nhân dân. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn chịu trách nhiệm tổ chức việc tiếp dân, giải quyết kịp thời các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo đúng quy định của pháp luật.
- Đối với các cơ quan.
+ Chi bộ, đảng bộ cơ sở thông tin cho cán bộ, công chức được biết về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan; kế hoạch công tác hằng tháng, hằng quý, hằng năm của cơ quan; nội quy, quy chế cơ quan; kinh phí hoạt động hằng năm; tuyển dụng, khen thưởng, kỷ luật, nâng bậc lương, nâng ngạch và đề bạt cán bộ, công chức; các vụ việc tiêu cực tham nhũng trong cơ quan đã được kết luận; kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan.
+ Nội dung thông tin bằng các hình thức: niêm yết bằng văn bản tại cơ quan; thông báo tại hội nghị cán bộ, công chức cơ quan; thông báo bằng văn bản gửi toàn thể cán bộ, công chức; thông báo cho người phụ trách các bộ phận của cơ quan và yêu cầu họ thông báo đến cán bộ công chức làm việc trong các bộ phận đó; thông báo bằng văn bản cho cấp ủy, ban chấp hành công đoàn cơ quan.
+ Những việc cán bộ, công chức tham gia ý kiến, thủ trưởng cơ quan quyết định là: chủ trương, giải pháp thực hiện nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước liên quan đến công việc của cơ quan; kế hoạch công tác hằng năm; nội quy, quy chế của cơ quan; tổ chức phong trào thi đua; báo cáo sơ kết, tổng kết của cơ quan; các biện pháp cải tiến tổ chức và lề lối làm việc, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu dân; kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, đề bạt cán bộ, công chức trong cơ quan theo quy định; thực hiện các chế độ, chính sách liên quan đến quyền và lợi ích của cán bộ, công chức.
+ Các hình thức lấy ý kiến tham gia trong cơ quan: tham gia trực tiếp với người phụ trách trong cơ quan; thông qua hội nghị cán bộ, công chức cơ quan; phát phiếu hỏi ý kiến để cán bộ, công chức tham gia ý kiến.
+ Những việc cán bộ, công chức giám sát. kiểm tra: việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, kế hoạch công tác hằng năm; thực hiện nội quy, quy chế cơ quan; việc sử dụng kinh phí, chấp hành chính sách, chế độ quản lý và sử dụng tài sản của cơ quan; thực hiện các chế độ, chính sách của Nhà nước về quyền và lợi ích của cán bộ, công chức; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong nội bộ cơ quan.
Đối với các đơn vị sự nghiệp, các doanh nghiệp nhà nước và các đơn vị khác, căn cứ vào cơ chế, chính sách của Nhà nước và tình hình thực tế đơn vị để lựa chọn các vấn đề vận động, tổ chức nhân dân thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở.
c) Tổ chức động viên nhân dân tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh
Chi bộ, đảng bộ cơ sở vận động nhân dân tham gia góp ý kiến nhận xét, phê bình sự lãnh đạo của tổ chức đảng, phê bình cán bộ, đảng viên trong các dịp tổng kết năm, đại hội đảng bộ, chi bộ; dựa vào các đoàn thể, nhất là Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh để lựa chọn những đoàn viên, hội viên ưu tú, bồi dưỡng, kết nạp Đảng; vận động nhân dân tham gia đóng góp ý kiến về việc xử lý kỷ luật đảng viên, bố trí đảng viên vào các chức vụ lãnh đạo chính quyền, đoàn thể và giới thiệu nhân sự cấp ủy.
2. Phương thức tiến hành công tác dân vận ở cơ sở
a) Đảng bộ, chi bộ, mọi đảng viên trực tiếp làm công tác dân vận
- Đảng bộ, chi bộ phải lấy việc vận động nhân dân và chăm lo lợi ích của nhân dân là một nội dung chủ yếu trong hoạt động lãnh đạo; phải có chương trình công tác dân vận, thường xuyên nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân và có chủ trương, biện pháp giải quyết kịp thời. Đảng bộ, chi bộ phải quán triệt đầy đủ mọi chủ trương, chính sách mới cho các tầng lớp nhân dân.
- Đảng bộ, chi bộ phải tiến hành phân công và kiểm tra đảng viên sinh hoạt ở các tổ chức quần chúng, phụ trách các nhóm dân cư, các đối tượng quần chúng. Đảng viên phải làm gương lôi cuốn mọi người thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ trong đơn vị và nghĩa vụ công dân nơi cư trú.
b) Chi bộ, đảng bộ cơ sở lãnh đạo chính quyền cùng cấp tiến hành công tác dân vận
- Cấp ủy phải lãnh đạo, chỉ đạo chính quyền cùng cấp thực hiện nghị quyết của đảng ủy, chi bộ về công tác dân vận, thực hiện dân chủ ở cơ sở. Nếu bí thư đảng ủy bí thư chi bộ kiêm nhiệm chức vụ chính quyền thì với tư cách chính quyền phải xử lý vấn đề theo đúng tinh thần nghị quyết của Đảng, không được giải quyết theo ý cá nhân.
- Chi bộ, đảng bộ giám sát việc tổ chức, quản lý của chính quyền theo đúng pháp luật, quy định của cấp trên; lãnh đạo chính quyền tạo điều kiện để Mặt trận, các đoàn thể, nhất là những cán bộ cốt cán làm công tác dân vận, hoạt động thuận lợi.
- Đảng bộ, chi bộ phải lãnh đạo chặt chẽ việc xây dựng và hoạt động của các tổ an ninh nhân dân, ban thanh tra nhân dân, tổ hòa giải; lãnh đạo chặt chẽ việc thường xuyên lấy ý kiến phê bình góp ý của nhân dân cho cán bộ chính quyền cơ sở.
c) Chi bộ, đảng bộ cơ sở lãnh đạo các tổ chức đoàn thể thực hiện chức năng, nhiệm vụ và phương pháp hoạt động
- Sự lãnh đạo của Đảng đối với các đoàn thể, các tổ chức xã hội trước hết là định hướng chính trị, giúp cho các tổ chức này đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, xây dựng các nguyên tắc tổ chức, định ra các chương trình hoạt động trong mỗi thời kỳ. Vai trò lãnh đạo của chi bộ, đảng bộ cơ sở đối với các tổ chức, đoàn thể trên địa bàn phụ trách thể hiện trên các mặt cơ bản là: xây dựng tổ chức, lựa chọn cán bộ và chỉ đạo nội dung hoạt động. Đảng bộ, chi bộ phải cần nắm vững tính chính trị và tính xã hội của các tổ chức quần chúng ở cơ sở để có phương hướng lãnh đạo, chỉ đạo về nội dung và hình thức hoạt động thích hợp.
- Đảng bộ, chi bộ phải xây dựng và thực hiện cơ chế trao đổi công tác giữa cấp ủy, bí thư với người phụ trách các tổ chức đoàn thể để nắm tình hình và chỉ đạo hoạt động thường xuyên, kịp thời giải quyết hoặc kiến nghị lên cấp trên giải quyết những nhu cầu nguyện vọng chính đáng của các tổ chức đoàn thể; lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ việc chăm lo đời sống vật chất, tinh thần của các đoàn thể; biểu dương, khen thưởng kịp thời những cán bộ đoàn thể gương mẫu, tích cực.
B. CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT Ở CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
I- MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU CỦA CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT
- Kiểm tra, giám sát là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng. Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là hoạt động của các cấp ủy đảng, các ban chức năng của cấp ủy, các tổ chức đảng và của đảng viên hướng vào việc xây dựng, thực hiện các nghị quyết, quyết định và chỉ thị của Đảng; hoàn thiện quy trình lãnh đạo và giữ gìn kỷ luật đảng; giải quyết những vấn đề trong sinh hoạt nội bộ Đảng; tăng cường đoàn kết, thống nhất, góp phần tạo nên sức mạnh và bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị.
- Mục đích của công tác kiểm tra, giám sát là phát hiện những ưu điểm và những khuyết điểm, nhược điểm của tổ chức đảng, đảng viên trong quá trình lãnh đạo thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thực hiện Điều lệ Đảng, nhiệm vụ của đảng viên; kịp thời biểu dương, khen thưởng những tổ chức, cá nhân hoàn thành tốt nhiệm vụ; có biện pháp giáo dục, nhắc nhở, xử lý kỷ luật thích đáng đối với những trường hợp chấp hành không nghiêm chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ được giao; góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên, xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng.
Công tác kiểm tra, giám sát phải tiến hành theo quy trình nhất định; coi trọng thẩm tra, xác minh, làm rõ đúng, sai, ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm; từ đó có kết luận, xử lý vi phạm.
II- CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA CHI BỘ, ĐẢNG BỘ CƠ SỞ
Kiểm tra, giám sát là công việc của toàn Đảng. Các tổ chức đảng cần căn cứ vào các quy định chung và tình hình đặc điểm cụ thể để xây dựng phương hướng, nhiệm vụ, nội dung, kế hoạch kiểm tra, giám sát trong từng thời gian cho sát hợp với điều kiện, nhiệm vụ và phạm vi quyền hạn của mình.
1. Nội dung cơ bản của công tác kiểm tra, giám sát của chi bộ, đảng bộ cơ sở
- Điểm 2 Điều 30 Điều lệ Đảng quy định: « Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng"2.
- Trong tình hình hiện nay, công tác kiểm tra, giám sát ở chi bộ, đảng bộ cơ sở cần tập trung kiểm tra, giám sát những tổ chức đảng và đảng viên được giao những nhiệm vụ quan trọng liên quan trực tiếp đến phát huy dân chủ ở cơ sở, phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, chăm lo đời sống, giải quyết việc làm cho nhân dân, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, phòng, chống tham nhũng, quan liêu và các tiêu cực khác. Coi trọng kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức, kỷ luật, tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng của đảng viên.
- Trong công tác giám sát, cần thực hiện đúng quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra. Tổ chức đảng cấp trên kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên… Tổ chức đảng cấp trên giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nhiệm vụ giám sát theo sự phân công. Giám sát của Đảng có giám sát thường xuyên và giám sát theo chuyên đề »3, hay theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền. Chi bộ giám sát mọi đảng viên sinh hoạt trong chi bộ. Tập trung giám sát việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và theo nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên; việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống và giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú.
2. Cách tiến hành tổ chức kiểm tra, giám sát ở chi bộ, đảng bộ cơ sở
- Cấp ủy chủ trì, chủ động thực hiện kiểm tra, giám sát theo chương trình kế hoạch (hằng tháng, hằng quý, hằng năm) đã được xây dựng, kiểm tra, giám sát việc thực hiện Cương lĩnh, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, thực hiện Điều lệ Đảng và nhiệm vụ chính trị ở cơ sở.
- Cấp ủy có thể trực tiếp kiểm tra, hoặc thông qua các thành viên của cấp ủy và các ban của đảng ủy (ủy ban kiểm tra, ban tổ chức...) để tiến hành kiểm tra theo kế hoạch. Khi cần có thể kiểm tra bất thường.
- Để tổ chức tốt một cuộc kiểm tra cần làm tốt các bước công việc sau:
+ Căn cứ vào mục đích, yêu cầu và tình hình cụ thể mà lựa chọn nội dung, đối tượng kiểm tra. Lập kế hoạch kiểm tra chi tiết, chu đáo và thông báo cho tổ chức đảng và đảng viên biết.
+ Yêu cầu đảng viên, tổ chức đảng thuộc quyền báo cáo giải trình về những nội dung cần kiểm tra. Cá nhân, tổ chức chịu sự kiểm tra phải làm rõ những ưu điểm, khuyết điểm, sai phạm; tự đánh giá mức độ và nguyên nhân, đề ra phương hướng, biện pháp phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.
+ Cấp ủy, tổ chức đảng và cơ quan có thẩm quyền kiểm tra nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, nêu những biện pháp để tổ chức đảng và đảng viên phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm. Đồng thời, đảng ủy, chi bộ, chi ủy cũng phải tự đánh giá ưu điểm, khuyết điểm và trách nhiệm của mình trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị, quản lý, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên… Chi bộ kiểm tra, giám sát đảng viên thông qua sinh hoạt thường kỳ (kiểm điểm công tác lãnh đạo, tự phê bình và phê bình...); phân tích chất lượng đảng viên, qua theo dõi, đôn đốc đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao, qua yêu cầu đảng viên báo cáo khi cần thiết; nhận xét, đánh giá, phản ánh của các tổ chức đoàn thể và nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên; nghiên cứu, khảo sát nắm tình hình theo yêu cầu của cấp ủy; sơ kết, tổng kết công tác, sản xuất, kinh doanh,... của đơn vị để đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu của đảng viên, kịp thời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, chủ động phòng ngừa vi phạm của đảng viên. Qua giám sát, nếu phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc bị tố cáo, chi bộ kịp thời xem xét hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét giải quyết.
III- TỔ CHỨC, BỘ MÁY, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN CỦA ỦY BAN KIỂM TRA ĐẢNG ỦY CƠ SỞ
1. Tổ chức, bộ máy
Điều 31 Điều lệ Đảng quy định việc lập ủy ban kiểm tra các cấp từ đảng ủy cơ sở trở lên như sau:
“1. Ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy.
2. Các thành viên ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp dưới phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều động chủ nhiệm ủy ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý.
3. Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp và sự chỉ đạo, kiểm tra của ủy ban kiểm tra cấp trên”4.
Thực hiện quy định này, cần nắm vững và thực hiện tốt một số nội dung sau:
- Bầu ủy viên ủy ban kiểm tra trước, sau đó bầu chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra. Việc bầu cử được tiến hành bằng phiếu kín.
- Nhiệm kỳ của ủy ban kiểm tra theo nhiệm kỳ của đảng ủy. Ủy ban kiểm tra khóa mới điều hành công việc ngay sau khi được bầu, nhận bàn giao từ ủy ban kiểm tra khóa trước.
- Số lượng ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở có từ 3 đến 5 đồng chí (do đảng ủy cơ sở quyết định), trong đó đồng chí phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ cấp ủy làm chủ nhiệm. Trường hợp không có ban thường vụ cấp ủy thì đồng chí phó bí thư làm chủ nhiệm, phó chủ nhiệm là cấp ủy viên hoặc đảng viên. Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên, hoặc đảng viên phụ trách công tác đoàn thể, bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân.
- Các thành viên ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp dưới phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều động chủ nhiệm ủy ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý. Khi thay đổi phó chủ nhiệm hoặc ủy viên ủy ban kiểm tra (kể cả việc chuẩn bị người thay thế) cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy phải trao đổi với ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp trước khi thực hiện.
- Đảng ủy bộ phận và chi ủy không lập ủy ban kiểm tra. Tập thể cấp ủy thực hiện công tác kiểm tra và phân công một cấp ủy viên phụ trách. Ngoài ra, có thể lựa chọn phân công một số đảng viên có điều kiện giúp đồng chí cấp ủy viên phụ trách làm công tác kiểm tra.
- Chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra:
+ Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp và dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn; kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra cấp trên. Ủy ban kiểm tra phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban kiểm tra; định kỳ báo cáo với cấp ủy chương trình, kế hoạch, kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của mình và việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, về quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra và các nhiệm vụ do cấp ủy giao; chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp ủy về tất cả các hoạt động của mình.
+ Ủy ban kiểm tra thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Ủy ban kiểm tra có thể ủy quyền cho tập thể thường trực ủy ban (nơi có hai phó chủ nhiệm trở lên) quyết định một số vấn đề cụ thể hoặc giao cho từng thành viên của ủy ban kiểm tra giải quyết, quyết định một số việc cụ thể. Thường trực ủy ban kiểm tra gồm có chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm.
2. Nhiệm vụ và quyền hạn của ủy ban kiểm tra
Điều 32 Điều lệ Đảng quy định: "Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ:
1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng.
3. Giám sát cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ diện cấp ủy cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp ủy và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
4. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
5. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật Đảng.
6. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp"5.
Thực hiện quy định này, cần nắm vững những nội dung sau:
Về kiểm tra, giám sát.
+ Ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở có trách nhiệm kiểm tra các tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền khi có dấu hiệu vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết. Chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, vi phạm về tiêu chuẩn và thực hiện nhiệm vụ đảng viên, cấp ủy viên. Trường hợp đảng viên có dấu hiệu vi phạm là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý thì ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở báo cáo lên ủy ban kiểm tra cấp quản lý cán bộ để chỉ đạo tiến hành (hoặc do ủy ban kiểm tra cấp trên chủ trì có sự phối hợp với đảng ủy, chi ủy và ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở). Khi phát hiện dấu hiệu vi phạm thuộc nội dung nào thì kiểm tra và kết luận về nội dung đó.
+ Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật đảng. Đánh giá ưu, khuyết điểm về công tác kiểm tra, giúp cho tổ chức đảng cấp dưới thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn kiểm tra và thi hành kỷ luật của Đảng. Nội dung kiểm tra bao gồm: kiểm tra việc thực hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục kiểm tra và thi hành kỷ luật trong phạm vi quyền hạn quy định; kiểm tra việc khiếu nại kỷ luật đảng; kiểm tra việc chấp hành các quyết định, thông báo, chỉ thị của tổ chức đảng cấp trên về việc kiểm tra và thi hành kỷ luật; xem xét mức độ thi hành kỷ luật của tổ chức đảng đúng hay chưa đúng.
- Về giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên.
+ Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là sai trái, vi phạm Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo bao gồm cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp ủy cấp mình.
+ Ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở có nhiệm vụ giải quyết những tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của đảng ủy cơ sở, có nội dung liên quan đến việc chấp hành Điều lệ Đảng, đường lối, nghị quyết, nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên, cấp ủy viên và việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên. Những tố cáo có nội dung liên quan đến pháp luật, kinh tế... vẫn xem xét giải quyết. Những trường hợp tố cáo mà ủy ban kiểm tra không đủ khả năng, điều kiện xem xét kết luận thì báo cáo với cấp ủy, để cấp ủy chỉ đạo, phối hợp với các tổ chức, cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan bảo vệ pháp luật xem xét, kết luận và giải quyết. Những tố cáo về nghi vấn hoạt động chính trị phản động về lịch sử chính trị thì chuyển cho các cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết.
+ Không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ và những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do Điều lệ Đảng quy định xem xét kết luận, nay tố cáo lại nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới những tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; những thư tố cáo sao chụp chữ ký mà không ký trực tiếp cũng không xem xét, giải quyết.
+ Tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo, khi được kiểm tra phải báo cáo trung thực, rõ ràng, đầy đủ, kịp thời với tổ chức đảng có thẩm quyền; được đưa ra những bằng chứng xác thực để chứng minh nội dung tố cáo không đúng.
+ Bảo đảm bí mật cho người tố cáo, không để cho tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo chủ trì, giải quyết việc tố cáo đối với mình. ủy ban kiểm tra (cấp giải quyết tố cáo) phải kiên quyết xử lý hoặc đề nghị với các cấp có thẩm quyền của Đảng và Nhà nước cũng như các cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật nghiêm trị mọi hành động trù dập, trả thù người tố cáo, gây cản trở, không giải quyết tố cáo, bao che cho người bị tố cáo hoặc lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác.
Giải quyết tố cáo là nhiệm vụ thường xuyên và trực tiếp của ủy ban kiểm tra. Tiến hành tốt công tác này vừa giúp cho tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo nhận thức rõ sai lầm, khuyết điểm để ngăn ngừa, sửa chữa hoặc thanh minh, bảo vệ cho tổ chức đảng, đảng viên bị tố cáo sai, bị vu cáo..., vừa bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên và quần chúng trong công tác xây dựng Đảng, vừa tăng cường sự đoàn kết nhất trí về chính trị và tư tưởng trong nhân dân.
- Giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng
+ Khiếu nại kỷ luật trong Đảng là quyền của tổ chức đảng và đảng viên bị thi hành kỷ luật. Cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng. Ban thường vụ, ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở và đảng ủy bộ phận có trách nhiệm xem xét khiếu nại về kỷ luật của đảng viên do chi bộ quyết định, nhưng không có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật mà phải đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định. Việc giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng và đảng viên phải tiến hành tuần tự từ ủy ban kiểm tra hoặc cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì cấp trên nữa mới giải quyết, lần lượt cho đến Ban Chấp hành Trung ương.
+ Khi nhận được khiếu nại kỷ luật, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải thông báo cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết. Phải lắng nghe ý kiến trình bày của người khiếu nại, nghiên cứu nghiêm túc hồ sơ và các tài liệu có liên quan, xác định vấn đề thẩm tra. xem xét giải quyết. Kể từ ngày nhận được khiếu nại trong thời hạn 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương trở xuống, 180 ngày đối với cấp Trung ương, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải xem xét giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết.
+ Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày tổ chức đảng, đảng viên nhận được quyết định kỷ luật; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận mà không có chứng cứ mới; bị toà án quyết định hình phạt từ cảnh cáo trở lên chưa được cơ quan pháp luật có thẩm quyền hủy bỏ bản án; cá nhân, tập thể và tổ chức đảng khiếu nại hộ cho tổ chức và người bị thi hành kỷ luật; khiếu nại khi chưa có quyết định kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền.
Trường hợp người bị thi hành kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết mà đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn xem xét, giải quyết.
3. Phương châm, phương pháp và hình thức công tác kiểm tra
- Phương châm: nắm vững tư tưởng chỉ đạo: chủ động, chiến đấu, giáo dục, hiệu quả.
+ Phải thường xuyên chủ động nắm vững tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng ở cơ sở. Từ đó, có chương trình, kế hoạch kiểm tra và tiến hành thực hiện theo chương trình, kế hoạch đã đề ra.
+ Khi tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc đã vi phạm, đã mắc sai lầm, khuyết điểm, tổ chức đảng, các cơ quan có trách nhiệm trong công tác kiểm tra và mọi đảng viên phải nêu cao tính chiến đấu đấu tranh tìm ra sự thật, làm rõ đúng sai, làm rõ tính chất, mức độ tác hại, nguyên nhân vi phạm.... để đi đến kết luận đúng đắn. Qua mỗi vụ việc kiểm tra, kỷ luật cần rút ra những bài học về giáo dục, quản lý và rèn luyện cán bộ, đảng viên, nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, góp phần thực hiện tốt công tác xây dựng Đảng.
- Phương pháp: nắm vững phương pháp cơ bản của công tác kiểm tra.
+ Phải dựa vào tổ chức và chính tổ chức đảng phải có trách nhiệm tiến hành công tác kiểm tra. Phát huy tinh thần tự giác của đảng viên và tổ chức đảng; động viên giúp đỡ người vi phạm thành khẩn nhận thức đúng sai lầm, khuyết điểm, thiếu sót để khắc phục, sửa chữa.
+ Phát huy tinh thần xây dựng Đảng của nhân dân, để nhân dân chủ động và tích cực đóng góp ý kiến cho tổ chức đảng và đảng viên. Việc lấy ý kiến của nhân dân góp ý cần được lãnh đạo, tổ chức chặt chẽ, chu đáo bằng nhiều hình thức, phương pháp phù hợp để đem lại kết quả.
+ Phải thận trọng, chu đáo trong việc xác minh, thẩm tra. Chưa thẩm tra, xác minh thì chưa kết luận.
- Hình thức:
+ Kiểm tra thường xuyên.
Kiểm tra thường xuyên được thực hiện thông qua các hoạt động: Thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng đảng ở cơ sở; thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; sinh hoạt thường kỳ ở chi bộ mà kiểm điểm công tác lãnh đạo, tự phê bình và phê bình; phân tích chất lượng đảng viên; sơ kết, tổng kết; thông báo của tổ chức đảng cấp trên để đánh giá đúng ưu điểm, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu của tổ chức đảng và đảng viên. Muốn vậy, cấp ủy, ủy ban kiểm tra phải thường xuyên sinh hoạt, tham dự sinh hoạt đảng, tham dự các buổi sinh hoạt của các đoàn thể nhân dân để nắm tình hình hoạt động của các đoàn thể và tình hình hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên, qua đó mà phát hiện vấn đề cần xem xét, giải quyết.
+ Kiểm tra định kỳ.
Kiểm tra định kỳ là hình thức kiểm tra mà các tổ chức đảng xác định rõ kế hoạch, thời gian, nội dung cụ thể và tạo điều kiện để tiến hành. Tùy theo đặc điểm, yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng mà xác định nội dung thời gian định kỳ kiểm tra cho phù hợp. Nội dung kiểm tra định kỳ có thể là kiểm tra toàn diện, nhưng cũng có thể chỉ đi sâu một số nội dung cần thiết, có tính chất chuyên đề như: kiểm tra việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc ra nghị quyết và thực hiện nghị quyết; kiểm tra việc tự phê bình, phê bình...
+ Kiểm tra đột xuất, bất thường
Hình thức này được áp dụng khi có sự việc đột xuất xảy ra; khi có đơn thư tố cáo, khiếu nại của đảng viên và quần chúng. Đối tượng kiểm tra thường ít, nội dung tập trung vào một số vấn đề nhất định, yêu cầu cần được xem xét và kết luận nhanh chóng. Vì vậy, khi tiến hành kiểm tra bất thường phải lên kế hoạch chu đáo tỉ mỉ, xác định rõ mục đích, yêu cầu, đối tượng, nội dung và hình thức kiểm tra; bố trí lực lượng tham gia định thời gian kiểm tra kết luận cụ thể, chính xác.
C. CÔNG TÁC KHEN THƯỞNG VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG BỘ, CHI BỘ CƠ SỞ
I- CÔNC TÁC KHEN THƯỞNG
Điều 34 Điều lệ Đảng quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên có thành tích được khen thưởng theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương"6. Việc khen thưởng đối với tổ chức đảng và đảng viên được quy định như sau:
1. Hình thức khen thưởng trong Đảng
- Đối với tổ chức đảng: biểu dương, tặng giấy khen bằng khen, tặng cờ, tặng thưởng huân chương huy chương và các danh hiệu vinh dự khác của Đảng và Nhà nước.
- Đối với đảng viên: biểu dương, tặng giấy khen, bằng khen, Huy hiệu Đảng 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm tuổi đảng, tặng thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu vinh dự khác của Đảng và Nhà nước.
2. Thẩm quyền khen thưởng
- Chi bộ: biểu dương tổ đảng và đảng viên trong chi bộ.
- Đảng ủy bộ phận: biểu dương tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.
- Đảng ủy cơ sở: biểu dương, khen thưởng, tặng giấy khen cho tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.
- Huyện ủy (và tương đương): công nhận tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh, tặng giấy khen cho tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ.
- Tỉnh ủy (và tương đương): quyết định tặng bằng khen, tặng cờ cho tổ chức đảng, tặng Huy hiệu Đảng 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm tuổi đảng, bằng khen cho đảng viên trong đảng bộ.
- Việc tặng thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu cao quý khác cho tổ chức đảng và đảng viên thực hiện theo quy định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và pháp luật về thi đua - khen thưởng.
3. Tiêu chuẩn, đối tượng và thủ tục khen thưởng
- Tiêu chuẩn, đối tượng tặng Huy hiệu Đảng:
Những đảng viên hoạt động cách mạng lâu năm, giữ gìn được tư cách đảng viên, có đủ 30 năm, 40 năm, 45 năm, 50 năm, 55 năm, 60 năm, 65 năm, 70 năm, 75 năm, 80 năm, 85 năm, 90 năm tuổi đảng trở lên thì được tặng Huy hiệu Đảng. Đảng viên đã từ trần, nếu thời gian tham gia sinh hoạt đảng có đủ tuổi đảng như nêu trên thì được truy tặng Huy hiệu Đảng. Tại thời điểm xét tặng Huy hiệu Đảng, đảng viên bị kỷ luật về Đảng từ hình thức cảnh cáo trở lên thì chưa được xét tặng; sau sáu tháng (đối với kỷ luật cảnh cáo), một năm (đối với kỷ luật cách chức), nếu sửa chữa tốt khuyết điểm sẽ được xét tặng Huy hiệu Đảng. Đảng viên bị bệnh nặng có thể được xét tặng Huy hiệu Đảng sớm, nhưng thời gian xét tặng sớm không được quá một năm so với thời gian quy định.
- Việc tặng giấy khen, bằng khen, tặng cờ đối với tổ chức đảng, tặng giấy khen, bằng khen đối với đảng viên và thủ tục xét tặng Huy hiệu Đảng, các hình thức khen thưởng khác ở trong Đảng thực hiện theo hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương.
4. Giá trị tặng phẩm kèm theo các hình thức khen thưởng của Đảng
- Tặng phẩm kèm theo các hình thức khen thưởng huân chương, huy chương và các danh hiệu cao quý khác thực hiện theo quy định chung của Nhà nước.
- Tặng phẩm kèm theo đối với các đảng viên được tặng Huy hiệu Đảng và các hình thức khen thưởng khác trong Đảng được quy định thống nhất và nguồn kinh phí được trích từ quỹ khen thưởng chung của các địa phương và ngành hoặc một phần từ tài chính Đảng, theo hướng dẫn của Văn phòng Trung ương Đảng.
II- VỀ KỶ LUẬT ĐẢNG
1. Một số vấn đề chung về kỷ luật Đảng
a) Mục đích kỷ luật của Đảng
Thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên nhằm giữ vững sự đoàn kết trong Đảng, tăng cường sự thống nhất ý chí và hành động, tăng cường sức chiến đấu của Đảng, làm cho Đảng luôn trong sạch, vững mạnh.
b) Đối tượng xử lý kỷ luật
Trong tình hình hiện nay, cần tập trung xử lý nghiêm những vi phạm sau:
- Lợi dụng dân chủ để tuyên truyền chống Đảng; cố ý nói, viết và làm trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành nghị quyết chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
- Vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; cơ hội, kèn cựa, địa vị, độc đoán, chuyên quyền, lợi dụng dân chủ để kéo bè, kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ.
- Những hành vi tham nhũng, buôn lậu của cán bộ đảng viên ở bất kỳ cấp nào, lĩnh vực nào.
- Quan liêu, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để địa phương, đơn vị mình trực tiếp phụ trách xảy ra tham nhũng, lãng phí mất đoàn kết và các tiêu cực khác gây hậu quả nghiêm trọng. Bản thân gây thiệt hại về kinh tế phải bồi hoàn nhưng cố ý không bồi hoàn.
- Suy thoái về phẩm chất đạo đức, lối sống: nghiện ma tuý; nghiện rượu, bia đến mức bê tha; tổ chức, tham gia các hoạt động không lành mạnh, bất chính; hành nghề mê tín dị đoan, tham gia tà đạo...
Đảng viên ở bất kỳ cương vị nào, nếu vi phạm một trong những nội dung nêu trên đều phải xử lý kỷ luật nghiêm minh. Đối với những vi phạm khác, nếu đến mức phải xử lý kỷ luật, cũng phải xem xét, thi hành kỷ luật kịp thời để hạn chế và phòng ngừa vi phạm.
c) Tính nghiêm túc và tự giác của kỷ luật Đảng
- Nghiêm túc là mọi tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành vô điều kiện kỷ luật của Đảng, Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị và các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt của Đảng. Đảng không giảm bớt yêu cầu có tính nguyên tắc đó đối với bất cứ ai; không để cho ai có đặc quyền, đặc lợi và không cho phép ai được coi là ngoại lệ.
- Tự giác là đặc trưng cơ bản của kỷ luật trong Đảng. Mọi tổ chức đảng và đảng viên trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào cũng đều phải tự giác chấp hành kỷ luật của Đảng.
Tính tự giác và nghiêm túc là sự thống nhất biện chứng giữa hai mặt tập trung và dân chủ, bắt buộc và tự giác. Sự thống nhất và kết hợp giữa nghiêm túc và tự giác bảo đảm cho kỷ luật của Đảng thực sự là kỷ luật sắt.
d) Phương châm thi hành kỷ luật
Điểm 1 Điều 35 Điều lệ Đảng quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời”7.
- Công minh: bất cứ tổ chức đảng và đảng viên nào, không phân biệt tổ chức đảng cấp trên hay cấp dưới, đảng viên có chức vụ cao hay thấp, tuổi đảng nhiều hay ít nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật đều phải bị xử lý kỷ luật, không ai được ngoại lệ, không có khu vực cấm.
- Chính xác: việc thi hành kỷ luật phải đúng đối tượng vi phạm, đúng nội dung, tính chất, mức độ tác hại và nguyên nhân vi phạm. Phải căn cứ vào các bằng chứng xác thực, phân biệt bản chất và hiện tượng, vi phạm do nhận thức không đúng hay cố ý làm trái; vi phạm nhất thời hay có hệ thống hoặc do những yếu tố khác..., để xử lý được chính xác.
- Kịp thời: việc thi hành kỷ luật phải được xem xét và xử lý một cách khẩn trương, không để chậm trễ, kéo dài làm giảm hay mất tác dụng giáo dục của việc thi hành kỷ luật, ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng.
d) Các hình thức kỷ luật
Đối với tổ chức đảng, có ba hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo và giải tán.
Đối với đảng viên chính thức, có bốn hình thức kỷ luật: khiển trách, cảnh cáo, cách chức và khai trừ ra khỏi Đảng.
Đối với đảng viên dự bị: khiển trách, cảnh cáo. Nếu vi phạm đến mức nghiêm trọng, không đủ tư cách đảng viên thì xóa tên trong danh sách đảng viên dự bị (không thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ).
e) Thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ, đảng ủy
Thẩm quyền thi hành kỷ luật của chi bộ. đảng ủy cơ sở được quy định tại Mục 1 Điều 36 Điều lệ Đảng như sau:
“Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp ủy viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).
Đảng ủy cơ sở quyết định khiển trách cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp ủy viên cấp dưới. Đảng ủy cơ sở được ủy quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý"8.
f) Một số vấn đề cần chú ý
- Đối với cấp ủy viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ ủy viên đảng ủy cơ sở cho đến ủy viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao, phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật bằng các hình thức: khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số thành viên của tổ chức đảng (ở chi bộ là đảng viên chính thức).
- Trường hợp xóa tên đảng viên, khai trừ đảng viên thì phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng nhất trí đề nghị và được cấp ủy cấp trên có thẩm quyền quyết định với sự nhất trí của trên một nửa số thành viên.
- Việc biểu quyết kỷ luật phải được thực hiện bằng phiếu kín. Trường hợp biểu quyết mà không đủ số phiếu cần thiết như quy định thì phải báo cáo đầy đủ kết quả bỏ phiếu lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.
2. Về nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật ở chi bộ, đảng bộ cơ sở
a) Nguyên tắc thi hành kỷ luật
- Về quyết định thi hành kỷ luật:
+ Chỉ có các tổ chức đảng do Điều lệ Đảng quy định và Ban Chấp hành Trung ương ủy quyền mới có thẩm quyền quyết định thi hành kỷ luật. Quyết định kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên có hiệu lực ngay sau khi công bố, thời gian công bố chậm nhất không quá 15 ngày, kể từ ngày ký quyết định kỷ luật. Tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh mọi quyết định kỷ luật; nếu không đồng ý thì có quyền khiếu nại, nhưng trong khi chưa được giải quyết phải chấp hành nghiêm chỉnh kỷ luật đã được công bố.
+ Trường hợp chi bộ, đảng ủy không xử lý, hoặc xử lý không đúng mức đối với đảng viên vi phạm thì tổ chức đảng cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của chi bộ và đảng ủy.
+ Trường hợp đảng viên bị kỷ luật bằng hình thức cách chức, trong vòng một năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn. Đề nghị của tổ chức đảng cấp dưới về các hình thức kỷ luật cách chức, khai trừ ra khỏi Đảng, giải tán tổ chức đảng khi chưa được tổ chức có thẩm quyền quyết định công bố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, tổ chức đảng đó vẫn được hoạt động.
+ Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng (01 tháng) kể từ ngày nhận được quyết định, có quyền khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Bí thư Trung ương.
- Về việc giải quyết khiếu nại kỷ luật.
+ Khi nhận được khiếu nại kỷ luật, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải thông báo cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết. Kể từ ngày nhận được khiếu nại, trong thời hạn 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương trở xuống, 180 ngày đối với cấp Trung ương, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra phải xem xét, giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết.
+ Nghiêm cấm các hành vi cản trở, dìm bỏ, không xem xét giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng. Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong, cấp có thẩm quyết giải quyết phải thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.
- Thủ tục thi hành kỷ luật
Việc thi hành kỷ luật trong Đảng phải tuân theo những thủ tục chủ yếu sau đây:
- Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật. Nếu từ chối kiểm điểm hoặc đang bị tạm giam, chi bộ vẫn tiến hành xem xét kỷ luật Đảng viên vi phạm là cấp ủy viên, từ đảng ủy viên cơ sở trở lên và cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý thì việc tổ chức kiểm điểm ở tổ chức đảng nào sẽ do cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra của cấp quản lý cán bộ đó quyết định.
- Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm trình bày ý kiến (nghe trực tiếp hoặc bằng văn bản). Trường hợp đảng viên hoặc tổ chức đảng vi phạm vì một lý do nào đó mà không thể trực tiếp trình bày ý kiến với tổ chức đảng có thẩm quyền, thì phải báo cáo bằng văn bản và chấp hành mọi quyết định của tổ chức đảng có thẩm quyền.
- Việc công bố quyết định kỷ luật phải kịp thời, chậm nhất không quá 15 ngày kể từ ngày ký, nếu quá hạn không công bố thì phải báo cáo ngay với cấp ủy có thẩm quyền xem xét quyết định. Khi công bố quyết định kỷ luật phải lập biên bản và có chữ ký của người có trách nhiệm, chữ ký của đảng viên hoặc đại diện tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật.
Phải làm cho mọi đảng viên thấy rõ mục đích của việc kỷ luật, thông qua đó để rút ra những bài học kinh nghiệm về việc rèn luyện, tu dưỡng, giáo dục và quản lý đảng viên.
- Đảng viên vi phạm nghiêm trọng đến mức phải kỷ luật khai trừ, nhưng lại xin ra khỏi Đảng, thì phải thi hành kỷ luật khai trừ, không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng. Cấp ủy viên vi phạm đến mức phải cách chức nhưng lại xin rút khỏi cấp ủy, thì không chấp nhận việc xin rút khỏi cấp ủy mà phải thi hành kỷ luật cách chức.
- Mọi hồ sơ liên quan đến việc thi hành kỷ luật phải được ghi chép cẩn thận, tỉ mỉ và lưu trữ lại. Cấp nào ra quyết định kỷ luật cấp đó lưu trữ hồ sơ.
-----------
Chú thích
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.6, tr.232.
2. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.51.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.161.
4. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.51-52.
5. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.52-53.
6. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.54.
7. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.54.
8. Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Sđd, tr.55.
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Trình bày những quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác vận động nhân dân?
2. Nội dung, phương thức công tác vận động nhân dân của chi bộ, đảng bộ cơ sở? Liên hệ thực tế.
3. Công tác kiểm tra, giám sát của chi bộ, đảng bộ cơ sở bao gồm những nội dung gì?
4. Tổ chức, bộ máy, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra đảng ủy cơ sở như thế nào? Phương châm, phương pháp và hình thức của công tác kiểm tra là gì?
5. Hãy nêu các hình thức khen thưởng, tiêu chuẩn, đối tượng, thủ tục và thẩm quyền khen thưởng?
6. Nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật ở chi bộ, đảng bộ cơ sở? Liên hệ thực tế.
Bài 4 - CÔNG TÁC ĐẢNG CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO; XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI, QUẢN LÝ, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG Ở CƠ SỞ Bài 4
CÔNG TÁC ĐẢNG CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO; XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI, QUẢN LÝ, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG Ở CƠ SỞ
I. SỰ CẦN THIẾT LÃNH ĐẠO THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO; XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI; QUẢN LÝ, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG Ở CƠ SỞ TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
1. Thực hiện vai trò lãnh đạo toàn diện của Đảng ở cơ sở
- Sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng ta trở thành đảng cầm quyền, giữ vai trò lãnh đạo toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để thực hiện vai trò lãnh đạo, trước hết Đảng xây dựng các tổ chức cơ sở đảng theo hệ thống tổ chức hành chính nhà nước; trong các cơ quan, doanh nghiệp trường học, trong lực lượng vũ trang... Các tổ chức đảng là hạt nhân chính trị, có trách nhiệm lãnh đạo thực hiện đường lối của Đảng trong các nhiệm vụ chính trị của cơ quan, đơn vị, địa phương. Chi ủy, bí thư chi bộ có trách nhiệm tổ chức thực hiện vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng trong các lĩnh vực hoạt động của cơ quan, đơn vị.
Trong 30 năm qua, đường lối đổi mới của Đảng đã không ngừng được phát triển và hoàn thiện trên tất cả các lĩnh vực. Đại hội XII của Đảng đã xác định nhiệm vụ “Đẩy mạnh toàn diện đồng bộ công cuộc đổi mới”1 và lần đầu tiên nêu lên bốn nhiệm vụ trọng tâm, trụ cột: Phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trung tâm; xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; xây dựng văn hóa, con người làm nền tảng tinh thần của xã hội; tăng cường quốc phòng, an ninh là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên. Thực hiện các yêu cầu trên là nhiệm vụ của tất cả các tổ chức cơ sở đảng.
- Trong nhiệm kỳ khóa XI, xuất phát từ yêu cầu thực tế của công cuộc đổi mới, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành nhiều nghị quyết quan trọng và các lĩnh vực xã hội. Đó là Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3-6-2013 của Hội nghị Trung ương 7 "Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường": Nghị quyết số 29/NQ-TW, ngày 4-11-2013 của Hội nghị Trung ương 8 “Về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”; Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9-6-2014 của Hội nghị Trung ương 9 "Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước". Các nghị quyết nêu trên đều yêu cầu tổ chức nghiên cứu, quán triệt trong Đảng và hệ thống chính trị, để đưa các quan điểm của Đảng vào thực tiễn cuộc sống, trực tiếp là cơ sở.
2. Vai trò quan trọng của các lĩnh vực giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hoá, con người; quản lý, bảo vệ tài nguyên môi trường trong giai đoạn hiện nay
- Giáo dục và đào tao là hoạt động riêng có của xã hội loài người, theo đó, các thế hệ đi trước truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm thu được qua hoạt động thực tiễn cho các thế hệ đi sau. Nhờ có giáo dục mà các thế hệ tập sau đã rút ngán được khoảng thời gian nhận thức những quy luật vận động của thế giới tự nhiên, xã hội và con người ngay từ thời trẻ, trên ghế nhà trường. Từ đó họ tiếp tục sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, tham gia vào quá trình phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo trở thành lĩnh vực cực kỳ quan trọng trong chiến lược phát triển của các quốc gia. Giáo dục và đào tạo được coi là quyết sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, "đầu tư ứng trước".
Tiếp thu truyền thống hiếu học, trọng tri thức của dân tộc, Đảng ta đã rất quan tâm đến giáo dục và đào tạo. Từ nhiệm kỳ khóa VIII (1996 – 2001), khi xác định nhiệm vụ “từng bước đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, Đảng đã nêu chủ trương “giáo dục là quốc sách hàng đầu” trong Nghị quyết Trung ương 2. Thực hiện mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đất nước trong những năm tới, Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã xác định: "Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo"2. "Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học”3. Những quan điểm lớn nêu trên có tác động mạnh mẽ đến ngành giáo dục nói riêng và đến tất cả các gia đình người Việt Nam nói chung. Quan tâm đến sự lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục và đào tạo theo đường lối đổi mới của Đảng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chi ủy và bí thư chi bộ cơ sở.
- Phát triển văn hóa, con người là mục tiêu cơ bản của cách mạng trong mọi giai đoạn phát triển, bởi văn hóa bao gồm tất cả những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra, phục vụ cho con người và "các phương thức sử dụng chúng”. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi văn hóa là ngọn đèn pha chỉ đường, "văn hóa soi đường cho quốc dân đi", và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”. Như vậy, xây dựng, phát triển văn hóa, con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển.
Trong sự nghiệp phát triển đất nước, chúng ta cùng một lúc phải xây dựng nền tảng vật chất, kỹ thuật và nền tảng đạo đức tinh thần văn hóa cho xã hội mới. Xây dựng nền tảng đạo đức, tinh thần, văn hóa của xã hội là quá trình lâu dài, phức tạp, liên quan đến con người và không ai có thể làm thay chúng ta được. Dưới tác động của cơ chế kinh tế thị trường và những hạn chế, yếu kém chủ quan, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống đang có chiều hướng gia tăng, đang tác động xấu đến nền tảng đạo đức, tinh thần, văn hóa của xã hội. Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước" đã xác định những quan điểm và giải pháp cần phải thực hiện.
- Vấn đề quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu đang là vấn đề lớn toàn cầu tác động đến tất cả các nước trên thế giới. Đối với nước ta, trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa những năm qua các vấn đề nêu trên đã có những diễn biến cụ thể nhanh hơn phức tạp hơn so với dự báo. Nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của các vấn đề nêu trên. Đảng, Nhà nước ta đã xác định chủ trương, chính sách, biện pháp nhằm chủ động phòng, chống thiên tai; ứng phó với biến đổi khí hậu; tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, phù hợp yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3-6-2013 của Hội nghị Trung ương 7 khóa XI xác định nhiệm vụ “chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”.
Vấn đề quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường cần được thực hiện trong tất cả các cấp, các ngành, trong đó có vai trò quan trọng ở cơ sở, bởi liên quan trực tiếp đến đời sống của cư dân. Thực hiện các yêu cầu về bảo vệ tài nguyên, môi trường ở cơ sở nằm trong nhiệm vụ lãnh đạo của chi ủy và bí thư chi bộ.
II- QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO; XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI; QUẢN LÝ, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG
1. Về phát triển giáo dục và đào tạo
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4-11-2018 của Hội nghị Trung ương 8 khóa XI đã xác định 7 quan điểm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo ở nước ta hiện nay.
Một là, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân. Đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục - đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học. Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc. Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp.
Ba là, phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. Học đi đôi với hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội.
Bốn là, phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan. Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng.
Năm là, đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa các phương thức giáo dục, đào tạo. Chuẩn hoá, hiện đại hoá giáo dục và đào tạo.
Sáu là, chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo. Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập, giữa các vùng, miền, ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách. Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo.
Bảy là, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước4.
Trên cơ sở các quan điểm đã được xác định tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, Nghị quyết Đại hội XII đã khẳng định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu, phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với tiến bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động”5.
2. Về xây dựng, phát triển văn hóa, con người
Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã thông qua Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 “Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Nghị quyết đã xác định 5 quan điểm cơ bản trong xây dựng và phát triển văn hóa, con người hiện nay.
Một là, văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu, động lực phát triển bền vững đất nước. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội.
Hai là, xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, thống nhất trong đa dạng của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, với các đặc trưng dân tộc nhân văn, dân chủ và khoa học.
Ba là, phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Trong xây dựng văn hóa, trọng tâm là chăm lo xây dựng con người có nhân cách, lối sống tốt đẹp, với các đặc tính cơ bản: yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù, sáng tạo.
Bốn là, xây dựng đồng bộ môi trường văn hóa, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộng đồng. Phát triển hài hòa giữa kinh tế và văn hóa; cần chú ý đầy đủ đến yếu tố văn hóa và con người trong phát triển kinh tế.
Năm là, xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do Đảng lãnh đạo. Nhà nước quản lý, nhân dân là chủ thể sáng tạo, đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng6.
3. Về bảo vệ tài nguyên, môi trường
Hội nghị Trung ương 7 khóa XI đã ban hành Nghị quyết số 24-NQ/TW, ngày 3-6-2013 “Về chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường”. Nghị quyết đã xác định quan điểm chỉ đạo trong thực hiện các nhiệm vụ thuộc các lĩnh vực này như sau:
Một là, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường là những vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có tầm ảnh hưởng lớn, quan hệ, tác động qua lại, cùng quyết định sự phát triển bền vững của đất nước; là cơ sở, tiền đề cho hoạch định đường lối, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và an sinh xã hội. Đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của cả hệ thống chính trị; là trách nhiệm và nghĩa vụ của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư, trong đó Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự tham gia, giám sát của toàn xã hội.
Hai là, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường phải trên cơ sở phương thức quản lý tổng hợp và thống nhất, liên ngành, liên vùng. Vừa đáp ứng yêu cầu trước mắt, vừa bảo đảm lợi ích lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài là cơ bản. Vừa bảo đảm toàn diện, vừa phải có trọng tâm, trọng điểm; có bước đi phù hợp trong từng giai đoạn; dựa vào nội lực là chính, đồng thời phát huy hiệu quả nguồn lực hỗ trợ và kinh nghiệm quốc tế.
Ba là, biến đổi khí hậu là vấn đề toàn cầu, là thách thức nghiêm trọng đối với toàn nhân loại trong thế kỷ XXI. Ứng phó với biến đổi khí hậu phải được đặt trong mối quan hệ toàn cầu; không chỉ là thách thức mà còn tạo cơ hội thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững. Phải tiến hành đồng thời thích ứng và giảm nhẹ, trong đó thích ứng với biến đổi khí hậu, chủ động phòng, tránh thiên tai là trọng tâm.
Bốn là, tài nguyên là tài sản quốc gia, là nguồn lực, nguồn vốn tự nhiên đặc biệt quan trọng để phát triển đất nước. Tài nguyên phải được đánh giá đầy đủ các giá trị, định giá, hạch toán trong nền kinh tế, được quản lý, bảo vệ chặt chẽ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả và bền vững, gắn với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh tài nguyên. Chú trọng phát triển, sử dụng năng lượng tái tạo, vật liệu mới, tái chế.
Năm là, môi trường là vấn đề toàn cầu. Bảo vệ môi trường vừa là mục tiêu vừa là một nội dung cơ bản của phát triển bền vững. Tăng cường bảo vệ môi trường phải theo phương châm ứng xử hài hòa với thiên nhiên, theo quy luật tự nhiên, phòng ngừa là chính; kết hợp kiểm soát, khắc phục ô nhiễm, cải thiện môi trường, bảo tồn thiên nhiên và đa dạng sinh học; lấy bảo vệ sức khỏe nhân dân làm mục tiêu hàng đầu; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng. Đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư cho phát triển bền vững7.
III- NỘI DUNG CÔNG TÁC CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ TRONG THỰC HIỆN NHIỆM VỤ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC, ĐÀO TẠO, XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN VĂN HÓA, CON NGƯỜI; QUẢN LÝ, BẢO VỆ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG Ở CƠ SỞ
1. Thực hiện các giải pháp tổng thể về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường
a) Về phát triển giáo dục, đào tạo
- Phấn đấu trong những năm tới, tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, sống tốt và làm việc hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực.
- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học. Đổi mới chương trình, nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề. Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảm trung thực khách quan.
- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho đất nước, cho từng ngành, từng lĩnh vực, với những giải pháp đồng bộ, trong đó tập trung cho giải pháp đào tạo, đào tạo lại nguồn nhân lực trong nhà trường cũng như trong quá trình sản xuất kinh doanh, chú trọng nâng cao tính chuyên nghiệp và kỹ năng thực hành. Phát triển hợp lý, hiệu quả các loại hình trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học.
- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng. Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của cơ quan quản lý các cấp, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch.
- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo. Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo.
- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách nhà nước. Đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách giá dịch vụ giáo dục - đào tạo. Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học. Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất - kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáo dục và khoa học quản lý. Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Nghiên cứu sáp nhập một số tổ chức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập.
b) Về xây dựng và phát triển văn hóa con người
Đại hội XII của Đảng đã xác định những phương hướng, nhiệm vụ chủ yếu là:
- Các cấp, các ngành phải nhận thức đầy đủ và thực hiện có kết quả mục tiêu: Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học. Văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, dân chủ. công bằng, văn minh".
- Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện phải trở thành một mục tiêu của chiến lược phát triển. Đúc kết và xây dựng hệ giá trị văn hóa và hệ giá trị chuẩn mực của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, tạo môi trường và điều kiện để phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật… Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người. Có giải pháp ngăn chặn và đẩy lùi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, khắc phục những mặt hạn chế của con người Việt Nam.
- Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phù hợp với bối cảnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa lành mạnh trong hệ thống chính trị, trong mỗi địa phương, trong từng cộng đồng làng, bản, khu phố, cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp khu công nghiệp và mỗi gia đình, góp phần giáo dục, rèn luyện con người về nhân cách, đạo đức, lối sống... Nâng cao chất lượng, hiệu quả các cuộc vận động văn hóa, phong trào "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa". Từng bước thu hẹp khoảng cách về hưởng thụ văn hóa giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và các giai tầng xã hội. Phát huy các giá trị, nhân tố tích cực trong văn hóa tôn giáo, tín ngưỡng. Xây dựng văn hóa trong chính trị và kinh tế. Chú trọng chăm lo xây dựng văn hóa trong Đảng, trong các cơ quan nhà nước và các đoàn thể; coi đây là nhân tố quan trọng để xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động văn hóa. Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa truyền thống dân tộc; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, làm giàu văn hóa dân tộc. Xây dựng cơ chế để giải quyết hợp lý, hài hòa giữa bảo tồn, phát huy di sản văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội.
Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật. chăm lo bồi dưỡng và tạo mọi điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ. Đổi mới phương thức hoạt động của các hội văn học, nghệ thuật.
- Làm tốt công tác lãnh đạo, quản lý, báo chí, xuất bản. Các cơ quan truyền thông phải thực hiện đúng tôn chỉ mục đích, đối tượng phục vụ, nâng cao tính tư tưởng, nhân văn và khoa học, đề cao trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, góp phần xây dựng văn hóa và con người Việt Nam. Quy hoạch, sắp xếp lại hệ thống báo chí đáp ứng yêu đầu phát triển, bảo đảm thiết thực, hiệu quả. Chú trọng công tác quản lý các loại hình thông tin trên intenet để định hướng tư tưởng và thẩm mỹ cho nhân dân, nhất là cho thanh niên, thiếu niên.
- Phát triển công nghiệp hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường dịch vụ và sản phẩm văn hóa. Có cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ văn hóa.
- Chủ động hội nhập quốc tế về văn hóa, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Chủ động mở rộng hợp tác văn hóa với các nước, thực hiện đa dạng các hình thức văn hóa đối ngoại, đưa các quan hệ quốc tế về văn hóa đi vào chiều sâu, đạt hiệu quả thiết thực; tiếp nhận có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm văn hóa dân tộc…
- Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa bảo đảm để văn hóa, văn học - nghệ thuật, báo chí phát triển đúng định hướng chính trị, tư tưởng của Đảng, vừa bảo đảm quyền tự do, dân chủ cá nhân trong sáng tạo trên cơ sở phát huy trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân với mục đích đúng đắn; khắc phục tình trạng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc mất dân chủ, hạn chế tự do sáng tạo…
Đẩy nhanh việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa. Chấn chỉnh và quản lý tốt các hoạt động lễ hội. Rà soát, phát triển hợp lý các thiết chế văn hóa. Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa, về quyền tác giả và các quyền liên quan, phù hợp với chuẩn mực quốc tế và thực tiễn Việt Nam.
- Xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ cán bộ văn hóa. Coi trọng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ lãnh đạo, quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác khoa học, chuyên gia đầu ngành, cán bộ ở cơ sở.
- Mức đầu tư của Nhà nước cho văn hóa phải tương ứng với mức tăng trưởng kinh tế. Đẩy mạnh xã hội hóa nhằm huy động các nguồn đầu tư, tài trợ, hiến tặng cho phát triển văn hóa, xây dựng con người8.
c) Về quản lý bảo vệ tài nguyên, môi trường
Nghị quyết Đại hội XII đã xác định các yêu cầu chủ yếu trong thực hiện nhiệm vụ tăng cường công tác quan lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu như sau:
Một là, tăng cường công tác quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu phục vụ phát triển bền vững theo hướng bảo đảm tính tổng thể, liên ngành, liên vùng, đáp ứng nhiệm vụ trước mắt và lâu dài, trong đó lợi ích lâu dài và cơ bản, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với từng giai đoạn. Mục tiêu đến năm 2020, có bước chuyển biến cơ bản trong khai thác, sử dụng tài nguyên theo hướng hợp lý, hiệu quả và bền vững, kiềm chế mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy giảm đa dạng sinh học nhằm bảo đảm chất lượng môi trường sống, duy trì cân bằng sinh thái, hướng tới nền kinh tế xanh, thân thiện với môi trường; về cơ bản, chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, tránh thiên tai, giảm mức phát thải khí nhà kính.
Hai là, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng tài nguyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đẩy mạnh điều tra, đánh giá tiềm năng, trữ lượng, giá trị kinh tế, thực trạng và xu hướng diễn biến của các nguồn tài nguyên quốc gia, đặc biệt là tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nước, tài nguyên biển. Từng bước xác định, đánh giá các giá trị, thiết lập tài khoản, hạch toán trong nền kinh tế đối với các loại tài nguyên quốc gia. Quy hoạch, quản lý và khai thác, sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên quốc gia. Hạn chế tối đa và tiến tới chấm dứt xuất khẩu khoáng sản thô và chỉ qua chế biến sơ, thúc đẩy chế biến sâu.
Ba là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, ban hành các chế tài đủ mạnh để bảo vệ môi trường, ngăn chặn, xử lý theo pháp luật nhằm chấm dứt tình trạng gây ô nhiễm môi trường, tăng cường phòng ngừa và kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm môi trường. Ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên. Hạn chế, tiến tới khắc phục căn bản tình trạng ô nhiễm môi trường ở nông thôn, các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp, khu đô thị, làng nghề, các lưu vực sông, không để phát sinh thêm những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đẩy mạnh xã hội hóa cùng với việc bố trí nguồn lực từ ngân sách nhà nước đầu tư cho các công trình trọng điểm phục hồi môi trường dân sinh.
Bốn là, chủ động xây dựng, triển khai và kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chương trình, kế hoạch ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai cho từng giai đoạn. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo và ứng phó với thiên tai, giám sát biến đổi khí hậu và tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ. Đầu tư thích đáng và sử dụng có hiệu quả sự giúp đỡ của quốc tế cho các công trình trọng điểm quốc gia, các chương trình ứng phó với biến đổi khí hậu9.
2. Những công việc cụ thể của chi ủy, bí thư chi bộ trong thực hiện các nhiệm vụ về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường.
a) Tổ chức học tập, quán triệt các nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường
Trên cơ sở hướng dẫn của cấp ủy, cơ quan tuyên giáo cấp ủy cấp trên, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tiễn và nhu cầu thông tin của đảng viên chi ủy, bí thư chi bộ cần xác định nội dung quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường.
- Nội dung quán triệt, học tập gồm: Nghị quyết Đại hội XII, các nghị quyết của Trung ương, của cấp ủy cấp tính có liên quan, đặc biệt là các Nghị quyết số 24-NQ/TW; Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.
Về pháp luật, chính sách của Nhà nước: cần tổ chức quán triệt, học tập các luật của Quốc hội, pháp lệnh của ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định, quyết định của Chính phủ, thông tư, chỉ thị của các bộ, ban, ngành chức năng liên quan đến phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường. Ngoài ra, ở các địa phương cấp ủy cần tổ chức quán triệt, học tập các văn bản pháp luật liên quan đến phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường do chính quyền và cơ quan chức năng các cấp ở địa phương ban hành.
- Đối tượng quán triệt, học tập: Việc học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường phải được tiến hành đối với mọi đảng viên trong chi bộ; các tầng lớp nhân dân địa phương; các tổ chức, cơ quan, đơn vị và lực lượng khác hoạt động, đứng chân tại địa phương.
- Hình thức tổ chức quán triệt, học tập: Đối với đối tượng là đảng viên, chi ủy, bí thư chi bộ tổ chức cho đảng viên của chi bộ tham gia lớp quán triệt, học tập do cấp ủy cấp trên mở. Hình thức này thường áp dụng cho việc quán triệt, học tập nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Ngoài ra, chi ủy, bí thư chi bộ tổ chức quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường cho đảng viên thông qua sinh hoạt học tập, ra nghị quyết lãnh đạo của chi bộ thường kỳ.
Đối với đối tượng là quần chúng, chi ủy, bí thư chi bộ tổ chức quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường thông qua sinh hoạt đoàn thể (Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân tập thể....), thông qua các cuộc họp thôn, làng, tổ dân phố. Ngoài ra bí thư chi bộ có thể sử dụng hình thức phát tài liệu, thông qua các phương tiện thông tin để quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường đến đông đảo mọi tầng lớp nhân dân và các tổ chức, lực lượng khác ở địa phương.
- Biện pháp tổ chức quán triệt, học tập: Trên cơ sở kế hoạch của cấp ủy cấp trên, chi ủy, bí thư chi bộ phải xây dựng kế hoạch cụ thể triển khai học tập, quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở chi bộ, địa phương mình, bảo đảm đúng thời gian, tiến độ theo yêu cầu của trên. Lựa chọn, bố trí báo cáo viên là những cán bộ chủ chốt của cấp ủy có trình độ lý luận, kinh nghiệm thực tiễn, có khả năng truyền thụ kiến thức, giải đáp vấn đề, có tâm huyết, trách nhiệm với nhiệm vụ báo cáo viên; căn cứ nội dung của từng nghị quyết để phân công, sử dụng báo cáo viên truyền đạt đúng với chuyên môn, sở trường của báo cáo vốn.
- Do việc quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường không phải một lần là xong nên chi ủy, bí thư chi bộ cần tổ chức cho đảng viên tiếp tục tự nghiên cứu, quán triệt, học tập; tạo điều kiện thuận lợi cho đảng viên của chi bộ, quần chúng ở địa phương tự nghiên cứu quán triệt, học tập nghị quyết; khơi dậy phong trào tìm hiểu, học tập, nghiên cứu và chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên môi trường.
b) Xây dựng dự thảo kế hoạch, nghị quyết của cán bộ lãnh đạo thực hiện các nhiệm vụ
- Các nghị quyết chuyên đề của Trung ương khóa XI đều yêu cầu các cấp ủy tổ chức đảng các cấp tổ chức nghiên cứu, quán triệt và xây dựng kế hoạch thực hiện nghị quyết phù hợp với tình hình của ngành, địa phương, cơ quan, đơn vị. Thực hiện quy định này, các cấp ủy, tổ chức đảng đã xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiện nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Sau Đại hội XII, các cấp ủy, tổ chức đảng, trong đó có các chi ủy, bí thư chi bộ ở địa phương cần bổ sung, hoàn thiện kế hoạch, chương trình hành động theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Đối với chi bộ ở địa phương, bí thư chi bộ là người chuẩn bị dự thảo kế hoạch của chi bộ.
- Nội dung và cách thức tiến hành công tác này của chi ủy, bí thư chi bộ như sau:
+ Nắm vững những căn cứ xây dựng dự thảo kế hoạch, nghị quyết của chi bộ.
Để xây dựng dự thảo kế hoạch hành động cần căn cứ vào Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 (do Đại hội XI của Đảng thông qua), các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI, văn kiện Đại hội XII của Đảng các nghị quyết Trung ương nhiệm kỳ Đại hội XII,... và các nghị quyết, chương trình hành động của cấp ủy, tổ chức đảng các cấp ở địa phương về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường. Đồng thời, phải căn cứ vào các văn bản pháp luật, chiến lược, chương trình, kế hoạch,... của Nhà nước và các cơ quan chức năng về các vấn đề này. Ngoài ra, chi ủy, bí thư chi bộ cần căn cứ tình hình thực tế, điều kiện cụ thể của địa phương, như các phong trào khuyến học, toàn dân xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư; xây dựng môi trường xanh, sạch, đẹp để xây dựng kế hoạch sát với thực tế và nhu cầu của địa phương.
+ Về nội dung dự thảo kế hoạch, nghị quyết của chi bộ.
Đối với dự thảo kế hoạch của chi bộ thực hiện các nghị quyết của Đảng về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường; chi ủy, bí thư chi bộ cần xác định rõ mục tiêu, nội dung cụ thể trong nhiệm kỳ: Nhiệm kỳ 5 năm đối với chi bộ cơ sở; nhiệm kỳ 2,5 năm đối với chi bộ thuộc đảng bộ cơ sở.
Về mục tiêu của kế hoạch, cần căn cứ vào các mục tiêu chung của quốc gia, mục tiêu của cấp trên để xác định mục tiêu về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường, phù hợp với địa phương.
Về nội dung kế hoạch, chi ủy, bí thư chi bộ cần xác định những nội dung cụ thể về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương.
+ Phương thức tiến hành xây dựng dự thảo kế hoạch, nghị quyết chi bộ.
Bí thư chi bộ trực tiếp xây dựng dự thảo kế hoạch, nghị quyết của chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương hoặc phân công đồng chí trong cấp ủy chuẩn bị dự thảo; tổ chức họp chi ủy để thảo luận, thống nhất dự thảo trước khi đưa ra hội nghị chi bộ thảo luận, biểu quyết thông qua.
Trong quá trình chuẩn bị dự thảo kế hoạch, nghị quyết của chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương, chi ủy, bí thư chi bộ cần tranh thủ sự chỉ đạo của bí thư, cấp ủy, cơ quan đảng cấp trên; ý kiến tham mưu, tư vấn của các tổ chức, cơ quan chức năng, nhất là những tổ chức, cơ quan chức năng về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường.
Đặc biệt là, trong việc xây dựng dự thảo kế hoạch, nghị quyết của chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương, chi ủy, bí thư chi bộ phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chú trọng phát huy dân chủ, trí tuệ tập thể cấp ủy và của đảng viên trong chi bộ, tránh áp đặt ý kiến cá nhân.
c) Triển khai kế hoạch, nghị quyết của chi bộ, tổ chức, lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ
Sau khi chi bộ thông qua kế hoạch, ra nghị quyết lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương, chi ủy, bí thư chi bộ chủ trì triển khai kế hoạch, nghị quyết của chi bộ. Triển khai kế hoạch, nghị quyết của chi bộ đến đảng viên trong chi bộ.
Sau khi chi bộ thông qua nghị quyết phân công thực hiện kế hoạch, nghị quyết của chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương, chi ủy, bí thư chi bộ triển khai nhiệm vụ cho các bộ phận đảng viên. Triển khai cho đảng viên trong chi bộ xây dựng kế hoạch hành động cá nhân thực hiện nghị quyết của Đảng và kế hoạch, nghị quyết của chi bộ về thực hiện phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương.
Chi ủy, bí thư chi bộ tiến hành đôn đốc, kiểm tra đảng viên thực hiện kế hoạch, nghị quyết của chi bộ. Trong quá trình các bộ phận, đảng viên của chi bộ thực hiện kế hoạch, nghị quyết của chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương, bí thư chi bộ cần sâu sát, đôn đốc kiểm tra việc thực hiện, kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề nảy sinh; biểu dương, động viên, khích lệ những tập thể, cá nhân thực hiện tốt; kịp thời, phát hiện và uốn nắn những hạn chế, khuyết điểm.
- Định kỳ, sơ kết, tổng kết, kiểm điểm công tác lãnh đạo thực hiện kế hoạch, nghị quyết.
Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu đều yêu cầu cấp ủy tổ chức đảng hằng năm phải kiểm điểm, đánh giá việc thực hiện nghị quyết. Hằng năm, các chi bộ ở các địa phương phải tiến hành kiểm điểm việc lãnh đạo thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương.
Để chi bộ thực hiện tốt vấn đề trên, chi ủy, bí thư chi bộ phải tiến hành chuẩn bị dự thảo kiểm điểm công tác lãnh đạo của chi bộ thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương. Dự thảo kiểm điểm thực hiện công tác lãnh đạo của chi bộ phải bảo đảm chất lượng; khách quan, trung thực, phản ánh đầy đủ đặc điểm tình hình, nhiệm vụ và chủ trương, biện pháp, kết quả lãnh đạo của chi bộ, nhất là phải nêu rõ những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, biện pháp chi bộ lãnh đạo thực hiện kế hoạch, nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương trong năm tới.
- Gương mẫu trong thực hiện kế hoạch, nghị quyết của chi bộ.
Trong quá trình tiến hành triển khai kế hoạch, nghị quyết của chi bộ lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương, chi ủy, bí thư chi bộ cần gương mẫu trong thực hiện kế hoạch, nghị quyết của chi bộ. Cần phát huy vai trò của tập thể cấp ủy chi bộ và đảng viên; làm tốt công tác động viên, khuyến khích đảng viên, quần chúng thực hiện kế hoạch, nghị quyết của chi bộ. Đồng thời, trong quá trình tiến hành triển khai thực hiện kế hoạch, nghị quyết của chi bộ, chi ủy, bí thư chi bộ cần tranh thủ sự quan tâm, giúp đỡ của bí thư, cấp ủy, cơ quan chức năng cấp trên. Đặc biệt là bí thư chi bộ cần phối hợp chặt chẽ với người đứng đầu chính quyền địa phương trong việc quán triệt, học tập và triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương.
----------
Chú thích
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.217.
2,3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội, 2011, tr 119, 120.
4. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Sđd, tr.119-121.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.114-115.
6. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Văn phòng Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội, 2014, tr.48-49.
7. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI. Văn phòng Trung ương Đảng xuất bản, Hà Nội, 2013, tr. 69-71.
8. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.126-132.
9. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr. 141-145.
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Phân tích sự cần thiết phải lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương cơ sở.
2. Trình bày nội dung quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường trong tình hình mới.
3. Nêu nội dung và biện pháp tiến hành công tác của chi ủy, bí thư chi bộ tổ chức quán triệt, học tập nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường.
4. Trao đổi thảo luận về các biện pháp tổ chức, triển khai thực hiện các nghị quyết của Đảng về phát triển giáo dục, đào tạo; xây dựng và phát triển văn hóa, con người; bảo vệ tài nguyên, môi trường ở địa phương.
Bài 5 - CÔNG TÁC ĐẢNG CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ TRONG NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG; BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ, TUÂN THỦ PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Bài 5
CÔNG TÁC ĐẢNG CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ TRONG NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG; BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ, TUÂN THỦ PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
I- CÔNG TÁC ĐẢNG CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ TRONG NÂNG CAO HIỆU LỰC, HIỆU QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC Ở ĐỊA PHƯƠNG
1. Quản lý nhà nước ở địa phương và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương
a) Quan niệm và nội dung quản lý nhà nước ở địa phương
- Quản lý nhà nước ở địa phương
+ Quản lý là một phạm trù lịch sử, xuất hiện trước khi có nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn. Quản lý được phát sinh từ lao động không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động. Sự xuất hiện phạm trù quản lý gắn liền với sự xuất hiện giai cấp và nhà nước có tính chất là loại hoạt động quản lý nhà nước và xã hội. Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra. Như vậy, có thể hiểu, quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được.
+ Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước; theo nghĩa hẹp quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở luật và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước). Quản lý nhà nước cũng là sản phẩm của việc phân công lao động nhằm liên kết và phối hợp các đối tượng quản lý.
+ Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước. Trong hệ thống các chủ thể quản lý xã hội, nhà nước là chủ thể duy nhất quản lý xã hội với tính chất toàn dân, toàn diện, bằng pháp luật. Nhà nước quản lý toàn diện là nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực của đời sống xã hội theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ. Nhà nước quản lý toàn bộ các lĩnh vực đời sống xã hội có nghĩa là các cơ quan quản lý điều chỉnh mọi khía cạnh hoạt động của xã hội trên cơ sở pháp luật quy định.
+ Quản lý nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực nhà nước, là việc sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản pháp luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của nhà nước. Quản lý nhà nước không có nghĩa là nhà nước phải gánh vác hết mọi việc và cố gắng làm tất các việc đó cũng không phải chỉ chú trọng công tác tìm kiếm những sai sót, vi phạm của cá nhân, tổ chức khác để xử lý mà điều cần thiết nhất là hướng dẫn cho cá nhân tổ chức biết sống và làm đúng luật, hỗ trợ, tư vấn khi họ gặp khó khăn trong hoạt động, giúp đỡ họ vượt mọi trở ngại để thành công trong hoạt động, thúc đẩy xã hội phát triển. Hoạt động quản lý nhà nước chủ yếu và trước hết được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, song các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân cũng trực tiếp thực hiện nếu được nhà nước ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nước theo quy định của pháp luật.
+ Các phương pháp quản lý nhà nước là thuyết phục, cưỡng chế, hành chính, kinh tế, theo dõi, kiểm tra. Ngoài ra còn có các phương pháp riêng áp dụng trong quá trình thực hiện những chức năng riêng biệt hoặc những khâu, những giai đoạn riêng biệt của quá trình quản lý. Bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo bốn cấp hành chính và theo quy định là cấp dưới phải phục tùng cấp trên, địa phương phải phục tùng trung ương; đó là quản lý theo lãnh thổ của chính quyền địa phương.
+ Quản lý nhà nước ở địa phương là việc thực hiện nội dung, phương pháp quản lý nhà nước ở từng địa phương theo các cấp, điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người ở địa phương, duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật ở địa phương.
Quản lý nhà nước ở địa phương là hoạt động của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước ở địa phương (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật, đó là ủy ban nhân dân các cấp. Chính quyền địa phương (ủy ban nhân dân các cấp) là chủ thể trực tiếp quản lý nhà nước ở địa phương. Ở Việt Nam, có các cấp địa phương khác nhau như tỉnh (thành phố); huyện (quận, thị xã); xã (phường, thị trấn) và các loại hình địa phương khác nhau như đồng bằng, miền núi, nông thôn, đô thị, hải đảo nên chức năng nhiệm vụ của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước ở địa phương có sự khác nhau. Các đơn vị hành chính của Việt Nam hiện nay được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã, thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã; huyện chia thành xã, thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.
+ Chính quyền địa phương là một tổ chức hành chính có tư cách pháp nhân được Hiến pháp và pháp luật công nhận sự tồn tại vì mục đích quản lý một khu vực của quốc gia. Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định. Điều 112 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: “1) Chính quyền địa phương tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên 2) Nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền địa phương được xác định trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa các cơ quan nhà nước ở trung ương và địa phương và của mỗi cấp chính quyền địa phương. 3) Trong trường hợp cần thiết, chính quyền địa phương được giao thực hiện một số nhiệm vụ của cơ quan nhà nước cấp trên với các điều kiện bảo đảm thực hiện nhiệm vụ đó”1.
- Nội dung cơ bản quản lý nhà nước ở địa phương theo tinh thần Đại hội XII của Đảng.
+ Quản lý nhà nước ở địa phương là quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương: Về kinh tế, văn hóa - xã hội; về an ninh, quốc phòng; về tài chính, ngân sách nhà nước, kế toán; về các vấn đề xã hội; về đối ngoại; về phát triển các nguồn nhân lực; về thực hiện chính sách dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng...
+ Quản lý nhà nước ở địa phương phải được tiến hành từ việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đến tổ chức, điều hành để đưa luật pháp vào đời sống xã hội và kiểm tra, đánh giá hiệu quả. Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để hướng dẫn thực hiện pháp luật ở địa phương là nội dung quan trọng đầu tiên. Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định: "Tập trung tạo dựng thể chế, luật pháp cơ chế, chính sách và môi trường, điều kiện thuận lợi, an toàn để kinh tế thị trường vận hành đầy đủ, thông suốt, hiệu quả và hội nhập quốc tế”2. Các quyết định, các văn bản quản lý nhà nước ở địa phương, cơ sở phải phù hợp với pháp luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên.
+ Hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương phải được tiến hành thường xuyên, liên tục không bị gián đoạn. Tổ chức, điều hành, phối hợp các hoạt động kinh tế - xã hội để đưa luật pháp vào đời sống xã hội là hoạt động chấp hành pháp luật và điều hành trên cơ sở luật.
+ Trong quản lý nhà nước, kế hoạch hóa là nguyên tắc cơ bản và cũng là đặc trưng của quản lý nhà nước xã hội chủ nghĩa, thể hiện ở chỗ: tất cả các cơ quan quản lý nhà nước đều tham gia vào quá trình xây dựng kế hoạch ở các cấp; hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước nhằm thực hiện kế hoạch hoá việc phát triển kinh tế - xã hội.
b) Quan niệm và nội dung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương
- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương là vấn đề tất yếu khách quan và cấp thiết hiện nay. Đó là sự tác động có chủ đích nhằm nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước của chính quyền địa phương, làm cho hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương đạt được những yêu cầu cơ bản của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quản lý nhà nước bằng pháp luật, đồng thời coi trọng nền tảng đạo đức xã hội, thúc đẩy sự phát triển các lĩnh vực ở địa phương. Văn kiện Đại hội XII của Đảng chỉ rõ: Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước phải "Bảo đảm pháp luật vừa là công cụ để Nhà nước quản lý xã hội, vừa là công cụ để nhân dân làm chủ, kiểm tra, giám sát quyền lực nhà nước. Quản lý đất nước theo pháp luật, đồng thời coi trọng xây dựng nền tảng đạo đức xã hội"3.
- Nội dung cơ bản nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, tập trung một số vấn đề sau:
+ Xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm quản lý nhà nước của mỗi cấp chính quyền địa phương. Các cấp chính quyền địa phương quản lý nhà nước bằng pháp luật, quy hoạch, kế hoạch và các công cụ điều tiết phù hợp với kinh tế thị trường, giảm thiểu can thiệp bằng mệnh lệnh hành chính. Khắc phục sự trùng lặp, chồng chéo về chức năng làm ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền xã, phường, thị trấn. Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước ở địa phương, nhằm phục vụ tốt nhất người dân và doanh nghiệp.
+ Hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương. Đại hội XII của Đảng yêu cầu: “Hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương phù hợp với đặc điểm ở nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt theo luật định"4. Việc hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương gắn kết hữu cơ với đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở các cấp ở địa phương, nhất là ở xã, phường, thị trấn.
+ Xây dựng nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, kỷ cương, năng động, hiệu lực, hiệu quả, lấy kết quả phục vụ và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp là tiêu chí đánh giá. Tăng cường công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tập trung cải cách thủ tục hành chính theo hướng tinh giản, gắn với nâng cao chất lượng chính sách, pháp luật; quy định rõ cơ quan chịu trách nhiệm đối với từng thủ tục hành chính. Công khai, minh bạch các quy trình, thủ tục hành chính.
+ Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, năng lực công tác tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao. Thực hiện tinh giản biên chế gắn với cải cách tiền lương. Đổi mới công tác tuyển dụng, đề bạt cán bộ, công chức, bảo đảm cạnh tranh, công khai, minh bạch. Đánh giá cán bộ, công chức phải trên cơ sở kết quả thực hiện nhiệm vụ. Người đứng đầu cơ quan trong bộ máy nhà nước phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và phải được trao quyền quyết định tương ứng về tổ chức, cán bộ. Có chế tài xử lý thích đáng những cán bộ vi phạm pháp luật, nhất là cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý. Đẩy mạnh dân chủ hóa công tác cán bộ, quy định rõ trách nhiệm, thẩm quyền của mỗi tổ chức, mỗi cấp trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, có trình độ, năng lực chuyên môn phù hợp, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn mới. Thực hiện thí điểm dân trực tiếp bầu một số chức danh ở cơ sở và ở cấp huyện; mở rộng đối tượng thi tuyển chức danh cán bộ quản lý.
+ Hoàn thiện tiêu chí đánh giá và cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi công vụ; xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính.
2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, bí thư chi bộ trong nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương
Theo tinh thần Đại hội XII của Đảng, để thực hiện lãnh đạo, chỉ đạo nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương, chi ủy, bí thư chi bộ cần làm tốt những nội dung chính sau:
- Cụ thể hóa nội dung, yêu cầu, nhiệm vụ nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương phù hợp với địa phương. Chi ủy, bí thư chi bộ cần quán triệt và kịp thời thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp trên về yêu cầu, nhiệm vụ, nội dung nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng thành nghị quyết lãnh đạo của chi bộ. Việc ra nghị quyết, chủ trương lãnh đạo phải đúng quy trình, phù hợp với thực tiễn địa phương và đáp ứng lợi ích, nguyên vọng chính đáng của nhân dân địa phương.
- Thực hiện tốt cơ chế kiểm soát quyền lực chính quyền địa phương. Trong quản lý nhà nước, dễ xuất hiện những biểu hiện lạm quyền, lợi dụng quyền lực để thực hiện mục đích riêng. Vì thế, rất cần thiết phải thực hiện nghiêm cơ chế kiểm soát quyền lực. Tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng, của chi bộ để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu chính quyền địa phương, cán bộ chủ chốt ở địa phương, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước ở địa phương và việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, không để tình trạng lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi cá nhân.
- Kiện toàn tổ chức nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức cơ sở đảng và nâng cao chất lượng đảng viên. Thực hiện vấn đề này ở địa phương, chi ủy, bí thư chi bộ cần tập trung củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của chi bộ, đổi mới nội dung, hình thức, phương pháp, tạo chuyển biến về chất lượng hoạt động của chi bộ. Xây dựng chi bộ trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Kiện toàn tổ chức, bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của chi bộ đối với đơn vị, địa phương, ở xã, phường, thị trấn; xây dựng đội ngũ đảng viên của chi bộ thật sự tiên phong, gương mẫu, trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân, có trách nhiệm cao trong công việc, trong quản lý nhà nước ở địa phương, có bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật và năng lực hoàn thành nhiệm vụ, vững vàng trước mọi khó khăn, thách thức. Tiếp tục đổi mới, tăng cường công tác quản lý, phát triển, sàng lọc đảng viên, bảo đảm chất lượng đảng viên. Kiên quyết đưa ra khỏi Đảng những người vi phạm nghiêm trọng Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, phát huy vai trò của nhân dân trong tham gia quản lý nhà nước ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn. Chi bộ là nơi thể hiện toàn diện, trực tiếp và cụ thể nhất mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với quần chúng nhân dân. Thực hiện tốt việc tăng cường quan hệ mật thiết với nhân dân. Củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân địa phương đối với Đảng, đối với chi bộ và cán bộ, đảng viên của chi bộ; tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc và mối quan hệ mật thiết giữa chi bộ với nhân dân ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn. Tập hợp, vận động nhân dân ở địa phương thực hiện các chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước; phát huy sức mạnh của nhân dân, tạo thành phong trào cách mạng thực hiện các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, văn hóa, quốc phòng, an ninh ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn.
- Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí ở địa phương. Xác định rõ đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của chi bộ, là yếu tố đặc biệt quan trọng bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương. Đồng thời đó là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp, lâu dài; là trách nhiệm của cấp ủy đảng, trước hết là của bí thư chi bộ, người đứng đầu chính quyền và của các đoàn thể ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn. Kiên quyết phòng, chống tham nhũng, lãng phí với yêu cầu chủ động phòng ngừa, không để xảy ra tham nhũng, lãng phí ở địa phương; xử lý nghiêm các hành vi tham nhũng, lãng phí và bao che, dung túng, tiếp tay cho các hành vi tham nhũng, lãng phí, can thiệp, ngăn cản việc chống tham nhũng, lãng phí ở địa phương. Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí trên các lĩnh vực có nguy cơ tham nhũng cao ở địa phương như: quản lý và sử dụng đất đai, khai thác tài nguyên, khoáng sản; thu, chi ngân sách, mua sắm công, tài chính, ngân hàng, thực hiện các dự án đầu tư xây dựng cơ bản; công tác cán bộ; quản lý doanh nghiệp; giáo dục, đào tạo và y tế ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn.
II- CÔNG TÁC ĐẢNG CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ TRONG LÃNH ĐẠO BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO, DÂN CHỦ, TUÂN PHÁP LUẬT CỦA NGƯỜI DÂN TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
1. Quan niệm và nội dung cơ bản thực hiện quyền tự do, dân chủ, tuân thủ pháp luật của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội
a) Quan niệm và nội dung quyền tự do, dân chủ và thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế-xã hội
- Quan niệm:
+ Nền dân chủ ở nước ta là nền dân chủ xã hội chủ nghĩa. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
+ Quyền tự do, dân chủ là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Nhà nước ta đã ghi nhận các quyền tự do cơ bản của công dân trong Hiến pháp và pháp luật. Mỗi công dân được quyền tự mình lựa chọn và thực hiện các quyền tự do cơ bản của mình trong khuôn khổ của pháp luật mà không có sự ngăn cản, hạn chế nào. Các quyền con người, quyền tự do của công dân Việt Nam do pháp luật quy định gồm có: Quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền có nơi ở hợp pháp, quyền tự do cư trú, tự do kinh doanh, tự do đi lại, tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận và báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình, tự do nghiên cứu, sáng tác, tự do lựa chọn nghề nghiệp mưu sinh, tự do hôn nhân…
+ Nhà nước Việt Nam bảo đảm quyền tự do dân chủ cho công dân, nhưng nghiêm cấm mọi sự lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của nhân dân. Điều 3 Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; thực hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, mọi người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện"5.
+ Quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội là quyền cơ bản của công dân về kinh tế - xã hội được Hiến pháp và pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Thực hiện quyền tự do dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội là nhân dân phát huy quyền tự do, dân chủ của mình về kinh tế xã hội mà Hiến pháp và pháp luật quy định và bảo vệ. Theo đó, mọi công dân đều có quyền tự do phát triển kinh tế - xã hội, kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Điều 33 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm"6. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do đó của người dân, công dân. Việc đề cao các quyền tự do cơ bản của công dân xuất phát từ mục đích hoạt động của Nhà nước ta luôn vì con người, đề cao nhân tố con người trong quá trình xây dựng và phát triển Nhà nước và xã hội. Đặc biệt, hiện nay, nước ta đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa mà một trong những nội dung quan trọng của nhà nước pháp quyền là khẳng định cội nguồn quyền lực nhà nước là ở nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân. Đại hội XII của Đảng yêu cầu bảo đảm quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội, phát huy mạnh mẽ quyền dân chủ, tự do sáng tạo của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội”7.
- Nội dung:
+ Theo Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và tinh thần Đại hội XII của Đảng, quyền tự do, dân chủ và thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội có nội dung toàn diện và cụ thể. Đó là các quyền: Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ; mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà pháp luật không cấm; công dân có quyền được bảo đảm an sinh xã hội; có quyền làm việc, lựa chọn nghề nghiệp, việc làm và nơi làm việc; người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi. Nghiêm cấm phân biệt đối xử, cưỡng bức lao động, sử dụng nhân công dưới độ tuổi lao động tối thiểu.
+ Văn kiện Đại hội XII của Đảng xác định rõ: “Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong nhận thức và xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước nhằm phục vụ tốt nhất người dân và doanh nghiệp. Khuyến khích, hỗ trợ cho mọi ý tưởng sáng tạo, thúc đẩy đổi mới, phát triển, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, văn hoá, nghệ thuật,..."8.
b) Quan niệm và nội dung quyền tự do, dân chủ của người dân trong tuân thủ pháp luật của nhà nước.
- Quan niệm:
+ Quyền tự do, dân chủ của người dân trong tuân thủ pháp luật của nhà nước cũng là một quyền cơ bản của công dân, đó là quyền của người dân, công dân đối với pháp luật của nhà nước. Theo đó, người dân phải tuân thủ và nhận thức rõ trách nhiệm của mình trong tuân thủ pháp luật và bảo vệ pháp luật của nhà nước.
+ Tuân thủ pháp luật của nhà nước vừa là quyền vừa là trách nhiệm của người dân, công dân. Mọi quyền cơ bản công dân là khả năng công dân thực hiện những hành vi theo ý chí, sự lựa chọn và nhận thức của mình mà pháp luật không cấm. Hành vi của cá nhân con người tự do luôn gắn với nhu cầu và lợi ích của họ và phụ thuộc vào năng lực và ý thức pháp luật của mỗi công dân. Chỉ khi có khả năng thì trong điều kiện được tạo ra, công dân mới thực hiện được quyền. Cho dù quyền tự do của công dân được nhà nước ghi nhận và có cơ chế bảo đảm tốt, song nếu mỗi công dân không nhận thức về quyền của mình thì quyền của công dân cũng không được thực hiện.
- Nội dung:.
+ Người dân phải học tập, tìm hiểu để nắm vững các quyền tự do, dân chủ cơ bản của mình, đặc biệt là quyền tự do, dân chủ của người dân trong tuân thủ pháp luật của nhà nước.
+ Có trách nhiệm phát hiện, đấu tranh phê phán những biểu hiện trái pháp luật, vi phạm quyền tự do, dân chủ của công dân.
+ Tích cực tham gia giúp đỡ cán bộ và cơ quan nhà nước trong thực thi pháp luật, bảo vệ pháp luật, bắt giữ người vi phạm, bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân.
+ Người dân phải học tập, tu dưỡng, rèn luyện lối sống văn minh, tôn trọng pháp luật, sống, làm việc và hành động theo Hiến pháp và pháp luật và tôn trọng quyền tự do, dân chủ của người khác.
+ Nhà nước bảo đảm cho quyền công dân thông qua việc tổ chức giúp đỡ hỗ trợ công dân thực hiện quyền tự do của mình. Nhà nước ngăn chặn những hành vi xâm hại quyền của công dân và xử lý nghiêm minh những chủ thể vi phạm; tạo ra phương thức, công cụ để công dân bảo vệ quyền tự do của mình khi quyền bị xâm hại (trong đó có quyền công dân tự bảo vệ). Bảo vệ quyền công dân bao gồm cả hình thức xử lý vi phạm quyền công dân từ phía nhà nước sao cho mọi hành vi cản trở quyền, hạn chế quyền không đúng đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
+ Năng lực thực hiện quyền của cá nhân và trình độ văn hóa pháp lý của cộng đồng xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong tuân thủ pháp luật của nhà nước. Ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý có ý nghĩa cao trong việc bảo đảm quyền tự do cá nhân của công dân, quyết định năng lực thực hiện và bảo vệ quyền của người dân, công dân. Để thực hiện tốt quyền tự do, dân chủ của người dân trong tuân thủ pháp luật của nhà nước, cần phải quan tâm giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật và văn hóa pháp lý cho mỗi người dân và cộng đồng xã hội, đặc biệt là các địa phương, ở các xã, phường, thị trấn.
2. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, bí thư chi bộ trong thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội, tuân thủ pháp luật của nhà nước
Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và tuân thủ pháp luật của nhà nước là nhiệm vụ quan trọng của chi bộ chi ủy và của bí thư chi bộ. Theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII, để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương và tuân thủ pháp luật của nhà nước được hiệu quả, chi ủy, bí thư chi bộ cần thực hiện tốt một số nội dung cụ thể sau:
- Quán triệt đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước; chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, chi ủy, bí thư chi bộ lập chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, hằng quý và chỉ đạo, kiểm tra tình hình thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy trong thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật của nhà nước ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn. Chương trình, kế hoạch phải sát thực tiễn, phù hợp với tình hình địa phương, có tính khả thi, đi vào cuộc sống bảo đảm và phát huy quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật ở địa phương.
- Nắm vững nhiệm vụ trọng tâm trong thực hiện quyền tự do, dân chủ, tuân thủ pháp luật của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn trong từng thời gian, chuẩn bị các vấn đề cần đề xuất để đưa ra hội nghị chi bộ xem xét quyết định; chuẩn bị nội dung và chỉ đạo, chủ trì các cuộc họp của chi bộ, thông qua chi bộ kết luận những vấn đề đã được thảo luận tại kỳ họp của chi bộ; bảo đảm cho sinh hoạt của chi bộ đúng định kỳ, đúng thủ tục, đúng nguyên tắc, không ngừng tăng cường đoàn kết nội bộ chi bộ, lãnh đạo chỉ đạo thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn.
- Chi ủy, bí thư chi bộ xây dựng và thực hiện tốt mối quan hệ chặt chẽ giữa chi bộ với Đảng ủy, chính quyền địa phương, chính quyền xã, phường, thị trấn và các tổ chức, đoàn thể liên quan thông qua quy chế làm việc cụ thể, để thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật của nhà nước ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn. Quán triệt và thực hiện tốt quan điểm Đại hội XII của Đảng: “Người đứng đầu cơ quan trong bộ máy nhà nước phải chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và phải được trao quyền quyết định tương ứng về tổ chức, cán bộ. Có chế tài xử lý thích đáng những cán bộ vi phạm pháp luật, nhất là cán bộ giữ vị trí lãnh đạo, quản lý”9. Nêu cao trách nhiệm của người đứng đầu chính quyền địa phương, chính quyền xã, phường, thị trấn, các trưởng thôn, bản, tổ dân phố, phát huy vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội ở địa phương, như Mặt trận Tổ quốc, Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ, Hội Cựu chiến binh thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật của nhà nước ở địa phương. Đề cao tính tiền phong gương mẫu của cán bộ, đảng viên của chi bộ trong vấn đề này.
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh trật tự; đặc biệt, gắn việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở với các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương, đơn vị ở xã, phường, thị trấn. Chi bộ là nơi gần dân, sát dân nhất, chi ủy, bí thư chi bộ trực tiếp lắng nghe, tiếp thu ý kiến và giải quyết những vấn đề quần chúng nhân dân đặt ra hằng ngày hoặc báo cáo kịp thời lên cấp trên; giáo dục, vận động nhân dân phát huy quyền tự do dân chủ trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật của nhà nước ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn. Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân về dân chủ và phát huy dân chủ ở cơ sở. Tăng cường vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, đoàn thể và ban chỉ đạo các cấp trong việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Thể chế hóa và thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" ở địa phương, xã, phường, thị trấn. Mọi chủ trương, giải pháp đề ra về quá trình lãnh đạo tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, về lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật ở địa phương, phải luôn luôn bảo đảm phương hướng chính trị, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, phải tạo được sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội..., tích cực xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống của người lao động, của các tầng lớp nhân dân, chống quan liêu, lãng phí, tham nhũng, ức hiếp quần chúng, kịp thời giải quyết những nguyện vọng, lợi ích chính đáng, thiết thực, hợp pháp của nhân dân.
- Phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò chủ động, sáng tạo của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Tổ chức thực hiện tốt Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; Quy định về việc Mặt trận Tổ quốc các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chi bộ, xây dựng chính quyền địa phương, chính quyền xã, phường, thị trấn. Phát huy dân chủ phải đi liền với tăng cường pháp chế, đề cao trách nhiệm công dân, giữ vững kỷ luật, kỷ cương và đề cao đạo đức xã hội. Phê phán những biểu hiện dân chủ cực đoan, dân chủ hình thức. Xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng tự do, dân chủ để làm mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội và những hành vi vi phạm quyền tự do, dân chủ và quyền làm chủ của nhân dân.
- Bảo đảm phát huy dân chủ trong Đảng, trong chi bộ là cơ sở quan trọng hàng đầu để phát huy đầy đủ dân chủ trong xã hội ở địa phương. Phát huy dân chủ trong chi bộ trước hết chi ủy, bí thư chi bộ cần phát huy cao nhất phong cách dân chủ, trong giao việc, trong thảo luận, chủ trì các cuộc họp, cởi mở, biết động viên, khuyến khích tự phê bình và phê bình, những ý kiến xây dựng, thẳng thắn, trung thực phải được tôn trọng, tiếp thu một cách cầu thị; kịp thời chấn chỉnh, phê phán những cá nhân vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ hoặc có ý kiến thiếu tính xây dựng, bảo thủ trong trao đổi, thảo luận. Đồng thời, phải thường xuyên đặt yêu cầu, khuyến khích mỗi cán bộ, đảng viên tự học, tự nghiên cứu, tự nâng cao nhận thức, khả năng tư duy, năng lực công tác để tham gia ngày càng chất lượng hơn vào các công việc của chi bộ. Tránh "dân chủ hình thức" kìm hãm, làm thui chột ý chí đấu tranh tự phê bình và phê bình; kịp thời chấn chỉnh những cán bộ, đảng viên có tư tưởng né tránh sự thật, thực hiện “im lặng là vàng”, “dĩ hòa vi quý”, “ngại nêu ý kiến trái chiều”..., để khơi dậy và phát huy dân chủ của mỗi cán bộ, đảng viên trong chi bộ.
- Tăng cường kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật của nhà nước ở địa phương, ở xã, phường, thị trấn. Kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác; việc thực hiện Quy định những điều đảng viên không được làm; việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí; rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, chấp hành kỷ cương, kỷ luật, tác phong trong công tác, trong quan hệ giao tiếp của cán bộ, đảng viên, đặc biệt là cấp ủy, người đứng đầu chính quyền địa phương, chính quyền xã, phường, thị trấn. Tập trung xây dựng, thực hiện nghiêm túc các quy chế, quy định nhằm xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương. Kịp thời nêu gương cán bộ, đảng viên điển hình trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thực hiện cơ chế giám sát cấp ủy, lãnh đạo cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Tăng cường quản lý chặt chẽ đội ngũ cán bộ, đảng viên về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ năng lực và quan hệ xã hội, gắn kết chặt chẽ công tác quản lý đảng viên với quản lý cán bộ, giữa quản lý đảng viên ở nơi công tác và nơi cư trú để chủ động phòng ngừa, kịp thời phát hiện, ngăn chặn những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên, không để các thế lực thù địch lợi dụng phá hoại, ảnh hưởng đến thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân.
- Để thực hiện tốt những vấn đề trên, chi ủy, bí thư chi bộ phải quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013; đặc biệt là những quan điểm, chủ trương về thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội và tuân thủ pháp luật. Theo đó, cần tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW, ngày 18-2-1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Quán triệt và triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 3-6-2013 về tăng cường và đổi mới sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận; Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Quyết định số 218-QĐ/TW, ngày 12-12-2013 về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Trung ương; Nghị định số 60/2013/NĐ-CP, ngày 19-6-2013 của Chính phủ về thực hiện Quy chế dân chủ tại nơi làm việc và các văn bản có liên quan đến việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
___________
Chú thích
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr.59.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.308.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.176.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.180.
5,6. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Sđd, tr.9, 21.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.308.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.309.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Sđd, tr.309-310.
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Quản lý nhà nước ở địa phương và nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương.
2. Phân tích nội dung công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, bí thư chi bộ trong việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước ở địa phương.
3. Phân tích nội dung công tác lãnh đạo, chỉ đạo của chi ủy, bí thư chi bộ trong việc thực hiện quyền tự do, dân chủ của người dân trong phát triển kinh tế - xã hội, tuân thủ pháp luật của Nhà nước.
Bài 6 - PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ Bài 6
PHÒNG, CHỐNG "TỰ DIỄN BIẾN", "TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ
I- BẢN CHẤT, MỨC ĐỘ BIỂU HIỆN CỦA “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN
1. Khái niệm "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và mối quan hệ giữa "tự diễn biến", "tự chuyển hóa”
a) Khái niệm
- Theo Từ điển tiếng Việt, “Diễn biến là sự biến đổi theo chiều hướng nào đó”, “Chuyển hóa là biến đổi sang dạng hoặc hình thái khác"1.
- “Tự diễn biến” theo quan niệm chung là quá trình đấu tranh giữa các mặt tích cực và tiêu cực, giữa hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa trong nội tâm người cán bộ, đảng viên trước những tác động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, “tự diễn biến” theo cách hiểu hiện nay là quá trình trong đó, yếu tố tiêu cực và hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa dần dần tăng lên; yếu tố tích cực, cách mạng, hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa phai nhạt dần. Đây là quá trình biến đổi từ bên trong chủ thể, đến một thời điểm nhất định, sự biến đổi này sẽ chuyển hóa thành hành động của chủ thể.
- “Tự chuyển hóa” là sự nối tiếp quá trình “tự diễn biến”. Khi sự biến đổi về chất đã làm thay đổi quan điểm, tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên sẽ dẫn đến hành động chống lại chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Không những thế, những người thoái hóa, biến chất này còn lôi kéo, mua chuộc, gạ gẫm, ép buộc người khác hùa theo cùng chống lại Đảng, Nhà nước và chế độ ta.
b) Mối quan hệ giữa “tự diễn biến”,“tự chuyển hóa”
- “Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trong nội bộ là sự suy thoái từ bên trong; là quá trình tự biến đổi về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên theo chiều hướng tiêu cực, làm mất dần các phẩm chất của người cộng sản, dẫn đến xa rời những nguyên tắc, quan điểm mácxít; suy giảm nghiêm trọng niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đến khi những yếu tố cách mạng, tích cực bị phai nhạt, triệt tiêu, tư tưởng phi xã hội chủ nghĩa tăng dần, thắng thế, lúc đó sẽ dẫn đến sự “tự chuyển hóa” cán bộ, đảng viên từ người tốt trở thành phần từ chống đối Đảng, Nhà nước. "Tự diễn biến", “tự chuyển hóa” của cá nhân nếu không được ngăn chặn kịp thời, triệt để sẽ dẫn đến tổ chức bị suy thoái, tự tan rã. Khi "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” diễn ra ở tầm vĩ mô sẽ dẫn đến sự chuyển hóa từ chế độ xã hội chủ nghĩa sang phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.
- Giữa “tự diễn biến", "tự chuyển hóa” và “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch tiến hành để chống phá Việt Nam trong những năm qua có sự khác nhau căn bản. "Diễn biến hòa bình" là chiến lược toàn cầu phản cách mạng do chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch tiến hành bằng các biện pháp phi vũ trang nhằm xóa bỏ chủ nghĩa xã hội, chống phá sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và tiến bộ xã hội. Đây là cuộc chiến thầm lặng tấn công toàn diện cả về chính trị, kinh tế, tư tưởng, lý luận, văn hóa, nghệ thuật... làm chệch định hướng phát triển, hướng lái các nước xã hội chủ nghĩa và các nước độc lập dân tộc theo quỹ đạo của chủ nghĩa tư bản. Còn trong quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, yếu tố chủ quan là quyết định. Bản chất của hiện tượng “tự diễn biến” là sự chuyển hóa thành mặt đối lập, có thể là mặt xấu hoặc bị các thế lực thù địch lợi dụng để hướng lái thành đối lập, chống đối.
- Mặc dù không đồng nhất, song “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ tương hỗ, tác động qua lại với “diễn biến hòa bình”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là hệ quả nảy sinh từ phương thức, thủ đoạn của “diễn biến hòa bình”. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy cái gọi là “cách mạng màu” ở trong các nước xã hội chủ nghĩa cũng như các nước đối lập, đối đầu với Mỹ và đồng minh. “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về nhận thức sớm muộn cũng sẽ dẫn đến sự thay đổi hành vi, hành động chống đối về chính trị của một cá nhân hay một tổ chức.
2. Những biểu hiện và lĩnh vực biểu hiện của "tự diễn biến", "tự chuyển hóa"
a) Những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII chỉ rõ 9 biểu hiện "tự diễn biến", “tự chuyển hóa" trong nội bộ như sau:
“1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.
2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập", phát triển "xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.
3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.
5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.
6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.
7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.
8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học - nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ súy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.
9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước"2.
b) Những lĩnh vực biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
* Trên lĩnh vực chính trị
- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” biểu hiện ở quá trình tự “đổi màu” chế độ chính trị. Do tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tệ tham nhũng và tiêu cực, đặc biệt là tổ chức tự phân hóa, Đảng mất đi vai trò lãnh đạo chính quyền nhà nước, dẫn đến quần chúng mất lòng tin, ngả theo phe đối lập, chủ nghĩa xã hội biến dạng, chuyển hóa thành chủ nghĩa tư bản. Kể cả trong trường hợp Đảng và Nhà nước kiên định chủ nghĩa xã hội, nhưng do nguyên nhân một bộ phận cán bộ, đảng viên đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, được các thế lực thù địch hậu thuẫn, giúp đỡ để họ tạo dựng “ngọn cờ”, tập hợp lực lượng đối lập, gây sức ép, tiến hành “cách mạng đường phố” nhằm lật đổ chế độ. Các hình thức chuyển hóa trực tiếp này sẽ khó xảy ra nếu kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa vững chắc, đội ngũ cán bộ chủ chốt của Đảng và Nhà nước vững mạnh, đoàn kết, luôn cảnh giác và có định hướng, giải pháp phù hợp, đúng đắn trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận biểu hiện rất đa dạng, với nhiều tính chất, mức độ khác nhau như: thờ ơ chính trị, giảm sút lòng tin, phai nhạt mục tiêu, lý tưởng cách mạng; không dám đấu tranh với những hành vi, quan điểm sai trái, thù địch; chủ nghĩa cá nhân, đặt lợi ích cá nhân lên trên lợi ích của Đảng, của nhân dân, của đất nước; tuyên truyền, phát ngôn trái với quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Mục tiêu chung của các thế lực thù địch trong việc thúc đẩy xu hướng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong lĩnh vực tư tưởng, lý luận hiện nay là làm cho nhân dân ta, từ cán bộ cao cấp cho đến quần chúng dao động về mặt tư tưởng, hoài nghi thành quả cách mạng trong quá khứ, nhìn nhận hiện thực bằng cái nhìn tiêu cực, yếu kém, thiếu niềm tin vào tương lai. Một bộ phận cán bộ, đảng viên lên tiếng quy kết hoặc đồng tình với luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng những hạn chế, khó khăn về kinh tế, văn hóa, xã hội, nạn tham nhũng ở Việt Nam là do lỗi hệ thống, do sai lầm về đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng; cho rằng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh chỉ phù hợp với Việt Nam trong giai đoạn đấu tranh giải phóng dân tộc, nay đã lạc hậu, cần theo con đường khác; hoặc Việt Nam không nên theo chủ nghĩa Mác - Lênin mà chỉ cần theo tư tưởng Hồ Chí Minh... Thậm chí một số người đã câu kết với các thế lực thù địch chống Đảng, chống Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.
* Trên lĩnh vực kinh tế
- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên lĩnh vực kinh tế là sự phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hạ thấp, đi đến làm mất vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, vai trò quản lý kinh tế của nhà nước xã hội chủ nghĩa; đòi tư nhân hóa nền kinh tế, xóa bỏ chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu để thay thế bằng chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa. Sự chuyển hóa này sẽ diễn ra nếu mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chậm phát huy tác dụng nền kinh tế gặp khó khăn lớn, thành phần kinh tế nhà nước không giữ được vai trò chủ đạo, sự quản lý kinh tế của Nhà nước thiếu hiệu quả. Các thế lực thù địch sẽ thúc đẩy kinh tế thị trường tự do phát triển theo hướng tư bản chủ nghĩa và đến một giai đoạn nào đó, khi sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa giữ vai trò chi phối cơ sở hạ tầng kinh tế, về thực chất đã chuyển hóa thành kinh tế tư bản chủ nghĩa, thì kiến trúc thượng tầng xã hội chủ nghĩa chỉ còn tồn tại trên danh nghĩa và đã thực sự đổi màu.
- “Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" thể hiện rõ khi chúng ta mắc những sai lầm, thiếu sót trong quản lý kinh tế - xã hội hoặc kinh tế có tăng trưởng nhưng lệ thuộc vào kinh tế tư bản, công bằng xã hội bị sai lệch, phân hóa xã hội gay gắt, quần chúng nhân dân bất mãn, chống đối. Quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về kinh tế càng nguy hiểm trong điều kiện các thế lực thù địch có tiềm lực kinh tế mạnh hơn ta nhiều lần.
* Trên lĩnh vực xã hội
- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình mà những tác động của mặt trái kinh tế thị trường làm cho sự phân hóa giàu nghèo gia tăng, giữa các giai cấp và tầng lớp xã hội, nhất là nhân dân lao động nói chung thiếu sự gắn bó mật thiết về phương diện ý thức và tổ chức cộng đồng. Điều đó sẽ làm nảy sinh những mâu thuẫn xã hội mới rất phức tạp.
- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” gia tăng khi Đảng và Nhà nước chậm có những giải pháp thiết thực, đồng bộ thì rất có thể làm chuyển hóa những mâu thuẫn xã hội thành vấn đề chính trị, xảy ra những biến động, bất ổn về chính trị ngay trong các quan hệ xã hội.
* Trên lĩnh vực văn hóa, giáo dục, đào tạo
- “Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” thể hiện ở sự du nhập quan điểm, tư tưởng, văn hóa, lối sống, giá trị phương Tây. Một bộ phận cán bộ, đảng viên thể hiện sự sùng bái, chạy theo văn hóa, lối sống tư sản, từ bỏ các giá trị văn hóa truyền thống, phủ nhận lịch sử, đánh mất bản sắc... Hiện tượng xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ lãnh tụ, gieo rắc hoài nghi, hoang mang trong nhân dân, thậm chí lợi dụng các phương tiện truyền thông... là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về văn hóa. Vấn đề này không thể xem thường vì nhiều khi “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về văn hóa, lối sống, sự lệch chuẩn về đạo đức sẽ là khởi đầu cho "tự chuyển hóa" về tư tưởng, chính trị.
- Để khai thác vấn đề “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về văn hóa, giáo dục, đào tạo, các thế lực thù địch thông qua các chương trình đưa cán bộ ta ra nước ngoài học tập nghiên cứu bằng nhiều nguồn kinh phí khác nhau, nhất là nguồn tài trợ nước ngoài, hòng tạo ra một thế hệ cán bộ thân phương Tây, mục tiêu sau này nắm các cương vị trọng yếu trong nền kinh tế, xã hội, thậm chí trong hệ thống chính trị. Thông qua việc hợp tác và đào tạo để truyền bá các quan điểm, tư tưởng trái với hệ tư tưởng cách mạng và lập trường quan điểm của giai cấp công nhân.
* Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại
- "Tự diễn biến", "tự chuyển hóa" biểu hiện trước hết ở sự phủ nhận của một số cá nhân đối với sự lãnh đạo tuyệt đối toàn diện, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang, đòi “phi chính trị hóa lực lượng vũ trang”, xuyên tạc mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh của Đảng. Đó là, tuyệt đối hóa nhiệm vụ phát triển kinh tế, coi nhẹ, buông lỏng nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc; cổ súy cho những hành động được coi là “yêu nước”, bảo vệ chủ quyền biển đảo, biểu tình chống Trung Quốc...
- Trong quan hệ đối ngoại, thể hiện sự lơ là, mất cảnh giác, không phân biệt đối tượng - đối tác. Bằng cách đưa các thông tin sai lệch, xuyên tạc chính sách đối ngoại của Việt Nam và quan hệ giữa ta với các đối tác quan trọng như Trung Quốc, Lào, Campuchia, Nga, Mỹ, EU, các nước ASEAN, Ấn Độ... hoặc thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế (như diễn biến phức tạp về “Mùa xuân Ảrập" ở Trung Đông, Bắc Phi) nhằm gieo rắc sự hoài nghi, hiểu lầm, bức xúc của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước ta.
- “Tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại là vấn đề đặc biệt nghiêm trọng. Bởi lẽ, khi một bộ phận cán bộ, đảng viên mất cảnh giác, lơ là với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, xem nhẹ quốc phòng, an ninh, đặc biệt là trong lực lượng vũ trang, sẽ dẫn đến suy giảm sức mạnh chiến đấu, phai nhạt niềm tin đối với sự lãnh đạo của Đảng, xa rời mục tiêu bảo vệ Đảng, bảo vệ nhân dân. Lực lượng vũ trang sẽ không còn là công cụ bạo lực cách mạng của Đảng, Nhà nước, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa.
- Thực tiễn cho thấy, ở những nước có sự tồn tại của nhiều đảng phái chính trị, thực hiện cái gọi là "phi chính trị hóa" lực lượng vũ trang, đang phải đối mặt với tình trạng mâu thuẫn, xung đột, bất ổn chính trị - xã hội gia tăng, thậm chí tạo nên sự hỗn loạn trong xã hội. Lực lượng vũ trang ở các nước này gặp phải không ít trở ngại trong việc duy trì sự đoàn kết, thống nhất nội bộ, tăng cường tiềm lực và sức mạnh quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội.
3. Nguyên nhân của "tự diễn biến , "tự chuyển hóa”
“Tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” là quá trình hình thành do các nguyên nhân chủ quan và khách quan, song có thể khẳng định nguyên nhân chủ quan, nội tại bên trong là chủ yếu, các nguyên nhân khách quan bên ngoài là quan trọng, có tầm ảnh hưởng, tác động không nhỏ đến quá trình phát sinh, phát triển của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
- Về nguyên nhân khách quan: Đó là tác động từ tình hình chính trị, an ninh thế giới, khu vực có nhiều biến động, diễn ra bất lợi đối với phong trào cộng sản quốc tế và chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn cầu; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta đang đặt ra nhiều vấn đề mới chưa được luận giải kịp thời đã tạo ra những khoảng trống về lý luận, dẫn đến những lệch lạc hoài nghi đối với chủ trương, đường lối của Đảng và mô hình phát triển đất nước; hoạt động tác động, thâm nhập nội bộ, thực hiện âm mưu chiến lược "diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch.
- Về nguyên nhân chủ quan: Một bộ phận cán bộ lãnh đạo, đảng viên các cấp, các ngành, các địa phương chịu tác động của cơ chế thị trường một cách thụ động, buông lỏng tự giáo dục, tự rèn luyện đã thoái hóa, biến chất về mặt đạo đức; do công tác giáo dục chính trị - tư tưởng cho cán bộ, đảng viên chưa thường xuyên và chưa tương xứng với yêu cầu, nhiệm vụ; công tác quản lý cán bộ, đảng viên có nơi, có lúc còn buông lỏng; những yếu kém trong quản lý nhà nước, quản lý xã hội cùng với bản lĩnh chính trị thiếu vững vàng, tư duy sai lệch của một bộ phận cán bộ, đảng viên là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến quá trình "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" trong cán bộ, đảng viên hiện nay.
- Bên cạnh những cán bộ, đảng viên yếu kém do không thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện, còn có những người thường xuyên không cập nhật quan điểm, chủ trương mới, vẫn giữ tư duy giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa để phản biện lý luận về quá trình vận động đi lên chủ nghĩa xã hội của Đảng. Ngoài ra, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên cũng là một trong những nguyên nhân hết sức quan trọng, dẫn đến "tự diễn biến", "tự chuyển hoá".
II- QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẤU TRANH PHÒNG, CHỐNG “TỰ DIỄN BIẾN”, “TỰ CHUYỂN HÓA” TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN HIỆN NAY
1. Quan điểm
Một là, đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa” là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; của các ngành, các cấp dưới sự lãnh đạo của Đảng.
- Đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" là nhiệm vụ khó khăn, phức tạp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành dưới sự lãnh đạo của Đảng. Cuộc đấu tranh này đòi hỏi tính chủ động cao, kiên trì và cần thực hiện thường xuyên, liên tục. Đây không phải là mặt trận có giới tuyến địch - ta rõ ràng, mà phải sử dụng tư tưởng, lý luận cách mạng đánh bại tư tưởng, lý luận phản động; sử dụng chính nghĩa và sự thật đánh bại sự xuyên tạc, vu cáo; học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh để khắc phục suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; sử dụng sức mạnh của cả hệ thống chính trị, của toàn dân trong đấu tranh phòng, chống "diễn biến hòa bình", "tự diễn biến”, "tự chuyển hóa".
- Bài học từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu cho thấy, buông lỏng cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đã thúc đẩy nhanh quá trình “tự diễn biến", “tự chuyển hóa” làm mất vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chủ nghĩa nhanh chóng tan rã. V.I.Lênin đã cảnh báo: Không ai có thể tiêu diệt được chúng ta, ngoài những sai lầm của bản thân chúng ta. Nếu chúng ta do sai lầm mà gây ra sự chia rẽ thì tất cả sẽ sụp đổ.
Hai là, tăng cường công tác tư tưởng, lý luận, bảo vệ và giữ vững nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh - nhân tố quyết định thắng lợi trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
- Trên lĩnh vực tư tưởng, các thế lực thù địch luôn tập trung xuyên tạc, vu cáo, mưu toan xóa bỏ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhằm thực hiện ý đồ chiến lược làm chuyển hóa thể chế chính trị ở nước ta. Trong cuốn sách 1999 - chiến thắng không cần chiến tranh, Níchxơn viết: Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất, toàn bộ vũ khí của chúng ta, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng.
- Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù tình hình thế giới và trong nước khó khăn, phức tạp đến đâu, Đảng ta vẫn luôn bảo vệ và giữ vững chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu, lý tưởng cộng sản. Theo quan điểm của Đảng ta, tuy có những vấn đề cần bổ sung, phát triển, chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vẫn là học thuyết cách mạng khoa học nhất, tiên tiến nhất, là “vũ khí tinh thần" của giai cấp công nhân, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta.
- Công tác tư tưởng, lý luận có vai trò, vị trí quan trọng trong việc xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; khẳng định, bảo vệ và tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng và sự đồng thuận trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Nghị quyết Trung ương 5 (khoá X) về công tác tư tưởng, lý luận và báo chí trước yêu cầu mới chỉ rõ: "Công tác tư tưởng, lý luận là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động của Đảng; là lĩnh vực trọng yếu để xây dựng, bồi đắp nền tảng chính trị của chế độ... thể hiện vai trò đi trước, mở đường trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc...; đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng, làm cho hệ tư tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, lý tưởng xã hội chủ nghĩa, những giá trị tốt đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc, những tinh hoa văn hoá thế giới chiếm vị trí chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội"3.
- Thực tiễn đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá" cho thấy, khi khó khăn, thử thách xuất hiện là lúc tư tưởng dễ dao động, tâm lý hoang mang, mất phương hướng dễ nảy sinh trong một bộ phận cán bộ, đảng viên; đó cũng là lúc nguy cơ giảm sút lòng tin, phai nhạt lý tưởng... có cơ hội phát triển. Vì vậy, đẩy mạnh công tác tư tưởng, lý luận luôn là vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với sự nghiệp bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, góp phần giải đáp những vấn đề do thực tiễn đặt ra, củng cố niềm tin vào lý tưởng cộng sản và con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Ba là, sử dụng các biện pháp quyết liệt, khắc phục những sơ hở yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội, tích cực tạo bước chuyển biến mới trong phòng, chống tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có mối quan hệ chặt chẽ với tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí và những sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội. Suy thoái về tư tưởng chính trị cùng với tệ quan liêu là nguyên nhân dẫn đến tham nhũng lãng phí; tham nhũng, lãng phí tác động trở lại làm suy thoái tư tưởng chính trị, “tự chuyển hóa”, “tự diễn biến” nhanh hơn. Khi lún sâu vào tham nhũng, cán bộ, đảng viên càng xa rời mục tiêu, lý tưởng của Đảng, thậm chí phản bội nhân dân, phản bội Đảng.
- Tham nhũng tất yếu dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, "tự diễn biến", “tự chuyển hoá”, nhưng không phải tất cả những người suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” đều tham nhũng. Vì vậy, để đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hoá" có hiệu quả, cần có biện pháp quyết liệt, khắc phục tệ quan liêu, những sơ hở, yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội là điều kiện thuận lợi để tham nhũng, lãng phí phát triển; đồng thời tích cực tạo bước chuyển biến mới trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí.
Bốn là, tăng cường giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân là nhân tố quan trọng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
- Đối tượng tác động của “diễn biến hòa bình", "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà các thế lực thù địch hướng tới là đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân là một trong những nhân tố quan trọng trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Việc rèn luyện đạo đức cách mạng là công việc khó khăn, đòi hỏi nhiều công phu, nghị lực mới có thể chiến thắng chủ nghĩa cá nhân trong cán bộ, đảng viên.
- Để giáo dục, rèn luyện đạo đức cách mạng có hiệu quả, phải kết hợp chặt chẽ giữa đào tạo, bồi dưỡng ở nhà trường với sự tự phấn đấu, tự rèn luyện của cán bộ, đảng viên trên cương vị công tác và trong cuộc sống riêng của mỗi người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn. Cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo. Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân"4. Thực tiễn cho thấy đã có một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái nghiêm trọng về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; có người công khai bày tỏ ý kiến trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, làm trái nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, thậm chí có người “sám hối”, “trở cờ”; tình trạng tham nhũng, quan liêu, xa dân, vi phạm nguyên tắc Đảng là điều đáng lo ngại nhất và cũng là nguy cơ lớn nhất đối với một đảng cầm quyền.
- Suy thoái về đạo đức, lối sống suy đến cùng là do không vượt qua được chủ nghĩa cá nhân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhiều lần nhấn mạnh, chủ nghĩa cá nhân là kẻ thù hung ác, là giặc nội xâm, nó không mang gươm, mang súng nhưng vô cùng nguy hiểm, gian giảo, xảo quyệt; nó kéo người ta xuống dốc không phanh. Mọi thứ xấu xa, hư hỏng đều sinh ra từ căn bệnh này. Nếu không đánh bại, không quét sạch chủ nghĩa cá nhân thì Đảng ta không thể trong sạch, vững mạnh được, không thể là một đảng cách mạng chân chính hết lòng vì nước, vì dân.
Năm là, kết hợp chặt chẽ giữa chủ động đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “giữ vững bên trong là chính”, “tự bảo vệ mình là chính” với tinh thần tích cực tấn công, làm thất bại âm mưu hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.
- Để chủ động phòng ngừa “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cần chăm lo xây dựng hệ thống chính trị, trước hết là xây dựng Đảng và Nhà nước thực sự trong sạch, vững mạnh; mọi thành viên của các cơ quan, tổ chức có khả năng đề kháng tốt, là cơ sở để ngăn ngừa các tác động đấu tranh với mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, chủ động phòng ngừa và đấu tranh với mọi biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, là hai mặt của một vấn đề có mối quan hệ hữu cơ tác động qua lại lẫn nhau, bảo đảm thắng lợi của cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của các thế lực thù địch sẽ bị vô hiệu hóa, nếu nội bộ Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thực tiễn chỉ ra rằng, cơ quan, đơn vị nào làm tốt công tác xây dựng Đảng, xây dựng cơ quan, đơn vị trong sạch, vững mạnh; làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ, thì ở đó không xảy ra hiện tượng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, các thế lực thù địch tìm được “kẽ hở”, “điểm yếu” để thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”.
- Tuy nhiên, nếu chỉ chủ động phòng ngừa, đấu tranh với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” mà không kết hợp với tích cực tấn công, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình”, thì hiệu quả cuộc đấu tranh không cao, các thế lực thù địch sẽ có thời cơ và điều kiện chống phá quyết liệt hơn. Vì vậy, cần kết hợp chặt chẽ giữa chủ động phòng ngừa, đấu tranh với “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, “giữ vững bên trong là chính”, “tự bảo vệ mình là chính" với tinh thần tích cực tấn công, làm thất bại âm mưu, hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.
2. Giải pháp
a) Nâng cao nhận thức của cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhân dân và cán bộ, đảng viên về nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”
- Hiện tượng "suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống" trong cán bộ, đảng viên được Đảng ta chính thức nêu ra trong Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII. Còn hiện tượng "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” được Đảng ta chính thức nêu ra tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011). Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (2016) tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải đấu tranh, khắc phục, đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm" trong cán bộ, đảng viên. Đây là một thực tế diễn ra khá lâu, nhưng hiện tại chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến phức tạp hơn.
Tuy nhiên, trên thực tế, không ít cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và một bộ phận quần chúng nhân dân vẫn còn nhận thức mơ hồ về “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, cho rằng đây là "sự báo động giả về một sự kiện không có thật", hoặc nếu có thì nó diễn ra ở cơ quan khác, địa phương khác, người khác.
- Để nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về cuộc đấu tranh này cần tăng cường giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng, không mơ hồ, ảo tưởng, chủ quan, tập trung làm rõ thực chất, biểu hiện, cấp độ của “tự diễn biến", “tự chuyển hóa”; thực trạng, nguyên nhân, xu hướng vận động, biến đổi; mục tiêu, quan điểm, giải pháp đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên. Đồng thời làm rõ âm mưu, thủ đoạn, hình thức, phương thức thực hiện "diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch nhằm thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ ta.
b) Tăng cường giáo dục chính trị - tư tưởng và giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên
- Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống cách mạng là cái gốc của người cán bộ, đảng viên, là “khả năng miễn dịch” của cán bộ, đảng viên đối với âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình" của các thế lực thù địch, là sức đề kháng đối với “tự diễn biến", “tự chuyển hóa".
- Để nâng cao phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tạo sức đề kháng đối với “tự diễn biến", “tự chuyển hóa” cần tăng cường giáo dục chính trị - tư tưởng và kết hợp giáo dục chính trị - tư tưởng với giáo dục đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên. Coi trọng và nâng cao chất lượng giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách, pháp luật. Đưa vào nền nếp việc bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, cập nhật kiến thức lý luận chính trị mới cho cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý. Song song với việc đổi mới giáo dục chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh cần đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả việc triển khai học tập, quán triệt nghị quyết của Đảng nhằm tạo ra sự thống nhất về chính trị, tư tưởng trong toàn Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Tăng cường thông tin về tình hình thời sự chính trị trong nước và quốc tế để cán bộ, đảng viên nắm được diễn biến tình hình, không lạc hậu trước sự diễn biến của thời cuộc.
- Kết hợp giáo dục chính trị - tư tưởng với giáo dục đạo đức, lối sống và với việc học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị số 05-CT/TW, ngày 15-5-2016 của Bộ Chính trị.
c) Đẩy mạnh đấu tranh phê phán, phản bác quan điểm sai trái thù địch
- Đối với các quan điểm sai trái xuất hiện ngay trong nội bộ Đảng, trong cán bộ, đảng viên cần đấu tranh bằng các hình thức đối thoại, phê bình và tự phê bình, thuyết phục, cảm hóa, không quy kết và đẩy họ về phía đối lập, thù địch. Đồng thời kiên quyết xử lý những trường hợp đã “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
- Đối với quan điểm sai trái của các thế lực thù địch cần kiên quyết đấu tranh triệt để vì đây là tác nhân bên ngoài nhưng trực tiếp thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Hình thức đấu tranh với các quan điểm sai trái, thù địch này cần phong phú, đa dạng: hội nghị, hội thảo, tọa đàm khoa học trong nước và quốc tế, viết các chuyên khảo, chuyên luận; tổ chức các buổi thuyết trình, giảng giải để phê phán, phản bác quan điểm sai trái, khẳng định tính khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ta.
- Lực lượng đấu tranh cần được tổ chức thống nhất, rộng khắp, có nhiều cấp, nhiều ngành tham gia dưới sự lãnh đạo của cấp ủy đảng và sự tham mưu, chỉ đạo của Ban Tuyên giáo các cấp. Coi trọng xây dựng lực lượng nòng cốt bằng hình thức xây dựng các tổ chuyên gia; phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng các lực lượng đấu tranh của tổ chức đảng, chính quyền và của các đoàn thể nhân dân nhằm hình thành thế trận đấu tranh chung, vững chắc trong xã hội, đủ sức tổ chức các cuộc tấn công, phân công làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch. Quan tâm xây dựng, phát triển đội ngũ các nhà khoa học, nhà lý luận, cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn thực sự tâm huyết, có dũng khí đấu tranh, có bản lĩnh chính trị, có kiến thức sâu sắc và phương pháp đấu tranh tư tưởng sắc bén. Phát huy vai trò của các học viện, nhà trường, viện nghiên cứu, cơ quan báo chí - truyền thông… coi đó là lực lượng chủ lực, nòng cốt để đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả đấu tranh chống quan điểm sai trái, thù địch.
- Phương tiện đấu tranh chủ yếu là các phương tiện công tác tư tưởng như: Tuyên truyền miệng và hoạt động báo cáo viên; hệ thống giáo dục lý luận chính trị, các phương tiện truyền thông đại chúng; các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, nghề nghiệp... Trong điều kiện hiện nay, cần coi trọng việc sử dụng các mạng xã hội để thực hiện việc phê phán, phản bác quan điểm sai trái, thù địch.
d) Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật và bảo vệ Đảng
- Công tác quản lý cán bộ, đảng viên có ý nghĩa quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến”, “tự chuyển hóa". Phân tích các trường hợp vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật Nhà nước, các vụ án tham nhũng, lãng phí, lợi dụng, lạm dụng chức quyền của một bộ phận cán bộ, đảng viên thời gian gần đây cho thấy những yếu kém, những lỗ hổng trong công tác tổ chức xây dựng Đảng nói chung và công tác quản lý cán bộ nói riêng.
- Để tăng cường công tác quản lý cán bộ góp phần ngăn chặn, đẩy lùi “tự diễn biến”, "tự chuyển hóa" cần thực hiện tốt các định hướng sau:
+ Tăng cường công tác quản lý cán bộ, đảng viên, bảo đảm sự giám sát chặt chẽ của tổ chức đảng đối với cán bộ, đảng viên.
+ Tăng cường trách nhiệm quản lý của cấp ủy đảng theo quy định phân cấp quản lý cán bộ, đảng viên, nhất là những cán bộ lãnh đạo, quản lý.
+ Thực hiện dân chủ, công khai và tiếp thu thông tin từ nhiều kênh khác nhau trong việc đánh giá cán bộ, đảng viên thông qua đó nâng cao hiệu quả quản lý.
+ Quản lý tốt các quan hệ xã hội của cán bộ, đảng viên.
+ Đổi mới công tác lập và quản lý hồ sơ của cán bộ, đảng viên ở các tổ chức cơ sở đảng.
- Trong cuộc đấu tranh phòng, chống “diễn biến hoà bình”, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng giữ vai trò quan trọng, góp phần phát hiện, kịp thời khắc phục những khuyết điểm khi mới manh nha. Kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng gồm nhiều nội dung, trước hết là kiểm tra việc đảng viên thực hiện Điều lệ Đảng, quy định những điều đảng viên không được làm; kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm; kiểm tra đảng viên thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng; kiểm tra giám sát về phẩm chất đạo đức và kết quả thực hiện nhiệm vụ chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chấp hành chủ trương của cấp ủy. Trong kiểm tra, giám sát, cần chú ý lắng nghe dư luận của quần chúng, tiếp nhận ý kiến của Mặt trận, đoàn thể nhân dân nhận xét, phê bình cán bộ, đảng viên; coi trọng phát hiện các nhân tố tích cực, điển hình tiên tiến, giúp cho cấp ủy tổng kết, rút ra những kinh nghiệm hay, những cán bộ, đảng viên tiêu biểu... để bồi dưỡng và nhân rộng. Thực tiễn cho thấy, ở những nơi làm tốt công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng thì nơi đó, những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống được phát hiện và ngăn chặn từ manh nha, tổ chức đảng được củng cố vững mạnh, phòng, chống có hiệu quả những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”.
đ) Đề cao vai trò chủ động và ý thức tự giác trong tự phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” ở cán bộ, đảng viên; đẩy mạnh phê bình và tự phê bình trong sinh hoạt đảng
- Như trên đã phân tích, "tự diễn biến", “tự chuyển hóa” là quá trình diễn ra bên trong nội tâm của mỗi cán bộ, đảng viên mặc dù nguyên nhân bên ngoài là điều kiện, là nhân tố kích thích “tự diễn biến", "tự chuyển hóa" bên trong. Cho nên, ý thức chủ động, tự giác của chính cán bộ, đảng viên trong tự phòng, chống là hết sức quan trọng.
- Nêu cao tính phê bình và tự phê bình trong Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) "Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay" cần trở thành giải pháp hữu hiệu trong đấu tranh phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, khách quan, không nể nang, né tránh, cần đẩy mạnh và nêu cao tự phê bình và phê bình, sửa chữa khuyết điểm, khắc phục suy thoái, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Khắc phục triệt để tình trạng “giấu giếm bệnh tật trong mình, không dám uống thuốc, để bệnh ngày càng nặng thêm, nguy đến tính mệnh"5.
Tự phê bình và phê bình là thang thuốc hay nhất, hữu hiệu nhất để chữa chạy những khuyết điểm, yếu kém trong Đảng và của cán bộ, đảng viên; có tác dụng ngăn ngừa và khắc phục những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa" trong nội bộ Đảng. Trong phê bình cần khắc phục hai khuynh hướng: vì bon chen, danh lợi mà nói xấu nhau hoặc “dĩ hòa vi quý”, "mũ ni che tai", thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh. Đồng thời trong đấu tranh phải giữ vững nguyên tắc, không để các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội lợi dụng, kích động để gây rối nội bộ, giữ vững sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong xã hội. Tự phê bình và phê bình trong Đảng phải hướng tới việc giúp nhau sửa chữa khuyết điểm, giúp nhau tiến bộ, đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong xã hội.
Hội nghị Trung ương 4 (khóa XII) (tháng l0-2016) cũng đã nêu ra 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp, đó là: Về công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình; về cơ chế, chính sách; về kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; về phát huy vai trò của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội6.
III- NỘI DUNG VÀ NHIỆM VỤ CỦA CHI ỦY, BÍ THƯ CHI BỘ ĐỐI VỚI VIỆC PHÒNG, CHỐNG TỰ DIỄN BIẾN, TỰ CHUYỂN HÓA TRONG CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN Ở CƠ SỞ
Trong cuộc đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống “tự diễn biến", “tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên hiện nay thì vai trò của chi ủy và bí thư chi bộ cực kỳ quan trọng. Để phát huy vai trò của chi ủy, bí thư chi bộ trong phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, phòng, chống "tự diễn biến", “tự chuyển hóa", cần thực hiện đồng bộ nhiều nội dung, giải pháp; trong đó, cần chú ý tới một số vấn đề sau:
Một là, xây dựng và thực hiện tốt các quy định để phát huy vai trò gương mẫu trong rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác của cán bộ, đảng viên.
Chi ủy, đặc biệt là người bí thư chi bộ cần phải gương mẫu. Gương mẫu mọi lúc, mọi nơi, ở cơ quan, đơn vị và ở khu dân cư nơi mình cư trú, sinh sống. Gương mẫu trong việc chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Luôn kiên định lập trường cách mạng, bảo vệ Đảng, chế độ Chi ủy, bí thư chi bộ là đầu mối tạo sự đoàn kết, nhất trí trong chi bộ, sự thống nhất và gắn kết giữa các đảng viên, giữa cấp ủy với ban lãnh đạo cơ quan, đơn vị nhằm tránh sự chia bè phái, chia rẽ làm mất đoàn kết nội bộ, chống đối trong nội bộ các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Khi chi ủy, bí thư chi bộ thật sự thanh liêm, hết lòng vì công việc, "dĩ công vi thượng", lại có năng lực quản lý giỏi, kiên quyết đấu tranh, thì chắc chắn hiện tượng tiêu cực, quan liêu, tham nhũng rất khó xảy ra, nếu có xảy ra cũng sớm được phát hiện và xử lý nghiêm khắc, triệt để. Người bí thư chi bộ có đạo đức, lối sống trong sáng, lành mạnh, kiên quyết đấu tranh chống thói cá nhân, ích kỷ, ham chơi hưởng thụ, thì hiện tượng suy thoái về đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên cũng khó có cơ hội phát triển.
Hai là, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo chi bộ, đơn vị.
Mỗi một đảng viên có một thế mạnh riêng. Chi ủy, bí thư chi bộ cần phải biết khai thác hết thế mạnh của mỗi cá nhân để đóng góp cho tập thể, cho chi bộ. Người bí thư chi bộ cần phải biết tập hợp và sử dụng người giỏi hơn mình, biết phát huy cái giỏi của người khác, sức mạnh của người khác.
Ba là, tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Chi ủy, bí thư chi bộ cần phải coi đó là công việc thường xuyên của cấp ủy, tổ chức đảng, gắn với chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện "tự diễn biến”, "tự chuyển hoá" trong nội bộ. Kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, chủ nghĩa cá nhân, lối sống cơ hội, thực dụng, bè phái, "lợi ích nhóm", nói không đi đôi với làm trong cơ quan, đơn vị, tổ chức cơ sở đảng.
Bốn là, chi ủy, bí thư chi bộ cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả của công tác tư tưởng.
Công tác tư tưởng nhằm phục vụ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị, phù hợp với từng giai đoạn, tạo sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong chi bộ. Cần chú trọng tới việc sinh hoạt chuyên đề định kỳ hằng tháng, tới việc đổi mới công tác tuyên truyền, giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên trong chi bộ. Đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; ngăn chặn, đẩy lùi những biểu hiện "tự diễn biến”, “tự chuyển hoá”. Tăng cường đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động "diễn biến hoà bình" của các thế lực thù địch...
Năm là, đổi mới, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng.
Chú trọng nâng cao nhận thức của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, trước hết là người bí thư chi bộ, tổ chức đảng về công tác kiểm tra, giám sát, để lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng. Tiến hành tập trung chỉ đạo xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng trong chi bộ.
Đồng thời, cần tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ; xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, những hành vi dung túng, bao che cho khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên, công khai kết quả xử lý. Ngoài ra, cần hoàn thiện cơ chế và nâng cao chất lượng phối hợp thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, thi hành kỷ luật đảng giữa cấp ủy đảng với ủy ban kiểm tra, nhân dân và cơ quan, đơn vị có liên quan. Trong đó, chú trọng tới việc phát huy cơ chế kiểm tra, giám sát của nhân dân đối với cấp ủy, chi bộ và từng cán bộ, đảng viên trong sinh hoạt cũng như trong công tác.
Sáu là, cần tăng cường và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác dân vận của chi bộ, cấp ủy. Chi ủy, bí thư chi bộ cần quán triệt thực hiện tốt Quy chế công tác dân vận của hệ thống chính trị. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở. Tiếp tục thể chế hoá, cụ thể hoá mối quan hệ "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ", nhất là nội dung nhân dân làm chủ và phương châm "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra".
____________
Chú thích:
1. Hoàng Phê (Chủ biên): Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2011, tr.344, 255.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2016, tr.32-34.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Sđd, tr.41-42.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.292.
5. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t.5, tr.273.
6. Xem Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khóa XII, Sđd, tr.36-48.
CÂU HỎI THẢO LUẬN
1. Phân tích bản chất, mức độ biểu hiện của “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên hiện nay ?
2. Trình bày quan điểm giải pháp đấu tranh phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên hiện nay?
3. Phân tích nội dung và nhiệm vụ của chi ủy, bí thư chi bộ đội với việc phòng, chống "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" trong cán bộ, đảng viên ở cơ sở ?
1A Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội
E-mail: congdcsvn@vptw.dcs.vn
Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu