Lời Nhà xuất bản Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo hệ thống chính trị và toàn xã hội. Đảng ta coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt và có nhiều chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh; đổi mới phương thức lãnh đạo đối với phương thức hoạt động của hệ thống chính trị.
Căn cứ Điều lệ Đảng do Đại hội X thông qua, Quy định số 23-QĐ/TW, ngày 31-10-2006 của Bộ Chính trị khoá X về thi hành Điều lệ Đảng và các văn bản hiện hành, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tái bản cuốn sách: 101 câu hỏi và trả lời về công tác tổ chức, kiểm tra của Đảng. Trong đó bao gồm các nội dung: tổ chức và công tác tổ chức, cán bộ; công tác kiểm tra, giám sát và cơ quan kiểm tra của Đảng; các cơ quan nhà nước; một số tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị nước ta; các cấp uỷ Đảng triển khai nhiệm vụ lãnh đạo hệ thống chính trị như thế nào; chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ) trong việc cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành các chính sách, giải pháp, chương trình thực hiện có hiệu quả công cuộc đổi mới đất nước; chức năng, nhiệm vụ của các Uỷ ban trong Quốc hội và của các bộ, ngành trong cơ cấu tổ chức của Chính phủ và chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một số đoàn thể chính trị - xã hội trong việc vận động nhân dân cả nước xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, phấn đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Dưới dạng câu hỏi và trả lời, cuốn sách giới thiệu tương đối hệ thống các quy định của Điều lệ Đảng, một số nghị định có liên quan của Chính phủ và những văn bản hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền về những nội dung nêu trên.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 3 năm 2010
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Mục I - Tổ chức và công tác tổ chức, cán bộ của Đảng Câu hỏi 1: Tổ chức là gì và tại sao phải gắn liền với quản lý?
Trả lời:
1. "Tổ chức, nói rộng là cơ cấu tồn tại của sự vật. Sự vật không thể tồn tại mà không có một hình thức liên kết nhất định các yếu tố thuộc nội dung. Tổ chức vì vậy là thuộc tính của bản thân các sự vật"1. Định nghĩa trên có ý nghĩa triết học sâu sắc, bao quát cả phần tự nhiên và xã hội loài người.
Tổ chức xã hội loài người xuất hiện đồng thời với loài người, nó không ngừng được hoàn thiện và phát triển cùng với sự phát triển của loài người. Theo nghĩa đó, tổ chức là một tập thể của con người tập hợp nhau lại để thực hiện một nhiệm vụ chung hoặc nhằm đạt tới một mục tiêu xác định của tập thể đó. Nói một cách khác, tổ chức là hình thức tập hợp, liên kết các thành viên trong xã hội (cá nhân, tập thể) nhằm đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng, lợi ích của các thành viên, cùng nhau hành động vì lý tưởng, mục tiêu chung.
Các tổ chức trong xã hội được hình thành, đào thải, phát triển không ngừng theo tiến trình phát triển của con người và xã hội với nhiều hình thức tập hợp, quy mô, nội dung và cách thức hoạt động khác nhau.
Các tổ chức hình thành trong xã hội hiện đại rất phong phú, đa dạng, trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, ở từng ngành, từng địa phương, từng cơ sở, có quy mô cả nước hoặc mở rộng ra ở các nước trong khu vực và thế giới; có quy chế chặt chẽ, hoạt động dài hạn. Có loại tổ chức chỉ có hình thức liên kết và nội dung hoạt động đơn giản, linh hoạt (nhiều hội quần chúng ở các địa phương và cơ sở...). Các tổ chức trong xã hội hiện đại thường được chia ra: tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức tôn giáo, tổ chức kinh tế, tổ chức văn hóa, tổ chức vũ trang...
Nhà nước quản lý về tổ chức và hoạt động của các tổ chức trong xã hội bằng pháp luật. Các tổ chức trong xã hội có điều lệ, quy chế, nội quy hoạt động, quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn của các thành viên và mối quan hệ của các thành viên trong các tổ chức ấy.
Công tác tổ chức là những việc làm để tập hợp nhiều người lại với nhau, xây dựng cơ cấu bộ máy làm việc, định rõ nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận, từng cá nhân trong tổ chức, đưa ra khỏi tổ chức những người không còn phù hợp, bổ sung thêm người mới hoặc còn thiếu, đề ra chương trình, kế hoạch và cách thức hành động của các thành viên để tổ chức đó hoạt động có kết quả...
Một tổ chức tồn tại và phát triển phải xác định rõ các tiêu chí: a) Lý tưởng, sứ mệnh, mục tiêu phấn đấu; b) Quy mô của tổ chức; c) Cơ cấu thiết chế của tổ chức; d) Nội dung công việc của tổ chức; e) Điều kiện tồn tại và phát triển của tổ chức...
2. Nói đến tổ chức trong hoạt động xã hội là nói đến mối quan hệ và sự phối hợp hoạt động giữa các bộ phận của một chỉnh thể; là hệ thống lãnh đạo và quản lý các lĩnh vực hoạt động, các ngành, các cấp; hệ thống các hình thức và biện pháp thực hiện các quyết định kể từ khi xác định mục tiêu, phương hướng, vạch kế hoạch tiến hành, đến đôn đốc, kiểm tra thực hiện, nghiệm thu cuối cùng kết quả đạt được, rút ra những bài học thành công và chưa thành công, đề ra những giải pháp phát triển và tiếp tục xử lý những công việc còn lại.
Tóm lại, cũng có thể nói một cách rõ ràng, cụ thể hơn: Tổ chức là một đơn vị xã hội, được điều phối một cách có ý thức, có phạm vi tương đối rõ ràng, hoạt động nhằm đạt được một hoặc nhiều mục tiêu chung do tổ chức đó định ra. Đơn vị xã hội đó bao gồm một nhóm hoặc một cộng đồng người; hoạt động theo một mục tiêu chung, trong đó đề ra những yêu cầu, nhiệm vụ và phương hướng hoạt động của tổ chức, nó quyết định hình thức và nội dung, chức năng, nhiệm vụ và phương thức hoạt động của tổ chức; đây là hoạt động có sự chỉ đạo, chỉ huy, quản lý của bộ phận lãnh đạo của tổ chức đó và có phạm vi tương đối rõ ràng, tức là có những tiêu chí để phân biệt thành viên giữa tổ chức này với tổ chức khác.
Khi đã hình thành tổ chức thì phải có hoạt động quản lý. Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động. Chính sự phân công, hợp tác lao động nhằm đạt tới hiệu quả nhiều hơn, năng suất cao hơn trong công việc, đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành, kiểm tra, chỉnh lý; phải có người đứng đầu. Ở đây, người ta thường nhắc đến một câu nói nổi tiếng của C. Mác: "Một nghệ sĩ vĩ cầm thì tự điều khiển mình, còn dàn nhạc thì cần nhạc trưởng". Dàn nhạc là một tổ chức, đã là một tổ chức thì phải có người đứng đầu, điều hành các hoạt động của tổ chức đó.
Quản lý là một quá trình thu thập và xử lý thông tin, ra quyết định và chuyển tải quyết định đó dưới dạng thông tin tới các đối tượng bị quản lý. Quá trình này diễn ra theo một chu trình khép kín với hai kênh truyền tin: thông tin điều khiển và thông tin phản hồi. Có nhiều khái niệm về quản lý như quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, quản lý khoa học, quản lý doanh nghiệp, quản lý nhà đất... Trong hệ thống tổ chức nhà nước và xã hội, việc quản lý cần một hệ thống các chủ trương, chính sách, giải pháp của tổ chức, cơ quan có thẩm quyền (chủ thể quản lý) tác động vào tổ chức, cơ quan dưới quyền (đối tượng bị quản lý), trên cơ sở các quy luật vận động khách quan của chủ thể và các đối tượng bị quản lý và kết quả thu thập, xử lý thông tin về trạng thái của hệ thống, nhằm làm cho các đối tượng bị quản lý vận động theo một mục tiêu đã định. Mục tiêu quản lý được đặt ra trên cơ sở phương hướng phát triển của hệ thống quản lý và các biện pháp bảo đảm đạt được mục tiêu ấy.
Câu hỏi 2: Tổ chức có vị trí, vai trò như thế nào trong hoạt động xã hội nói chung và trong sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước?
Trả lời:
1. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin từ lâu đã nói đến vị trí, vai trò quan trọng, thậm chí quyết định của tổ chức đối với các hoạt động cách mạng của giai cấp vô sản và chính đảng của nó.
V.I. Lênin đã từng nói: Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức và khi đã có chính quyền, lĩnh vực trọng yếu nhất và khó khăn nhất của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ tổ chức. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Nga, có lúc Người đã nêu vấn đề một cách khá gay gắt: Toàn bộ nhiệm vụ của đảng cầm quyền là... tổ chức, tổ chức và tổ chức. Trước đó nhiều năm, C. Mác đã từng chỉ rõ: "Tư tưởng căn bản không thể thực hiện được cái gì hết. Muốn thực hiện tư tưởng cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn"2. "Những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" ở đây chính là tổ chức và tổ chức việc thực hiện.
2. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một tấm gương sáng về vận dụng sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin phù hợp với truyền thống dân tộc và thực tiễn Việt Nam. Cùng với việc đề ra được phương hướng, nhiệm vụ cách mạng đúng đắn trong từng thời kỳ, Người dành nhiều công sức cho việc xây dựng Đảng và các tổ chức quản lý xung quanh Đảng, xây dựng chính quyền cách mạng. Người kịp thời tổng kết những kinh nghiệm hết sức quan trọng về tổ chức hoạt động thực tiễn. Sau hơn nửa thế kỷ lãnh đạo thành công cách mạng Việt Nam, Đại hội V của Đảng năm 1982 đã khẳng định: "Tổ chức là một khâu quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng"3.
Thật vậy, một sự nghiệp muốn thành công, một công việc muốn đạt được kết quả, trước hết phải có đường lối, chủ trương đúng và qua một quá trình tổ chức thực hiện công phu, theo một kế hoạch chặt chẽ với những giải pháp thiết thực, hữu hiệu. Nói cách khác, muốn cho tư tưởng, đường lối, chính sách được thực hiện, phải có tổ chức, phải tổ chức con người lại với những phương tiện nhất định, chỉ đạo mọi người hành động theo đúng những mục tiêu, phương hướng do tư tưởng đó xác định. Trên ý nghĩa ấy, chúng ta khẳng định: Khi Đảng đã có đường lối, nhiệm vụ chính trị đúng đắn thì công tác tổ chức, cán bộ là nhân tố quyết định sự thành công của nhiệm vụ cách mạng, bảo đảm thực hiện thắng lợi đường lối, nhiệm vụ chính trị.
Thực tiễn cũng chứng tỏ: trong tổ chức, nhân tố quyết định nhất, năng động nhất là con người, cuộc sống, hoạt động của con người là ở trong tổ chức, trong guồng máy hoạt động của tổ chức. Chỉ có trong tổ chức và thông qua tổ chức, thông qua quan hệ với những người khác, bộ phận khác và với sự vật, phương tiện làm việc, con người mới biểu hiện rõ vai trò chủ thể của mình và mới thấy rõ mình có thể làm được những gì.
Từ phân tích về vị trí, vai trò của tổ chức, càng thấy rõ hơn vấn đề người lãnh đạo, quản lý phải nắm vững tổ chức, làm tốt công tác tổ chức, nếu không chính bản thân mình và cả tổ chức do mình lãnh đạo, quản lý sẽ không làm được gì hoặc làm việc không có hiệu quả. Việc xây dựng và điều hành một tổ chức phải xuất phát từ nhu cầu công việc thực tế và từ một tầm nhìn rộng.
Tóm lại, tổ chức là khâu quyết định đối với việc thực hiện thắng lợi đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; là lĩnh vực công tác đầy khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải đầu tư công sức nghiên cứu công phu. Đối với những người lãnh đạo, quản lý, phải đặc biệt quan tâm việc nghiên cứu từng bước xây dựng được cơ cấu tổ chức, hình thành các giải pháp tổ chức thể hiện đầy đủ nguyên tắc: "Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý", theo quan điểm toàn diện, bảo đảm tính hệ thống, tính đồng bộ của tổ chức, sớm khắc phục những khuyết điểm về tổ chức và trong công tác tổ chức.
Câu hỏi 3: Những quy luật cơ bản của tổ chức là gì?
Trả lời:
Sự hình thành và phát triển của tổ chức chịu sự chi phối của rất nhiều yếu tố chủ quan và khách quan, trong đó có năm yếu tố khách quan được coi là những quy luật cơ bản của tổ chức.
1. Quy luật mục tiêu rõ ràng và tính hiệu quả của tổ chức. Trong hoạt động, từng con người hay từng tập thể lớn, nhỏ đều tự xác định mục tiêu để phấn đấu tiến tới. Từ mục tiêu ấy, định hình tổ chức phù hợp để thực hiện đạt hiệu quả cao nhất. Do vậy, tổ chức là công cụ thực hiện mục tiêu. Đây là quy luật quan trọng nhất. Mục tiêu là cái đích phải tới của tổ chức, quy định quy mô và cấu trúc của tổ chức. Người ta chia thành mục tiêu chiến lược và mục tiêu cụ thể, mục tiêu của hệ thống và mục tiêu của tổ chức hợp thành, mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt...
Ở đây đòi hỏi có sự thống nhất tư tưởng với tổ chức. Nhân tố quan trọng nhất quyết định sự thành công của cách mạng nước ta là Đảng đề ra được đường lối cách mạng đúng đắn, nhưng để cách mạng thành công phải xây dựng được tổ chức cách mạng và phải có năng lực tổ chức thực tiễn. Tổ chức là biện pháp cơ bản thực hiện đường lối và công tác tổ chức lại có quan hệ mật thiết với công tác cán bộ.
Để xác định được hiệu quả của tổ chức, phải xác định được ba yếu tố: yếu tố đầu vào, yếu tố quản lý vận hành và yếu tố kết quả của tổ chức. Hiệu quả của tổ chức chính là chênh lệch giữa yếu tố kết quả và yếu tố đầu vào, thông qua yếu tố vận hành, quản lý của người lãnh đạo tổ chức. Mục tiêu rõ ràng và tính hiệu quả của tổ chức là quy luật khách quan khống chế cấu trúc và phương thức hoạt động của tổ chức.
2. Quy luật hệ thống. Tổ chức bao giờ cũng được đặt vào trong hệ thống của nó. Khi thiết kế một tổ chức thường phải thiết kế cấu trúc của nó, xây dựng nó thành hệ thống và lại đặt nó vào trong hệ thống lớn hơn bao trùm lên nó. Bản thân tổ chức đã mang tính hệ thống. Khi xem xét một tổ chức cần phát hiện và phân tích các mối quan hệ và tính chất của các quan hệ đó giữa các yếu tố hay các chức năng của đối tượng. Các mối quan hệ này buộc các yếu tố, các bộ phận lại với nhau trong một cấu trúc, chúng tạo nên sự thống nhất giữa bộ phận và toàn thể của tổ chức hay của hệ thống.
Quan hệ cơ bản nhất xác định hoạt động của hệ thống tổ chức là quan hệ giữa cái vào và cái ra. Quan hệ này thể hiện chức năng hoạt động của hệ thống, hệ thống trong trạng thái mở, trong sự tương tác với môi trường, không phải là hệ thống khép kín. Khi xem xét hệ thống và sự vận hành của hệ thống, cần chú ý tính điều khiển được của hệ thống.
Trong hệ thống tổ chức cần xác định rõ quyền hạn, trách nhiệm và mối quan hệ của các tổ chức cùng cấp và các cấp trong hệ thống. Các tổ chức cùng cấp tạo nên cơ cấu hệ thống ngang. Để hệ thống hoạt động được nhịp nhàng, cần phân công và quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của các cấp trong hệ thống.
3. Quy luật cấu trúc đồng nhất và đặc thù của tổ chức. Một tổ chức là hệ thống của các tổ chức hợp thành, đồng thời lại là tổ chức của hệ thống lớn hơn. Các tổ chức hợp thành phải có cấu trúc đồng nhất và đó chính là điều kiện hình thành hệ thống. Những phần tử có cấu trúc không đồng nhất không thể hợp thành hệ thống. Bên cạnh đó, tính đặc thù cũng tạo nên sắc thái của tổ chức, truyền thống của tổ chức. Song, một hệ thống có quá nhiều tổ chức đặc thù thì sự liên kết trong hệ thống sẽ rất phức tạp và gặp rất nhiều khó khăn trong việc điều hành.
4. Quy luật vận động không ngừng và vận động theo quy trình của tổ chức. Sau khi hình thành, tổ chức bắt đầu hoạt động và hoạt động liên tục, không ngừng. Hoạt động là điều kiện tồn tại của tổ chức và đó là sự hoạt động liên tục, toàn thể, từ những tổ chức hợp thành đến toàn bộ hệ thống.
Tổ chức vận động không ngừng và theo quy trình. Tổ chức vận hành theo quy trình được quy định trong điều lệ hoạt động của nó. Sự vận động nói trên cần có năng lượng và nguồn năng lượng chính là các quyết định của cơ quan quản lý. Khi thiết kế tổ chức, ngoài thiết kế hệ thống, còn phải xác định cơ chế vận hành của bộ máy tổ chức, bảo đảm vận hành không ngừng và theo đúng quy trình, trong quá trình vận hành có lúc cần sự điều chỉnh cần thiết.
5. Quy luật tự điều chỉnh của tổ chức:
Hoạt động của tổ chức có quan hệ tới môi trường xung quanh, môi trường có sự thay đổi thì tổ chức phải tự điều chỉnh để thích ứng. Những cơ chế quản lý, chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước của hệ thống tạo điều kiện và cho phép tổ chức tự điều chỉnh.
Để tổ chức tự điều chỉnh được, cần có một số điều kiện cần thiết: hệ thống thông tin; người lãnh đạo có trình độ đủ sức quán triệt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, nhạy bén với những thay đổi về cơ chế, chính sách để điều chỉnh tổ chức thích nghi với điều kiện mới; tổ chức vững mạnh, liên kết giữa các phần tử chặt chẽ, các phần tử cấu thành tổ chức linh hoạt, mềm dẻo. Cần lưu ý quyền hạn của mỗi cấp trong giới hạn cho phép tự điều chỉnh.
Câu hỏi 4: Phân biệt (hoặc phân loại) một số cơ quan, tổ chức trong hoạt động thực tiễn như thế nào?
Trả lời:
Các tổ chức, cơ quan được phân biệt chủ yếu căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật hoặc cơ quan có thẩm quyền.
1. Cơ quan nhà nước
Cơ quan nhà nước là cơ quan thuộc hệ thống tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước, từ trung ương đến các địa phương và cơ sở, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, những nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Căn cứ vào nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau, có thể chia cơ quan nhà nước thành ba loại: lập pháp, hành pháp và tư pháp; hoặc căn cứ vào thẩm quyền, có thể chia thành hai loại: cơ quan thẩm quyền chung (Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân) và cơ quan thẩm quyền riêng (Tòa án, Viện kiểm sát, Bộ, Sở, v.v.); hoặc căn cứ vào cấp quản lý có thể chia thành ba hoặc bốn loại: cơ quan nhà nước trung ương, cơ quan nhà nước địa phương (tỉnh, huyện), cơ quan nhà nước ở cơ sở (xã, phường, thị trấn) và mỗi cấp đều có các cơ quan thẩm quyền chung và cơ quan thẩm quyền riêng như nêu trên, với cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ quyền hạn khác nhau.
Trong các cơ quan nhà nước có các cơ quan quyền lực. Cơ quan quyền lực nhà nước là các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp do Hiến pháp và pháp luật quy định. Hiến pháp quy định: "Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân"; "Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp".
Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất..., là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất...
Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương.
Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử. Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp...
2. Cơ quan hành chính
Cơ quan hành chính (hoặc cơ quan hành pháp) là cơ quan làm nhiệm vụ quản lý nhà nước ở các cấp, các ngành được thành lập và hoạt động theo quy định chung của Hiến pháp và pháp luật và theo quyết định cụ thể của các cơ quan có thẩm quyền. Hiến pháp quy định: "Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam...". Các bộ và cơ quan ngang bộ là cơ quan hành chính, thực hiện chức năng quản lý nhà nước, được thành lập theo nghị quyết của Quốc hội; các cơ quan trực thuộc Chính phủ được thành lập và hoạt động theo các nghị định của Chính phủ.
"Ủy ban nhân dân do hội đồng nhân dân bầu, là cơ quan chấp hành của hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương...". Ủy ban nhân dân và các cơ quan của ủy ban nhân dân (sở, phòng, ban) được thành lập và hoạt động theo Luật tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân.
Cơ quan làm nhiệm vụ hành chính, tổng hợp, phục vụ hoạt động của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, kinh tế, sự nghiệp, xã hội... cũng được gọi là cơ quan hành chính, được thành lập và hoạt động theo điều lệ hoặc nghị quyết của tổ chức lập ra các cơ quan đó. Song, tính chất, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của loại cơ quan này không giống cơ quan hành chính nhà nước.
3. Cơ quan quản lý
Cơ quan quản lý là những cơ quan có chức năng quản lý ở các lĩnh vực khác nhau của Nhà nước và xã hội. Cơ quan quản lý nhà nước bao gồm cơ quan quản lý chung (Chính phủ, Ủy ban nhân dân), cơ quan quản lý từng ngành hoặc liên ngành, lĩnh vực (bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ, sở, phòng của Ủy ban nhân dân)... Đối với các tổ chức kinh tế, sự nghiệp, xã hội..., có các cơ quan quản lý kinh tế (hội đồng quản trị, tổng giám đốc, ban kiểm soát của các tổng công ty, công ty...), cơ quan quản lý sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội... (bộ máy quản lý các trường học, bệnh viện, nhà xuất bản...). Các tổ chức có thẩm quyền ra quyết định thành lập hoặc giải thể, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, cán bộ quản lý và biên chế của các cơ quan quản lý và cơ quan phục vụ nhiệm vụ quản lý nêu trên.
Một số cơ quan quản lý được tổ chức theo hệ thống dọc thì lãnh đạo các cơ quan đó có trách nhiệm chủ trì phối hợp với lãnh đạo địa phương trong công tác tổ chức, nhân sự ở các đơn vị trực thuộc đóng tại địa phương. Cơ quan quản lý không tổ chức theo hệ thống dọc thì lãnh đạo địa phương chủ trì phối hợp với bộ, ngành trong các vấn đề nêu trên. Bộ máy quản lý ở các cấp, các ngành cần có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, cơ cấu tổ chức tinh gọn, hợp lý, không chồng chéo, đội ngũ cán bộ, công chức, nhân viên trong sạch, vững mạnh, tinh thông nghiệp vụ, tận tụy, phục vụ nhân dân là yếu tố cơ bản bảo đảm cho công tác quản lý nhà nước của Chính phủ, của các cấp chính quyền địa phương và các đơn vị cơ sở được thực hiện có hiệu quả.
4. Cơ quan tư pháp
Cơ quan tư pháp là cơ quan nhà nước có các nhiệm vụ phát hiện, điều tra, công tố, xét xử, bào chữa, giám định tư pháp, thi hành án... theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ lợi ích của cộng đồng, duy trì trật tự, an toàn xã hội.
Theo Hiến pháp, Nhà nước ta có một hệ thống các cơ quan tư pháp bao gồm: Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan điều tra, các tổ chức bổ trợ tư pháp (luật sư, công chức, giám định tư pháp), cơ quan thi hành án. Trong hệ thống các cơ quan đó, Tòa án nhân dân là khâu trung tâm, nó biểu hiện tập trung nhất những hoạt động của các cơ quan tư pháp.
Bộ Tư pháp là cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng pháp luật, kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, phổ biến, giáo dục pháp luật, thi hành án dân sự, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và công tác tư pháp khác trong phạm vi cả nước; thực hiện quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.
5. Đơn vị sự nghiệp
Đơn vị sự nghiệp là tổ chức do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức kinh tế, xã hội hoặc nhân dân (dân lập, tư nhân) lập ra ở nhiều lĩnh vực hoạt động như khoa học, công nghệ, giáo dục, môi trường, y tế, báo chí, xuất bản, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao, sự nghiệp kinh tế, dịch vụ việc làm... Tổ chức sự nghiệp không thuộc hệ thống tổ chức công quyền, không có chức năng quản lý nhà nước.
Ở Việt Nam, thời kỳ trước khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, các đơn vị sự nghiệp chủ yếu do Nhà nước lập ra (nay gọi là sự nghiệp công), thực hiện kế hoạch do Nhà nước giao và được Nhà nước cấp kinh phí. Từ ngày đổi mới đến nay, các đơn vị sự nghiệp công từng bước áp dụng cơ chế linh hoạt, nhằm phát huy tinh thần tự chủ, năng động, sáng tạo của tổ chức và các thành viên, tạo nguồn thu không phải đơn thuần từ ngân sách nhà nước.
Trên cơ sở tổng kết thực tiễn đổi mới, Chính phủ ban hành chế độ tài chính áp dụng cho đơn vị sự nghiệp có thu (Nghị định số 10/2002/NĐ-CP ngày 16-1-2002) như sau: Các đơn vị sự nghiệp có thu được chia thành ba loại: 1) Đơn vị sự nghiệp có thu bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động. 2) Đơn vị sự nghiệp có thu tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động. 3) Đơn vị sự nghiệp có nguồn thu thấp hoặc không có thu.
Các đơn vị sự nghiệp có thu được tự chủ tài chính, chủ động bố trí kinh phí để thực hiện nhiệm vụ; được ổn định phần kinh phí thường xuyên do ngân sách nhà nước cấp; được vay tín dụng ngân hàng hoặc quỹ hỗ trợ phát triển để mở rộng hoạt động; quản lý, sử dụng tài sản nhà nước theo quy định, được mở tài khoản tiền gửi tại ngân hàng hoặc kho bạc; được chủ động sử dụng số biên chế do cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao và được thực hiện chế độ hợp đồng lao động do yêu cầu công việc và khả năng tài chính của đơn vị.
Câu hỏi 5: Cùng là những giải pháp về tổ chức, có gì khác nhau giữa "kiện toàn tổ chức" và "biện pháp tổ chức"?
Trả lời:
Đây là những công việc thuộc giải pháp tổ chức, song trong quá trình triển khai thực hiện cụ thể, cần được nhận thức đầy đủ, rõ ràng.
1. Kiện toàn tổ chức là những công việc do các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở cấp trung ương hoặc ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị tiến hành theo văn bản pháp quy và theo quyết định cụ thể của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền, nhằm làm cho tổ chức, cơ quan, đơn vị đã có hoặc sẽ được lập ra và đội ngũ cán bộ, công chức làm việc trong tổ chức, cơ quan, đơn vị đó hoạt động có chất lượng và hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của đất nước hoặc của mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi đơn vị trong từng thời kỳ.
Công tác kiện toàn tổ chức bao gồm nhiều việc, như: xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức, cơ quan; sắp xếp cơ cấu, bộ máy của tổ chức, cơ quan thật hợp lý, tinh gọn; cắt bỏ những tổ chức không cần thiết (khâu trung gian, nhiệm vụ chồng chéo nhau, hoạt động kém hiệu quả); thành lập mới những tổ chức, cơ quan thật cần thiết; đề bạt, bổ nhiệm lại cán bộ phụ trách, thay đổi chức vụ, xử lý kỷ luật những người phạm sai lầm, khuyết điểm; quy định rõ ràng, cụ thể chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, công chức cần có để làm cơ sở đánh giá, tuyển lựa, bố trí, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức phù hợp; xây dựng và thực hiện tốt quy chế hoạt động của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị.
Tuỳ theo tình hình cụ thể và yêu cầu, nhiệm vụ được xác định hoặc được giao trong từng thời kỳ, các tổ chức, cơ quan, đơn vị đề ra yêu cầu, nội dung, biện pháp kiện toàn tổ chức thích hợp.
2. Biện pháp tổ chức là cách làm, cách giải quyết một vấn đề, một công việc bằng việc sắp xếp lại tổ chức, bố trí lại cán bộ, củng cố kỷ luật cơ quan, v.v. do cơ quan và cán bộ lãnh đạo có thẩm quyền lựa chọn và thực hiện, nhằm đạt được yêu cầu nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chức, cơ quan, đơn vị đó.
Các cơ quan và cán bộ lãnh đạo có thể sử dụng nhiều biện pháp để thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, quản lý của mình: biện pháp tư tưởng, biện pháp tổ chức, biện pháp hành chính, biện pháp kinh tế, biện pháp vận động, thuyết phục thông qua các đoàn thể và nhân dân, trong đó biện pháp tổ chức thường được sử dụng khi cần thiết, mang ý nghĩa rất quan trọng, có trường hợp đóng vai trò quyết định.
Không nên hiểu biện pháp tổ chức chỉ đơn thuần là việc xử lý kỷ luật, cách chức, thay đổi công tác của một cán bộ mắc khuyết điểm hoặc yếu kém trong công tác (điều này có thể làm, nếu thấy cần), mà là tổng thể các cách giải quyết vấn đề, công việc ở một cơ quan, đơn vị, ngành, địa phương, phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhằm đưa cơ quan, đơn vị tiến lên. Nói chung, trong công tác tổ chức phải rất coi trọng việc xác định đúng chức năng, nhiệm vụ, quy chế làm việc của tổ chức, cơ quan, đơn vị; thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tinh thần trách nhiệm và quyền dân chủ của mọi người; củng cố tổ chức, bộ máy; bố trí cán bộ đúng người, đúng việc, có kiểm tra, sơ kết, tổng kết công tác; công bằng và nghiêm minh trong đối xử, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức...
Câu hỏi 6: Những năm qua, việc kiện toàn tổ chức, bộ máy nhà nước đã đạt được những kết quả gì?
Trả lời:
Thực hiện các nghị quyết của Trung ương Đảng về công tác tổ chức và cán bộ, việc kiện toàn tổ chức, bộ máy nhà nước đã đạt được một số kết quả và có những ưu điểm:
Các nghị quyết Trung ương xác định mục tiêu kiện toàn tổ chức, bộ máy nhà nước là nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, định rõ phương hướng và nhiệm vụ xây dựng các cơ quan của Quốc hội, Chính phủ và chính quyền các cấp, các cơ quan tư pháp nhằm tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cách một bước nền hành chính với ba nội dung: cải cách thể chế; chấn chỉnh tổ chức, bộ máy; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương, các cơ quan nhà nước đã từng bước đổi mới tổ chức và hoạt động, thích ứng và phục vụ tốt hơn yêu cầu chuyển đổi cơ chế kinh tế, mở cửa, hội nhập về kinh tế, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nhất là ở cơ sở.
1. Quốc hội được đổi mới một bước quan trọng về cơ cấu tổ chức và phương thức hoạt động, làm tốt hơn chức năng lập pháp, tăng cường công tác giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước. Hoạt động của Quốc hội trong các kỳ họp, của Ủy ban Thường vụ và các cơ quan của Quốc hội, các đoàn đại biểu và từng đại biểu có nhiều mặt được cải tiến, có hiệu quả hơn. Qua mỗi khoá, cơ cấu Đại biểu Quốc hội hợp lý hơn, chất lượng của đại biểu được nâng lên. Bộ máy Quốc hội đã được tăng cường cán bộ cả về chất lượng và số lượng; số lượng đại biểu làm việc chuyên trách tăng thêm, như trong Quốc hội khóa XI.
2. Kiện toàn tổ chức, bộ máy Chính phủ và cơ quan chính quyền địa phương.
a) Điều chỉnh tổ chức, bộ máy Chính phủ:
Đã sắp xếp các cơ quan bộ và ngang bộ (sau đây gọi tắt là bộ) để hình thành các bộ quản lý nhà nước theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực; tách dần chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước với quản lý sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; phân biệt chức năng của cơ quan hành chính công quyền với các đơn vị sự nghiệp, với dịch vụ công; giảm đầu mối trung gian; cấu trúc lại tổ chức bên trong các bộ, ngành. Đã lập một số tổ chức mới đáp ứng yêu cầu phát triển và quản lý mới.
Tổ chức chính quyền địa phương cũng được kiện toàn một bước. Hội đồng nhân dân các cấp hoạt động có tiến bộ, bộ máy ủy ban nhân dân cấp tỉnh từ trên dưới 40 đầu mối, nay giảm còn trên dưới 20 đầu mối; cấp huyện từ trên dưới 20 nay còn trên dưới 10; cơ cấu tổ chức, bộ máy chính quyền cấp cơ sở cũng có điều chỉnh thích hợp.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng cơ quan trong tổ chức chính quyền nhà nước được xác định rõ hơn, cải cách hành chính đạt được một số kết quả, nhiều văn bản và một số thủ tục hành chính phiền hà được bãi bỏ.
Mặc dù việc tổ chức thực hiện còn không ít thiếu sót, tổ chức bộ máy đã được điều chỉnh lớn như trên về cơ bản là đúng hướng, phù hợp với yêu cầu và tính chất quản lý nhà nước khi chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng hơn, sự phối hợp hoạt động tốt hơn, hiệu lực và hiệu quả quản lý được nâng lên, số lượng đầu mối tổ chức các cấp giảm đáng kể.
b) Điều chỉnh lớn số lượng các đơn vị hành chính theo lãnh thổ:
Về cơ bản việc điều chỉnh đơn vị hành chính địa phương là cần thiết, phù hợp với trình độ quản lý và tâm lý truyền thống địa phương; nhiều địa phương được tái lập đã có chuyển biến rõ rệt về nhiều mặt, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân có phần được cải thiện, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của bộ máy có tiến bộ. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện cũng có một số trường hợp chuẩn bị chưa chu đáo, hiệu quả đạt được chưa nhiều, một số địa phương có khó khăn về xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức và cán bộ.
3. Kiện toàn các cơ quan tư pháp
Tổ chức bộ máy của Tòa án nhân dân tối cao và cấp tỉnh có một số điều chỉnh, lập mới các tòa chuyên trách như tòa kinh tế, toà lao động, tòa hành chính. Hệ thống tòa án được củng cố để hướng dần tới việc Tòa án nhân dân tối cao chủ yếu tập trung làm chức năng xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm, hướng dẫn áp dụng pháp luật và tổng kết kinh nghiệm xét xử. Việc thực hiện chế độ bổ nhiệm thẩm phán đã có tác dụng tích cực. Tổ chức bộ máy của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có điều chỉnh theo hướng tập trung thực hiện chức năng công tố, chức năng giám sát giải quyết các vụ án hành chính, kinh tế, lao động và phá sản doanh nghiệp.
Trên cơ sở tổng kết hoạt động của cơ quan tư pháp những năm qua, Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 2-1-2002 về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới; đầu năm 2002, Quốc hội đã ban hành Luật tổ chức Tòa án nhân dân và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân.
4. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và tinh giản biên chế
Đã ban hành Pháp lệnh cán bộ, công chức làm căn cứ để xây dựng và quản lý đội ngũ công chức. Tuy còn nhiều thiếu sót trong việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh, như các vấn đề tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, tổ chức việc thi tuyển, thi nâng bậc, nâng ngạch..., nhưng đã tạo điều kiện từng bước hình thành quy chế quản lý công chức phù hợp với tình hình mới, phân biệt biên chế hành chính và biên chế sự nghiệp, thực hiện thí điểm một số biện pháp tinh giản biên chế hành chính, xã hội hóa hoạt động sự nghiệp (khoán quỹ lương và chi phí hành chính, xã hội hóa một phần dịch vụ giáo dục, y tế, văn hóa...).
Đã thực hiện tốt chủ trương giảm quân số, tạo điều kiện tốt hơn về trang bị và đời sống, tăng cường sức mạnh chiến đấu của quân thường trực.
Câu hỏi 7: Những thiếu sót, khuyết điểm của công tác tổ chức được thể hiện trên những mặt nào?
Trả lời:
Những năm qua, thực hiện các nghị quyết của Trung ương Đảng về công tác tổ chức và cán bộ, việc xây dựng tổ chức của hệ thống chính trị nước ta hãy còn không ít thiếu sót, khuyết điểm, còn nhiều bất cập so với yêu cầu của công cuộc đổi mới.
1. Về công tác xây dựng tổ chức đảng
Nhìn chung, công tác xây dựng Đảng về tổ chức chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ tuy có tiến bộ, nhưng còn những biểu hiện tập trung quan liêu, dân chủ hình thức; chậm khắc phục tình trạng kỷ luật lỏng lẻo, chấp hành không nghiêm nghị quyết, thực hiện tự phê bình và phê bình kém. Một số nơi vẫn còn tình trạng mất đoàn kết nội bộ, thiếu tình đồng chí chân thành, sự thông cảm, giúp đỡ nhau.
Một số tồn tại trong hệ thống tổ chức của Đảng chậm được giải quyết như: củng cố tổ chức và hoàn thiện quy định về chức năng, nhiệm vụ của các ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy khối cơ quan trung ương và cấp tỉnh, các tổ chức đảng trong tổng công ty, trong các cơ sở kinh tế ngoài quốc doanh; thiếu biện pháp chỉ đạo có hiệu quả để khắc phục tình trạng tổ chức cơ sở đảng ở nhiều nơi còn yếu kém, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu có nhiều hạn chế, lúng túng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, nhất là trong khu vực doanh nghiệp, cơ quan và đơn vị sự nghiệp...
2. Về tổ chức bộ máy hành chính
a) Cải cách hành chính chậm:
Tổ chức bộ máy Chính phủ vẫn còn nhiều đầu mối trực thuộc; việc phân công, phân cấp giữa bộ và chính quyền địa phương còn nhiều vấn đề chưa rõ, chưa hợp lý, vừa có phần hạn chế tính chủ động, tích cực của địa phương và cơ sở, vừa có mặt buông lỏng quản lý tập trung từ trung ương.
Thủ tục hành chính còn nhiều phiền hà, cơ chế "xin - cho" chậm xóa bỏ; việc giải quyết các khiếu kiện của dân còn lúng túng, bị động, kéo dài; hiệu lực thi hành luật pháp yếu, trật tự kỷ cương trong bộ máy nhà nước không nghiêm.
Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nhìn chung còn thấp; chậm giải quyết đồng bộ và sát hợp một số vấn đề về tổ chức và chính sách cán bộ cơ sở là một trong những nguyên nhân chậm củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở.
b) Chức năng, nhiệm vụ, cơ chế vận hành của tổ chức, bộ máy chưa được quy định rõ ràng, hợp lý:
Chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước của một số bộ còn nhiều vấn đề chưa rõ ràng, chưa được phân định cụ thể, nhất là trên những lĩnh vực nhiều bộ cùng có trách nhiệm quản lý, dẫn tới tình trạng vừa chồng chéo, vừa sơ hở, tranh chấp quyền hạn, đùn đẩy trách nhiệm. Một số bộ, ngành không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước theo quy định, dành nhiều thì giờ vào các chương trình - dự án, lẫn lộn giữa chức năng quản lý nhà nước với chức năng quản lý sản xuất, kinh doanh. Cơ chế vận hành của từng tổ chức, từng cơ quan, đơn vị chưa được xây dựng cụ thể. Những khuyết điểm nói trên làm cho hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cơ quan nhà nước thấp, chưa đáp ứng được kịp thời những yêu cầu chính đáng của nhân dân.
c) Chưa làm rõ và thực hiện đúng chế độ trách nhiệm của tập thể và người đứng đầu cơ quan, của mỗi cán bộ, công chức ở các vị trí công tác:
Trong các cơ quan nhà nước, chưa cụ thể hóa đầy đủ chế độ trách nhiệm của người đứng đầu, chưa quy định rõ, hợp lý một số vấn đề về quan hệ, lề lối làm việc giữa ban cán sự đảng, đảng ủy cơ quan và người đứng đầu, do đó dẫn đến tình hình khá phổ biến là cả trách nhiệm của tổ chức và cá nhân, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu chưa thật rõ; quy định hiện hành và việc thực hiện các quy định đó đều chưa đòi hỏi cao chế độ trách nhiệm, đồng thời cũng chưa giao đủ quyền hạn tương ứng với trách nhiệm đối với tổ chức và người đứng dầu, do đó, đã diễn ra khá phổ biến tình trạng vô trách nhiệm, không quy được trách nhiệm của người đứng đầu và những cán bộ, công chức có liên quan khi cơ quan, đơn vị không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm pháp luật, để xảy ra những vụ việc tham nhũng, tiêu cực, tài sản xã hội chủ nghĩa bị xâm hại nghiêm trọng.
3. Về tổ chức các đoàn thể và hội quần chúng
Tổ chức bộ máy và phương thức hoạt động của các đoàn thể quần chúng chuyển biến chậm, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác vận động quần chúng trong tình hình mới, chưa khắc phục được tình trạng hành chính hóa trong hoạt động. Nhiều tổ chức đoàn thể ở cơ sở không nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của quần chúng để kịp thời phản ánh tình hình với tổ chức đảng và chính quyền, đề xuất và phối hợp thực hiện các biện pháp giải quyết những vướng mắc trong nhân dân, thường rơi vào lúng túng, bị động, khả năng tập hợp quần chúng rất hạn chế trong những tình huống chính trị - xã hội phức tạp.
Nhiệm vụ lãnh đạo của cấp ủy đảng đối với hội quần chúng và vai trò của đảng viên trong các hội chưa được quy định cụ thể, đầy đủ; công tác quản lý nhà nước không theo kịp sự phát triển về số lượng của các hội quần chúng. Khá nhiều hội hoạt động không rõ hiệu quả.
Nhìn tổng quát, công tác tổ chức trong thời gian qua đã góp phần định hình trên những nét cơ bản mô hình tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thể hiện ngày càng cụ thể, rõ nét hơn cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ; về cơ bản đã đáp ứng những yêu cầu mới, ngày càng thích ứng hơn với cơ chế kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, với những đòi hỏi của đất nước khi đi vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; tạo ra những tiền đề và căn cứ để tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức của hệ thống chính trị ở nước ta trong thời gian tới.
Tuy nhiên, trong hoạt động thực tiễn, hệ thống chính trị và từng bộ phận của hệ thống đó còn bộc lộ nhiều yếu kém; chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy chưa cao; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, mối quan hệ giữa các tổ chức chưa được phân định rành mạch; nhiều chủ trương đúng đắn về tổ chức được đề cập nhiều lần trong các nghị quyết chưa được thực hiện nghiêm chỉnh; chậm nghiên cứu làm rõ nhiều vấn đề về tổ chức và phương thức hoạt động, lề lối làm việc của các bộ phận trong hệ thống chính trị, nhất là mối quan hệ Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền. Nhìn chung, tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội vẫn còn nhiều nhược điểm, chưa đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ mới. Cơ cấu tổ chức của các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp vẫn còn có sự chồng chéo, trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ; thẩm quyền, trách nhiệm của cá nhân và tổ chức chưa thật rõ ràng; tình trạng quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa được đẩy lùi; kỷ cương, kỷ luật chưa nghiêm.
Những hạn chế, khuyết điểm trên là do: nhận thức của các ngành, các cấp về quan điểm, nguyên tắc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy chưa đầy đủ, thiếu thống nhất; chỉ đạo tổ chức thực hiện thiếu kiên quyết, còn nể nang, né tránh; triển khai còn thiếu đồng bộ giữa cơ quan đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội; chậm đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng nhằm phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động sáng tạo, tăng cường năng lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Câu hỏi 8: Để hoàn thiện bộ máy của hệ thống chính trị, cần phải quán triệt những quan điểm gì?
Trả lời:
Để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của thời kỳ đẩy mạnh toàn diện và mạnh mẽ công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, Đảng ta kiên trì thực hiện chủ trương không ngừng hoàn thiện bộ máy của hệ thống chính trị; bảo đảm giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
1. Trong việc hoàn thiện tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị, cần quán triệt các quan điểm cơ bản sau đây:
a) Việc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải phù hợp với đặc điểm của hệ thống chính trị nước ta vận hành theo cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ" do một Đảng duy nhất lãnh đạo; phù hợp với đặc điểm của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, giữ vững và tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng.
b) Kiện toàn tổ chức bộ máy phải nhằm bảo đảm các cơ quan trong hệ thống chính trị hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, tinh gọn, khắc phục tình trạng quan liêu, trùng lặp, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ hoặc tổ chức không phù hợp với chức năng, nhiệm vụ. Phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của mỗi tổ chức, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị.
c) Kiện toàn tổ chức bộ máy phải bảo đảm tính đồng bộ, hệ thống, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong hệ thống chính trị nước ta; vừa xây dựng các cơ quan của Đảng vững mạnh, đủ sức thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ, vừa phát huy vai trò, trách nhiệm của các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể chính trị - xã hội.
d) Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy phải vừa kế thừa những thành quả và kinh nghiệm đã đạt được, vừa đáp ứng yêu cầu của tiến trình đổi mới đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị có ý nghĩa hết sức quan trọng, quyết định đến việc nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội, đồng thời là vấn đề lớn, phức tạp. Các cấp uỷ, tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở cần tổ chức quán triệt và triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, triệt để, đồng bộ chủ trương hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị.
a) Các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương, các tỉnh uỷ, thành uỷ quán triệt đầy đủ chủ trương này trong cán bộ, đảng viên, công chức; tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ, sắp xếp tổ chức bộ máy và biên chế của cơ quan, tổ chức cấp mình đúng yêu cầu được chỉ rõ trong nghị quyết của Trung ương.
b) Từng đồng chí Uỷ viên Bộ Chính trị chỉ đạo việc thực hiện trong khối mà mình phụ trách. Các đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng, các đồng chí đứng đầu các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương và địa phương có trách nhiệm chỉ đạo, kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm thực hiện có hiệu quả, đúng yêu cầu, quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy.
c) Đảng đoàn Quốc hội, Ban cán sự đảng Chính phủ, Ban cán sự đảng Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các bộ, ngành, Đảng đoàn Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội, các tỉnh uỷ, thành uỷ, đảng uỷ trực thuộc Trung ương phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương xây dựng kế hoạch, làm tốt công tác tư tưởng và tổ chức thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy ở Trung ương và các địa phương theo chỉ đạo của Bộ Chính trị.
d) Ban Tổ chức Trung ương chủ trì phối hợp với các ban Đảng ở Trung ương và các tổ chức đảng có liên quan theo dõi việc thực hiện, định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và hằng năm báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.
Câu hỏi 9: Để kiện toàn tốt hơn tổ chức bộ máy của Nhà nước, cần chú ý những giải pháp gì?
Trả lời:
Việc kiện toàn tổ chức bộ máy nhà nước trước hết phải quán triệt quan điểm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp, bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và quyền làm chủ của nhân dân; thực hiện tốt mục tiêu xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, bài trừ quan liêu, tham nhũng.
1. Đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội theo Hiến pháp và Luật tổ chức Quốc hội sửa đổi
Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Quốc hội nhằm thực hiện tốt chức năng lập pháp, giám sát tối cao và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; tăng cường hợp lý số đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách. Tổ chức lại một số uỷ ban của Quốc hội theo hướng chuyên sâu hơn. Nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội, hoạt động của Hội đồng Dân tộc, các uỷ ban của Quốc hội, đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội. Đổi mới quy trình xây dựng luật, tiếp tục giảm việc ban hành pháp lệnh. Hợp nhất văn phòng đoàn đại biểu Quốc hội và văn phòng hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
2. Tiếp tục sắp xếp bộ máy Chính phủ theo một số nguyên tắc chung sau đây:
Tiếp tục điều chỉnh cơ cấu tổ chức bộ máy của Chính phủ theo hướng tinh gọn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của cơ quan hành chính nhà nước, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước trong giai đoạn mới của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Các bộ và cơ quan ngang bộ nói chung thực hiện chức năng quản lý nhà nước đa ngành, đa lĩnh vực; vừa bảo đảm sự ổn định cần thiết, vừa đổi mới để thực hiện tốt chức năng quản lý nhà nước, phù hợp với thể chế chính trị nước ta, có tính đến việc bảo đảm thuận lợi trong giao dịch quốc tế.
Đối với một số nhiệm vụ thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có đủ điều kiện dân sự hoá thì chuyển cho các bộ không thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh quản lý nhằm tập trung hơn nhiệm vụ xây dựng quân đội, công an vững mạnh, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Chuyển các doanh nghiệp chuyên làm kinh tế đơn thuần thuộc các cơ quan đảng, lực lượng vũ trang, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cho cơ quan nhà nước quản lý, hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
Giảm bớt số lượng các cơ quan trực thuộc Chính phủ hoặc Thủ tướng theo hướng: chuyển một số tổng cục thành bộ hoặc chuyển về trực thuộc các bộ hữu quan; chuyển về bộ hữu quan những nhiệm vụ quản lý nhà nước và tổ chức lại bộ máy các cơ quan này để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của một đơn vị sự nghiệp.
Giữ ổn định các đơn vị hành chính ở các địa phương, rất hạn chế việc chia tách, lập đơn vị hành chính mới. Chỉ xem xét, điều chỉnh một số trường hợp cụ thể, kỹ lưỡng xét thấy thật cần thiết.
Tiếp tục lấy cải cách hành chính làm nội dung trọng tâm của cải cách tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước.
Hệ thống hành chính phải được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Kiên quyết tách chức năng quản lý nhà nước của cơ quan nhà nước với quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Xác định rõ chức năng chủ sở hữu nhà nước đối với doanh nghiệp, chức năng đại diện chủ sở hữu của hội đồng quản trị tổng công ty nhà nước; đẩy mạnh phân cấp quản lý kinh tế - xã hội cho địa phương, cho cấp dưới, đi đôi với tăng cường công tác quy hoạch và sự hướng dẫn, kiểm tra của cấp trên; siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xác định rõ chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là trách nhiệm và quyền hạn của người đứng đầu, bảo đảm cho nghị quyết của Đảng, luật pháp của Nhà nước được thực hiện nghiêm túc, thống nhất trong cả nước.
3. Công tác tư pháp phải thực hiện đúng đường lối, chủ trương của Đảng, bám sát và phục vụ có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị trong từng giai đoạn, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội tham gia vào công tác tư pháp, góp phần xây dựng, bảo vệ Đảng và Nhà nước.
Tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Toà án nhân dân tối cao, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, tiếp tục thực hiện cải cách tư pháp trong giai đoạn mới; bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, hạn chế tối đa các trường hợp oan sai.
Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng công tác xét xử của toà án các cấp, bảo đảm tính chuyên sâu, phù hợp với yêu cầu công tác xét xử hiện nay. Tích cực chuẩn bị để lập toà án khu vực. Kiện toàn toà án hành chính để giải quyết các khiếu nại về hành chính của công dân.
Tiếp tục đổi mới tổ chức, sắp xếp lại các đơn vị kiểm sát theo hướng đồng bộ, nâng cao hiệu quả hoạt động để thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà.
4. Tập trung xây dựng, cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ, quy chế tổ chức, hoạt động, lề lối làm việc của các cơ quan nhà nước, trước hết là cơ quan hành pháp
a) Làm rõ và cụ thể hóa chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà nước, trước hết là các bộ và bộ máy hành chính các cấp; xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, nội dung quản lý nhà nước, phạm vi trách nhiệm của từng bộ, nhất là trên một số lĩnh vực quản lý lâu nay còn chồng chéo hoặc bỏ sót nhiệm vụ; kiên quyết tách chức năng quản lý nhà nước của các bộ với quyền và trách nhiệm điều hành sản xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp, khắc phục tình trạng cơ quan quản lý nhà nước chạy theo chương trình - dự án, buông lỏng trách nhiệm quản lý nhà nước; xóa bỏ những cơ chế "xin - cho" phiền hà. Tăng cường quản lý ngân sách và các nguồn viện trợ, tài trợ theo luật định, giám sát chặt chẽ các chế độ thu - chi tài chính của các cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp.
b) Thực hiện sự phân công, phân cấp hợp lý giữa trung ương và địa phương. Xác định rành mạch hơn thẩm quyền và trách nhiệm quản lý của bộ và của chính quyền địa phương, phù hợp với đặc điểm từng ngành, từng lĩnh vực, theo hướng mạnh dạn phân cấp cho cấp dưới và cơ sở, đi đôi với tăng cường trách nhiệm của cấp trên trong công tác hướng dẫn, kiểm tra và xử lý vi phạm, sớm khắc phục tình trạng cơ quan cấp trên ôm đồm công việc của cấp dưới vì lợi ích cục bộ.
c) Tăng cường kỷ cương, kỷ luật hành chính, xử lý nghiêm đối với những người không chấp hành hoặc chấp hành không đúng quyết định của cấp trên. Định rõ chế độ trách nhiệm cá nhân, trước hết là trách nhiệm cá nhân người đứng đầu; tăng cường quyền hạn đi đôi với tăng cường chế độ trách nhiệm. Người đứng đầu nhất thiết phải chịu trách nhiệm trước những khuyết điểm về quản lý của cơ quan, đơn vị, phải chịu kỷ luật về trách nhiệm khi trong cơ quan, đơn vị xảy ra những vụ việc tham nhũng, tiêu cực, mất đoàn kết nghiêm trọng. Cho thôi giữ chức đối với người lãnh đạo không đảm đương được nhiệm vụ.
Câu hỏi 10: Việc kiện toàn tổ chức các đoàn thể và hội quần chúng đạt được những kết quả gì và cần chú ý những giải pháp nào?
Trả lời:
1. Thực hiện các nghị quyết Trung ương Đảng về tổ chức và cán bộ, việc kiện toàn tổ chức các đoàn thể và hội quần chúng đạt được một số kết quả và có những ưu điểm:
Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể và hội quần chúng sau giai đoạn đầu lúng túng do chuyển đổi cơ chế, đã từng bước đổi mới về tổ chức và phương thức hoạt động cho phù hợp với điều kiện mới. Đến nay, ngoài Mặt trận Tổ quốc và năm đoàn thể chính trị - xã hội có tổ chức cơ sở rộng khắp, trong đó Hội Cựu chiến binh tuy mới ra đời nhưng đã nhanh chóng phát triển, trở thành một đoàn thể chính trị - xã hội mạnh. Hàng nghìn hội quần chúng đã ra đời, đi vào hoạt động, nhiều nhất là các hội nghề nghiệp, nhân đạo, từ thiện... Một số hội quần chúng hoạt động có hiệu quả, bước đầu đáp ứng lợi ích, nhu cầu và sở thích của các đối tượng quần chúng.
Các đoàn thể chính trị - xã hội và nhiều hội quần chúng nhìn chung đã dần làm tốt nhiệm vụ tập hợp quần chúng, đại diện cho tiếng nói và lợi ích của quần chúng.
Nhìn một cách tổng quát, hệ thống chính trị nước ta tuy còn những vấn đề tồn tại cần tiếp tục nghiên cứu, nhưng đã được đổi mới một bước về tổ chức và hoạt động, đáp ứng về cơ bản yêu cầu chuyển sang cơ chế mới, đúng định hướng; cả hệ thống chính trị và từng bộ phận của hệ thống về cơ bản đã thực hiện được vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần huy động được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, phục vụ sự nghiệp đổi mới, đưa đất nước vượt qua nhiều tình huống khó khăn, phức tạp, thiên tai, địch họa.
2. Về kiện toàn tổ chức các đoàn thể và các hội quần chúng, cần chú ý một số điểm:
Củng cố tổ chức bộ máy các đoàn thể chính trị - xã hội và các hội quần chúng hiện có, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng thông qua tổ chức đảng và đảng viên trong các đoàn thể và hội; xây dựng các quy chế phối hợp, thể chế hóa các quy định của Nhà nước về các điều kiện cho các đoàn thể và các hội quần chúng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định, làm cho Mặt trận và các đoàn thể thực sự đại diện cho tiếng nói, quyền lợi và nguyện vọng của quần chúng; vận động và tổ chức nhân dân thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, tham gia tích cực vào công cuộc đổi mới, xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh.
Cụ thể là:
a) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, củng cố tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, nhất là ở cơ sở; thể chế hóa các quy định của Nhà nước; chăm lo xây dựng lực lượng cốt cán; tạo điều kiện thuận lợi cho Mặt trận và các đoàn thể thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ; nâng cao hiệu quả hoạt động, làm cho Mặt trận và các đoàn thể thực sự đại diện cho tiếng nói, quyền lợi và nguyện vọng của quần chúng, làm tốt công tác vận động và tổ chức các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia công cuộc đổi mới, xây dựng Đảng và chính quyền vững mạnh.
b) Thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả quy chế dân chủ ở cơ sở, có sự phối hợp chặt chẽ giữa Mặt trận, đoàn thể và chính quyền dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Tóm lại, kiện toàn tổ chức bộ máy của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong mỗi tổ chức, chú trọng ở hai cấp Trung ương và cơ sở; khắc phục tình trạng "hành chính hoá"; đổi mới phương thức hoạt động, bảo đảm đúng tôn chỉ, mục đích, hướng về cơ sở, tập trung cho cơ sở; chăm lo một cách thiết thực quyền lợi chính đáng, hợp pháp của hội viên, đoàn viên. Tổ chức bộ máy chuyên trách của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội cần được kiện toàn tinh gọn, phù hợp với chức năng, nhiệm vụ; tăng cường đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên.
Câu hỏi 11: Cán bộ, công chức gồm những ai?
Trả lời:
Theo nghĩa hẹp, cán bộ là những người được bầu hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong các tổ chức (Đảng, Nhà nước, đoàn thể nhân dân) thuộc hệ thống chính trị ở các cấp từ trung ương tới cơ sở. Nghĩa vụ, quyền lợi của cán bộ (và công chức); những việc cán bộ (và công chức) không được làm; việc tuyển dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm quản lý và thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ (và công chức)... được tiến hành theo quy định của Luật cán bộ, công chức và các văn bản khác của Đảng và Nhà nước. Theo nghĩa rộng, cán bộ bao gồm tất cả những người đảm nhiệm một công việc nào đó không chỉ trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị mà cả trong các tổ chức kinh tế, văn hóa, xã hội..., những người tự nguyện làm việc "ích nước, lợi nhà", được nhân dân tín nhiệm suy tôn.
Theo quy định của Luật cán bộ, công chức được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 13-11-2008, cán bộ, công chức bao gồm những người làm việc trong biên chế ở cấp trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã, được hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
1. "Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước" (Điều 4 Luật cán bộ, công chức).
Cán bộ nói trên đây bao gồm cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện.
Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam căn cứ vào điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, của tổ chức chính trị - xã hội và quy định của Luật này quy định cụ thể chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội.
Việc bầu cử, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội được thực hiện theo quy định của điều lệ, pháp luật có liên quan.
Chức vụ, chức danh cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước được xác định theo quy định của Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
Việc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ theo nhiệm kỳ trong cơ quan nhà nước từ trung ương đến cấp huyện được thực hiện theo quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Quốc hội, Luật tổ chức Chính phủ, Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân, Luật tổ chức Toà án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật kiểm toán nhà nước, Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
2. "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật" (Điều 4 Luật cán bộ, công chức).
a. Công chức nói trên đây bao gồm:
+ Công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội;
+ Công chức trong cơ quan nhà nước;
+ Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập;
+ Công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Chính phủ quy định cụ thể Điều này.
b. Công chức được phân loại theo ngạch bổ nhiệm:
+ Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;
+ Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;
+ Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;
+ Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và ngạch nhân viên.
Công chức được phân loại theo vị trí công tác:
+ Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý;
+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
3. "Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước". (Điều 4 Luật cán bộ, công chức).
Cán bộ, công chức cấp xã bao gồm:
a. Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:
+ Bí thư, Phó Bí thư Đảng uỷ;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;
+ Chủ tịch, Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân;
+ Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
+ Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;
+ Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;
+ Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);
+ Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam.
b. Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:
+ Trưởng Công an;
+ Chỉ huy trưởng Quân sự;
+ Văn phòng - thống kê;
+ Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã);
+ Tài chính - kế toán;
+ Tư pháp - hộ tịch;
+ Văn hoá - xã hội.
Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý.
Cán bộ, công chức cấp xã nói trên bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã.
Căn cứ vào điều kiện kinh tế - xã hội, quy mô, đặc điểm của địa phương, Chính phủ quy định cụ thể số lượng cán bộ, công chức cấp xã.
Câu hỏi 12: Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nước ta hiện nay là gì?
Trả lời:
Sự nghiệp đổi mới đất nước đòi hỏi phải đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức về mọi mặt, trước hết cần xử lý tốt một số vấn đề trong công tác cán bộ:
Trên cơ sở định kỳ đánh giá và phân loại đúng đội ngũ cán bộ, công chức, tăng cường đào tạo, đào tạo lại và kịp thời thay thế những người không hoàn thành nhiệm vụ. Lập quỹ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức trong quy hoạch, nhất là về chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, quản lý hành chính và luật pháp quốc tế.
Thực hiện việc điều động, luân chuyển cán bộ; coi trọng việc sử dụng chuyên gia, cán bộ có phẩm chất chính trị tốt, giỏi chuyên môn, có kiến thức lý luận và kinh nghiệm thực tiễn, có năng lực nghiên cứu, tổng kết để tăng cường cho các cơ quan đảng.
Tiếp tục rà soát, làm rõ chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ chức và xác định chức danh, tiêu chuẩn của từng cán bộ, công chức; trên cơ sở đó, xác định lại định mức biên chế, tinh giản biên chế ở các bộ phận trùng lắp, thực hiện giao biên chế theo định kỳ 5 năm. Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý biên chế theo hướng thực hiện hợp đồng đối với các công việc phục vụ thay cho việc tuyển vào biên chế.
Tăng cường công tác tư tưởng; thực hiện tốt chính sách đối với cán bộ, công chức trong quá trình sắp xếp tổ chức bộ máy, bảo đảm không ảnh hưởng lớn đến đời sống và thu nhập của cán bộ. Chính phủ chỉ đạo sửa đổi, bổ sung chính sách về tinh giản biên chế, tiếp tục đổi mới chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội đối với cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu đổi mới, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động tổ chức bộ máy các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể chính trị - xã hội.
Câu hỏi 13: Phân loại chức danh cán bộ, công chức như thế nào?
Trả lời:
1. Đảng và Nhà nước đã quy định rõ những điều kiện trở thành một cán bộ, công chức nhà nước. Mỗi cán bộ, công chức (do bầu cử, bổ nhiệm hay được tuyển dụng) thường xuyên làm việc trong bộ máy tổ chức thuộc hệ thống chính trị hoặc các tổ chức kinh tế, sự nghiệp... đều có tên chức vụ, cương vị công tác cụ thể.
Chức danh cán bộ, công chức bao gồm chức danh gốc (chung cho nhiều chức danh cùng loại) và chức danh đầy đủ, cụ thể. Ví dụ: Chánh văn phòng là chức danh gốc; Chánh văn phòng Bộ Tư pháp, Chánh văn phòng Công ty A... là những chức danh đầy đủ, cụ thể.
2. Căn cứ vào tính chất công việc và chức năng, nhiệm vụ của từng cán bộ, công chức, người ta phân loại chức danh cán bộ, công chức như sau:
a) Loại một: Chức danh cán bộ lãnh đạo, gồm:
Nhóm một: Các chức danh lãnh đạo do bầu cử (Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội...).
Nhóm hai: Các chức danh lãnh đạo do bổ nhiệm (Thứ trưởng, Tổng Cục trưởng...).
Nhóm ba: Các chức danh cán bộ lãnh đạo bộ phận cấu thành bộ máy do bổ nhiệm (Chánh văn phòng, trưởng phòng...).
b) Loại hai: Các chức danh nghiệp vụ, trong đó:
Nhóm một: Các chức danh giúp việc cán bộ lãnh đạo bộ máy (trợ lý, thư ký...).
Nhóm hai: Các chức danh làm công tác nghiệp vụ chung (chuyên gia, chuyên viên, cán sự...).
Nhóm ba: Các chức danh làm công tác nghiệp vụ đặc thù (kiểm tra, thanh tra, đối ngoại...).
c) Loại ba: Các chức danh kỹ thuật hành chính, phục vụ gồm:
Nhóm một: Các chức danh làm công tác kỹ thuật (lưu trữ, xây dựng...).
Nhóm hai: Các chức danh làm công tác hành chính (văn thư, đánh máy chữ...).
Nhóm ba: Các chức danh làm công tác phục vụ (tạp vụ, bảo vệ...).
3. Mỗi chức danh cán bộ, công chức đều có tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể phù hợp với thực tế hoạt động ở từng cấp, từng ngành, từng địa phương, đơn vị, theo quy định của các văn bản pháp quy hoặc quyết định của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII của Đảng đã quy định những tiêu chuẩn chung của cán bộ, công chức trong thời kỳ đổi mới, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những tiêu chuẩn chung đó phải được cụ thể hóa, từng bước bổ sung, hoàn thiện đối với từng chức danh công chức và chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các ngành, các cấp, các đơn vị.
Câu hỏi 14: Phân loại cán bộ, công chức theo trình độ đào tạo như thế nào?
Trả lời:
Phân loại cán bộ, công chức theo trình độ đào tạo có thể chia ra như sau (từ thấp đến cao): nhân viên, cán sự, chuyên viên (chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp), chuyên gia.
1. Nhân viên
Nhân viên là chức danh người làm việc trong các tổ chức, cơ quan thuộc hệ thống chính trị hoặc các tổ chức khác trong xã hội.
Nhân viên chịu trách nhiệm về một công việc cụ thể trong cơ quan, đơn vị và chịu sự chỉ đạo của người đứng đầu cơ quan hoặc đứng đầu bộ phận cấu thành cơ quan. Nhân viên thường gắn với chuyên môn mà họ được đào tạo như nhân viên đánh máy chữ, nhân viên kỹ thuật điện, nhân viên bảo vệ... Mỗi nhân viên được quy định cụ thể về trách nhiệm, quyền hạn, yêu cầu cần có về sự hiểu biết, các chế độ, chính sách và tiền lương được hưởng.
Nhân viên chỉ được công nhận chính thức sau khi có quyết định tuyển dụng của cơ quan có thẩm quyền.
2. Cán sự
Cán sự là chức danh một ngạch công chức, dưới ngạch chuyên viên ở các cơ quan nhà nước.
Tiêu chuẩn công chức ngạch cán sự như sau:
+ Chức trách:
Là công chức chuyên môn, nghiệp vụ, giúp cán bộ lãnh đạo các phòng, ban trong cơ quan hành chính triển khai việc hướng dẫn, theo dõi và đôn đốc việc thi hành các chế độ, điều lệ về quản lý nghiệp vụ.
Nhiệm vụ cụ thể là quản lý, theo dõi một phần công việc thuộc lĩnh vực quản lý nghiệp vụ, gồm:
a) Xây dựng và triển khai các kế hoạch, phương án nghiệp vụ trên cơ sở các quy chế, thể lệ, thủ tục quản lý đã có của ngành, sao cho phù hợp với cơ sở (ghi rõ nội dung và giới hạn công việc đúng với chức danh ở từng cơ quan).
b) Hướng dẫn, đôn đốc, theo dõi quá trình thực hiện các công việc được phân công; phân tích, đánh giá hiệu quả và báo cáo kịp thời theo yêu cầu và mục tiêu quản lý. Phát hiện và đề xuất với lãnh đạo để uốn nắn những lệch lạc trong quá trình thi hành của các đối tượng quản lý nhằm bảo đảm thi hành nghiêm túc, chặt chẽ và có hiệu quả các chế độ, chính sách, quyết định quản lý.
c) Xây dựng được nền nếp quản lý hồ sơ, tài liệu; tổ chức được việc thống kê, lưu trữ các tài liệu, số liệu đầy đủ, chính xác, đúng yêu cầu về nghiệp vụ.
d) Chịu sự chỉ đạo về nghiệp vụ của cán bộ nghiệp vụ cấp trên.
+ Hiểu biết:
a) Nắm được các nguyên tắc, chế độ, thể lệ, thủ tục và nghiệp vụ quản lý của ngành, chủ trương của lãnh đạo trực tiếp.
b) Nắm được các nguyên tắc, thủ tục hành chính, nghiệp vụ của hệ thống bộ máy nhà nước.
c) Hiểu rõ hoạt động của các đối tượng quản lý và tác động nghiệp vụ quản lý đối với tình hình thực tiễn của xã hội.
d) Viết được các văn bản hướng dẫn nghiệp vụ và biết cách tổ chức triển khai đúng nguyên tắc.
đ) Hiểu rõ các mối quan hệ và hợp đồng phải có với các công chức, viên chức và đơn vị hữu quan trong công việc quản lý của mình.
e) Biết sử dụng các phương tiện thông tin và thống kê, tính toán.
+ Yêu cầu trình độ:
a) Trung cấp hành chính;
b) Nếu là trung cấp nghiệp vụ hoặc kỹ thuật có liên quan thì phải qua một lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý hành chính.
3. Chuyên viên (xem trả lời câu hỏi 15).
4. Chuyên viên chính (Xem trả lời câu hỏi 16).
5. Chuyên viên cao cấp (Xem trả lời câu hỏi 17).
6. Chuyên gia
Chuyên gia là những cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao ở các ngành chuyên môn khoa học, công nghệ, quản lý.
Nhà nước đặt chức danh chuyên gia cao cấp để bố trí, sử dụng những cán bộ có trình độ cao làm công tác tham mưu, chủ yếu ở các cơ quan hoạch định chính sách cấp trung ương và ở một số bộ, cơ quan ngang bộ và ở một số tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có yêu cầu và điều kiện bố trí chuyên gia cao cấp. Chuyên gia cao cấp gồm ba bậc từ bậc một đến bậc ba.
Câu hỏi 15: Công chức ngạch chuyên viên phải đạt được những tiêu chuẩn gì?
Trả lời:
Chuyên viên là chức danh cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao hơn chức danh cán sự, thấp hơn chức danh chuyên viên chính. Chuyên viên làm việc trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị, giúp lãnh đạo ở đơn vị công tác tổ chức quản lý một lĩnh vực hoặc một vấn đề nghiệp vụ. Chuyên viên ngạch công chức hành chính phải đạt được tiêu chuẩn như sau:
1. Về chức trách và nhiệm vụ cụ thể:
Chuyên viên có chức trách giúp lãnh đạo ở đơn vị công tác (phòng, ban, sở, vụ, cục) tổ chức quản lý một lĩnh vực hoặc một vấn đề nghiệp vụ cụ thể.
Chuyên viên có những nhiệm vụ cụ thể sau:
a) Xây dựng và đề xuất những phương án, cơ chế quản lý một phần hoặc một lĩnh vực nghiệp vụ trên cơ sở những cơ chế đã có: Xây dựng các phương án kinh tế, xã hội; các kế hoạch, các quyết định cụ thể của từng nội dung quản lý theo quy định, hướng dẫn của cấp trên về nghiệp vụ phù hợp với tình hình thực tế.
b) Tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra và đề xuất các biện pháp điều chỉnh để các quyết định trên được thực hiện nghiêm túc, đạt hiệu quả cao.
c) Tổ chức xây dựng nền nếp quản lý (phương pháp thu thập thông tin, thống kê, chế độ và phương pháp kiểm tra hồ sơ quản lý, lưu trữ tư liệu, số liệu), nhằm bảo đảm quản lý công việc chặt chẽ, chính xác, đúng nguyên tắc quản lý thống nhất nghiệp vụ của ngành.
d) Chủ động tổ chức, phối hợp với công chức, viên chức, đơn vị hữu quan và hướng dẫn, giúp đỡ các công chức, viên chức nghiệp vụ cấp dưới trong việc triển khai công việc, tham gia đúng trách nhiệm với các công việc có liên quan.
đ) Tổ chức việc tập hợp tình hình quản lý, tiến hành phân tích, tổng kết, đánh giá hiệu quả và báo cáo nghiệp vụ lên cấp trên; chịu sự chỉ đạo nghiệp vụ của công chức nghiệp vụ cấp cao hơn trong cùng hệ thống quản lý nghiệp vụ.
2. Hiểu biết:
a) Nắm được đường lối, chính sách chung, nắm chắc phương hướng công tác của ngành, đơn vị về lĩnh vực nghiệp vụ của mình.
b) Nắm được các kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ thuộc lĩnh vực đó.
c) Nắm được các mục tiêu và đối tượng quản lý, hệ thống các nguyên tắc và cơ chế quản lý nghiệp vụ thuộc phạm vi mình phụ trách.
d) Biết xây dựng các phương án, kế hoạch, các thể loại quyết định cụ thể và thông hiểu thủ tục hành chính, nghiệp vụ của ngành quản lý, viết văn bản tốt.
đ) Nắm được những vấn đề cơ bản về tâm lý, sinh lý lao động, khoa học quản lý; tổ chức lao động khoa học, thông tin quản lý.
e) Am hiểu thực tiễn sản xuất, xã hội và đời sống xung quanh các hoạt động quản lý đối với lĩnh vực đó.
g) Biết phương pháp nghiên cứu, tổng kết và đề xuất cải tiến nghiệp vụ quản lý, nắm được xu thế phát triển nghiệp vụ ở trong nước và ngoài nước.
h) Biết tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn, phương pháp kiểm tra và có khả năng tập hợp, tổ chức phối hợp tốt với các yếu tố liên quan để triển khai công việc có hiệu quả cao; có trình độ độc lập tổ chức làm việc.
3. Về yêu cầu trình độ:
a) Tốt nghiệp Học viện Hành chính quốc gia ngạch chuyên viên.
b) Nếu là đại học chuyên môn nghiệp vụ bậc tương đương (đã qua thời gian tập sự) thì phải qua một lớp bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý hành chính theo nội dung chương trình của Học viện Hành chính quốc gia.
c) Biết một ngoại ngữ, trình độ A (đọc hiểu được sách, tài liệu chuyên môn).
Câu hỏi 16: Công chức ngạch chuyên viên chính phải có những tiêu chuẩn gì?
Trả lời:
Chuyên viên chính là chức danh cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao hơn chức danh chuyên viên, thấp hơn chuyên viên cao cấp. Chuyên viên chính làm việc trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị.
Tiêu chuẩn của chuyên viên chính như sau:
1. Về chức trách:
Chuyên viên chính giúp lãnh đạo các đơn vị cấu thành (vụ, cục), lãnh đạo ở cấp tỉnh (sở, ngành, ủy ban nhân dân) chỉ đạo, quản lý một lĩnh vực công tác nghiệp vụ.
Nhiệm vụ cụ thể:
a) Chủ trì nghiên cứu, đề xuất, chỉ đạo thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ quản lý một lĩnh vực nghiệp vụ của toàn ngành, hoặc nhiều lĩnh vực ở cấp tỉnh (sở) gồm các việc:
+ Xây dựng các phương án kinh tế, xã hội, các đề án xác định phương hướng quản lý một lĩnh vực hoặc những vấn đề nghiệp vụ cho toàn ngành, toàn tỉnh, theo đường lối, chính sách, chủ trương của Đảng, Nhà nước.
+ Nghiên cứu, xây dựng các quy chế, luật lệ, thể lệ nghiệp vụ quản lý của lĩnh vực, nhằm bảo đảm sự thống nhất chỉ đạo quản lý có hiệu lực và hiệu quả theo hướng dẫn của tổ chức quản lý nghiệp vụ cao hơn (Khi xây dựng tiêu chuẩn cụ thể, phải ghi rõ nội dung công việc cụ thể, có giới hạn rõ ràng về mức độ phức tạp của công việc).
b) Tổ chức được việc chỉ đạo, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra nghiệp vụ và đề xuất các biện pháp chỉ đạo, uốn nắn những lệch lạc nhằm tăng cường hiệu lực quản lý.
c) Tổ chức được sự phối hợp và xây dựng nguyên tắc phối hợp công tác quản lý nghiệp vụ của lĩnh vực quản lý trong ngành (cho từng cấp) và với các ngành liên quan nhằm thực hiện sự đồng bộ trong quản lý.
d) Tổ chức được việc chỉ đạo xây dựng nền nếp quản lý nghiệp vụ thống nhất (thông tin quản lý, thống kê số liệu, hồ sơ lưu trữ, nền nếp báo cáo thường kỳ, báo cáo nhanh; những thủ tục hành chính, nghiệp vụ theo yêu cầu lãnh đạo).
đ) Tổ chức tập hợp tình hình, tiến hành phân tích, tổng kết, đánh giá hiệu quả, rút kinh nghiệm, đề xuất phương án sửa đổi cơ cấu quản lý, tổng hợp báo cáo lên cấp trên.
e) Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu những đề tài về quản lý nghiệp vụ có liên quan đến chức năng quản lý nhằm cải tiến nội dung và phương pháp quản lý.
g) Tham gia biên soạn (từng phần hoặc chuyên đề) các tài liệu giảng dạy, hướng dẫn nghiệp vụ, đồng thời tổ chức bồi dưỡng, phổ biến kinh nghiệm cho công chức, viên chức nghiệp vụ cấp dưới trong ngành bằng mọi hình thức.
2. Về hiểu biết:
a) Nắm được đường lối, chính sách chung; nắm vững các phương hướng, chủ trương, chính sách của hệ thống quản lý nghiệp vụ đó và các lĩnh vực liên quan.
b) Nắm được các kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật thuộc lĩnh vực quản lý và liên quan.
c) Nắm chắc mục tiêu, đối tượng quản lý, nắm sâu các hệ thống nguyên tắc, cơ chế quản lý nghiệp vụ lĩnh vực đó và biết những hệ thống quản lý liên quan.
d) Thành thạo việc xây dựng phương án, đề án quản lý nghiệp vụ và thủ tục hành chính nhà nước:
+ Nắm được tâm lý, sinh lý của khoa học quản lý trong tổ chức lãnh đạo khoa học và tổ chức thông tin quản lý.
+ Am hiểu tình hình và xu thế phát triển lĩnh vực nghiệp vụ đó trong nước và thế giới.
+ Có năng lực nghiên cứu khoa học.
+ Có trình độ tổng hợp nhanh nhạy, thông thạo việc tổ chức chỉ đạo triển khai nghiệp vụ, tổ chức công tác kiểm tra, tổ chức phối hợp và thu hút các cộng tác viên liên quan trong triển khai nghiệp vụ.
3. Về yêu cầu trình độ:
a) Có trình độ đại học và tốt nghiệp Học viện Hành chính quốc gia ngạch chuyên viên chính.
b) Nếu là chuyên viên thì phải qua một khóa học theo chương trình của Học viện Hành chính quốc gia và có thời gian tối thiểu ở ngạch là 9 năm.
c) Có một ngoại ngữ trình độ B (đọc, nói thông thường).
d) Có những đề án, công trình có tính sáng tạo trong quản lý, được hội đồng khoa học cấp bộ hoặc cấp tỉnh thừa nhận đưa vào áp dụng có hiệu quả.
Tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ, công chức ngạch chuyên viên chính, làm việc trong các cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 450-QĐ/TCTW ngày 22-12-1998 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Câu hỏi 17: Chuyên viên cao cấp phải đạt được những tiêu chuẩn gì?
Trả lời:
Chuyên viên cao cấp là chức danh cán bộ, công chức có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao nhất trong hệ thống chức danh chuyên viên (chuyên viên, chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp). Chuyên viên cao cấp chủ yếu làm việc trong các cơ quan trung ương hoặc cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; giúp lãnh đạo các cơ quan trung ương trong lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ có độ phức tạp cao hoặc giúp lãnh đạo các cơ quan cấp tỉnh trong các lĩnh vực tổng hợp về chỉ đạo, quản lý lĩnh vực công tác đó.
Theo Quyết định số 414-QĐ/TCCP ngày 29-5-1993 của Ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ), tiêu chuẩn chuyên viên cao cấp gồm:
1. Về chức trách:
a) Chủ trì việc xây dựng các chủ trương, chính sách kinh tế, xã hội lớn có tầm cỡ chiến lược của ngành trong phạm vi toàn quốc hoặc đề án tổng hợp kinh tế, xã hội của cấp tỉnh, gồm các việc:
+ Các phương án kinh tế, xã hội về một lĩnh vực nghiệp vụ lớn có tầm cỡ chiến lược của ngành trong phạm vi toàn quốc hoặc đề án tổng hợp kinh tế, xã hội của cấp tỉnh.
+ Các văn bản pháp luật, chính sách và cơ cấu quản lý của toàn ngành về lĩnh vực lớn (hoặc tổng hợp nhiều ngành ở cấp tỉnh) theo các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
+ Chủ trì tổ chức được việc chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, nghiệp vụ và đề xuất các biện pháp điều chỉnh, uốn nắn đối với toàn bộ hệ thống quản lý nghiệp vụ của lĩnh vực đó, nhằm bảo đảm tổ chức quản lý chặt chẽ, có hiệu lực và hiệu quả.
+ Chủ trì tổ chức được việc phối hợp nghiệp vụ của các lĩnh vực liên quan và giữa các cấp quản lý cùng lĩnh vực của ngành để thống nhất đồng bộ trong cả nước.
b) Tổ chức, chỉ đạo xây dựng nền nếp quản lý thống nhất của ngành.
c) Tổ chức tổng hợp, chỉ đạo và phân tích, tổng kết, đánh giá hiệu lực và hiệu quả, đề xuất các phương án sửa đổi, bổ sung, tăng cường hiệu lực quản lý.
d) Chủ trì hoặc tham gia nghiên cứu các đề tài nghiên cứu khoa học quan trọng về quản lý nhằm cải tiến, đổi mới hệ thống cơ chế quản lý phù hợp với đường lối, chính sách và nhu cầu của phương thức quản lý.
đ) Chủ trì việc tổ chức biên soạn các tài liệu hướng dẫn nghiệp vụ cấp ngành, phát hiện những điều không phù hợp để bổ sung, sửa đổi các tài liệu đó.
e) Tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng nghiệp vụ, phổ biến kinh nghiệm và chấn chỉnh công tác quản lý toàn ngành bằng mọi hình thức.
2. Về hiểu biết:
a) Nắm chắc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phương hướng công tác của ngành về lĩnh vực quản lý và các nghiệp vụ liên quan.
b) Nắm vững các kiến thức cơ bản về chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ thuật của lĩnh vực quản lý, hiểu biết rộng về các lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ liên quan.
c) Có kiến thức rộng về thể thức quản lý chung và có kiến thức sâu về lĩnh vực mình phụ trách; có nhiều kinh nghiệm về tổ chức quản lý và xử lý nghiệp vụ, nắm vững các mục tiêu và đối tượng quản lý.
d) Am hiểu rộng về tình hình kinh tế, xã hội của lĩnh vực quản lý ở trong nước và thế giới.
đ) Có năng lực nghiên cứu khoa học và tổ chức chỉ đạo ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ để cải tiến hệ thống quản lý nghiệp vụ.
3. Về yêu cầu trình độ:
a) Đã là chuyên viên chính có thời gian tối thiểu ở ngạch đó là 6 năm.
b) Tốt nghiệp Học viện Hành chính quốc gia ở ngạch chuyên viên cao cấp.
c) Chính trị cao cấp.
d) Có ít nhất một ngoại ngữ trình độ C (đọc, nói thông thạo).
đ) Có công trình nghiên cứu lý luận về khoa học quản lý sáng tạo, được hội đồng khoa học ngành thừa nhận, đưa vào áp dụng có hiệu quả.
Tiêu chuẩn cán bộ, công chức ngạch chuyên viên cao cấp làm việc trong các cơ quan đảng, đoàn thể chính trị - xã hội ban hành kèm theo Quyết định số 450-QĐ/TCTW ngày 22-12-1998 của Ban Tổ chức Trung ương Đảng.
Câu hỏi 18: Tiêu chuẩn cán bộ, đảng viên gồm những nội dung gì?
Trả lời:
1. Tiêu chuẩn cán bộ là những quy định về đức, tài của người cán bộ, nói chung là được xác định phù hợp với từng chức danh, chức vụ cán bộ. Tiêu chuẩn cán bộ là căn cứ để các cơ quan có thẩm quyền trong hệ thống chính trị xem xét, đánh giá, bổ nhiệm cán bộ trong phạm vi quản lý của mình hoặc để các thành viên của tổ chức (cử tri, đoàn viên, hội viên, đảng viên) xem xét, lựa chọn người bầu vào cơ quan lãnh đạo các cấp. Đồng thời, cũng là căn cứ để mỗi cán bộ tự xem xét mình, phấn đấu đạt bằng được những yêu cầu về đức, tài của người cán bộ.
Xây dựng cụ thể hóa và thực hiện đúng tiêu chuẩn cán bộ là một nội dung quan trọng trong công tác cán bộ của các tổ chức trong hệ thống chính trị và các tổ chức trong xã hội.
Việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ phải xuất phát từ những quan điểm, nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng về cán bộ; đồng thời phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ cách mạng trong từng thời kỳ và vai trò, chức năng, nhiệm vụ của từng loại tổ chức, từng chức danh cán bộ.
Tiêu chuẩn chung của cán bộ trong giai đoạn cách mạng hiện nay là:
"a) Có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
"b) Cần kiệm, liêm chính, chí công vô tư, không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng. Có ý thức tổ chức, kỷ luật. Trung thực, không cơ hội, gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm.
"c) Có trình độ hiểu biết về chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực và sức khoẻ để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ được giao" (Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII và Quy định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X (Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31-10-2006).
Các tiêu chuẩn trên có quan hệ mật thiết với nhau; coi trọng cả đức và tài, đức là gốc.
Đối với cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị, ngoài tiêu chuẩn chung trên đây, còn phải:
- Có bản lĩnh chính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng, với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có năng lực dự báo và định hướng sự phát triển, tổng kết thực tiễn, tham gia xây dựng đường lối, chính sách, pháp luật, thuyết phục và tổ chức nhân dân thực hiện. Có ý thức và khả năng đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.
- Gương mẫu về đạo đức, lối sống. Có tác phong dân chủ, khoa học, có khả năng tập hợp quần chúng, đoàn kết nội bộ.
- Có kiến thức về khoa học lãnh đạo và quản lý; đã học tập có hệ thống tại các trường của Đảng, Nhà nước và đoàn thể nhân dân; trải qua hoạt động thực tiễn có hiệu quả.
Bên cạnh những quy định chung nêu trên, từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động cần cụ thể hóa tiêu chuẩn của mỗi loại cán bộ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tế. Cần có sự phân biệt giữa điều kiện và tiêu chuẩn cán bộ. Điều kiện là những yếu tố cần nhưng chưa đủ; tiêu chuẩn mới thể hiện đầy đủ chất lượng của người cán bộ. Khắc phục tình trạng lấy những điều kiện cần có của người cán bộ như quá trình công tác, bằng cấp, học vị, độ tuổi... để thay thế những tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, kiến thức, trí tuệ, năng lực công tác...
Mỗi chức danh công chức, viên chức và chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý ở từng cấp, từng ngành có tiêu chuẩn chung giống nhau và một số yêu cầu về tiêu chuẩn cụ thể khác nhau. Tiêu chuẩn chung của cán bộ, công chức được quy định tại Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII phải được cụ thể hóa, từng bước bổ sung, hoàn thiện đối với từng chức danh công chức, viên chức và chức vụ lãnh đạo, quản lý ở các cấp, các ngành.
2. Tiêu chuẩn đảng viên là yêu cầu cơ bản mà mỗi đảng viên cần phấn đấu đạt tới là căn cứ để các tổ chức đảng xem xét kết nạp những người có nguyện vọng xin vào Đảng.
Điều lệ Đảng (2006) quy định về tiêu chuẩn đảng viên như sau: "Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam là chiến sĩ cách mạng trong đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, suốt đời phấn đấu cho mục đích, lý tưởng của Đảng, đặt lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động lên trên lợi ích cá nhân; chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, các nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có lao động, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; có đạo đức và lối sống lành mạnh; gắn bó mật thiết với nhân dân; phục tùng tổ chức, kỷ luật của Đảng, giữ gìn đoàn kết thống nhất trong Đảng" (Điều 1).
Câu 19: Tư cách cán bộ, đảng viên có những yêu cầu gì và gồm những nội dung gì?
Trả lời:
1. Tư cách cán bộ là tổng thể những yêu cầu về phẩm chất cá nhân (đức, tài) của người cán bộ và sự tín nhiệm của quần chúng đối với người đó.
Theo sự phát triển của nhiệm vụ chính trị, kinh tế, xã hội..., yêu cầu về tư cách cán bộ ở mỗi giai đoạn lịch sử cần được điều chỉnh phù hợp. Nhìn chung, có hai yêu cầu cơ bản về tư cách cán bộ nằm trong tiêu chuẩn cán bộ là đức và tài phải gắn bó với nhau, trong đó đức là gốc.
Trên cơ sở các quy định về tiêu chuẩn chung của cán bộ, mỗi cấp, mỗi ngành cần cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ thuộc cấp mình, ngành mình. Cán bộ ở cương vị càng cao thì yêu cầu về tư cách, tiêu chuẩn cán bộ cũng tăng theo. Người nào phấn đấu đạt được những tiêu chuẩn cán bộ theo quy định gọi là cán bộ đủ tư cách, hoặc đủ tiêu chuẩn.
2. Tư cách đảng viên là những điều chủ yếu về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức của người đảng viên cộng sản, được thể hiện trong cuộc sống hàng ngày mà đồng chí, đồng bào thừa nhận qua sự tiếp xúc hoặc nghe thông tin chính thức về người đó.
Tư cách đảng viên trước hết là tư cách của người chiến sĩ cách mạng, luôn đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc và nhân dân lên trên lợi ích riêng, suốt đời hy sinh phấn đấu vì thắng lợi của lý tưởng cách mạng; đồng thời tư cách đảng viên bao hàm tư cách của một người tốt trong gia đình, một công dân tốt trong xã hội.
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, tư cách đảng viên như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn trong Di chúc của Người: "Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".
3. Tư cách đại biểu là yếu tố cần có về phẩm chất cá nhân (đức, tài), về sự tín nhiệm (phải đạt ít nhất là quá nửa tổng số phiếu của cử tri, phiếu hoặc ý kiến giới thiệu) của các thành viên trong tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội... đối với người được bầu hoặc được cử làm đại biểu để tham dự đại hội đại biểu cấp trên của các tổ chức đó, hoặc tham gia cơ quan lãnh đạo, quản lý thuộc các tổ chức đó.
Các thành viên tham gia việc bầu cử hoặc tham gia việc giới thiệu người để được chọn cử làm đại biểu phải nghiên cứu, hiểu rõ những yêu cầu về tư cách đại biểu và phải làm đúng các thủ tục về bầu cử hoặc giới thiệu người làm đại biểu, bảo đảm tính dân chủ, khách quan, công bằng.
Những người tuy đã được bầu hoặc được chọn cử làm đại biểu, nhưng sau đó có đơn, thư tố cáo về tư cách đại biểu của người đó (vi phạm kỷ luật hành chính, pháp luật hoặc điều lệ của tổ chức) thì tổ chức bầu cử (ủy ban, ban bầu cử) hoặc ban thẩm tra tư cách đại biểu (của hội nghị, đại hội...) cần kiểm tra, xem xét, kết luận về tư cách đại biểu của người đó, trình cơ quan có thẩm quyền quyết định. Nếu người bị tố cáo không vi phạm hoặc có vi phạm nhưng không lớn thì vẫn được công nhận đủ tư cách đại biểu. Nếu người bị tố cáo thực sự vi phạm tư cách đại biểu theo quy định thì bị bác tư cách đại biểu.
Câu hỏi 20: Tiêu chuẩn của cấp ủy viên gồm nội dung gì và cấp ủy viên có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
1. Cấp ủy viên (ủy viên ban chấp hành đảng bộ) là chức danh thành viên ban chấp hành đảng bộ các cấp từ cơ sở đến huyện, tỉnh và cấp tương đương của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cấp ủy viên trước hết phải là đảng viên ưu tú, có đủ tiêu chuẩn đức và tài của một cán bộ ưu tú ở từng cấp được đại hội đảng viên hoặc đại hội đại biểu đảng bộ từng cấp bầu ra theo nhiệm kỳ và được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y. Trường hợp đặc biệt, cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định bổ sung cấp ủy viên cấp dưới theo quy định của Điều lệ Đảng.
Điều lệ Đảng (2006) quy định: "Cấp ủy viên phải có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh; chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước; có kiến thức và năng lực tham gia lãnh đạo tập thể, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; đoàn kết cán bộ, đảng viên, được quần chúng tín nhiệm" (Điều 12). Căn cứ những tiêu chuẩn cơ bản nêu trên, theo yêu cầu nhiệm vụ cách mạng từng thời kỳ và ở từng lĩnh vực công tác khác nhau, các cấp ủy đảng cần cụ thể hóa tiêu chuẩn cấp ủy viên cấp mình cho sát hợp.
2. Cấp ủy viên có nhiệm vụ tham gia lãnh đạo tập thể của cấp ủy mà mình là thành viên và thực hiện những nhiệm vụ cụ thể do cấp ủy phân công; chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước cấp ủy; thực hiện chế độ báo cáo theo định kỳ hoặc khi cần với cấp ủy về hoạt động của mình.
Việc bổ sung cấp ủy viên thiếu do cấp ủy đề nghị, cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định; số lượng cấp ủy viên sau khi bổ sung không vượt quá tổng số cấp ủy viên mà đại hội đã quyết định. Khi thật cần thiết, cấp ủy cấp trên trực tiếp chỉ định tăng thêm một số cấp ủy viên cấp dưới; có quyền điều động một số cấp ủy viên cấp dưới, nhưng không quá một phần ba tổng số cấp ủy viên do đại hội đã bầu.
Cấp ủy viên xin rút khỏi cấp ủy, do cấp ủy xem xét đề nghị lên cấp ủy cấp trên trực tiếp quyết định. Cấp ủy viên đương nhiệm khi có quyết định nghỉ công tác để nghỉ hưu hoặc chuyển công tác đến đơn vị khác ngoài đảng bộ thì thôi tham gia các cấp ủy đương nhiệm ở đảng bộ đó.
Cấp ủy viên bị kỷ luật cách chức, trong vòng một năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương hoặc cao hơn. Việc đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên phải được cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra có thẩm quyền quyết định theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
Câu hỏi 21: Công tác nhân sự phải đạt được những yêu cầu gì và bao gồm những nội dung, những khâu công việc như thế nào?
Trả lời:
Công tác nhân sự là những công việc về xây dựng, phát triển đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động làm việc trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị, hoặc các tổ chức sự nghiệp, kinh tế, văn hóa, xã hội...
Yêu cầu chung của công tác này là phải xây dựng bằng được một đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng đòi hỏi của những nhiệm vụ khác nhau trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển đất nước từng thời kỳ.
Công tác nhân sự bao gồm nhiều nội dung: Trong các tổ chức được lập ra do bầu cử thì công tác nhân sự có nhiệm vụ vạch kế hoạch bầu cử, chuẩn bị các điều kiện, phương tiện để tiến hành việc giới thiệu, ứng cử, đề cử và bầu cử. Trong các cơ quan hành chính, kinh tế, sự nghiệp..., công tác nhân sự có các nhiệm vụ: tuyển dụng (xét tuyển, thi tuyển), bố trí công việc, đề bạt, bổ nhiệm (bổ nhiệm lại), khen thưởng, xử lý kỷ luật (nếu có) và thực hiện các chế độ, chính sách như đào tạo, bồi dưỡng, trả lương, hưu trí...
Ngày nay, công tác nhân sự, tức công tác cán bộ, công chức, viên chức, công tác đối với người lao động và công tác đoàn viên, hội viên ở các đoàn thể..., phải quán triệt và thực hiện đúng đắn nội dung Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 khóa VIII của Đảng về chiến lược cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Luật lao động, Pháp lệnh về cán bộ, công chức và các nghị định có liên quan của Chính phủ.
Mỗi tổ chức, cơ quan, đơn vị phải căn cứ vào các quy định chung của Đảng và Nhà nước để xây dựng và bổ sung các quy định cụ thể về công tác cán bộ, công chức, viên chức ở từng nơi, đặc biệt chú trọng vạch ra và thực hiện được các vấn đề về chức danh, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức, viên chức được tuyển dụng vào làm việc trong cơ quan, đơn vị mình.
Các cơ quan tham mưu về công tác nhân sự phải được xây dựng và củng cố thực sự vững mạnh, đủ sức giúp các cơ quan lãnh đạo và quản lý có thẩm quyền làm tốt công tác quản lý nhân sự của tổ chức mình.
Câu hỏi 22: Công tác quản lý cán bộ, công chức được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Quản lý cán bộ, công chức là một khâu công tác nhân sự cán bộ, công chức trong hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là trách nhiệm trực tiếp của các cơ quan có thẩm quyền về lãnh đạo và quản lý trong hệ thống chính trị, với sự giúp đỡ của các cơ quan tham mưu về công tác nhân sự, cán bộ, công chức ở các cấp, các ngành từ trung ương tới cơ sở.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X đã ban hành Quy định về phân cấp quản lý cán bộ (kèm theo Quyết định số 67-QĐ/TW ngày 04-7-2007) và Quy định cụ thể thi hành Điều lệ Đảng (Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31-10-2006).
1. Về nguyên tắc quản lý cán bộ, Bộ Chính trị khoá X quy định:
a. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, đi đôi với phát huy trách nhiệm của các tổ chức và người đứng đầu các tổ chức trong hệ thống chính trị về công tác cán bộ.
+ Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, tiêu chuẩn, quy chế, quy định về công tác cán bộ và thông qua các cấp uỷ, tổ chức đảng, đảng viên trong các cơ quan nhà nước, Mặt trận, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp để lãnh đạo các cấp, các ngành tổ chức thực hiện các quyết định của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ.
+ Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của hệ thống chính trị trên mọi lĩnh vực. Đảng trực tiếp quản lý đội ngũ cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các ngành, các cấp, đi đôi với việc phát huy trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị.
+ Đảng phân công, phân cấp quản lý cán bộ cho các cấp uỷ và tổ chức đảng, đồng thời thường xuyên kiểm tra, giám sát việc thực hiện công tác cán bộ của các ngành, các cấp.
b. Bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định, đồng thời phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân, trước hết là người đứng đầu trong công tác quản lý cán bộ:
+ Những vấn đề về đường lối, chủ trương, chính sách, đánh giá, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật cán bộ phải do tập thể cấp uỷ và tổ chức đảng có thẩm quyền thảo luận dân chủ và quyết định theo đa số. Trường hợp ý kiến của người đứng đầu và ý kiến của tập thể cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị khác nhau thì phải báo cáo lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
+ Người đứng đầu cấp uỷ, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị có trách nhiệm đề xuất và tổ chức thực hiện các quyết định của tập thể về cán bộ và công tác cán bộ trong lĩnh vực được phân công phụ trách.
+ Cá nhân đề xuất, cơ quan thẩm định, tập thể quyết định về cán bộ phải chịu trách nhiệm về đề xuất, thẩm định, quyết định của mình.
+ Cán bộ, đảng viên phải nghiêm chỉnh chấp hành các nghị quyết, quyết định của cấp uỷ, tổ chức đảng; cấp uỷ cấp dưới phải chấp hành quyết định của cấp uỷ cấp trên về cán bộ và công tác cán bộ.
2. Về nội dung quản lý cán bộ, Bộ Chính trị khoá X quy định:
Công tác quản lý cán bộ bao gồm các nội dung chính sau:
+ Tuyển chọn, bố trí, phân công, điều động và luân chuyển cán bộ, phân cấp quản lý cán bộ.
+ Đánh giá cán bộ.
+ Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ.
+ Bổ nhiệm, miễn nhiệm cán bộ.
+ Khen thưởng, kỷ luật cán bộ.
+ Thực hiện chế độ, chính sách cán bộ.
+ Kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; giải quyết khiếu nại, tố cáo về cán bộ.
3. Về quản lý và quyết định đối với cán bộ, Bộ Chính trị khoá X quy định:
a. Mỗi cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý và sử dụng cán bộ đang công tác, sinh hoạt trong tổ chức mình (kể cả các đồng chí uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương) theo các nội dung quản lý trong phạm vi được phân cấp và chịu trách nhiệm trước cấp uỷ, thủ trưởng cấp trên về cán bộ thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình.
b. Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trực tiếp quyết định một số khâu trong nội dung quản lý cán bộ đối với các chức danh cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và lực lượng vũ trang; đồng thời phân công, phân cấp cho các cấp uỷ, tổ chức đảng quản lý, trực tiếp quyết định một số khâu khác và những chức danh cán bộ khác.
c. Trong trường hợp một người đồng thời được giao đảm nhiệm nhiều chức vụ thuộc thẩm quyền quản lý của các cấp khác nhau thì giao cho cấp cao hơn xem xét, quyết định.
d. Các cấp uỷ, tổ chức đảng xem xét, quyết định khen thưởng, kỷ luật hoặc đề nghị khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ được phân cấp quản lý. Việc khen thưởng, thi hành kỷ luật thực hiện theo Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước và điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội.
Luật cán bộ, công chức quy định cụ thể nội dung quản lý cán bộ, công chức như sau:
1. Nội dung quản lý cán bộ, công chức bao gồm:
+ Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về cán bộ, công chức;
+ Xây dựng kế hoạch, quy hoạch cán bộ, công chức;
+ Quy định chức danh và cơ cấu cán bộ;
+ Quy định ngạch, chức danh, mã số công chức; mô tả, quy định vị trí việc làm và cơ cấu công chức để xác định số lượng biên chế;
+ Các công tác khác liên quan đến quản lý cán bộ, công chức quy định tại Luật cán bộ, công chức;
Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ quy định cụ thể nội dung quản lý cán bộ, công chức nêu trên.
2. Thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ, công chức:
+ Thẩm quyền quyết định biên chế cán bộ được thực hiện theo quy định của pháp luật và cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam.
+ Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định biên chế công chức của Văn phòng Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước, Toà án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân.
+ Chủ tịch nước quyết định biên chế công chức của Văn phòng Chủ tịch nước.
+ Chính phủ quyết định biên chế công chức của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cấp tỉnh, đơn vị sự nghiệp công lập của Nhà nước.
+ Căn cứ vào quyết định chỉ tiêu biên chế được Chính phủ giao, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định biên chế công chức trong cơ quan của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, đơn vị sự nghiệp công lập của Uỷ ban nhân dân các cấp.
+ Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam quyết định biên chế công chức trong cơ quan và đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội.
3. Thực hiện quản lý cán bộ, công chức:
+ Việc quản lý cán bộ, công chức được thực hiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức, các quy định khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội và văn bản của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền.
+ Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức.
Bộ Nội vụ chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về công chức.
Bộ, cơ quan ngang bộ, Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân công, phân cấp của Chính phủ.
Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về công chức theo phân cấp của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh.
+ Cơ quan có thẩm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình thực hiện việc quản lý công chức theo phân cấp của cơ quan có thẩm quyền và theo quy định của Chính phủ.
Câu hỏi 23: Hồ sơ cán bộ, đảng viên gồm những tài liệu gì và được quản lý như thế nào?
Trả lời:
1. Hồ sơ cán bộ là tài liệu có tính pháp lý, phản ánh đầy đủ, trung thực về nguồn gốc, quá trình trưởng thành, phẩm chất, các nhiệm vụ đã qua, năng lực, phong cách và các mối quan hệ gia đình, xã hội của cán bộ. Mỗi cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị và trong các tổ chức khác của xã hội phải có hồ sơ cá nhân đầy đủ, rõ ràng.
Cán bộ, công chức, viên chức (gọi chung là cán bộ) mới được tuyển dụng lần đầu, cơ quan tuyển dụng có trách nhiệm lập hồ sơ ban đầu (hồ sơ gốc) của cán bộ. Hồ sơ cán bộ gồm những tài liệu: lý lịch cán bộ, sơ yếu lý lịch, bổ sung lý lịch, phiếu cán bộ, các nghị quyết, quyết định về nhân sự (tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm, điều động, xếp lương, khen thưởng, kỷ luật; các bản tự kiểm điểm, nhận xét cán bộ...). Tất cả phải làm theo mẫu do Ban Tổ chức Trung ương ban hành và hướng dẫn thực hiện.
Hồ sơ cán bộ phải được bổ sung thường xuyên để phản ánh kịp thời những thay đổi về bản thân, gia đình cán bộ. Các cơ quan sử dụng cán bộ sau đó tiếp tục bổ sung, lưu giữ hồ sơ của cán bộ và bàn giao cho cơ quan khác khi cán bộ chuyển công tác đến cơ quan, đơn vị khác hoặc được đề bạt lên cấp bậc cao hơn.
Quản lý hồ sơ cán bộ là nhiệm vụ quan trọng của công tác cán bộ. Thủ trưởng cơ quan, đơn vị có trách nhiệm tổ chức, chỉ đạo việc quản lý hồ sơ cán bộ của đơn vị mình và theo sự phân công, phân cấp về quản lý cán bộ của cơ quan có thẩm quyền cấp trên. Tổ chức và người được giao làm công tác cán bộ giúp thủ trưởng cơ quan, đơn vị quản lý hồ sơ cán bộ theo sự hướng dẫn của cấp trên về nghiệp vụ quản lý hồ sơ cán bộ.
2. Hồ sơ đảng viên là tài liệu về người đảng viên, phản ánh đầy đủ, rõ ràng hoàn cảnh xuất thân, quá trình trưởng thành, những ưu điểm, khuyết điểm chính, mặt mạnh, mặt yếu, phẩm chất đạo đức, năng lực công tác, sở trường hoạt động, quan hệ gia đình, xã hội, triển vọng phấn đấu của từng đảng viên.
Hồ sơ đảng viên gồm các tài liệu về đảng viên khi được kết nạp vào Đảng và khi được công nhận đảng viên chính thức; lý lịch đảng viên, sơ yếu lý lịch, những điểm bổ sung và những văn bản xác nhận (khi có những thay đổi về nghề nghiệp, công tác, trình độ học vấn, khen thưởng, kỷ luật, tài sản, hoàn cảnh gia đình và những người thân trong gia đình), phiếu đảng viên; những văn bản của tổ chức đảng có thẩm quyền về đảng tịch của đảng viên; các giấy giới thiệu chuyển sinh hoạt đảng và những tài liệu tham khảo cần thiết (nếu có). Các tài liệu trong hồ sơ đảng viên được ghi vào bản mục lục tài liệu theo trình tự các sự kiện và thời gian. Hồ sơ đảng viên do các cấp ủy nơi đảng viên sinh hoạt chính thức quản lý, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý.
Hồ sơ đảng viên gồm những tài liệu quan trọng liên quan đến sinh mệnh chính trị của đảng viên. Đảng viên có trách nhiệm trực tiếp trong việc xây dựng và quản lý hồ sơ đảng viên của mình: Tự khai lý lịch, phiếu đảng viên của mình đầy đủ, rõ ràng, chính xác, trung thực; định kỳ hàng năm hoặc khi chuyển sinh hoạt đảng chính thức phải ghi đầy đủ những thay đổi của mình vào phiếu bổ sung hồ sơ đảng viên, báo cáo với chi bộ; bảo quản, giữ gìn cẩn thận hồ sơ chuyển sinh hoạt đảng, không làm hư hỏng...
Các cấp ủy đảng phải tổ chức tốt việc quản lý hồ sơ đảng viên theo các nguyên tắc, nội dung, quy trình, thủ tục được quy định chặt chẽ: đảng ủy cơ sở quản lý hồ sơ đảng viên và danh sách đảng viên; cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng quản lý phiếu đảng viên và danh sách đảng viên của các đảng bộ, chi bộ cơ sở trực thuộc; cấp ủy chỉ đạo, kiểm tra việc bổ sung lý lịch đảng viên và quản lý hồ sơ đảng viên theo chế độ bảo mật.
Những tài liệu trong hồ sơ đảng viên không được tẩy xoá. Trường hợp đảng viên có những yêu cầu cần bổ sung, sửa đổi một số điểm trong hồ sơ mà có đủ căn cứ pháp lý, được cấp ủy có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản thì cơ quan quản lý hồ sơ đảng viên được bổ sung, sửa chữa những điểm đó trong hồ sơ đảng viên và đóng dấu của cấp ủy vào chỗ sửa chữa.
Câu hỏi 24: Tại sao phải đặt ra vấn đề quy hoạch cán bộ và quy hoạch gồm những nội dung gì?
Trả lời:
Tất cả các lĩnh vực hoạt động trong đời sống xã hội đều cần có quy hoạch, từ đó xác định được tầm nhìn và vạch ra phương hướng phát triển trước mắt và lâu dài. Ví dụ, quy hoạch cán bộ nhằm chủ động xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo chương trình, kế hoạch của Đảng và Nhà nước.
Quy hoạch cán bộ là một khâu quan trọng trong công tác cán bộ của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Để làm nhiệm vụ xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của đất nước theo quy hoạch, kế hoạch, đòi hỏi các cấp, các ngành phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch cán bộ, công chức đồng bộ, phù hợp.
Vấn đề quy hoạch cán bộ từng bước phát triển thành một chủ trương công tác của các tổ chức trong hệ thống chính trị, nhằm chuẩn bị đội ngũ cán bộ một cách chủ động, có kế hoạch, bảo đảm về số lượng, chất lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ của từng ngành, từng địa phương và cơ sở, cả trước mắt và lâu dài; khắc phục tình trạng bố trí, sử dụng cán bộ một cách thiếu kế hoạch, bị động, chắp vá, không đồng bộ, kém hiệu quả.
Các cơ quan làm công tác quy hoạch cán bộ phải xuất phát từ yêu cầu nhiệm vụ và từ tình hình tổ chức bộ máy của cả nước, của ngành, địa phương, cơ sở trong từng thời kỳ đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức đương chức hiện có và nguồn cán bộ có thể được bổ sung; dự kiến nhu cầu về đội ngũ cán bộ trong thời gian trước mắt và lâu dài để chủ động có kế hoạch lựa chọn cán bộ đưa vào quy hoạch và tiến hành đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có đủ tiêu chuẩn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị từng thời kỳ.
Trong quy hoạch cán bộ, phải chú trọng quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng, Nhà nước, các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp; sĩ quan lực lượng vũ trang, cán bộ khoa học và chuyên gia, cán bộ quản lý kinh doanh; cần có quy hoạch cán bộ ngắn hạn từng nhiệm kỳ năm năm và quy hoạch cán bộ dài hạn vài ba nhiệm kỳ năm năm, được điều chỉnh, bổ sung hằng năm qua việc đánh giá hiệu quả công việc của cán bộ đương chức và cán bộ được lựa chọn để xây dựng nguồn dự bị trong quy hoạch.
Trong quy hoạch cán bộ ngắn hạn, phải chú trọng lựa chọn đưa vào quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng những cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý, công chức nỗ lực phấn đấu trong công tác và học tập, hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, có độ tuổi trẻ và có triển vọng.
Trong quy hoạch cán bộ dài hạn, phải tạo nguồn cán bộ từ những người là công nhân, nông dân, trí thức, quân nhân, đoàn viên ưu tú của Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, cán bộ dân tộc thiểu số, cán bộ nữ, con em gia đình có công với cách mạng có triển vọng, có thành tích trong lao động, công tác; sinh viên có đạo đức tốt và có thành tích xuất sắc trong học tập, nghiên cứu khoa học và tham gia hoạt động xã hội.
Cần đổi mới phương pháp làm quy hoạch cán bộ, khắc phục cách làm hình thức, kém hiệu quả. Nói chung, nên lựa chọn một số cán bộ có đủ tiêu chuẩn và điều kiện dự bị cho một chức danh; đồng thời một cán bộ có đủ tiêu chuẩn và điều kiện có thể được quy hoạch dự bị cho một số chức danh nhất định. Phải kết hợp chặt chẽ giữa quy hoạch với đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ, với việc luân chuyển để đào tạo cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành.
Các cơ quan lãnh đạo và quản lý cán bộ lãnh đạo chủ chốt ở các cấp, các ngành có trách nhiệm trực tiếp làm quy hoạch cán bộ một cách dân chủ, khách quan, có sự giúp đỡ của cơ quan tham mưu, coi trọng việc lấy ý kiến tiến cử của nhân dân.
Câu hỏi 25: Quy chế bầu cử trong Đảng gồm những nội dung gì?
Trả lời:
Quy chế bầu cử trong Đảng là những quy định của Đảng về việc chuẩn bị và tiến hành bầu cử các cơ quan và các chức vụ lãnh đạo của Đảng, áp dụng cho các cấp từ cơ sở đến huyện, tỉnh và cấp tương đương, được ban hành kèm theo Quyết định số 77-QĐ/TW ngày 22-6-2000 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VIII.
Nội dung của Quy chế bầu cử trong Đảng gồm những vấn đề chủ yếu sau:
1. Về cách thức bầu cử:
a) Bầu cử bằng cách bỏ phiếu kín, được áp dụng trong các trường hợp bầu cấp ủy, bầu ban thường vụ cấp ủy, bầu bí thư, phó bí thư, bầu chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và các thành viên ủy ban kiểm tra của cấp ủy, bầu đại biểu dự đại hội đại biểu đảng bộ cấp trên.
b) Bầu cử bằng cách biểu quyết giơ tay, được áp dụng khi bầu những thành viên đoàn chủ tịch, đoàn thư ký, ban thẩm tra tư cách đại biểu, ban kiểm phiếu bầu cử...
2. Về thực hiện các quyền của đảng viên và đại biểu đại hội đảng bộ các cấp khi ứng cử, đề cử, bầu cử.
3. Về thủ tục bầu cử: Lập danh sách bầu cử (với số lượng người trong danh sách bầu nhiều hơn số lượng cần bầu sau khi đã thảo luận, biểu quyết thông qua danh sách những người ứng cử, đề cử, cho rút); hướng dẫn bầu cử, quy định về phiếu bầu hợp lệ và không hợp lệ (phiếu hợp lệ là phiếu do ban kiểm phiếu phát ra, phiếu bầu đủ hoặc thiếu so với số lượng cần bầu, không đánh dấu và dùng nhiều loại mực, không ký tên, viết thêm).
4. Về lập ban kiểm phiếu.
5. Về cách tính kết quả bầu cử: Người trúng cử phải đạt số phiếu bầu quá một nửa so với tổng số thành viên trong tổ chức (tổng số cấp ủy viên được bầu, tổng số đảng viên hoặc đại biểu được triệu tập đến đại hội, hội nghị, trừ số bị bác tư cách hoặc vắng mặt có lý do chính đáng suốt thời gian đại hội, hội nghị...). Nếu ở cuối danh sách trúng cử có nhiều người ngang phiếu nhau và nhiều hơn số lượng cần bầu thì bầu lại số người ngang phiếu, lấy người đạt số phiếu cao hơn, không cần có số phiếu quá một nửa.
6. Về lập biên bản bầu cử và báo cáo danh sách những người trúng cử lên cấp ủy cấp trên để được chuẩn y.
7. Về xử lý các sai phạm.
Câu hỏi 26: Quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử gồm những nội dung gì?
Trả lời:
Bộ Chính trị khoá X đã ban hành quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử (kèm theo Quyết định số 68-QĐ/TW ngày 04-7-2008).
Quy chế bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử gồm một số nội dung có tính nguyên tắc như sau:
1. Nguyên tắc bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử.
a. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ.
b. Cấp uỷ, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo cơ quan có thẩm quyền xem xét, quyết định một cách dân chủ trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm và quyền hạn của từng thành viên, nhất là của người đứng đầu cơ quan, đơn vị.
c. Phải xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, đơn vị; phải căn cứ vào phẩm chất, đạo đức, năng lực và sở trường của cán bộ.
d. Đảm bảo sự ổn định, kế thừa và phát triển của đội ngũ cán bộ, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của cơ quan, đơn vị.
2. Trách nhiệm, thẩm quyền bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử.
Trong phạm vi thẩm quyền theo quy định phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị:
a. Người đứng đầu, các thành viên cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị đề xuất nhân sự và nhận xét, đánh giá cán bộ được đề xuất. Nếu người được giới thiệu là cán bộ công tác trong cơ quan, đơn vị thì nói chung phải được quy hoạch vào chức danh bổ nhiệm.
b. Tập thể cấp uỷ, tổ chức đảng, lãnh đạo cơ quan, đơn vị thảo luận, nhận xét, đánh giá cán bộ, quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
c. Cá nhân, tập thể đề nghị bổ nhiệm phải chịu trách nhiệm về đề nghị của mình.
d. Trường hợp người đứng đầu cơ quan, đơn vị và tập thể lãnh đạo có ý kiến khác nhau thì cần báo cáo đầy đủ lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Trường hợp tập thể lãnh đạo giới thiệu 02 người có số phiếu ngang nhau thì chọn nhân sự do người đứng đầu giới thiệu để quyết định bổ nhiệm hoặc trình cấp có thẩm quyền bổ nhiệm.
3. Quy trình, thủ tục bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử.
Quy trình, thủ tục bổ nhiệm phải thực hiện theo đúng Điều lệ Đảng, pháp luật của Nhà nước, điều lệ của các tổ chức chính trị - xã hội và Quy chế này.
4. Thời hạn giữ chức vụ
- Thời hạn mỗi nhiệm kỳ bổ nhiệm chức vụ là 05 năm đối với cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý cấp trưởng, cấp phó ở cơ quan, đơn vị trong bộ máy tổ chức đảng, nhà nước, đoàn thể, các đơn vị sự nghiệp; thành viên hội đồng quản trị, tổng giám đốc, phó tổng giám đốc, giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng... các doanh nghiệp nhà nước.
- Thời hạn dưới 05 năm mỗi nhiệm kỳ bổ nhiệm áp dụng đối với một số chức vụ đặc thù theo quy định riêng.
- Thời hạn giữ chức vụ bầu cử căn cứ vào nhiệm kỳ đại hội của tổ chức đó.
5. Điều kiện bổ nhiệm cán bộ và giới thiệu cán bộ ứng cử.
a. Bảo đảm tiêu chuẩn chung của cán bộ quy định tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương (khoá VIII) và tiêu chuẩn cụ thể của chức danh bổ nhiệm.
b. Có hồ sơ, lý lịch cá nhân đầy đủ, rõ ràng, được cơ quan chức năng có thẩm quyền xác minh.
c. Tuổi bổ nhiệm: Cán bộ các cơ quan trong hệ thống chính trị được đề nghị bổ nhiệm vào vị trí lãnh đạo, quản lý lần đầu nói chung cần đủ tuổi để công tác được trọn một nhiệm kỳ.
d. Có đủ sức khoẻ để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
đ. Cán bộ bị kỷ luật từ khiển trách trở lên thì không được bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời gian ít nhất 1 năm kể từ khi có quyết định kỷ luật.
e. Khi cần thiết, cơ quan có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm gặp, trao đổi ý kiến hoặc uỷ quyền cho cơ quan tham mưu về tổ chức cán bộ gặp, trao đổi ý kiến với nhân sự trước khi quyết định.
6. Trình tự, thủ tục bổ nhiệm cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý.
Căn cứ nhu cầu công tác, ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo các ban và cơ quan trực thuộc Trung ương, ban thường vụ hoặc ban chấp hành đảng bộ các tỉnh, thành phố, các đảng uỷ trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là tập thể lãnh đạo) thực hiện các bước sau:
Trình cơ quan cấp trên có thẩm quyền (bằng văn bản) về chủ trương, số lượng và dự kiến phân công công tác đối với cán bộ được đề nghị bổ nhiệm hoặc giới thiệu ứng cử.
Đề xuất nhân sự cụ thể sau khi được cấp trên đồng ý về chủ trương:
a. Đối với nguồn nhân sự tại chỗ.
+ Trên cơ sở nguồn cán bộ trong quy hoạch và nhận xét, đánh giá cán bộ, người đứng đầu, các thành viên lãnh đạo cơ quan, đơn vị và cơ quan tham mưu đề xuất phương án nhân sự.
+ Tập thể lãnh đạo thảo luận, lựa chọn nhân sự và thông qua nhận xét, đánh giá để lấy ý kiến của cán bộ trong cơ quan, đơn vị. Nhu cầu bổ nhiệm một người có thể lựa chọn một người hoặc nhiều người.
+ Tổ chức lấy ý kiến của cán bộ chủ chốt về nhân sự:
- Thành phần tham gia lấy ý kiến:
+ Ở Trung ương là tập thể ban cán sự đảng, đảng đoàn, lãnh đạo bộ, ban, ngành, vụ trưởng, phó vụ trưởng và tương đương, trưởng các đơn vị trực thuộc thường vụ đảng uỷ, trưởng các đoàn thể ở cơ quan bộ, ban, ngành. Ngoài ra, có thể lấy thêm ý kiến của giám đốc sở và tương đương, nhưng khi tổng hợp thì tách riêng.
+ Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là các đồng chí trong ban chấp hành đảng bộ, chủ tịch, phó chủ tịch hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh, trưởng các ban, ngành, đoàn thể cấp tỉnh, bí thư các đảng bộ trực thuộc, chủ tịch hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân các huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.
- Trình tự lấy ý kiến:
+ Trao đổi, thảo luận về yêu cầu bổ nhiệm, tiêu chuẩn cán bộ.
+ Thông báo danh sách cán bộ do tập thể lãnh đạo giới thiệu; tóm tắt lý lịch, quá trình học tập, công tác; nhận xét, đánh giá ưu, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu, triển vọng phát triển; dự kiến phân công công tác.
+ Giới thiệu bổ sung (ngoài danh sách nhân sự do tập thể lãnh đạo giới thiệu).
+ Ghi phiếu lấy ý kiến (không phải ký tên).
- Kết quả phiếu tín nhiệm có giá trị tham khảo quan trọng, là một trong những căn cứ để xem xét, nhưng không phải là căn cứ duy nhất và chủ yếu để quyết định.
- Người đứng đầu cùng với tập thể lãnh đạo:
- Phân tích kết quả tổng hợp phiếu lấy ý kiến.
- Xác minh, kết luận những vấn đề mới nảy sinh (nếu có).
- Lấy ý kiến bằng văn bản của ban thường vụ đảng uỷ hoặc đảng uỷ cơ quan (những nơi không có ban thường vụ) về nhân sự được đề nghị bổ nhiệm.
- Tập thể lãnh đạo thảo luận, nhận xét, đánh giá và biểu quyết nhân sự (bằng phiếu kín). Nhân sự được đề nghị bổ nhiệm phải được đa số các thành viên trong tập thể lãnh đạo tán thành.
- Làm tờ trình đề nghị cấp trên bổ nhiệm:
Trường hợp người đứng đầu cơ quan, đơn vị và tập thể lãnh đạo có ý kiến khác nhau thì cần báo cáo đầy đủ lên Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định.
Trường hợp tập thể lãnh đạo giới thiệu 02 người có số phiếu ngang nhau thì chọn nhân sự do người đứng đầu giới thiệu để trình, đồng thời báo cáo đầy đủ các ý kiến khác nhau để Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định.
b. Đối với nguồn nhân sự từ nơi khác.
+ Người đứng đầu, các thành viên lãnh đạo cơ quan, đơn vị đề xuất nhân sự hoặc cơ quan tham mưu của Trung ương Đảng giới thiệu.
+ Tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị thảo luận, thống nhất về chủ trương và chỉ đạo tiến hành một số công việc sau:
- Gặp cán bộ được đề nghị bổ nhiệm để trao đổi ý kiến về yêu cầu nhiệm vụ công tác.
- Trao đổi ý kiến với tập thể lãnh đạo và thường vụ đảng uỷ cơ quan nơi cán bộ đang công tác về chủ trương điều động; lấy nhận xét, đánh giá của tập thể lãnh đạo và thường vụ cấp uỷ đối với nhân sự; xác minh lý lịch của cán bộ.
- Thảo luận, nhận xét, đánh giá và biểu quyết nhân sự (bằng phiếu kín).
Trường hợp cơ quan cấp trên có dự kiến điều động, bổ nhiệm cán bộ từ nguồn nhân sự ngoài cơ quan, đơn vị thì trao đổi ý kiến với tập thể lãnh đạo của cơ quan tiếp nhận cán bộ về dự kiến điều động (nếu cơ quan đó không chủ động đề nghị).
+ Làm tờ trình đề nghị cấp trên bổ nhiệm:
Trường hợp cán bộ đảm bảo được tiêu chuẩn bổ nhiệm nhưng chưa được cơ quan nơi cán bộ đang công tác nhất trí điều động thì cơ quan có yêu cầu bổ nhiệm hoặc cơ quan tham mưu về công tác cán bộ vẫn có thể báo cáo đề nghị Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định.
Luật cán bộ, công chức ban hành năm 2008 quy định việc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý.
1. Việc bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý phải căn cứ vào:
+ Nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
+ Tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý.
Thẩm quyền, trình tự, thủ tục bổ nhiệm công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
2. Thời hạn bổ nhiệm công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là 05 năm; khi hết thời hạn, cơ quan, tổ chức, đơn vị có thẩm quyền phải xem xét bổ nhiệm lại hoặc không bổ nhiệm lại.
3. Công chức được điều động đến cơ quan, tổ chức, đơn vị khác hoặc được bổ nhiệm chức vụ lãnh đạo, quản lý mới thì đương nhiên thôi giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đang đảm nhiệm, trừ trường hợp kiêm nhiệm.
Câu hỏi 27: Việc phân cấp giới thiệu cán bộ để bầu hoặc bổ nhiệm vào cơ quan nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định việc phân cấp giới thiệu cán bộ như sau (Quy định số 23-QĐ/TW):
a) Ở Trung ương:
- Ban Chấp hành Trung ương giới thiệu ba chức danh: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ để Quốc hội bầu; tham gia ý kiến về nhân sự Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc, Chủ nhiệm các uỷ ban của Quốc hội và các thành viên Chính phủ.
- Bộ Chính trị giới thiệu các chức danh thuộc diện Bộ Chính trị quản lý để Chính phủ trình Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu.
- Ban Bí thư giới thiệu các chức danh thuộc diện Ban Bí thư quản lý để Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm; Quốc hội, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu.
b) Ở địa phương:
- Ban Chấp hành đảng bộ các cấp giới thiệu chức danh chủ tịch Hội đồng nhân dân, chủ tịch Uỷ ban nhân dân để hội đồng nhân dân bầu; tham gia ý kiến về nhân sự phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân trước khi ban thường vụ cấp uỷ quyết định giới thiệu để hội đồng nhân dân bầu.
- Ban thường vụ cấp uỷ các cấp giới thiệu các chức danh thuộc diện ban thường vụ quản lý để uỷ ban nhân dân các cấp xem xét, bổ nhiệm, hội đồng nhân dân, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội bầu.
Câu hỏi 28: Thực hiện bổ nhiệm lại cán bộ, công chức như thế nào?
Trả lời:
Thời hạn mỗi lần bổ nhiệm cán bộ, công chức là năm năm. Hết thời hạn trên, cơ quan có thẩm quyền xem xét quyết định bổ nhiệm lại cán bộ lãnh đạo, quản lý theo quy chế bổ nhiệm lại cán bộ, công chức.
Việc bổ nhiệm lại được thực hiện theo Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 68-QĐ/TW ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X.
Để làm tốt việc bổ nhiệm lại cán bộ, cần chú ý những vấn đề sau đây:
1. Yêu cầu đối với việc bổ nhiệm lại.
+ Khi hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm theo quy định, phải xem xét có hay không bổ nhiệm lại hoặc giới thiệu tái ứng cử.
Những cán bộ sau khi được bổ nhiệm vì những lý do cụ thể, như: Sức khoẻ không đảm bảo, không phù hợp với điều kiện làm việc, sinh hoạt, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước... thì các cơ quan tham mưu đề xuất và cấp lãnh đạo có thẩm quyền cần xem xét, thay thế kịp thời, không chờ hết thời hạn giữ chức vụ bổ nhiệm.
+ Việc bổ nhiệm lại hoặc giới thiệu tái ứng cử được tiến hành từng bước, phù hợp quy định của Điều lệ Đảng, luật pháp của Nhà nước, điều lệ của các đoàn thể chính trị - xã hội và yêu cầu của từng lĩnh vực, từng ban, bộ, ngành, địa phương, bảo đảm ổn định và hiệu quả thiết thực.
2. Điều kiện bổ nhiệm lại.
+ Hoàn thành nhiệm vụ trong thời hạn giữ chức vụ và vẫn đủ tiêu chuẩn, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong thời gian tới.
+ Cơ quan, đơn vị có yêu cầu.
+ Đủ sức khoẻ để tiếp tục đảm nhiệm chức vụ cũ.
3. Thẩm quyền quyết định bổ nhiệm lại.
+ Cấp nào ra quyết định bổ nhiệm cán bộ thì cấp đó thực hiện việc bổ nhiệm lại.
+ Bộ Chính trị, Ban Bí thư uỷ quyền cho các đồng chí Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội xem xét, bổ nhiệm lại đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp quyết định trong phạm vi phụ trách.
Những trường hợp cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý không bổ nhiệm lại, phải báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư xem xét, quyết định.
Ban Tổ chức Trung ương và các ban liên quan của Trung ương Đảng tham mưu, kịp thời phát hiện và đề xuất với cơ quan có thẩm quyền các trường hợp cần thay thế, miễn nhiệm và các trường hợp không nên bổ nhiệm lại.
+ Những cán bộ tính đến tuổi nghỉ hưu không còn đủ một nhiệm kỳ bổ nhiệm lại, nếu vẫn đáp ứng yêu cầu công việc thì có thể tiếp tục giữ chức vụ cho đến tuổi nghỉ hưu.
+ Cán bộ không được bổ nhiệm lại sẽ được bố trí công tác khác.
4. Thủ tục bổ nhiệm lại.
+ Cán bộ làm báo cáo tự nhận xét, đánh giá việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ trong thời hạn giữ chức vụ.
+ Tập thể cán bộ, công chức trong đơn vị tham gia ý kiến bằng phiếu kín.
+ Cán bộ đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng cán bộ nhận xét, đánh giá và đề xuất ý kiến có bổ nhiệm lại hay không. Tập thể lãnh đạo xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ.
Câu hỏi 29: Việc tuyển dụng cán bộ, công chức được thực hiện như thế nào? Quy chế tuyển dụng cán bộ, công chức gồm những nội dung gì?
Trả lời:
Quy chế tuyển dụng cán bộ, công chức nêu lên những quy định về nguyên tắc, điều kiện, thủ tục, cách tuyển dụng cán bộ, công chức vào làm việc trong các tổ chức thuộc hệ thống chính trị và các tổ chức khác.
Các cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng cán bộ, công chức phải căn cứ vào số lượng biên chế được giao, chức danh, tiêu chuẩn cán bộ, công chức cần tuyển dụng để lập kế hoạch và tiến hành việc tuyển dụng một cách dân chủ, công khai, khách quan, công bằng.
Luật cán bộ, công chức quy định rõ điều kiện, nguyên tắc, cách thức, thẩm quyền tuyển dụng cán bộ, công chức.
1. Căn cứ tuyển dụng công chức:
Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế.
2. Điều kiện đăng ký dự tuyển công chức:
a. Người có đủ các điều kiện sau đây không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo được đăng ký dự tuyển công chức:
+ Có một quốc tịch là quốc tịch Việt Nam;
+ Đủ 18 tuổi trở lên;
+ Có đơn dự tuyển; có lý lịch rõ ràng;
+ Có văn bằng, chứng chỉ phù hợp;
+ Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt;
+ Đủ sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ;
+ Các điều kiện khác theo yêu cầu của vị trí dự tuyển.
b. Những người sau đây không được đăng ký dự tuyển công chức:
+ Không cư trú tại Việt Nam;
+ Mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
+ Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; đang chấp hành hoặc đã chấp hành xong bản án, quyết định về hình sự của Toà án mà chưa được xoá án tích; đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục.
3. Phương thức tuyển dụng công chức:
+ Việc tuyển dụng công chức được thực hiện thông qua thi tuyển, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 37 của Luật cán bộ, công chức. Hình thức, nội dung thi tuyển công chức phải phù hợp với ngành, nghề, bảo đảm lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng.
+ Người có đủ điều kiện nêu trên cam kết tình nguyện làm việc từ 05 năm trở lên ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn thì được tuyển dụng thông qua xét tuyển.
+ Chính phủ quy định cụ thể việc thi tuyển, xét tuyển công chức.
4. Nguyên tắc tuyển dụng công chức:
+ Bảo đảm công khai, minh bạch, khách quan và đúng pháp luật.
+ Bảo đảm tính cạnh tranh.
+ Tuyển chọn đúng người đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và vị trí việc làm.
+ Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số.
Các chế độ ưu tiên trong tuyển dụng: Nếu tuyển vào làm công chức dự bị và công tác nói chung ở các cơ quan nhà nước, được cộng thêm điểm khi thi tuyển với thứ tự ưu tiên các đối tượng sau: anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động, thương binh; con liệt sĩ, con thương binh, con bệnh binh, có học vị tiến sĩ với chuyên ngành đào tạo phù hợp yêu cầu tuyển dụng; có học vị thạc sĩ với chuyên ngành đào tạo phù hợp yêu cầu tuyển dụng, tốt nghiệp loại giỏi và xuất sắc ở các ngành nghề đào tạo phù hợp với yêu cầu tuyển dụng; hoàn thành nghĩa vụ quân sự, thanh niên xung phong, thanh niên tình nguyện phục vụ ở nông thôn, miền núi từ hai năm trở lên đã hoàn thành nhiệm vụ. Được ưu tiên khi xét tuyển người dân tộc thiểu số, người cư trú tại nơi tự nguyện làm việc và các trường hợp đã nêu theo thứ tự ở phần trên... Vào các đơn vị sự nghiệp nhà nước, tương tự như các trường hợp đã nêu theo thứ tự ưu tiên ở phần trên.
5. Cơ quan thực hiện tuyển dụng công chức:
+ Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Kiểm toán Nhà nước thực hiện tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý.
+ Văn phòng Quốc hội, Văn phòng Chủ tịch nước thực hiện tuyển dụng công chức trong cơ quan, đơn vị thuộc quyền quản lý.
+ Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý.
+ Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý.
+ Cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội tuyển dụng và phân cấp tuyển dụng công chức trong cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc quyền quản lý.
6. Tập sự, thử việc đối với công chức:
Người được tuyển dụng vào công chức phải thực hiện chế độ tập sự theo quy định của Chính phủ.
Chế độ tập sự, hợp đồng làm việc, thử việc sau tuyển dụng: Người được trúng tuyển vào làm công chức dự bị phải thực hiện chế độ công chức dự bị là 24 tháng. Người được tuyển dụng vào làm việc ở các cơ quan nhà nước phải qua thời kỳ tập sự:
12 tháng đối với ngạch chuyên viên; 6 tháng đối với ngạch cán sự; 3 tháng đối với ngạch nhân viên. Người được tuyển dụng vào làm việc ở các đơn vị sự nghiệp nhà nước phải thực hiện các chế độ: hợp đồng làm việc có thời hạn từ 12 đến 36 tháng và không có thời hạn (nếu đã thực hiện hợp đồng có thời hạn đạt yêu cầu); hợp đồng làm việc đặc biệt (ở các ngành nghề đặc biệt).
Chế độ thử việc:
Đối với người đã thực hiện chế độ hợp đồng lần đầu thì phần thử việc là 12 tháng đối với người vào làm việc ở ngạch có yêu cầu chuẩn về trình độ được đào tạo là đại học (riêng bác sĩ là chín tháng), là sáu tháng đối với người vào làm việc ở ngạch có yêu cầu chuẩn về trình độ được đào tạo là giáo dục chuyên nghiệp, là ba tháng đối với người vào làm việc ở ngạch có yêu cầu chuẩn về trình độ được đào tạo dưới giáo dục chuyên nghiệp. Những người được tuyển dụng nêu trên đã có thời gian thực hiện các chế độ công chức dự bị, tập sự, hợp đồng làm việc, thử việc... thì được nhận xét, đánh giá và nếu đạt yêu cầu về tiêu chuẩn thì được bổ nhiệm vào ngạch công chức, bố trí, phân công công tác và được hưởng các chế độ, chính sách theo quy định của Nhà nước.
Câu hỏi 30: Việc đánh giá cán bộ, công chức có tầm quan trọng như thế nào? Quy chế đánh giá cán bộ, công chức có những nội dung gì?
Trả lời:
Quy chế đánh giá cán bộ, công chức là những quy định có tính pháp lý về đánh giá cán bộ, công chức, do các cơ quan có thẩm quyền (Trung ương Đảng, Chính phủ...) ban hành, được áp dụng trong những cơ quan, tổ chức thuộc hệ thống chính trị và các tổ chức khác ở nước ta.
Đánh giá cán bộ, công chức là một trong các nội dung quan trọng của công tác quản lý cán bộ, công chức; là căn cứ tuyển chọn, xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, miễn nhiệm, luân chuyển, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện các chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức.
Quy chế nêu lên các quy định về yêu cầu, nội dung, thẩm quyền và phương pháp nhận xét, đánh giá cán bộ, công chức. Yêu cầu, nội dung của việc đánh giá cán bộ, công chức là phải làm rõ ưu điểm, khuyết điểm, mặt mạnh, mặt yếu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, trình độ kiến thức, năng lực và hiệu quả công tác, chiều hướng phát triển của cán bộ, công chức; phải bảo đảm tính khách quan, toàn diện, tính lịch sử, cụ thể; phải trên cơ sở thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, thảo luận dân chủ, kết luận theo đa số và công khai.
Thẩm quyền và trách nhiệm đánh giá cán bộ công chức được quy định: trước hết là bản thân cán bộ, công chức (tự đánh giá bằng văn bản); tiếp đến là người đứng đầu cơ quan, tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng cán bộ, công chức; cấp ủy, tổ chức đảng nơi cán bộ, công chức sinh hoạt, công tác; cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp trên trực tiếp của cán bộ, công chức.
Việc đánh giá cán bộ, công chức được tiến hành hàng năm ở các đơn vị cơ sở đối với cán bộ, công chức làm việc ở cấp cơ sở. Việc đánh giá cán bộ lãnh đạo và quản lý ở các cấp được tiến hành trước khi kết thúc nhiệm kỳ công tác, khi cần bổ nhiệm lại, hoặc bổ nhiệm lần đầu những chức vụ còn thiếu; hoặc khi cần giới thiệu người vào danh sách bầu cử các chức vụ do bầu cử (cấp ủy viên các cấp ủy đảng, đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, ủy viên ban chấp hành các đoàn thể...).
Câu hỏi 31: Việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức được tiến hành như thế nào? Cơ quan sử dụng và từng cán bộ, công chức có trách nhiệm gì trong việc này?
Trả lời:
Công tác đào tạo cán bộ, công chức được tiến hành theo tinh thần nghị quyết Hội nghị Trung ương ba khóa VIII về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước. Quy chế đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nêu rõ một số vấn đề chủ yếu sau:
1. Mục tiêu và nội dung đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Trang bị các kiến thức về lý luận chính trị, pháp luật, các kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước, chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ và các kiến thức bổ trợ khác.
2. Trách nhiệm, quyền lợi của cán bộ, công chức trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng: Cán bộ, công chức phải thường xuyên học tập nâng cao trình độ lý luận, kiến thức, kỹ năng hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và kiến thức bổ trợ khác theo quy định. Cán bộ, công chức đang giữ chức vụ, hoặc thuộc ngạch, chức danh nào phải được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng các tiêu chuẩn trình độ kiến thức quy định cho chức vụ và ngạch, chức danh đó. Cán bộ, công chức được cử đi đào tạo, bồi dưỡng được hưởng lương và các chế độ khác theo quy định; được bố trí thời gian và cấp kinh phí hoặc được hỗ trợ về thời gian và kinh phí theo quy định. Cán bộ, công chức sau khi được đào tạo, bồi dưỡng mà tự ý bỏ việc hoặc chuyển công tác khỏi khu vực nhà nước vì lý do cá nhân thì phải bồi thường chi phí đào tạo, bồi dưỡng theo quy định.
3. Tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng: Các hình thức cơ bản về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức là tập trung, bán tập trung và tại chức.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và Bộ Nội vụ (Học viện Hành chính quốc gia) tổ chức đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thuộc các ngành từ chuyên viên chính trở lên và đại biểu hội đồng nhân dân cấp tỉnh; tổ chức đào tạo, bồi dưỡng tạo nguồn và cập nhật kiến thức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý cấp huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, cán bộ cấp vụ, sở, ban, ngành trở lên và một số đối tượng khác.
Trường chính trị tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức bồi dưỡng cán bộ, công chức các ngạch cán sự, chuyên viên; cán bộ, công chức cấp xã, phường, thị trấn; đại biểu hội đồng nhân dân cấp huyện; tổ chức bồi dưỡng tạo nguồn và kỹ năng quản lý cho cán bộ cấp phòng ở địa phương.
Trường, trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở các bộ, ngành tổ chức việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức các ngạch cán sự, chuyên viên; bồi dưỡng nâng cao, cập nhật kiến thức chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng quản lý chuyên ngành cho cán bộ cấp phòng, vụ, sở, ban, ngành và tương đương, các chức danh chuyên môn cấp xã, phường, thị trấn theo chuyên môn ngành dọc và một số đối tượng khác theo yêu cầu.
Bộ Nội vụ phối hợp với Ban Tổ chức Trung ương Đảng và các cơ quan hữu quan quy định cấu trúc nội dung chương trình, tiêu chuẩn giảng viên; là đầu mối phối hợp với các cơ quan hữu quan giúp Chính phủ quản lý và thực hiện quy chế này theo thẩm quyền trong phạm vi cả nước.
Câu hỏi 32: Cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý thực hiện việc từ chức như thế nào?
Trả lời:
Theo Quyết định số 68-QĐ/TW ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X, việc từ chức của cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý được thực hiện như sau:
1- Trong thời gian giữ chức vụ, nếu cán bộ tự xét thấy không đủ điều kiện để hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao hoặc có nguyện vọng xin từ chức vì các lý do khác thì làm đơn báo cáo lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét.
2- Lãnh đạo cơ quan, đơn vị trực tiếp sử dụng cán bộ xem xét, quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định.
3- Cán bộ sau khi từ chức được bố trí công tác khác.
Luật cán bộ, công chức quy định:
1. Cán bộ có thể xin thôi làm nhiệm vụ hoặc từ chức, miễn nhiệm trong các trường hợp sau đây:
+ Không đủ sức khoẻ;
+ Không đủ năng lực, uy tín;
+ Theo yêu cầu nhiệm vụ;
+ Vì lý do khác.
2. Thẩm quyền, trình tự, thủ tục xin thôi làm nhiệm vụ, từ chức, miễn nhiệm được thực hiện theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền.
Cán bộ đang giữ chức vụ có nguyện vọng xin thôi giữ chức, cán bộ có sai phạm chưa đến mức phải kỷ luật cách chức nhưng không còn đủ uy tín, điều kiện để giữ chức vụ, cán bộ xin miễn nhiệm vì sức khoẻ, năng lực... thì cơ quan trực tiếp sử dụng cán bộ quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn nhiệm chức vụ của cán bộ và bố trí công tác khác.
Các cơ quan có trách nhiệm tham mưu về công tác cán bộ kịp thời phát hiện và đề xuất về các trường hợp cần miễn nhiệm.
Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19-2-2003 của Thủ tướng Chính phủ chỉ rõ việc cán bộ, công chức từ chức như sau: "Cán bộ, công chức lãnh đạo xin từ chức thì làm đơn gửi lãnh đạo cơ quan trực tiếp quản lý xem xét, quyết định"; "trong thời hạn một tháng kể từ khi nhận được đơn từ chức, cơ quan trực tiếp quản lý cán bộ, công chức lãnh đạo phải xem xét để quyết định hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền quyết định"; "khi đơn từ chức chưa được cấp có thẩm quyền chuẩn y thì cán bộ, công chức lãnh đạo vẫn phải tiếp tục thực hiện nhiệm vụ, chức trách được giao".
Câu hỏi 33: Cơ quan sử dụng cán bộ miễn nhiệm cán bộ, công chức trong những trường hợp nào?
Trả lời:
Quy chế bổ nhiệm cán bộ ban hành kèm theo Quyết định số 68-QĐ/TW ngày 04-7-2007 của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X nêu rõ việc miễn nhiệm cán bộ như sau: "Trong thời gian giữ chức vụ cán bộ xin từ chức, cán bộ có sai phạm chưa đến mức phải xử lý kỷ luật cách chức, nhưng không còn đủ uy tín, điều kiện để giữ chức vụ thì cơ quan trực tiếp sử dụng cán bộ quyết định hoặc đề nghị cấp có thẩm quyền quyết định miễn nhiệm chức vụ của cán bộ và bố trí công tác khác".
Theo Quyết định số 27/2003/QĐ-TTg ngày 19-2-2003 của Thủ tướng Chính phủ, việc miễn nhiệm cán bộ, công chức được thực hiện như sau: "Cán bộ, công chức lãnh đạo do nhu cầu công tác hoặc trong các trường hợp như: sức khoẻ không bảo đảm hoặc không hoàn thành nhiệm vụ, hoặc vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước nhưng chưa đến mức phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức thì cấp có thẩm quyền có thể xem xét miễn nhiệm và bố trí công tác khác, không chờ hết thời hạn bổ nhiệm".
Câu hỏi 34: Thực hiện việc bãi nhiệm đối với cán bộ, công chức là đại biểu dân cử như thế nào?
Trả lời:
Hiến pháp năm 1992 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định: "Đại biểu Quốc hội bị cử tri hoặc Quốc hội bãi nhiệm và đại biểu hội đồng nhân dân bị cử tri hoặc hội đồng nhân dân bãi nhiệm khi đại biểu đó không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân".
Về việc bãi nhiệm đại biểu Quốc hội, Luật Tổ chức Quốc hội (năm 2001) quy định như sau: "Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc đưa ra Quốc hội bãi nhiệm hoặc cử tri nơi bầu ra đại biểu bãi nhiệm đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc của cử tri nơi bầu ra đại biểu Quốc hội đó. Trong trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định".
Về việc bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2003) quy định như sau: Ở cấp tỉnh, cấp huyện, thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, ở cấp xã, Chủ tịch Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân quyết định việc đưa ra Hội đồng nhân dân hoặc cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân dựa theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp. Trong trường hợp Hội đồng nhân dân bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất 2/3 tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành.
"Trong trường hợp cử tri bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân thì việc bãi nhiệm được tiến hành theo thể thức do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định".
______________
Chú thích:
1. Lê Duẩn: Mấy vấn đề về cán bộ và về tổ chức trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1973,
tr. 28.
2. C. Mác và Ph. Ăngghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, t. 2, tr. 181.
3. Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ V của Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1982, tr. 143.
Mục II - Công tác kiểm tra, giám sát và cơ quan kiểm tra của Đảng Câu hỏi 35: Công tác kiểm tra, giám sát có vị trí và vai trò quan trọng như thế nào trong sự lãnh đạo và hoạt động của Đảng?
Trả lời:
1. Công tác kiểm tra là hoạt động có ý thức, là một tất yếu khách quan, cần thiết đối với mọi tổ chức và mọi người trong xã hội. Ý thức trách nhiệm càng cao càng phải coi trọng và làm tốt công tác kiểm tra. Nhiệm vụ càng khó khăn, nặng nề, phức tạp càng đòi hỏi phải tăng cường mạnh mẽ công tác kiểm tra.
Điều lệ Đảng quy định: "Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng". Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát. Tổ chức đảng và đảng viên chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng.
"Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng" (Điều 30).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31-10-2006): Các cấp uỷ, tổ chức đảng, chi bộ, đảng uỷ bộ phận, đảng uỷ cơ sở, cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên; uỷ ban kiểm tra, các ban đảng, văn phòng cấp uỷ vừa phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới, vừa chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng; đồng thời phải chịu sự giám sát của nhân dân. Tổ chức đảng cấp trên được quyền giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên; đảng viên không được tự ý giám sát, chỉ được tham gia giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền.
Bộ Chính trị khoá X chỉ rõ (Quyết định số 25-QĐ/TW ngày 24-11-2006): Giám sát của Đảng là việc các cấp uỷ, tổ chức đảng theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
2. Kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng, một khâu quan trọng trong việc tổ chức thực hiện; là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng, nhất là trong điều kiện Đảng lãnh đạo chính quyền, lãnh đạo toàn xã hội. Công tác kiểm tra, giám sát gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng, không những kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện đường lối, chính sách, mà kiểm tra, giám sát chính cả bản thân đường lối, chính sách đó. Chính vì vậy, Đảng ta luôn nhấn mạnh: "Lãnh đạo mà không kiểm tra, giám sát thì coi như không có lãnh đạo" và yêu cầu các cấp ủy đảng từ trung ương đến cơ sở phải "nắm chắc công tác kiểm tra, giám sát sử dụng kết quả kiểm tra vào việc chỉ đạo thực hiện các nghị quyết". Kiểm tra, giám sát là công việc của toàn Đảng và từng đảng viên, chứ không phải là nhiệm vụ riêng của ủy ban kiểm tra.
Trong sự nghiệp đổi mới, càng phải coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thực hiện nghiêm túc các chế độ kiểm tra, giám sát bảo đảm thực hiện tốt các nghị quyết của Đảng. Các cấp ủy đảng phải nắm chắc nhiệm vụ kiểm tra, tăng cường kiểm tra, giám sát và lãnh đạo các cơ quan nhà nước, các đoàn thể tự kiểm tra, bảo vệ luật pháp Nhà nước, giúp Nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả. Bên cạnh việc kiểm tra tư cách đảng viên, kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, quy chế hoạt động của các tổ chức đảng, vấn đề rất quan trọng là kiểm tra, giám sát việc thực hiện nghị quyết của Đảng, kịp thời phát hiện những nhân tố mới, biểu dương những việc làm tốt, uốn nắn những thiếu sót, lệch lạc, tổng kết kinh nghiệm để bổ sung, hoàn chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước.
3. Đổi mới công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng: Công tác kiểm tra, giám sát có vị trí cực kỳ quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng. Kiểm tra, giám sát và giữ gìn kỷ luật của Đảng là nhiệm vụ của toàn Đảng.
Nội dung kiểm tra, giám sát bao gồm việc kiểm tra, giám sát chấp hành đường lối, chính sách và nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng, giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng của đảng viên. Thông qua kiểm tra, giám sát mà phát huy ưu điểm, phát hiện nhân tố mới, khắc phục khuyết điểm, bổ sung phát triển hoặc điều chỉnh chủ trương, chính sách, xử lý vi phạm.
Các tổ chức Đảng, trước hết là các cấp ủy đảng, Bộ Chính trị và các ban thường vụ cấp ủy, cần tự mình tiến hành kiểm tra và sử dụng các ban để tổ chức thường xuyên việc kiểm tra.
Công tác kiểm tra kỷ luật phải có chương trình, có kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm; phải kết hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Nhà nước, thanh tra nhân dân để có kết luận rõ ràng và có chủ trương xử lý đúng đắn, nhất là đối với những đảng viên vi phạm pháp luật.
Củng cố, kiện toàn bộ máy kiểm tra các cấp, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ kiểm tra về đường lối, quan điểm, pháp luật, kinh tế, về nghiệp vụ và phong cách làm việc. Xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra có phẩm chất chính trị tốt, công tâm, trong sạch, đủ năng lực, kể cả năng lực kiểm tra, giám sát việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng.
Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: "Hoàn thiện quy chế bảo đảm quyền kiểm tra, giám sát của tập thể đối với cá nhân, của tổ chức đối với tổ chức, của cá nhân đối với cá nhân và tổ chức, kể cả đối với người lãnh đạo chủ chốt và tổ chức cấp trên. Kết hợp giám sát trong Đảng với giám sát của Nhà nước và giám sát của nhân dân.
Xây dựng quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách, quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác tổ chức và cán bộ.
Đổi mới phương pháp kiểm tra và bổ sung chức năng giám sát cho uỷ ban kiểm tra đảng các cấp. Tăng cường công tác kiểm tra, phòng ngừa. Xây dựng quy chế phối hợp công tác giữa Uỷ ban Kiểm tra của Đảng với Thanh tra của Chính phủ"4.
Câu hỏi 36: Cần hiểu rõ tính chất, phương pháp công tác kiểm tra, giám sát của Đảng như thế nào và làm gì để hoàn thành tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng?
Trả lời:
Công tác kiểm tra, giám sát phải được tiến hành thường xuyên, kịp thời và có hiệu quả, nhằm xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, giúp các tổ chức đảng hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ quy định; thúc đẩy và giáo dục đảng viên, cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng và Nhà nước, gương mẫu trong phong trào hành động cách mạng của quần chúng.
1. Trước hết, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải xuất phát từ nhiệm vụ chính trị, từ yêu cầu công tác xây dựng Đảng và nhằm mục tiêu bảo đảm thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ công tác trên. Không như vậy, công tác kiểm tra, giám sát sẽ mất phương hướng, chệch mục tiêu và sa vào công tác nghiệp vụ đơn thuần. Trong quá trình tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và xây dựng Đảng, cấp ủy phải nắm vững những vấn đề chủ yếu, những khâu then chốt trong từng thời kỳ và lập chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát, hướng các hoạt động kiểm tra, giám sát và xét xử kỷ luật vào phục vụ có hiệu quả những vấn đề trên.
Các tổ chức đảng và đảng viên cần nắm vững và thực hiện tốt tư tưởng chỉ đạo của công tác kiểm tra, giám sát là "chủ động, chiến đấu, giáo dục", ba tính chất trên gắn bó với nhau và tác động lẫn nhau. Điều cốt lõi là phải thường xuyên nắm vững đường lối, chính sách và tình hình thực hiện các nhiệm vụ chính trị cũng như công tác xây dựng Đảng của địa phương, đơn vị, chủ động đề ra và thực hiện có hiệu quả chương trình, kế hoạch công tác kiểm tra, giám sát.
Qua kiểm tra, giám sát, kịp thời phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, nhằm hạn chế đến mức thấp nhất các khuyết điểm của tổ chức đảng và đảng viên. Khi phát hiện tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc đã vi phạm, cần kịp thời giáo dục, có biện pháp xử lý ngay, ngăn chặn không cho phát triển rộng và nặng thêm. Cuối cùng, qua kiểm tra công việc, phải rút ra những bài học bổ ích về tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị và giáo dục, quản lý đảng viên.
2. Để làm tốt công tác kiểm tra, cần nắm vững và thực hiện tốt những phương pháp cơ bản, tức là phải giữ vững nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, thể hiện đúng tính chất công tác đảng. Phương pháp cơ bản đó là: dựa vào tổ chức đảng, phát huy tinh thần tự giác của tổ chức đảng và đảng viên, phát huy trách nhiệm xây dựng đảng của quần chúng và phải làm tốt công tác thẩm tra, xác minh, bảo đảm những kết luận về đánh giá sự việc và giải pháp xử lý có tính chính xác, khách quan, khoa học. Mọi hoạt động kiểm tra đều phải thông qua tổ chức đảng và do chính bản thân tổ chức đảng tiến hành. Là đối tượng được kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng và từng đảng viên phải tự giác tự phê bình, tự đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu và ưu, khuyết điểm của mình, tìm ra phương pháp khắc phục, ngăn ngừa sai lầm, khuyết điểm.
Trong quá trình tiến hành kiểm tra, giám sát phải chú ý lắng nghe ý kiến của quần chúng phê bình tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Việc này phải được tiến hành có tổ chức, có lãnh đạo; tùy theo yêu cầu, nội dung công việc mà xác định rõ phạm vi, đối tượng và cách lấy ý kiến. Khi kiểm tra, phải luôn luôn coi trọng và làm tốt việc thẩm tra, xác minh, tiến hành công việc thật chu đáo, tỉ mỉ và phải dựa vào những bằng chứng xác thực để xem xét, kết luận chính xác.
3. Do phạm vi trách nhiệm kiểm tra của từng tổ chức đảng ở từng cấp và nội dung, đối tượng kiểm tra từng nơi, từng lúc không giống nhau, nên phải có những hình thức kiểm tra, giám sát thích hợp: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kiểm tra bất thường. Kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ từng tháng, từng quý, hằng năm được tiến hành trên diện rộng theo chương trình, kế hoạch cụ thể gắn với quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị. Kiểm tra bất thường được áp dụng khi có việc đột xuất, nhằm phục vụ kịp thời yêu cầu cụ thể của cấp ủy đảng, xem xét giải quyết một số công việc cấp bách, có liên quan đến một vài tổ chức đảng và một số cán bộ, đảng viên. Ba hình thức kiểm tra nói trên có tác dụng, cách làm khác nhau, nhưng có quan hệ với nhau và bổ sung cho nhau.
4. Để làm tốt chức năng, nhiệm vụ của mình, cơ quan kiểm tra của cấp ủy phải chủ động phối hợp với các ban đảng (tổ chức, tuyên giáo, ban cán sự đảng, đảng đoàn) hữu quan của Nhà nước, các cơ quan bảo vệ pháp luật và đoàn thể nhân dân. Cách phối hợp rất linh hoạt, song trong quá trình thực hiện cần xác định cơ quan chủ trì và cơ quan tham gia.
5. Một yếu tố không kém phần quan trọng là xây dựng, củng cố bản thân ủy ban kiểm tra và đội ngũ những người làm công tác kiểm tra, giám sát của Đảng ở các ngành, các cấp. Việc này cần được tiến hành tích cực, thường xuyên, toàn diện, phù hợp với yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị và yêu cầu đổi mới, chỉnh đốn Đảng.
Câu hỏi 37: Các cấp ủy đảng (cấp tỉnh, huyện và tương đương) lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát như thế nào?
Trả lời:
1. Điều lệ Đảng quy định: "Các cấp ủy đảng lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát và tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng" (Điều 30); "Ban Thường vụ (cấp uỷ tỉnh, thành phố, quận, huyện và tương đương - B.T) lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của đại hội đại biểu, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cùng cấp và cấp trên..."; "Thường trực cấp ủy gồm bí thư, các phó bí thư, chỉ đạo kiểm tra thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy, của ban thường vụ và cấp ủy cấp trên" (Điều 20).
2. Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW ngày 31-10-2006):
Các cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
Cấp uỷ, trước hết là ban thường vụ cấp uỷ xây dựng và chỉ đạo các tổ chức đảng cấp dưới xây dựng phương hướng, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát trong từng thời gian; chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện; nghe báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy chế làm việc; giải quyết những kiến nghị của các tổ chức đảng cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của uỷ ban kiểm tra; xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra.
Ban hành, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định về thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng của cấp mình theo thẩm quyền; tổ chức sơ kết, tổng kết việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng của đảng bộ mình; đề xuất với cấp có thẩm quyền về những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành các hướng dẫn mới về nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng cho phù hợp; xây dựng và chỉ đạo thực hiện quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra với các tổ chức đảng có liên quan trong việc kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật đảng; có chương trình, kế hoạch và trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp uỷ cấp trên và cấp mình; kiểm tra, giám sát việc ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định của cấp uỷ cấp mình và cấp dưới.
Các cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ lãnh đạo, chỉ đạo các tổ chức đảng thuộc phạm vi quản lý của mình thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng; tiến hành các mặt công tác kiểm tra, giám sát khi cần thiết.
a) Về lãnh đạo công tác kiểm tra:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW ngày 24-11-2006): Cấp ủy trước hết là ban thường vụ cấp ủy xây dựng và chỉ đạo các cấp ủy thuộc phạm vi quản lý của cấp mình xây dựng phương hướng, nhiệm vụ công tác kiểm tra trong từng thời gian; chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc cấp ủy cấp dưới thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra.
Triển khai, quán triệt các quy định của Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, quyết định, quy định, quy chế của cấp ủy cấp trên và cấp mình về công tác kiểm tra đối với các tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp mình.
Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy định về sự phối hợp giữa các ban đảng, các ban đảng với ban cán sự đảng của cơ quan thanh tra, cơ quan pháp luật để làm tốt công tác kiểm tra, giám sát.
Định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến chỉ đạo về việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy chế làm việc; giải quyết những kiến nghị của các tổ chức đảng cấp dưới và định kỳ sơ kết, tổng kết về công tác kiểm tra, giám sát.
Lãnh đạo, chỉ đạo về tổ chức và hoạt động của ủy ban kiểm tra; xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ kiểm tra.
b) Về tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra:
Cấp ủy xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, trong đó, xác định rõ nội dung, đối tượng, thời gian, phương pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân công cụ thể từng cấp ủy viên và các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn của cấp mình tiến hành kiểm tra.
- Nội dung kiểm tra, giám sát: Kiểm tra, giám sát việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; nghị quyết, chỉ thị, quyết định, quy định, quy chế, kết luận của cấp ủy cấp trên và của cấp ủy cấp mình; các nguyên tắc tổ chức của Đảng trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; giữ gìn đoàn kết nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của đảng viên; chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Căn cứ yêu cầu nhiệm vụ chính trị và tình hình thực tế ở đảng bộ mà cấp ủy chọn nội dung kiểm tra cho phù hợp.
- Đối tượng kiểm tra: Kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp mình, trước hết là tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp và cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp mình quản lý, cán bộ giữ các cương vị chủ chốt hoặc được giao các nhiệm vụ quan trọng và tập trung kiểm tra các tổ chức đảng ở những địa bàn trọng điểm, trọng yếu, dễ phát sinh vi phạm.
- Cách tiến hành:
+ Xây dựng kế hoạch theo chương trình công tác kiểm tra, giám sát hằng năm, sáu tháng,... (xác định rõ nội dung, đối tượng, trọng tâm, trọng điểm, hình thức, thời gian, thời điểm kiểm tra,...).
+ Trực tiếp tiến hành kiểm tra, giám sát ở một số lĩnh vực quan trọng, địa bàn trọng điểm; huy động lực lượng các ban của cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn của các ngành có liên quan tham gia (lập tổ hoặc đoàn kiểm tra). Đồng chí cấp ủy viên được phân công chủ trì chịu trách nhiệm chính trong việc xây dựng kế hoạch, chỉ đạo thực hiện và báo cáo cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy xem xét, kết luận các cuộc kiểm tra, giám sát.
+ Giao các ban của cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn (trực thuộc) chủ trì thực hiện một số cuộc kiểm tra, giám sát theo chức trách, nhiệm vụ của các tổ chức đảng.
+ Các thành viên của cấp ủy xây dựng kế hoạch kiểm tra, giám sát về các nội dung thuộc nhiệm vụ được cấp ủy phân công phụ trách, đề xuất kiểm tra chuyên sâu một số vấn đề đối với các tổ chức đảng cấp dưới.
+ Cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy trực tiếp kết luận các cuộc kiểm tra do cấp ủy chủ trì.
Qua kiểm tra, giám sát cấp ủy nhận xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và nguyên nhân; rút ra những kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện; bổ sung, sửa đổi những vấn đề cần thiết; phát hiện những nhân tố mới, biểu dương, khen thưởng những tổ chức đảng và đảng viên chấp hành tốt; phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm; phê bình tổ chức đảng và đảng viên có khuyết điểm; kịp thời xem xét, kết luận, xử lý kỷ luật hoặc đề nghị cấp trên xem xét, xử lý kỷ luật theo thẩm quyền những trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý. Những trường hợp có dấu hiệu vi phạm pháp luật thì chuyển cơ quan pháp luật có thẩm quyền xem xét, xử lý.
c) Theo quy định của Điều lệ Đảng, tổ chức đảng quân sự địa phương và tổ chức đảng công an nhân dân địa phương ở cấp nào thì đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp ủy đó. Do vậy, việc kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng quân sự địa phương, tổ chức đảng công an nhân dân địa phương trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng (bao gồm cả nghị quyết, chỉ thị của đảng ủy quân sự, đảng ủy công an nhân dân cấp trên) là nhiệm vụ của cấp ủy địa phương, do cấp ủy địa phương chủ động, trực tiếp tiến hành, có sự phối hợp với đảng ủy quân sự cấp trên hoặc với đảng ủy công an nhân dân cấp trên nhưng đều do cấp ủy địa phương chủ trì và kết luận.
Câu hỏi 38: Các cấp uỷ đảng (cấp tỉnh, huyện và tương đương) lãnh đạo và thực hiện nhiệm vụ công tác giám sát như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW ngày 24-11-2006):
a) Về lãnh đạo công tác giám sát:
- Xây dựng và chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới thuộc phạm vi quản lý của cấp mình xây dựng phương hướng nhiệm vụ công tác giám sát; phân công cấp uỷ viên, các ban của cấp uỷ cấp mình thực hiện giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới.
- Ban hành văn bản theo thẩm quyền làm căn cứ để các tổ chức đảng thực hiện nhiệm vụ giám sát và để các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia giám sát.
- Xây dựng và chỉ đạo thực hiện các quy định về sự phối hợp giữa các tổ chức đảng để thực hiện công tác giám sát.
- Định kỳ nghe báo cáo và cho ý kiến chỉ đạo về việc thực hiện nhiệm vụ giám sát theo quy chế làm việc; giải quyết những kiến nghị của các tổ chức đảng cấp dưới; sơ kết, tổng kết về việc thực hiện nhiệm vụ giám sát của cấp mình.
- Đề xuất với cấp có thẩm quyền về những vấn đề cần bổ sung, sửa đổi hoặc ban hành các hướng dẫn mới về nghiệp vụ công tác giám sát cho phù hợp.
b) Về tổ chức thực hiện nhiệm vụ giám sát:
Cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ xây dựng chương trình, kế hoạch và tổ chức thực hiện việc giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp mình. Xác định nội dung, đối tượng, phương pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân công cụ thể cho từng cấp uỷ viên và các ban của cấp uỷ cấp mình thực hiện nhiệm vụ giám sát.
- Đối tượng giám sát:
Ban chấp hành giám sát:
+ Ban thường vụ, thường trực cấp uỷ cùng cấp;
+ Uỷ ban kiểm tra cùng cấp;
+ Tổ chức đảng trực thuộc, trước hết là tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp;
+ Đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp mình quản lý.
Ban thường vụ cấp uỷ giám sát:
+ Các ban tham mưu, giúp việc của cấp uỷ cấp mình;
+ Các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp uỷ cấp mình lập ra;
+ Tổ chức đảng trực thuộc, trước hết là tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp;
+ Đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp mình quản lý.
- Nội dung giám sát:
Giám sát đối với tổ chức đảng:
+ Việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; các nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế, kết luận của cấp uỷ cấp trên và cấp uỷ cấp mình; chính sách, pháp luật của Nhà nước.
+ Việc quán triệt và chấp hành các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách và quy chế làm việc của cấp uỷ; việc bảo đảm quyền của đảng viên.
+ Việc chấp hành các quy định của Đảng, Nhà nước trong công tác tổ chức, cán bộ; việc thực hiện giữ mối liên hệ mật thiết với quần chúng.
+ Việc chấp hành kỷ luật của tổ chức đảng và đảng viên; giữ gìn đoàn kết nội bộ, quản lý, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của đảng viên.
Giám sát đối với đảng viên:
Ngoài những nội dung giám sát như đối với tổ chức đảng, cấp uỷ còn giám sát đảng viên trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống và giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú.
- Cách tiến hành giám sát:
+ Xem xét báo cáo hoạt động của ban thường vụ giữa hai kỳ họp của cấp uỷ.
+ Dự các cuộc họp định kỳ, đột xuất của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cấp dưới trực tiếp.
+ Định kỳ hoặc đột xuất, theo quy chế làm việc, cấp uỷ nghe các tổ chức đảng cấp dưới (cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra, các ban tham mưu, ban cán sự đảng, đảng đoàn...) báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, công tác xây dựng đảng, công tác kiểm tra, giám sát tình hình thực hiện nhiệm vụ; kết quả kiểm điểm, tự phê bình và phê bình của tập thể lãnh đạo các tổ chức đó.
+ Nắm tình hình hoạt động, tự phê bình và phê bình, báo cáo kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và về phẩm chất đạo đức, lối sống của cấp uỷ viên cùng cấp và cán bộ diện cấp uỷ quản lý.
+ Thông qua phản ánh, trao đổi của các cơ quan bảo vệ pháp luật, của các đoàn thể chính trị - xã hội, phản ánh của quần chúng nhân dân, qua các phương tiện thông tin đại chúng; thông qua đơn thư tố cáo, khiếu nại kỷ luật để nắm tình hình liên quan đến cán bộ, đảng viên.
+ Thông qua các văn bản, báo cáo của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới gửi cấp uỷ cấp trên theo quy định.
- Thẩm quyền và trách nhiệm:
+ Phân công cấp uỷ viên dự các cuộc họp, hội nghị của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới thuộc phạm vi phụ trách.
+ Cấp uỷ viên khi thực hiện giám sát theo thẩm quyền được yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới, các tổ chức có liên quan và đảng viên cung cấp thông tin, văn bản, tài liệu hoặc báo cáo những nội dung theo yêu cầu giám sát.
Cấp uỷ viên có trách nhiệm báo cáo kết quả giám sát bằng văn bản cho ban thường vụ hoặc cho cấp uỷ biết để có biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo; chịu trách nhiệm về việc giám sát theo thẩm quyền của mình trước cấp uỷ; giữ bí mật về nội dung thông tin, văn bản, tài liệu cung cấp cho việc giám sát.
+ Đối với những tổ chức đảng cấp dưới có khuyết điểm, yếu kém, vi phạm đã được kết luận, cấp uỷ cử cấp uỷ viên đến tổ chức đảng đó trực tiếp chỉ đạo, giám sát việc khắc phục yếu kém, sửa chữa khuyết điểm, vi phạm.
+ Qua giám sát đối với tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, định kỳ hằng năm (hoặc đột xuất), cấp uỷ nhận xét, đánh giá về ưu điểm, khuyết điểm, vi phạm (nếu có) và nguyên nhân; rút ra những kinh nghiệm về lãnh đạo, chỉ đạo, về tổ chức thực hiện; bổ sung, sửa đổi những vấn đề cần thiết; phát hiện những nhân tố mới...
Nếu phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên không thực hiện, thực hiện không đúng nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, hoặc có hành vi ban hành quyết định, quy định trái với nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, của cấp uỷ cấp trên và của cấp mình, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước thì có quyền yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên khắc phục, sửa chữa; nếu không khắc phục, sửa chữa thì xem xét, xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp uỷ cấp trên xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên có liên quan; nếu cần thiết thì yêu cầu huỷ bỏ các quyết định, quy định sai trái đó.
Nếu phát hiện tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm thì giao cho uỷ ban kiểm tra tiến hành kiểm tra, xem xét, kết luận.
Câu hỏi 39: Các tổ chức cơ sở đảng tiến hành công tác kiểm tra, giám sát như thế nào?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định: Tổ chức cơ sở đảng "kiểm tra việc thực hiện, bảo đảm các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước được chấp hành nghiêm chỉnh; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên chấp hành Điều lệ Đảng" (Điều 23); chi bộ "kiểm tra, thi hành kỷ luật đảng viên" (Điều 24).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW): Các tổ chức đảng ở cơ sở kiểm tra, giám sát việc chấp hành Điều lệ Đảng, các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật Nhà nước ở cơ sở mình. Chi bộ kiểm tra, giám sát đảng viên trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết của chi bộ, việc thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1- Về công tác kiểm tra:
- Đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy cơ sở có nhiệm vụ lãnh đạo công tác kiểm tra như các cấp ủy cấp trên và tổ chức tiến hành kiểm tra các tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp mình trong việc chấp hành Điều lệ Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên và của cấp mình; việc giáo dục, quản lý cán bộ, đảng viên. Tập trung kiểm tra những tổ chức đảng và đảng viên được giao những nhiệm vụ quan trọng liên quan trực tiếp đến phát huy dân chủ ở cơ sở, phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, chăm lo đời sống, giải quyết việc làm cho nhân dân; chống lãng phí, tham nhũng và các tiêu cực khác. Coi trọng kiểm tra việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của đảng viên.
Đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy cơ sở tiến hành kiểm tra tương tự như cách làm của cấp ủy cấp trên, song cần chú ý: Qua hội ý, nắm tình hình giữa ban thường vụ đảng ủy với các chi ủy, với chính quyền, các ban, ngành và các đoàn thể; qua sinh hoạt thường kỳ của đảng ủy và ban thường vụ đảng ủy; qua sơ kết, tổng kết công tác lãnh đạo và kiểm tra, công tác chuyên môn,... mà đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy tự kiểm tra mình và kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của mình. Cùng với việc kiểm tra thường xuyên, đảng ủy, ban thường vụ đảng ủy cơ sở có chương trình, kế hoạch định kỳ kiểm tra (ba tháng, sáu tháng, theo thời vụ hoặc chu kỳ sản xuất,...) đối với các tổ chức đảng và đảng viên. Qua kiểm tra, phát huy ưu điểm, khắc phục thiếu sót, khuyết điểm và kịp thời xử lý vi phạm (nếu có).
- Đảng ủy bộ phận xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra theo chức năng, nhiệm vụ của mình và do đảng ủy cơ sở giao.
- Chi bộ (bao gồm chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở và chi bộ trong đảng bộ bộ phận) có nhiệm vụ kiểm tra mọi đảng viên sinh hoạt trong chi bộ. Nội dung kiểm tra như nội dung kiểm tra của đảng ủy cơ sở. Tập trung kiểm tra việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và theo tiêu chuẩn đảng viên.
Chi bộ kiểm tra đảng viên thông qua sinh hoạt thường kỳ (kiểm điểm công tác lãnh đạo, tự phê bình và phê bình, học tập nghị quyết...); phân tích chất lượng đảng viên; nhận xét, đánh giá, phản ánh của các tổ chức đoàn thể và nhân dân đối với tổ chức và đảng viên; nghiên cứu, khảo sát nắm tình hình theo yêu cầu của cấp ủy; sơ kết, tổng kết công tác, sản xuất, kinh doanh,... của đơn vị và thông báo của tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên để đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu của đảng viên, kịp thời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, chủ động phòng ngừa và phát hiện dấu hiệu vi phạm của đảng viên.
Chi bộ có kế hoạch kiểm tra chấp hành đối với đảng viên trong việc quán triệt và thực hiện nhiệm vụ chính trị, nhất là đối với những đảng viên được giao các nhiệm vụ quan trọng. Khi đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc bị tố cáo, chi bộ kịp thời xem xét hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, giải quyết. Nếu đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật, chi bộ quyết định hoặc đề nghị cấp trên quyết định thi hành kỷ luật theo thẩm quyền.
2- Về công tác giám sát:
- Đảng uỷ, ban thường vụ đảng uỷ cơ sở có nhiệm vụ lãnh đạo và tổ chức thực hiện công tác giám sát như đã nêu trên đối với cấp uỷ các cấp. Tập trung giám sát những tổ chức đảng và đảng viên được giao những nhiệm vụ quan trọng liên quan trực tiếp đến phát huy dân chủ ở cơ sở, phát triển kinh tế, thực hiện chính sách xã hội, chăm lo đời sống, giải quyết việc làm cho nhân dân; thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực khác. Coi trọng giám sát việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật, tự phê bình và phê bình, giữ gìn đoàn kết, thống nhất nội bộ, giáo dục, rèn luyện, nâng cao phẩm chất, đạo đức cách mạng của đảng viên.
Cách tiến hành giám sát của đảng uỷ, ban thường vụ đảng uỷ cơ sở: Chủ yếu thông qua hội ý, nắm tình hình giữa ban thường vụ đảng uỷ với các chi uỷ, với chính quyền, các ban, ngành và các đoàn thể; qua sinh hoạt thường kỳ của đảng uỷ và ban thường vụ đảng uỷ; phân công đảng uỷ viên dự sinh hoạt của các chi bộ; qua sơ kết, tổng kết công tác đảng và công tác chuyên môn...
- Đảng uỷ bộ phận thực hiện nhiệm vụ giám sát theo chức năng, nhiệm vụ của mình và do đảng uỷ cơ sở giao. Nội dung, hình thức, cách tiến hành, thẩm quyền và trách nhiệm giám sát như của đảng uỷ cơ sở.
- Chi bộ giám sát mọi đảng viên sinh hoạt trong chi bộ. Nội dung giám sát như nội dung giám sát của đảng uỷ cơ sở. Tập trung giám sát việc thực hiện nghị quyết của chi bộ, thực hiện nhiệm vụ do chi bộ phân công và theo nhiệm vụ, tiêu chuẩn đảng viên; việc giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống và giữ mối liên hệ với tổ chức đảng nơi cư trú.
Chi bộ, giám sát đảng viên thông qua sinh hoạt thường kỳ (kiểm điểm công tác lãnh đạo, tự phê bình và phê bình,...) phân tích chất lượng đảng viên; qua theo dõi, đôn đốc đảng viên thực hiện nhiệm vụ được giao; qua yêu cầu đảng viên báo cáo khi cần thiết; nhận xét, đánh giá, phản ánh của các tổ chức đoàn thể và nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên; nghiên cứu, khảo sát nắm tình hình theo yêu cầu của cấp uỷ; sơ kết, tổng kết công tác, sản xuất, kinh doanh,... của đơn vị để đánh giá đúng mặt mạnh, mặt yếu của đảng viên, kịp thời phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm, chủ động phòng ngừa vi phạm của đảng viên.
Qua giám sát, nếu phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc bị tố cáo, chi bộ kịp thời xem xét hoặc báo cáo tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Câu hỏi 40: Các ban của cấp uỷ tiến hành công tác kiểm tra, giám sát như thế nào?
Trả lời:
Các ban của cấp uỷ là cơ quan tham mưu của cấp uỷ trên lĩnh vực công tác được phân công; giúp cấp uỷ hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên thực hiện chức năng, nhiệm vụ quy định.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW): Các ban của cấp uỷ có trách nhiệm kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên (kể cả đảng viên là thành viên của tổ chức mình) thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách; giúp cấp uỷ kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng thuộc lĩnh vực công tác do ban mình phụ trách; kiểm tra, giám sát những nội dung theo nhiệm vụ cấp uỷ giao.
Các ban sử dụng bộ máy của mình để kiểm tra, giám sát hoặc phối hợp với uỷ ban kiểm tra và các ban khác của cấp uỷ (theo sự chỉ đạo của cấp uỷ) để tiến hành công tác kiểm tra, giám sát.
Đồng thời quyết định (Quyết định số 25-QĐ/TW):
a) Về công tác kiểm tra của các ban của cấp uỷ:
Các ban của cấp uỷ phối hợp với uỷ ban kiểm tra tham mưu, giúp cấp uỷ xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra hằng năm thuộc lĩnh vực ban mình phụ trách; tham gia các cuộc kiểm tra của cấp uỷ hoặc chủ trì kiểm tra khi được cấp uỷ giao; xây dựng chương trình, kế hoạch và chủ động tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới; giúp cấp uỷ theo dõi, đôn đốc tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra chấp hành nghị quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tham gia ý kiến và giúp cấp uỷ kết luận các nội dung kiểm tra thuộc lĩnh vực được giao.
- Nội dung kiểm tra: Những nội dung liên quan đến chức trách, nhiệm vụ, lĩnh vực công tác của ban mình và những nội dung do cấp uỷ giao.
- Đối tượng kiểm tra: Các cấp uỷ cấp dưới, trước hết là cấp uỷ cấp dưới trực tiếp và các ban của cấp uỷ cấp dưới trực tiếp thuộc lĩnh vực công tác do ban mình phụ trách và các đối tượng khác do cấp uỷ giao.
- Cách tiến hành: Sử dụng bộ máy của ban để kiểm tra hoặc phối hợp với uỷ ban kiểm tra (dưới sự chỉ đạo của cấp uỷ hoặc theo quy định của cấp uỷ về phối hợp kiểm tra) để kiểm tra.
Qua kiểm tra, các ban kết luận về những nội dung được kiểm tra, báo cáo cấp uỷ cùng cấp về kết quả kiểm tra và những kiến nghị cần thiết.
b) Về công tác giám sát của các ban của cấp uỷ:
Các ban của cấp uỷ phối hợp với uỷ ban kiểm tra tham mưu, giúp cấp uỷ xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát hằng năm thuộc lĩnh vực ban mình phụ trách; xây dựng chương trình, kế hoạch và chủ động tiến hành giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, pháp luật Nhà nước thuộc lĩnh vực công tác do ban mình phụ trách.
- Đối tượng giám sát:
+ Các thành viên của tổ chức mình.
+ Cấp uỷ và các ban của cấp uỷ cấp dưới và đảng viên thuộc lĩnh vực công tác do ban mình phụ trách.
- Nội dung giám sát:
+ Những nội dung liên quan đến chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn thuộc lĩnh vực công tác do ban mình phụ trách trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
+ Những nội dung do cấp uỷ giao.
- Cách tiến hành:
+ Giám sát các thành viên của tổ chức mình thông qua sinh hoạt thường kỳ (kiểm điểm công tác lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ công tác chuyên môn, tự phê bình và phê bình,...); phân tích chất lượng đảng viên; nhận xét, đánh giá, phản ánh của các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với tổ chức đảng và đảng viên.
+ Nghe các thành viên trong tổ chức mình trực tiếp báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ theo chức trách, nhiệm vụ được giao và kết quả giám sát thuộc phạm vi được phân công phụ trách.
+ Nghe cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới, các đơn vị tham mưu, giúp việc của tổ chức mình phản ánh, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ và việc thực hiện nhiệm vụ giám sát được giao.
+ Cử cán bộ, chuyên viên theo dõi, trực tiếp làm việc, dự họp với cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới.
- Thẩm quyền và trách nhiệm:
+ Các thành viên các ban của cấp uỷ và cán bộ, chuyên viên được phân công theo dõi lĩnh vực, địa bàn khi thực hiện việc giám sát theo thẩm quyền được yêu cầu tổ chức đảng, đảng viên thuộc phạm vi phụ trách báo cáo, cung cấp văn bản, tài liệu liên quan đến việc giám sát và phải giữ bí mật nội dung văn bản, tài liệu đó.
+ Qua giám sát, các ban của cấp uỷ kịp thời nhắc nhở đối tượng được giám sát phát huy ưu điểm, khắc phục, sửa chữa thiếu sót, khuyết điểm; nếu phát hiện tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo hoặc đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
+ Nếu phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên không thực hiện, thực hiện không đúng nghị quyết, chỉ thị của Đảng, hoặc ban hành quyết định, quy định trái với nghị quyết, quy định của Đảng, của cấp uỷ cấp trên, trái với chính sách, pháp luật của Nhà nước thì báo cáo cấp uỷ cấp mình xem xét, giải quyết.
Trường hợp các ban của cấp uỷ cấp dưới ban hành các quy định trái với quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì các ban của cấp uỷ cấp trên có quyền yêu cầu huỷ bỏ hoặc đề nghị cấp uỷ quản lý tổ chức đó xem xét, quyết định.
Các ban của cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn không có thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng, nếu qua kiểm tra phát hiện tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì báo cáo với cấp uỷ và thông báo cho uỷ ban kiểm tra cùng cấp xem xét, quyết định.
Câu hỏi 41: Các ban cán sự đảng, đảng đoàn tiến hành công tác kiểm tra, giám sát như thế nào?
Trả lời:
Theo Điều lệ Đảng, một trong những nhiệm vụ của đảng đoàn là "kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng" (Điều 42) trong các cơ quan lãnh đạo của nhà nước và đoàn thể chính trị - xã hội cấp trung ương và cấp tỉnh, thành phố do bầu cử lập ra; ban cán sự đảng "kiểm tra việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng" (Điều 43) trong các cơ quan hành pháp, tư pháp cấp trung ương và cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW): Đảng đoàn, ban cán sự đảng căn cứ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế làm việc của mình và tình hình thực tế trong từng thời gian để tiến hành kiểm tra việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X còn hướng dẫn (Quyết định số 25-QĐ/TW): Các ban cán sự đảng, đảng đoàn tham gia các cuộc kiểm tra của cấp uỷ cấp trên trực tiếp hoặc chủ trì kiểm tra khi được cấp uỷ cấp trên trực tiếp giao; xây dựng chương trình, kế hoạch và chủ động tiến hành kiểm tra.
Các ban cán sự đảng, đảng đoàn căn cứ quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư hoặc của tỉnh, thành uỷ về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn và quy chế làm việc của mình để xác định rõ nội dung, đối tượng và cách tiến hành kiểm tra cho phù hợp với phạm vi lãnh đạo của mình.
- Nội dung kiểm tra:
Việc tổ chức quán triệt và thực hiện các chủ trương, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; phương hướng, nhiệm vụ chính trị; công tác tổ chức, cán bộ; những nội dung liên quan đến chức trách, nhiệm vụ, lĩnh vực được phân công phụ trách và những nội dung do cấp uỷ giao.
- Đối tượng kiểm tra:
Các tổ chức đảng và đảng viên trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống quản lý trực tiếp.
- Cách tiến hành:
+ Ban cán sự đảng, đảng đoàn chủ trì hoặc phối hợp với đảng uỷ cơ quan, tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp; hoặc sử dụng bộ máy của bộ, ban, ngành, đoàn thể mình (nhất là lực lượng thanh tra ngành, thanh tra nhân dân); hoặc phối hợp với uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ cấp trên trực tiếp (theo quy định của cấp uỷ về phối hợp kiểm tra) để tiến hành kiểm tra.
+ Phối hợp với các tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị thuộc hệ thống quản lý và cấp uỷ khối hoặc cấp uỷ địa phương nơi quản lý các tổ chức đảng trong các cơ quan, đơn vị đó để tiến hành kiểm tra.
+ Qua kiểm tra các ban cán sự đảng, đảng đoàn kết luận về những nội dung được kiểm tra báo cáo cấp uỷ cấp trên trực tiếp, đồng thời gửi báo cáo kết quả kiểm tra và những đề xuất, kiến nghị cho uỷ ban kiểm tra cấp uỷ cấp trên trực tiếp.
Câu hỏi 42: Với tư cách là cơ quan tham mưu, ủy ban kiểm tra các cấp giúp cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy tiến hành công tác kiểm tra, giám sát như thế nào?
Trả lời:
1. Phối hợp với văn phòng và các ban của cấp ủy giúp cấp ủy tổ chức quán triệt trong đảng bộ về thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy và của các tổ chức đảng; xây dựng phương hướng nhiệm vụ, chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát của cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy trong từng thời gian; xây dựng quy chế phối hợp thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát; giải quyết tố cáo, khiếu nại, xử lý kỷ luật.
2. Tham mưu cho cấp ủy về nội dung, đối tượng, phương pháp, kiểm tra, giám sát; thời gian, thời điểm tiến hành kiểm tra; phân công nhiệm vụ cho các ban của cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn; tổ chức lực lượng kiểm tra; giải quyết các kiến nghị của các tổ chức đảng cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát và việc thi hành kỷ luật đảng.
3. Hướng dẫn tổ chức đảng cấp dưới, các ban của cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn trực thuộc và chỉ đạo, hướng dẫn ủy ban kiểm tra cấp dưới về nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát.
4. Tham gia các cuộc kiểm tra do cấp ủy chủ trì. Khi có yêu cầu, tham gia các cuộc kiểm tra do các ban của cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn chủ trì. Qua kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện có trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý thì xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy xem xét, quyết định xử lý kỷ luật.
5. Cùng với văn phòng và các ban hữu quan của cấp ủy giúp cấp ủy kết luận các cuộc kiểm tra và sơ kết, tổng kết việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát; theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các kết luận của cấp ủy sau các cuộc kiểm tra; quản lý hồ sơ các cuộc kiểm tra của cấp ủy.
Câu hỏi 43: Trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát, các tổ chức đảng cần lưu ý những vấn đề gì?
Trả lời:
Theo Quy định của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X, khi thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều 30 Điều lệ Đảng, các tổ chức đảng cần lưu ý những vấn đề sau đây:
Tổ chức đảng cấp trên được quyền giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Đảng viên không được tự ý giám sát, chỉ được tham gia giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền.
Ban cán sự đảng, đảng đoàn, các tiểu ban, hội đồng, tổ công tác do cấp uỷ các cấp lập ra là đối tượng giám sát, không phải là chủ thể giám sát.
- Khi kiểm tra theo Điều 30 Điều lệ Đảng, cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ phải có kết luận trong trường hợp trực tiếp kiểm tra và cả trường hợp cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ giao cho các tổ chức đảng giúp mình kiểm tra.
- Các ban của cấp uỷ, ban cán sự đảng, đảng đoàn không có thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng, nếu qua kiểm tra phát hiện tổ chức đảng hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm hoặc vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì báo cáo với cấp uỷ và thông báo cho uỷ ban kiểm tra cùng cấp xem xét, quyết định.
- Theo quy định của Điều lệ Đảng, tổ chức đảng quân sự, biên phòng địa phương và tổ chức đảng công an nhân dân địa phương ở cấp nào thì đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp về mọi mặt của cấp uỷ cấp đó. Do vậy, việc kiểm tra, giám sát đối với tổ chức đảng quân sự, biên phòng địa phương và tổ chức đảng công an nhân dân địa phương trong việc chấp hành nghị quyết, chỉ thị của Đảng (bao gồm cả nghị quyết, chỉ thị của đảng uỷ quân sự, đảng uỷ bộ đội biên phòng, đảng uỷ công an nhân dân cấp trên) là nhiệm vụ của cấp uỷ địa phương, do cấp uỷ địa phương chủ động, trực tiếp tiến hành, có sự phối hợp với đảng uỷ quân sự cấp trên hoặc với đảng uỷ công an nhân dân cấp trên nhưng đều do cấp uỷ địa phương chủ trì và kết luận.
Câu hỏi 44: Với tư cách là cơ quan chuyên trách về công tác kiểm tra của Đảng, Ủy ban kiểm tra các cấp có những nhiệm vụ gì và được thành lập như thế nào?
Trả lời:
1. Điều lệ Đảng quy định sáu nhiệm vụ của ủy ban kiểm tra các cấp:
"1. Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên.
2. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng.
3. Giám sát cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ diện cấp uỷ cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương.
4. Xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật.
5. Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên; giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng.
6. Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp" (Điều 32).
2. Tổ chức Uỷ ban kiểm tra:
"Ủy ban kiểm tra các cấp do cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy" (Điều 31).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW):
"Ủy ban kiểm tra các cấp được thành lập từ đảng ủy cơ sở trở lên, do cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy".
Đồng thời, hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
a) Về nguyên tắc tổ chức
- Ủy ban kiểm tra các cấp được thành lập từ đảng ủy cơ sở trở lên, do hội nghị cấp ủy cùng cấp bầu; bầu ủy viên ủy ban kiểm tra trước, sau đó bầu chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra. Phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra do ủy ban kiểm tra bầu trong số ủy viên ủy ban kiểm tra. Việc bầu cử được tiến hành bằng phiếu kín.
- Nhiệm kỳ của ủy ban kiểm tra các cấp theo nhiệm kỳ của cấp ủy cùng cấp. Ủy ban kiểm tra khóa mới điều hành công việc ngay sau khi được bầu; nhận bàn giao từ ủy ban kiểm tra khóa trước.
b) Về cơ cấu tổ chức và số lượng ủy viên ủy ban kiểm tra
- Các thành viên của Uỷ ban kiểm tra Trung ương hoạt động chuyên trách (Quy định số 23-QĐ/TW).
- Ủy ban kiểm tra của tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương:
+ Số lượng từ bảy đến 11 ủy viên (do tỉnh uỷ, thành uỷ quyết định), trong đó có hai ủy viên kiêm chức; riêng Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Thanh Hoá, Nghệ An cần đủ 11 ủy viên. Trường hợp đặc biệt thì cấp ủy trao đổi với Ủy ban Kiểm tra Trung ương, Ban Tổ chức Trung ương để báo cáo Ban Bí thư xem xét, quyết định.
+ Các ủy viên chuyên trách gồm: chủ nhiệm, hai hoặc ba phó chủ nhiệm và một số ủy viên. Trong đó, một ủy viên ban thường vụ cấp ủy làm chủ nhiệm và một cấp ủy viên làm phó chủ nhiệm thường trực.
+ Ủy viên kiêm chức gồm: trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức của cấp ủy là cấp ủy viên và chánh thanh tra tỉnh, thành phố.
- Ủy ban kiểm tra của đảng ủy khối cơ quan Trung ương:
+ Số lượng từ bảy đến chín ủy viên (do đảng ủy khối quyết định), trong đó có từ ba đến năm ủy viên chuyên trách.
+ Ủy ban kiểm tra có từ một đến hai cấp ủy viên, trong đó có một ủy viên ban thường vụ cấp ủy làm chủ nhiệm.
+ Ủy viên chuyên trách là chủ nhiệm hoặc phó chủ nhiệm.
+ Ủy viên kiêm chức là cấp ủy viên phụ trách công tác tổ chức, cấp ủy viên phụ trách công tác khác hoặc bí thư, phó bí thư, chủ nhiệm ủy ban kiểm tra đảng ủy trực thuộc đảng ủy khối.
- Ủy ban kiểm tra của huyện ủy, quận ủy và cấp ủy tương đương:
+ Uỷ ban kiểm tra huyện uỷ, đảng uỷ trực thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ có từ năm đến bảy uỷ viên (do cấp uỷ quyết định), trong đó chủ nhiệm là thường vụ cấp uỷ, từ một đến hai phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ viên) và một số uỷ viên chuyên trách; hai uỷ viên kiêm chức gồm trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp uỷ viên và chánh thanh tra cùng cấp.
+ Uỷ ban kiểm tra quận uỷ, thị uỷ, thành uỷ thuộc tỉnh uỷ, thành uỷ có từ bảy đến chín uỷ viên (do cấp uỷ quyết định); trong đó chủ nhiệm là thường vụ cấp uỷ, từ một đến hai phó chủ nhiệm (phó chủ nhiệm thường trực là cấp uỷ viên) và một số uỷ viên chuyên trách; hai uỷ viên kiêm chức gồm trưởng ban hoặc phó trưởng ban tổ chức là cấp uỷ viên và chánh thanh tra cùng cấp.
- Ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở:
+ Số lượng từ ba đến năm ủy viên (do đảng ủy cơ sở quyết định), trong đó đồng chí phó bí thư hoặc ủy viên ban thường vụ thường trực cấp ủy làm chủ nhiệm. Trường hợp không có ban thường vụ cấp uỷ thì đồng chí phó bí thư làm chủ nhiệm; phó chủ nhiệm là cấp ủy viên hoặc đảng viên.
+ Các ủy viên khác có thể là cấp ủy viên hoặc đảng viên phụ trách công tác đoàn thể, bí thư chi bộ, thanh tra nhân dân.
- Đảng ủy bộ phận và chi ủy không lập ủy ban kiểm tra; tập thể cấp ủy thực hiện công tác kiểm tra và phân công một cấp ủy viên phụ trách. Ngoài ra, có thể lựa chọn phân công một số đảng viên có điều kiện giúp đồng chí cấp ủy viên phụ trách làm công tác kiểm tra.
- Ủy ban kiểm tra của Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương
+ Ủy ban Kiểm tra Đảng uỷ Quân sự Trung ương: Số lượng từ chín đến 11 uỷ viên (do Đảng uỷ Quân sự Trung ương quyết định), trong đó có năm đến sáu uỷ viên chuyên trách và từ bốn đến năm uỷ viên kiêm chức; có hai đến ba uỷ viên là cấp uỷ viên cùng cấp.
Các uỷ viên chuyên trách gồm: Phó Chủ nhiệm thường trực và bốn đến năm uỷ viên. Phó Chủ nhiệm thường trực có nhóm chức vụ, trần quân hàm bằng Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị; các uỷ viên chuyên trách có nhóm chức vụ, trần quân hàm bằng Cục trưởng Cục Tổ chức, Cục Cán bộ thuộc Tổng cục Chính trị.
Uỷ viên kiêm chức gồm: Chủ nhiệm Uỷ ban là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Cục trưởng Cục Tổ chức, Cục trưởng Cục Cán bộ, Chánh Thanh tra Bộ Quốc phòng...
+ Uỷ ban Kiểm tra Đảng uỷ Công an Trung ương: Số lượng từ chín đến 11 uỷ viên (do Đảng uỷ Công an Trung ương quyết định), trong đó có từ sáu đến tám uỷ viên chuyên trách và ba uỷ viên kiêm chức; có hai đến ba uỷ viên là cấp uỷ viên cùng cấp.
Các uỷ viên chuyên trách gồm: bốn phó chủ nhiệm (Phó Chủ nhiệm thường trực Uỷ ban là Đảng uỷ viên Đảng uỷ Công an Trung ương, Phó Tổng cục trưởng; ba phó chủ nhiệm chuyên trách là cục trưởng) và hai đến bốn uỷ viên chuyên trách là phó cục trưởng (chức vụ như cục trưởng, phó cục trưởng trong Tổng cục Xây dựng lực lượng).
Các uỷ viên kiêm chức gồm: Chủ nhiệm ủy ban là đồng chí Phó Bí thư hoặc Uỷ viên Thường vụ Đảng uỷ Công an Trung ương, Thứ trưởng Bộ Công an, Chánh Thanh tra Bộ Công an, Vụ trưởng Vụ Tổ chức - Cán bộ.
Việc bầu uỷ ban kiểm tra các cấp trong Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam, Đảng bộ Công an nhân dân Việt Nam, Ban Cán sự đảng ngoài nước do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương hướng dẫn sau khi thống nhất với Đảng uỷ Quân sự Trung ương, Đảng uỷ Công an Trung ương và Ban Tổ chức Trung ương.
3. Uỷ ban kiểm tra cấp trên hướng dẫn tổ chức đảng cấp dưới về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; chỉ đạo, hướng dẫn uỷ ban kiểm tra cấp dưới về nghiệp vụ chuyên môn (Quy định số 23-QĐ/TW).
4. Trường hợp có những yêu cầu khác với hướng dẫn nêu trên, cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy phải báo cáo với cấp ủy cấp trên trực tiếp, khi được sự đồng ý mới tổ chức thực hiện.
5. "Các thành viên ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp dưới phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y, nếu điều động chủ nhiệm ủy ban kiểm tra sang công tác khác phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp đồng ý" (Điều 31).
Ngoài việc thay đổi chủ nhiệm ủy ban kiểm tra như quy định của Điều lệ Đảng, khi thay đổi phó chủ nhiệm hoặc ủy viên ủy ban kiểm tra (kể cả việc chuẩn bị người thay thế) thì cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy cấp dưới phải trao đổi với ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp trước khi thực hiện.
Câu hỏi 45: Bầu các thành viên ủy ban kiểm tra như thế nào? Cấp ủy cấp trên chuẩn y từng người hay danh sách tập thể thành viên ủy ban kiểm tra?
Trả lời:
1. Ủy ban kiểm tra các cấp được lập từ đảng ủy cơ sở trở lên do hội nghị cấp ủy cùng cấp bầu, gồm một số đồng chí trong cấp ủy và một số đồng chí ngoài cấp ủy. Ban Chấp hành Trung ương "bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương bầu Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong số ủy viên Ủy ban Kiểm tra Trung ương" (Điều 17). Cấp ủy tỉnh, huyện và tương đương "bầu ủy ban kiểm tra, bầu chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra" (Điều 20).
Theo Quy định số 77-QĐ/TW của Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VIII, hội nghị cấp ủy "tiến hành bầu cử ủy viên ủy ban kiểm tra trước, sau đó bầu chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra đã được bầu". Bộ Chính trị khóa VIII còn quy định: "Ủy ban kiểm tra bầu phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra trong số ủy viên ủy ban kiểm tra đã được bầu".
2. Điều lệ Đảng quy định: "Các thành viên ủy ban kiểm tra và chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra cấp dưới phải được cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y" (Điều 31). Cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y cả hai chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra và danh sách thành viên ủy ban kiểm tra.
Sau đại hội, cấp ủy khóa dưới báo cáo lên cấp ủy cấp trên tinh thần "biên bản bầu cử ủy viên ủy ban kiểm tra, chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra, danh sách trích ngang, sơ yếu lý lịch của từng thành viên". Chậm nhất không quá 15 ngày sau khi nhận được báo cáo của cấp dưới về kết quả bầu cử, ban thường vụ cấp ủy cấp trên trực tiếp chuẩn y danh sách ủy ban kiểm tra và các chức vụ đã được bầu của cấp dưới.
"Chủ nhiệm, phó chủ nhiệm ủy ban kiểm tra tiến hành ngay công việc". Sau khi có quyết định chuẩn y của cấp có thẩm quyền, các đồng chí có chức danh chủ nhiệm, phó chủ nhiệm mới được ký chức danh trong các văn bản của ủy ban kiểm tra.
Câu hỏi 46: Chế độ làm việc của Ủy ban kiểm tra được quy định như thế nào?
Trả lời:
"Ủy ban kiểm tra làm việc theo chế độ tập thể, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp và sự chỉ đạo, kiểm tra của ủy ban kiểm tra cấp trên" (Điều 31).
1. Ủy ban kiểm tra thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Ủy ban có thể ủy quyền cho tập thể thường trực ủy ban (nơi có từ hai phó chủ nhiệm trở lên) quyết định một số vấn đề cụ thể (theo quy chế làm việc của ủy ban và quy định chế độ làm việc của cơ quan ủy ban kiểm tra). Thường trực ủy ban gồm chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm. Đối với Đảng bộ Quân đội, thường trực uỷ ban gồm chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm và các uỷ viên chuyên trách.
2. Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy cùng cấp; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của Điều lệ Đảng về chức năng, nhiệm vụ và quyền của ủy ban kiểm tra; định kỳ báo cáo với cấp ủy chương trình, kế hoạch, kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát của mình và thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của cấp ủy về công tác kiểm tra, giám sát, về quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra và các nhiệm vụ do cấp ủy giao; chịu sự kiểm tra, giám sát của cấp ủy về tất cả các hoạt động của mình.
3. Ủy ban kiểm tra làm việc dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra cấp trên:
+ Chấp hành sự chỉ đạo và hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên về phương hướng, nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, nghiệp vụ công tác kiểm tra, giám sát và việc thi hành kỷ luật trong Đảng.
+ Chịu sự đôn đốc, kiểm tra, giám sát của ủy ban kiểm tra cấp trên về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng, của Trung ương Đảng và hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
+ Khi cần thiết, ủy ban kiểm tra cấp trên có thể trực tiếp chỉ đạo giải quyết một số vấn đề cụ thể trong việc thực hiện nhiệm vụ công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng của ủy ban kiểm tra cấp dưới.
+ Phối hợp với ban tổ chức của cấp ủy cùng cấp và cấp ủy cấp dưới chuẩn bị nhân sự ủy ban kiểm tra theo sự hướng dẫn của ủy ban kiểm tra cấp trên; giúp cấp ủy xây dựng, ban hành quy chế làm việc của ủy ban kiểm tra; kiện toàn cơ quan ủy ban kiểm tra về tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ...
4. Trường hợp giữa ủy ban kiểm tra và ban thường vụ cấp ủy có ý kiến khác nhau trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra theo quy định của Điều lệ Đảng, thì ủy ban kiểm tra phải chấp hành kết luận, quyết định của cấp ủy, đồng thời báo cáo ủy ban kiểm tra cấp trên. Trường hợp ủy ban kiểm tra cấp trên có ý kiến khác với cấp ủy cấp dưới thì ủy ban kiểm tra cấp trên báo cáo với cấp ủy cấp mình xem xét, quyết định.
Câu hỏi 47: Quá trình thực hiện sáu nhiệm vụ kiểm tra quy định tại Điều 32 Điều lệ Đảng, uỷ ban kiểm tra cần lưu ý những vấn đề gì?
Trả lời:
Về thực hiện sáu nhiệm vụ kiểm tra (xem trả lời câu hỏi 44) Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
- Tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, kiểm tra tài chính đảng, kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và việc thi hành kỷ luật trong Đảng, nhất thiết phải lập tổ (hoặc đoàn) kiểm tra.
- Các tổ (đoàn) kiểm tra cần tiến hành thẩm tra, xác minh, nghiên cứu tình hình cụ thể để hướng dẫn, động viên, thuyết phục đối tượng kiểm tra tự giác chuẩn bị văn bản giải trình trước hội nghị chi bộ (và các hội nghị khác). Sau hội nghị, cần trao đổi trực tiếp với đối tượng kiểm tra, với cấp ủy quản lý đối tượng kiểm tra về những nội dung dự kiến kết luận. Tổ (đoàn) kiểm tra phải báo cáo các ý kiến khác nhau về kết luận kiểm tra, đồng thời đề xuất những vấn đề thuộc về cơ chế, chính sách... (nếu có) để ủy ban kiểm tra (cấp kiểm tra) xem xét, kết luận.
Tổ chức đảng và đảng viên trong đảng bộ phải chấp hành đầy đủ, kịp thời các kết luận, quyết định, thông báo theo thẩm quyền của cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra về công tác kiểm tra, về kỷ luật đảng. Sau cuộc kiểm tra, ủy ban kiểm tra cần tiến hành đôn đốc, kiểm tra việc thi hành các kết luận, quyết định, thông báo nói trên (những việc cần phải làm, khắc phục, sửa chữa, những trường hợp vi phạm cần xem xét, xử lý...) để bảo đảm việc chấp hành nghiêm chỉnh Điều lệ Đảng và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng.
Cấp kiểm tra phải kết luận và xử lý hoặc giúp cấp ủy xử lý kỷ luật theo thẩm quyền; khi cần thiết, có thể chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới xử lý theo đúng quyết định của cấp mình đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm (nếu có).
Cần phân biệt phạm vi kiểm tra của ủy ban kiểm tra chỉ là các đảng viên và tổ chức đảng khi có dấu hiệu vi phạm, hẹp hơn phạm vi kiểm tra của cấp ủy, của tổ chức đảng khi kiểm tra chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; kiểm tra cả nơi chấp hành tốt, cả nơi có dấu hiệu vi phạm.
Ủy ban kiểm tra của cấp ủy địa phương có trách nhiệm chủ động, trực tiếp tiến hành các nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật đảng đối với đảng viên và tổ chức đảng quân sự địa phương và công an nhân dân địa phương theo quy định của Điều lệ Đảng. Khi tiến hành, có sự phối hợp với ủy ban kiểm tra của đảng ủy quân sự cấp trên hoặc của đảng ủy công an nhân dân cấp trên, đều do ủy ban kiểm tra của cấp ủy địa phương chủ trì và kết luận (theo quy chế phối hợp của các cấp ủy đảng có thẩm quyền).
Trong quá trình tiến hành công tác kiểm tra, giám sát, khi ủy ban kiểm tra yêu cầu, các tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên phải thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu về báo cáo, cung cấp tài liệu đối với những vấn đề liên quan đến nội dung kiểm tra. Các tổ chức đảng và đảng viên nếu thấy có vấn đề cần tham gia ý kiến thì phản ánh với ủy ban kiểm tra, không được gây khó khăn, trở ngại cho việc kiểm tra. Chỉ có cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy cùng cấp và cấp ủy cấp trên hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên mới có quyền kiểm tra lại kết luận, thông báo, quyết định của ủy ban kiểm tra.
Câu hỏi 48: Ủy ban kiểm tra tiến hành kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp, khi có dấu hiệu vi phạm như thế nào?
Trả lời:
Theo quy định của Điều lệ Đảng, Ủy ban kiểm tra có nhiệm vụ: "Kiểm tra đảng viên, kể cả cấp ủy viên cùng cấp khi có dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên" (Điều 32).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Về nội dung kiểm tra:
Kiểm tra những dấu hiệu vi phạm tiêu chuẩn đảng viên; tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên (quy định ở các Điều 1, Điều 2, Điều 12, Điều lệ Đảng). Ủy ban kiểm tra căn cứ tình hình, nhiệm vụ, yêu cầu công tác xây dựng đảng của địa phương, đơn vị; tính chất, dấu hiệu vi phạm của đảng viên để tập trung kiểm tra.
2. Về đối tượng kiểm tra:
Ủy ban kiểm tra các cấp, kể cả ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở, chỉ kiểm tra những đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm, trước hết là cấp ủy viên cùng cấp, đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý; khi cần thiết thì kiểm tra đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới quản lý. Trường hợp đảng viên có dấu hiệu vi phạm là cấp ủy viên cấp mình, đồng thời là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý thì ủy ban kiểm tra cấp dưới báo cáo để ủy ban kiểm tra cấp trên chủ trì và phối hợp tiến hành kiểm tra. Đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp mình quản lý, trước khi được bổ nhiệm phải có ý kiến của các ban có liên quan của cấp ủy cấp trên (theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ của Bộ Chính trị và cấp uỷ các cấp thì đề nghị ủy ban kiểm tra cấp trên chỉ đạo và phối hợp tiến hành).
3. Về cách tiến hành:
+ Chủ động nắm tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm, xác định nội dung, đối tượng kiểm tra.
Để phát hiện tổ chức đảng và đảng viên có dấu hiệu vi phạm, ủy ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra phải theo dõi nắm tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị, hoạt động và sinh hoạt của tổ chức đảng và đảng viên; báo cáo hoặc giao ban theo định kỳ với các địa phương, đơn vị; bình xét hoặc phân tích chất lượng đảng viên; qua các cuộc kiểm tra việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng; qua hoạt động thanh tra, kiểm tra, kiểm sát, giám sát của các cơ quan nhà nước, đoàn thể đối với các tổ chức đảng và đảng viên; qua đơn thư tố cáo, ý kiến phản ảnh của đảng viên, quần chúng và trên các phương tiện thông tin đại chúng...
+ Ủy ban kiểm tra phân tích, lựa chọn để quyết định nội dung, đối tượng kiểm tra; chỉ đạo lập kế hoạch, xác định rõ yêu cầu, phương pháp, thời gian, lực lượng kiểm tra; ra quyết định hoặc thông báo kiểm tra.
+ Thông báo kế hoạch kiểm tra bằng văn bản cho đảng viên được kiểm tra và cho cấp ủy quản lý đảng viên đó biết để phục vụ cho việc kiểm tra (trước khi thông báo quyết định kiểm tra, phải gặp trực tiếp trao đổi với đảng viên được kiểm tra và cấp ủy quản lý đảng viên đó).
+ Đảng viên được kiểm tra giải trình các nội dung kiểm tra bằng văn bản, gửi cho ủy ban kiểm tra qua tổ (hoặc đoàn) kiểm tra; sau đó trình bày trước chi bộ để chi bộ góp ý kiến, xem xét, kết luận. Nhưng tùy trường hợp cụ thể và nội dung kiểm tra, ủy ban kiểm tra (cấp kiểm tra) yêu cầu đảng viên đó trình bày ở cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn,... mà đảng viên đó là thành viên, không nhất thiết phải trình bày ở chi bộ. Các cuộc họp để đảng viên được kiểm tra trình bày đều có đại diện cấp kiểm tra tham dự.
4. Các tổ chức đảng (chi bộ, cấp ủy...) phải có kết luận bằng văn bản về những nội dung kiểm tra đối với đảng viên được kiểm tra (ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm nếu có và nguyên nhân); nếu thấy có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì biểu quyết đề nghị hình thức kỷ luật. Trường hợp đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì ủy ban kiểm tra (cấp kiểm tra) xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy xem xét, quyết định thi hành kỷ luật theo thẩm quyền. Nếu đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý bằng pháp luật thì chuyển cơ quan pháp luật xem xét, xử lý, nhưng ủy ban kiểm tra vẫn phải chủ động xem xét, kết luận về kỷ luật đảng đối với những nội dung vi phạm đã rõ. Khi có kết quả xử lý của cơ quan pháp luật có thẩm quyền thì xem xét lại kỷ luật đảng cho đúng mức.
Câu hỏi 49: Kiểm tra đảng viên chấp hành nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng gồm những nội dung gì?
Trả lời:
1. Tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức sinh hoạt cơ bản của Đảng, được thể hiện xuyên suốt trong Điều lệ Đảng.
Kiểm tra đảng viên chấp hành nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng gồm những nội dung chính dưới đây:
- Việc phục tùng tổ chức và kỷ luật của Đảng, chấp hành nghị quyết, chỉ thị của cấp trên, pháp luật của Nhà nước...
- Việc thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách.
- Việc thực hiện dân chủ, đoàn kết thống nhất nội bộ.
- Việc thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình, các chế độ, quy định về sinh hoạt đảng.
- Việc thực hiện các quyền của đảng viên...
2. Kiểm tra việc giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng của đảng viên là kiểm tra việc thực hiện các nhiệm vụ đảng viên được quy định trong Điều lệ Đảng; gồm những nội dung:
- Chấp hành các nhiệm vụ được giao.
- Bản thân chấp hành và vận động gia đình chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước.
- Quan hệ với nhân dân.
- Học tập, rèn luyện bản thân, đấu tranh chống mọi biểu hiện tiêu cực, chống thoái hóa về phẩm chất chính trị, đạo đức, về lối sống.
- Phẩm chất trung thực, thật thà, đấu tranh bảo vệ chân lý.
- Thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư...
Trong điều kiện Đảng cầm quyền, đảng viên dù ở cương vị công tác nào đều phải gương mẫu chấp hành pháp luật; khi đảng viên vi phạm, các cơ quan pháp luật xem xét, xử lý như mọi công dân khác.
Câu hỏi 50: Ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng như thế nào?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định: Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ: "Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, các nguyên tắc tổ chức của Đảng" (Điều 32).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
- Về nội dung kiểm tra:
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; nghị quyết, chỉ thị, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, trước hết là những dấu hiệu vi phạm về nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; về đoàn kết nội bộ, về giữ gìn phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ đảng viên; về chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
- Về đối tượng kiểm tra:
Kiểm tra các tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là các tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp; khi cần, mới kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới cách nhiều cấp. Khi kiểm tra các tổ chức đảng, có thể kết hợp kiểm tra một số đảng viên là cán bộ chủ chốt của tổ chức đảng đó.
- Về cách tiến hành:
+ Việc nắm tình hình, phát hiện dấu hiệu vi phạm, phân tích, lựa chọn để quyết định nội dung, đối tượng kiểm tra, thông báo kế hoạch kiểm tra tiến hành kiểm tra như đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm theo hướng dẫn ở trên. Trong kế hoạch kiểm tra, cần ghi cụ thể những nội dung kết hợp kiểm tra đối với một số đảng viên của tổ chức đảng đó.
+ Có thể tổ chức lấy ý kiến bằng thư góp ý về nội dung kiểm tra đến một số đối tượng nhất định. Ví dụ: kiểm tra một ban thường vụ cấp ủy có thể lấy ý kiến cấp ủy viên và cán bộ do cấp ủy cùng cấp quản lý, của ủy viên ban thường vụ cấp ủy cấp dưới trực tiếp.
+ Tổ chức hội nghị để tổ chức đảng được kiểm tra trình bày về nội dung kiểm tra. Hội nghị thảo luận làm rõ và kết luận về các nội dung đó bằng văn bản.
+ Qua kiểm tra, ủy ban kiểm tra kết luận về những nội dung kiểm tra (đúng, sai, khuyết điểm hoặc vi phạm nếu có và nguyên nhân) của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra; chỉ rõ những vấn đề cần khắc phục, xem xét, giải quyết. Nếu đối tượng kiểm tra có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì căn cứ đối tượng (tổ chức hoặc cá nhân) và mức độ, tính chất vi phạm mà ủy ban kiểm tra xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.
- Lưu ý: Khi kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm, nếu cần có thể kiểm tra các tổ chức đảng cấp dưới cách nhiều cấp của tổ chức đảng đó và những đảng viên có liên quan.
Câu hỏi 51: Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.
- Về nội dung kiểm tra:
Kiểm tra việc xây dựng phương hướng nhiệm vụ kiểm tra, xây dựng và thực hiện chương trình, kế hoạch kiểm tra theo Điều 30 và Điều 32 Điều lệ Đảng; việc lãnh đạo và chỉ đạo các tổ chức đảng trong đảng bộ thực hiện công tác kiểm tra, bao gồm cả việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức hoạt động của ủy ban kiểm tra; kết quả kiểm tra của cấp ủy, tổ chức đảng.
- Về đối tượng kiểm tra:
Kiểm tra các tổ chức đảng cấp dưới, trước hết là cấp ủy cấp dưới trực tiếp chưa làm tốt hoặc có khó khăn trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ kiểm tra.
- Cách tiến hành:
Theo quy trình do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương ban hành.
2. Kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng:
- Về nội dung kiểm tra:
Kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng theo mốc thời gian nhất định. Tập trung kiểm tra việc thực hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên. Kiểm tra việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng, những vụ khiếu nại đã giải quyết, đang giải quyết hoặc những vụ vì lý do nào đó mà chưa giải quyết. Xem xét các vụ kỷ luật đã được xử lý nhưng có dấu hiệu xử lý không đúng mức, các vụ vi phạm đến mức phải xử lý nhưng không xử lý. Kiểm tra việc chấp hành các quyết định, chỉ thị, thông báo của tổ chức đảng cấp trên có liên quan đến việc thi hành kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.
- Về đối tượng kiểm tra:
Kiểm tra các tổ chức đảng cấp dưới có thẩm quyền thi hành kỷ luật, trước hết là cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp dưới trực tiếp, nhất là những nơi có nhiều tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức; những nơi có nhiều thư khiếu nại về kỷ luật đảng.
- Cách tiến hành:
Theo quy trình do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương ban hành.
3. Một số điểm cần lưu ý khi tiến hành kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra và thi hành kỷ luật trong Đảng:
a) Khi kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra:
+ Phải xây dựng kế hoạch và thực hiện theo quy trình như cách tiến hành kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm.
+ Phải kết luận về ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân của tổ chức đảng được kiểm tra trong việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra theo Điều lệ Đảng hoặc trong việc thực hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật trong Đảng. Chỉ rõ những yêu cầu, nội dung cụ thể mà tổ chức đảng cần tập trung kiểm tra trong thời gian tới; những vấn đề cần kịp thời khắc phục, sửa chữa trong việc thi hành kỷ luật đảng; đồng thời nêu rõ những biện pháp giúp đỡ tổ chức đảng khắc phục khó khăn, sửa chữa khuyết điểm, nâng cao chất lượng, hiệu quả kiểm tra và việc thi hành kỷ luật trong Đảng.
b) Khi kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng:
+ Nếu có trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì ủy ban kiểm tra (cấp kiểm tra) yêu cầu tổ chức đảng cấp dưới xử lý kỷ luật hoặc thay đổi, xóa bỏ hình thức kỷ luật đã quyết định trong một thời gian được xác định, hoặc căn cứ thẩm quyền mà quyết định, hoặc đề nghị cấp ủy quyết định hình thức kỷ luật phù hợp.
+ Nếu phát hiện những trường hợp liên quan đến các vụ kỷ luật do cấp ủy cấp mình hoặc do tổ chức đảng cấp trên quyết định mà có vấn đề cần xem xét lại thì đề nghị với tổ chức đảng đã quyết định kỷ luật đó xem xét, giải quyết.
+ Cần kết hợp với việc giải quyết khiếu nại kỷ luật của đảng viên và tổ chức đảng ở một đảng bộ trong một thời gian nhất định để có thêm căn cứ nhận xét, đánh giá ưu điểm, khuyết điểm và nguyên nhân trong việc thực hiện phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật của tổ chức đảng được kiểm tra.
Câu hỏi 52: Kiểm tra tổ chức đảng chấp hành nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, quy chế làm việc như thế nào?
Trả lời:
1. Kiểm tra tổ chức đảng chấp hành nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và giữ gìn phẩm chất đạo đức cách mạng của đảng viên gồm một số nội dung chính:
- Việc thực hiện nguyên tắc lãnh đạo tập thể, cá nhân phụ trách.
- Việc thực hiện nghị quyết, chỉ thị của cấp trên.
- Việc ra các quyết định và tổ chức thực hiện các quyết định.
- Việc thực hiện chế độ tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất nội bộ; chế độ học tập, liên hệ với quần chúng và đảng viên...
- Trách nhiệm trong việc giáo dục, quản lý, kiểm tra và xử lý kỷ luật đảng viên...
2. Nội dung kiểm tra việc chấp hành quy chế làm việc của cấp ủy cấp dưới, gồm:
- Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của tập thể cấp ủy trong việc chấp hành đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, nghị quyết, chỉ thị của cấp ủy cấp trên, nghị quyết của đại hội đảng bộ cấp mình.
- Việc quyết định những vấn đề về chủ trương, nhiệm vụ quan trọng của đảng bộ.
- Việc thực hiện sự lãnh đạo của cấp ủy đối với tổ chức nhà nước và đoàn thể nhân dân các cấp.
- Việc thực hiện chế độ báo cáo lên cấp ủy cấp trên và thông báo tình hình với tổ chức đảng cấp dưới.
- Việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cấp ủy viên trong việc tham gia lãnh đạo tập thể và việc thực hiện các nhiệm vụ được cấp ủy phân công...
3. Ủy ban kiểm tra có nhiệm vụ kiểm tra cấp ủy cấp dưới và các tổ chức đảng cấp dưới về những vấn đề trên, nhưng trước hết và chủ yếu cần kiểm tra cấp ủy cấp dưới trực tiếp trong việc thực hiện quy chế làm việc và kiểm tra các tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp trong việc chấp hành các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng..., và phải hướng vào những nơi, những tổ chức có dấu hiệu vi phạm hoặc dễ phát sinh vi phạm, khi cần thiết mới kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới cách nhiều cấp. Sau kiểm tra, phải kết luận cụ thể những vấn đề cần thiết và đề xuất giải pháp về những vấn đề có liên quan.
Câu hỏi 53: Qua kiểm tra, Ủy ban kiểm tra xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật như thế nào?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định: Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ "xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp ủy thi hành kỷ luật" (Điều 32); "Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó"; "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm quyền quyết định kỷ luật của cấp mình thì đề nghị lên cấp có thẩm quyền quyết định" (Điều 38).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW): Qua thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giải quyết tố cáo, sinh hoạt nội bộ, phân tích, bình xét chất lượng đảng viên hoặc kết luận của cơ quan pháp luật, qua xem xét đề nghị về kỷ luật của tổ chức đảng cấp dưới, uỷ ban kiểm tra kết luận về những nội dung kiểm tra (đúng, sai, khuyết điểm hoặc vi phạm nếu có và nguyên nhân) của tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra; chỉ rõ những vấn đề cần khắc phục, xem xét, giải quyết. Nếu đối tượng kiểm tra có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì căn cứ đối tượng (tổ chức hoặc cá nhân) và mức độ, tính chất vi phạm mà uỷ ban kiểm tra xem xét, quyết định hoặc đề nghị cấp uỷ quyết định kỷ luật theo thẩm quyền.
Câu hỏi 54: Thực hiện việc giám sát cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ cấp uỷ cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và đạo đức, lối sống như thế nào?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định: Một trong sáu nhiệm vụ của uỷ ban kiểm tra các cấp là "giám sát cấp uỷ viên cùng cấp, cán bộ diện cấp uỷ cùng cấp quản lý và tổ chức đảng cấp dưới về việc thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nghị quyết của cấp uỷ và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương" (Điều 32).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Về đối tượng giám sát:
+ Cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cấp dưới, trước hết là cấp dưới trực tiếp.
+ Các ban của cấp uỷ cấp mình, các ban cán sự đảng, đảng đoàn thuộc cấp uỷ cấp mình quản lý.
+ Cấp uỷ viên cùng cấp, kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ; đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý.
2. Về nội dung giám sát:
Giám sát đối với tổ chức đảng:
+ Giám sát tổ chức đảng cấp dưới trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng; nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định kết luận của cấp uỷ cấp trên và của cấp uỷ cấp mình; việc thực hiện nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng; thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao; thực hiện quy chế làm việc; thực hiện chương trình, kế hoạch công tác toàn khoá, hằng năm của cấp uỷ, tổ chức đảng trên các lĩnh vực công tác cán bộ.
+ Việc thực hiện quy chế làm việc của cấp uỷ cấp mình.
Giám sát đối với đảng viên:
+ Việc chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước.
+ Việc thực hiện tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp uỷ viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất, đạo đức, lối sống; việc giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và thực hiện nghĩa vụ công dân ở nơi cư trú.
+ Thực hiện những điều cán bộ, công chức và đảng viên không được làm.
+ Thực hiện chế độ kê khai và công khai tài sản của cán bộ, đảng viên theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
+ Việc chấp hành quy chế làm việc của cấp uỷ (đối với cấp uỷ viên cùng cấp).
3. Về cách tiến hành giám sát:
+ Thành viên uỷ ban kiểm tra dự các cuộc họp của cấp uỷ cùng cấp.
+ Thành viên uỷ ban và cán bộ, chuyên viên theo dõi địa bàn, lĩnh vực dự các cuộc họp, hội nghị thường kỳ, đột xuất của cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ cấp dưới; các hội nghị của tổ chức đảng cấp dưới.
+ Trực tiếp, thường xuyên theo dõi địa bàn, lĩnh vực, nắm vững tình hình phục vụ cho việc phát hiện dấu hiệu vi phạm của đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới.
+ Tham gia các đoàn công tác của cấp uỷ cấp mình.
+ Thông qua báo cáo, thông báo kết quả các cuộc kiểm tra của cấp uỷ, tổ chức đảng, uỷ ban kiểm tra các cấp; thông qua báo cáo kết quả tự phê bình của tổ chức đảng cấp dưới gửi uỷ ban kiểm tra cấp trên.
+ Tổ chức lấy ý kiến về tổ chức đảng và đảng viên bằng hình thức thích hợp.
+ Trao đổi, nắm tình hình từ các tổ chức đảng trong các cơ quan bảo vệ pháp luật, các đoàn thể chính trị - xã hội; thông qua phản ánh của quần chúng, các phương tiện thông tin đại chúng và đơn thư tố cáo, khiếu nại kỷ luật đảng để nắm tình hình về tổ chức đảng và đảng viên.
+ Thông qua các văn bản, báo cáo của cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới gửi uỷ ban kiểm tra cấp trên.
4. Về thẩm quyền và trách nhiệm:
+ Thành viên uỷ ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra được yêu cầu các cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên giải trình, cung cấp văn bản, tài liệu, báo cáo về các vấn đề thuộc thẩm quyền và trách nhiệm giám sát được giao; có trách nhiệm bảo mật văn bản, tài liệu được cung cấp và chịu trách nhiệm về việc giám sát theo thẩm quyền trước uỷ ban kiểm tra cấp mình.
+ Qua giám sát, thành viên uỷ ban kiểm tra và cán bộ kiểm tra phải kịp thời báo cáo uỷ ban kiểm tra để uỷ ban kiểm tra kiến nghị cấp uỷ, tổ chức đảng cấp dưới kịp thời phát huy ưu điểm, nhắc nhở, uốn nắn, khắc phục, sửa chữa khuyết điểm.
Nếu phát hiện cấp uỷ cấp dưới ban hành các quyết định không đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thì uỷ ban kiểm tra yêu cầu cấp uỷ cấp dưới sửa chữa, nếu không sửa chữa thì báo cáo cấp uỷ cấp mình xem xét trách nhiệm của cấp uỷ cấp dưới và những đảng viên có liên quan.
Nếu phát hiện tổ chức đảng cấp dưới hoặc đảng viên có dấu hiệu vi phạm thì báo cáo uỷ ban kiểm tra để kiểm tra.
Câu hỏi 55: Uỷ ban kiểm tra xem xét, kết luận những trường hợp vi phạm kỷ luật, quyết định hoặc đề nghị cấp uỷ thi hành kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên như thế nào?
Trả lời:
Về vấn đề này, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
Thông qua thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, giải quyết tố cáo, sinh hoạt nội bộ, phân tích, bình xét chất lượng đảng viên hoặc kết luận của cơ quan pháp luật, qua xem xét, đề nghị về kỷ luật của tổ chức đảng cấp dưới,... nếu phát hiện đảng viên vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì uỷ ban kiểm tra quyết định hoặc xem xét, chuẩn bị hồ sơ đề nghị cấp uỷ quyết định thi hành kỷ luật theo thẩm quyền.
Nội dung thực hiện cụ thể được hướng dẫn tại phần nói về thi hành kỷ luật của Đảng.
Câu hỏi 56: Ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên như thế nào?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định: một trong những nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra các cấp là "Giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên" (Điều 32).
1. Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW):
a) Cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên theo quy định về phân cấp quản lý cán bộ.
b) Đảng viên phải nêu cao tinh thần dân chủ trong tự phê bình và phê bình; khi báo cáo với Đảng, Nhà nước những việc làm sai trái của tập thể và cá nhân, phải phản ánh đúng sự thật, ghi rõ họ, tên, địa chỉ; cung cấp những tài liệu có liên quan đến nội dung tố cáo mà mình nắm được, chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo của mình và chỉ gửi đến tổ chức đảng và cá nhân có thẩm quyền giải quyết.
c) Tổ chức đảng phải bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên và quần chúng trong việc giám sát, tố cáo, phản ánh về những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật Nhà nước; giữ bí mật cho người tố cáo; giải quyết dứt điểm và kịp thời các vụ việc bị tố cáo, chậm nhất là 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương trở xuống, 180 ngày đối với cấp Trung ương; trường hợp hết hạn mà chưa giải quyết xong thì thông báo cho người tố cáo biết. Nghiêm cấm và kiên quyết xử lý những tổ chức và cá nhân truy tìm, trả thù, trù dập người tố cáo; không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo liên quan đến bản thân, không để người tố cáo chủ trì giải quyết nội dung do mình tố cáo.
d) Trường hợp tố cáo có liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp cần phối hợp giải quyết, thì cấp ủy chỉ đạo ủy ban kiểm tra chủ trì và phối hợp với các tổ chức đảng có liên quan giải quyết. Những trường hợp đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, kết luận và thông báo thì người tố cáo phải chấp hành. Người tố cáo vu khống thì tùy theo mức độ, tính chất, nguyên nhân mà xem xét xử lý theo quy định của Điều lệ Đảng và pháp luật của Nhà nước.
đ) Không xem xét, giải quyết những đơn, thư tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ hoặc những đơn, thư tố cáo có tên nhưng không có nội dung cụ thể, không có căn cứ thẩm tra, xác minh; những tố cáo đã được cơ quan có thẩm quyền xem xét, kết luận mà người tố cáo không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để làm rõ sự việc; những thư tố cáo không phải là bản do người tố cáo trực tiếp ký tên.
e) Tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo, khi được kiểm tra phải báo cáo trung thực, rõ ràng, đầy đủ, kịp thời với tổ chức đảng có thẩm quyền; được đưa ra những bằng chứng xác thực để chứng minh nội dung tố cáo không đúng.
Trong thời gian tổ chức đảng có thẩm quyền đang kiểm tra và chưa kết luận thì các quyền của đảng viên, của tổ chức đảng phải được bảo đảm.
2. Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
Tố cáo trong Đảng là việc công dân, đảng viên báo cho tổ chức đảng hoặc cán bộ, đảng viên có trách nhiệm biết về hành vi của tổ chức đảng hoặc đảng viên mà người tố cáo cho là sai trái, vi phạm Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Trường hợp cơ quan, tổ chức cung cấp các thông tin, báo cáo cho tổ chức đảng, đảng viên có trách nhiệm về hành vi vi phạm của tổ chức đảng hoặc đảng viên thì không phải là tố cáo.
a) Yêu cầu, nguyên tắc trong việc giải quyết tố cáo:
+ Tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo bao gồm cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp, có nhiệm vụ giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc phạm vi quản lý của cấp ủy cấp mình.
Khi nhận được tố cáo phải phân loại (theo nội dung, đối tượng,...) phân công giải quyết và giải quyết các trường hợp thuộc phạm vi trách nhiệm của mình hoặc phối hợp với các tổ chức đảng có thẩm quyền để giải quyết. Chậm nhất là 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương trở xuống; 180 ngày đối với cấp trung ương, kể từ ngày nhận được tố cáo (gửi, phản ánh trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện chuyển đến) phải xem xét, giải quyết. Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong thì phải thông báo cho người tố cáo biết.
Tổ chức đảng và đảng viên nhận được thư tố cáo phải bảo đảm bí mật cho người tố cáo. Không để người bị tố cáo chủ trì giải quyết tố cáo đối với mình. Không để người tố cáo hoặc người có liên quan đến tố cáo giải quyết tố cáo. Ủy ban kiểm tra hoặc cấp giải quyết tố cáo phải xử lý hoặc đề nghị cấp ủy xử lý hay chỉ đạo xử lý nghiêm minh bằng kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính hoặc pháp luật những trường hợp trù dập, trả thù người tố cáo; cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết tố cáo; bao che cho những việc làm sai trái của đối tượng bị tố cáo; để lộ nội dung tố cáo, tên người tố cáo cho đối tượng bị tố cáo, người không có trách nhiệm biết; lợi dụng tố cáo để xuyên tạc sự thật, vu cáo, đả kích, gây dư luận xấu đối với người khác.
Trường hợp tố cáo có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, cấp ủy chỉ đạo ủy ban kiểm tra phối hợp với các tổ chức đảng có liên quan giải quyết (theo quy định phối hợp của Trung ương và của các cấp ủy trực thuộc Trung ương).
+ Người tố cáo phải trình bày trung thực sự việc, ghi rõ họ, tên, địa chỉ, chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo và bằng chứng mà mình đưa ra. Nếu phản ánh trực tiếp thì phải được ghi lại thành văn bản, người tố cáo phải ký tên chịu trách nhiệm vào văn bản đó. Không được gửi hoặc phổ biến nội dung tố cáo, tên người bị tố cáo, nội dung thông báo giải quyết tố cáo của tổ chức đảng có thẩm quyền cho những tổ chức hoặc cá nhân không có trách nhiệm trong việc giải quyết tố cáo.
+ Tổ chức đảng và đảng viên bị tố cáo phải nghiêm túc tự kiểm tra mình, trình bày rõ ràng, trung thực, đầy đủ, kịp thời về những vấn đề bị tố cáo khi các tổ chức đảng có thẩm quyền yêu cầu; tự giác nhận rõ sai lầm, khuyết điểm (nếu có) và có quyền đưa ra bằng chứng xác thực để chứng minh nội dung tố cáo không đúng; không được truy tìm, trấn áp, trù dập, trả thù người phê bình, tố cáo dưới bất kỳ hình thức nào.
+ Tổ chức đảng quản lý đối tượng bị tố cáo phải bảo đảm quyền dân chủ của đảng viên và quần chúng trong việc giám sát, tố cáo, phản ánh về những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm. Phối hợp và thực hiện đầy đủ yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo.
Trong thời gian tổ chức đảng có thẩm quyền đang giải quyết, chưa kết luận thì phải bảo đảm các quyền của đảng viên, của tổ chức đảng bị tố cáo; giáo dục đảng viên, tổ chức đảng thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu của tổ chức đảng giải quyết tố cáo.
+ Những người lợi dụng việc tố cáo để vu cáo, đả kích cá nhân, chia rẽ bè phái, gây rối nội bộ cũng phải được xem xét, xử lý kỷ luật đảng hoặc đề nghị tổ chức có thẩm quyền xử lý theo Luật Khiếu nại, tố cáo.
b) Nội dung tố cáo phải giải quyết:
Những nội dung tố cáo có liên quan đến tiêu chuẩn đảng viên, tiêu chuẩn cấp ủy viên và trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên; liên quan đến việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; nghị quyết, chỉ thị, các nguyên tắc tổ chức của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; đoàn kết nội bộ, phẩm chất, đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên; chấp hành chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Những nội dung tố cáo mà ủy ban kiểm tra chưa đủ điều kiện xem xét thì kiến nghị cấp ủy hoặc phối hợp hay yêu cầu tổ chức đảng của cơ quan nhà nước, cơ quan pháp luật có thẩm quyền giải quyết.
Không xem xét, giải quyết những tố cáo giấu tên, mạo tên, không rõ địa chỉ và những tố cáo có tên đã được cấp có thẩm quyền do Điều lệ Đảng quy định xem xét, kết luận, nay tố cáo lại, nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ mới; những tố cáo có tên nhưng nội dung không cụ thể, không có căn cứ để thẩm tra, xác minh; những tố cáo sao chụp chữ ký mà không ký trực tiếp.
c) Đối tượng bị tố cáo phải giải quyết:
+ Với đảng viên: Tập trung giải quyết các tố cáo cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý; người bị tố cáo có liên quan đến công tác nhân sự của cấp ủy cấp mình. Đối tượng bị tố cáo là cấp ủy viên cấp mình, đồng thời là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý thì do ủy ban kiểm tra cấp trên chủ trì giải quyết, có sự phối hợp của ủy ban kiểm tra cùng cấp. Đối tượng bị tố cáo là cán bộ do cấp ủy cấp mình quản lý, nhưng khi được bổ nhiệm phải có ý kiến của các ban có liên quan của cấp ủy cấp trên thì phải báo cáo để có sự chỉ đạo, hoặc phối hợp của ủy ban kiểm tra cấp trên.
+ Với tổ chức đảng: Tập trung giải quyết tố cáo các tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp. Nếu tố cáo tổ chức đảng cấp dưới cách nhiều cấp thì tổ chức đảng cấp trên chuyển cho tổ chức đảng cấp dưới có thẩm quyền xem xét giải quyết.
d) Cách tiến hành:
+ Ủy ban kiểm tra chỉ đạo việc nghiên cứu, phân loại tố cáo, nắm tình hình để có kế hoạch giải quyết.
+ Đối tượng bị tố cáo phải giải trình về các nội dung tố cáo bằng văn bản, gửi cho ủy ban kiểm tra; trình bày trước chi bộ để chi bộ xem xét, kết luận. Đảng viên bị tố cáo là cấp ủy viên cùng cấp hoặc tham gia nhiều cấp ủy và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp trên quản lý, thì tùy nội dung tố cáo cụ thể có thể trình bày ở các tổ chức đảng (cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn...) hoặc chỉ trình bày ở một tổ chức đảng là do cấp kiểm tra quyết định, để các tổ chức đảng đó xem xét, kết luận. Tổ chức đảng bị tố cáo phân công người thay mặt tập thể chuẩn bị và trình bày giải trình về nội dung bị tố cáo trước hội nghị của tổ chức đảng cấp mình, có đại diện của cấp ủy và ủy ban kiểm tra (cấp giải quyết) tham dự.
+ Sau khi nghe đại diện tổ chức đảng hoặc đảng viên bị tố cáo trình bày, đại diện ủy ban kiểm tra (cấp giải quyết) gợi ý thêm những vấn đề cần làm rõ. Hội nghị các tổ chức đảng nói trên (chi bộ, cấp ủy,...) thảo luận, đóng góp ý kiến, xem xét, kết luận những nội dung có thể kết luận; nếu thấy có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì biểu quyết đề nghị hình thức kỷ luật.
+ Ủy ban kiểm tra (cấp giải quyết) nếu thấy nội dung kết luận của các tổ chức đảng nêu trên (chi bộ, cấp ủy...) là đúng thì có kết luận cuối cùng về nội dung tố cáo đó. Nếu thấy có vấn đề chưa rõ, chưa nhất trí hoặc mới phát sinh thì tiếp tục thẩm tra, xác minh để có đủ căn cứ kết luận. Nếu đối tượng bị tố cáo vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì quyết định kỷ luật hay đề nghị cấp ủy xem xét, quyết định hoặc chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới quyết định thi hành kỷ luật theo thẩm quyền. Trường hợp đảng viên bị tố cáo vi phạm đến mức phải xử lý bằng pháp luật thì tiến hành như khi kiểm tra đảng viên có dấu hiệu vi phạm (xem trả lời các câu hỏi 48, 49).
+ Quá trình giải quyết tố cáo, ủy ban kiểm tra có thể trưng cầu giám định chuyên môn, kỹ thuật về những nội dung có liên quan và phối hợp, kết hợp với các cơ quan chức năng giải quyết.
+ Ủy ban kiểm tra (cấp giải quyết) thông báo kết quả kiểm tra cho đảng viên và tổ chức đảng quản lý đảng viên bị tố cáo, tổ chức đảng bị tố cáo để chấp hành; đồng thời gửi cho tổ chức đảng cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng bị tố cáo biết. Bằng hình thức thích hợp, báo cho người tố cáo biết những nội dung cần thiết về kết quả giải quyết tố cáo.
Câu hỏi 57: Cấp uỷ đảng và uỷ ban kiểm tra các cấp thực hiện việc giải quyết khiếu nại kỷ luật của tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW):
1. Cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng; nếu ban thường vụ và uỷ ban kiểm tra giải quyết thì sau khi giải quyết phải báo cáo với cấp uỷ.
2. Khi giải quyết khiếu nại kỷ luật trong Đảng, đảng uỷ cơ sở, ban thường vụ cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên có thẩm quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do tổ chức đảng cấp dưới quyết định. Trường hợp cần thay đổi hình thức kỷ luật với mức cao hơn, vượt quá thẩm quyền thì phải báo cáo lên cấp có thẩm quyền quyết định theo quy định tại Điều 36, 37 Điều lệ Đảng.
Ban thường vụ, uỷ ban kiểm tra của đảng uỷ cơ sở và đảng uỷ bộ phận có trách nhiệm xem xét khiếu nại về kỷ luật đảng của đảng viên do chi bộ quyết định, nhưng không có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật mà phải đề nghị đảng uỷ cơ sở xem xét, quyết định.
3. Tổ chức đảng cấp trên chỉ giải quyết những khiếu nại về kỷ luật đảng do tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp quyết định kỷ luật hoặc đã giải quyết khiếu nại. Khi nhận được những khiếu nại vượt cấp thì tổ chức đảng cấp trên chuyển cho tổ chức đảng cấp dưới có thẩm quyền giải quyết.
Tổ chức đảng khi nhận được khiếu nại về kỷ luật đảng không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình thì chuyển cho các tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết, đồng thời báo cho người khiếu nại biết. Sau khi giải quyết, cơ quan chức năng phải thông báo kết quả cho người khiếu nại biết.
4. Uỷ ban Kiểm tra Trung ương có trách nhiệm xem xét, đề xuất ý kiến giải quyết và chuẩn bị hồ sơ các vụ việc khiếu nại về kỷ luật đảng thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư.
5. Việc giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng được tiến hành tuần tự từ uỷ ban kiểm tra hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định thi hành kỷ luật. Sau khi được giải quyết, nếu đảng viên hoặc tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật không đồng ý, có khiếu nại tiếp thì cấp trên nữa mới giải quyết, lần lượt cho đến Ban Chấp hành Trung ương. Những trường hợp khiếu nại cần trình Ban Chấp hành Trung ương giải quyết thì do Bộ Chính trị quyết định. Những trường hợp xử lý kỷ luật do Ban Chấp hành Trung ương quyết định, nếu có khiếu nại thì Ban Chấp hành Trung ương xem xét, giải quyết.
6. Khi nhận được khiếu nại kỷ luật, cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra phải thông báo cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết. Kể từ ngày nhận được khiếu nại, trong thời hạn 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và tương đương trở xuống, 180 ngày đối với cấp Trung ương, cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra phải xem xét giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng hoặc người khiếu nại biết.
Nghiêm cấm các hành vi cản trở, dìm bỏ không xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.
7. Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: quá thời hạn 30 ngày kể từ ngày tổ chức đảng, đảng viên nhận được quyết định kỷ luật; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận mà không có chứng cứ mới; bị toà án quyết định hình phạt từ cảnh cáo trở lên chưa được cơ quan pháp luật có thẩm quyền hủy bỏ bản án; cá nhân, tập thể và tổ chức đảng khiếu nại hộ cho tổ chức và người bị thi hành kỷ luật; khiếu nại khi chưa có quyết định kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền.
Trường hợp người bị thi hành kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết mà đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn phải xem xét, giải quyết.
Câu hỏi 58: Ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng như thế nào?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định: Ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ "giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng" (Điều 32).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Một số yêu cầu, nguyên tắc trong việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại:
+ Đối với tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết khiếu nại.
Cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp có nhiệm vụ giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng.
Việc giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng và đảng viên phải tiến hành tuần tự từ ủy ban kiểm tra hoặc cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức đảng đã quyết định thi hành kỷ luật.
Cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra khi nhận được khiếu nại kỷ luật phải báo cho đối tượng khiếu nại biết. Chậm nhất là 90 ngày đối với cấp tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương trở xuống; 180 ngày đối với cấp trung ương, kể từ ngày nhận được khiếu nại (gửi trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện chuyển đến) phải xem xét, giải quyết, trả lời cho đối tượng khiếu nại. Nghiêm cấm các hành vi cản trở, dìm bỏ, không xem xét, giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng. Trường hợp hết thời hạn mà chưa giải quyết xong, phải thông báo cho đối tượng khiếu nại biết.
Ủy ban kiểm tra có trách nhiệm xem xét, đề xuất ý kiến giải quyết và chuẩn bị hồ sơ các vụ khiếu nại kỷ luật thuộc thẩm quyền giải quyết của cấp ủy hoặc ban thường vụ cấp ủy cấp mình.
+ Đối tượng bị thi hành kỷ luật không đồng ý với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật thì được khiếu nại lên tổ chức đảng cấp trên, lần lượt cho đến Ban Chấp hành Trung ương. Thời hạn khiếu nại trong vòng một tháng, tính từ ngày tổ chức đảng và đảng viên vi phạm được tổ chức đảng có thẩm quyền công bố và giao quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật (căn cứ biên bản công bố quyết định kỷ luật, hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật) đến ngày tổ chức đảng và đảng viên bị thi hành kỷ luật gửi thư khiếu nại (gửi trực tiếp hoặc theo dấu bưu điện ở nơi chuyển đi).
Không khiếu nại vượt cấp khi tổ chức đảng có thẩm quyền chưa giải quyết xong.
Không gửi thư khiếu nại đến nhiều cấp cùng một lúc, đến các tổ chức và cá nhân không có thẩm quyền giải quyết. Không khiếu nại hộ đảng viên bị thi hành kỷ luật.
Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền đã công bố.
+ Sau khi công bố quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật mà đối tượng bị kỷ luật có khiếu nại trực tiếp đến cấp mình, thì chủ động xem xét lại, nếu thấy quyết định của cấp mình không đúng mức thì thay đổi quyết định đó cho phù hợp.
Khi tổ chức đảng cấp trên tiến hành giải quyết khiếu nại thì phải xem xét nghiêm túc quyết định của mình và phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng cấp trên.
+ Tổ chức đảng trực tiếp quản lý đối tượng khiếu nại phối hợp với tổ chức đảng có thẩm quyền để giải quyết khiếu nại; giáo dục đối tượng khiếu nại thực hiện đầy đủ các yêu cầu của tổ chức đảng giải quyết khiếu nại; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định giải quyết khiếu nại của tổ chức đảng cấp trên.
2. Phạm vi giải quyết khiếu nại:
+ Chỉ giải quyết những nội dung quyết định kỷ luật đảng mà đối tượng bị kỷ luật có khiếu nại.
+ Tổ chức đảng cấp trên chỉ giải quyết khiếu nại kỷ luật do tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp đã quyết định kỷ luật hoặc đã có quyết định giải quyết khiếu nại.
+ Ủy ban kiểm tra phải giải quyết hoặc giúp cấp ủy giải quyết thư khiếu nại về kỷ luật đảng thuộc phạm vi trách nhiệm của cấp mình, trước hết phải giải quyết những trường hợp bị xử lý khai trừ (đối với đảng viên), giải tán (đối với tổ chức đảng) hoặc những trường hợp có liên quan đến nhân sự cấp ủy, chính quyền, đoàn thể.
+ Trường hợp người bị thi hành kỷ luật có khiếu nại chưa được giải quyết mà đã qua đời thì tổ chức đảng vẫn phải xem xét, giải quyết. Nếu thân nhân (cha, mẹ, vợ hoặc chồng, con) có đề nghị cho biết kết quả thì thông báo tóm tắt kết quả giải quyết khiếu nại cho tổ chức đảng nơi cư trú và thân nhân của người đó biết.
+ Không giải quyết những trường hợp khiếu nại sau đây: Quá thời hạn một tháng theo quy định của Điều lệ Đảng; đã hoặc đang được cấp trên có thẩm quyền giải quyết; đã được cấp có thẩm quyền cao nhất xem xét, kết luận, nay khiếu nại tiếp, nhưng người khiếu nại không cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới để làm rõ sự việc; bị tòa án quyết định hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên chưa được tòa án có thẩm quyền quyết định huỷ bỏ bản án; cá nhân, tập thể và tổ chức đảng khiếu nại hộ cho tổ chức đảng, đảng viên bị thi hành kỷ luật; khiếu nại khi chưa có quyết định kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền.
Thư khiếu nại về xử lý hành chính, về lịch sử chính trị, tính tuổi đảng, xóa tên trong danh sách đảng viên... thì chuyển cơ quan chức năng có thẩm quyền giải quyết và báo cho người khiếu nại biết.
3. Cách tiến hành:
+ Khi nhận đơn khiếu nại, tổ chức đảng phải báo cho người khiếu nại biết và yêu cầu chờ giải quyết; trường hợp không thuộc thẩm quyền giải quyết thì chuyển tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết.
Phải nghiên cứu kỹ hồ sơ kỷ luật và gặp đối tượng khiếu nại để nắm vững nội dung khiếu nại. Khi đang giải quyết khiếu nại, nếu đối tượng tự nguyện có đơn xin rút thì thôi giải quyết. Tuyệt đối không được ép buộc đối tượng rút đơn khiếu nại.
Làm việc với các tổ chức đảng (đã đề nghị, quyết định kỷ luật và giải quyết khiếu nại kỷ luật) để trao đổi về nội dung vi phạm, tình tiết, diễn biến của sự việc dẫn đến xử lý kỷ luật; làm rõ những điểm khác nhau giữa nội dung khiếu nại kỷ luật với quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại (nếu có) trước đây; trao đổi về nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân của vi phạm; biểu quyết đề nghị hình thức kỷ luật.
Việc chuẩn y, thay đổi, xóa bỏ hình thức kỷ luật trước đây thuộc trách nhiệm của các tổ chức đảng có thẩm quyền. Qua làm việc, nếu có vấn đề chưa rõ thì phải tiếp tục thẩm tra, xác minh để kết luận.
+ Do nhiệm vụ chính trị của từng thời kỳ cách mạng khác nhau, đặc điểm, yêu cầu nhiệm vụ cụ thể của mỗi tổ chức, mỗi lĩnh vực không giống nhau, nên khi giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng, nhất là những vụ kỷ luật xảy ra đã lâu mà đơn khiếu nại vẫn còn thời hiệu giải quyết, phải có quan điểm lịch sử, cụ thể, không máy móc, cứng nhắc, nhưng cũng không được giản đơn, tùy tiện.
4. Quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật:
+ Chỉ có đảng ủy cơ sở, ban thường vụ cấp ủy và ủy ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên mới có thẩm quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật đối với đảng viên do tổ chức đảng cấp dưới đã quyết định. Chỉ có cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy từ huyện, quận và tương đương trở lên mới có thẩm quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật đối với tổ chức đảng do cấp ủy cấp dưới quyết định. Trường hợp phải thay đổi hình thức kỷ luật cao hơn, vượt quá thẩm quyền thì phải báo cáo tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định tại Điều 36 Điều lệ Đảng.
+ Ban thường vụ, ủy ban kiểm tra của đảng ủy cơ sở có trách nhiệm xem xét khiếu nại kỷ luật của đảng viên do chi bộ quyết định, nhưng không có thẩm quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật mà phải đề nghị đảng ủy cơ sở xem xét, quyết định.
Câu hỏi 59: Ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện như thế nào việc kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp?
Trả lời:
Theo Điều lệ Đảng, một trong năm nhiệm vụ của Ủy ban kiểm tra các cấp là "Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp" (Điều 32). Điều lệ Đảng còn quy định: "Ban Chấp hành Trung ương quy định thống nhất nguyên tắc, chế độ quản lý tài chính, tài sản của Đảng, mức đóng đảng phí của đảng viên", "Hằng năm, cấp ủy nghe báo cáo và quyết định nhiệm vụ tài chính của cấp mình" (Điều 46).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Chỉ có cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp và cơ quan tài chính cấp ủy mới có quyền kiểm tra tài chính của Đảng.
- Quá trình kiểm tra, nếu có tố cáo phải thực hiện theo đúng quy định về giải quyết tố cáo. Các vi phạm pháp luật trong quản lý tài chính, tài sản của Đảng, ngoài việc phải xử lý bằng kỷ luật đảng, nếu vi phạm đến mức phải xem xét, xử lý bằng pháp luật thì chuyển cơ quan pháp luật xử lý.
2. Nội dung kiểm tra:
- Đối với cấp ủy cấp dưới:
+ Kiểm tra việc ban hành các chủ trương, quy định, quyết định về tài chính của cấp ủy.
+ Kiểm tra việc chấp hành và chỉ đạo tổ chức đảng cấp dưới (cơ quan tài chính của cấp ủy, các ban và cấp ủy cấp dưới) chấp hành của chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, chính sách, chế độ, nguyên tắc về tài chính của Đảng và Nhà nước; việc thực hiện các nguyên tắc thu, chi, lập, phê duyệt dự toán, cấp phát, phê duyệt quyết toán, sử dụng tài chính, tài sản...; việc chấp hành các quy định của Luật Kế toán Ngân sách nhà nước, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống tham nhũng, tiêu cực; việc chấp hành các quy định về chế độ kế toán, chứng từ; việc kiểm tra tài chính đối với tổ chức đảng trực thuộc; kiểm tra việc ủy quyền cho cơ quan tài chính làm chủ sở hữu tài sản của Đảng.
- Đối với cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp:
Kiểm tra việc chấp hành các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định, chế độ, chính sách về quản lý, sử dụng tài chính, tài sản của Đảng và Nhà nước trong quá trình hoạt động tài chính theo chức năng, nhiệm vụ được giao; việc chấp hành sự chỉ đạo, các chủ trương, quy định, quyết định của cấp ủy cấp mình và cơ quan tài chính cấp ủy cấp trên; việc tham mưu cho cấp ủy quyết định các chủ trương, chính sách, chế độ thu, chi, quản lý tài chính và tài sản của Đảng; giúp cấp ủy lập dự toán ngân sách, quản lý thực hiện ngân sách, báo cáo phê duyệt thanh quyết toán tài chính; việc chấp hành các quy định của Luật Kế toán, Luật Ngân sách nhà nước...; việc hướng dẫn và kiểm tra về nghiệp vụ công tác tài chính đối với cơ quan tài chính cấp ủy cấp dưới; việc thực hiện chức trách được ủy nhiệm chủ sở hữu tài sản của Đảng do cấp ủy giao.
- Đối với các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp có thu của Đảng: Ngoài sự kiểm tra tài chính của ủy ban kiểm tra và cơ quan tài chính cấp ủy, còn chịu sự kiểm tra, kiểm soát của các cơ quan chức năng nhà nước theo quy định hiện hành.
- Đối với những khoản do ngân sách nhà nước trực tiếp chi như đầu tư xây dựng cơ bản, đề tài nghiên cứu khoa học..., ủy ban kiểm tra và cơ quan tài chính đảng có trách nhiệm phối hợp với cơ quan chức năng nhà nước tổ chức kiểm tra.
- Nội dung kiểm tra thu, nộp đảng phí chủ yếu do đảng ủy cơ sở tiến hành.
3. Đối tượng kiểm tra:
Tập trung kiểm tra tài chính cấp ủy cấp dưới trực tiếp và của cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp; khi cần thiết thì kiểm tra cấp dưới cách nhiều cấp.
Kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới là kiểm tra ban thường vụ cấp ủy, trước hết là thường trực cấp ủy và đồng chí thường vụ được phân công phụ trách trực tiếp công tác tài chính đảng. Khi kiểm tra tài chính của cấp ủy cấp dưới có thể kiểm tra các cơ quan tài chính trực thuộc cấp ủy đó để có cơ sở đánh giá, kết luận toàn diện.
Kiểm tra cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp là kiểm tra ban tài chính quản trị hoặc bộ phận ngân sách đảng thuộc văn phòng cấp ủy. Kiểm tra cơ quan tài chính cấp ủy cùng cấp có thể kiểm tra cơ quan tài chính cấp II thuộc cấp ủy cùng cấp để đánh giá đúng hoạt động tài chính của cơ quan tài chính của cấp ủy.
4. Cách tiến hành kiểm tra: Theo quy trình do Uỷ ban Kiểm tra Trung ương ban hành.
Chú ý: Trước khi báo cáo ủy ban kiểm tra (cấp kiểm tra), tổ (hoặc đoàn) kiểm tra phải trao đổi dự thảo kết luận kiểm tra đối với tổ chức đảng và đảng viên được kiểm tra, có biên bản ghi rõ những nội dung còn có ý kiến khác nhau. Khi báo cáo, tổ (đoàn) kiểm tra phải báo cáo đầy đủ cả những ý kiến chưa thống nhất để ủy ban kiểm tra (cấp kiểm tra) xem xét, kết luận.
Khi kiểm tra, có thể kiểm tra toàn diện, có thể chỉ kiểm tra một số nội dung: thu, chi ngân sách, sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm tài sản, kiểm tra đảng phí.
Câu hỏi 60: Việc thi hành kỷ luật trong Đảng hiện nay hướng vào những vấn đề gì?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định: "Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải xử lý công minh, chính xác, kịp thời" (Điều 35).
1. Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW):
a) Đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật đều phải thi hành kỷ luật nghiêm minh; vi phạm đến mức khai trừ thì phải khai trừ, không áp dụng hình thức xoá tên; cấp uỷ viên vi phạm đến mức cách chức thì phải cách chức, không để thôi giữ chức; đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì áp dụng hình thức khiển trách hoặc cảnh cáo, không đủ tư cách thì xoá tên trong danh sách đảng viên.
b) Đảng viên bị cách chức vụ về Đảng thì cấp uỷ quản lý đảng viên đó phải kịp thời chỉ đạo tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội có thẩm quyền, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày đảng viên bị cách chức, phải xem xét, xử lý kỷ luật về chính quyền, đoàn thể (nếu có) theo quy định của cơ quan nhà nước và điều lệ của đoàn thể.
2. Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X còn hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
Cần tập trung vào những vi phạm về quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng; về chấp hành nguyên tắc tổ chức của Đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; suy thoái về tư tưởng chính trị, về đạo đức, phẩm chất và lối sống. Cụ thể:
a) Lợi dụng dân chủ để tuyên truyền chống Đảng; cố ý nói, viết và làm trái Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng; vô tổ chức, vô kỷ luật, không chấp hành nghị quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước.
b) Vi phạm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, trước hết là nguyên tắc tập trung dân chủ; cơ hội, kèn cựa, địa vị, độc đoán, chuyên quyền, lợi dụng quyền dân chủ để kéo bè, kéo cánh, gây mất đoàn kết nội bộ.
c) Những hành vi tham nhũng, buôn lậu của cán bộ, đảng viên ở bất kỳ cấp nào, lĩnh vực nào.
d) Quan liêu, thiếu trách nhiệm, buông lỏng quản lý để địa phương, đơn vị mình trực tiếp phụ trách xảy ra lãng phí, tham nhũng, mất đoàn kết hoặc các tiêu cực khác, gây hậu quả nghiêm trọng. Bản thân gây thiệt hại về kinh tế phải bồi hoàn nhưng cố ý không bồi hoàn.
đ) Suy thoái về phẩm chất, đạo đức, lối sống: Nghiện ma tuý, rượu, bia đến mức bê tha, tổ chức hoặc tham gia các hoạt động không lành mạnh, bất chính như bia ôm, karaoke ôm, cờ bạc ăn tiền, hành nghề đồng cốt, thầy cúng, thầy bói, lập đền, miếu trái phép, tham gia tà đạo,...
Đảng viên ở bất kỳ cương vị nào, nếu vi phạm một trong những nội dung trên đều phải xử lý nghiêm minh. Đối với những vi phạm khác nếu đến mức phải xử lý kỷ luật cũng phải xem xét, thi hành kỷ luật kịp thời để hạn chế và phòng ngừa vi phạm.
Câu hỏi 61: Trình tự các bước giải quyết một vụ kỷ luật trong Đảng được tiến hành như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Đảng viên vi phạm kỷ luật phải kiểm điểm trước chi bộ, tự nhận hình thức kỷ luật; nếu từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam, tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật. Trường hợp cần thiết, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền trực tiếp xem xét kỷ luật. Cấp uỷ hướng dẫn đảng viên vi phạm kỷ luật chuẩn bị tốt bản tự kiểm điểm.
Hội nghị chi bộ thảo luận, góp ý kiến và kết luận rõ về nội dung, tính chất, mức độ, tác hại, nguyên nhân vi phạm và biểu quyết (đề nghị hoặc quyết định) kỷ luật. Đại diện cấp uỷ tham dự hội nghị chi bộ xem xét kỷ luật đảng viên là cấp uỷ viên, là cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý. Trường hợp có đầy đủ bằng chứng, nếu đảng viên vi phạm từ chối kiểm điểm hoặc bị tạm giam thì tổ chức đảng vẫn tiến hành xem xét kỷ luật.
Đảng viên vi phạm là cấp uỷ viên hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ quản lý cùng với việc kiểm điểm ở chi bộ còn phải kiểm điểm ở những tổ chức đảng nào nữa thì do cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định. Ví dụ: Một đảng viên là huyện uỷ viên, trưởng phòng của huyện, sinh hoạt tại chi bộ trực thuộc huyện uỷ vi phạm kỷ luật thì chi bộ, huyện uỷ có trách nhiệm trực tiếp xem xét, kiểm điểm đảng viên đó. Trường hợp đặc biệt (đảng viên vi phạm khi thực hiện nhiệm vụ cấp trên giao hoặc nội dung vi phạm liên quan đến bí mật của Đảng và Nhà nước mà chi bộ không biết hay đảng viên vi phạm trước khi chuyển đến sinh hoạt ở chi bộ, đảng viên vi phạm trong cùng một vụ án có liên quan đến nhiều người, nhiều ngành, nhiều cấp...) thì cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra có thẩm quyền trực tiếp xem xét, quyết định kỷ luật, không cần yêu cầu đảng viên đó phải kiểm điểm trước chi bộ.
2. Tổ chức đảng vi phạm phải kiểm điểm, tự nhận hình thức kỷ luật và báo cáo lên cấp uỷ cấp trên quyết định.
Nếu tổ chức đảng có vi phạm kỷ luật thì cơ quan lãnh đạo (thường trực cơ quan lãnh đạo) hoặc người đứng đầu của tổ chức đảng đó chuẩn bị nội dung kiểm điểm, báo cáo trước hội nghị tổ chức mình để kiểm điểm làm rõ đúng, sai, nội dung, mức độ, tính chất, tác hại, nguyên nhân của vi phạm, trách nhiệm của tổ chức, các thành viên và biểu quyết tự nhận hình thức kỷ luật của tổ chức, của từng thành viên có liên quan và báo cáo lên tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Đại diện của tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền tham dự hội nghị này.
3. Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm trình bày ý kiến.
Trước khi quyết định kỷ luật, đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền nghe đảng viên vi phạm trình bày ý kiến và ý kiến này được báo cáo đầy đủ (cùng với bản tự kiểm điểm của đảng viên đó) khi tổ chức đảng có thẩm quyền họp để xem xét, quyết định kỷ luật.
Đại diện tổ chức đảng có thẩm quyền quy định ở điểm này là đại diện của cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp có thẩm quyền thi hành kỷ luật. Đại diện của cấp uỷ có thẩm quyền do cấp uỷ phân công, có thể là bí thư, phó bí thư thường trực, uỷ viên thường vụ là chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra hoặc trưởng ban tổ chức, cấp uỷ viên phụ trách khối công tác hoặc địa bàn (nơi đảng viên và tổ chức đảng vi phạm sinh hoạt hoặc hoạt động). Đại diện uỷ ban kiểm tra có thể là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, uỷ viên uỷ ban phụ trách địa bàn hoặc lĩnh vực công tác.
Trình bày ý kiến với tổ chức đảng có thẩm quyền trước khi bị thi hành kỷ luật là quyền và trách nhiệm của tổ chức đảng và đảng viên. Nếu đảng viên hoặc đại diện tổ chức đảng vi phạm, vì một lý do nào đó mà không trực tiếp trình bày ý kiến với tổ chức đảng có thẩm quyền khi được yêu cầu thì phải báo cáo với tổ chức đảng có thẩm quyền bằng văn bản và nghiêm chỉnh chấp hành quyết định kỷ luật của tổ chức đảng có thẩm quyền.
4. Quyết định của cấp dưới về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải báo cáo lên cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; nếu đảng viên vi phạm tham gia nhiều cơ quan lãnh đạo của Đảng thì phải báo cáo đến các cơ quan lãnh đạo cấp trên mà đảng viên đó là thành viên.
5. Quyết định của cấp trên về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải được thông báo đến cấp dưới, nơi có tổ chức đảng và đảng viên vi phạm; trường hợp cần thông báo rộng hơn thì do cấp uỷ có thẩm quyền quyết định.
Quyết định thi hành kỷ luật, quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm phải được trao cho tổ chức đảng và đảng viên vi phạm để chấp hành. Nếu cần thông báo rộng hơn thì do cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định.
Phạm vi thông báo các quyết định thi hành kỷ luật, quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý do cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định.
6. Kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm có hiệu lực ngay sau khi công bố quyết định.
Ở chi bộ, quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên có hiệu lực ngay sau khi chi bộ công bố kết quả biểu quyết quyết định kỷ luật. Trong vòng 10 ngày sau đó, chi uỷ làm văn bản để báo cáo cấp trên và lưu hồ sơ. Văn bản của chi bộ (trong đảng bộ bộ phận, trong đảng bộ cơ sở) được đóng dấu của đảng uỷ cơ sở vào phía trên, góc trái. Đảng uỷ cơ sở hoặc cấp uỷ cấp trên trực tiếp không phải ra quyết định chuẩn y.
Tổ chức đảng có thẩm quyền sau khi ký quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật, phải kịp thời công bố, chậm nhất không quá 15 ngày kể từ ngày ký. Tổ chức đảng ký quyết định kỷ luật hoặc quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật có thể trực tiếp công bố hoặc uỷ quyền cho tổ chức đảng cấp dưới công bố.
Tổ chức đảng cấp dưới được uỷ quyền chậm nhất không quá 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định, phải công bố quyết định cho tổ chức đảng hoặc đảng viên bị kỷ luật hoặc khiếu nại kỷ luật. Nếu quá hạn trên, phải báo cáo ngay với cấp có thẩm quyền quyết định. Việc công bố quyết định kỷ luật, công bố quyết định giải quyết khiếu nại kỷ luật phải có đại diện tổ chức đảng ra quyết định (hoặc được uỷ quyền công bố quyết định), đại diện tổ chức đảng quản lý đảng viên bị thi hành kỷ luật, đại diện tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật, đảng viên bị thi hành kỷ luật và phải lập biên bản lưu hồ sơ. Trường hợp đảng viên bị thi hành kỷ luật từ chối nghe công bố hoặc không nhận quyết định thì ghi vào biên bản, quyết định vẫn được công bố và có hiệu lực thi hành ngay.
Đề nghị của cấp dưới về thi hành kỷ luật cách chức, khai trừ đối với đảng viên và giải tán đối với tổ chức đảng nếu chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định và công bố thì đảng viên đó vẫn được sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng đó vẫn được hoạt động.
7. Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng kể từ ngày nhận quyết định có quyền khiếu nại với cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương.
Việc giải quyết khiếu nại kỷ luật thực hiện theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương (xem trả lời câu hỏi 57, 58).
8. Khi nhận khiếu nại kỷ luật, cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra thông báo cho tổ chức đảng hoặc đảng viên khiếu nại biết; chậm nhất ba tháng đối với cấp tỉnh, thành phố, huyện, quận và tương đương, sáu tháng đối với cấp Trung ương kể từ ngày nhận được khiếu nại phải xem xét, giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng và đảng viên khiếu nại biết.
9. Trong khi chờ giải quyết khiếu nại, tổ chức đảng và đảng viên bị kỷ luật phải chấp hành nghiêm chỉnh quyết định kỷ luật.
Câu hỏi 62: Đối với đảng viên bị xử lý theo pháp luật, tổ chức đảng bị giải tán, đảng viên bị cách chức, cấp uỷ và tổ chức đảng có trách nhiệm giải quyết như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Đảng viên bị hình phạt từ cải tạo không giam giữ trở lên phải khai trừ ra khỏi Đảng.
Khi cơ quan có thẩm quyền bắt (kể cả bắt trong trường hợp phạm pháp quả tang), khám xét khẩn cấp đối với công dân là đảng viên thì tổ chức đảng hoặc đảng viên là thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho tổ chức đảng trực tiếp quản lý đảng viên đó biết về vi phạm của đảng viên.
Khi đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ đảng viên có vi phạm đến mức phải xử lý thì phải chủ động xem xét xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết phải chờ kết luận hoặc tuyên phạt của toà án có thẩm quyền. Sau khi có bản án hoặc quyết định của toà án, nếu thấy cần thiết, tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật xem xét lại việc thi hành kỷ luật đảng đối với đảng viên đó.
Trường hợp bị toà án có thẩm quyền tuyên phạt từ hình phạt cải tạo không giam giữ trở lên, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật phải khai trừ (đối với đảng viên chính thức) hoặc xoá tên trong danh sách đảng viên (đối với đảng viên dự bị). Trường hợp đảng viên vi phạm pháp luật bị xử lý bằng các hình phạt thấp hơn thì tuỳ mức độ, tính chất vi phạm mà xem xét, quyết định thi hành kỷ luật đảng bằng hình thức thích hợp (kể cả khai trừ, nếu xét thấy vi phạm kỷ luật đến mức phải khai trừ). Trường hợp đảng viên bị xử oan, sai mà đã được tòa án có thẩm quyền quyết định huỷ bỏ bản án, các tổ chức đảng có thẩm quyền phải xem xét lại việc thi hành kỷ luật đối với đảng viên đó, kể cả trường hợp đã chết.
2. Tổ chức đảng bị kỷ luật giải tán, cấp uỷ cấp trên trực tiếp lập tổ chức đảng mới hoặc giới thiệu sinh hoạt đảng cho số đảng viên còn lại.
Đối với chi bộ, đảng bộ bị kỷ luật giải tán, sau khi được sự đồng ý của tổ chức đảng có thẩm quyền giải tán, cấp uỷ cấp trên trực tiếp của chi bộ, đảng bộ đó ra quyết định lập chi bộ, đảng bộ mới.
Ở chi bộ, đảng bộ bị kỷ luật giải tán, có những đảng viên vi phạm chưa đến mức phải khai trừ, thì tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm của từng người mà xem xét, xử lý kỷ luật (khiển trách, cảnh cáo, cách chức) trước khi quyết định chuyển sinh hoạt đảng đến chi bộ, đảng bộ mới lập hoặc giới thiệu sinh hoạt đến chi bộ, đảng bộ khác.
- Đối với cấp uỷ, ban thường vụ cấp uỷ bị giải tán, cấp uỷ cấp trên trực tiếp xem xét thi hành kỷ luật những thành viên của tổ chức đảng đó và chỉ định lập cấp uỷ lâm thời, bầu ban thường vụ cấp uỷ mới.
- Những đảng viên vi phạm đến mức phải kỷ luật khai trừ thì khai trừ ra khỏi Đảng. Tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật ra quyết định khai trừ từng người một.
3. Đảng viên bị kỷ luật cách chức, trong vòng một năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp uỷ, không được bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn.
Đảng viên bị thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức, bao gồm cả chức vụ do đại hội bầu, cấp uỷ bầu, chỉ định hoặc bổ nhiệm, trong vòng một năm kể từ ngày công bố quyết định, không được bầu vào cấp uỷ (từ chi uỷ trở lên), không chỉ định, bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn.
Câu hỏi 63: Thực hiện phương châm "công minh, chính xác, kịp thời" trong thi hành kỷ luật của Đảng như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
Khi thi hành kỷ luật phải căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm mà xem xét, quyết định hình thức kỷ luật cho phù hợp.
1. Tất cả đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật đều phải thi hành kỷ luật, không có ngoại lệ, không phân biệt chức vụ cao hay thấp, tuổi đảng nhiều hay ít,...
2. Trong xử lý, phải kết hợp xem xét kết quả tự phê bình và phê bình với kết quả thẩm tra, xác minh của tổ chức đảng để bảo đảm kết luận khách quan, chính xác; không bỏ sót vi phạm. Khi xem xét, xử lý cần làm rõ nguyên nhân, phân biệt sai lầm, khuyết điểm do trình độ, năng lực hoặc động cơ vì lợi ích chung mà dẫn đến sai lầm, khuyết điểm hay vì lợi ích cá nhân, cục bộ mà cố ý làm trái; vi phạm nhất thời hay có hệ thống; đã qua giáo dục, ngăn chặn vẫn làm trái; không tự giác nhận lỗi, không bồi hoàn vật chất hoặc có hành vi đối phó với việc kiểm tra; phân biệt người khởi xướng, tổ chức, quyết định với người bị lôi kéo, đồng tình làm sai.
3. Kỷ luật đảng không thay thế cho kỷ luật hành chính, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật và ngược lại. Cấp uỷ quản lý đảng viên sau khi xem xét, xử lý hoặc chỉ đạo việc xem xét, xử lý về kỷ luật đảng thì phải chỉ đạo các tổ chức có trách nhiệm xem xét, xử lý kỷ luật về hành chính hoặc đoàn thể được kịp thời. Trường hợp không thuộc thẩm quyền của mình thì phải kiến nghị với tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý. Khi các tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội đình chỉ công tác hoặc thi hành kỷ luật đối với cán bộ, hội viên, đoàn viên là đảng viên thì chủ động thông báo cho tổ chức đảng quản lý đảng viên đó để xem xét, xử lý kỷ luật đảng. Sau khi giải quyết khiếu nại kỷ luật về đảng, nếu có thay đổi hình thức kỷ luật, tổ chức đảng có thẩm quyền phải chỉ đạo việc xem xét lại hình thức kỷ luật về hành chính, về đoàn thể.
Đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự thì phải chuyển cơ quan pháp luật khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử theo pháp luật, không được giữ lại để xử lý nội bộ. Nếu làm thất thoát tài sản của Nhà nước, của tập thể, của người khác thì phải bồi hoàn.
4. Đối với đảng viên là người dân tộc thiểu số công tác, sinh hoạt ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn, đảng viên theo tôn giáo vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì tuỳ theo tình hình thực tế mà vận dụng xử lý cho phù hợp.
5. Trường hợp đảng viên vi phạm kỷ luật khi đang công tác, nhưng sau khi chuyển công tác hoặc nghỉ hưu mới phát hiện vi phạm thì vẫn xem xét, kết luận. Nếu có vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì căn cứ nội dung, mức độ, tính chất, tác hại và nguyên nhân vi phạm mà áp dụng hình thức kỷ luật phù hợp.
Đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ các cấp quản lý đã nghỉ hưu nếu có vi phạm khi đang công tác, nay mới phát hiện thì thẩm quyền thi hành kỷ luật của các tổ chức đảng được thực hiện như đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ các cấp quản lý đang đương chức; nếu có vi phạm kỷ luật khi đã nghỉ hưu thì do tổ chức đảng quản lý đảng viên đó xử lý kỷ luật theo thẩm quyền.
Đảng viên sau khi chuyển công tác sang tổ chức đảng khác nếu phát hiện vi phạm kỷ luật ở nơi công tác cũ mà chưa được xem xét, xử lý thì do tổ chức đảng cấp trên của các tổ chức đó xem xét, xử lý theo phân cấp quản lý cán bộ.
Đảng viên chính thức vi phạm nghiêm trọng đến mức phải khai trừ thì phải thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ, không áp dụng biện pháp xoá tên trong danh sách đảng viên, cũng không chấp nhận việc xin ra khỏi Đảng.
Đảng viên dự bị vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì áp dụng hình thức kỷ luật khiển trách hoặc cảnh cáo và khi hết thời hạn dự bị, chi bộ vẫn tiến hành xét công nhận đảng viên chính thức. Nếu vi phạm đến mức không còn đủ tư cách đảng viên thì xoá tên trong danh sách đảng viên, không thi hành kỷ luật bằng hình thức khai trừ.
Câu hỏi 64: Thẩm quyền thi hành kỷ luật của tổ chức cơ sở đảng được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quy định số 23-QĐ/TW):
Chi bộ (gồm chi bộ cơ sở, chi bộ trực thuộc đảng uỷ cơ sở hoặc chi bộ trong đảng bộ bộ phận), đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên sinh hoạt trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao). Đối với cấp uỷ viên các cấp sinh hoạt tại chi bộ, từ uỷ viên đảng uỷ cơ sở cho đến Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, nếu vi phạm nhiệm vụ do cấp trên giao, phải áp dụng hình thức kỷ luật từ khiển trách trở lên thì chi bộ đề nghị lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
Chi bộ quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong chi bộ (kể cả cấp uỷ viên các cấp, đảng viên thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao).
Đảng uỷ cơ sở quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên trong đảng bộ, cách chức cấp uỷ viên cấp dưới.
Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.
- Chi bộ:
Chi bộ (gồm chi bộ cơ sở, chi bộ trong đảng bộ cơ sở hoặc đảng bộ bộ phận) quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên trong chi bộ (kể cả đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý) vi phạm phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên (trừ nhiệm vụ do cấp trên giao). Nếu phải áp dụng hình thức kỷ luật cao hơn, chi bộ đề nghị lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Quyết định kỷ luật khiển trách, cảnh cáo của chi bộ đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp, là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý phải báo cáo lên cấp uỷ (hoặc các cấp uỷ) mà đảng viên đó là thành viên, cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý cán bộ đó để biết.
- Đảng uỷ cơ sở:
+ Quyết định khiển trách, cảnh cáo đối với đảng viên. Đối với cấp uỷ viên cấp trên trực tiếp trở lên và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý sinh hoạt tại đảng bộ, nếu vi phạm phải áp dụng hình thức kỷ luật thì đảng uỷ đề nghị lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
+ Quyết định cách chức bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ hoặc đảng uỷ bộ phận trực thuộc nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.
+ Đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định kết nạp đảng viên thì có quyền quyết định kỷ luật đối với đảng viên như thẩm quyền của đảng uỷ cơ sở và được quyền quyết định khai trừ đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý.
- Lưu ý:
+ Đảng uỷ bộ phận và ban thường vụ đảng uỷ cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên, nhưng có trách nhiệm thẩm tra việc đề nghị thi hành kỷ luật của chi bộ. Ban thường vụ đảng uỷ cơ sở còn có trách nhiệm thẩm tra đề nghị của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ cơ sở để kiến nghị với đảng uỷ cơ sở xem xét, quyết định theo thẩm quyền.
+ Trường hợp tất cả cấp uỷ viên của chi bộ và của đảng bộ cơ sở đều bị thi hành kỷ luật khiển trách, cảnh cáo thì báo cáo để tổ chức đảng có thẩm quyền cấp trên ra văn bản quyết định.
+ Việc cách chức, khai trừ đối với cấp uỷ viên của chi bộ cơ sở do chi bộ cơ sở đề nghị, ban thường vụ cấp uỷ cấp huyện, quận hoặc tương đương quyết định.
Câu hỏi 65: Thẩm quyền quyết định thi hành kỷ luật của các cấp uỷ cấp trên tổ chức cơ sở đảng như thế nào?
Trả lời:
1. Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp.
Ban thường vụ cấp uỷ quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên; quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp và cấp trên.
a) Cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương:
+ Quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên.
+ Đối với các hình thức khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cùng cấp, sau khi cấp uỷ biểu quyết đủ số phiếu quy định, quá một nửa số phiếu cho một hình thức kỷ luật thì ra quyết định và đồng chí bí thư hoặc phó bí thư thường trực cấp uỷ thay mặt cấp uỷ ký quyết định đó.
Trường hợp cấp uỷ viên cấp mình đồng thời là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên trực tiếp quản lý (bí thư, phó bí thư, kể cả uỷ viên thường vụ, chủ tịch uỷ ban nhân dân, chủ tịch hội đồng nhân dân...), sau khi cấp uỷ biểu quyết đề nghị thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo thì cấp uỷ báo cáo để ban thường vụ cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp xem xét, quyết định; ở cấp tỉnh, thành và đảng uỷ trực thuộc Trung ương thì báo cáo Uỷ ban Kiểm tra Trung ương xem xét, quyết định theo thẩm quyền; những trường hợp không thuộc thẩm quyền thì Uỷ ban Kiểm tra Trung ương báo cáo đề nghị Ban Bí thư, Bộ Chính trị xem xét, quyết định.
Đối với các hình thức cách chức, khai trừ cấp uỷ viên cấp mình, sau khi cấp uỷ biểu quyết đủ số phiếu đề nghị theo quy định thì cấp uỷ đề nghị uỷ ban kiểm tra cấp trên báo cáo ban thường vụ cấp uỷ cùng cấp xem xét, quyết định. Ở cấp tỉnh, thành và đảng uỷ trực thuộc Trung ương thì báo cáo Uỷ ban Kiểm tra Trung ương để báo cáo Ban Bí thư, Bộ Chính trị xem xét, quyết định.
b) Ban thường vụ cấp uỷ tỉnh, thành, huyện, quận và tương đương:
+ Quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp.
+ Quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ, cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp mình quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp.
2. Ban Chấp hành Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương, Uỷ viên Ban Bí thư, Uỷ viên Bộ Chính trị.
Bộ Chính trị, Ban Bí thư quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, kể cả đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, nhưng không phải là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương.
Câu hỏi 66: Việc thi hành kỷ luật đảng đối với đảng viên giữ chức vụ hoặc thuộc diện cấp uỷ quản lý và đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
1. Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW):
a) Đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ, vi phạm đến mức phải cách chức cấp uỷ viên cấp cao nhất hoặc khai trừ thì do ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cấp uỷ cao nhất mà đảng viên đó là thành viên quyết định; nếu cách chức cấp uỷ viên cấp dưới thì do ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định.
Trong một cấp uỷ có ban thường vụ, nếu một đồng chí chỉ bị cách chức bí thư hoặc phó bí thư thì vẫn còn là uỷ viên thường vụ; nếu cách chức uỷ viên thường vụ thì vẫn còn là cấp uỷ viên; khi bị cách chức cấp uỷ viên thì đương nhiên không còn chức bí thư, phó bí thư, uỷ viên thường vụ.
Đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ, giữ nhiều chức vụ, bị thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức một chức vụ đang giữ, thì cấp uỷ có thẩm quyền phải xem xét đến các chức vụ khác, có thể cách chức hoặc cho thôi giữ một hoặc nhiều chức vụ khác.
b) Uỷ viên uỷ ban kiểm tra không phải là cấp uỷ viên thì việc thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo tiến hành như đối với cán bộ do cấp uỷ cùng cấp quản lý; trường hợp cách chức, khai trừ thì do cấp uỷ cùng cấp quyết định.
c) Đối với đảng viên là cấp uỷ viên các cấp hoặc cán bộ thuộc diện cấp uỷ các cấp quản lý đã nghỉ hưu, nếu có vi phạm trong thời gian đang công tác, sau này mới phát hiện được, thì việc thi hành kỷ luật thực hiện như đối với cán bộ đương chức; nếu vi phạm kỷ luật khi đã nghỉ hưu thì do tổ chức đảng quản lý đảng viên đó xem xét, xử lý kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng.
d) Đảng viên sinh hoạt đảng tạm thời vi phạm kỷ luật, thì cấp uỷ nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời có trách nhiệm xem xét, xử lý tới mức cảnh cáo. Nội dung xử lý kỷ luật thực hiện đúng quy định về trách nhiệm, thẩm quyền của chi bộ và đảng uỷ cơ sở (xem trả lời câu hỏi 64) và phải thông báo với cấp uỷ nơi đảng viên sinh hoạt chính thức biết. Trường hợp phải xử lý kỷ luật ở mức cao hơn, cấp uỷ nơi đảng viên sinh hoạt tạm thời phải thông báo mức độ khuyết điểm để cấp uỷ nơi quản lý chính thức đảng viên đó xem xét, xử lý; đồng thời báo cáo với cấp uỷ cấp trên của tổ chức đảng nơi quản lý chính thức đảng viên đó biết và chỉ đạo việc xử lý theo đúng quy định của Điều lệ Đảng.
đ) Việc biểu quyết để quyết định kỷ luật hoặc đề nghị kỷ luật phải thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu kín. Trường hợp biểu quyết mà không có hình thức kỷ luật nào đủ số phiếu cần thiết thì phải báo cáo đầy đủ kết quả bỏ phiếu lên cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định. Quyết định của cấp có thẩm quyền phải được chấp hành nghiêm chỉnh.
e) Cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp căn cứ nội dung, tính chất, mức độ tác hại và nguyên nhân vi phạm của đối tượng bị kỷ luật mà xem xét, quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức thích hợp theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó. Trường hợp cấp uỷ, uỷ ban kiểm tra các cấp quyết định kỷ luật đảng viên oan, sai thì phải xem xét huỷ bỏ quyết định đó; đồng thời phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm, nếu đến mức phải xử lý kỷ luật thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, xử lý kỷ luật.
2. Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
Đối với đảng viên giữ nhiều chức vụ bị kỷ luật cách chức thì tuỳ mức độ, tính chất vi phạm mà cách một hay nhiều chức vụ.
Chức vụ nói ở đây bao gồm: Chức vụ trong Đảng do đại hội bầu, cấp uỷ bầu, chỉ định hoặc bổ nhiệm đối với đảng viên đó.
Trường hợp đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ, vi phạm đến mức phải cách chức cấp uỷ viên cao nhất hoặc khai trừ thì ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp của cấp uỷ cấp cao nhất mà đảng viên đó là thành viên quyết định. Nếu phải cách chức cấp uỷ viên ở một cấp dưới do ban thường vụ cấp uỷ quản lý đảng viên đó quyết định. Ví dụ: Đồng chí bí thư đảng uỷ xã là huyện uỷ viên bị cách chức bí thư đảng uỷ xã thì ban thường vụ huyện uỷ quyết định, bị cách chức huyện uỷ viên hoặc khai trừ do ban thường vụ tỉnh uỷ quyết định.
Đảng viên giữ nhiều chức vụ vi phạm kỷ luật phải cách chức một, một số hay tất cả các chức vụ hoặc phải khai trừ, thì tổ chức đảng quản lý đảng viên đó quyết định. Ví dụ: Đồng chí giám đốc sở kiêm bí thư đảng uỷ cơ quan sở bị cách chức bí thư đảng uỷ thì do ban thường vụ tỉnh uỷ quyết định (không thuộc thẩm quyền của ban thường vụ đảng uỷ khối trực thuộc tỉnh uỷ quyết định).
Trong cùng một cấp uỷ, nếu chỉ cách chức bí thư, phó bí thư thì còn chức uỷ viên ban thường vụ. Nếu cách chức uỷ viên ban thường vụ thì còn chức cấp uỷ viên.
Khi cách chức cấp uỷ viên thì đương nhiên không còn chức bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ. Khi cách chức uỷ viên uỷ ban kiểm tra thì đương nhiên không còn là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ đó nữa.
- Đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ, giữ nhiều chức vụ, bị thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức một chức vụ đang giữ, thì cấp uỷ có thẩm quyền phải xem xét đến các chức vụ khác, có thể cách chức hoặc cho thôi giữ một hoặc nhiều chức vụ khác.
Việc thi hành kỷ luật đối với uỷ viên uỷ ban kiểm tra là cấp uỷ viên tiến hành như đối với cấp uỷ viên. Nếu uỷ viên uỷ ban kiểm tra không phải là cấp uỷ viên thì việc thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo tiến hành như đối với cán bộ do cấp uỷ cùng cấp quản lý; trường hợp cách chức, khai trừ thì do cấp uỷ cùng cấp quyết định.
- Trường hợp cấp uỷ viên vi phạm đến mức cách chức nhưng lại chủ động xin rút khỏi cấp uỷ, thì vẫn phải thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức, không chấp nhận cho rút khỏi cấp uỷ.
Câu hỏi 67: Về việc thi hành kỷ luật trong Đảng, trách nhiệm của Ủy ban kiểm tra từng cấp được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Điều lệ Đảng quy định: "Ủy ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, nhưng không phải là cấp ủy viên cùng cấp; quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp ủy cùng cấp quản lý và cấp ủy viên cấp dưới trực tiếp"; "Cấp ủy và ủy ban kiểm tra cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xóa bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định" (Điều 36).
"Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng do cấp ủy cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp ủy cấp trên cách một cấp quyết định. Quyết định này phải báo cáo lên cấp ủy cấp trên trực tiếp và Ủy ban Kiểm tra Trung ương" (Điều 37).
"Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó" (Điều 38).
"Quyết định của cấp dưới về kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm phải báo cáo lên cấp ủy, ủy ban kiểm tra cấp trên trực tiếp; nếu đảng viên vi phạm tham gia nhiều cơ quan lãnh đạo của đảng thì phải báo cáo đến các cơ quan lãnh đạo cấp trên mà đảng viên đó là thành viên" (Điều 39).
"Tổ chức đảng, đảng viên không đồng ý với quyết định kỷ luật thì trong vòng một tháng, kể từ ngày nhận quyết định, có quyền khiếu nại với cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra cấp trên cho đến Ban Chấp hành Trung ương" (Điều 39).
"Khi nhận được khiếu nại, cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra thông báo cho tổ chức đảng hoặc đảng viên khiếu nại biết; chậm nhất ba tháng đối với cấp tỉnh, thành phố, huyện, quận và tương đương, sáu tháng đối với cấp Trung ương, kể từ ngày nhận được khiếu nại, phải xem xét, giải quyết, trả lời cho tổ chức đảng và đảng viên khiếu nại biết" (Điều 39).
"Việc đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp ủy của cấp ủy viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng phải được cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra có thẩm quyền quyết định theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương" (Điều 40).
2. Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
a) Uỷ ban kiểm tra từ cấp huyện, quận và tương đương trở lên quyết định các hình thức kỷ luật đảng viên, nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp; quyết định khiển trách, cảnh cáo đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cùng cấp quản lý và cấp uỷ viên cấp dưới trực tiếp.
- Uỷ ban kiểm tra của đảng uỷ cơ sở không được quyền thi hành kỷ luật đảng viên, nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận và đề xuất ý kiến với đảng uỷ cơ sở và uỷ ban kiểm tra cấp trên trong việc xử lý kỷ luật đảng viên.
- Uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ huyện, quận và tương đương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên cơ sở (kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ viên thường vụ) và cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp mình quản lý nhưng không phải là cấp uỷ viên cùng cấp; quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, kể cả đảng viên là bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên của chi bộ, đảng uỷ bộ phận trực thuộc đảng bộ cơ sở hoặc cán bộ thuộc diện đảng uỷ cơ sở quản lý nhưng không phải là đảng uỷ viên đảng uỷ cơ sở hay cán bộ do cấp uỷ huyện, quận và cấp tương đương quản lý.
- Uỷ ban kiểm tra của tỉnh uỷ, thành uỷ và của cấp uỷ tương đương quyết định khiển trách, cảnh cáo cấp uỷ viên huyện, quận và tương đương (kể cả bí thư, phó bí thư, uỷ viên ban thường vụ); cán bộ thuộc diện tỉnh uỷ, thành uỷ và cấp uỷ tương đương quản lý nhưng không phải là tỉnh uỷ, thành uỷ, cấp uỷ viên cấp tương đương; quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, kể cả bí thư, phó bí thư, cấp uỷ viên cơ sở trở xuống nhưng không phải là cấp uỷ viên cấp huyện, quận hoặc cán bộ do cấp uỷ tỉnh, thành và cấp tương đương quản lý.
b) Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên có quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật do cấp dưới quyết định.
Quyền chuẩn y, thay đổi hoặc xoá bỏ hình thức kỷ luật của cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra cấp trên đã nêu trong phần giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng (xem trả lời câu hỏi 57, 58).
c) Uỷ ban kiểm tra các cấp căn cứ nội dung, tính chất, mức độ tác hại và nguyên nhân vi phạm của đối tượng bị kỷ luật mà xem xét, quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức thích hợp theo thẩm quyền và phải chịu trách nhiệm trước quyết định đó. Trường hợp uỷ ban kiểm tra các cấp quyết định kỷ luật đảng viên oan, sai thì phải xem xét huỷ bỏ quyết định đó; đồng thời phải kiểm điểm, rút kinh nghiệm, nếu đến mức phải xử lý kỷ luật thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên xem xét, xử lý kỷ luật.
Câu hỏi 68: Thi hành kỷ luật tổ chức đảng vi phạm như thế nào?
Trả lời:
Điều lệ Đảng quy định:
"1. Cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định khiển trách, cảnh cáo tổ chức đảng cấp dưới.
"2. Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng do cấp uỷ cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp uỷ cấp trên cách một cấp quyết định. Quyết định này phải báo cáo lên cấp uỷ cấp trên trực tiếp và Uỷ ban Kiểm tra Trung ương.
"3. Chỉ giải tán một tổ chức đảng khi tổ chức đảng đó phạm một trong các trường hợp: Có hành động chống đường lối, chính sách của Đảng; vi phạm đặc biệt nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng hoặc pháp luật của Nhà nước" (Điều 37).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Đảng uỷ cơ sở, cấp uỷ và ban thường vụ cấp uỷ huyện, quận và tương đương trở lên có quyền thi hành kỷ luật tổ chức đảng theo quy định của Điều lệ Đảng. Uỷ ban kiểm tra các cấp không được quyền thi hành kỷ luật tổ chức đảng nhưng có trách nhiệm xem xét, kết luận, đề xuất ý kiến với cấp uỷ trong việc xử lý kỷ luật tổ chức đảng.
- Thi hành kỷ luật một tổ chức đảng phải xem xét và quy rõ trách nhiệm của tổ chức đó để xử lý cho đúng. Đồng thời, phải xem xét trách nhiệm cá nhân và thi hành kỷ luật đối với những đảng viên vi phạm có liên quan đến vi phạm của tổ chức đảng.
- Khi tổ chức đảng bị thi hành kỷ luật thì tất cả thành viên trong tổ chức ấy đều phải chịu trách nhiệm, phải ghi rõ nội dung, hình thức kỷ luật đối với tổ chức vào lý lịch từng thành viên. Những thành viên không tán thành hoặc không liên quan trực tiếp đến quyết định sai lầm của tổ chức đó cũng được ghi rõ vào lý lịch đảng viên.
Tổ chức đảng bị khiển trách, cảnh cáo do cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định. Tổ chức đảng bị giải tán do cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp trên trực tiếp đề nghị; cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ cấp trên một cấp quyết định. Ví dụ: Giải tán chi bộ trong đảng bộ cơ sở thì đảng uỷ cơ sở đề nghị; ban thường vụ huyện uỷ, quận uỷ, cấp uỷ tương đương quyết định. Đảng uỷ, đảng bộ bộ phận không có thẩm quyền thi hành kỷ luật.
2. Những tổ chức đảng vi phạm một trong các nội dung sau đây thì giải tán:
+ Có hành động chống đối quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng với các hành vi cụ thể như: Tổ chức, kích động, xúi giục, cưỡng bức quần chúng mít tinh, biểu tình trái với quy định của pháp luật; xuyên tạc sự thật, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; có hành động cụ thể chống Đảng.
+ Vi phạm đặc biệt nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng hoặc pháp luật Nhà nước với các hành vi cụ thể như: Bỏ nhiều kỳ không sinh hoạt; cố ý không chấp hành nghị quyết, chỉ thị, chủ trương, chính sách, các nguyên tắc, quy chế, quy định, quyết định của Đảng, pháp luật Nhà nước; chia rẽ bè phái, mất đoàn kết nghiêm trọng, không còn vai trò và tác dụng lãnh đạo đối với địa phương, đơn vị.
Ngoài hai nội dung nêu trên, nếu tổ chức đảng có vi phạm những nội dung sau thì cần làm rõ nội dung, tính chất, mức độ, tác hại và nguyên nhân vi phạm (do cố ý, do nhận thức không đúng, do năng lực lãnh đạo yếu, do cơ chế...) và căn cứ việc tự phê bình, tiếp thu phê bình, sửa chữa sai lầm, khuyết điểm để vận dụng xử lý bằng hình thức phù hợp.
Vì lợi ích cục bộ mà có nghị quyết, quyết định sai (cấp đất, bán đất, cho đấu thầu đất sai quy định, khai không đúng các khoản phí, lệ phí do nhân dân đóng góp, huy động vốn nhưng mất khả năng thanh toán, quy định để tỉ lệ phần trăm bồi dưỡng để xin vốn, khoanh nợ, giảm diện tích, giấu nguồn thu, trích lại các khoản tiền hỗ trợ khắc phục thiên tai, trợ giá, lập quỹ trái phép,...) nhằm thu tiền, chi tiêu sai mục đích dẫn đến làm thất thoát, tham nhũng, lãng phí gây hậu quả xấu; hữu khuynh, buông lỏng lãnh đạo, quản lý, điều hành để tổ chức và nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính và pháp luật Nhà nước,...; không chấp hành nghiêm chế độ tự phê bình, phê bình, chế độ kiểm tra, bao che vi phạm.
3. Kỷ luật giải tán một tổ chức đảng và khai trừ đảng viên phải được ít nhất hai phần ba số thành viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và do tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định.
Quyết định kỷ luật hoặc đề nghị thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách, cảnh cáo, cách chức đối với đảng viên; khiển trách, cảnh cáo đối với tổ chức đảng phải được biểu quyết với sự đồng ý của trên một nửa số đảng viên hoặc cấp uỷ viên của tổ chức đảng đó. Trường hợp khai trừ đảng viên, giải tán tổ chức đảng thì phải được sự đồng ý của ít nhất hai phần ba số đảng viên hoặc cấp uỷ viên của tổ chức đảng cấp dưới đề nghị và được sự đồng ý của trên một nửa số thành viên của tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền quyết định.
Một nửa hay hai phần ba quy định ở trên được tính trên tổng số thành viên có quyền biểu quyết của tổ chức đảng (ở chi bộ là số đảng viên chính thức, trừ số đảng viên được miễn sinh hoạt không có mặt tại cuộc họp; ở cấp uỷ là tổng số cấp uỷ viên), không phải tính trên số thành viên có mặt trong cuộc họp.
Câu hỏi 69: Xử lý các trường hợp vi phạm không thuộc thẩm quyền của mình hoặc cấp dưới không thi hành kỷ luật tổ chức, đảng viên vi phạm như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
1. Tổ chức đảng và đảng viên vi phạm không thuộc thẩm quyền quyết định kỷ luật của cấp mình thì đề nghị lên cấp có thẩm quyền quyết định.
- Các tổ chức đảng có quyền quyết định hoặc đề nghị thi hành kỷ luật theo quy định của Điều lệ Đảng. Khi xử lý kỷ luật tổ chức đảng và đảng viên vi phạm, phải quyết định theo đúng thẩm quyền, nếu không thuộc thẩm quyền thì đề nghị tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.
- Việc biểu quyết kỷ luật (biểu quyết đề nghị, biểu quyết quyết định) phải bằng phiếu kín. Trường hợp biểu quyết kỷ luật không đủ số phiếu cần thiết thì báo cáo đầy đủ bằng văn bản kết quả bỏ phiếu để tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền xem xét, quyết định.
2. Trường hợp tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức đối với tổ chức đảng và đảng viên vi phạm thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên quyết định các hình thức kỷ luật theo thẩm quyền, đồng thời xem xét trách nhiệm của tổ chức đảng đó.
Qua hoạt động công tác kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện có trường hợp vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật nhưng tổ chức đảng cấp dưới không xử lý hoặc xử lý không đúng mức thì cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp quyết định xử lý kỷ luật theo thẩm quyền, không phải làm thủ tục từ dưới lên. Tổ chức đảng cấp dưới, tổ chức đảng và đảng viên vi phạm bị xử lý phải nghiêm chỉnh chấp hành quyết định xử lý kỷ luật của tổ chức đảng cấp trên.
Đối với tổ chức đảng có trách nhiệm xem xét, xử lý, nhưng không xử lý hoặc xử lý không đúng mức tổ chức đảng và đảng viên vi phạm và có dấu hiệu vi phạm Điều lệ Đảng, phải được kiểm tra làm rõ đúng, sai và nguyên nhân; nếu xét thấy có vi phạm đến mức phải xử lý kỷ luật thì phải xử lý đúng mức tổ chức đảng đó.
Câu hỏi 70: Thẩm tra, xác minh là một công tác nghiệp vụ quan trọng trong công tác kiểm tra, bảo đảm kết luận sự việc được chính xác, đúng đắn, vậy phải làm thế nào để đạt hiệu quả thiết thực?
Trả lời:
1. Việc thi hành kỷ luật đảng viên, giải quyết tố cáo, khiếu nại của đảng viên có liên quan đến nhiều tổ chức, nhiều người ở nhiều địa điểm, thời gian khác nhau; các vụ việc thường diễn ra trong bối cảnh không gian, thời gian, hoàn cảnh, điều kiện cụ thể và có những diễn biến khác nhau... Do vậy, trong quá trình giải quyết công việc, ủy ban kiểm tra các cấp và cán bộ kiểm tra phải hết sức chú ý làm tốt công tác thẩm tra, xác minh, thực chất là điều tra, xem xét lại, tìm bằng chứng để làm rõ sự thật về một vấn đề, bảo đảm đưa ra những kết luận đúng đắn, quyết định xử lý chính xác.
Trước hết, cần xác định đúng nội dung, đối tượng cần thẩm tra, xác minh; từ đó lập kế hoạch tiến hành công việc: xác định rõ mục đích, yêu cầu, nội dung, đối tượng cần thẩm tra, xác minh; những bằng chứng cần sưu tầm; những cá nhân và tổ chức cần tiếp xúc; thời gian và cách tiến hành; phân công, phân nhiệm cụ thể cho từng người.
2. Quy trình thẩm tra, xác minh, gồm những việc:
a) Thu thập đầy đủ bằng chứng gồm người, hiện vật, tài liệu có liên quan đến sự việc (đương sự, nhân chứng, vật chứng); soát xét lại hồ sơ, những tài liệu đã có, sưu tầm những tài liệu còn thiếu hoặc những tài liệu chính thức có giá trị chứng cứ, làm rõ được diễn biến của sự việc (thời gian, không gian, tình tiết), những văn bản của Đảng và Nhà nước có quan hệ đến những vấn đề cần thẩm tra, xác minh; cán bộ thẩm tra phải trực tiếp nghe, nhìn, đọc những thông tin, tư liệu cần thiết.
b) Nghiên cứu, phân tích, xử lý thông tin: Đánh giá lại chuẩn xác từng nguồn thông tin, tổng hợp tình hình và phân tích sự việc trong toàn bộ hệ thống thông tin, tư liệu đã thu thập được; qua đó nêu và làm sáng tỏ những giả thiết, loại dần các giả thiết, yếu tố không hợp lý, đề ra được kết luận đúng đắn: nội dung, tính chất sự việc, mức độ, tính chất, tác hại của vi phạm nếu có; trách nhiệm và mức độ trách nhiệm của từng người, từng tổ chức.
c) Tiếp xúc với những tổ chức có liên quan: Trao đổi ý kiến hoặc lấy ý kiến kết luận của các cơ quan chuyên môn về các lĩnh vực có liên quan đến nội dung thẩm tra, xác minh, nhằm chứng minh hoặc thẩm định tính chính xác, hợp pháp của những vấn đề cần thẩm tra, xác minh; trao đổi ý kiến với tổ chức đảng quản lý đảng viên hoặc tổ chức đảng đã quyết định thi hành kỷ luật trước đây về toàn bộ diễn biến, tình tiết của sự việc, nhằm giúp những tổ chức đó hiểu rõ bản chất sự việc và thống nhất xác định sự việc, cần báo cáo lại với ủy ban kiểm tra những vấn đề còn khác ý kiến nhau.
d) Làm báo cáo thẩm tra, xác minh: Diễn biến, nội dung, tính chất của sự việc đã được thẩm tra, xác minh; những việc chưa rõ, chưa hoặc không có điều kiện thẩm tra, xác minh; những vấn đề chưa thống nhất giữa cán bộ kiểm tra với các tổ chức và cá nhân có liên quan... Trong báo cáo, cần lưu ý cả những yếu tố, tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng mức độ vi phạm để kết luận, xử lý được thỏa đáng.
3. Để thẩm tra, xác minh được chính xác, cán bộ kiểm tra vừa phải nắm vững nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng, vừa phải có kiến thức và phương pháp công tác khoa học, đồng thời phải có tinh thần trách nhiệm cao, trung thực, vì lợi ích của Đảng, không có động cơ cá nhân, không cảm tình, nể nang, định kiến, hẹp hòi. Tự phê bình và phê bình là một căn cứ rất quan trọng, nhưng bằng chứng, sự thật là yếu tố quan trọng nhất. Không được tiết lộ bí mật về người cung cấp thông tin, bằng chứng và giữ bí mật các tài liệu, nội dung thẩm tra, xác minh. Không được dùng nguồn tin, tài liệu của những người mắc bệnh tâm thần và những bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi (được cơ quan y tế xác nhận). Làm tốt công tác tư tưởng đối với những người có liên quan đến việc thẩm tra, xác minh.
Câu hỏi 71: Tại sao phải lập hồ sơ về công tác kiểm tra và có những loại hồ sơ gì?
Trả lời:
1. Các văn bản về công tác kiểm tra phải được lập thành các hồ sơ. Có hồ sơ đầy đủ, chính xác, hợp lệ mới có cơ sở xem xét, kết luận và xử lý đúng sự việc, đúng người.
Hồ sơ về công tác kiểm tra góp phần quan trọng trong việc xem xét, kết luận, thi hành kỷ luật đối với đảng viên và tổ chức đảng vi phạm; quản lý cán bộ, đảng viên và bảo vệ Đảng; có tác dụng lâu dài trong việc nghiên cứu tình hình, tổng kết kinh nghiệm công tác kiểm tra nói riêng và công tác xây dựng Đảng nói chung.
2. Có năm loại hồ sơ về công tác kiểm tra:
a) Hồ sơ về hoạt động công tác kiểm tra: Báo cáo tình hình công tác kiểm tra của ủy ban kiểm tra tại hội nghị thường kỳ của cấp ủy, các báo cáo định kỳ và báo cáo nhiệm kỳ; kế hoạch, chương trình công tác quý, năm; báo cáo hoạt động bất thường; báo cáo chuyên đề...
b) Hồ sơ về việc kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới: Thông báo hoặc quyết định kiểm tra và kế hoạch kiểm tra; báo cáo tự kiểm điểm của cá nhân hoặc tổ chức đảng được kiểm tra; các tài liệu thu thập, nghiên cứu, xác minh trong khi kiểm tra; biên bản các hội nghị liên quan đến việc kiểm tra; báo cáo kết quả kiểm tra; kết luận của ủy ban kiểm tra hoặc của cấp ủy về những vấn đề kiểm tra...
c) Hồ sơ về thi hành kỷ luật: Sơ yếu lý lịch và bản tự kiểm điểm của đảng viên hoặc tổ chức đảng bị xem xét xử lý kỷ luật; biên bản hội nghị của các tổ chức đảng có thẩm quyền trong việc xem xét, quyết định thi hành kỷ luật; báo cáo đề nghị thi hành kỷ luật (của cấp ủy cấp dưới và ủy ban kiểm tra); những tài liệu thẩm tra, xác minh; báo cáo của cán bộ được phân công nghiên cứu vụ kỷ luật; quyết định thi hành kỷ luật của cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra; những tài liệu liên quan đến công nhận đảng viên vi phạm đã sửa chữa khuyết điểm...
d) Hồ sơ giải quyết tố cáo: Thư tố cáo, công văn trích thư tố cáo và yêu cầu của ủy ban kiểm tra đối với người hoặc tổ chức đảng bị tố cáo và tổ chức đảng có người bị tố cáo; báo cáo của người hoặc tổ chức bị tố cáo, báo cáo thẩm tra, xác minh; biên bản hội nghị của các tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, kết luận việc tố cáo; thông báo kết luận của cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra giải quyết vụ tố cáo; nếu vụ tố cáo có thi hành kỷ luật thì có thêm những văn bản về thi hành kỷ luật.
đ) Hồ sơ giải quyết thư khiếu nại kỷ luật: Ngoài những văn bản về thi hành kỷ luật, có thêm thư khiếu nại về kỷ luật của đảng viên; báo cáo thẩm tra, xác minh; biên bản hội nghị của các tổ chức đảng có thẩm quyền trong việc giải quyết thư khiếu nại; quyết định của cấp ủy hoặc ủy ban kiểm tra có thẩm quyền giải quyết thư khiếu nại...
3. Những điểm cần chú ý khi lập hồ sơ:
a) Các văn bản trong hồ sơ phải được thu thập đầy đủ, có chọn lọc và chỉnh lý; có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, đúng thể thức, chính xác, có giá trị pháp lý.
b) Đưa vào hồ sơ các văn bản chính, bản sao phải có dấu và chữ ký của cơ quan có thẩm quyền sao lục, bản thảo có ghi ý kiến của các đồng chí lãnh đạo có thẩm quyền giải quyết vụ kỷ luật.
c) Tài liệu xếp theo thứ tự thời gian, diễn biến của sự việc, có hạng mục ghi rõ các loại tài liệu trong hồ sơ để tiện tra cứu.
4. Hồ sơ được lưu trữ, quản lý chặt chẽ, theo chế độ tài liệu mật; người không có trách nhiệm không được mượn đọc hồ sơ về kỷ luật; người cần nghiên cứu phải được cơ quan giới thiệu và đồng chí thường trực ủy ban kiểm tra cho phép và nói chung phải đọc tại chỗ (trừ ủy ban kiểm tra cấp trên, ban tổ chức cấp ủy). Ở các ủy ban kiểm tra cần phân công cán bộ lưu giữ, quản lý hồ sơ về kỷ luật. Cấp nào quyết định và ra văn bản giải quyết sự việc thì cấp đó giữ hồ sơ gốc; hồ sơ gốc được chuyển lưu giữ ở cơ quan kiểm tra cấp trên giải quyết khiếu nại kỷ luật. Khi hợp nhất nhiều đảng bộ hoặc giải thể một đảng bộ thì chuyển hồ sơ cho đảng bộ mới hoặc cấp trên trực tiếp lưu trữ.
Câu hỏi 72: Cán bộ kiểm tra phải có những phẩm chất gì và rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ, năng lực công tác như thế nào?
Trả lời:
Do tầm quan trọng của công tác kiểm tra, ủy ban kiểm tra và từng cán bộ kiểm tra phải chăm lo rèn luyện phẩm chất và năng lực công tác theo yêu cầu nhiệm vụ đổi mới, chỉnh đốn Đảng và sự nghiệp đổi mới nói chung.
1. Rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng:
Cán bộ kiểm tra phải rèn luyện theo tiêu chuẩn cán bộ chung của Đảng và yêu cầu nhiệm vụ đảng viên.
a) Trước hết, phải nắm vững, hoàn toàn nhất trí và thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật Nhà nước. Nhiệm vụ này đòi hỏi cán bộ kiểm tra một mặt phải tuyệt đối trung thành với lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối đối nội, đối ngoại của Đảng, pháp luật của Nhà nước và mọi nhiệm vụ được giao, mặt khác phải kiên quyết đấu tranh bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng.
b) Có tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức, kỷ luật cao, trung thực, khách quan, chí công vô tư, vì lợi ích của Đảng và sinh mệnh chính trị của đồng chí; không được có động cơ cá nhân, định kiến, thiên lệch, làm việc qua loa, tắc trách; chấp hành nghiêm chỉnh các quy định, chế độ, kỷ luật công tác (báo cáo, phát ngôn, bảo mật...).
c) Có tình cảm cách mạng trong sáng và lối sống trong sạch, lành mạnh. Biết thương yêu đồng chí, nhưng đấu tranh thẳng thắn, không e dè, xuê xoa với sai lầm, khuyết điểm của đồng chí, nghiêm khắc với bản thân, độ lượng với đồng chí.
2. Nâng cao năng lực, trình độ công tác:
a) Am hiểu về công tác xây dựng Đảng và công tác kiểm tra của Đảng; nắm vững lý luận, quan điểm, nguyên tắc xây dựng Đảng của chủ nghĩa Mác - Lênin; phương hướng, phương châm, nhiệm vụ xây dựng Đảng ta theo yêu cầu đổi mới, chỉnh đốn Đảng; nắm nghị quyết, chỉ thị về công tác xây dựng Đảng, Cương lĩnh và Điều lệ Đảng. Trong đó, chú trọng nắm vững lý luận, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo, phương hướng cơ bản tiến hành công tác kiểm tra và phương hướng, phương châm, nguyên tắc, thủ tục thi hành kỷ luật của Đảng; nắm vững Điều lệ Đảng, những quy định về công tác kiểm tra, thi hành kỷ luật và nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc của ủy ban kiểm tra, thành thạo các mặt nghiệp vụ công tác kiểm tra.
b) Có kiến thức về những vấn đề cần thiết cho công tác kiểm tra. Kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng ở ngành nào phải hiểu biết những vấn đề cần thiết về công tác của ngành ấy, nếu không sẽ gặp khó khăn, lúng túng hoặc kết luận không chính xác khi kiểm tra. Ngoài ra, còn phải có hiểu biết về tình hình chung của cách mạng, của xã hội và của địa phương, đơn vị mình kiểm tra; phải đi sâu đi sát cuộc sống, có kinh nghiệm và từng trải trong cuộc sống, có hiểu biết nhất định về tâm lý con người.
3. Phẩm chất đạo đức, năng lực, trình độ của cán bộ phải qua học tập, rèn luyện trong cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài mới có được:
a) Từng cán bộ phải có tinh thần nỗ lực học tập, cầu tiến bộ; khắc phục bệnh lười học, lười suy nghĩ, chủ quan thỏa mãn với trình độ, kiến thức của mình. Không chịu vươn lên làm chủ công việc được giao. Có nhiều hình thức, biện pháp học tập: trường học, tự học, học tại chức, kinh nghiệm công tác thực tế...
b) Phải giữ vững và thực hiện tốt chế độ sinh hoạt Đảng; tu dưỡng, rèn luyện qua việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, sinh hoạt đảng và qua sinh hoạt đảng, đề cao tinh thần tự phê bình và phê bình, tự kiểm tra và chịu sự giám sát của tập thể, của quần chúng.
c) Ủy ban kiểm tra các cấp thường xuyên quan tâm việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: quy hoạch cán bộ, tạo nguồn bổ sung cán bộ, kế hoạch học tập của cơ quan mình và tổ chức kiểm tra cấp dưới, nhận xét cán bộ hằng năm...
Câu hỏi 73: Việc đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên và đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng được thực hiện như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X quy định (Quy định số 23-QĐ/TW):
1. Việc đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng nhằm ngăn chặn hành vi gây trở ngại cho việc xem xét, kết luận của tổ chức đảng có thẩm quyền, hoặc hành vi làm cho vi phạm trở nên nghiêm trọng hơn. Do đó, chỉ áp dụng trong các trường hợp sau:
- Đảng viên (kể cả cấp uỷ viên) bị cơ quan pháp luật có thẩm quyền quyết định truy tố, tạm giam; có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cụ thể cố ý gây trở ngại cho hoạt động của cấp uỷ và công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng thì đình chỉ sinh hoạt đảng.
- Cấp uỷ viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi gây trở ngại cho công tác kiểm tra, kỷ luật của Đảng hoặc bị khởi tố trở lên thì đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ.
- Tổ chức đảng có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng mà có hành vi cụ thể cố ý gây trở ngại cho hoạt động của tổ chức đảng, cho công tác lãnh đạo và kiểm tra, kỷ luật của Đảng thì đình chỉ hoạt động.
2. Thời hạn đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng:
- Thời hạn đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ đối với cấp uỷ viên có dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng kỷ luật đảng là 90 ngày; trường hợp cần thiết phải gia hạn thì thời hạn đình chỉ kể cả gia hạn nhiều nhất không quá 180 ngày.
- Thời hạn đình chỉ hoạt động đối với tổ chức đảng nhiều nhất không quá 90 ngày.
- Thời hạn đình chỉ sinh hoạt đảng đối với đảng viên, cấp uỷ viên bị truy tố, tạm giam; thời hạn đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên được tính theo thời hạn khởi tố, truy tố, thời hạn tạm giam (kể cả gia hạn nếu có) theo quy định của pháp luật hiện hành.
Đảng viên là thủ trưởng và tổ chức đảng của các cơ quan pháp luật có thẩm quyền, khi quyết định khởi tố, truy tố, tạm giam đối với công dân là đảng viên thì phải kịp thời thông báo bằng văn bản các quyết định nói trên đến cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên đó. Tổ chức đảng quản lý đảng viên bị tạm giam, truy tố cần chủ động quan hệ với tổ chức đảng và đảng viên là thủ trưởng cơ quan pháp luật (cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử), nắm chắc thời hạn bị tạm giam của đảng viên, không để bị kéo dài so với quy định của pháp luật.
3. Thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng:
Tổ chức đảng nào có thẩm quyền khai trừ đảng viên, cách chức cấp uỷ viên, giải tán tổ chức đảng thì tổ chức đảng đó có thẩm quyền đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng.
a) Đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên do chi bộ và đảng uỷ cơ sở đề nghị, uỷ ban kiểm tra cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng hoặc đảng uỷ cơ sở được uỷ quyền quyết định. Đối với đảng viên là cán bộ thuộc diện cấp uỷ cấp trên quản lý, chi bộ và đảng uỷ cơ sở đề nghị, ban thường vụ cấp uỷ quản lý cán bộ đó quyết định.
b) Đình chỉ sinh hoạt đảng hoặc đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên do chi bộ hoặc cấp uỷ cùng cấp đề nghị, cấp uỷ cấp trên trực tiếp quyết định. Nếu đảng viên tham gia nhiều cấp uỷ thì cấp uỷ phát hiện đảng viên có dấu hiệu vi phạm đề nghị cấp uỷ có thẩm quyền cách chức cấp uỷ viên, khai trừ đảng viên đó quyết định.
c) Đình chỉ hoạt động của một tổ chức đảng do cấp uỷ cấp trên trực tiếp đề nghị, cấp uỷ cấp trên cách một cấp quyết định. Đình chỉ hoạt động của một cấp uỷ hoặc ban thường vụ cấp uỷ trực thuộc Trung ương do Bộ Chính trị hoặc Ban Bí thư quyết định và báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương. Riêng đối với cấp uỷ các cấp bị đình chỉ hoạt động, sau khi có quyết định đình chỉ, cấp uỷ cấp trên trực tiếp chỉ định một cấp uỷ lâm thời để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ của cấp uỷ đã bị đình chỉ hoạt động. Nếu cấp uỷ bị đình chỉ hoạt động được quyết định trở lại hoạt động hoặc bị kỷ luật giải tán và đã lập lại tổ chức đảng, thì cấp uỷ lâm thời đương nhiên giải thể.
d) Khi có đủ căn cứ phải đình chỉ mà tổ chức đảng cấp dưới không đề nghị đình chỉ hoặc không đình chỉ và trong trường hợp cần thiết, thì tổ chức đảng cấp trên có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên hoặc đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng. Quyết định đó được thông báo cho đảng viên, cấp uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt, tổ chức đảng bị đình chỉ hoạt động và các tổ chức đảng có liên quan để chấp hành.
đ) Uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện việc đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng thuộc phạm vi quản lý của cấp uỷ cấp mình; giúp cấp uỷ làm các thủ tục đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng theo đúng quy định.
4. Trường hợp đặc biệt, đối với những vụ việc đang trong quá trình điều tra, kiểm tra, giám sát, nhận thấy cán bộ có dấu hiệu liên quan đến trách nhiệm cá nhân hoặc có những dấu hiệu vi phạm nghiêm trọng, nếu để đương chức có trở ngại cho việc xem xét, kết luận, thì ngoài việc đã đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên hoặc đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định đình chỉ chức vụ trong Đảng (cả chức vụ bầu cử và chức vụ bổ nhiệm) mà cán bộ đó đang đảm nhiệm; đồng thời giao trách nhiệm cho ban cán sự đảng, đảng đoàn hoặc cấp uỷ nơi quản lý cán bộ đó chỉ đạo tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội cùng cấp quyết định đình chỉ chức vụ về chính quyền, đoàn thể theo thẩm quyền và theo quy định của Nhà nước, của tổ chức đó.
Sau khi kết thúc điều tra, kiểm tra, nếu cán bộ đó vi phạm pháp luật thì xử lý theo quy định của pháp luật; đồng thời phải xem xét, thi hành kỷ luật đảng. Nếu cán bộ đó không vi phạm hoặc vi phạm không đến mức cách chức thì khôi phục lại chức vụ đã đình chỉ hoặc bố trí làm công tác khác.
Trường hợp tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội có thẩm quyền đình chỉ chức vụ về chính quyền hoặc đoàn thể đối với đảng viên, thì đảng viên là thủ trưởng hoặc tổ chức đảng trong cơ quan của đảng viên đó phải kịp thời thông báo cho uỷ ban kiểm tra cùng cấp để uỷ ban kiểm tra đề nghị tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định việc đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ hoặc đình chỉ chức vụ về Đảng mà đảng viên đó đang đảm nhiệm.
5. Trong thời gian đảng viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, cấp uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng bị đình chỉ hoạt động, cán bộ bị đình chỉ chức vụ phải chấp hành nghiêm chỉnh các yêu cầu của tổ chức đảng có thẩm quyền (tường trình sự việc, tự kiểm điểm về những vi phạm, thực hiện các nhiệm vụ được giao...); được đề đạt ý kiến của mình với tổ chức đảng có thẩm quyền nhưng không được lấy danh nghĩa tổ chức đảng hoặc danh nghĩa cấp uỷ viên, danh nghĩa chức vụ đã bị đình chỉ để điều hành công việc.
6. Tổ chức đảng có thẩm quyền phải nhanh chóng xem xét, kết luận rõ nội dung vi phạm của đảng viên, cấp uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt, tổ chức đảng bị đình chỉ hoạt động, cán bộ bị đình chỉ chức vụ để quyết định việc đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt, tổ chức đảng trở lại hoạt động, cán bộ trở lại chức vụ cũ hoặc bố trí làm việc khác và xem xét, xử lý kỷ luật bằng hình thức thích hợp cả về Đảng, về chính quyền, về các đoàn thể chính trị - xã hội. Trường hợp không thuộc thẩm quyền của mình thì phải chỉ đạo hoặc kiến nghị với các tổ chức đảng có thẩm quyền để xem xét, quyết định.
7. Khi đảng viên hết thời hạn bị tạm giam (kể cả gia hạn, nếu có), không còn bị cơ quan pháp luật truy tố, thì đảng viên là thủ trưởng và tổ chức đảng các cơ quan pháp luật (cơ quan điều tra, cơ quan kiểm sát, cơ quan xét xử) có trách nhiệm thông báo kịp thời bằng văn bản đến cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên đó để xem xét việc quyết định cho đảng viên trở lại sinh hoạt và xem xét, xử lý kỷ luật đảng theo mức độ vi phạm.
8. Trường hợp hết thời hạn tạm giam hoặc không bị tạm giam nhưng vẫn bị truy tố, xét xử thì chưa quyết định cho đảng viên trở lại sinh hoạt đảng. Khi đảng viên bị khởi tố, truy tố hoặc bị tạm giam, nếu tổ chức đảng có thẩm quyền kết luận rõ đảng viên đó có vi phạm đến mức phải xử lý thì phải chủ động xem xét, xử lý kỷ luật đảng, không nhất thiết phải chờ kết luận hoặc tuyên phạt của toà án có thẩm quyền. Sau khi có bản án hoặc quyết định của toà án, tổ chức đảng có thẩm quyền thi hành kỷ luật xem xét quyết định tăng nặng hoặc giảm nhẹ hình thức kỷ luật đảng đối với đảng viên vi phạm.
Câu hỏi 74: Thực hiện việc xem xét cho đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ và tổ chức đảng trở lại hoạt động như thế nào?
Trả lời:
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khoá X hướng dẫn cụ thể (Quyết định số 25-QĐ/TW):
a) Tổ chức đảng có thẩm quyền phải nhanh chóng xem xét, kết luận nội dung vi phạm của đảng viên, cấp uỷ viên bị đình chỉ sinh hoạt đảng, sinh hoạt cấp uỷ, tổ chức đảng bị đình chỉ hoạt động để quyết định đảng viên, cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt, tổ chức đảng trở lại hoạt động và xem xét, xử lý kỷ luật đảng bằng hình thức phù hợp; kịp thời chỉ đạo việc xem xét, xử lý kỷ luật về chính quyền, về các đoàn thể. Trường hợp không thuộc thẩm quyền thì phải chỉ đạo hoặc kiến nghị với các tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, quyết định. Trường hợp đảng viên đang bị tạm giam, bị truy tố, xét xử thì tổ chức đảng có thẩm quyền nếu nắm vững vi phạm của đảng viên đó, có thể quyết định thi hành kỷ luật ngay bằng hình thức phù hợp, không nhất thiết phải quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên, tổ chức đảng trở lại sinh hoạt, hoạt động mới xem xét, xử lý kỷ luật.
b) Khi đảng viên không còn bị tạm giam và không bị cơ quan pháp luật truy tố, thì tổ chức đảng hoặc đảng viên là thủ trưởng của cơ quan pháp luật có trách nhiệm thông báo kịp thời bằng văn bản đến cấp uỷ hoặc uỷ ban kiểm tra của cấp uỷ quản lý đảng viên đó để quyết định cho đảng viên trở lại sinh hoạt và xem xét, xử lý kỷ luật đảng (nếu đến mức phải thi hành kỷ luật). Trường hợp đình chỉ điều tra thì quyết định cho cấp uỷ viên trở lại sinh hoạt cấp uỷ.
Trường hợp hết thời hạn tạm giam, hoặc không bị tạm giam, nhưng vẫn bị truy tố, xét xử thì tổ chức đảng chưa quyết định cho đảng viên trở lại sinh hoạt đảng.
c) Về thủ tục ra quyết định đình chỉ, quyết định trở lại sinh hoạt, hoạt động:
Tổ chức đảng nào quyết định đình chỉ sinh hoạt đảng của đảng viên, đình chỉ sinh hoạt cấp uỷ của cấp uỷ viên, đình chỉ hoạt động của tổ chức đảng thì tổ chức đảng đó quyết định cho đảng viên, cấp uỷ viên, tổ chức đảng trở lại sinh hoạt, hoạt động. Uỷ ban kiểm tra giúp cấp uỷ chuẩn bị các văn bản, quyết định các trường hợp thuộc thẩm quyền của cấp uỷ.
______________
Chú thích:
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Sđd, tr. 134-135.
Mục III - Cơ quan nhà nước Quốc hội, Hội đồng nhân dân Câu hỏi 75: Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có vai trò, nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Quốc hội là cơ quan đại biểu của nhân dân cả nước.
Theo Hiến pháp (năm 1992 và sửa đổi, bổ sung năm 2001), Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp; quyết định những chính sách cơ bản về đối nội và đối ngoại, nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của Nhà nước.
Quốc hội có những nhiệm vụ sau:
1. Làm Hiến pháp và sửa đổi Hiến pháp; làm luật và sửa đổi luật, quyết định chương trình xây dựng luật, pháp lệnh.
2. Thực hiện quyền giám sát tối cao việc tuân theo Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội; xét báo cáo hoạt động của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
3. Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
4. Quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia, quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương; phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế.
5. Quyết định chính sách dân tộc, tôn giáo của Nhà nước.
6. Quy định tổ chức và hoạt động của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân và chính quyền địa phương.
7. Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, các Phó Chủ tịch Quốc hội và các ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của chính phủ; phê chuẩn đề nghị của Chủ tịch nước về danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh; bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn.
8. Quyết định thành lập, bãi bỏ các bộ, cơ quan ngang bộ của Chính phủ; thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; thành lập hoặc giải thể đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt.
9. Bãi bỏ các văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường trực Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật và các nghị quyết của Quốc hội.
10. Quyết định đại xá.
11. Quy định hàm, cấp trong các lực lượng vũ trang nhân dân, hàm, cấp ngoại giao và những hàm, cấp nhà nước khác; quy định huân chương, huy chương và danh hiệu vinh dự Nhà nước.
12. Quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình; quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia.
13. Quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn hoặc bãi bỏ điều ước quốc tế do Chủ tịch nước trực tiếp ký, phê chuẩn hoặc bãi bỏ các điều ước quốc tế khác đã được ký kết hoặc gia nhập theo đề nghị của Chủ tịch nước.
14. Quyết định việc trưng cầu ý dân.
Nhiệm kỳ mỗi khóa Quốc hội là năm năm. Quốc hội khóa mới phải được bầu xong trước hai tháng khi Quốc hội hết nhiệm kỳ. Bầu cử Quốc hội theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Thể lệ bầu cử và số lượng đại biểu Quốc hội do luật định.
Trường hợp đặc biệt, nếu được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành thì Quốc hội quyết định rút ngắn hoặc kéo dài nhiệm kỳ của mình. Quốc hội họp mỗi năm hai kỳ do Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập. Trường hợp Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ hoặc ít nhất một phần ba tổng số đại biểu Quốc hội yêu cầu hoặc theo quyết định của mình, Ủy ban Thường vụ Quốc hội triệu tập Quốc hội họp bất thường. Kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa mới được triệu tập chậm nhất là hai tháng kể từ ngày bầu cử đại biểu Quốc hội, do Chủ tịch Quốc hội khóa trước khai mạc và chủ tọa cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch Quốc hội khóa mới.
Câu hỏi 76: Là cơ quan thường trực của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội được lập ra như thế nào và có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Theo Hiến pháp, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của Quốc hội, do Quốc hội bầu ra tại kỳ họp thứ nhất của mỗi khóa Quốc hội.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của pháp luật, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Ủy ban Thường vụ Quốc hội tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể, quyết định theo đa số. Ủy ban Thường vụ Quốc hội gồm có Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các ủy viên. Số thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội do Quốc hội quyết định. Thành viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể đồng thời là thành viên Chính phủ.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Công bố và chủ trì việc bầu cử đại biểu Quốc hội;
2. Tổ chức việc chuẩn bị, triệu tập và chủ trì các kỳ họp Quốc hội;
3. Giải thích Hiến pháp, luật, pháp lệnh;
4. Ra pháp lệnh về những vấn đề được Quốc hội giao.
5. Giám sát việc thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; giám sát hoạt động của Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; đình chỉ việc thi hành các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội quyết định việc huỷ bỏ các văn bản đó; huỷ bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao trái với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
6. Giám sát và hướng dẫn hoạt động của hội đồng nhân dân; bãi bỏ các nghị quyết sai trái của hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; giải tán hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương khi hội đồng nhân dân đó làm thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của nhân dân.
7. Chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội; hướng dẫn và bảo đảm điều kiện hoạt động của các đại biểu Quốc hội.
8. Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược và báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kỳ họp gần nhất của Quốc hội.
9. Quyết định tổng động viên hoặc động viên cục bộ; ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương.
10. Thực hiện quan hệ đối ngoại của Quốc hội.
11. Tổ chức trưng cầu ý dân theo quyết định của Quốc hội.
Câu hỏi 77: Là người đứng đầu Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Chủ tịch Quốc hội là chức danh người lãnh đạo cấp cao, đứng đầu cơ quan lập pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm.
Theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Quốc hội, Chủ tịch Quốc hội có những nhiệm vụ, quyền hạn sau:
1. Chủ tọa các phiên họp của Quốc hội, bảo đảm thi hành quy chế đại biểu Quốc hội, nội quy kỳ họp Quốc hội; ký chứng thực luật, nghị quyết của Quốc hội.
2. Lãnh đạo công tác của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; dự kiến chương trình làm việc, chỉ đạo việc chuẩn bị, triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; ký pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
3. Triệu tập và chủ tọa hội nghị chủ tịch hội đồng dân tộc và chủ nhiệm Ủy ban của Quốc hội bàn chương trình hoạt động của Quốc hội, của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội; tham dự phiên họp của Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội khi xét thấy cần thiết.
4. Giữ mối quan hệ với đại biểu Quốc hội.
5. Chỉ đạo việc thực hiện kinh phí hoạt động của Quốc hội.
6. Chỉ đạo và tổ chức việc thực hiện công tác đối ngoại của Quốc hội, thay mặt Quốc hội trong quan hệ đối ngoại của Quốc hội, lãnh đạo hoạt động của Đoàn Quốc hội Việt Nam trong các tổ chức liên minh nghị viện thế giới và khu vực.
Câu hỏi 78: Là người đại biểu của nhân dân, đại biểu Quốc hội được bầu cử như thế nào và có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Đại biểu Quốc hội là người được bầu làm đại biểu của nhân dân, do cử tri ở từng đơn vị bầu cử bầu ra, với nhiệm kỳ năm năm; là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân, không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử bầu ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước.
Đại biểu Quốc hội phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thu thập và phản ánh trung thực ý chí và nguyện vọng của cử tri với Quốc hội và các cơ quan nhà nước hữu quan; thực hiện chế độ tiếp xúc và báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Quốc hội; trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc, theo dõi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân và hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện các quyền đó; phổ biến và vận động nhân dân thực hiện Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội.
Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn phải trả lời tại kỳ họp Quốc hội; trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản.
Đại biểu Quốc hội có quyền yêu cầu các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội quan tâm. Người phụ trách của các cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm trả lời những vấn đề mà đại biểu Quốc hội yêu cầu trong thời gian nhất định.
Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội. Nếu phạm tội bị bắt quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xét và quyết định.
Đại biểu Quốc hội phải dành thời gian để làm nhiệm vụ đại biểu.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các bộ trưởng, các thành viên của Chính phủ và các cơ quan khác của Nhà nước có trách nhiệm cung cấp tài liệu cần thiết mà đại biểu Quốc hội yêu cầu và tạo điều kiện để đại biểu Quốc hội làm nhiệm vụ đại biểu. Nhà nước bảo đảm kinh phí hoạt động của đại biểu Quốc hội.
Câu hỏi 79: Những cơ quan nào giúp Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thực hiện các nhiệm vụ do pháp luật quy định?
Trả lời:
Tham mưu giúp Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch, Phó Chủ tịch Quốc hội nghiên cứu, triển khai các hoạt động theo quy định của pháp luật có Văn phòng Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban, ban của Quốc hội.
1. Văn phòng Quốc hội
Văn phòng Quốc hội là cơ quan giúp việc của Quốc hội, có chức năng nghiên cứu, tham mưu tổng hợp và tổ chức phục vụ các hoạt động của Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch và các Phó chủ tịch Quốc hội; các hoạt động của Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các ban của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Văn phòng Quốc hội được tổ chức các vụ và các đơn vị tương đương trực tiếp giúp việc Hội đồng dân tộc, các Uỷ ban của Quốc hội, các ban của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các đơn vị phục vụ chung, báo chí. Chủ nhiệm và các Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.
Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội là người đứng đầu Văn phòng Quốc hội, chịu trách nhiệm trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về công tác của Văn phòng Quốc hội. Biên chế của Văn phòng Quốc hội do Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quyết định.
2. Các cơ quan của Quốc hội, do Quốc hội thành lập
Hội đồng dân tộc; Uỷ ban các vấn đề xã hội; Uỷ ban đối ngoại; Uỷ ban Khoa học, công nghệ và môi trường; Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách, Uỷ ban pháp luật; Uỷ ban Quốc phòng và An ninh; Uỷ ban Văn hoá, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng.
Theo Luật tổ chức Quốc hội, các cơ quan nói trên là cơ quan của Quốc hội, do Quốc hội thành lập, chịu trách nhiệm báo cáo hoạt động của mình trước Quốc hội; trong thời gian giữa kỳ họp Quốc hội, báo cáo hoạt động trước Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Hội đồng Dân tộc có chủ tịch, phó chủ tịch và các uỷ viên, các Uỷ ban có Chủ nhiệm, phó chủ nhiệm và các uỷ viên, do Quốc hội xem xét, quyết định. Hội đồng và các Uỷ ban tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.
Hội đồng và các Uỷ ban có những nhiệm vụ và quyền hạn chung như sau:
1. Thẩm tra dự án luật, dự án pháp lệnh và các dự án khác liên quan đến vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng hoặc Uỷ ban.
2. Giám sát việc thực hiện luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực công tác của Hội đồng hoặc Uỷ ban; giám sát hoạt động của Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ trong việc thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
3. Tham gia ý kiến về dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Toà án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao; giám sát, văn bản quy phạm pháp luật liên tịch giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ở trung ương hoặc giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cơ quan trung ương của tổ chức chính trị - xã hội có liên quan đến vấn đề thuộc chức năng của Hội đồng hoặc Uỷ ban và giám sát việc thực hiện các văn bản đó.
4. Kiến nghị với Quốc hội, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội các vấn đề về chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực hoạt động của mình; các vấn đề liên quan đến tổ chức, hoạt động của các cơ quan hữu quan; kiến nghị với Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ và các cơ quan khác của Nhà nước ở trung ương và địa phương về những vấn đề liên quan đến chính sách, biện pháp giải quyết các vấn đề thuộc lĩnh vực hoạt động của Hội đồng hoặc Uỷ ban.
Câu hỏi 80: Vai trò, nhiệm vụ của hội đồng nhân dân các cấp được quy định như thế nào?
Trả lời:
1. Hiến pháp năm 1992 (Đã được sửa dodoir bổ sung năm 2001) quy định: Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương (các cấp tỉnh, huyện, cơ sở) đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. Nhiệm kỳ của hội đồng nhân dân các cấp là 5 năm.
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân (năm 2003) quy định: Hội đồng nhân dân quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước.
Hội đồng nhân dân thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp; giám sát việc thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội; đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương.
Hội đồng nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Trong hoạt động của mình, hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân và đại biểu hội đồng nhân dân phối hợp chặt chẽ với Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác chăm lo và bảo vệ lợi ích của nhân dân, vận động nhân dân tham gia vào việc quản lý nhà nước và thực hiện các nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Khi quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Hội đồng nhân dân ra nghị quyết và giám sát việc thực hiện các nghị quyết đó; những nghị quyết về các vấn đề mà pháp luật quy định thuộc quyền phê chuẩn của cấp trên thì trước khi thi hành phải được cấp trên phê chuẩn. Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp được bầu theo đơn vị bầu cử.
2. Hội đồng nhân dân các cấp có Thường trực Hội đồng nhân dân (Chủ tịch, Phó Chủ tịch, Ủy viên thường trực). Các thành viên của Thường trực Hội đồng nhân dân và các trưởng ban của hội đồng nhân dân không thể đồng thời là thành viên Ủy ban nhân dân cùng cấp. Nghị quyết của Hội đồng nhân dân phải được quá nửa tổng số đại biểu hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành, trừ trường hợp bãi nhiệm đại biểu hội đồng nhân dân (ít nhất 2/3 tổng số đại biểu hội đồng nhân dân biểu quyết).
3. Tại kỳ họp đầu tiên sau khi được bầu, Hội đồng nhân dân bầu:
a) Chủ tịch hội đồng nhân dân trong số các đại biểu hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tọa kỳ họp;
b) Phó chủ tịch, ủy viên thường trực hội đồng nhân dân, trưởng ban và các thành viên các ban của Hội đồng nhân dân trong tổng số các đại biểu hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tịch hội đồng nhân dân;
c) Chủ tịch ủy ban nhân dân trong số các đại biểu của hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tịch hội đồng nhân dân;
d) Phó chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tịch Ủy ban nhân dân;
đ) Thư ký kỳ họp mỗi khóa hội đồng nhân dân theo sự giới thiệu của chủ tọa kỳ họp.
Đại biểu hội đồng nhân dân có quyền giới thiệu và ứng cử vào các chức vụ nêu trên. Việc bầu cử các chức vụ đó được tiến hành bằng cách bỏ phiếu kín theo danh sách đề cử chức vụ từng người.
Kinh phí hoạt động của Hội đồng nhân dân do Hội đồng nhân dân quyết định và ghi vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật.
Câu hỏi 81: Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp được bầu như thế nào và có những nhiệm vụ, quyền gì?
Trả lời:
Đại biểu hội đồng nhân dân các cấp là người được bầu làm đại biểu của nhân dân ở các cấp chính quyền tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn, do cử tri ở từng đơn vị bầu cử ra, với nhiệm kỳ năm năm.
Đại biểu hội đồng nhân dân là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của nhân dân địa phương; phải liên hệ chặt chẽ với cử tri, chịu sự giám sát của cử tri; thực hiện chế độ tiếp xúc, báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của Hội đồng nhân dân, trả lời những yêu cầu, kiến nghị của cử tri; xem xét, đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân.
Đại biểu hội đồng nhân dân có nhiệm vụ: Vận động nhân dân thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghị quyết của Hội đồng nhân dân, động viên nhân dân tham gia quản lý nhà nước; tham gia đầy đủ các phiên họp, tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng.
Đại biểu hội đồng nhân dân có quyền:
a) Chất vấn chủ tịch hội đồng nhân dân, chủ tịch và các thành viên khác của Ủy ban nhân dân, chánh án Tòa án nhân dân, viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và thủ trưởng các cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân; người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân trong thời gian do luật định;
b) Kiến nghị với các cơ quan nhà nước ở địa phương; người phụ trách cơ quan này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu.
Ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan, cán bộ, công chức nhà nước ở địa phương, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên của Mặt trận có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ đại biểu hoạt động. Trong thời gian Hội đồng nhân dân họp, nếu không được sự đồng ý của chủ tọa kỳ họp thì không được bắt giữ đại biểu hội đồng nhân dân. Nếu vì phạm pháp quả tang hoặc trong trường hợp khẩn cấp mà đại biểu hội đồng nhân dân bị tạm giữ thì cơ quan ra lệnh tạm giữ phải báo cáo ngay với chủ tọa kỳ họp. Giữa hai kỳ họp Hội đồng nhân dân, nếu cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra lệnh tạm giữ đại biểu hội đồng nhân dân thì phải thông báo cho chủ tịch hội đồng nhân dân và chủ tịch ủy ban nhân dân cùng cấp.
Đại biểu hội đồng nhân dân có thể xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu vì lý do sức khoẻ hoặc vì lý do khác, việc chấp nhận hay không do Hội đồng nhân dân cùng cấp xem xét và quyết định. Trường hợp đại biểu hội đồng nhân dân vi phạm sai lầm, giảm tín nhiệm mà bị cử tri bãi nhiệm thì được tiến hành theo thể thức do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định. Nếu do Hội đồng nhân dân bãi nhiệm thì việc bãi nhiệm phải được 2/3 tổng số đại biểu hội đồng nhân dân biểu quyết tán thành. Khi đại biểu hội đồng nhân dân bị tòa án kết án và bản án đã có hiệu lực pháp luật thì mất quyền đại biểu hội đồng nhân dân.
Câu hỏi 82: Là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, Ủy ban nhân dân địa phương có những chức năng, nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Ủy ban nhân dân là cơ quan chính quyền nhân dân ở Việt Nam, được lập ra ở các cấp xã, phường, thị trấn; quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Luật Tổ chức hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân quy định: Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và cơ quan nhà nước cấp trên.
Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp, bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển kinh tế, xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn. Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương, góp phần bảo đảm sự chỉ đạo, quản lý thống nhất trong bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở.
Ủy ban nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra, gồm chủ tịch, phó chủ tịch và một số ủy viên. Chủ tịch ủy ban nhân dân là đại biểu hội đồng nhân dân, không giữ chức vụ này quá hai nhiệm kỳ liên tục. Các thành viên khác của Ủy ban nhân dân không nhất thiết phải là đại biểu hội đồng nhân dân. Kết quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân phải được chủ tịch ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn; kết quả bầu các thành viên của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phải được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn.
Trong nhiệm kỳ nếu khuyết chủ tịch ủy ban nhân dân thì chủ tịch hội đồng nhân dân cùng cấp giới thiệu người ứng cử chủ tịch ủy ban nhân dân để Hội đồng nhân dân bầu. Người được bầu giữ chức vụ chủ tịch ủy ban nhân dân trong nhiệm kỳ không nhất thiết là đại biểu hội đồng nhân dân.
Ủy ban nhân dân chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và Ủy ban nhân dân cấp trên trực tiếp. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và với Chính phủ. Ủy ban nhân dân phối hợp với Thường trực hội đồng nhân dân và các ban của Hội đồng nhân dân cùng cấp chuẩn bị nội dung các kỳ họp Hội đồng nhân dân, xây dựng đề án trình Hội đồng nhân dân xem xét, quyết định. Ủy ban nhân dân mỗi tháng họp ít nhất một lần. Các quyết định của Ủy ban nhân dân phải được quá nửa tổng số thành viên ủy ban nhân dân biểu quyết tán thành.
Ủy ban nhân dân thảo luận tập thể và quyết định theo đa số các vấn đề sau đây:
1. Chương trình làm việc của Ủy ban nhân dân;
2. Kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội, dự toán ngân sách, quyết toán ngân sách hàng năm và quỹ dự trữ của địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định.
3. Kế hoạch đầu tư, xây dựng các công trình trọng điểm ở địa phương trình Hội đồng nhân dân quyết định.
4. Kế hoạch huy động nhân lực, tài chính giải quyết các vấn đề cấp bách của địa phương trình hội đồng nhân dân quyết định.
5. Các biện pháp thực hiện nghị quyết của hội đồng nhân dân về kinh tế, xã hội; báo cáo của Uỷ ban nhân dân trước khi trình hội đồng nhân dân.
6. Đề án thành lập mới, sáp nhập, giải thể các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân và thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới hành chính ở địa phương.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân; chủ tịch và từng thành viên ủy ban chịu trách nhiệm cá nhân về phân công công việc của mình trước hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân cùng cấp và cùng với các thành viên khác chịu trách nhiệm tập thể về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước hội đồng nhân dân cấp mình và trước cơ quan nhà nước cấp trên.
Câu hỏi 83: Là cán bộ lãnh đạo chính quyền nhân dân các cấp, chủ tịch Uỷ ban nhân dân được Hội đồng nhân dân cùng cấp lựa chọn bầu cử như thế nào và có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là chức danh cán bộ lãnh đạo chính quyền nhân dân ở các cấp: xã, phường, thị trấn; huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Theo Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân (2003), chủ tịch Uỷ ban nhân dân là người lãnh đạo và điều hành công việc của Uỷ ban nhân dân, chịu trách nhiệm cá nhân về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao, cùng với tập thể Uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm về hoạt động của Uỷ ban nhân dân trước Hội đồng nhân dân cùng cấp và trước cơ quan nhà nước cấp trên.
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân là đại biểu Hội đồng nhân dân, do Hội đồng nhân dân bầu ra theo sự giới thiệu của chủ tịch Hội đồng nhân dân. Kết quả bầu chủ tịch và các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân phải được chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp trên trực tiếp phê chuẩn. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Lãnh đạo công tác của Uỷ ban nhân dân, các thành viên của Uỷ ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân:
a) Đôn đốc, kiểm tra công tác của các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và Uỷ ban nhân dân cấp dưới trong việc thực hiện Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân cùng cấp;
b) Quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban nhân dân cấp mình, chuẩn bị các vấn đề thuộc quyền quyết định của tập thể ủy ban nhân dân cấp mình;
c) Áp dụng những biện pháp cải tiến lề lối làm việc; quản lý và điều hành bộ máy hành chính hoạt động có hiệu quả; ngăn ngừa và kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện quan liêu, vô trách nhiệm, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng, lãng phí và các biểu hiện tiêu cực khác của cán bộ, công chức, viên chức và trong bộ máy chính quyền địa phương.
d) Tổ chức việc tiếp dân, xét và giải quyết các kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của nhân dân theo quy định của pháp luật.
2. Triệu tập và chủ tọa các phiên họp của Uỷ ban nhân dân.
3. Phê chuẩn kết quả bầu các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; điều động, miễn nhiệm, cách chức chủ tịch, phó chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; phê chuẩn việc miễn nhiệm, bãi nhiệm các thành viên của Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp; bổ nhiệm, miễn nhiệm, điều động, đình chỉ công tác, cách chức, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức nhà nước theo sự phân cấp quản lý.
4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những văn bản trái pháp luật của cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp mình và văn bản trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân, chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp dưới trực tiếp.
5. Đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp và đề nghị Hội đồng nhân dân cấp mình bãi bỏ.
6. Chỉ đạo và áp dụng các biện pháp giải quyết công việc đột xuất, khẩn cấp trong phòng, chống thiên tai, cháy nổ, dịch bệnh, an ninh, trật tự và báo cáo Ủy ban nhân dân trong phiên họp gần nhất.
7. Ra quyết định chỉ thị thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình.
CHỦ TỊCH NƯỚC, CƠ QUAN TƯ PHÁP
Câu hỏi 84: Chủ tịch nước có vai trò như thế nào và thực hiện những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Theo Hiến pháp, Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về đối nội và đối ngoại. Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số đại biểu Quốc hội, chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Quốc hội có quyền miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch nước.
Chủ tịch nước có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh.
2. Thống lĩnh các lực lượng vũ trang và giữ chức vụ chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh.
3. Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi miễn Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện Kiểm sát nhân dân tối cao.
4. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ.
5. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, công bố quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh, công bố quyết định đại xá.
6. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, ban bố tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương.
7. Đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày kể từ ngày pháp lệnh được thông qua; nếu pháp lệnh đó vẫn được Ủy ban Thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất.
8. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó chánh án, thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, Phó viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
9. Quyết định phong hàm, cấp sĩ quan cấp cao trong các lực lượng vũ trang nhân dân; hàm, cấp đại sứ, những hàm cấp nhà nước trong các lĩnh vực khác; quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, giải thưởng nhà nước và danh hiệu vinh dự nhà nước.
10. Cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam; tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài; tiến hành đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với người đứng đầu nhà nước khác; trình Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế đã trực tiếp ký; quyết định phê chuẩn gia nhập điều ước quốc tế, trừ trường hợp cần trình Quốc hội quyết định.
11. Quyết định cho nhập quốc tịch Việt Nam, cho thôi quốc tịch Việt Nam hoặc tước quốc tịch Việt Nam.
12. Quyết định đặc xá.
Chủ tịch nước ban hành lệnh, quyết định để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Chủ tịch nước có quyền tham dự các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và khi xét thấy cần thiết, Chủ tịch nước có quyền tham gia các phiên họp của Chính phủ. Khi Chủ tịch nước không làm việc được trong một thời gian dài thì Phó Chủ tịch nước đảm nhận Quyền Chủ tịch và trường hợp khuyết Chủ tịch nước thì Phó chủ tịch nước Quyền Chủ tịch cho đến khi Quốc hội bầu Chủ tịch nước mới.
Câu hỏi 85: Là cơ quan giúp việc của Chủ tịch nước, Văn phòng Chủ tịch nước có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Văn phòng Chủ tịch nước là cơ quan giúp việc của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, có nhiệm vụ tiếp nhận, tổng hợp, xử lý thông tin và bảo đảm các điều kiện làm việc của Chủ tịch nước theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Văn phòng Chủ tịch nước gồm có chủ nhiệm, các phó chủ nhiệm, các vụ và chuyên viên giúp việc. Biên chế công chức Văn phòng Chủ tịch nước do Chủ tịch nước quyết định.
Câu hỏi 86: Hội đồng Quốc phòng và An ninh có chức năng, nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Theo Hiến pháp, Hội đồng quốc phòng và an ninh được lập ra để thực hiện nhiệm vụ động viên mọi lực lượng và khả năng của Nhà nước để bảo vệ Tổ quốc. Trong trường hợp có chiến tranh, Quốc hội có thể giao cho Hội đồng quốc phòng và an ninh những nhiệm vụ và quyền hạn đặc biệt.
Hội đồng quốc phòng và an ninh gồm chủ tịch, phó chủ tịch và các ủy viên. Chủ tịch nước giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Chủ tịch nước đề nghị danh sách thành viên Hội đồng quốc phòng và an ninh trình Quốc hội phê chuẩn. Thành viên Hội đồng không nhất thiết là đại biểu Quốc hội. Hội đồng làm việc theo chế độ tập thể và quyết định theo đa số.
Câu hỏi 87: Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân các cấp có những nhiệm vụ gì? Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được xây dựng như thế nào?
Trả lời:
1. Theo Hiến pháp năm 1992 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2001) và Luật tổ chức Viện Kiểm sát (2002), Viện Kiểm sát nhân dân các cấp thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp. Trong phạm vi chức năng của mình, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân; bảo đảm để mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân đều bị xử lý theo pháp luật.
2. Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; các Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện và các Viện kiểm sát quân sự. Viện kiểm sát nhân dân tối cao có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi trách nhiệm do luật định.
3. Viện kiểm sát nhân dân các cấp (trong đó có Viện kiểm sát nhân dân tối cao), thực hiện chức năng, nhiệm vụ qua những công tác sau đây:
a) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân thủ pháp luật trong việc điều tra các vụ án hình sự của các cơ quan điều tra và các cơ quan khác được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra.
b) Điều tra một số loại tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ thuộc cơ quan tư pháp.
c) Thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự.
d) Kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, hành chính, kinh tế, lao động và những việc khác theo quy định của pháp luật.
đ) Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc thi hành bản án, quyết định của tòa án nhân dân, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù.
Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết kịp thời các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền; kiểm sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về các hoạt động tư pháp của các cơ quan tư pháp theo quy định của pháp luật; tiếp nhận các tin báo, tố giác về tội phạm do các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân chuyển đến; chịu trách nhiệm việc thống kê tội phạm (các cơ quan hữu quan phối hợp thực hiện việc này).
Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, Viện kiểm sát nhân dân có quyền ra quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các văn bản đó. Các văn bản đó phải được các cơ quan, tổ chức, đơn vị và cá nhân hữu quan thực hiện nghiêm chỉnh theo quy định của pháp luật...
Viện kiểm sát nhân dân do viện trưởng lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Tại Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện kiểm sát quân sự ở các cấp thành lập Ủy ban kiểm sát để thực hiện và quyết định theo đa số những vấn đề quan trọng theo quy định của Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức viện trưởng, phó viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương; phó viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương, viện trưởng, phó viện trưởng, kiểm sát viên Viện kiểm sát quân sự quân khu và tương đương, Viện kiểm sát quân sự khu vực; điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu sự giám sát của Hội đồng nhân dân cùng cấp; chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng nhân dân; trả lời chất vấn, kiến nghị, yêu cầu của đại biểu hội đồng nhân dân.
4. Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cơ quan cao nhất của hệ thống tổ chức Viện kiểm sát nhân dân. Theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân (2002), Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hiện quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.
Cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có Viện trưởng, các Phó viện trưởng, các vụ và đơn vị trực thuộc, các kiểm sát viên và nhân viên, do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao lãnh đạo. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên; Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân địa phương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự các cấp chịu sự lãnh đạo thống nhất của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao.
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước. Nhiệm kỳ của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Câu hỏi 88: Là cơ quan xét xử cao nhất của nước ta, Tòa án nhân dân tối cao có cơ cấu như thế nào và thực hiện những chức năng, nhiệm vụ gì? Hệ thống Tòa án nhân dân được xây dựng như thế nào?
Trả lời:
1. Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất của nước ta.
Theo Luật Tòa án nhân dân (năm 2002), cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân tối cao gồm có:
a) Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.
b) Tòa án quân sự trung ương, Tòa hình sự, Tòa dân sự, Toà kinh tế, Tòa lao động, Tòa hành chính và các Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; trường hợp cần thiết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định thành lập các tòa án chuyên trách theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
c) Bộ máy Tòa án nhân dân tối cao có Chánh án, các Phó chánh án, Thẩm phán, Thư ký tòa án.
Chánh án Tòa án nhân dân tối cao do Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội; trong thời gian Quốc hội không họp thì chịu trách nhiệm và báo cáo trước Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước; trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội. Nhiệm kỳ của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo nhiệm kỳ của Quốc hội.
Tòa án nhân dân tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật, tổng kết kinh nghiệm xét xử của các tòa án.
b) Giám đốc việc xét xử của các tòa án các cấp, giám đốc việc xét xử của tòa án đặc biệt và các tòa án khác, trừ trường hợp có quy định khác khi thành lập các tòa án đó.
c) Trình Quốc hội dự án luật và trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội dự án pháp lệnh theo quy định của pháp luật.
Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền xét xử:
a) Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
b) Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới trực tiếp bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
Tòa án nhân dân tối cao quản lý các Tòa án nhân dân địa phương và Tòa án quân sự về tổ chức, có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng nhân dân địa phương (đối với Tòa án nhân dân địa phương) và với Bộ quốc phòng (đối với Tòa án quân sự).
2. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao gồm có Chánh án, các Phó chánh án và một số thẩm phán, do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định theo đề nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, tổng số thành viên hội đồng không quá 17 người.
Hội đồng có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Giám đốc thẩm, tái thẩm những vụ án mà bản án quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
b) Hướng dẫn các tòa án áp dụng thống nhất pháp luật.
c) Tổng kết kinh nghiệm xét xử.
d) Thông qua báo cáo của chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các tòa án để trình Quốc hội, dự án pháp lệnh để trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Phiên họp của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải có ít nhất 2/3 tổng số thành viên tham gia; quyết định của Hội đồng phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.
3. Các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có Chánh toà, các Phó Chánh toà, Thẩm phán, Thư ký tòa án.
Các Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
a) Phúc thẩm những vụ án mà bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của tòa án cấp dưới bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng.
b) Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về tuyên bố phá sản theo quy định của pháp luật.
c) Giải quyết khiếu nại đối với các quyết định của Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc giải quyết các cuộc đình công theo quy định của pháp luật.
4. Tòa án nhân dân các cấp là cơ quan xét xử ở các cấp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Theo Hiến pháp (2001) và Luật Tổ chức Tòa án nhân dân (2002), trong phạm vi chức năng của mình, Tòa án nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân; bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân. Bằng hành động của mình, Tòa án góp phần giáo dục công dân trung thành với Tổ quốc, chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, tôn trọng các quy tắc của cuộc sống xã hội, ý thức đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
Các bản án quyết định của Tòa án nhân dân đã có hiệu lực pháp luật phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, các đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành. Các Tòa án xét xử những vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những công việc khác theo quy định của pháp luật.
Hệ thống Tòa án nhân dân bao gồm: Tòa án nhân dân tối cao, các Tòa án nhân dân địa phương, các Tòa án quân sự và các tòa án khác do luật định. Trong tình hình đặc biệt, Quốc hội có thể quyết định thành lập Tòa án đặc biệt. Ở cơ sở, thành lập các tổ chức thích hợp của nhân dân để giải quyết những việc vi phạm pháp luật và tranh chấp nhỏ trong nhân dân theo quy định của pháp luật.
Thẩm phán làm việc ở các tòa án theo chế độ bổ nhiệm. Hội thẩm nhân dân được bầu để tham gia xét xử ở các Tòa án địa phương. Hội thẩm nhân dân được đề cử để tham gia xét xử ở các Tòa án quân sự quân khu và tương đương và các Tòa án quân sự khu vực.
Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số. Thành phần hội đồng xét xử ở mỗi cấp xét xử do pháp luật tố tụng quy định. Tòa án xét xử công khai, trừ trường hợp cần xét xử kín để giữ bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc hoặc để giữ bí mật của các đương sự theo yêu cầu chính đáng của họ. Tòa án bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo, quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử: sơ thẩm và phúc thẩm. Bản án, quyết định sơ thẩm của tòa án bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Đối với bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có sai phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩm do pháp luật tố tụng quy định.
5. Tòa án quân sự là cơ quan xét xử trong hệ thống Tòa án nhân dân nước ta, được tổ chức trong Quân đội nhân dân để xét xử những bị cáo là quân nhân tại ngũ và những vụ án khác theo quy định của pháp luật.
Hệ thống Tòa án quân sự có: Tòa án quân sự trung ương, các Toà án quân sự quân khu và tương đương, các Tòa án quân sự khu vực. Quân nhân, công chức và công nhân làm việc tại Tòa án quân sự có các quyền và nghĩa vụ theo chế độ của quân đội, được hưởng chế độ phụ cấp đối với ngành Tòa án.
Chánh án Tòa án quân sự trung ương là Phó chánh án Tòa án nhân dân tối cao; thẩm phán Tòa án quân sự trung ương là thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tổ chức và hoạt động của Tòa án quân sự do Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định.
CHÍNH PHỦ VÀ CƠ QUAN CỦA CHÍNH PHỦ
Câu hỏi 89: Là cơ quan hành pháp cao nhất của đất nước, Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được thành lập như thế nào và có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hiến pháp (2001) quy định: Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Cơ cấu tổ chức của Chính phủ gồm có: các Bộ, các cơ quan ngang Bộ. Quốc hội quyết định thành lập hoặc bãi bỏ các Bộ và cơ quan ngang Bộ theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Chính phủ gồm có Thủ tướng, các Phó thủ tướng, các Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ. Số Phó thủ tướng, Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ do Quốc hội quyết định.
Theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ, Chính phủ có các nhiệm vụ, quyền hạn như sau:
1. Lãnh đạo công tác của các Bộ, các cơ quan ngang Bộ và các cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; xây dựng và kiện toàn hệ thống thống nhất bộ máy hành chính nhà nước từ trung ương đến cơ sở; hướng dẫn, kiểm tra Hội đồng nhân dân thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn theo luật định; đào tạo, bồi dưỡng, sắp xếp và sử dụng đội ngũ công chức, viên chức nhà nước.
2. Bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật trong các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân; tổ chức và lãnh đạo công tác tuyên truyền, giáo dục Hiến pháp và pháp luật trong nhân dân.
3. Trình dự án luật, pháp lệnh và các dự án trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
4. Thống nhất quản lý việc xây dựng, phát triển nền kinh tế quốc dân; thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quản lý và bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân; phát triển văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học và công nghệ, thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội và ngân sách nhà nước.
5. Thi hành những biện pháp bảo vệ các quyền lợi và lợi ích hợp pháp của công dân, tạo điều kiện cho công dân sử dụng quyền hạn và làm tròn nghĩa vụ của mình, bảo vệ tài sản, lợi ích của Nhà nước và của xã hội; bảo vệ môi trường.
6. Củng cố và tăng cường nền quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân; bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự an toàn xã hội; xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân, thi hành lệnh động viên, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và mọi biện pháp cần thiết khác để bảo vệ đất nước.
7. Tổ chức và lãnh đạo công tác kiểm kê, thống kê của Nhà nước; công tác thanh tra và kiểm tra nhà nước chống quan liêu, tham nhũng trong bộ máy nhà nước; công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân.
8. Thống nhất quản lý công tác đối ngoại; đàm phán, ký kết điều ước quốc tế nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trừ trường hợp do Chủ tịch nước ký với người đứng đầu nhà nước khác; đàm phán, ký phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ; chỉ đạo việc thực hiện các điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc gia nhập; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, lợi ích chính đáng của tổ chức và công dân Việt Nam ở nước ngoài.
9. Thực hiện chính sách xã hội, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo; thống nhất quản lý công tác thi đua, khen thưởng.
10. Quyết định việc điều chỉnh địa giới các đơn vị hành chính dưới cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
11. Phối hợp với Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Chấp hành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, các ban chấp hành trung ương của đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình; tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả.
Nhiệm kỳ của Chính phủ theo nhiệm kỳ của Quốc hội. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chính phủ tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới thành lập Chính phủ mới.
Câu hỏi 90: Là người đứng đầu cơ quan chấp hành của Quốc hội, cơ quan hành chính cao nhất của đất nước, Thủ tướng Chính phủ có nhiệm vụ, quyền hạn gì?
Trả lời:
Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ, là đại biểu Quốc hội, do Quốc hội bầu, miễn nhiệm và bãi nhiệm. Thủ tướng Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước.
Theo Hiến pháp, Thủ tướng Chính phủ có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
1. Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp; chủ tọa các phiên họp của Chính phủ.
2. Đề nghị Quốc hội thành lập hoặc bãi bỏ các bộ và các cơ quan ngang bộ; trình Quốc hội phê chuẩn đề nghị về việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng, Bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ.
3. Bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các thứ trưởng và chức vụ tương đương; phê chuẩn việc bầu cử, miễn nhiệm, điều động, cách chức chủ tịch, các phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
4. Đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ những quyết định, chỉ thị, thông tư của bộ trưởng, các thành viên khác của Chính phủ, quyết định, chỉ thị của Ủy ban nhân dân và chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của các cơ quan nhà nước cấp trên.
5. Đình chỉ việc thi hành những quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trái với Hiến pháp, luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ.
6. Thực hiện chế độ báo cáo trước nhân dân qua các phương tiện thông tin đại chúng về những vấn đề quan trọng mà Chính phủ phải giải quyết.
Căn cứ vào Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Chính phủ ra nghị quyết, nghị định và Thủ tướng Chính phủ ra quyết định, chỉ thị và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó. Những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của Chính phủ phải được thảo luận tập thể và quyết định theo đa số.
Luật Tổ chức Chính phủ nêu các quy định cụ thể về nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ làm việc và quan hệ công tác của Thủ tướng Chính phủ với Chính phủ và các cơ quan hữu quan.
Câu hỏi 91: Chính phủ có những cơ quan nào?
Trả lời:
1. Văn phòng Chính phủ (cơ quan ngang bộ) là cơ quan của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bộ máy giúp việc của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, do bộ trưởng, chủ nhiệm văn phòng điều hành.
Văn phòng Chính phủ có chức năng tổ chức các hoạt động chung của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; tham mưu cho Thủ tướng Chính phủ trong công việc chỉ đạo, điều hành các hoạt động chung của bộ máy hành chính nhà nước; giúp Thủ tướng Chính phủ tổ chức việc điều hòa, phối hợp hoạt động của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để thực hiện chương trình, kế hoạch công tác của Chính phủ; xây dựng, quản lý và thực hiện đúng quy chế làm việc, chương trình và kế hoạch công tác của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; bảo đảm các điều kiện vật chất và kỹ thuật cho hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
2. Các bộ và cơ quan ngang bộ
Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước mà Bộ hoặc cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành hoặc lĩnh vực công tác đó; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Các Bộ và cơ quan ngang Bộ được thành lập, sáp nhập hay giải thể do Quốc hội xem xét, quyết định. Các Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là thành viên của Chính phủ, là người đứng đầu và lãnh đạo một Bộ, chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về quản lý ngành, lĩnh vực trong phạm vi cả nước. Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được bổ nhiệm, miễn nhiệm hay bị cách chức do Thủ tướng Chính phủ đề nghị, Quốc hội xem xét phê chuẩn.
Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các Bộ, Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ được quy định tại Nghị định số 86/2002/NĐ-CP ngày 25-11-2002 của Chính phủ và các văn bản có liên quan.
Cơ cấu tổ chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ gồm: 1. Vụ, Thanh tra bộ, Văn phòng bộ; 2. Cục, Tổng cục (không nhất thiết các Bộ đều có); 3. Các tổ chức sự nghiệp.
Theo quyết định của Quốc hội khoá XII, Chính phủ hiện nay có 18 Bộ và 04 cơ quan ngang Bộ: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Giao thông - Vận tải, Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Y tế, Uỷ ban Dân tộc, Ngân hàng nhà nước Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Văn phòng Chính phủ.
Câu hỏi 92: Là người đứng đầu và lãnh đạo một Bộ, Bộ trưởng có vai trò gì và phải thực hiện những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Theo Hiến pháp và Luật Tổ chức Chính phủ (2001), Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ là thành viên của Chính phủ và là người đứng đầu và lãnh đạo hoạt động một Bộ hoặc cơ quan ngang bộ do Thủ tướng Chính phủ trình Quốc hội bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức. Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về lĩnh vực, ngành mình phụ trách trong phạm vi cả nước.
Căn cứ vào Hiến pháp, luật và nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh và nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và quyết định của Chủ tịch nước, các văn bản của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ ra quyết định, thông tư và kiểm tra việc thi hành các văn bản đó đối với tất cả các ngành, các địa phương và cơ sở; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Quốc hội về lĩnh vực, ngành mình phụ trách.
Bộ trưởng và thủ trưởng cơ quan ngang Bộ có những nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
1. Trình Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các công trình quan trọng của ngành, lĩnh vực; tổ chức và chỉ đạo thực hiện khi được phê duyệt.
2. Chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh và các dự án khác theo sự phân công của Chính phủ.
3. Tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ, quyết định các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm và các định mức kinh tế, kỹ thuật của ngành thuộc thẩm quyền.
4. Trình Chính phủ việc ký kết, gia nhập, phê duyệt các điều ước quốc tế thuộc ngành, lĩnh vực; tổ chức và chỉ đạo thực hiện kế hoạch hợp tác quốc tế, điều ước quốc tế theo quy định của Chính phủ.
5. Tổ chức bộ máy quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính phủ; trình Chính phủ quyết định phân cấp nhiệm vụ quản lý nhà nước cho ủy ban nhân dân địa phương về nội dung quản lý ngành, lĩnh vực; đề nghị Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức thứ trưởng và chức vụ tương đương; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức vụ trưởng, phó vụ trưởng và các chức vụ tương đương; tổ chức thực hiện công tác đào tạo, tuyển dụng, sử dụng, chế độ tiền lương, khen thưởng, kỷ luật, nghỉ hưu và các chế độ khác đối với cán bộ, công chức, viên chức thuộc phạm vi quản lý của mình.
6. Quản lý nhà nước các tổ chức sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực, bảo đảm quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của các cơ sở theo quy định của pháp luật; bảo đảm sử dụng có hiệu quả tài sản thuộc sở hữu toàn dân do ngành, lĩnh vực mình phụ trách; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
7. Quản lý nhà nước các tổ chức kinh tế, sự nghiệp và hoạt động của các hội, tổ chức phi chính phủ thuộc ngành, lĩnh vực.
8. Quản lý và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ.
9. Trình bày trước Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội báo cáo của Bộ theo yêu cầu của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội; trả lời chất vấn của đại biểu Quốc hội và kiến nghị của cử tri; gửi các văn bản quy phạm pháp luật do mình ban hành đến Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội theo lĩnh vực mà Hội đồng Dân tộc và ủy ban phụ trách.
10. Tổ chức và chỉ đạo việc chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong ngạch, lĩnh vực mình phụ trách.
11. Thực hiện những nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ ủy nhiệm.
Nhiệm vụ và quyền hạn của Bộ trưởng phụ trách một số công tác do Chính phủ quy định.
Câu hỏi 93: Thế nào là một cơ quan thuộc Chính phủ và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan này là gì?
Trả lời:
Cơ quan thuộc Chính phủ (tổng cục, cục, ủy ban, ban, viện...) là cơ quan do Chính phủ lập ra để giúp Chính phủ thực hiện những nhiệm vụ do Chính phủ giao.
Theo Nghị định số 30/2003/NĐ-CP ngày 1-4-2003 của Chính phủ, các cơ quan thuộc Chính phủ gồm hai nhóm sau đây: Nhóm 1 là các cơ quan thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực. Nhóm 2 là các cơ quan hoạt động sự nghiệp để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước của Chính phủ hoặc thực hiện một số dịch vụ công có đặc điểm, tính chất quan trọng mà Chính phủ phải trực tiếp chỉ đạo. Cả hai nhóm đều phải thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Cơ quan thuộc Chính phủ có những nhiệm vụ, quyền hạn chung sau đây:
1. Về chiến lược, chương trình, quy hoạch, kế hoạch:
a) Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch, các chương trình, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các dự án quan trọng của cơ quan; tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chương trình, kế hoạch sau khi được phê duyệt.
b) Tham gia thẩm định các đề án, dự án quan trọng thuộc chuyên môn, nghiệp vụ theo yêu cầu của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
c) Quyết định các dự án đầu tư thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
2. Ban hành, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các tiêu chuẩn, quy trình, quy phạm chuyên môn, nghiệp vụ và định mức kinh tế - kỹ thuật được áp dụng trong các tổ chức, đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật về quản lý nhà nước đối với ngành, lĩnh vực.
3. Về hợp tác quốc tế:
a) Trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ việc đàm phán, ký gia nhập, phê duyệt điều ước quốc tế theo quy định của pháp luật.
b) Tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
c) Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các chương trình, dự án quốc tế tài trợ theo quy định của pháp luật.
d) Cử cán bộ, công chức, viên chức thuộc quyền quản lý và đoàn công tác ra nước ngoài theo kế hoạch hợp tác quốc tế.
đ) Tham gia các hội nghị, hội thảo, chương trình, kế hoạch hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật.
4. Quyết định và chỉ đạo việc thực hiện chương trình cải cách hành chính theo mục tiêu và nội dung Chương trình cải cách hành chính nhà nước đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
5. Hướng dẫn, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện dịch vụ công theo quy định của pháp luật.
6. Về chế độ thông tin, báo cáo:
a) Tổ chức công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các nhiệm vụ chính trị, chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước thuộc ngành, lĩnh vực được giao.
b) Thực hiện chế độ báo cáo với Thủ tướng Chính phủ hoặc bộ trưởng quản lý ngành, lĩnh vực theo quy định của Chính phủ.
7. Về tổ chức bộ máy và cán bộ, công chức, viên chức nhà nước:
a) Trình Chính phủ ban hành nghị định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của cơ quan.
b) Trình Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập mới, tổ chức lại, giải thể các tổ chức, đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan.
c) Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và mối quan hệ công tác của các tổ chức, đơn vị trực thuộc.
d) Trình Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ.
đ) Bổ nhiệm có thời hạn 5 năm (hết thời hạn đó sẽ tiến hành bổ nhiệm lại), miễn nhiệm, kỷ luật người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu các tổ chức, đơn vị trực thuộc theo quy định của pháp luật; quy định thẩm quyền và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, đơn vị trực thuộc.
e) Quyết định và tổ chức thực hiện các biện pháp cụ thể để tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính trong cán bộ, công chức, viên chức thuộc thẩm quyền; chống tham nhũng, lãng phí và mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền trong hoạt động của cơ quan.
g) Tổ chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng, tuyển dụng, sử dụng, điều động, luân chuyển, nghỉ hưu, khen thưởng, kỷ luật và các chế độ khác đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của pháp luật.
h) Kiểm tra việc chấp hành chính sách, pháp luật và nhiệm vụ được giao đối với cán bộ, công chức, viên chức và người lao động thuộc thẩm quyền quản lý; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan tới cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
8. Về quản lý tài chính, tài sản:
a) Xây dựng dự toán ngân sách hàng năm của cơ quan để trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
b) Quyết định phân bổ, kiểm tra việc chi tiêu, chịu trách nhiệm quyết toán và có quyền điều chỉnh trong phạm vi tổng mức thu, chi tài chính được phê duyệt để thực hiện nhiệm vụ được giao, nhưng không được thay đổi mục tiêu kế hoạch được duyệt.
c) Thực hiện công tác quản lý tài chính, kế toán theo quy định của pháp luật.
d) Quản lý và sử dụng có hiệu quả tài sản nhà nước giao.
Ngoài các nhiệm vụ, quyền hạn chung nêu trên, một số cơ quan thuộc Chính phủ còn có những nhiệm vụ, quyền hạn riêng sau đây:
1. Chủ trì hoặc tham gia soạn thảo các dự án luật, pháp lệnh và dự thảo văn bản quy phạm pháp luật khác theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
2. Tổ chức thực hiện việc giám định, đăng ký, cấp giấy phép, văn bằng, chứng chỉ, xếp hạng tổ chức và một số nghiệp vụ khác theo quy định của pháp luật.
3. Kiểm tra, thanh tra theo ngành, lĩnh vực được phân công phụ trách đối với tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các quy định của pháp luật; kiến nghị với Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương xử lý theo thẩm quyền đối với những quy định do bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ban hành trái với các luật, pháp lệnh và các văn bản quy phạm pháp luật khác về ngành, lĩnh vực do cơ quan phụ trách.
4. Thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể về đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước theo quy định của pháp luật.
Chính phủ quy định cụ thể việc áp dụng một số nhiệm vụ, quyền hạn riêng nêu trên của từng cơ quan thuộc Chính phủ.
Về chế độ trách nhiệm:
Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ là người đứng đầu và lãnh đạo một cơ quan thuộc Chính phủ; chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ, trước Chính phủ về việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan mình. Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ không ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Việc ký ban hành văn bản quy phạm pháp luật để thực hiện quản lý nhà nước đối với những vấn đề thuộc ngành, lĩnh vực mà cơ quan thuộc Chính phủ đang quản lý do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
Chính phủ hiện có một số cơ quan trực thuộc: Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Bảo hiểm xã hội Việt Nam, Kiểm toán Nhà nước, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Báo Điện tử của Chính phủ, Hội đồng thi đua khen thưởng Trung ương, Ban quản lý Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh...
Mục IV. Đoàn thể: Một số tổ chức chính trị - xã hội, chính trị - xã hội - nghề nghiệp Câu hỏi 94: Là những tổ chức quần chúng (đoàn thể nhân dân), hội, liên đoàn, liên hiệp hội, tổng hội, hiệp hội (gọi chung là hội)..., có tính chất, nhiệm vụ như thế nào?
Trả lời:
1. Hội là tổ chức của những người cùng nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, sở thích, mục đích..., tự nguyện tập hợp nhau lại để hoạt động thường xuyên nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của hội viên; hỗ trợ nhau hoạt động có hiệu quả trên các lĩnh vực, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội của đất nước.
Theo Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30-7-2003 của Chính phủ, việc thành lập hội phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Bộ Nội vụ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Hội có thể được thành lập và hoạt động trong phạm vi cả nước, liên tỉnh hoặc ở từng tỉnh, huyện và cơ sở. Hội hoạt động theo điều lệ hội được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải kinh phí và chịu trách nhiệm trước pháp luật. Hội có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng; được chọn tên và biểu tượng theo quy định của pháp luật. Điều kiện thành lập hội là: có điều lệ, có trụ sở, có đủ số hội viên đăng ký tham gia theo quy định, có người sáng lập và ban vận động thành lập; có đơn xin phép thành lập Hội.
Theo Thông tư số 01/2004/TT-BNV ngày 15-1-2004 của Bộ Nội vụ, muốn thành lập hội, những người sáng lập phải thành lập ban vận động thành lập hội. Sau khi được cơ quan có thẩm quyền cho phép, trong thời gian 90 ngày kể từ ngày quyết định thành lập hội có hiệu lực, phải tổ chức đại hội (nếu không kịp thì xin phép được gia hạn thêm 30 ngày) để công bố quyết định cho phép thành lập hội; thảo luận và thông qua điều lệ hội, bầu ban lãnh đạo và ban kiểm tra; thông qua chương trình hành động.
Hội có hoạt động gắn với nhiệm vụ của Nhà nước được ngân sách nhà nước hỗ trợ theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. Cơ quan nhà nước trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của mình có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để hội hoạt động có hiệu quả, theo điều lệ hội và các quy định của pháp luật.
Tính đến tháng 12-2006, trong cả nước hiện có 364 hội có phạm vi hoạt động toàn quốc và 4.157 hội hoạt động ở các địa phương. Ở Trung ương, có 23 hội được nhà nước giao biên chế, cấp hoặc hỗ trợ kinh phí trên 153 tỷ đồng. Ở các địa phương, Uỷ ban nhân dân tỉnh giao biên chế cho một số hội và cấp, hỗ trợ kinh phí hoạt động trên 122 tỷ đồng.
2. Liên hiệp hội (hoặc liên hợp) là hình thức kết hợp những tổ chức hay tầng lớp xã hội khác nhau nhằm thực hiện một mục đích chung về chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa... Ví dụ: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam...
Mỗi hình thức tổ chức liên hiệp (hoặc liên hợp) có những quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức, mối quan hệ giữa các thành viên với nhau và với các tổ chức hữu quan.
Các liên hiệp được tổ chức và tiến hành hoạt động theo các quy định tại Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30-7-2003 của Chính phủ, Thông tư số 01/2004/TT-BNV ngày 15-1-2004 của Bộ Nội vụ và các văn bản hữu quan của Nhà nước.
3. Liên đoàn là hình thức hợp thành của một tổ chức có quy mô cá biệt để trở thành một tổ chức có quy mô lớn hơn. Ví dụ: nhiều đội bóng đá tập hợp lại thành một tổ chức có quy mô lớn là Liên đoàn bóng đá Việt Nam.
Liên đoàn có khả năng đoàn kết, phối hợp, giúp đỡ nhau trong việc xây dựng tổ chức, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, triển khai các hoạt động thuận lợi hơn, có hiệu quả hơn.
Liên đoàn xây dựng tổ chức và hoạt động theo các quy định có tính pháp quy của các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước.
4. Tổng hội là hình thức tổ chức tập hợp tự nguyện nhiều hội nghề nghiệp ở các ngành, địa phương, cơ sở hoặc hội chuyên ngành trong phạm vi cả nước, có quan hệ với nhau về một lĩnh vực hoạt động xã hội, thành một hội lớn. Ví dụ: Tổng hội Y - Dược học Việt Nam, Tổng hội Địa chất Việt Nam...
Các tổng hội xây dựng tổ chức và hoạt động theo các quy định có tính pháp quy của các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước.
5. Hiệp hội là hình thức liên kết nhiều hội hoặc tổ chức thành viên (các tổ chức kinh tế, xã hội, nghề nghiệp) cùng nhau hoạt động có hiệu quả, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các hội thành viên, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Theo Nghị định số 88/2003/NĐ-CP ngày 30-7-2003 của Chính phủ, khi thành lập hiệp hội, phải xin phép cơ quan nhà nước có thẩm quyền; thực hiện nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự trang trải kinh phí và chịu trách nhiệm trước pháp luật; điều lệ hiệp hội phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và không trái với pháp luật.
Thông tư số 01/2004/TT-BNV ngày 15-1-2004 của Bộ Nội vụ chỉ rõ: Hiệp hội của các tổ chức kinh tế có hội viên là đại diện của các tổ chức kinh tế có tư cách pháp nhân của Việt Nam, có phạm vi hoạt động trong cả nước có ít nhất 11 đại diện pháp nhân ở nhiều tỉnh; hiệp hội có phạm vi hoạt động trong tỉnh có ít nhất 5 đại diện pháp nhân trong tỉnh cùng ngành nghề hoặc cùng lĩnh vực hoạt động có đủ điều kiện, tự nguyện đăng ký tham gia thành lập hiệp hội.
Ngoài các quyền của hội thành viên do pháp luật quy định, các hiệp hội kinh tế còn có quyền và trách nhiệm sau:
a) Làm đầu mối phối hợp liên kết giữa các doanh nghiệp thành viên, thúc đẩy liên doanh, liên kết, cùng có lợi;
b) Hỗ trợ doanh nghiệp hội viên trong việc chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, xúc tiến thương mại;
c) Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các hội viên trong tranh chấp thương mại và hòa giải các mâu thuẫn, tranh chấp giữa các hội viên.
Câu hỏi 95: Có gì khác nhau giữa các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội?
Trả lời:
1. Tổ chức chính trị là tổ chức được hình thành và hoạt động nhằm các mục tiêu chủ yếu về chính trị như: các đảng chính trị, các cơ quan quyền lực nhà nước... Tổ chức chính trị tập hợp, thu hút lực lượng của các giai cấp, tầng lớp xã hội các tổ chức quần chúng, nhằm thực hiện mục tiêu chủ yếu về chính trị là giành chính quyền và cầm quyền; điều hành, chi phối các hoạt động của đời sống quốc gia và tác động, ảnh hưởng trên trường quốc tế; đồng thời thực hiện các mục tiêu về kinh tế văn hóa, xã hội... đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân, củng cố và duy trì quyền lực về chính trị.
2. Tổ chức chính trị - xã hội là tổ chức xã hội thuộc hệ thống chính trị của một quốc gia dân tộc, không kể các đảng chính trị cầm quyền và các cơ quan nhà nước hiện hành.
Ở Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội là những tổ chức làm nhiệm vụ "cứu quốc" được thành lập trước hoặc sau khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và tồn tại đến ngày nay (Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu Chiến binh Việt Nam) được tập hợp theo giai cấp (công nhân, nông dân), giới (thanh niên, phụ nữ, phụ lão), nghề nghiệp (làm báo, làm văn...), theo quá trình chiến đấu (cựu chiến binh) và tập hợp theo hình thức tổ chức liên hiệp (Mặt trận Tổ quốc, Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật, Liên hiệp các Tổ chức Hữu nghị với các nước ngoài...
Các tổ chức chính trị - xã hội có nhiệm vụ:
a) Đoàn kết các tầng lớp nhân dân, hướng dẫn và giúp đỡ nhân dân nâng cao giác ngộ chính trị và trình độ kiến thức các mặt;
b) Tổ chức các hoạt động thực tiễn, đáp ứng nguyện vọng, lợi ích, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân;
c) Tổ chức và động viên nhân dân tham gia đấu tranh giành chính quyền của nhân dân và khi đã có chính quyền của nhân dân thì vận động nhân dân tham gia xây dựng và bảo vệ chính quyền đó, tham gia các phong trào cách mạng của nhân dân.
Các tổ chức chính trị - xã hội ở Việt Nam đã và đang là thành viên của hệ thống chính trị; hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, có truyền thống vẻ vang trong các thời kỳ cách mạng đã qua và ngày nay có vai trò to lớn, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
3. Tổ chức xã hội là hình thức tập hợp rộng rãi nhân dân theo nghề nghiệp, lứa tuổi, giới tính, sở thích..., nhằm đáp ứng các yêu cầu đa dạng của các tầng lớp nhân dân như học tập, rèn luyện nâng cao trình độ các mặt, giúp đỡ, động viên nhau trong cuộc sống, tham gia sinh hoạt văn hóa, thể thao, du lịch, xã hội, từ thiện...
Các tổ chức xã hội có quy mô rất khác nhau: có tổ chức hình thành hệ thống trong cả nước, ở tất cả các địa phương, hoặc tham gia tổ chức quốc tế tương ứng; có tổ chức chỉ hoạt động ở địa phương hoặc ở cơ sở.
Các tổ chức xã hội phát triển và hoạt động có kết quả là sự phản ánh mức độ tiến bộ về dân trí và dân chủ trong xã hội. Nhà nước có trách nhiệm quản lý, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các tổ chức xã hội ra đời và hoạt động đúng pháp luật, đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
Câu hỏi 96: Là một tổ chức liên minh, liên hiệp tự nguyện của nhiều tổ chức và cá nhân tiêu biểu trong xã hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát triển như thế nào và có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát triển cùng với quá trình phát triển của Cách mạng Việt Nam, là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Mặt trận Tổ quốc là một bộ phận của hệ thống chính trị nước ta do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh".
Ngày 18-11 (ngày thành lập Hội phản đế đồng minh) hằng năm là Ngày truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc của Mặt trận.
2. Theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (1999), Mặt trận có trách nhiệm và quyền hạn sau đây: Tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân; tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện quyền làm chủ, thi hành chính sách, pháp luật; tham gia công tác bầu cử; tham gia xây dựng pháp luật; tham gia tố tụng, tuyển chọn thẩm phán, giới thiệu hội thẩm Tòa án nhân dân; tham dự các phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, các kỳ họp của Hội đồng nhân dân, các phiên họp của Ủy ban nhân dân; hoạt động giám sát; hoạt động đối ngoại nhân dân.
3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được tổ chức theo các cấp hành chính: Trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn. Ở mỗi cấp có Ủy ban Mặt trận Tổ quốc; dưới cấp xã, phường, thị trấn có Ban công tác Mặt trận ở cộng đồng dân cư.
Câu hỏi 97: Hội Nông dân được tổ chức như thế nào và có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Hội Nông dân Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp nông dân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cơ sở chính trị của Nhà nước ta.
Tiền thân của Hội là Nông hội đỏ, được thành lập theo nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam (họp từ ngày 14 đến cuối tháng 10-1930), lấy ngày 14-10-1930 là Ngày truyền thống của Hội.
Tháng 3-1988, Hội tiến hành Đại hội toàn quốc lần thứ nhất và đổi tên thành Hội Nông dân Việt Nam.
Mục đích của Hội là tập hợp, đoàn kết, xây dựng giai cấp nông dân vững mạnh về mọi mặt, là lực lượng cơ bản thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.
Hội Nông dân Việt Nam có nhiệm vụ tập hợp rộng rãi những nông dân từ 18 tuổi trở lên làm việc tại địa bàn nông nghiệp, nông thôn, công nhận điều lệ Hội và tự nguyện xin gia nhập Hội. Hội Nông dân Việt Nam tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, xây dựng tổ chức vững mạnh, thực hiện vai trò nòng cốt trong phong trào nông dân phát triển kinh tế - xã hội ở nông thôn, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần hội viên, nông dân.
Trong quá trình xây dựng và phát triển, Hội Nông dân luôn luôn là tổ chức đại diện và bảo vệ quyền lợi của giai cấp nông dân, trung thành với sự nghiệp của Đảng, với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, với công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.
Hội Nông dân Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hệ thống tổ chức của Hội có bốn cấp: trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh và cấp cơ sở. Các cơ sở của Hội được tổ chức theo đơn vị xã, phường, thị trấn, các nông trường, lâm trường; ở các địa bàn dân cư có chi hội, tổ hội.
Đại hội X của Đảng quan tâm chăm sóc giai cấp nông dân: "Đối với giai cấp nông dân, phát huy vai trò quan trọng trong sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. Thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đưa công nghệ tiên tiến vào nông nghiệp nông thôn. Thực hiện tốt chính sách về ruộng đất. Tạo điều kiện thuận lợi để giúp nông dân chuyển sang làm công nghiệp và dịch vụ. Khuyến khích nông dân hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ trang trại để phát triển sản xuất, ổn định và cải thiện đời sống. Tăng hiệu quả sử dụng đất, tiêu thụ nông sản hàng hoá. Hỗ trợ và khuyến khích nông dân học nghề, tiếp nhận và áp dụng thành tựu khoa học, công nghệ".
Câu hỏi 98: Là tổ chức của giai cấp công nhân, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được xây dựng như thế nào, có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và những người lao động Việt Nam. Qua quá trình phát triển, tổ chức này mang nhiều tên gọi khác nhau và Đại hội VI Tổng Công đoàn Việt Nam (tháng 10-1988), đã đổi tên thành Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.
Theo Hiến pháp năm 1992 (Đã được sửa đổi bổ sung năm 2001), Công đoàn Việt Nam có nhiệm vụ: "cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội tổ chức chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc". Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam hoạt động dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, tuân theo Hiến pháp và pháp luật, lãnh đạo các Công đoàn Việt Nam hoàn thành tốt nhiệm vụ theo Luật Công đoàn và điều lệ Công đoàn Việt Nam quy định, lãnh đạo xây dựng và phát triển các Công đoàn Việt Nam ngày càng lớn mạnh.
Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thiểu số phục tùng đa số.
Công đoàn thường gắn với giai cấp công nhân, Đại hội X của Đảng nhấn mạnh: "Đối với giai cấp công nhân, phát triển về số lượng, chất lượng và tổ chức; nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độ học vấn và nghề nghiệp, xứng đáng là lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Giải quyết việc làm, giảm tối đa số công nhân thiếu việc làm và thất nghiệp. Thực hiện tốt chính sách và pháp luật về lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hộ lao động, chăm sóc, phục hồi sức khoẻ đối với công nhân; chính sách ưu đãi nhà ở đối với công nhân bậc cao. Xây dựng tổ chức, phát triển đoàn viên công đoàn, nghiệp đoàn đều khắp ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc các thành phần kinh tế. Thường xuyên chăm lo đời sống vật chất và tinh thần, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của công nhân và những người lao động, chú trọng công nhân làm việc ở các khu công nghiệp và đô thị lớn. Chăm lo đào tạo cán bộ và kết nạp đảng viên từ những công nhân ưu tú".
Câu hỏi 99: Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam có vai trò, nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của các tầng lớp phụ nữ Việt Nam, hoạt động vì sự bình đẳng, phát triển của phụ nữ, chăm lo bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng và hợp pháp của phụ nữ. Hội là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là thành viên của Liên đoàn Phụ nữ dân chủ quốc tế và Liên đoàn các tổ chức phụ nữ Đông - Nam Á.
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Hội đã tập hợp, đoàn kết được đông đảo các tầng lớp phụ nữ, phát huy truyền thống yêu nước, phấn đấu kiên cường, đem tài năng, trí tuệ góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đại hội X của Đảng nêu rõ: "Đối với phụ nữ, nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới. Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người. Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp. Chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ, trẻ em. Bổ sung và hoàn chỉnh các chính sách về bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, thai sản, chế độ đối với lao động nữ. Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội, các hành vi bạo lực, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ".
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam kết nạp vào tổ chức của mình những phụ nữ Việt Nam từ 18 tuổi trở lên kể cả người đang cư trú ở nước ngoài, không phân biệt chủng tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, tán thành điều lệ Hội, tham gia các hoạt động của Hội. Hội còn bao gồm cả tổ chức hội viên tập thể là các tổ chức phụ nữ hợp pháp khác. Hội được tổ chức theo nguyên tắc tự nguyện, liên hiệp, thống nhất hành động. Cơ quan lãnh đạo của Hội thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Hội được tổ chức theo bốn cấp tương ứng với hệ thống tổ chức hành chính nhà nước. Tổ chức cơ sở Hội được thành lập ở xã, phường, thị trấn và các cơ sở khác có đông phụ nữ. Ở các địa bàn dân cư có chi hội, tổ hội phụ nữ.
Câu hỏi 100: Hội Cựu chiến binh là một tổ chức như thế nào và có những nhiệm vụ gì?
Trả lời:
Hội Cựu chiến binh Việt Nam là đoàn thể chính trị - xã hội của cựu chiến binh Việt Nam, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Mục đích của Hội là phát huy truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", tham gia bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng và chính quyền nhân dân, góp phần xây dựng, bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của hội viên, giúp đỡ lẫn nhau về tinh thần và vật chất trong cuộc sống, gắn bó tình bạn chiến đấu. Hội tập hợp, đoàn kết các cựu chiến binh Việt Nam, tạo điều kiện cho họ tham gia công cuộc đổi mới đất nước trên tất cả các lĩnh vực.
Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Đối với cựu chiến binh, phát huy truyền thống "Bộ đội Cụ Hồ", tích cực tham gia xây dựng và bảo vệ Đảng, chính quyền và chế độ xã hội chủ nghĩa. Động viên cựu chiến binh giúp nhau cải thiện đời sống, xoá đói giảm nghèo, góp phần giáo dục lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng cho thế hệ trẻ; thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở; đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tệ nạn xã hội; tham gia xây dựng và củng cố cơ sở chính trị, xây dựng Đảng, chính quyền ở cơ sở trong sạch, vững mạnh".
Hội Cựu chiến binh Việt Nam kết nạp những người đã tham gia lực lượng vũ trang do Đảng tổ chức trước Cách mạng Tháng Tám 1945; những cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân Việt Nam (kể cả công nhân viên quốc phòng đã tham gia chiến đấu và phục vụ chiến đấu, sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp), nay đã xuất ngũ, phục viên, chuyển ngành, nghỉ hưu, cán bộ, chiến sĩ, dân quân du kích, tự vệ trực tiếp chiến đấu.., giữ được bản chất "Bộ đội Cụ Hồ", làm tròn nghĩa vụ công dân, tán thành điều lệ của Hội và tự nguyện xin vào Hội.
Hội làm việc theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Hệ thống tổ chức của Hội được lập ở các cấp từ trung ương tới cơ sở.
Câu hỏi 101: Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh có vị trí quan trọng như thế nào và Đảng lãnh đạo như thế nào mà không lập đảng đoàn ở đây?
Trả lời:
Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, một tổ chức chính trị - xã hội của thanh niên Việt Nam, là tổ chức quần chúng do Đảng trực tiếp lãnh đạo, chứ không phải thông qua đảng đoàn như đối với các đoàn thể nhân dân khác. Đoàn phấn đấu theo mục tiêu do Đảng đề ra.
Do vậy, trong Điều lệ Đảng có một chương nói về Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn...; Đại hội nào của Đảng cũng đề cập tới vấn đề Đảng lãnh đạo các hoạt động của Đoàn, Ban Chấp hành Trung ương nhiều khóa có nghị quyết riêng về công tác thanh niên...
Điều lệ Đảng quy định: "Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh là đội dự bị tin cậy của Đảng, thường xuyên bổ sung lực lượng trẻ cho Đảng, kế tục sự nghiệp cách mạng vẻ vang của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là lực lượng nòng cốt trong phong trào thanh niên; là trường học xã hội chủ nghĩa; đại diện quyền lợi của thanh niên; phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Cấp ủy đảng lãnh đạo trực tiếp tổ chức đoàn cùng cấp về phương hướng, nhiệm vụ, tư tưởng, tổ chức, cán bộ" (Điều 44).
Đại hội VIII của Đảng chỉ rõ: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh ở mọi cấp, mọi ngành. Coi trọng hơn nữa việc giáo dục, rèn luyện thế hệ trẻ về chính trị, tư tưởng, văn hóa, nghề nghiệp, đạo đức, lối sống... Chăm lo giáo dục, đào luyện thế hệ trẻ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị, của gia đình, nhà trường và của toàn xã hội".
Đại hội IX của Đảng nêu rõ: "Đối với thế hệ trẻ, chăm lo giáo dục, bồi dưỡng, đào tạo phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, văn hóa, sức khoẻ, nghề nghiệp; giải quyết việc làm, phát triển tài năng và sức sáng tạo, phát huy vai trò xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc".
Đại hội X của Đảng một lần nữa chỉ rõ: "Đối với thế hệ trẻ, thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lý tưởng, đạo đức và lối sống; tạo điều kiện học tập, lao động, giải trí, phát triển thể lực, trí tuệ, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Khuyến khích thanh niên tự học, tự nâng cao tay nghề, tự tạo việc làm. Chú trọng bồi dưỡng cán bộ, đào tạo thanh niên trong lực lượng vũ trang có nghề khi hết thời hạn nghĩa vụ quân sự. Tạo cơ hội cho thanh niên có tài năng đi học ở nước ngoài về phục vụ đất nước. Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt và phụ trách".
Tổ chức Đảng các cấp phải thường xuyên giáo dục chính trị, truyền thống, lý tưởng và đạo đức cách mạng cho thanh niên. Khuyến khích thanh niên tự học, tự nâng cao tay nghề, tự tạo việc làm. Chú trọng bồi dưỡng nguồn cán bộ, đào tạo thanh niên trong lực lượng vũ trang có nghề khi hết thời hạn nghĩa vụ quân sự. Tạo cơ hội cho thanh niên có tài năng đi học ở nước ngoài về phục vụ đất nước. Thu hút rộng rãi thanh niên, thiếu niên và nhi đồng vào các tổ chức do Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh làm nòng cốt.
Đảng yêu cầu các cấp ủy và tổ chức đảng phải tăng cường lãnh đạo Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, nâng cao chất lượng đoàn viên và cán bộ Đoàn, phát huy vai trò Đoàn là nòng cốt trong phong trào thanh niên, xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng. Các tổ chức đảng phải đặt công tác xây dựng Đoàn trong mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với công tác tổ chức đảng; coi trọng giúp đỡ xây dựng Đoàn xứng đáng là đội dự bị tin cậy của Đảng, hạt nhân nòng cốt của phong trào thanh niên và là lực lượng kế tục sự nghiệp cách mạng của dân tộc và của Đảng...
Để thiết thực lãnh đạo và xây dựng tổ chức đoàn, trong Điều lệ Đảng còn quy định: "Đảng viên còn trong độ tuổi đoàn phải sinh hoạt và công tác trong tổ chức đoàn" (Điều 45).
Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa IX quy định:
Cấp ủy cùng cấp phân công cấp ủy viên theo dõi, kiểm tra hoạt động của tổ chức đoàn. Định kỳ hàng năm tập thể ban thường vụ cấp ủy nghe tình hình hoạt động của tổ chức đoàn để có ý kiến chỉ đạo hoạt động của tổ chức đoàn cùng cấp.
1A Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội
E-mail: congdcsvn@vptw.dcs.vn
Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu