LỜI NHÀ XUẤT BẢN Lịch sử cách mạng Việt Nam đã khẳng định, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đảng là trung tâm tập hợp, phát huy trí tuệ, vật lực của toàn dân tộc thành sức mạnh to lớn đánh đuổi kẻ thù xâm lược, lật đổ chế độ áp bức, bóc lột giành thắng lợi lịch sử, đưa nhân dân lao động lên vị thế người chủ đất nước. Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay, trước những khó khăn, thách thức quyết liệt chưa từng có, Đảng đã sáng suốt khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước giành những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo, vai trò cầm quyền của Đảng. Trở thành đảng cầm quyền, Đảng có hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, trong đó Nhà nước là công cụ sắc bén của Đảng và nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng Hiến pháp, pháp luật thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân, mục tiêu, lý tường của Đảng; Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật. Thông qua Nhà nước, Đảng lãnh đạo toàn xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam nói chung, các tổ chức đảng, đội ngũ đảng viên đều là lực lượng tiên phong, lãnh đạo toàn xã hội. Là đảng viên của Đảng, trước hết phải là công dân tốt, tức là gương mẫu và chấp hành nghiêm Hiến pháp và pháp luật. Hơn nữa, chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân thì đòi hỏi của tính kỷ cương, kỷ luật càng cao, không có một tổ chức, cá nhân nào đứng ngoài hoặc đứng trên pháp luật Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là nhà nước được tổ chức và hoạt động trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và thể hiện địa vị tối cao của Hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội. Mọi cơ quan, tổ chức nhà nước, cán bộ, công chức nhà nước và các thành viên khác của xã hội phải tôn trọng và thực hiện pháp luật một cách nghiêm minh, tự giác. Nhà nước phải quản lý xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật. Mọi vi phạm pháp luật phải được pháp luật xử lý nghiêm minh, kịp thời, thực hiện nguyên tắc mọi người bình đẳng trước pháp luật. Chính vì thế, trong nhiều văn kiện của Đảng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật đã ghi nhận nội dung này. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng chỉ rõ , đảng viên và tổ chức đảng phải là người gương mẫu nhất trong việc chấp hành mọi quyết định của Nhà nước. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng đính: "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"l. Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII nhấn mạnh: "Đảng là một tổ chức trong hệ thống chính trị, nhưng là lực lượng duy nhất lãnh đạo hệ thống ấy... Đảng tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể; Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật"2. Đặc biệt, Nghị quyết Đại hội IX của Đảng đã khẳng định nhiệm vụ "xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng". Đó chính là sự tiếp tục phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước pháp quyền trong điều kiện mới.
Ngay từ buổi đầu được thành lập và trong suốt quá trình xây dựng, phát triển, Nhà nước ta đã mang những yếu tố của Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, gắn bó chặt chẽ và phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc. Nhà nước đã từng bước thực hiện việc quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng phát huy dân chủ, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 quy định: "Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 (Sửa đổi năm 2001) quy định: "Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Đến Đại hội X của Đảng, vấn đề hoạt động của Đảng phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật được Đảng khẳng định là một nguyên tắc xây dựng Đảng trong điều kiện đảng cầm quyền hiện nay. Văn kiện Đại hội XI có ghi: "Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"3.
Việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật vừa tạo ra điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Đảng, vừa đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với Đảng.
Một mặt, bằng các quy định của pháp luật ở những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; công nhận sự hoạt động hợp pháp của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Từ sự ghi nhận này, trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức đảng được pháp luật bảo vệ, ngăn chặn các hành động chống phá Đảng như vu cáo, cản trở hoạt động đúng pháp luật, xâm phạm thân thể đảng viên và tài sản của Đảng; tạo điều kiện cho các cấp ủy, tổ chức đảng tập trung trí tuệ cho việc hoạch định chủ trương, đường lối xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng nội bộ Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, lãnh đạo các tổ chức quần chúng xây dựng cơ sở xã hội vững chắc, tạo hậu thuẫn chính tả trong cộng đồng nhân dân. Từ đó, tạo điều kiện nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, uy tín của Đảng trong xã hội, giúp Đảng giữ vững vị trí đảng cầm quyền đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Mặt khác, là đảng cầm quyền, dù là đảng duy nhất cũng là một thành viên trong cộng đồng, mỗi đảng viên của Đảng là một công dân, chịu sự điều chỉnh của pháp luật, bình đẳng với mọi công dân khác, không có đặc quyền, đặc lợi nào. Việc ghi nhận Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật giúp ngăn chặn xu hướng của một đảng duy nhất cầm quyền là lộng quyền và lạm quyền, Đảng đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Ngăn chặn tình trạng một số tổ chức đảng, đảng viên có ý nghĩ không đúng khi cho rằng Đảng là người lãnh đạo không bị giới hạn bởi pháp luật. Điều này rất nguy hiểm, làm giảm vai trò, uy tín, sức mạnh của Đảng và hiệu lực của Hiến pháp, pháp luật. Thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã tạo được sự đồng thuận, thống nhất giữa chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng với chính sách, pháp luật của Nhà nước, thể hiện rõ vai trò lãnh đạo hệ thống chính trị nhưng cũng là thành viên của hệ thống ấy. Tùy thuộc vào yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng, các chủ trương, đường lối, nghị quyết . của Đảng có hiệu lực, phạm vi áp dụng khác nhau. Thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, nhiều chỉ thị, nghị quyết của Đảng được triển khai sâu rộng trong xã hội và có hiệu lực như pháp luật. Nhưng khi Đảng giành được chính quyền thì Đảng chỉ đưa ra những định hường chiến lược, những chủ trương để Nhà nước cụ thể hóa thành pháp luật. Đối với mỗi đảng viên, Đảng giác ngộ, giáo dục để họ nhận thức rõ, là đảng viên không chỉ thực hiện đúng pháp luật mà còn phải thực hiện đầy đủ, gương mẫu, đi đầu lôi cuốn nhân dân thực hiện nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật.
Tuy nhiên, thực tiễn hiện nay, nhiều tổ chức đảng, đảng viên nhận thức cũng như thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật chưa đầy đủ, nghiêm túc. Không ít cấp ủy quan niệm, Đảng là cơ quan lãnh đạo thì phải tham gia vào mọi việc của Nhà nước cũng như xã hội, Nhà nước chỉ là cơ quan chấp hành dẫn đến tình trạng bao biện, làm thay, lấn sân. Nơi này, nơi khác vẫn còn tình trạng, tổ chức đảng ra nghị quyết để trực tiếp giải quyết những công việc cụ thể, sự vụ mà lẽ ra đó là công việc của các cơ quan khác. Trong hoạt động tư pháp, có những vụ án, cấp ủy đảng cũng tham gia ý kiến chỉ đạo cụ thể vào việc điều tra, truy tố, xét xử làm cho các cơ quan tư pháp không thực hiện đúng nguyên tắc độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Trong đảng viên, có cả những đảng viên giữ vị trí lãnh đạo cao trong Đảng cũng nhầm lẫn chức năng, nhiệm vụ của mình khi với tư cách đảng viên của Đảng và tư cách cán bộ lãnh đạo trong bộ máy nhà nước, dẫn đến lấn sân công việc của cá nhân, cơ quan khác và nhiệm vụ của mình không hoàn thành.
Những hạn chế, yếu kém nói trên do nhiều nguyên nhân, trong đó có một nguyên nhân rất chủ yếu là, mặc dù quan điểm Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đã được hình thành, phát triển và được thực hiện từ khá lâu và ở nhiều nơi thuộc các cấp, các ngành, nhưng mới được Đảng ta chính thức khẳng định đó là một nguyên tắc xây dựng Đảng, một nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng Việc làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của nguyên tắc này còn chậm trễ và kết quả thu được chưa nhiều nên trong hoạt động thực tiễn, nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên còn lúng túng.
Nhằm góp phần vào việc nghiên cứu sáng tỏ cơ sở lý luận, thực tiễn và đề xuất các giải pháp thực hiện tốt vấn đề nêu trên, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách: Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam giai đoạn hiện nay, do PGS, TS. Nguyễn Văn Giang và TS. Đinh Ngọc Giang đồng chủ biên. Đây là kết quả đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Học viện Xây dựng Đảng thuộc Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 4 năm 2011
NHÀ XUẤT BẢN
CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
------
Chú thích
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2005, tr.330.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999, tr.21.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.5.
Chương I THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHÔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
I. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT
1. Sự hình thành, phát triển của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Vấn đề Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đã được Đảng ta quan tâm và được thực hiện từ khi trở thành Đảng cầm quyền, nhất là từ khi đất nước thống nhất, Đảng lãnh đạo cả nước xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Vấn đề này được Đảng ta nhận thức sâu sắc hơn và thực hiện tốt hơn từ khi tiến hành công cuộc đổi mới. Đây là nhân tố rất quan trọng đề cao vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước trong công cuộc đổi mới, đất nước đạt được thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển mạnh mẽ. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Đảng ta khẳng định, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc xây dựng Đảng, nguyên tắc hoạt động của Đảng ta. Sự khẳng định đó là kết quả của quá trình phát triển nhận thức của Đảng về vấn đề này.
Có thể chia quá trình phát triển nhận thức của Đảng về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật thành ba thời kỳ chủ yếu. Tương ứng với mỗi thời kỳ, Đảng đã nhận thức sâu sắc hơn về nguyên tắc này và nâng tầm nhận thức của Đảng lên một bước mới.
a) Thứ nhất, giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975
Đây là thời kỳ Đảng đã giành được chính quyền, trở thành Đảng cầm quyền, song Đảng không thể tập trung lãnh đạo Nhà nước và nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Do hoàn cảnh lịch sử và nhiều yếu tố khác, Đảng phải tập trung cao độ vào lãnh đạo cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược từ năm 1946 đến năm 1954.
Trải qua chín năm trường kỳ kháng chiến, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, sự nỗ lực của toàn dân tộc, chúng ta đã giành thắng lợi to lớn trong chiến dịch Điện Biên Phủ chấn động địa cầu, kết thúc chiến tranh, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc.
Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Nhà nước công nông non trẻ mới ra đời gặp muôn vàn khó khăn trong hoạt động, các thế lực thù địch ra sức phá hoại, hòng bóp chết Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa của chúng ta và hy vọng cấu kết phục thù. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta đã tổ chức thực hiện đạt kết quả đường lối vừa kháng chiến vừa kiến quốc của Đảng. Do điều kiện chiến tranh, Đảng đã lãnh đạo trực tiếp, toàn diện đối với Nhà nước, hoạt động của Đảng và của Nhà nước khó được phân biệt rạch ròi, hầu như đã hòa làm một. Hoạt động của Đảng bao trùm lên hoạt động của Nhà nước, vai trò của Nhà nước ở nhiều nơi, nhiều lĩnh vực không được thể hiện rõ.
Sau hai năm cầm quyền, những bệnh dễ mắc phải của một Đảng Cộng sản cầm quyền đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảnh tỉnh đã xuất hiện trong đội ngũ cán bộ, đảng viên. Tệ quan liêu, tham nhũng, vô kỷ luật, tự coi mình là đảng viên của Đảng cầm quyền là tối thượng, dẫn tới những biểu hiện coi thường pháp luật, hoạt động ngoài pháp luật, đứng trên pháp luật đã xuất hiện trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và một số cấp ủy, tổ chức đảng. Bên cạnh đó, phong cách, lề lối làm việc thủ công, chuộng hình thức, bàn giấy và các tệ nạn tham lam, lười biếng, kiêu ngạo, hiếu danh, thiếu kỷ luật, coi thường các cơ quan chính quyền đã xuất hiện trong một số cán bộ, gây tác hại không nhỏ đến công cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhận rõ sự nguy hiểm của các bệnh tật, tệ nạn này, đã quyết tâm và đề ra các giải pháp loại trừ, trong đó, đã chú ý đến các biểu hiện coi thường pháp luật, đứng trên pháp luật, hoạt động ngoài pháp luật. Mặc dù bận rộn nhiều việc, song Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành trí lực, thời gian viết tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, nhằm hạn chế và từng bước loại trừ các tệ nạn này, đặt cơ sở cho hoạt động đúng đắn của Đảng trong điều kiện hòa bình sau này.
Vấn đề Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đã được Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, nhưng do điều kiện phải tập trung lãnh đạo kháng chiến nên chưa có điều kiện làm rõ hơn. Trong điều kiện và hoàn cảnh đó, Đảng cũng đưa ra nhiều giải pháp nhằm ngăn chặn và từng bước loại trừ các biểu hiện coi thường pháp luật, đứng ngoài và đứng trên pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên, đưa hoạt động của họ vào khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tuy nhiên, trong Điều lệ thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951), Đảng chưa nhấn mạnh việc đảng viên vi phạm pháp luật phải xử lý theo pháp luật, như các Văn kiện Đại hội Đảng trong các nhiệm kỳ tiếp theo.
b) Thứ hai, giai đoạn từ năm 1955 đến năm 1975
Đây là thời kỳ đất nước tạm chia thành hai miền, Đảng lãnh đạo thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân trên cả nước. Trong giai đoạn này, đế quốc Mỹ, với tiềm lực kinh tế, quốc phòng hùng mạnh, phương tiện chiến tranh hiện đại đã dùng miền Nam làm bàn đạp đẩy chiến tranh ở miền Nam lên đỉnh cao, mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội từ nền kinh tế lạc hậu, lại bị tàn phá nặng nề bởi cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp. Trong điều kiện và hoàn cảnh ấy, Đảng phải lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, xây dựng miền Bắc thành hậu phương lớn của chiến trường miền Nam, sẵn sàng chiến đấu giành thắng lợi khi đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai liều lĩnh mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Nhận thức của Đảng về vấn đề này đã được phát triển và nâng lên một bước. Trước đòi hỏi của hai nhiệm vụ chiến lược, đòi hỏi của việc tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước và chính quyền các cấp trong thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ chiến lược của cách mạng, phải có các chủ trương, giải pháp mạnh để ngăn chặn, loại trừ các tệ nạn nêu trên. Bởi vì, các tệ nạn lộng quyền, lạm quyền, coi thường pháp luật, đứng trên và đứng ngoài pháp luật đã xảy ra ở nhiều nơi, ở một bộ phận cán bộ, đảng viên, cản trở không nhỏ kết quả thực hiện nhiệm vụ cách mạng và nhiệm vụ chính trị của địa phương. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng, Đảng đã thẳng thắn chỉ ra tình trạng: "Có những cấp ủy Đảng bao biện làm thay, can thiệp vụn vặt vào công việc của cơ quan nhà nước... Có những cấp ủy và cán bộ, đảng viên coi thường chính quyền nhà nước, không nghiêm chỉnh chấp hành chỉ thị, nghị quyết của cơ quan chính quyền cấp trên"1. Đồng thời, Đảng đã kiên quyết xử lý những cán bộ, đảng viên mắc các sai phạm đó, đã đề ra các biện pháp mạnh để giải quyết tình trạng này, được ghi trong Điều lệ Đảng. Điều đó thể hiện sự phát triển một bước nhận thức của Đảng ta về vấn đề Đang hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội III của Đảng quy định: "Đối với đảng viên vi phạm pháp luật của Nhà nước cần phải truy tố trước tòa án thì tổ chức đảng có thẩm quyền sẽ thi hành kỷ luật Đảng và tội trạng của họ sẽ do các cơ quan hành chính hoặc tư pháp xét xử về mặt chính quyền"2.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng là cái mốc đánh dấu sự phát triển nhận thức của Đảng về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật. Đây là sự tiến bộ vượt bậc. Đại hội đã đánh giá về công tác xây dựng Đảng về hoạt động của Đảng, trong đó, đã không né tránh chỉ ra các thiếu sót, khuyết điểm của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về thực hiện vấn đề nêu trên. Đại hội khẳng định: "Đảng bắt buộc các tổ chức đảng và đảng viên tôn trọng quyền hạn, trách nhiệm và các chế độ của cơ quan nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật và các quyết định của Nhà nước, coi đó là kỷ luật của Đảng"3. Đặc biệt là Đảng khẳng định việc cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật, quy định của Nhà nước là vi phạm kỷ luật của Đảng.
c) Thứ ba, giai đoạn từ năm 1976 đến năm 1985
Đây là thời kỳ đất nước thống nhất, đi lên chủ nghĩa xã hội với khí thế của một dân tộc vừa giành được thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Đảng có nhiều kinh nghiệm trong lãnh đạo Nhà nước, trong khắc phục những biểu hiện về coi thường pháp luật, đứng ngoài pháp luật của một số cấp ủy, cán bộ, đảng viên trong điều kiện chiến tranh.
Thời kỳ này cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu bao cấp đã dần bộc lộ những nhược điểm trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước theo kiểu thời chiến tỏ ra không có hiệu quả, dần dần trở thành lực cản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Việc tiếp tục thực hiện cơ chế hành chính, tập trung, quan liêu bao cấp, khiến cho ở nhiều nơi đã xảy ra sự can thiệp quá sâu của cấp ủy vào hoạt động của chính quyền cùng cấp, vào việc thực hiện chức năng quản lý của chính quyền. Các biểu hiện coi thường pháp luật, đứng ngoài pháp luật của một số cán bộ, đảng viên có xu hướng gia tăng. Tình hình đó đã hạn chế sự phát triển của đất nước, làm giảm uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Vấn đề đặt ra là phải giải quyết vấn đề này ở tầm cao hơn, cơ bản hơn.
Đảng đã chú ý nghiên cứu phân định chức năng lãnh đạo của Đảng với chức năng quản lý của Nhà nước để hạn chế sự can thiệp quá sâu của Đảng vào hoạt động của Nhà nước, hạn chế đến mức thấp nhất việc cấp ủy, tổ chức đảng đề ra những quy định trái với pháp luật. Tại Đại hội V, Đảng nhấn mạnh: "vẫn còn một số tổ chức đảng bao biện công việc của cơ quan nhà nước. Cần nhanh chóng khắc phục tình trạng đó. Các cấp ủy Đảng, các cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thi hành Hiến pháp và pháp luật, đi đầu trong cuộc đấu tranh tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Nghiêm cấm các tổ chức đảng tùy tiện đề ra những quy định trái với pháp luật"4. Đại hội cũng nhấn mạnh, phải tập trung "khắc phục thiên hướng xem nhẹ vai trò của Nhà nước còn khá nặng nề ở nhiều cấp, nhiều ngành"5. Vì thiên hướng này dễ dẫn đến xem thương pháp luật, hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vượt ra ngoài khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
Trong thời kỳ này tư tương về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân đã dần dần được hình thành. Đây là bước tiến lớn trong nhận thức của Đảng ta, tạo cơ sở để phát triển nhận thức về Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật trong thời kỳ đổi mới.
Như vậy, từ năm 1945 đến năm 1985, nhận thức của Đảng về Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật dần dần được hình thành, phát triển, gồm: nhận thức về sự cần thiết tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; tác hại của việc Đảng lấn sân bao biện làm thay, can thiệp quá sâu vào hoạt động của Nhà nước; việc các cấp ủy, tổ chức đảng tùy tiện đề ra các quy định và hoạt động trái pháp luật và sự nguy hiểm của việc một bộ phận cán bộ, đảng viên coi thường pháp luật, đứng trên và đứng ngoài pháp luật... Đảng đã đề ra các biện pháp để khắc phục tình trạng đó. Trong đó, có các biện pháp mạnh như coi đảng viên, tổ chức đảng vi phạm pháp luật cũng là vi phạm kỷ luật Đảng; đảng viên vi phạm pháp luật phải xử lý theo pháp luật như mọi công dân... Đặc biệt là sự phát triển nhận thức của Đảng về vấn đề này không chỉ dừng lại ở việc đề ra các giải pháp cho các vấn đề nêu trên; xử lý các sai phạm về đảng viên, tổ chức đảng coi thường pháp luật, không ghép hoạt động của mình vào khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; mà phải giải quyết vấn đề này ở tầm cao hơn cả về lý luận và thực tiễn, đảm bảo cho Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đó là tư tưởng xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Mặc dù Đảng chưa nói đến khái niệm này, nhưng nhiều nội dung chủ yếu của nó đã được Đảng nhận thức và thể hiện trong các Văn kiện Đảng thời kỳ này.
d) Thứ tư, giai đoạn từ năm 1986 đến nay
Từ sau Đại hội VI của Đảng, đất nước chính thức bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện. Nhận thức của Đảng về Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật được phát triển và nâng lên tầm cao mới, được củng cố, tiếp tục phát triển đến ngày nay.
Bước vào công cuộc đổi mới, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, theo định bướng xã hội chủ nghĩa, phải mở rộng dân chủ, phát huy vai trò của pháp luật. Mặt khác, do đòi hỏi bức bách của việc mở rộng quan hệ với các nước và hội nhập kinh tế quốc tế phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và vai trò của pháp luật. Mở rộng dân chủ và quan hệ với các nước phải được xác định bằng pháp luật, lấy pháp luật làm căn cứ. Tức là Nhà nước phải được xây dựng và hoạt động theo hướng dân chủ và pháp quyền, phải xây dựng một Nhà nước pháp quyền, trong đó pháp luật là tối cao.
Vậy thế nào là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và Đảng hoạt động như thế nào trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền đang cần được trả lời một cách rõ ràng, chính xác. Rõ ràng rằng, sự lấn sân bao biện, làm thay công việc của Nhà nước, can thiệp quá sâu vào công việc của Nhà nước đã diễn ra ở nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và tình trạng coi thường pháp luật, hoạt động thoát ra khỏi khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật ở một bộ phận cán bộ, đảng viên là không thể chấp nhận được trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền.
Tại Đại hội VI của Đảng, Đảng ta chưa dùng cụm từ "Nhà nước pháp quyền". Khái niệm "Nhà nước pháp quyền" vẫn chưa được làm rõ. Song, Đảng đã bắt đầu phát triển nhận thức và nhận thức rõ hơn về vai trò của pháp luật, về tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên gương mẫu thi hành pháp luật, về quản lý xã hội bằng pháp luật, không chỉ bằng đạo lý. Tuy nhiên, đến năm 1989 trong Hội nghị tổng kết công tác của Bộ Tư pháp, đồng chí Đỗ Mười nhấn mạnh: "Khái niệm Nhà nước pháp quyền thì các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu, nhưng tinh thần đề cao pháp luật thì cần được tiếp thu và vận dụng trong điều kiện đổi mới".
Đến Đại hội VII của Đảng, Đảng vẫn chưa dùng khái niệm Nhà nước pháp quyền mà tiếp tục nhấn mạnh vai trò của pháp luật trong công cuộc đổi mới, các cấp ấy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu thi hành pháp luật. Nhận thức của Đảng về nguyên tắc nêu trên được phát triển lên mức độ mới, cao hơn. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội khẳng định: "Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận của hệ thống ấy. Đảng liên hệ mật thiết với nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"6.
Đến Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII, Đảng mới chính thức dùng khái niệm "Nhà nước pháp quyền", những nội dung của xây dựng Nhà nước pháp quyền và Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật được tập trung nhận thức, bổ sung hoàn thiện hơn.
Đến Đại hội VIII của Đảng, nhận thức của Đảng về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật tiếp tục được phát triển và nhấn mạnh trách nhiệm của Đảng và đảng viên về hoạt động của mình. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng chỉ rõ: "Đảng và mọi đảng viên đều hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật và chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình"7.
Đại hội X đã đánh dấu bước phát triển cao độ nhận thức của Đảng về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đảng chính thức đưa vào Điều lệ Đảng vấn đề Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật và khẳng định đây là một nguyên tắc xây dựng Đảng, nguyên tắc hoạt động của Đảng. Cụ thể là Điều lệ Đảng thông qua tại Đại hội X xác định: "Đảng là một tổ chức chặt chẽ... đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình..., Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"8. Những nội dung cơ bản của nguyên tắc và những điều kiện đảm bảo nguyên tắc đã được Đảng nhận thức và làm phong phú trong các Văn kiện của Đảng.
Sự phát triển nhận thức của Đảng về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật gắn liền với sự phát triển nhận thức của Đảng về Nhà nước pháp quyền và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
2. Cơ sở lý luận, thực tiễn của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một vấn đề được đông đảo các nhà khoa học nghiên cứu trong nhiều năm qua, đạt được những kết quả bước đầu. Qua quá trình lãnh đạo của Đảng trong điều kiện có chính quyền và hoạt động của Nhà nước trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, Điều 4 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (năm 1992) ghi rõ: "Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Điều này đã khẳng định cơ sở pháp lý của sự lãnh đạo toàn xã hội của Đảng và quy định bằng pháp luật mọi hoạt động của Đảng. Đặc biệt là, tại Đại hội X Đảng ta đã khẳng định, "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" là một nguyên tắc hoạt động của Đảng và được ghi trong Điều lệ Đảng. Sự khẳng định do dựa trên những cơ sở sau đây:
Thứ nhất, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là điều tự nhiên trong thời đại ngày nay.
Trong xã hội hiện đại, ở tất cả các nước đều có Hiến pháp và pháp luật, thể hiện bản chất của giai cấp cầm quyền, mọi tổ chức trong xã hội tồn tại hợp Hiến pháp, pháp luật của nước ấy, đều phải hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật đã được nhà nước ban hành.
Ở các nước tư bản, nhất là các nước tư bản phát triển, điều nêu trên lại càng được thực hiện nghiêm ngặt và được các chính đảng, kể cả chính đảng tư sản cầm quyền chấp hành nghiêm chỉnh. Tổ chức đảng, đảng viên của các chính đảng và của đảng tư sản cầm quyền vi phạm Hiến pháp và pháp luật đều bị xử lý nghiêm minh theo pháp luật tư sản hiện hành. Ở các nước tư bản thường xảy ra hai trường hợp chủ yếu như: một đảng tư sản cầm quyền (có thể các đảng tư sản thay nhau cầm quyền), hoặc liên minh hai hay nhiều đảng cầm quyền. Trong trường hợp thứ hai, việc chi phối nhà nước tư sản thuộc về đảng tư sản chiếm ưu thế. Thực tế ở các nước tư bản, Hiến pháp và pháp luật tư sản khá ổn định. Bởi vậy dù đảng tư sản này hay đảng tư sản khác cầm quyền, hoặc liên minh này hay liên minh khác cầm quyền thì Hiến pháp và pháp luật hầu như không thay đổi lớn. Tất cả các chính đảng đều phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật tư sản, phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật tư sản. Đảng Cộng sản, theo Hiến pháp, pháp luật tư sản, được tồn tại và hoạt động trong xã hội tư bản, song hoạt động của Đảng không được vượt quá những quy định của Hiến pháp và pháp luật tư sản.
Ở nước ta, Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền, Nhà nước ta do Đảng lãnh đạo lập ra và chịu sự lãnh đạo của Đảng để thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa, cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật để quản lý đất nước, quản lý xã hội. Song, khi Hiến pháp và pháp luật đã được xây dựng và ban hành, thì mọi tổ chức, mọi công dân đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, không có ngoại lệ. Và đương nhiên là, Đảng là một tổ chức tồn tại và hoạt động trên đất nước ta, mặc dù Đảng là người lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, Đảng cũng phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" được Đảng ta khẳng định là một nguyên tắc hoạt động của Đảng, Đảng buộc mọi tổ chức đảng và đảng viên phải thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc này. Đây là tư duy mới của Đảng về công tác xây dựng Đảng trong điều kiện hiện nay, phù hợp với đòi hỏi của thực tiễn nước ta và với vấn đề phổ biến, có tính quy luật nêu trên của thế giới đương đại.
Thứ hai, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật xuất phát từ yêu cầu phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay.
Lịch sử cách mạng Việt Nam 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng đã khẳng định: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng. Trong cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, Đảng là trung tâm tập hợp, phát huy trí tuệ, vật lực của toàn dân tộc thành sức mạnh to lớn đánh đuổi kẻ thù xâm lược, lật đổ chế độ áp bức, bóc lột giành thắng lợi to lớn, nhân dân lao động trở thành người làm chủ đất nước, Đảng trở thành Đảng cầm quyền. Trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân vượt qua biết bao khó khăn, thách thức quyết liệt, chưa từng có, giành những thành tựu có ý nghĩa lịch sử. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng. Đó là nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, thắng lợi của công cuộc đổi mới và bảo vệ vững chắc Tổ quốc.
Trở thành đảng cầm quyền, Đảng chịu trách nhiệm cao nhất đối với cuộc sống vật chất và tinh thần của toàn dân, đối với vận mệnh của đất nước, của dân tộc. Đảng lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội; lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó lãnh đạo Nhà nước là nhiệm vụ quan trọng nhất. Đảng có hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, trong đó Nhà nước là công cụ sắc bén của Đảng và nhân dân. Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng Hiến pháp và pháp luật thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân, thực hiện mục tiêu, lý tưởng của Đảng; Nhà nước thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp và pháp luật để thực hiện trong toàn xã hội. Thông qua Nhà nước, Đảng lãnh đạo toàn xã hội. Với tư cách là người lãnh đạo, Đảng lãnh đạo Nhà nước, đảm bảo cho Nhà nước được xây dựng vững mạnh; hoạt động theo đúng đường lối, quan điểm chính trị của Đảng; đảm bảo cho Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng được thực hiện thắng lợi. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định nền kinh tế thị trường mà chúng ta đang xây dựng đi theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Để nền kinh tế ấy đi theo đúng định hướng chính trị của Đảng, không thể không tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước. Chỉ thực hiện tốt điều này vai trò lãnh đạo của Đảng mới được đề cao và phát huy trong điều kiện hiện nay.
Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong tổ chức thực hiện Cương lĩnh chính trị, chủ trương, đường lối của Đảng, quản lý nhà nước mọi hoạt động của các tổ chức, mọi công dân và mọi hoạt động trong xã hội. Với tư cách là người quản lý mọi hoạt động của xã hội, Nhà nước có quyền tối cao, mọi tổ chức trong xã hội, trong đó có Đảng đều phải chịu sự quản lý của Nhà nước, mọi hoạt động của Đảng đều không được vượt quá quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đảng đề ra và thực hiện tốt nguyên tắc "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" là nhân tố rất quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý đối với tất cả hoạt động trong xã hội, vai trò của Nhà nước được phát huy và nâng cao.
Như vậy, thực hiện tốt nguyên tắc "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" thì cả vai trò lãnh đạo của Đảng, cả vai trò quản lý của Nhà nước được phát huy và nâng cao.
Thứ ba, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Văn kiện Đại hội X của Đảng chỉ rõ: "Phải xây dựng hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo của Đảng ở các ngành, các cấp. Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị". Không phải ngẫu nhiên, tại Đại hội X của Đảng, Đảng ta nhấn mạnh lại Điều 4 của Hiến pháp 1992, Đảng "là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Việc làm đó xuất phát từ đòi hỏi của bước phát triển mới của công cuộc đổi mới trên đất nước ta; từ thực tiễn hoạt động lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng và hoạt động của Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới; từ bước phát triển trình độ dân trí và nhu cầu của việc tăng cường dân chủ hóa đời sống xã hội. Đồng thời, việc nhấn mạnh đó còn nhằm chấn chỉnh những sai lầm của không ít tổ chức đảng, cấp ủy, cán bộ đảng viên trong hoạt động của mình. Do không nắm chắc những quy định của Đảng và Hiến pháp, pháp luật đã xem nhẹ vai trò của Nhà nước và chính quyền các cấp; lấn sân, bao biện, làm thay, can thiệp quá sâu vào nhà nước và chính quyền các cấp, vượt quá quy định của Hiến pháp và pháp luật; ở một số ít cán bộ, đảng viên coi thường pháp luật, đứng ngoài và đứng trên pháp luật... gây nên những hậu quả không nhỏ. Những tổ chức và cán bộ, đảng viên này đã vi phạm không chỉ Hiến pháp, pháp luật, mà còn vi phạm Điều lệ Đảng và Cương lĩnh chính trị của Đảng.
Đặc trưng cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền là pháp luật là tối cao, mọi công dân và tổ chức trong xã hội phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật. Mọi hoạt động của các tổ chức này và của mọi công dân đều không được vượt quá những quy định và không được trái với những quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đảng là một tổ chức chính trị hoạt động trong xã hội nên Đảng không thể là một tổ chức ngoại lệ đối với quy định nghiêm ngặt này.
Lịch sử phát triển của xã hội loài người, nhất là thực tiễn thế giới đương đại đã khẳng định rằng, để một quốc gia, dân tộc phát triển phải xây dựng nhà nước pháp quyền. Song, xây dựng nhà nước pháp quyền theo lập trường, quan điểm của giai cấp nào, vì lợi ích của ai phụ thuộc có tính quyết định vào bản chất của giai cấp cầm quyền trong xã hội với chính đảng cầm quyền của giai cấp ấy. Trong lịch sử, giai cấp tư sản với chính đảng của họ đã cầm quyền ở các nước hàng trăm năm, đã xây dựng nhà nước pháp quyền tư sản. Đảng Cộng sản cầm quyền ở các nước xã hội chủ nghĩa đã và đang thực hiện mạnh mẽ chủ trương, đường lối xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đang lãnh đạo thực hiện mạnh mẽ chủ trương, đường lối này, nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Đó là Nhà nước khác hẳn về chất với nhà nước pháp quyền tư sản, đó là Nhà nước của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng, thực hiện Cương lĩnh, đường lối của Đảng, tiến đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Mặc dù đang được xây dựng, song nhà nước pháp quyền ở nước ta cũng phải từng bước thể hiện rõ đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền, tức là pháp luật là tối cao, mọi công dân và tổ chức trong xã hội, kể cả Đảng phải tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Để lãnh đạo xây dựng thành công nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta thì trước hết, Đảng, các tổ chức đảng, các cấp ủy, cán bộ, đảng viên phải gương mẫu, phải là người đi tiên phong trong mọi hoạt động để từng bước thực hiện được đặc trưng cơ bản nêu trên của Nhà nước ta. Tức là phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, để nêu gương, giáo dục, lãnh đạo các tổ chức trong xã hội và nhân dân sống, làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.
Thứ tư, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật xuất phát từ yêu cầu xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở.
Việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật vừa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của Đảng, vừa đặt ra những yêu cầu cao hơn đối với Đảng. Một mặt, bằng các quy định của pháp luật ở những văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, công nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; công nhận sự hoạt động hợp pháp của các tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên. Từ sự ghi nhận này, hoạt động của các tổ chức đảng được pháp luật bảo vệ, ngăn chặn các hành động chống phá Đảng như vu cáo, cản trở hoạt động đúng pháp luật xâm phạm thân thể đảng viên và tài sản của Đảng; tạo điều kiện cho Đảng tập trung trí tuệ hoạch định chủ trương, đường lối xây dựng, phát triển đất nước, xây dựng nội bộ Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, tổ chức, lãnh đạo xây dựng các đoàn thể chính trị - xã hội vững mạnh, hoạt động có hiệu quả, thực hiện thắng lợi chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Từ đó, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, trình độ trí tuệ, uy tín của Đảng trong xã hội, giúp Đảng giữ vững vị trí cầm quyền, đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Mặt khác, đảng cầm quyền, nhất là đảng duy nhất cầm quyền, việc Đảng khẳng định và thực hiện nguyên tắc "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" là nhân tố rất quan trọng để phòng ngừa, ngăn chặn và loại trừ những ý nghĩ không đúng, cho rằng, Đảng là người lãnh đạo không bị giới hạn bởi pháp luật và tình trạng lộng quyền và lạm quyền, đứng trên, đứng ngoài pháp luật của một số cấp ủy tổ chức đảng và đảng viên. Ngăn chặn và loại trừ được tình trạng này, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và sức mạnh, hiệu lực của Hiến pháp, pháp luật được nâng lên.
Thứ năm, kinh nghiệm lãnh đạo của Đảng ta trong điều kiện có chính quyền và thực tiễn lãnh đạo của một số Đảng Cộng sản cầm quyền trên thế giới, khẳng định trong quá trình cầm quyền, Đảng Cộng sản phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Thực tiễn lãnh đạo của Đảng ta từ khi trở thành Đảng cầm quyền đến nay đã chỉ ra rằng, trong thời kỳ nào hoạt động lãnh đạo của Đảng, của các cấp ủy được thực hiện trên cơ sở tôn trọng Hiến pháp và pháp luật; cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật thì Đảng hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; Đảng trưởng thành, uy tín của Đảng trong nhân dân, vai trò lãnh đạo của Đảng được nâng lên và được khẳng định.
Chẳng hạn, sau Cách mạng Tháng Tám, Đảng tập trung lãnh dạo xây dựng Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, xây dựng Hiến pháp và pháp luật, các cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi cán bộ, đảng viên là một tấm gương mẫu mực trước nhân dân về chấp hành Hiến pháp và pháp luật, đây là nhân tố có vai trò và sức mạnh to lớn tập hợp, động viên toàn dân bảo vệ thành quả cách mạng trong điều kiện muôn vàn khó khăn.
Trong 25 năm đổi mới vừa qua, cùng với việc đề ra đường lối đổi mới đúng đắn, sáng tạo, Đảng đã đề ra chủ trương, đường lối xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân vì dân và tăng cường lãnh đạo tổ chức thực hiện đạt kết quả quan trọng. Đảng yêu cầu và buộc mọi cấp ủy, tổ chức đảng, mỗi đảng viên tôn trọng và gương mẫu chấp hành pháp luật, hoạt động không vượt quá những quy định của Hiến pháp, pháp luật; khen thưởng kịp thời những tổ chức đáng, cán bộ, đảng viên thực hiện tốt điều này; xử lý nghiêm minh những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm pháp luật, đồng thời cũng xử lý về kỷ luật đảng. Nhờ đó, Đảng ngày càng lớn mạnh, uy tín, vai trò lãnh đạo được nâng lên, xứng đáng là người lãnh đạo, là chỗ dựa, niềm tin của nhân dân, lôi cuốn toàn dân thực hiện đường lối đổi mới, đạt thành tựu có ý nghĩa lịch sử.
Ngược lại thời kỳ nào, địa phương nào, dù chỉ có một số rất ít tổ chức đảng, đảng viên có những hoạt động có biểu hiện xem nhẹ pháp luật, đứng ngoài, đứng trên pháp luật, xem thường chính quyền, thì mâu thuẫn giữa người đứng đầu cấp ủy với người đứng đầu chính quyền ở những nơi đó xuất hiện và phát triển, làm giảm sức mạnh và uy tín của cả tổ chức đảng và cả chính quyền, hiệu quả lãnh đạo của tổ chức đảng ở địa phương đó thấp, thậm chí tổ chức đảng không hoàn thành nhiệm vụ.
Hoạt động của các Đảng Cộng sản cầm quyền trên thế giới cũng cung cấp cho ta những kinh nghiệm quý báu về vấn đề này. Nhìn lại sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và sự tan rã, mất chính quyền của Đảng Cộng sản Liên Xô trong thế kỷ trước, thấy rằng, sự kiện đau buồn, tổn thất rất to lớn ấy, do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan. Trong đó, nguyên nhân chủ quan là chủ yếu, mà trọng tâm là những sai lầm nghiêm trọng trong công tác xây dựng Đảng và sự lãnh đạo của Đảng. Một nguyên nhân rất chủ yếu phải kể đến là, suốt thời gian dài Đảng Cộng sản Liên Xô bao trùm lên Nhà nước Xôviết và vô hiệu hóa quyền lực Nhà nước và bộ máy nhà nước đó. Đảng thâu tóm mọi quyền hành, coi mình là tối thượng, đứng trên Nhà nước, Hiến pháp và pháp luật, các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động vượt quá những quy định của Hiến pháp và pháp luật. Bộ máy của Đảng từ Trung ương đến địa phương về thực chất là công cụ và phương tiện của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, thậm chí của người lãnh đạo cao nhất trong Đảng, Hiến pháp và pháp luật chỉ là hình thức. Đảng quan liêu, xa dân, không còn hấp dẫn đối với dân. Vì vậy, khi Goócbachốp, Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ - nguyên tắc cốt tử chỉ đạo xây dựng tổ chức, sinh hoạt và hoạt động của Đảng Cộng sản - tuyên bố giải tán Đảng, Đảng gặp nguy nan, thì hầu như trên khắp Liên bang Xôviết không có một tổ chức đảng, một tổ chức quần chúng nào đứng lên bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Và sự đổ vỡ đau đớn đã xảy ra đối với một đảng có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường đã làm nên những chiến công tầm cỡ thế giới và thời đại.
Suy nghĩ một cách nghiêm túc về Cách mạng Văn hóa vô sản diễn ra ở Trung Quốc cách đây nhiều năm, có thể nói rằng, khi trong Đảng hình thành các phe nhóm mâu thuẫn gay gắt, các phe nhóm ấy bất chấp Hiến pháp và pháp luật, đứng trên pháp luật, núp dưới những lời lẽ giả dối, mị dân, tiến hành các hoạt động vì mục đích, lợi ích không trong sáng sẽ gây nên những hậu quả rất to lớn khó lường cả cho Đảng, cho Nhà nước và xã hội. Những người cộng sản chân chính Trung Quốc đã nhìn nhận sâu sắc sự kiện này, và đã có những chủ trương, giải pháp chấn chỉnh để Đảng và đất nước phát triển.
Năm 1982, "Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa" quy định rõ: "Mọi cơ quan Nhà nước và lực lượng vũ trang, các chính đảng và đoàn thể xã hội, các tổ chức doanh nghiệp sự nghiệp, đều cần phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào đều không được có đặc quyền vượt lên trên Hiến pháp và pháp luật". Đại hội XII Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1982) lần đầu tiên ghi vào Điều lệ Đảng nguyên tắc: "Đảng cần phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Đại hội XVI (năm 2002) và các đại hội tiếp theo, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đưa ra và kiên trì thực hiện tư tưởng "cầm quyền khoa học, cầm quyền dân chủ, cầm quyền theo pháp luật". Đảng chuyển mạnh từ lãnh đạo chủ yếu dựa vào chính sách sang dựa vào pháp chế, đồng thời chuyển từ lãnh đạo dựa vào quyền lực sang lãnh đạo dựa vào sự cảm hóa, dựa vào uy tín của Đảng. Lãnh đạo dựa vào pháp chế, theo lời Tổng Bí thư Hồ Cẩm Đào, đó là "kiên trì phương châm quản lý đất nước bằng pháp luật, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lãnh đạo công tác lập pháp, đi đầu trong việc tuân theo pháp luật, bảo đảm chấp hành pháp luật, không ngừng thúc đẩy tiến trình pháp chế hóa, quy phạm hóa đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước, dùng quan niệm pháp quyền, thể chế pháp quyền, trình tự pháp quyền bảo đảm Đảng lãnh đạo nhân dân tham gia quản lý Nhà nước một cách có hiệu quả. Tổ chức đảng các cấp đều phải hoạt động trong phạm vi Hiến pháp và pháp luật, mọi đảng viên đều phải gương mẫu tuân theo Hiến pháp và pháp luật". Kiên trì thực hiện tư tưởng đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lãnh đạo nhân dân nước mình đạt được bước tiến khổng lồ và thành tựu chưa từng có.
3. Nội dung của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Nhà nước quản lý xã hội theo pháp luật và bằng pháp luật. Mọi vi phạm pháp luật phải được pháp luật xử lý nghiêm minh, kịp thời, mọi người bình đẳng trước pháp luật... là một trong những yêu cầu về xây dựng nhà nước pháp quyền. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011) chỉ rõ: "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra, giám sát và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu"9.
"Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"10.
Điều lệ Đảng được thông qua tại Đại hội XI của Đảng (năm 2011) khẳng định: Đảng là một tổ chức chặt chẽ, thống nhất ý chí và hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, thương yêu đồng chí, kỷ luật nghiêm minh, đồng thời thực hiện các nguyên tắc: tự phê bình và phê bình, đoàn kết trên cơ sở Cương lĩnh chính trị và Điều lệ Đảng, gắn bó mật thiết với nhân dân, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật"11.
Để đưa những chủ trương, đường lối của Đảng vào cuộc sống, thành hành động của mọi công dân, Nhà nước phải pháp luật hóa chủ trương, đường lối ấy. Là công dân của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì công dân phải có trách nhiệm và nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật, vi phạm Hiến pháp và pháp luật sẽ bị xứ lý theo pháp luật. Chủ trương, đường lối của Đảng được thể chế hóa thành pháp luật thì buộc mọi công dân phải thực hiện. Bởi vì, về nguyên tắc nếu công dân không là đảng viên thì Đảng không thể buộc công dân thực hiện chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng; chỉ khi chủ trương, đường lối của Đảng được luật hóa thì công dân mới có trách nhiệm thực hiện. Trách nhiệm ấy được thể hiện trong hoạt động hàng ngày của mỗi công dân, các hoạt động của họ chính là hoạt động thực hiện Hiến pháp, pháp luật, và suy cho đến cùng là thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng.
Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, nhất là trong thời kỳ đổi mới, có thể khái quát nội dung chủ yếu của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật gồm những điểm sau đây:
Một là, cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng.
Hiện nay Điều 4 Hiến pháp 1992 đã quy định điều này, tuy nhiên quy định đó mới chỉ dừng lại ở những quy định chung. Trên thực tế, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của nhiều tổ chức chính trị - xã hội đã được quy định thành luật như Luật Công đoàn, Luật Đoàn Thanh niên, Luật Mặt trận Tổ quốc. Là đảng cầm quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện việc luật hóa vai trò lãnh đạo của Đảng. Điều lệ Đảng hiện hành đã quy định cơ quan lãnh đạo cao nhất của Đảng là Đại hội đại biểu toàn quốc; quy định chức năng, nhiệm vụ của Ban Chấp hành Trung ương, của cấp ủy tỉnh, thành phố và tương đương trực thuộc Trung ương, của cấp ủy huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh và tương đương, và của cấp ủy cơ sở. Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều quy định về chức năng, nhiệm vụ của nhiều loại hình tổ chức cơ sở đảng, như: Quy định số 94-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở ở phường thị trấn; Quy định số 95-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở ở xã; Quy định số 96, số 97, số 98, số 99-QĐ/TW về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, ở cơ quan, trong các doanh nghiệp có vốn nhà nước liên doanh với nước ngoài... Những quy định nêu trên là cần thiết nhưng chưa đủ, cần cụ thể hóa chi tiết hơn điều 4 Hiến pháp về vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng để thuận lợi cho việc thực hiện.
Hai là, nội dung và phương thức hoạt động của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật.
Đảng lãnh đạo xây dựng Hiến pháp, pháp luật nhưng sau khi Hiến pháp và pháp luật được ban hành, nội dung và phương thức hoạt động của Đảng phải phù hợp với những quy định của Hiến pháp, pháp luật, nội dung các chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật. Các tổ chức đảng không ra nghị quyết, chủ trương trái Hiến pháp, pháp luật; không được nhân danh tổ chức đảng gây áp lực tùy tiện ảnh hưởng đến việc thực hiện đúng đắn Hiến pháp, pháp luật.
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, Đảng không làm thay công việc của Nhà nước. Đảng lãnh đạo bằng cách đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, bằng tổ chức, vận động, thuyết phục nhân dân thực hiện... Đảng giới thiệu những cán bộ tiêu biểu với Nhà nước và các tổ chức chính trị - xã hội, để được bầu giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt các tổ chức đó và không áp đặt cán bộ cho các tổ chức đó.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa quản lý đất nước bằng pháp luật, pháp luật là tối thượng, không quản lý bằng chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Đảng không ra chỉ thị cho Nhà nước trong quá trình Nhà nước thực thi chức năng, nhiệm vụ của mình. Pháp luật chính là chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng đã được luật hóa. Thực hiện pháp luật chính là thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, cũng chính là chấp hành nghiêm chỉnh sự lãnh đạo của Đảng. Có thể nói, tổ chức đảng vi phạm chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng cũng là vi phạm pháp luật. Và đương nhiên là, tổ chức đảng vi phạm pháp luật cũng là vi phạm kỷ luật đảng, khi xử lý theo pháp luật những vi phạm của tổ chức đảng đến mức phải xử lý, đồng thời phải xử lý kỷ luật đáng.
Đó là những nội dung rất quan trọng trong phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước là lãnh đạo chính trị; chủ trương, đường lối của Đảng là định hướng chính trị cho mọi hoạt động của Nhà nước, Đảng và các cấp ủy đảng không ra các chỉ thị, mệnh lệnh cho Nhà nước; cán bộ và đảng viên của Đảng phải vận động thuyết phục nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, vừa chấp hành nghiêm chỉnh nguyên tắc của Đảng, vừa chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tuyệt đối không chủ quan áp đặt.
Ba là, hoạt động nội bộ của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật.
Việc xây dựng hệ thống tổ chức của Đảng và hoạt động của Đảng, của các tổ chức đảng phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, vừa đáp ứng tốt yêu cầu lãnh đạo của Đảng, vừa đáp ứng yêu cầu thực thi Hiến pháp, pháp luật. Về thực chất, những quy định của Hiến pháp và pháp luật về xây dựng các tổ chức trong xã hội, trong đó có các tổ chức đảng và hoạt động nội bộ của các tổ chức ấy, là sự thể chế hóa chủ trương, đường lối xây dựng các tổ chức đảng về mặt tổ chức và về xây dựng, hoạt động nội bộ của các tổ chức đảng, các tổ chức trong hệ thống chính trị và các tổ chức khác trong xã hội. Vì thế, mọi hoạt động nội bộ của Đảng và các tổ chức đảng theo đúng những điểm do Hiến pháp và pháp luật quy định, cũng là chấp hành những quy định của Đảng.
Đảng thực hiện vai trò, chức năng lãnh đạo chính trị, không làm thay Nhà nước, đứng trên, đứng ngoài pháp luật. Tổ chức đảng quyết định các vấn đề thuộc phạm vi quyền hạn của mình, song không được ra nghị quyết, chỉ thị trái với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước. Đảng nghiêm cấm và xử lý nghiêm các tổ chức đảng ra nghị quyết, chủ trương trái pháp luật, gây áp lực đến việc chấp hành và thực hiện đúng đắn pháp luật và chính sách nhà nước của cán bộ là đảng viên hoạt động trong cơ quan nhà nước. Cấp ủy, đảng viên không được viện dẫn việc "chấp hành nghị quyết" để biện hộ hoặc giảm nhẹ những việc làm trái pháp luật.
Bốn là, cán bộ, đảng viên của Đảng tôn trọng và gương mẫu thực hiện Hiến pháp và pháp luật.
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, đòi hỏi cán bộ, đảng viên của Đảng phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật, không được đặt mình đứng trên, đứng ngoài pháp luật, cố tình vi phạm pháp luật. Cán bộ, đảng viên phải tôn trọng và gương mẫu thực hiện Hiến pháp, pháp luật và chấp hành mọi quyết định của Nhà nước. Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 19-QĐ/TW, ngày 3-1-2002 về những điều đảng viên không dược làm. Qua quá trình thực hiện, Quy định này đã được sửa chữa, bổ sung ngày càng hợp lý hơn, nhất là gần đây Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 115-QĐ/TW, ngày 7-12-2007 về những điều đảng viên không được làm, với những quy định mới được bổ sung thay cho Quyết định trước đây. Qua thực hiện Quy định này đã có tác dụng nhiều hơn, góp phần quan trọng vào việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đòi hỏi đảng viên vi phạm Hiến pháp và pháp luật phải được xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai theo pháp luật như mọi công dân khác Đồng thời, phải thi hành kỷ luật đảng đối với những đảng viên vi phạm pháp luật theo tính chất và mức độ vi phạm. Khi đảng viên vi phạm kỷ luật đảng, bị xử lý kỷ luật đảng, chính quyền cũng phải xử lý hoặc kỷ luật của cơ quan, đơn vị nơi đảng viên đang công tác, làm việc. Nếu đảng viên vi phạm đến mức phải thi hành theo pháp luật, thì cơ quan có thẩm quyền tiến hành các thủ tục xử lý theo pháp luật. Không được lấy kỷ luật đảng thay cho kỷ luật của chính quyền, cơ quan, đơn vị nơi đảng viên đang công tác, làm việc, hoặc thay cho việc xử lý theo pháp luật.
Ngoài sự gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của đảng viên, thực hiện có hiệu quả nguyên tắc này còn đòi hỏi cấp ủy, tổ chức đảng tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động của đảng viên; mỗi đảng viên phải tự giác đặt mình dưới sự giám sát của nhân dân...
4. Vị trí, vai trò của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật
Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật có vị trí, vai trò rất quan trọng và to lớn đối với Đảng, Nhà nước, các tổ chức trong hệ thống chính trị, và đối với việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của các địa phương.
Đối với Đảng: Đây là một nguyên tắc rất quan trọng, quy định và chỉ đạo mọi hoạt động của Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền, nhất là trong điều kiện hiện nay. Cùng với nguyên tắc "chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng" và các nguyên tắc khác như: tập trung dân chủ; tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tự phê bình và phê bình, đoàn kết thống nhất trong Đảng; Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tạo thành một hệ thống các nguyên tắc hoàn chỉnh đảm bảo xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, hoàn thành sứ mệnh lịch sử được nhân dân giao cho. Đặc biệt, nguyên tắc này cùng với nguyên tắc "chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hoạt động của Đảng" đảm bảo cho mọi hoạt động của Đảng, của các cấp ủy, tổ chức đảng và mọi đảng viên theo đúng các quan điểm, nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính trị, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.
Thực hiện tốt nguyên tắc này là nhân tố rất quan trọng góp phần nâng cao vai trò lãnh đạo, vị thế cầm quyền và uy tín chính trị của Đảng trong nhân dân, tăng cường và nâng cao trách nhiệm chính trị của Đảng đối với đất nước và dân tộc. Qua đó, nhân dân càng tin tưởng và thấy rõ Đảng là tổ chức nghiêm túc, mẫu mực trong chấp hành Hiến pháp và pháp luật, nhân dân sẽ hăng hái đi theo Đảng trong chấp hành Hiến pháp, pháp luật, thực hiện sống, chiến đấu, lao động và học tập theo Hiến pháp và pháp luật. Nhân dân càng tôn trọng và suy tôn Đảng là người lãnh đạo duy nhất của mình. Thực hiện tốt nguyên tắc này là biện pháp quan trọng ngăn chặn và loại trừ các biểu hiện lộng quyền, lạm quyền coi thường pháp luật, đứng ngoài và đứng trên pháp luật của một bộ phận cán bộ, đảng viên. Đây là những tệ nạn làm suy yếu, tan rã đảng cầm quyền.
Đối với Nhà nước và chính quyền các cấp: Nguyên tắc này có vị trí và vai trò to lớn đối với việc xây dựng Nhà nước và chính quyền các cấp vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, nhất là khi Đảng đang lãnh đạo toàn dân thực hiện chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Để lãnh đạo nhân dân thực hiện chủ trương này đạt kết quả, trước hết Đảng, các tổ chức đảng và mỗi đảng viên phải gương mẫu, đi đầu trong chấp hành Hiến pháp và pháp luật thì tiếng nói, sự giáo dục, thuyết phục nhân dân của Đảng mới có sức mạnh, mới có tác dụng. Ngoài sự tự giác chấp hành Hiến pháp và pháp luật của các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên, Đảng còn phải có những quy định bắt buộc họ phải tôn trọng Hiến pháp và pháp luật, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Các quy định của Đảng về vấn đề này tuy có sức mạnh rất lớn, nhưng không thể bằng việc Đảng kết luận hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc hoạt động của Đảng và được ghi trong Điều lệ Đảng.
Nguyên tắc này sẽ tạo thuận lợi cho Nhà nước tự xây dựng, hoàn thiện bản thân mình theo hướng xây dựng nhà nước pháp quyền theo quan điểm, đường lối của Đảng. Hoạt động của Nhà nước sẽ ít và dần dần không còn bị chi phối, ràng buộc một cách máy móc vào những quy định không cần thiết của Đảng; hoạt động của chính quyền các cấp dần dần không bị các chi phối vô hình của cấp ủy địa phương. Nhà nước và chính quyền các cấp sẽ phát huy cao độ vai trò, vị trí của mình trong xây dựng tổ chức, bộ máy và thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý mọi hoạt động xã hội theo Hiến pháp và pháp luật. Từ đó, việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân sẽ từng bước đạt kết quả mong muốn.
Đối với các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị: Nguyên tắc này có tác dụng to lớn phát huy tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị, hạn chế và loại trừ các biểu hiện dựa dẫm ỷ lại vào cấp ủy, tổ chức đảng. Trong việc đề ra các quyết định, chủ trương của cấp ủy về lãnh đạo xây dựng và hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội cũng phải tuân theo các quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật, các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị có căn cứ pháp lý để thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động chấp hành Hiến pháp, pháp luật của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Qua đó, góp phần quan trọng nâng cao năng lực lãnh đạo, vai trò và uy tín của Đảng, vai trò, trách nhiệm của các tổ chức này cũng được nâng lên.
Đối với việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nhiệm vụ chính trị của các địa phương: Đảng cầm quyền, Đảng có Nhà nước, một công cụ mạnh mẽ và sắc bén nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, Đảng sử dụng công cụ đó để lãnh đạo tổ chức toàn dân, huy động mọi nguồn lực xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Để lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc giành thắng lợi, Đảng phải xây dựng Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng; chỉ đạo Nhà nước thể chế hóa và tổ chức thực hiện... Để Nhà nước thực sự là công cụ mạnh mẽ, sắc bén trong thực hiện Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, phải xây dựng Nhà nước vững mạnh, và Đảng phải tôn trọng Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước phát huy mạnh mẽ sức mạnh và sự sáng tạo trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước. Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật vừa đề cao vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng, vừa phát huy mạnh mẽ vai trò của Nhà nước, tạo nên sự đồng thuận giữa Đảng và Nhà nước, tạo nên sức mạnh to lớn thực hiện thắng lợi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đối với các địa phương nguyên tắc này có vị trí, vai trò rất quan trọng đối với việc tăng cường sự lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, đề cao sự tôn trọng chính quyền địa phương của cấp ủy, phát huy vai trò, sự chủ động, sáng tạo của chính quyền địa phương trong công việc. Điều đó sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương.
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng nên trách nhiệm thực hiện nguyên tắc này là của toàn Đảng, của các cấp ủy, tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, trước hết là các cấp ủy đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp. Vi phạm nguyên tắc này tức là vi phạm nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, vi phạm Điều lệ Đảng.
II. THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM - QUAN NIỆM, NỘI DUNG
Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, nhất là trong những năm gần đây, khi chủ trương của Đảng về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được triển khai thực hiện mạnh mẽ, đạt được kết quả quan trọng, vấn đề Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật được luận bàn nhiều và được Đảng quan tâm hơn. Tại Đại hội X, Đại hội XI của Đảng, Đảng ta khẳng định, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc xây dựng Đảng, một nguyên tắc hoạt động của Đảng ta trong điều kiện hiện nay. Đây là sự bổ sung, phát triển có giá trị lý luận về xây dựng Đảng của Đảng ta. Để sự phát triển ấy có tác dụng to lớn đối với công tác xây dựng Đảng và hoạt động lãnh đạo xã hội của Đảng, cần làm sáng rõ những vấn đề chủ yếu về thực hiện nguyên tắc này, bao gồm: quan niệm về thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; nội dung của việc thực hiện nguyên tắc; những vấn đề đặt ra cần giải quyết để thực hiện nguyên tắc đạt kết quả tốt.
1. Quan niệm về thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam
Khái niệm "thực hiện", theo nghĩa chung nhất là bằng các hoạt động cụ thể làm cho cái gì đó trong lý thuyết, lời nói, thành cái có thật. Còn khái niệm "trong khuôn khổ", được hiểu là không vượt qua những giới hạn, quy định. Ở nước ta hiện nay, Đảng đang lãnh đạo nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế. Chủ trương, đường lối ấy được Hiến pháp và pháp luật nước ta thể chế hóa, đó là công cụ mạnh mẽ, sắc bén để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý toàn bộ hoạt động của xã hội, nhằm vừa phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phát huy chức năng quản lý của Nhà nước, thúc đẩy kinh tế thị trường phát triển theo hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Có thể quan niệm: thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là tổng thể hoạt động của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên tác động vào các tổ chức, cá nhân, các lĩnh vực đời sống xã hội theo các nội dung của nguyên tắc, không trái ngược và vượt qua những quy định của Hiến pháp và pháp luật, làm cho những nội dung ấy thành hiện thực, nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý của Nhà nước để kinh tế thị trường ở nước ta phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Chủ thể thực hiện nguyên tắc là các tổ chức đảng từ Trung ương đến cơ sở, đội ngũ cán bộ, đảng viên, trong đó quan trọng nhất là các cấp ủy, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các ngành, các cấp.
Phạm vi thực hiện nguyên tắc rất rộng lớn, bao gồm tất cả hoạt động của Đảng, của cán bộ đảng viên, từ hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, đến hoạt động lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội và lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội, và cả những hoạt động hàng ngày của cán bộ, đảng viên với tư cách là một công dân.
Lực lượng phối hợp thực hiện nguyên tắc, gồm chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội ở các cấp và toàn thể nhân dân.
Mục đích thực hiện nguyên tắc, trước hết là ngăn chặn và loại trừ những biểu hiện lộng quyền, chuyên quyền, coi thường pháp luật, đứng ngoài và đứng trên pháp luật của một số cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng; phát huy và đề cao sự gương mẫu chấp hành pháp luật của cán bộ, đảng viên; phát huy vai trò lãnh đạo và uy tín chính trị của Đảng đối với toàn xã hội; đề cao vai trò quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp; thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ của công cuộc đổi mới, đưa nước ta đến mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.
2. Nội dung chủ yếu của việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật ở Việt Nam
Những nội dung chủ yếu của việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật gồm:
Một là, tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất nhận thức về nguyên tắc, đề cao trách nhiệm thực hiện nguyên tắc của các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên.
Tiến hành công việc này, tập trung vào những điểm chủ yếu như: quán triệt, tạo sự thống nhất nhận thức về cơ sở lý luận, thực tiễn của nguyên tắc; các nội dung của nguyên tắc; vai trò, tác dụng và sự cần thiết thực hiện nguyên tắc; trách nhiệm thực hiện nguyên tắc của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên ...
Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu, bởi vì để thực hiện nguyên tắc đạt kết quả, trước hết phải có nhận thức đúng đắn, thống nhất về những vấn đề chủ yếu của nguyên tắc này. Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là vấn đề mới, được Đảng ta kết luận và chính thức bổ sung vào Văn kiện từ Đại hội X, đó là một nguyên tắc xây dựng Đảng, một nguyên tắc hoạt động của Đảng. Là vấn đề mới nên trong Đảng và trong xã hội còn nhiều ý kiến khác nhau, điều này sẽ ảnh hưởng nhất định đến chất lượng, hiệu quả thực hiện nguyên tắc. Bởi vậy phải tập trung cao độ tuyên truyền, giáo dục tạo nhận thức thống nhất và đề cao trách nhiệm thực hiện nguyên tắc này.
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã luận giải và chỉ ra rằng, Đảng Cộng sản ra đời, tồn tại, phát triển là để lãnh đạo giai cấp công nhân, nhân dân lao động lật đổ xã hội tư bản, bọn áp bức, bóc lột, xây dựng chủ nghĩa cộng sản trên toàn thế giới mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội. Như vậy, chức năng của Đảng Cộng sản là lãnh đạo cách mạng vô sản. Sự lãnh đạo của Đảng được thể hiện trong hai giai đoạn lớn: lãnh đạo đấu tranh giành chính quyền và lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt là trong giai đoạn thứ hai, giai đoạn Đảng lãnh đạo trong điều kiện có chính quyền, Đảng trở thành đảng cầm quyền, có Nhà nước và Hiến pháp, pháp luật. Vấn đề đặt ra cần giải quyết là Đảng phải lãnh đạo thế nào để hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang được nhân dân giao cho trong điều kiện đó.
C. Mác là người đầu tiên đưa ra các giải pháp chủ yếu giải quyết vấn đề này khi lần đầu tiên Đảng Cộng sản trở thành đảng cầm quyền, mặc dù trong thời gian ngắn (Công xã Pari). C.Mác đã đòi hỏi Đảng Cộng sản, đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền phải hoạt động theo đúng những điều quy định của Nhà nước do giai cấp vô sản lập ra, dưới sự lãnh đạo của Đảng. C.Mác chỉ rõ, những cán bộ, đảng viên của Đảng cộng sản cầm quyền phải là những công bộc của dân, do đầu phiếu phổ thông bầu ra, chịu sự giám sát của nhân dân, có thể bị bãi miễn bất kỳ lúc nào, có mức lương ngang mức lương công nhân... V. I. Lênin tiếp tục phát triển những chỉ dẫn của C. Mác, Ph. Ăngghen trong điều kiện Đảng Cộng sản (b) Nga trở thành Đảng cầm quyền lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội. Người đã phê phán kịch liệt, đấu tranh không khoan nhượng với tình trạng cán bộ, đảng viên lộng quyền, lạm quyền, đứng ngoài và đứng trên pháp luật. Đồng thời, V.I.Lênin luôn coi trọng tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với nhà nước và toàn xã hội; giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên trở thành những công bộc của dân, gương mẫu chấp hành pháp luật.
Ở nước ta, không phải đến Đại hội X Đảng ta mới quan tâm đến vấn đề này. Sau hai năm trở thành đảng cầm quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã quan tâm và đưa ra các giải pháp để Đảng, cán bộ, đảng viên tôn trọng và gương mẫu chấp hành Hiến pháp, pháp luật. Tư tưởng về nguyên tắc này tiếp tục được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát triển phong phú, sâu sắc trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng và giáo dục, rèn luyện Đảng ta. Dưới sự lãnh đạo của Người, vấn đề Đảng hoạt đọng trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật được Đảng ta bổ sung, phát triển, nâng lên tầm cao mới, thể hiện tập trung ở việc Đảng đề ra chủ trương và tổ chức thực hiện xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Chủ trương này được Đảng đặc biệt coi trọng thực hiện trong thời kỳ đổi mới. Đến Đại hội VIII, Đảng ta lại nhấn mạnh vấn đề này, và khẳng định đảng viên phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của mình trước pháp luật. Đặc biệt là tại Đại hội X, XI, Đảng khẳng định, "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật" là một nguyên tắc xây dựng Đảng ta, một nguyên tắc hoạt động của Đảng.
Về nội dung chủ yếu của nguyên tắc: Hoạt động của Đảng được thể hiện trên ba phương diện chính: Các hoạt động xây dựng bản thân Đảng để Đảng có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng; Đảng lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội; Đảng lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội.
Hoạt động xây dựng bản thân Đảng gồm xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức.
+ Xây dựng Đảng về chính trị, gồm: xây dựng Cương lĩnh chính trị, đường lối cách mạng, các chủ trương, nghị quyết của Đảng; tổ chức thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, nghị quyết ấy; rèn luyện nâng cao bản lĩnh chính trị của Đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao vai trò lãnh đạo và uy tín chính trị của Đảng trong xã hội.
+ Hoạt động xây dựng Đảng về tư tưởng bao gồm các hoạt động tiến hành công tác tư tưởng trong Đảng và trong nhân dân nhằm truyền bá, nâng cao sự hiểu biết về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân; tạo sự đoàn kết thống nhất trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân trong thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; giáo dục nâng cao đạo đức cách mạng, truyền thống anh hùng bất khuất của dân tộc, lịch sử vẻ vang của Đảng, các giá trị văn hóa dân tộc, tạo niềm tin, khơi dậy và phát huy lòng tự hào dân tộc, tính sáng tạo trong thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng; nghiên cứu, phát triển lý luận làm sáng tỏ nhưng vấn đề do thực tiễn đặt ra, ứng dụng lý luận vào hoạt động của Đảng để nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của Đảng.
+ Hoạt động xây dựng Đảng về tổ chức, gồm các hoạt động xây dựng hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng từ Trung ương đến cơ sở, gồm: xác định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức của Đảng ở các cấp, trên cơ sở đó sắp xếp, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng một cách khoa học, hoạt động có hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng như: tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, xây dựng sự đoàn kết thống nhất của Đảng, kiểm tra, giám sát, tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân, bảo vệ chính trị nội bộ.
Điều lệ Đảng đã quy định những hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, ngoài ra Đảng còn có những quy định, hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng. Những hoạt động xây dựng nội bộ Đảng, nhất là những quy định về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng, nhiệm vụ của đảng viên đều phải đặt trong quan hệ với những nội dung liên quan của Hiến pháp, Pháp luật, không vượt quá khuôn khổ của hiến pháp, pháp luật. Điều này được thể hiện ở những quy định về chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng và những quy định hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng. Để nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật được thực hiện có kết quả, các cơ quan tham mưu của Đảng và cấp có thẩm quyền ban hành những quy định đó cần nhận thức sâu sắc và quán triệt điều nêu trên trong các quy định chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng và hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng.
Nội dung của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật được thể hiện rõ nhất và tập trung nhất ở hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội và đối với các lĩnh vực đời sống xã hội. Đảng Cộng sản cầm quyền, Đảng đề ra cương lĩnh, đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Cương lĩnh, đường lối của Đảng được Đảng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật để thực hiện trong toàn xã hội. Tức là khi Cương lĩnh, đường lối của Đảng được thể chế hóa thành Hiến pháp, pháp luật thể mọi tổ chức, mọi công dân của đất nước phải chấp hàm nghiêm chỉnh, không loại trừ một tổ chức, một cá nhân nào. Từng tổ chức đảng là một tổ chức chính trị trong xã hội, chịu trách nhiệm lãnh đạo mọi hoạt động của xã hội theo chức trách, nhiệm vụ, phạm vi và địa bàn được Đảng quy định. Đảng viên của Đảng là một thành viên của xã hội, và để trở thành đảng viên của Đảng, trước hết phải trở thành công dân tốt, tức là phải là người gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Các tổ chức đảng có ở các tổ chức của xã hội, các tổ chức của hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở, đảng viên của Đảng có mặt và hoạt động trong các tổ chức ấy và trong các lĩnh vực đời sống xã hội. Bởi vậy, để thực hiện tốt nguyên tắc này các cấp ủy tổ chức đảng, đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp phải nhận thức sâu sắc và thể hiện trên thực tế trách nhiệm thực hiện nguyên tắc trong hoạt động hàng ngày.
Hai là, triển khai thực hiện các nội dung của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
Để triển khai thực hiện nguyên tắc đạt kết quả tốt, vấn đề quan trọng hàng đầu cần giải quyết có kết quả là thể chế hóa các hoạt động của Đảng. Đây là cơ sở pháp lý, là căn cứ và định hướng cho hoạt động của các tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên. Đồng thời, cũng là giới hạn, tiêu chí cụ thể để hoạt động của các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên không được vượt qua.
Hoạt động của Đảng, được trình bày ở trên, gồm ba loại hoạt động chủ yếu: hoạt động xây dựng nội bộ Đảng; hoạt động lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội; hoạt động lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội. Tất cả các hoạt động thuộc ba loại chủ yếu này đều phải được luật hóa một cách cụ thể, chi tiết. Tuy nhiên, chưa có thể tiến hành công việc này có kết quả tốt đối với tất cả hoạt động của Đảng. Bởi vì, đây là vấn đề mới, thực tiễn đang vận động, phát triển nên mọi vấn đề đặt ra không phải tất cả đã có câu trả lời thỏa đáng. Bởi vậy, trước mắt, cần tập trung luật hóa những hoạt động chủ yếu của Đảng như: thể chế hóa tính hợp pháp của Đảng cầm quyền; thể chế hóa một số vấn đề chủ yếu trong hoạt động xây dựng nội bộ Đáng và Đảng lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, các lĩnh vực đời sống xã hội. Trong hoạt động xây dựng nội bộ Đảng cần coi trọng thể chế hóa vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức đảng; thể chế hóa nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của đảng viên trong tương quan với nghĩa vụ, quyền lợi và trách nhiệm công dân; thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, quan hệ giữa đảng viên với nhân dân; thể chế hóa tiêu chuẩn, chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cán bộ trong mối quan hệ với công chức; sắp xếp kiện toàn hệ thống tổ chức bộ máy của Đảng đảm bảo cho Đảng thực hiện có kết quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Đối với hoạt động lãnh đạo của Đảng với các tổ chức trong hệ thống chính trị, các tổ chức kinh tế, xã hội và đối với các lĩnh vực đời sống xã hội cần tập trung vào đổi mới mạnh mẽ và thể chế hóa phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước. Trong đó, tập trung hơn vào đổi mới và thể chế hóa phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, phương thức lãnh đạo của cấp ủy các cấp đối với chính quyền cùng cấp.
Về tính hợp pháp của Đảng cầm quyền và vai trò lãnh đạo của Đảng:
Hiến pháp nước ta đã quy định Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất cầm quyền là hạt nhân lãnh đạo hệ thống chính trị và xã hội. Tuy nhiên, đây mới là quy định chung, cần được thể chế hóa một cách chi tiết, rõ ràng quy định này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Xây dựng quy chế, quy định và thể chế hóa việc các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phải chịu sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân đối với hoạt động của mình, các hoạt động đó phải chịu sự ràng buộc của Hiến pháp và pháp luật. Thể chế hóa và có chế tài xử phạt nghiêm minh, cao hơn công dân và các tổ chức khác trong xã hội đối với những đảng viên, tổ chức đảng coi thường pháp luật, đứng trên pháp luật và vi phạm pháp luật.
Ba là, xây dựng những nhân tố đảm bảo thực hiện có kết quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Nhân tố quan trọng hàng đầu để triển khai thực hiện nguyên tắc này đạt kết quả là Hiến pháp được xây dựng khoa học, có chất lượng tốt, và có hệ thống pháp luật đồng bộ, có chất lượng. Vì vậy cần tập trung chỉ đạo nâng cao chất lượng xây dựng các văn bản pháp luật, từng bước đồng bộ hóa hệ thống pháp luật, từng bộ luật, văn bản pháp luật không có những kẽ hở. Định kỳ xem xét, sửa đổi, bổ sung và xây dựng mới các văn bản pháp luật, để hệ thống pháp luật đồng bộ hơn, có chất lượng tốt hơn.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong việc cụ thể hóa, thể chế hóa Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng thành những quy định của pháp luật để thực hiện trong toàn xã hội.
Chuẩn bị tốt về tư tưởng chính trị, trình độ hiểu biết về pháp luật về trách nhiệm công dân cho các tổ chức đảng, đảng viên để triển khai mạnh mẽ việc thực hiện nguyên tắc này. Đồng thời, coi trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm của nhân dân trong việc giám sát các tổ chức đảng, đảng viên trong chấp hành pháp luật và trong thực hiện nguyên tắc.
Xây dựng và thực hiện quy chế phối hợp hoạt ông giữa các tổ chức đảng với chính quyền, các tổ chức trong hệ thống chính trị và các tổ chức có liên quan, phát huy vai trò của các tổ chức này trong việc tạo điều kiện thuận lợi để triển khai thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đạt kết quả. Xây dựng những quy định cụ thể nhằm ngăn chặn và xử lý nghiêm minh những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên để mặt trái của cơ chế thị trường chi phối dẫn đến những hoạt động trái pháp luật, vi phạm pháp luật, gây khó khăn, phức tạp cho việc thực hiện nguyên tắc này.
Bốn là, triển khai mạnh mẽ việc kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Triển khai thực hiện nguyên tắc này đồng bộ với việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác của Đảng. Thường xuyên sơ kết, tổng kết, uốn nắn những lệch lạc, phát hiện và cổ vũ, động viên những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thực hiện tốt nguyên tắc, xử lý kịp thời những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đúc rút những kinh nghiệm bổ ích.
Các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng là một tổng thể hoàn chỉnh, được thực tiễn kiểm nghiệm và khẳng định, đòi hỏi phải được thực hiện đồng bộ mới có thể tạo nên chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đảng. Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật chỉ có thể được thực hiện đạt kết quả tốt và phát huy tác dụng trong điều kiện hiện nay khi được triển khai thực hiện đồng bộ với các nguyên tắc khác. Đây là nguyên tắc mới, được Đảng ta chính thức khẳng định và bổ sung vào hệ thống các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, và được triển khai thực hiện mạnh mẽ trong thời gian gần đây. Bởi vậy, trong quá trình thực hiện khó tránh được những sai sót, nên cần tăng cường sự kiểm tra, giám sát của Đảng, kết hợp chặt chẽ với phát huy vai trò của Nhà nước, sự giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. Đồng thời, coi trọng sơ kết, tổng kết đúc rút kinh nghiệm.
-----
Chú thích
1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Ban chấp hành trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản, tháng 9-1960, t.2, tr.59.
2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam xuất bản, tháng 9-1960, t.t, tr.150.
3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, t.37, tr.954.
4) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. Sự thật, Hà Nội, t.1, tr.117.
5) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. Sự thật, Hà Nội, t.3, tr.74.
6,7) Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.21.
8) Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam (thông qua tại Đại hội X), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.5.
9) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.88-89.
10) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.89.
11) Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, tr.5.
Chương II THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
I. THỰC TRẠNG THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP VÀ PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM
1. Ưu điểm
a) Về công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật:
Cùng với những thành tựu trong lãnh đạo phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, lãnh đạo xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Đảng ta cũng nhận thức rõ hơn sự cần thiết phải khẳng định vai trò và địa vị pháp lý của Đảng cầm quyền trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, lần đầu tiên Điều lệ của Đảng khẳng định: Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một trong những nguyên tắc hoạt động cơ bản của Đảng. Thực hiện nghiêm túc nguyên tắc này là điều không dễ trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền trong nền chính trị nhất nguyên. Bởi lẽ, những thói quen và tập quán cũ của cán bộ, đảng viên của Đảng cầm quyền đã kinh qua nhiều thập kỷ chiến tranh cách mạng khốc liệt, sau đó lại hoạt động nhiều năm trong cơ chế cũ có sức mạnh ghê gớm.
Trong cơ chế thị trường ngày nay, những khuyết tật cũ do phương thức lãnh đạo của thời kỳ trước đổi mới tạo ra - thời kỳ mà sự phân định giữa vai trò của Đảng và vai trò của Nhà nước ít được quan tâm và thường là cấp ủy bao biện, lấn sân, ôm đồm, làm thay các công việc của Nhà nước - được nuôi dưỡng, khích lệ tồn tại bằng những lợi ích cá nhân, nhóm, phe cánh do mặt trái của thị trường tạo ra, đang gây những tác hại không nhỏ cho phát triển kinh tế, xã hội hiện nay. Từ bỏ "quyền lực tuyệt đối", hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật không phải là việc dễ dàng đối với các Đảng Cộng sản cầm quyền nói chung, Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng duy nhất cầm quyền nói riêng. Đảng ta đã đi qua một nhiệm kỳ đại hội với quyết tâm thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn và bước đầu thu được một số thành tựu đáng kể, trước hết là trong công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức cho toàn thể cán bộ, đảng viên của Đảng về nguyên tắc đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Có thể nói, nhờ những nỗ lực không mệt mỏi của công tác tuyên truyền giáo dục trong Đảng và trong xã hội về vị trí, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền và Nhà nước pháp quyền Việt Nam trong hệ thống chính trị theo định hướng xã hội chủ nghĩa, hầu hết cán bộ, đảng viên của Đảng đều nhận thấy có sự phân định rõ ràng giữa vai trò lãnh đạo chính trị của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước trong toàn bộ các hoạt động của Nhà nước và xã hội. Đây là tiền đề nhận thức quan trọng để hiểu rõ: Đảng, mặc dù là hạt nhân lãnh đạo chính trị của toàn bộ hệ thống chính trị, song Đảng không đứng trên, không đứng ngoài luật pháp mà là hạt nhân của hệ thống đó, đi đầu tuân theo Hiến pháp và pháp luật.
Trên thực tế, hầu hết cán bộ, đảng viên từ các tổ chức cơ sở đảng đến các tổ chức đáng cấp trên, đều nhận thức rõ và không tán thành phương thức làm việc bao biện, làm thay, lấn sân của tổ chức đảng đối với tổ chức chính quyền cùng cấp. Ai cũng tán thành chủ trương phải minh định rõ quyền và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước; quyền và trách nhiệm của Đảng Cộng sản cầm quyền. Thực chất của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là vấn đề địa vị pháp lý của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền và phương thức hoạt động của Đảng trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay. Vai trò và công lao của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc thật lớn lao và vĩ đại, song Đảng vẫn luôn chỉ là một bộ phận của giai cấp công nhân Việt Nam, không đứng ngoài, không đứng trên giai cấp và dân tộc. Đảng là đội tiền phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và dân tộc việt Nam, được nhân dân ủy quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội khi trở thành Đảng cầm quyền. Song quyền lực cao nhất vẫn luôn thuộc về nhân dân, thể hiện ở Hiến pháp và pháp luật, do đó Đảng tất phải phục tùng quyền lực đó.
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là sự thể hiện Đảng phục tùng quyền lực của nhân dân. Một chính đảng nào đó đứng trên Hiến pháp và pháp luật, chính đảng đó đã tiếm quyền mà nhân dân tin tưởng ủy quyền cho họ. Về vấn đề này, Đảng ta đã khẳng định rõ quan điểm trong báo cáo giải trình của Bộ Chính trị tiếp thu ý kiến của Trung ương đề án Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, ngày 13-7-2007, phục vụ Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, như sau: "Đảng ta là đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo đất nước chủ yếu thông qua Nhà nước... song không thể hợp nhất tất cả các chức danh lãnh đạo của Đảng và của Nhà nước, bộ máy tổ chức của Đảng và bộ máy tổ chức của Nhà nước... không thể đặt vấn đề Đảng "hóa thân" vào Nhà nước, làm lẫn lộn vai trò lãnh đạo của Đảng và vai trò quản lý của Nhà nước"1. Ở thời điểm lúc bấy giờ, trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã có ý kiến đề nghị xây dựng luật về Đảng, song ý kiến chung cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm, phức tạp nên chưa được đa số chấp thuận. Tuy nhiên, để khẳng định địa vị pháp lý vững chắc về sự lãnh đạo của Đảng dối với Nhà nước và xã hội nước ta, đến thời điểm này, Đảng cần cụ thể hóa Điều 4 Hiến pháp thành luật về Đảng như đề nghị của khá nhiều nhân sĩ, trí thức, cán bộ, đảng viên góp ý cho văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng. Điều này không mâu thuẫn mà hoàn toàn phù hợp với quan điểm: "Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".
b) Những kết quả cụ thể thực hiện các nội dung của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật
Mặc dù về mặt pháp lý, tuy Nhà nước ta chưa ban hành luật về Đảng, song địa vị pháp lý của Đảng đã được quy định chung ở Điều 4 Hiến pháp năm 1980: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo xã hội. Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp (Điều 4). Từ sau khi Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ bảy thông qua Hiến pháp đến nay, hệ thống chính trị ở nước ta đã có nhiều thay đổi quan trọng. Sự nghiệp đổi mới ở nước ta được bắt đầu từ năm 1986, trước hết là đổi mới trong tư duy lý luận về kinh tế đã tạo ra những bước chuyển căn bản để Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội trong những thập niên tám mươi, chín mươi của thế kỷ XX, đưa nước ta đạt được những thành tựu lịch sử như ngày nay. Cùng với những đổi mới trong lĩnh vực kinh tế - xã hội, chúng ta cũng từng bước đổi mới hệ thống chính trị. Trên bình diện chung, đổi mới chính trị quan trọng nhất là chúng ta chuyển từ tư duy lý luận về nhà nước chuyên chính vô sản sang lý luận về hệ thống chính trị. Đây không đơn giản là sự đổi tên gọi, mà là sự đổi mới lớn lao về lý luận chính trị. Trước năm 1986, Hiến pháp năm 1980 đã thể chế quan điểm của Đại hội lần thứ IV Đảng Cộng sản Việt Nam với ba trụ cột được nhắc tới như một đặc trưng nổi bật của nước ta khi đó là: Nhà nước chuyên chính vô sản, chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa và nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.
Việc chuyển từ lý luận chuyên chính vô sản sang lý luận về hệ thống chính trị thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ tư duy lý luận của Đảng ta. Trong lý luận về chuyên chính vô sản, V.I.Lênin cho rằng chuyên chính vô sản có hai chức năng cơ bản, chức năng trấn áp và tổ chức xây dựng, trong đó chức năng xây dựng là cơ bản. Khi bước vào thời kỳ xây dựng đất nước hòa bình, các giai cấp bóc lột đã bị thủ tiêu, kẻ thù của cách mạng đã bị đánh bại, chức năng thứ hai của chuyên chính vô sản nổi lên. Nhiệm vụ trung tâm của thời kỳ mới là xây dựng kinh tế, phát triển nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, hệ thống chuyên chính vô sản đã bộc lộ hạn chế lớn. Xu hướng tập trung và không ngừng tăng cường quyền lực nhà nước của hệ thống công quyền đã làm cho quyền làm chủ của người dân không phát huy được, thậm chí ngày càng bị thu hẹp, mặc dù chế độ làm chủ của nhân dân được kỳ vọng như một trụ cột của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chuyển sang tư duy về hệ thống chính trị, mặc dù Hiến pháp năm 1980 chưa thay đổi, song nhận thức về cơ cấu chính trị nêu trong bản Hiến pháp này đã có sự thay đổi rất cơ bản. Hệ thống chính trị như quan điểm sau này của Đảng, đã được Hiến pháp 1980 đề cập tới bao gồm: Đảng Cộng sản Việt Nam với vai trò lãnh đạo duy nhất như nói ở nên; Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm Quốc hội và Chính phủ (Nhà nước chuyên chính vô sản); Mặt trận Tổ quốc và các thành viên của Mặt trận như các đảng phái, các hội và các tổ chức chính trị - xã hội.
Cơ sở xã hội của hệ thống chính trị là nhân dân lao động gồm giai cấp công nhân, giai cấp nông dân tập thể, tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa và những người lao động khác mà nòng cốt là liên minh công nông, do giai cấp công nhân lãnh đạo (Điều 30). Điều 6 của Hiến pháp còn ghi rõ tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp - cơ sở chính trị của hệ thống các cơ quan nhà nước, hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, nhận thức về hệ thống chính trị ngày càng rõ hơn, song do những ảnh hưởng tiêu cực khá sâu của thời kỳ trước đó nên những chuyển biến trong thực tiễn vẫn khá chậm, thậm chí cho đến ngày nay vẫn chưa như mong muốn, thể hiện trên mấy vấn đề sau:
Thứ nhất, vẫn có sự thiếu rành mạch, rõ ràng về chức năng, nhiệm vụ của các thiết chế trong hệ thống chính trị. Các tổ chức đảng lúng túng về thực hiện vai trò lãnh đạo khi chuyển sang cơ chế kinh tế mới, vừa có tình trạng bao biện làm thay, can thiệp sâu vào công việc của Nhà nước, vừa buông lỏng vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền. Công tác đảng bị hành chính hóa, sơ cứng và quan liêu. Đảng đã chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo để khắc phục tình trạng này, song chuyển biến còn chậm.
Thứ hai, do quá nhấn mạnh tính quyền lực của hệ thống chính trị nên các tổ chức chính trị - xã hội cũng rơi vào tình trạng sơ cứng, hành chính hóa các hoạt động xã hội, bộ máy phình to, tình trạng quan liêu tăng, những ảnh hưởng tích cực đến các lực lượng quần chúng không tăng tương xứng với quy mô phát triển của các tổ chức này.
Thứ ba, Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp đã có rất nhiều đổi mới trong nội dung và phương thức hoạt động, song vẫn chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của thời kỳ mới. Quốc hội vẫn chưa thể hiện đầy đủ vai trò là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, chưa thực hiện thật tốt chức năng giám sát tối cao đối với hoạt động của bộ máy nhà nước. Hội đồng nhân dân các cấp, nhất là cấp huyện trở xuống, hoạt động ít hiệu quả. Lẽ ra phải làm thật tốt vai trò cơ sở chính trị của hệ thống các cơ quan nhà nước, thì hội đồng nhân dân cấp huyện, thị trở xuống đang được thí điểm thực hiện loại bỏ trong hệ thống chính trị, khi Hiến pháp vẫn còn hiệu lực. Vấn đề nên giữ lại hay nên bỏ hội đồng nhân dân cấp huyện và các phường ở thành phố chưa có sự thống nhất cao trong Quốc hội, chưa rõ cơ sở lý luận của việc sửa Hiến pháp về vấn đề này. Đây cũng là một trách nhiệm không nhỏ của Đảng cầm quyền.
Tiếp cận từ những vấn đề toàn cục như trên để nhìn nhận thực trạng việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật trên các mặt: công tác kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị; sự đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, nhất là phương thức Đảng lãnh đạo Nhà nước; việc tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật; việc xây dựng cơ chế, quy chế cụ thể để tổ chức đảng các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng phải chịu sự giám sát, ràng buộc của Hiến pháp và pháp luật, của nhân dân và dư luận; việc phòng, chống các hiện tượng cán bộ, đảng viên coi thường, vi phạm, đặt mình cao hơn pháp luật. Những vấn đề nói trên đã có những bước chuyển biến quan trọng sau khi có các nghị quyết Hội nghị, Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị, ngày 30 tháng 7 năm 2007; về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước, ngày 1 tháng 8 năm 2007.
c) Hoạt động chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
Trong những năm vừa qua, công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước được các cấp ủy luôn quan tâm. Trong đó, một nội dung kiểm tra, giám sát được coi trọng là việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Theo số liệu của Ủy ban Kiểm tra Trung ương, trong hai nhiệm kỳ Đại hội VI và Đại hội VII của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra chấp hành đối với hơn 81 nghìn tổ chức đảng và gần 4,7 triệu lượt đảng viên. Từ nhiệm kỳ Đại hội VIII đến giữa nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, ủy ban kiểm tra các cấp kiểm tra 44.066 tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm, kết luận có vi phạm phải thi hành kỷ luật 3.070 tổ chức đảng; kiểm tra 302.449 đảng viên có dấu hiệu vi phạm (trong đó có 92.867 cấp ủy viên các cấp), kết luận có vi phạm 170.981 trường hợp, phải thi hành kỷ luật 101.942 trường hợp. Giải quyết tố cáo 3.220 tổ chức đảng, kết luận có vi phạm 1.214 trường hợp, phải thi hành kỷ luật 474 trường hợp; giải quyết tố cáo 140.146 đảng viên, kết luận có vi phạm 80.122 trường hợp, phải thi hành kỷ luật 38.370 trường hợp. Giải quyết khiếu nại kỷ luật của đảng viên 18.068 trường hợp (chuẩn y hình thức kỷ luật 13.759; tăng hình thức kỷ luật l.306; giảm hình thức kỷ luật 2.425; và xóa hình thức kỷ luật 578 trường hợp). Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực hiện nhiệm vụ kiểm tra 317.351 tổ chức; kiểm tra việc thi hành kỷ luật trong Đảng 117.933 tổ chức. Kiểm tra thu chi ngân sách đảng và sản xuất, kinh doanh 4.415 tổ chức, kết luận có vi phạm 332 trường hợp; kiểm tra thu nộp đảng phí 424.269 tổ chức đảng, kết luận có vi phạm 22.471 trường hợp2.
Giám sát là nhiệm vụ mới, trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội X của Đảng, cấp ủy, các ban của cấp ủy ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ đã giám sát 25.395 tổ chức đảng và 75.064 đảng viên, phát hiện chuyển sang kiểm tra có dấu hiệu vi phạm 226 tổ chức đảng và 968 đảng viên. Thông qua hoạt động giám sát đã góp phần uốn nắn, chấn chỉnh, cảnh báo, giúp cho tổ chức đảng và đảng viên nêu cao ý thức thực hiện chức trách, nhiệm vụ dược giao, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xay ra khuyết điểm, vi phạm. Qua kiểm tra, giám sát, cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp đã kịp thời phát hiện những sơ hở, thiếu sót trong lãnh đạo, quản lý, những vi phạm trong thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật để kịp thời xử lý theo thẩm quyền.
Theo Thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về kỳ họp thứ 32, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã thảo luận, xem xét, kết luận hơn 45 vụ việc, trong đó kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 2 tổ chức đảng và 6 đảng viên; kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ kiểm tra dối với 3 tổ chức đảng; giải quyết tố cáo đối với 2 cấp ủy và 10 cán bộ diện Trung ương quản lý; giải quyết khiếu nại 4 trường hợp; kiểm tra tài chính đối với 3 đơn vị và các công việc khác. Những tố chức cá nhân liên quan; nội dung vi phạm được thông báo công khai, được đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân rất phấn khởi. Kết quả cụ thể như sau:
- Kết quả kiểm tra dấu hiệu vi phạm:
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Yên Bái: Ủy ban Kiểm tra Trung ương kết luận: Ban Thường vụ Tỉnh ủy Yên Bái đã buông lỏng lãnh đạo, chưa chỉ đạo xử lý dứt điểm, triệt để các vụ việc nổi cộm, để nhiều cán bộ, đảng viên vi phạm, trong đó có một số cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uy quản lý chưa được xem xét, xử lý kịp thời, gây dư luận bất bình. Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định tiếp tục xem xét vụ việc trên và sẽ thông báo ở kỳ họp thứ 33.
Kiểm tra Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về quản lý, khai thác, kinh doanh than giai đoạn 2004-2008. Kết quả kiểm tra cho thấy, Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh trong giai đoạn trên đã buông lỏng quản lý, không kịp thời đề ra các biện pháp ngăn chặn có hiệu quả, để các doanh nghiệp ngoài quốc doanh lợi dụng khai thác tận thu, buôn lậu than với khối lượng lớn, làm thất thoát tài nguyên, thiệt hại kinh tế, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự xã hội và môi trường.
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 3 cán bộ Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ủy ban nhân dân tỉnh Trà Vinh có liên quan đến việc giao cấp nhà, đất; kê khai tài sản.
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên và nhiệm vụ cấp ủy viên về nội dung liên quan đến phẩm chất đạo đức lối sống. Qua thẩm tra, xác minh nhận thấy, từ năm 2005 đến nay đã có vi phạm: thiếu gương mẫu trong sinh hoạt, sống buông thả, quan hệ không lành mạnh, vi phạm nghiêm trọng tư cách cấp ủy viên, đảng viên, gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh người cán bộ lãnh đạo, gây dư luận bất bình trong đảng và xã hội. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Ban Bí thư thi hành kỷ luật đồng chí Phó Bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban cán sự Đảng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang bằng hình thức cách hết các chức vụ trong Đảng và đề nghị cấp có thẩm quyền bãi nhiệm đại biểu Hội đồng nhân dân và cách chức Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang.
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với đồng chí Phạm Thanh Bình, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VINASHIN) trong việc huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn Nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam. Kết quả kiểm tra cho thấy, đồng chí Phạm Thanh Bình đã thiếu trách nhiệm trong việc huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn nhà nước tại Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam gây hậu quả nghiêm trọng khiến VINASHIN bên bờ vực phá sản. Trong những năm qua, Tập đoàn đã báo cáo không trung thực với Chính phủ tình hình tài chính của doanh nghiệp; thành lập quá nhiều công ty con (gần 200) không đủ năng lực sản xuất kinh doanh; đầu tư dàn trải ra nhiều lĩnh vực ngoài ngành công nghiệp tàu thủy; đầu tư mua nhiều tàu biển cũ, gây thiệt hại lớn cho ngân sách nhà nước; vi phạm nghiêm trọng quy định của Nhà nước về lập, phê duyệt, đấu thầu các dự án; các khoản nợ rất lớn, mất khả năng thanh toán. Bộ máy quản lý vốn Nhà nước tại nhiều đơn vị thuộc Tập đoàn thiếu năng lực. Đồng chí Phạm Thanh Bình còn bổ nhiệm con trai và em ruột làm đại diện phần vốn của Nhà nước, đảm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng trái quy định của Đảng và Nhà nước. Những sai phạm của đồng chí Phạm Thanh Bình trong huy động, quản lý, sử dụng tiền vốn của Nhà nước là do thiếu tinh thần trách nhiệm, cố ý làm trái và có biểu hiện vụ lợi cá nhân gây hậu quả nghiêm trọng về kinh tế, chính trị, xã hội; các khoản nợ rất lớn, mất khá năng thanh toán, đến nay, nợ quá hạn và đến hạn không có khả năng thanh toán lên tới hàng chục nghìn tỷ đồng, hơn 5.000 lao động không có việc làm; các khoản nợ lương và bảo hiểm xã hội lên đến 234 tỷ đồng.
Vi phạm của đồng chí Phạm Thanh Bình đến mức phải áp dụng hình thức kỷ luật. Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thực hiện quy trình kiểm điểm, xử lý kỷ luật đối với đồng chí Bình. Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị Chính phủ xem xét trách nhiệm của các bộ, ngành liên quan đối với những vi phạm của Tập đoàn VINASHIN.
- Về xem xét thi hành kỷ luật:
Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét trách nhiệm đối với 4 đồng chí có liên quan đến dự án Tượng đài Chiến thắng Điện Biên Phủ, gồm: 3 đồng chí lãnh đạo các ngành và 1 đồng chí lãnh đạo tỉnh Điện Biên. Kết luận các đồng chí trên có khuyết điểm về trách nhiệm nhưng chưa đến mức phải thi hành kỷ luật. Xem xét thi hành kỷ luật đối với đồng chí tỉnh ủy viên, Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu: Trong thời gian giữ chức vụ Bí thư Tỉnh đoàn Bạc Liêu, đồng chí đã có sai phạm trong quản lý và sử dụng tài chính; trên cương vị Phó Bí thư Thị ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thị xã, đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc của Ủy ban nhân dân thị xã trong một số vụ việc cụ thể. Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về Đảng, đề nghị cấp có thẩm quyền cảnh cáo về chính quyền đối với đồng chí.
- Về công tác giám sát:
Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã giám sát chuyên đề đối với Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước trong việc lãnh đạo, chỉ đạo giao đất rừng cho Công ty cổ phần Đầu tư và Phát triển 67 và việc giao đất cho gia đình đồng chí nguyên Bí thư Tỉnh ủy Bình Phước. Qua kết quả kiểm tra, Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và Ban cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước nghiêm túc rút kinh nghiệm trong việc thẩm định tư cách, năng lực nhà đầu tư khi giao dự án, không để xảy ra việc nhà đầu tư lợi dụng đanh nghĩa lực lượng vũ trang để được giao dự án sai quy định; kiểm tra và chấn chỉnh những trường hợp giao, cho thuê đất đối với những cán bộ chủ chốt không đúng quy định, mang tính chất đặc quyền, đặc lợi. Những trường hợp giao đất sai Luật Đất đai và có tính chất đặc quyền, đặc lợi, Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Phước phải thu hồi những trường hợp nêu trên.
Tại Hội nghị lần thứ 13 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X), Ban Chấp hành Trung ương đã xem xét và quyết định thi hành kỷ luật 1 đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy bằng hình thức cảnh cáo, để đồng chí thôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X, nghỉ công tác để nghỉ hưu, do có các khuyết điểm, vi phạm, trong đó vi phạm thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Những vi phạm chủ yếu là: Với cương vị Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, đồng chí chịu trách nhiệm chính về những khuyết điểm, vi phạm của Thường trực Tỉnh ủy trong việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, Quy chế làm việc và công tác cán bộ; Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, phương thức lãnh đạo của Đảng, Quy chế làm việc của Tỉnh ủy, Quy định số 51-QĐ/TW của Ban Bí thư; vi phạm tiêu chuẩn đảng viên, cấp ủy viên và phẩm chất, đạo đức, lối sống3.
2. Khuyết điểm
Từ đầu nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đến nay, các cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã kiểm tra trên 416 ngàn lượt đảng viên, qua kiểm tra đã kết luận trên 37 ngàn đảng viên vi phạm, trong đó có trên 20 ngàn đảng viên phải thi hành kỷ luật và đã thi hành kỷ luật trên 17 ngàn đảng viên; kiểm tra trên 74 ngàn lượt tổ chức đảng, qua kiểm tra kết luận trên 7.500 tổ chức đảng có vi phạm, trong đó có trên 800 tổ chức đảng phải thi hành kỷ luật và đã thi hành kỷ luật trên 650 tổ chức đảng. Đã giám sát 13.150 tổ chức đảng và 32.605 đảng viên. Qua công tác kiểm tra, giám sát đã giúp các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên phát huy ưu điểm, nhân tố mới; đồng thời cũng phát hiện được nhiều khuyết điểm, vi phạm về phẩm chất chính trị, kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước để có biện pháp ngăn ngừa, sửa chữa, khắc phục, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị.
a) Những biểu hiện vi phạm của tổ chức đảng
- Thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo:
Tổ chức học tập, nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, của cấp trên không nghiêm túc, hình thức, qua loa, chiếu lệ và thiếu kiểm tra, đôn đốc, đánh giá kết quả của việc học tập, quán triệt nên làm giảm tác dụng, hiệu quả của các nghị quyết, chỉ thị, quy định...
Tổ chức triển khai thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, của cấp trên chưa kịp thời, chưa nghiêm túc, có trường hợp thực hiện sai, gây thiệt hại cho tổ chức, cho nhân dân.
Một số cấp ủy ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy định không đúng thẩm quyền, trái quy định của pháp luật về đất đai như: bán đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất; xử phạt hành chính sai quy định; quy định thu phí, lệ phí, miễn thuế không đúng...
Chấp hành không nghiêm các nghị quyết về xây dựng Đảng, tình trạng "trên bảo dưới không nghe", "nói không đi đôi với làm" hoặc "biểu quyết một đàng, làm một nẻo" tuy không là hiện tượng phổ biến nhưng làm tổn hại đến sự thống nhất trong Đảng, vi phạm kỷ luật, kỷ cương của Đảng và làm giảm lòng tin trong quần chúng nhân dân.
- Coi thường nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng; buông lỏng công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện cán bộ, đảng viên cụ thể:
Coi thường nguyên tắc tổ chức của Đảng, không chấp hành nghiêm nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt Đảng; trong sinh hoạt đảng không bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tính chiến đấu giảm sút nghiêm trọng. Một hiện tượng khá phổ biến trong nhiều tổ chức đảng hiện nay là thực hiện quy chế làm việc của cấp ủy không nghiêm; sinh hoạt không đúng kỳ, hình thức, không nghiêm túc.
Buông lỏng công tác quản lý, giáo dục đảng viên, công tác kiểm tra, chưa thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách, có nơi vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng, để tiêu cực, tham nhũng hoành hành, gây thất thoát, lãng phí rất lớn tiền, tài sản của Nhà nước; để nhiều vụ vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật nhà nước nghiêm trọng nhưng chậm hoặc không phát hiện được để xử lý. Khi vụ việc xảy ra rồi thì tổ chức kiểm điểm qua loa, trong kiểm điểm không dám nhìn thẳng vào sự thật để xem xét, kết luận, nể nang, né tránh dẫn đến việc xử lý kỷ luật ở một số tổ chức đảng không nghiêm, làm hạn chế tác dụng phòng ngừa, giáo dục.
- Tình trạng cục bộ, bè phái, mất đoàn kết; mất dân chủ hoặc dân chủ hình thức xảy ra nghiêm trọng:
Có hiện tượng bè phái, mất đoàn kết, cục bộ, mà biểu hiện chủ yếu là bằng mặt nhưng không bằng lòng, kéo bè kéo cánh, lập dựng ê kíp. Các biểu hiện mất đoàn kết nội bộ diễn ra rất đa dạng, phong phú, phức tạp, có trường hợp rất tinh vi, nhất là trong thường trực cấp ủy, giữa bí thư với chủ tịch và phó bí thư cấp ủy, giữa bí thư với thủ trưởng, giám đốc đơn vị... Tình hình mâu thuẫn nội bộ, mất đoàn kết thường diễn ra khi có biến động về công tác tổ chức, đặc biệt là các kỳ bầu cử cấp ủy hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân, bầu cử Quốc hội... Ngược lại, có nơi đoàn kết xuôi chiều, dĩ hòa vi quý, dễ người, dễ ta. Tình trạng mất dân chủ trong tự phê bình và phê bình; độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng, áp đặt ý kiến cá nhân, trả thù, trù dập, ức hiếp người thẳng thắn, dám đấu tranh phê bình hoặc lợi dụng dân chủ để đả kích, vu cáo, chia rẽ, gây rối nội bộ
- Hiện tượng thủ tiêu đấu tranh, tự giác, tự phê bình giảm sút:
Không tiến hành hoặc tiến hành mang tính hình thức sinh hoạt tự phê bình và phê bình dẫn đến hữu khuynh, xuê xoa, thoả hiệp, né tránh, ngại đấu tranh với những sai lầm, khuyết điểm những vấn đề thuộc về nhận thức quan điểm, đường lối và thực hiện nguyên tắc của Đảng, trong đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực còn diễn ra khá phổ biến ở nhiều tổ chức đảng. Tính chiến đấu tinh thần tự phê bình và phê bình trong nhiều tổ chức đảng còn yếu, nhất là ở chi bộ và tổ chức cơ sở đảng.
Bệnh thành tích nặng nề đã dẫn đến tình trạng sợ trách nhiệm, sợ khuyết điểm, sợ mất thành tích, sợ nhân dân phê bình thiếu sót, khuyết điểm của tổ chức mình, từ đó đùn đẩy trách nhiệm, đổ lỗi cho cấp dưới, cho khách quan; báo cáo kiểm điểm làm sơ sài, không phản ánh đúng thực tế, thiều trung thực; né tránh việc tiếp xúc, tiếp thu ý kiến đóng góp của nhân dân. Cấp trên thường khen, ít chê, phê bình cấp dưới, thậm chí không kiên quyết với cấp dưới, dẫn đến cấp dưới hay lựa chiều, đón ý cấp trên, không dám nói sự thật nói hết với cấp trên hoặc với nhau đang xảy ra ở nhiều tổ chức đảng kể cả các cơ quan cấp tỉnh, thành và huyện, quận, thị xã... Hiện tượng đáng quan tâm là nhiều tổ chức đảng, nhiều năm đạt tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh, có nhiều đảng viên đạt đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, nhưng khi có tình hình xảy ra thì nội bộ lục đục mất đoàn kết, nhiều đảng viên vi phạm kỷ luật Đảng, vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Hiện tượng bao che, ô dù cho những hành động sai trái của một số cán bộ, đảng viên trong tổ chức; tình trạng độc đoán, chuyên quyền, ức hiếp quần chúng dưới mọi hình thức, mọi thủ đoạn... khiến cán bộ, đảng viên và quần chúng bất bình, khiếu kiện kéo dài, phức tạp.
Tóm lại. những vi phạm tuy ở mức độ khác nhau, có nơi nghiêm trọng, có nơi chưa tới mức nghiêm trọng, nhưng đều ảnh hướng trực tiếp đến việc lãnh đạo, chỉ đạo hoàn thành nhiệm vụ chính trị của địa phương, đơn vị và kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Thực tế chứng minh ở những nơi tổ chức đảng có vấn đề thì kết quả thực hiện các nhiệm vụ thường không cao, tình hình phức tạp, xuất hiện đơn thư kiện cáo, nghi kỵ lẫn nhau, kỷ cương, kỷ luật lỏng lẻo, vai trò và sức chiến đấu của tổ chức đảng giảm sút nghiêm trọng, thậm chí không còn tác dụng, dễ dẫn đến mất ổn định.
b) Những biểu hiện vi phạm của cán bộ, đảng viên
Những năm đầu của thời kỳ đổi mới, không ít cán bộ, đảng viên mơ hồ, hoài nghi, mất cảnh giác, dẫn đến dao động, không tin vào sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta; chỉ mưu tìm cuộc sống riêng. Thậm chí có người còn phản bội Đảng, phản bội Tổ quốc, làm tay sai cho địch, tuyên truyền chống chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; từ bỏ mục tiêu phấn đấu của Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng, mà thực chất là chống đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; không thừa nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thậm chí có người đòi bỏ Điều 4 Hiến pháp. Một số người tuy nói theo nghị quyết của Đảng, nhưng vẫn thiếu tin tưởng, băn khoăn về con đường lựa chọn và tiền đồ của đất nước, thiếu cảnh giác với nguy cơ diễn biến hòa bình của các thế lực thù địch. Một số cán bộ, đảng viên do bất mãn cá nhân hoặc do nhận thức không đầy đủ, đúng đắn, trong đó có cả những cán bộ đã từng cống hiến lâu năm cho cách mạng lại bị các thế lực xấu trong và ngoài nước tâng bốc tạo dựng, đã ngấm ngầm hoặc công khai phát tán tài liệu, truyền bá những quan điểm trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp của Nhà nước, xuyên tạc lịch sử...
Trước những khó khăn thử thách, những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước, có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, hoài nghi về chủ nghĩa xã hội, giảm sút ý chí chiến đấu có biểu hiện thờ ơ, hoặc "chờ thời", từ đó dẫn đến không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ, không nghiêm đường lối, quan điểm, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và nhiệm vụ được giao; ý thức kỷ luật kém.
Biểu hiện cơ hội dưới nhiều hình thức, ham quyền, ham chức, ham lợi, ham danh; kèn cựa, địa vị, bè phái, nhận xét đánh giá tuỳ tiện, tán phát" tờ rơi", thư nặc danh, đưa tin đồn để nói xấu, đả kích làm mất uy tín nhau, kể cả dùng đơn thư nặc danh gây nghi ngờ, mất đoàn kết, chia rẽ nội bộ diễn ra tương đối nhiều và nghiêm trọng.
Những biểu hiện vi phạm pháp luật chủ yểu trong đội ngũ cán bộ, đảng viên: vi phạm pháp luật của cán bộ, đảng viên thường liên quan đến kinh tế, xảy ra nhiều hơn trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội với nội dung vi phạm đa dạng, phức tạp, tính chất, mức độ nghiêm trọng.
Một số cán bộ, đảng viên lợi dụng chức quyền để tham nhũng, buôn lậu, để vợ con, người thân lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình tác động, can thiệp, tham gia các hoạt động trái pháp luật nhằm trục lợi; can thiệp, bao che, gây khó khăn, trở ngại trong quá trình thanh tra, kiểm tra. Đặc biệt là những biểu hiện làm giàu bất chính, ăn chơi xa hoa truỵ lạc, tham gia vào các dịch vụ không lành mạnh, mê tín dị đoan, cờ bạc, rượu chè bê tha... bị quần chúng oán ghét.
Những biểu hiện trên xảy ra ở nhiều lĩnh vực, không chỉ trong lĩnh vực kinh tế mà lây lan sang cả các lĩnh vực mà trước đây chưa bao giờ thấy như: gian trá trong nghiên cứu khoa học; mua bán bằng cấp, thi hộ, thi thuê trong giáo dục đào tạo; vi phạm bản quyền, "ăn cắp", "sao chép" trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật.
Tỷ lệ cán bộ, đảng viên có vi phạm pháp luật tuy không phải là đa số, nhưng cũng là một con số không nhỏ. Dưới đây xin nêu một số vụ việc cụ thể:
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái, vi phạm pháp luật trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước, quyết định của Thủ tướng Chính phủ khi chỉ đạo các hoạt động đầu tư, dự án, vốn cho sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn.
Một trong những vụ điển hình trước đây là vụ án Năm Cam. Đây là một vụ án tội phạm có tổ chức, đặc biệt nghiêm trọng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành, tổ chức các hoạt động đánh bạc, bảo kê, cho vay nặng lãi, mở các trường gà, cá độ bóng đá. Tòa án đã truy tố 155 bị can, trong đó có 21 nguyên là cán bộ nhà nước gồm: 3 nhà báo, 4 cán bộ viện kiểm sát, có cán bộ nguyên là cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước, ngoài ra còn nhiều cán bộ, đảng viên có liên quan tuy chưa đến mức truy tố nhưng phải xứ lý hành chính và kỷ luật đảng. Có 42 cán bộ, đảng viên bị khai trừ ra khỏi Đảng, 43 cán bộ, chiến sĩ công an bị tước danh hiệu công an nhân dân trong đó có cả một số là cán bộ cao cấp.
Vừa qua, kiểm tra Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (VINASHIN), cho thấy tập thể lãnh đạo và người đứng đầu thiếu trách nhiệm, tuỳ tiện, cá nhân, báo cáo không trung thực, cố ý làm trái, vi phạm pháp luật trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước, quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong chỉ đạo các hoạt động đầu tư, dự án, vốn cho sản xuất kinh doanh, sử dụng vốn và bố trí cán bộ.
Lãnh đạo Tập đoàn, trước hết là Hội đồng quản trị và người đứng đầu đã có nhiều khuyết điểm, sai lầm trong tổ chức, quản lý, điều hành, nhất là trong việc xác định lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, tổ chức quản lý các công ty con công ty liên kết, tiến hành các hoạt động đầu tư xây dựng, quản lý vấn, tài chính, vay và trả nợ làm cho tình hình tài chính đứng trước bờ vực phá sản, ước tính dư nợ lên tới khoảng 86.000 tỷ đồng; nợ đến hạn phải trả khoảng trên 14.000 tỷ đồng; tỷ lệ nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu gấp gần 11 lần, khó có khả năng tự cân đối dòng tiền. Sản xuất, kinh doanh đình trệ; đến tháng 8-2010 hơn 70.000 cán bộ, công nhân viên lo lắng do việc làm và thu nhập giảm; hiện đã có khoảng 17.000 công nhân chuyển việc hoặc bỏ việc; 5.000 công nhân bị mất việc làm; nhiều công nhân của một số nhà máy, xí nghiệp bị chậm trả lương trong nhiều tháng...
Lợi dụng chức trách nhiệm vụ được giao trong việc tham mưu cho cấp có thẩm quyền ban hành chính sách, quy định, phê duyệt quy hoạch kiến trúc đô thị, giao thông, các dự án dầu tư có lợi cho bản thân, gia đình hoặc một nhóm người có chung t động cơ, mục đích vụ lợi, gây thiệt hại cho Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
Giải quyết tố cáo đối với một Thứ trưởng đã kết luận có vi phạm trong việc miễn giảm nộp thuế cho doanh nghiệp, áp mức thuế thấp so với quy định trái thẩm quyền đối với một số doanh nghiệp có đề nghị bằng văn bản riêng.
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với 7 đảng viên là cán bộ diện Ban Thường vụ tỉnh ủy quản lý, qua kiểm tra đã kết luận: đã có những sai phạm như tham mưu, chỉ đạo để ủy ban nhân dân tỉnh giải quyết cho một Công ty đầu tư dự án khu dân cư, không đấu thầu dự án, đấu giá sử dụng đất sai Luật Đất đai 2003 (khoản 1 Điều 38 và khoản 2 Điều 40); sai Nghị định 181 và Nghị định 197 của Chính phủ làm thất thu ngân sách nhà nước, không áp dụng đền bù theo thỏa thuận dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người, gây dư luận bất bình. Việc tỉnh cho hai công ty ứng 31,3 tỷ đồng từ ngân sách tỉnh không tính lãi suất là sai Luật Ngân sách.
Một cán bộ là chủ tịch huyện "Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ", "Nhận hối lộ", "Lợi dụng ảnh hướng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi"; đã nhiều lần ký và chỉ đạo cho cấp dưới xác nhận không đúng thực tế, trái pháp luật, nhận hối lộ hơn 1,4 tỷ đồng và nửa chiếc sừng tê giác. Riêng số tiền nhận thông qua việc lợi dụng ảnh hưởng của mình để tác động tới người khác là 5.000 USD và 50 triệu đồng.
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với các đồng chí bí thư, phó bí thư chủ tịch và phó chủ tịch thường trực ủy ban nhân dân một tỉnh cho thấy vi phạm, thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, kiểm tra lĩnh vực quản lý, sử dụng, thu hồi, cho thuê, đền bù đất đai trên địa bàn, nhiều trường hợp cưỡng chế thu hồi đất của dân không đúng pháp luật, sau đó lại cho cán bộ thuê không qua đấu giá, đã phát hiện và xử lý trên 20 trường hợp cán bộ chủ chốt từ huyện đến xã vụ lợi trong thuê đất, vay tiền từ quỹ đầu tư phát triển 21,7 tỷ đồng nuôi cá tra, hầu hết là tín chấp, thủ tục không đầy đủ, không có hồ sơ thẩm định tài sản, không có dự án sản xuất kinh doanh nhưng đã được vay với lãi suất thấp.
Cấp đất trái thẩm quyền, thông qua danh nghĩa dự án để chia chác hoặc bán kiếm lời, chia lô bán nền, nhận hối lộ để hợp thức hóa việc lấn chiếm đất. Kiểm tra một xã có 33 trường hợp, hầu hết là cán bộ công chức và gia đình, trong đó có nhiều cán bộ chủ chốt huyện, xã đã được cấp đất sai thẩm quyền, không đúng đối tượng, với tổng diện tích là 177.375 m2 (bình quân gần 60 m2/hộ), có 9 trường hợp đã chuyển nhượng trái phép, thu lời bất chính 3.080 triệu đồng.
- Vi phạm trong công tác tổ chức cán bộ thường là: Mua bán chức, quyền, quy hoạch và luân chuyển cán bộ; mua bán trong tuyển dụng công chức, chạy khen thưởng và chế độ.
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm một bí thư tỉnh ủy, chủ tịch hội đồng nhân dân tỉnh cho thấy: vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ trong công tác tổ chức cán bộ, từ đó việc sắp xếp bố trí cán bộ liên quan đến 10 sở, ban ngành của tỉnh, liên quan 12 cán bộ tỉnh ủy quản lý, trong đó có 5 tỉnh ủy viên, 2 đồng chí ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, nhiều ngành và nhiều đồng chí không liên quan đến việc sắp xếp theo Nghị định số 13-NĐ/CP; nhận 100 triệu đồng chạy chức nhưng không báo cáo cho tổ chức biết.
Một ủy viên ban thường vụ tỉnh ủy, bí thư thị ủy đã lợi dụng chức vụ quyền hạn để xin 11 ha đất trái quy định, cùng gia đình lập hồ sơ chuyển nhượng 8 ha đất không nộp tiền quyền sử dụng đất theo quy định, tiếp tay cùng người thân trong gia đình mua 26,67 ha đất theo giá ưu đãi, bán hưởng chênh lệch hàng chục tỷ đồng. Đối với người giúp gia đình mua đất, đồng chí tích cực đề bạt, cất nhắc thiếu thận trọng, chưa bảo đảm nguyên tắc, quy chế bổ nhiệm cán bộ.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp luật cố ý làm trái với mục đích bảo kê, bao che thậm chí tiếp tay cho tội phạm, giảm nhẹ hình phạt, làm sai lệch hồ sơ nhằm thu lợi.
Kiểm tra một cán bộ là kiểm sát viên công tác tại phòng 1A viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã nhận 17 triệu đồng để chạy án nhưng không thành, bị đối tượng tố cáo; một cán bộ sở tư pháp đã nhận 15 triệu đồng để làm giả giấy tờ tài liệu cơ quan nhà nước để giúp kết hôn với người nước ngoài...
Một ủy viên ban thường vụ huyện ủy, chỉ huy trưởng ban chỉ huy quân sự huyện đã làm chứng từ quyết toán kinh phí quốc phòng ở một xã nhiều hơn thực chi với số tiền trên 15 triệu đồng; đã tự giữ kinh phí lớp chiến lược quốc phòng do tỉnh hỗ trợ 32 triệu đồng để chi giao tiếp, tự làm bản đề nghị xin kinh phí mua giường, tủ để lấy tiền mua xe mô tô cho cá nhân đồng chí với số tiền trên 17 triệu đồng..
Năm 2009, ngành công an xử lý kỷ luật gần 100 cán bộ, chiến sĩ liên quan đến than nhũng, trong đó có 13 cán bộ tham nhũng, 81 cán bộ có dấu hiệu tham nhũng và 5 lãnh đạo, chỉ huy bị xử lý kỷ luật vì trách nhiệm có liên đới.
Một số kiểm toán viên của Kiểm toán Nhà nước đang làm nhiệm vụ kiểm toán một số công trình có vốn trái phiếu Chính phủ tại Quảng Ngài đã bị Công an Quảng Nghĩ bắt vì hành vi nhận hối lộ ngay tại phòng nghỉ ở khách sạn.
- Lợi dụng sự sơ hở của luật pháp chính sách,cơ chế để hoạt động vì vụ lợi.
Do hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách của nhà nước ta chưa kịp thời hoàn thiện, còn chồng chéo, mâu thuẫn, dễ bị lợi dụng. Một số cán bộ có chức, có quyền đã lợi dụng mọi kẽ hở của cơ chế, chính sách để làm trái nhằm mục đích vụ lợi. Ví dụ: việc thanh lý tài sản công đã dùng hình thức đấu giá "ảo", không công khai để tạo điều kiện cho người tham gia vụ lợi. Giải quyết đơn thư tố cáo đối với nguyên giám đốc sở kế hoạch và đầu tư của một tỉnh cho thấy, việc bán đấu giá khách sạn nhưng việc niêm yết, thông báo công khai giá bán không thống nhất với giá khởi đầu do hội đồng định giá quyết định (khởi đầu là 42 tỷ nhưng thông báo hơn 90 tỷ).
Một cán bộ là trưởng phòng kinh tế, thuộc văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để nhận 500 triệu đồng của một công ty trách nhiệm hữu hạn liên quan đến chuyển nhượng dự án giữa các công ty và 500 triệu đồng trong việc giao đất rừng làm du lịch sinh thái cho một công ty khác, đã bị khai trừ ra khỏi Đảng.
- Lợi dụng sự yếu kém và buông lỏng trong quản lý để hoạt động vì vụ lợi, sống buông thả.
Giải quyết tố cáo đối với bí thư đảng ủy, chủ tịch Hội đồng quản trị một tổng công ty đã kết luận trong thời gian làm tổng giám đốc đồng chí đã có những sai phạm: buông lỏng quản lý để công ty vi phạm nghiêm trọng Pháp lệnh kế toán thống kê, làm trái các quy định của pháp luật, buông lỏng quản lý, có dấu hiệu tham ô, gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Sử dụng trái mục đích vốn vay ngân hàng, nhiều khoản công nợ, hàng hóa gửi kho công ty không có chứng từ hợp pháp để chứng minh, làm thất thoát và mất khả năng thanh toán trả ngân hàng trên 60 tỷ đồng. Đến nay số tiền vay ngân hàng để kinh doanh xăng dầu còn nợ trên 108 tỷ đồng, trong đó trên 50 tỷ đồng do tổng giám đốc ký bảo lãnh, công ty không và khó có khả năng trả nợ. Tổng giám đốc trực tiếp cử cán bộ đi nước ngoài ký hợp đồng mua hàng, nhưng lại ký hợp đồng mua 400 xe IFA và 300 tấn phụ tùng xe, khi biết thủ tục vay vốn ngân hàng không đúng quy chế quản lý tài chính của Tổng công ty, tổng giám đốc vẫn tiếp tục chỉ đạo cho làm các thủ tục nhập khẩu về Việt Nam, gây hậu quả nghiêm trọng làm thiệt hại trên 35 tỷ đồng. Vợ của tổng giám đốc nhận 1 vòng hạt xoàn (trị giá trên 1.200 USD) của giám đốc công ty có liên quan.
Lập quỹ trái phép tồn tại nhiều năm tại một Nông trường (đơn vị hai lần anh hùng trong thời kỳ đổi mới). Năm cán bộ vi phạm "lập quỹ trái phép" gồm: giám đốc, phó giám đốc, kế toán trường, thủ quỹ và kế toán. Từ năm 2002 đã mở sổ sách quản lý, theo dõi thu chi riêng ngoài hệ thống sổ sách kế toán quy đình, đến cuối năm 2009 lên tới gần 30 tỷ đồng. Nguồn quỹ này được chi cho giám đốc đương nhiệm trên 3,3 tỷ đồng, chi lương kiêm nhiệm cho một cán bộ 38,7 triệu đồng, biếu tặng quà cho các cá nhân ở trung ương và địa phương trên 678 triệu đồng, chi cho đoàn kiểm toán nông trường năm 2004 là 233 triệu đồng và chi cho nhiều khoản khác trên 3,8 tỷ đồng.
Bớt xén tiền cứu trợ, các quỹ an sinh xã hội; lập hồ sơ giả, chứng từ khống để rút tiền ngân sách, tiền các quỹ vận động quyên góp để vụ lợi. Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với nguyên phó bí thư chi bộ, chủ tịch hội chữ thập đỏ của một huyện đã vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ, nguyên tắc tài chính kế toán, có hành vi lợi dụng chức quyền cùng với một số cán bộ dưới quyền quyết toán khống một số vải dù để lấy tiền sứ dụng cá nhân với số tiền là trên 757 triệu đồng. Đã đề nghị thu hồi trên 514 triệu đồng.
Kiểm tra dấu hiệu vi phạm đối với chi bộ hội liên hiệp phụ nữ thành phố, thấy cán bộ lãnh đạo hội phạm nguyên tắc quản lý tài chính dẫn đến một số cá nhân có hành vi tham ô tiêu cực: khi sai mục đích, không mở sổ sách theo dõi, lập chứng từ không đúng quy định, quyết toán khống phải thu hồi nộp ngân sách nhà nước trên 175 triệu đồng, trong đó có dấu hiệu tham ô 42 triệu đồng, thanh toán công tác phí không hợp lệ trên 135 triệu đồng. Nhiều khoản chi không chứng từ tổng cộng trên 219 triệu đồng.
Chủ tịch liên đoàn lao động của một tỉnh đã cố ý làm trái trong việc giữ lại 35% lương của cán bộ công đoàn doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài để lập quỹ trái pháp luật, quy chế dân chủ trong việc sử dụng quỹ không công khai, minh bạch, gây dư luận xấu, vi phạm nguyên tắc kế toán trong việc lập danh sách chi tiền hỗ trợ cho cán bộ công đoàn để rút hơn 200 triệu đồng.
Một cán bộ là trưởng phòng kinh doanh công ty cà phê đã lợi dụng chức vụ của mình đứng ra nhận tiền của một số người dân mua cà phê ký gửi nhưng thực chất không mua cà phê gửi công ty theo thỏa thuận mà lập phiếu xuất kho khống giao cho khách hàng, sau đó chiếm đoạt khoảng 1.554.020.000 đồng.
Kiểm tra một số đảng viên (phó bí thư thường trực tỉnh ủy; phó chủ tịch thường trực ủy ban nhân dân tỉnh; ủy viên thường vụ tỉnh ủy, bí thư thị ủy) trong việc lãnh đạo, chỉ đạo việc quản lý chi tiêu sử dụng ngân sách đảng đã phát hiện sai phạm mang nguồn tồn quỹ gửi ngân hàng công thương để lấy lãi sai quy định; thủ quỹ đã chiếm đoạt và tham ô trên 3 tỷ đồng; khởi tố phó bí thư thường trực thị ủy, chánh văn phòng thị ủy, thủ quỹ, kế toán văn phòng thị ủy; cách chức bí thư thị ủy, cảnh cáo phó chủ tịch thường trực ủy ban nhân dân tỉnh.
Tỉnh Thái Nguyên đã kỷ luật một loạt cán bộ do buông lỏng quản lý, để cán bộ biết sai nhưng vẫn làm dẫn đến việc lập hồ sơ khống, xác nhận vào hợp đồng mua đất không có giá trị pháp lý, ký xác nhận vào hợp đồng chuyển quyền sử dụng đất giả mạo, chiếm đoạt số tiền hơn 100 triệu đồng từ ngân sách nhà nước.
Một số cán bộ kể cả cán bộ cao cấp của Đảng, Nhà nước sống buông thả vi phạm nghiêm trọng về phẩm chất, đạo đức. Điển hình như Phó bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự Đảng, Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang trong việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên và nhiệm vụ cấp ủy viên về nội dung liên quan đến phẩm chất đạo đức, lối sống. Từ năm 2005 đến nay thiếu gương mẫu trong sinh hoạt, sống buông thả, quan hệ không lành mạnh, vi phạm nghiêm trọng tư cách cấp ủy viên, đảng viên, gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh người cán bộ lãnh đạo, gây dư luận bất bình trong Đảng và xã hội.
- Lợi dụng chức vụ, quyền hạn vùi dập, ức hiếp, trả thù, nhũng nhiễu quần chúng hoặc người tố cáo; tiếp tay, bao che cho tội phạm.
Năm 2008, qua giải quyết đơn thư khiếu nại kỷ luật của một đảng viên thấy: do đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng của một cán bộ lãnh đạo có vi phạm lại được đề nghị Chính phủ tặng bằng khen nên bị cô lập và trù dập, bị kỷ luật đảng. Một cán bộ nguyên đảng ủy viên đảng ủy xã bị kỷ luật cách chức đảng ủy do bị trù dập vì tố cáo sai phạm của ủy ban nhân dân xã về tài chính.
II NGUYÊN NHÂN, KINH NGHIỆM BƯỚC ĐẦU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
1. Nguyên nhân của ưu điểm và khuyết điểm
a) Nguyên nhân của ưu điểm
Nguyên nhân khách quan: Công cuộc đổi mới phát triển mạnh mẽ cả chiều rộng lẫn chiều sâu, nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển đòi hỏi phải vừa nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa phải phát huy mạnh mẽ vai trò quản lý của Nhà nước, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Để đáp ứng được đòi hỏi này Nhà nước phải chấp hành nghiêm chỉnh sự lãnh đạo chính trị của Đảng; Đảng phải tôn trọng hoạt động của Nhà nước và tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước hoạt động đạt hiệu quả. Điều này, đòi hỏi các cấp ủy, tổ chức đảng và đội ngũ đảng viên phải gương mẫu chấp hành Hiến pháp và pháp luật, mọi hoạt động phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Để quản lý có hiệu quả mọi mặt hoạt động của đất nước, đưa đất nước tiến lên, các nước đang phát triển không thể không xây dựng nhà nước pháp quyền. Sự nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở nước ta đang phát triển khá mạnh mẽ, đòi hỏi mọi tổ chức trong xã hội và mọi công dân phải tuân thủ vô điều kiện Hiến pháp và pháp luật. Đảng, các tổ chức của Đảng và đội ngũ đảng viên cũng là các tổ chức và công dân trong xã hội, nên không những phải chấp hành nghiêm mà còn phải gương mẫu chấp hành và chấp hành tốt Hiến pháp, pháp luật.
Nguyên nhân chủ quan: Sự nhận thức sâu sắc và xác định trách nhiệm của tuyệt đại đa số cấp ủy các cấp và đội ngũ đảng viên đối với việc thực hiện nguyên tắc, đã tích cực chủ động triển khai thực hiện và tự giác thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Cấp ủy cấp trên của các tổ chức đảng đã coi trọng hướng dẫn, chỉ đạo khá cụ thể, kịp thời các cấp ủy tổ chức đảng cấp dưới về thực hiện nguyên tắc. Đồng thời, các cấp ủy đã tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc, uốn nắn những lệch lạc và xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng và đảng viên vi phạm pháp luật về kỷ luật đảng và chỉ đạo xử lý kỷ luật công chức theo mức độ vi phạm.
Sự tích cực tham gia của chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội để các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên thực hiện có kết quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Mặt trận và các đoàn thể ở nhiều nơi đã phát huy tốt vai trò giám sát phản biện xã hội đối với hoạt động của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, đảng viên, công chức ở các cấp. Trong đó, đã coi trọng giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động chấp hành pháp luật của cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên.
Chất lượng, sự đúng đắn của các chủ trương, đường lối của Đảng ngày càng tăng lên; việc thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật của Nhà nước có nhiều tiến bộ cả về sửa chữa, bổ sung, hoàn thiện các văn bản pháp luật và xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật mới.
b) Nguyên nhân của khuyết điểm
Nguyên nhân khách quan: Mặt trái cơ chế thị trường và quá trình mở cửa hội nhập đã tạo cơ hội để chủ nghĩa thực dụng phát triển, nhưng chúng ta chưa kịp dự báo tình hình, thiếu sự chuẩn bị về tư tưởng, thiếu những biện pháp cụ thể, phù hợp, đồng bộ trong việc giáo dục, rèn luyện, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên. Trong khi đó không ít cấp ủy, tổ chức đảng coi nhẹ việc giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên, cũng như chưa kịp thời xử lý và xử lý thiếu nghiêm minh khi cán bộ, đảng viên vi phạm.
Cơ chế thị trường cũng mở ra nhiều cơ hội làm kinh tế cho mọi người để nâng cao mức sống, nhưng mặt trái của nó đã tạo ra sự cạnh tranh không lành mạnh, ích kỷ, làm cho không ít cán bộ, đảng viên có lối sống thực dụng, thiếu trung thực. Một số cán bộ, đảng viên có được cuộc sống giàu lên bất ngờ, nhanh chóng thoát ly khỏi lối sống bình thường của số đông trong xã hội để sống theo kiểu "đế vương". Đó cũng là nguyên nhân dẫn họ xa rời dần đạo đức cách mạng. Quá trình đổi mới phát triển mau lẹ, phức tạp cơ chế chính sách không đồng bộ, không đầy đủ thậm chí rất sơ hở, dẫn đến thiếu chuẩn mực để hoạt động, để ngăn chặn, nên một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tu dưỡng, rèn luyện, sáng buông thả, dễ bị sa ngã dẫn đến vi phạm và cũng chính sự không đầy đủ, nhiều sơ hở, nhất là về pháp luật, chính sách kinh tế đã gây thêm khó khăn cho việc ngăn chặn, khắc phục những vi phạm đó.
Nguyên nhân chủ quan: Nhiều tổ chức đảng buông lỏng quản lý, coi nhẹ công tác giáo dục phẩm chất đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên trong điều kiện cơ chế thị trường và mở cửa hội nhập. Trước những thay đổi về đời sống kinh tế xã hội quan niệm về đạo đức, lối sống của một số cán bộ, đảng viên có biểu hiện lệch lạc, nhưng chưa được các tổ chức đảng uốn nắn, giáo dục, tự phê bình và phê bình trong sinh hoạt đảng.
Vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở một số địa phương, đơn vị không được phát huy, nguyên tắc tổ chức sinh hoạt đảng bị vi phạm, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình trong Đảng. Do đó, nhiều cán bộ, đảng viên kể cả những người giữ chức vụ cao cũng vi phạm pháp luật; trong ngành bảo vệ pháp luật lại vi phạm pháp luật; nắm, thực hiện chế độ chính sách lại vi phạm chế độ chính sách.
Công tác quản lý nhà nước còn bị buông lỏng và có nhiều sơ hở; hệ thống chính sách, pháp luật về quản lý đầu tư, quản lý sử dụng đất đai chưa đồng bộ, một số chính sách, quy định bất hợp lý, không còn phù hợp với thực tế, chậm được bổ sung, sửa đổi. Việc phân bổ ngân sách cho mua sắm trang thiết bị, vẫn còn tồn tại "cơ chế xin - cho" ở một số địa phương, đơn vị nhưng chậm được khắc phục.
Tự phê bình và phê bình kém, thiếu trung thực, tự giác khi mắc sai lầm, khuyết điểm; phê bình thiếu thẳng thắn, xây dựng.
Đấu tranh phê bình và tự phê bình bị thủ tiêu ở nhiều nơi. Hiện tượng "nhận khuyết điểm tập thể” thì dễ, nhận khuyết điểm cá nhân thì khó đang là vấn đề cần được nghiêm túc xem xét trong toàn Đảng. Tính chiến đấu, tính tự giác, ý thức tự phê bình và phê bình của cán bộ, đảng viên giảm sút nghiêm trọng trở thành một vấn đề bức xúc, thách thức bản chất giai cấp, tính Đảng. Hiện tượng bao che cho nhau, sợ "đụng chạm"cũng đang gia tăng. Vai trò gương mẫu của người đảng viên bị lu mờ. Tình trạng này tuy không phổ biến, nhưng nơi nào cũng có. Đảng viên có vi phạm thì thiếu tự giác, thiếu thành khẩn, thiếu trung thực, còn đảng viên không vi phạm thì e ngại, né tránh đấu tranh, thường các vụ việc xảy ra chủ yếu là do quần chúng hoặc đảng viên ngoài cơ quan đơn vị phát hiện, tố cáo. Người vi phạm sai lầm, khuyết điểm thường lẩn trốn kiểm điểm, có khi gây khó khăn cho cơ quan thanh tra, kiểm tra thậm chí còn tìm cách đối phó. Khi cơ quan thanh tra, kiểm tra có kết luận rõ ràng rồi thì người có khuyết điểm, sai lầm lại tìm cách vận động, tố cáo gây nhiễu, chạy chọt để mong được xử lý kỷ luật ở mức thấp không tương xứng so với mức độ vi phạm.
Công tác tổ chức, cán bộ trong những năm qua còn nhiều bất cập, hạn chế, như thiếu chủ động, thiếu kiên quyết, không kịp thời và vẫn còn tuỳ tiện; không nghiêm túc trong việc đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ, trong xử lý công việc... đã tác động tiêu cực đến đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên. Công tác cán bộ của các cấp ủy đảng còn nhiều thiếu sót, khuyết điểm; việc quy hoạch cán bộ có nơi còn làm một cách hình thức; việc nhận xét, đánh giá, sắp xếp cán bộ có khỉ còn thiếu căn cứ, mang tính chất chủ quan. Biểu hiện của sự yếu kém trong công tác cán bộ là hành chính hóa việc quản lý từ tuyển chọn, đánh giá, sắp xếp bố trí cán bộ, trong nhiều trường hợp vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, để tiêu cực len lỏi vào công tác cán bộ, như tình trạng "chạy chức, chạy quyền, chạy lợi, chạy tội" đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng đã dẫn đến việc đánh giá, sắp xếp không đúng, để lọt các phần tử cơ hội, những kẻ không có đủ phẩm chất, năng lực chui vào bộ máy lãnh đạo các cấp. Có những cán bộ, đảng viên sa sút về phẩm chất đạo đức, lối sống, yếu kém về năng lực, mất uy tín trầm trọng nhưng không kịp thời thay thế.
Sự tu dưỡng, rèn luyện của một bộ phận cán bộ, đảng viên rất yếu kém, cá nhân chủ nghĩa, sống buông thả, thiếu tự giác rèn luyện, tu dưỡng, dễ dàng vấp ngã trước sự cám dỗ của vật chất; dao động trước khó khăn, thách thức, cơ hội... trong khi đó sự giáo dục, quản lý, kiểm tra của các tổ chức đảng, trước hết các chi bộ và cấp ủy lại lỏng lẻo. Một số cán bộ, đảng viên có vi phạm nhưng không được xứ lý nghiêm túc, kịp thời, thậm chí còn được bao che, có khi lại còn tiếp tục được bố trí vào cương vị cao hơn, quan trọng hơn hoặc ở môi trường dễ tiêu cực.
Công tác kiểm tra, giám sát ở nhiều nơi kém hiệu quả, thậm chí bị coi nhẹ, không phát hiện được vi phạm hoặc phát hiện được nhưng không dám đấu tranh ngăn chặn, để sự việc ngày càng phức tạp, gây nhiều ảnh hưởng xấu. Các vi phạm của cán bộ, đảng viên thường không được phát hiện từ cơ sở, từ sinh hoạt đảng. Vai trò giám sát của các tổ chức chính trị - xã hội, của người lao động chưa được phát huy đầy đủ; việc công khai, minh bạch chưa được thực hiện tốt ở các cấp, các ngành, trong từng cơ quan, đơn vị.
2. Một số kinh nghiệm bước đầu
Một là, coi trọng nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên về vị trí, vai trò ý nghĩa của nguyên tắc và việc thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và phát luật.
Việc tuyên truyền, quán triệt phải tạo được sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức và hành động trong toàn Đảng đối với nguyên tắc này. Nâng cao ý thức tổ chức kỷ luật, tự giác chấp hành kỷ luật đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tính tiên phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, trước hết là người đứng đầu cấp ủy nhận thức đầy đủ, đích thân lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quan tâm sơ kết, tổng kết việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó coi trọng nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Ở đâu cấp ủy, tổ chức thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, thì ở đó đoàn kết nội bộ được tăng cường, nguyên tắc tập trung dân chủ được phát huy, năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng được nâng cao, tổ chức đảng và đảng viên ít vi phạm kỷ luật của Đảng, hạn chế đến mức thấp nhất việc vi phạm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Hai tà, cấp ủy các cấp tích cực, chủ động thực hiện nguyên tắc trên, đồng thời lãnh đạo các tổ chức đảng và đảng viên gương mẫu thực hiện các nội dung, yêu cầu của nguyên tắc Đảng hoạt động khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Chỉ đạo xem xét, giải quyết các vụ việc bức xúc, nổi cộm tại địa phương, đơn vị mình; xử lý nghiêm minh theo pháp luật và Điều lệ Đảng những cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thể chế hóa và tổ chức thực hiện đường lối, quan điểm, chủ trương, nghị quyết chỉ thị và các quy định của Đảng ở những nơi thường dễ xảy ra vi phạm, nơi có dấu hiệu ban hành chính sách trái với nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước và bao che sai phạm của cấp dưới.
Ba là, các cấp ủy từ Trung ương đến cơ sở lãnh đạo công tác kiểm tra, giám sát bằng việc ban hành nghị quyết, chỉ thị, quy chế, quy định cụ thể để tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra hoàn thành nhiệm vụ. Chỉ đạo việc xử lý kỷ luật phải nghiêm minh, chính xác, kịp thời đối với mọi tổ chức đảng, đảng viên vi phạm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật để giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Ủy ban kiểm tra các cấp thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định; tích cực, chủ động tham mưu, giúp cấp ủy và thực hiện nhiệm vụ do cấp ủy giao; nâng cao ý thức, trách nhiệm và bản lĩnh trong thực hiện công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng. Thực hiện tốt quy chế phối hợp trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, nhất là với tổ chức đảng ớ các cơ quan bảo vệ pháp luật để việc giải quyết những vụ việc có nội dung phức tạp, liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, bảo đảm khách quan, chính xác, kịp thời và hiệu quả.
Đồng thời, tiếp tục kiện toàn tổ chức bộ máy cơ quan ủy ban kiểm tra tương xứng với chức năng, nhiệm vụ được giao; xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng; đổi mới cơ chế quản lý và có chính sách, chế độ đặc thù cho cán bộ kiểm tra.
3. Những vấn đề dặt ra cần giải quyết để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật
Không phải trong vài năm gần đây Đảng ta mới triển khai thực hiện nguyên tắc này. Từ nhiều năm trước đây, tuy chưa gọi vấn đề nêu trên là nguyên tắc hoạt động của Đảng, song những điểm cơ bản của vấn đề đó đã được Đảng ta chỉ ra và quan tâm chỉ đạo thực hiện dạt được kết quả quan trọng, góp phần phát huy và nâng cao vai trò lãnh đạo, uy tín chính trị, vị thế cầm quyền của Đảng, phát huy vai trò của Nhà nước, thúc đẩy việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng. Quá trình thực hiện những điểm cơ bản của nguyên tắc và nhất là việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật từ Đại hội X đến nay đặt ra nhiều vấn đề sau đây phải giải quyết để thực hiện nguyên tắc này đạt kết quả tốt hơn:
Thứ nhất, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật trong điều kiện Đảng ta đang tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến dấu của Đảng, Nhà nước ta đang trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân nên có thể có những điểm trong đường lối, chủ trương của Đảng chưa hoàn thiện, và cũng có những điểm trong một số văn bản pháp luật chưa hợp lý cần có giải pháp giải quyết những trường hợp này.
Chức năng của Đảng là lãnh đạo cách mạng, Đảng lãnh đạo tức là Đảng đề ra đường lối, chủ trương, chính sách, lãnh đạo tổ chức thực hiện và tiến hành kiểm tra, giám sát. Sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, tức là Đảng đề ra đường lối chính trị, chủ trương chính sách lớn, lãnh đạo, chỉ đạo Nhà nước thể chế hóa và thực hiện. Đảng không làm thay những công việc thuộc chức năng của Nhà nước, không can thiệp quá sâu vào công việc cụ thể của Nhà nước. Như vậy, các quyết định chính trị (đường lối, chủ trương, chính sách) của Đảng là nhân tố đặc biệt quan trọng, bao trùm, chi phối chất lượng, hiệu quả của các hoạt động tiếp theo (thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách và tổ chức thực hiện). Điều này chỉ có thể có được khi Đảng có năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu rất cao. Có được các đường lối, chủ trương, chính sách hoàn toàn đúng và Đảng có năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu rất cao là yêu cầu tối cao đối với Đảng. Hiện tại Đảng đang trong quá trình tự đổi mới, tự chỉnh đốn, sẽ diễn ra sự đấu tranh quyết liệt giữa cái cũ và cái mới, cái tiến bộ và cái lạc hậu, nhiều vấn đề mới cũng chưa có thể kết luận một cách chính xác tính đúng đắn của nó, năng lực lãnh đạo của Đảng cũng đang trong quá trình được nâng lên từng bước... Điều này tác động không nhỏ đến sự đúng đắn của đường lối, chủ trương, chính sách, sẽ có những điểm, những khía cạnh chưa thực sự hợp lý. Nhà nước pháp quyền ở nước ta đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện, năng lực thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật chưa thể đạt được yêu cầu mong muốn, hệ thống pháp luật chưa thể đồng bộ và khó tránh khỏi những sơ hở, thiếu sót. Trong khi đó, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, tức là hoạt động của tổ chức đảng, đảng viên không được vượt quá những quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đây là quy định nghiêm ngặt. Tức là những hoạt động ấy không được vượt qua một số quy định chưa hợp lý của pháp luật. Điều này sẽ cản trở sự phát triển sáng tạo, cản trở việc thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Vấn đề đặt ra phải giải quyết là trong những trường hợp đó phải giải quyết thế nào và bằng cách nào. Trong những trường hợp như thế, phải có những quy định cả của Đảng, cả của Nhà nước để xử lý ổn thỏa hợp lý.
Thứ hai, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật liên quan mật thiết với mối quan hệ giữa quyền lực của Đảng và quyền lực của Nhà nước. Bởi vậy, để nguyên tắc này được thực hiện tốt, đặt ra yêu cầu phải giải quyết tốt mối quan hệ đó trong thực tiễn.
Đảng là người lãnh đạo hệ thống chính trị và xã hội, Đảng có quyền lực, đó là quyền lực chính trị, đây là loại quyền lực rất lớn trong điều kiện Đảng cầm quyền. Nhà nước có quyền lực của Nhà nước. Hai loại quyền lực này quan hệ mật thiết với nhau. Trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền trong nền chính trị nhất nguyên ở nước ta, mối quan hệ giữa hai loại quyền lực này lại càng chặt chẽ và có nhiều điểm thống nhất. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực thi hai loại quyền lực này xuất hiện khá nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết, nhất là khi triển khai thực hiện mạnh mẽ nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Với tư cách là người lãnh đạo chính trị đối với hệ thống chính trị và xã hội, Đảng sử dụng quyền lực chính trị của mình đảm bảo cho mọi hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị và xã hội theo đúng đường lối, chủ trương, quan điểm chính trị của Đảng. Nhà nước là đối tượng lãnh đạo của Đảng, chịu sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng. Với tư cách là một tổ chức trong xã hội, đảng viên là một công dân của Nhà nước, các tổ chức đảng và đảng viên có nghĩa vụ và trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, pháp luật và chịu sự quản lý của Nhà nước. Với tư cách là người chủ quản lý, Nhà nước sử dụng quyền lực của mình trong quản lý mọi hoạt động, mọi tổ chức, mọi người dán trong xã hội. Với tư cách là lực lượng lãnh đạo xã hội, trên thực tế nhiều tổ chức đảng, đảng viên, nhất là cấp ủy địa phương, đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt và cán bộ có quyền lực thường thiên về sử dụng quyền lực chính trị, xem nhẹ quyền lực nhà nước, can thiệp quá sâu, thậm chí chỉ đạo một cách quá chi tiết chính quyền địa phương trong quá trình chính quyền thực thi quyền lực của chính quyền. Vấn đề đặt ra cần giải quyết để tạo điều kiện thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là phải có các quy định của Đảng và thể chế hóa mối quan hệ giữa hai loại quyền lực nêu trên.
Thứ ba, trong quá trình hoạt động của các cấp ủy tổ chức đảng và cán bộ chính quyền các cấp đã xuất hiện không ít biểu hiện chính quyền xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng làm giảm uy tín, vị thế cầm quyền của Đảng. Vấn đề này cần được quan tâm giải quyết cùng với việc cụ thể hóa chi tiết điều 4 Hiến pháp về vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng trên cơ sở pháp luật hiện hành khi triển khai mạnh mẽ việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Thực hiện nguyên tắc này không ngoài mục đích cao cả là nâng cao vai trò lãnh đạo, uy tín chính trị và vị thế cầm quyền của Đảng, phát huy vai trò của Nhà nước và thực hiện thắng lợi nhiệm vụ của cách mạng. Mọi biểu hiện không đúng, làm giảm vai trò, uy tín và vị thế đó của Đảng đều trái với quan điểm, chủ trương của Đảng, cần được phê phán kịch liệt và lên án mạnh mẽ. Thực hiện nguyên tắc này sẽ có không ít người lợi dụng để khơi dậy và tập trung vào những sai sót của một số cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên trong thời gian qua về các hoạt động vi phạm pháp luật, làm trái quy định của pháp luật… để tuyên truyền, kích động làm giảm uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng. Vấn đề đặt ra cần quan tâm giải quyết là các cấp ủy tổ chức đảng, các cơ quan chức năng cần chủ động, tích cực ngăn chặn, loại trừ những hoạt động này.
Một vấn đề đặt ra cần được quan tâm giải quyết để thực hiện tết nguyên tắc này là cụ thề hóa chi tiết điều 4 Hiến pháp về vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng nêu trên
Thứ tư. sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp và hoạt động của các cơ quan tư pháp đặt ra một số vấn đề cần giải quyết để vừa đảm bảo tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và phát huy vai trò của các cơ quan tư pháp trong hoạt động của các cơ quan này.
Về nguyên tắc, các cơ quan tư pháp phải chịu sự lãnh đạo của Đảng. Sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động công tố và xét xử của các cơ quan tư pháp nhằm đảm bảo cho tòa án và các cơ quan tư pháp xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đảng lãnh đạo hoạt động của các cơ quan này, song Đảng không làm thay, không can thiệp vào công việc của các cơ quan đó, nhất là công việc xét xử án. Tuy nhiên, các cơ quan tư pháp lại hoạt động theo nguyên tắc "độc lập", tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, mà Hiến pháp và pháp luật lại là sự thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng. Vấn đề đặt ra là phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp và hoạt động "độc lập" của các cơ quan này. Ở địa phương, đó là mối quan hệ giữa sự lãnh dạo của cấp ủy và hoạt động "độc lập", của các cơ quan tư pháp địa phương. Trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan này, một vấn đề rất quan trọng là Đảng chỉ đạo, hoặc cho ý kiến về việc giải quyết, xử lý tội phạm liên quan đến cán bộ, đảng viên là cán bộ cấp cao và các vụ án nghiêm trọng, phức tạp về chính trị, kinh tế, xã hội.... Trên thực tế tiến hành công việc này dễ xảy ra tình trạng lấn sân, bao biện làm thay của cấp ủy đối với các cơ quan tư pháp. Nhiều trường hợp cấp ủy chỉ đạo, cho ý kiến xử lý đúng đắn, thỏa đáng đã có tác dụng rất to lớn, vừa giữ nghiêm pháp luật, vừa không gây nên những phức tạp trong xã hội. Tuy nhiên, đã có không ít cán bộ có trách nhiệm, có quyền lực lợi dụng danh nghĩa lãnh đạo, lợi dụng sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy can thiệp vào quá trình điều tra, xét xứ các sai phạm vượt quá những quy định của pháp luật. Vì thế đã có nhiều trường hợp xử nhẹ so với mức độ sai phạm; cũng có một vài trường hợp xử nặng hơn so với mức độ sai phạm. Cán bộ có trách nhiệm, quyền lực lợi dụng việc chỉ đạo, cho ý kiến của cấp ủy đối với các hoạt động của các cơ quan tư pháp thường được thể hiện ở việc những người đó tổ chức các cuộc họp liên ngành nội chính để bàn và thông qua "định hướng giải quyết" các sai phạm của những đảng viên là cán bộ cấp cao. Và đương nhiên là các cơ quan tư pháp địa phương phải chấp hành sự chỉ đạo, sự cho ý kiến, sự "định hướng giải quyết" như thế của cấp ủy, trong đó có không ít sự chỉ đạo, sự định hướng vượt qua khuôn khổ pháp luật, nếu họ muốn cơ quan và bản thân họ tồn tại. Vì vậy, nếu không có chủ trương, giải pháp hữu hiệu giải quyết tốt tình hình này thì việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật khó đạt kết quả mong muốn.
Thứ năm, để thực hiện có kết quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật một vấn đề đặc biệt quan trọng đặt ra cần giải quyết tốt là sự giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Trên thực tế, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội đã thực hiện việc giám sát, đóng góp ý kiến vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động của cán bộ, đảng viên từ nhiều năm trước đây. Đến Đại hội X, Đảng ta đã phát triển, nâng lên tầm cao về vấn đề này, chính thức khẳng định chức năng, giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thề chính trị - xã hội đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức. Khi triển khai thực hiện mạnh mẽ nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, trong điều kiện Đảng duy nhất cầm quyền thực hiện chế độ nhất nguyên chính trị, thì ngoài Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội, không tồn tại một tổ chức, một lực lượng chính trị nào đủ tư cách và được nhân dân thừa nhận có thể giám sát phản biện xã hội theo hướng tích cực đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên và công chức.
Tuy nhiên, hoạt động này của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể còn yếu, thậm chí ở nhiều nơi rất yếu. Chức năng này của Mặt trận và các đoàn thể chưa được thực hiện nhiều, chưa được đảm bảo về mặt pháp lý, chưa có nội dung và cơ chế thực hiện; quyền hạn, trách nhiệm của Mặt trận và đoàn thể đối với công việc này còn nhiều điểm chưa được làm rõ; trình độ, năng lực của phần lớn tổ chức Mặt trận, đoàn thể còn rất bất cập so với yêu cầu thực hiện chức năng giám sát, phản biện xã hội. Không ít cấp ủy đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên chưa quan tâm đến việc giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận và các đoàn thể, chưa tạo điều kiện thuận lợi để các tổ chức này thực hiện việc giám sát, phản biện xã hội, hoặc đôi khi buộc phải triển khai công việc này, thì các hoạt động đó còn mang tính gò ép, hình thức.
Những vấn đề từ thực tiễn đặt ra nêu trên xung quanh việc giám sát, phản biện xã hội đối với hoạt động của Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên và công chức cần sớm được giải quyết từng bước có kết quả thì việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật mới có khả năng đạt kết quả.
-----
Chú thích
1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.92.
2) Xem: http://www.tapchicongsan.org.vn/details.asp?Object=5&News_id=4153116.
Chương III PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỐT NGUYÊN TẮC ĐẢNG HOẠT ĐỘNG TRONG KHUÔN KHỔ HIẾN PHÁP, PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
I. DỰ BÁO NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN NGUYÊN TẮC
1. Dự báo những thuận lợi và khó khăn tác động đến việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật trong những năm tới
a) Những nhân tố thuận lợi
- Quyết tâm chính trị của Đảng về thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đã được thể hiện trong Điều lệ Đảng. Đây là cơ sở pháp lý trong Đảng buộc các cấp ủy, tổ chức đảng và mọi cán bộ, đảng viên phải chấp hành vô điều kiện.
Vấn đề Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện từ nhiều năm trước đây, đã được nhiều cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên tự giác chấp hành đạt kết quả. Tuy nhiên, vẫn còn không ít cấp ủy, cán bộ, đảng viên chưa thực hiện tốt điều này. Những cấp ủy, cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật đến mức phải xử lý theo pháp luật đã được xử lý, song những vi phạm chưa đến mức phải xử lý theo pháp luật lại chưa có cơ sở để xử lý về kỷ luật đáng, những trường hợp này lại khá nhiều.
Việc khẳng định điều nêu trên là một nguyên tắc hoạt động của Đảng và được ghi vào Điều lệ Đảng có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa rất lớn đối với tình trạng coi thường pháp luật, đứng trên và đứng ngoài pháp luật của các cấp ủy tổ chức đảng và của cán bộ, đảng viên. Những vi phạm dù nhỏ cũng có thể xử lý bằng các biện pháp thích hợp ở những mức độ khác nhau về vi phạm Điều lệ Đảng. Việc khẳng định và ghi vào Điều lệ Đảng nguyên tắc nêu trên thể hiện quyết tâm chính trị cao của Đảng đối với việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Đây là thuận lợi căn bản để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc này.
- Những kết quả và kinh nghiệm bước đầu về thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật trong những năm qua có ý nghĩa và tác dụng không nhỏ đối với việc thực hiện có kết quả nguyên tắc này trong những năm tới. Đây là "hành trang" rất quan trọng trong quá trình triển khai thực hiện nguyên tắc này của các cấp ủy cán bộ, đảng viên.
- Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân sẽ được triển khai mạnh mẽ trong những năm tới, và sẽ đạt được kết quả lớn hơn. Điều này do đòi hỏi bức bách của thực tiễn là: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta trong những năm tới sẽ phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi rất cao ở sự quản lý của Nhà nước, và chỉ có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng mới có thể quản lý tốt sự phát triển đó và định hướng nền kinh tế đi theo hướng xã hội chủ nghĩa. Thành tựu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân trong những năm tới sẽ buộc mọi tổ chức trong xã hội, kể cả các tổ chức đảng, buộc mọi công dân, kể cả đảng viên phải hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật.
- Các cấp đảng bộ đã xác định đúng đắn nhiệm vụ chính trị của mình, trong đó có các nhiệm vụ và giải pháp thực hiện nghiêm chỉnh các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó có việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Qua Đại hội nhiệm kỳ, cấp ủy các cấp đã dược kiện toàn, đổi mới. Đây là những nhân tố mới, quyết định việc cấp ủy, đảng viên thực hiện có hiệu quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
- Trong những năm tới, nhất là sau Đại hội XI của Đảng, các chủ trương và giải pháp mới, khả thi được Đại hội thông qua và quyết định, trong đó có các chủ trương, giải pháp về xây dựng Đảng, đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Nguyên tắc này sẽ có điều kiện để được thực hiện tốt hơn. Cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" tiếp tục được triển khai mạnh mẽ hơn, thiết thực hơn, trong đó việc học tập làm theo tấm gương chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ có tác dụng to lớn đối với việc thực hiện có kết quả nguyên tắc này.
b) Những nhân tố gây khó khăn, phức tạp
- Nhận thức về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật của nhiều cấp ủy nhất là cấp ủy cơ sở còn nhiều hạn chế, bất cập, trong khi đó việc giáo dục nâng cao nhận thức cho các cấp ủy đó về nguyên tắc này chưa thể tiến hành nhanh và đồng thời, nên việc thực hiện nguyên tắc của các cấp ủy còn nhiều khó khăn. Trình độ hiểu biết về Hiến pháp, pháp luật của nhiều đảng viên còn hạn chế, trong khi đó việc tổ chức giáo dục nâng cao trình độ hiểu biết về Hiến pháp, pháp luật cho đảng viên còn gặp nhiều khó khăn. Điều này hạn chế không nhỏ hoạt động của đảng viên trong thực hiện nguyên tắc này.
- Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân đang trong quá trình xây dựng nên hệ thống pháp luật chưa thể đồng bộ, và sẽ có những kẽ hở trong một số văn bản pháp luật. Điều này sẽ bị một số đảng viên có tính đảng không cao lợi dụng, bằng những hoạt động tinh vi để mưu lợi ích cá nhân, cản trở nhất định việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
- Phong cách làm việc thủ công, tuỳ tiện với cách ứng xử "phép vua thua lệ làng" còn khá nặng nề trong nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là ở cơ sở nông thôn. Điều này dẫn đến sự tuỳ tiện trong chấp hành pháp luật, gây khó khăn đáng kể cho việc thực hiện nguyên tắc.
Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật là một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa một bên là tư tưởng bảo thủ, lạc hậu và những biểu hiện của tư tưởng "công thần" còn tồn tại ở một số ít đảng viên; việc đụng chạm đến "lợi ích ngầm" của một số cán bộ, đảng viên; tư tưởng cho rằng thực hiện nguyên tắc này sẽ làm giảm vai trò lãnh đạo, vị thế của Đảng với một bên là tư tưởng tiến bộ, đổi mới. Cuộc đấu tranh này sẽ gay go, phức tạp, chưa thể kết thúc và giành thắng lợi trong một thời gian ngắn, sẽ gây khó khăn không nhỏ cho việc thực hiện nguyên tắc.
2. Quan điểm chỉ đạo
Thứ nhất, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay phải góp phần phục vụ đắc lực việc thực hiện thắng lợi cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực, vai trò lãnh đạo của Đảng và việc thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phát huy mạnh mẽ vai trò quản lý của Nhà nước đối với mọi hoạt động của đời sống xã hội.
Thứ hai, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật ở nước ta trong điều kiện hiện nay phải trên cơ sở trung thành với học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng Cộng sản, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với điều kiện nước ta hiện nay.
Thứ ba, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật phải đặt trong tổng thể việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác của Đảng, thành một thể thống nhất, không được tuyệt đối hóa việc thực hiện nguyên tắc này, xem nhẹ, hoặc bỏ qua việc thực hiện các nguyên tắc khác.
Thứ tư, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật là vấn đề mới phải có lộ trình, bước đi vững chắc, phải tăng cường sự chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra của cấp ủy cấp trên, nhất là cấp ủy cấp trên trực tiếp của các tổ chức đảng.
Thứ năm, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật là trách nhiệm của các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên, song, nhất là các cấp ủy, bí thư cấp ủy, đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt của hệ thống chính trị các cấp, sự tự giác và gương mẫu của cán bộ đảng viên dưới sự tham gia giám sát của các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân.
Thứ sáu, thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật cần được tiến hành đồng thời với việc đấu tranh mạnh mẽ với những nhận thức lệch lạc, những biểu hiện không đồng tình với việc thực hiện nguyên tắc và cách làm hình thức, chiếu lệ.
II. NHỮNG GIẢI PHÁP CHỦ YẾU
1. Tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho cấp ủy các cấp và cán bộ, đảng viên về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là một nguyên tắc hoạt động của Đảng, được Đảng ta khẳng định và ghi vào Điều lệ Đảng. Để thực hiện tốt nguyên tắc này, trước hết cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, đảng viên phải nhận thức sâu sắc về nguyên tắc, từ đó xác định đúng trách nhiệm thực hiện nguyên tắc. Bởi vì, chỉ có hoạt động đúng đến, có hiệu quả khi thực hiện một công việc nào đó, khi có nhận thức đúng về công việc phải làm. Thực hiện tốt nguyên tắc này, vai trò và trách nhiệm của cấp ủy các cấp và đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt, người đứng đầu cấp ủy các cấp là rất lớn, và có tính quyết định; đội ngũ đảng viên là người trực tiếp thực hiện nguyên tắc dưới sự lãnh đạo của cấp ủy. Bởi vậy, cần tập trung nâng cao nhận thức, trách nhiệm cửa những đối tượng này. Cần tập trung vào những vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, tuyên truyền, giáo dục cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên về những vấn đề chủ yếu của nguyên tắc.
Cần tuyên truyền cho những đối tượng này về nội dung của nguyên tắc; vị trí, vai trò, yêu cầu của nguyên tắc; trách nhiệm của mỗi cán bộ đảng viên trong việc thực hiện đúng nguyên tắc, trong đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực của tổ chức đảng, đảng viên khi thực hiện nguyên tắc này; những vấn đề đặt ra trong thực hiện nguyên tắc Đồng thời, trong tuyên truyền, giáo dục cần phải chỉ rõ những mặt tích cực và hạn chế trong thực hiện nguyên tắc của các cấp ủy để mỗi cán bộ, đảng viên hiểu sâu sắc thêm về nội dung của nguyên tắc, nhận thức đầy đủ bản chất của nguyên tắc. Từ đó, mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là những đảng viên có chức vụ tránh được những sai lầm trong hoạt đọng thực tiễn.
Trong tuyên truyền, giáo dục cần hệ thống được tư tưởng chỉ đạo, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ giải pháp tổ chức thực hiện đối với các tổ chức đảng ở mỗi cấp trong các nghị quyết, chỉ thị của Trung ương, quy chế làm việc của tổ chức đảng cũng như trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước. Làm rõ những vấn đề tổ chức đảng, đảng viên được làm và không được làm. Đối với từng nhóm cán bộ, đảng viên công tác trong những ngành, lĩnh vực cụ thể cần chú ý tuyên truyền sâu về pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực họ phụ trách, chú trọng đến những tình huống có vấn đề để cán bộ, đảng viên vận dụng phù hợp và tránh được những vi phạm. Chỉ rõ và đấu tranh với những tư tưởng, hành vi lách luật, vi phạm pháp luật giúp họ phân biệt rõ đúng sai, cảnh giác với những vi phạm pháp luật được che giấu một cách tinh vi. Giáo dục cho cấp ủy, cán bộ, đảng viên lý tưởng cộng sản; nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa sống, lao động và học tập theo pháp luật; khơi dậy truyền thống yêu nước, yêu chế độ, yêu ngành, yêu nghề, yêu quê hương, đất nước, góp phần giúp cán bộ, đảng viên trau dồi tư tưởng, đạo đức, lối sống trong sạch; xây dựng bản lĩnh chính trị vững vàng, dám đối mặt với khó khăn, gian khổ, đối mặt với những cám dỗ của đồng tiền, của chức vị, của những dục vọng tầm thường... Đó là nguồn gốc của tệ nạn xã hội, của thoái hóa, biến chất. Từ đó, không để xảy ra tình trạng tổ chức đảng, trước hết là cấp ủy, ban thường vụ các cấp bao biện làm thay chính quyền, đoàn thể nhân dân hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo của mình. Thực tiễn xử lý kỷ luật tập thể Thường trực Tỉnh ủy Ninh Bình tháng 10- 2010 là một ví dụ sinh động về cấp ủy bao biện làm thay, vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nguyên nhân của sự việc này có nhiều, trong đó phải kể đến ý thức, nhận thức cửa một số cán bộ về nội dung, yêu cầu của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật chưa cao.
Thứ hai, tiếp tục đổi mới biện pháp, cách thức phổ biến, tuyên truyền, giáo dục: đa dạng hóa các hình thức như thông qua sinh hoạt của tổ chức đảng hàng tháng, sinh hoạt chuyên đề; sinh hoạt sơ kết, tổng kết công tác của tổ chức đảng hàng quý, 6 tháng, hàng năm, giữa nhiệm kỳ, hết nhiệm kỳ..., hoặc kết hợp, lồng ghép với các nội dung yêu cầu của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đến Đảng, hoặc kết hợp với các sinh hoạt học tập nghị quyết, chỉ thị của cấp trên; với các hoạt động lớn của chính quyền (bầu cử Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp), đoàn thể nhân dân (đại hội, đóng góp ý kiến xây dựng chính quyền, xây dựng Đảng...), đặc biệt, trong các đợt tuyên truyền, phổ biến những bộ luật mới. Trong đó, cần chú ý đến những quy phạm, chế định liên quan đến vị trí, vai trò, phương thức lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ giữa các tổ chức của hệ thống chính trị ở mỗi cấp.
Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, phát triển hệ thống truyền hình, truyền thanh, báo, tạp chí, bản tin của cơ quan đảng, nhà nước nhằm mở rộng các diễn đàn xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh;
Thông qua hoạt động tuyên truyền, cổ động, văn hóa, văn nghệ, xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, xây dựng môi trường làm việc văn minh, xây dựng gương điển hình, phê phán, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực.. . nhằm tác động vào nhận thức và tình cảm cán bộ, đảng viên, để họ tự giác sống và làm việc trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
Để thực hiện tốt việc này, cần huy động nhiều nguồn lực trong các cơ quan chuyên trách công tác tư tưởng của hệ thống chính trị và các lực lượng xã hội tham gia xây dựng chương trình, kế hoạch; rà soát, bổ sung, đổi mới nội dung tuyên truyền, giáo dục gắn lý luận với thực tiễn; nghiên cứu triển khai phương pháp tuyên truyền, giáo dục tích cực nhằm mang lại hiệu quả cao nhất.
Từ Đại hội X của Đảng, Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật chính thức được quy định thành một trong 5 nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, được ghi trong Điều lệ đảng. Điều đó đánh dấu sự phát triển trong nhận thức, đổi mới về tư duy lý luận của Đảng. Đồng thời, khẳng đỉnh tầm quan trọng của nguyên tắc này. Tuy nhiên, việc triển khai học tập các nội dung cơ bản của Điều lệ Đảng sau mỗi kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng chưa được đầu tư thỏa đáng, nhất là những nội dung mới như nguyên tắc nêu trên. Do đó, việc đổi mới hình thức tuyên truyền về nội dung, vị trí, vai trò của nguyên tắc, cần sự quan tâm của các cấp ủy đối với việc quán triệt, học tập Điều lệ Đảng và đòi hỏi sự gương mẫu của những đảng viên có chức, có quyền. Xuất phát từ tầm quan trọng của nguyên tắc này trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta; từ thực trạng thực hiện nguyên tắc này trong những năm gần đây, cần có những buổi tọa đàm, hội thảo, cuộc thi tìm hiểu về nguyên tắc nhằm nâng cao nhận thức, sự quan tâm của mỗi cán bộ, đảng viên trong việc hiểu và thực hiện nguyên tắc này trong thực tiễn.
Gần đây, các tổ chức đảng thực hiện khá đều đặn các buổi nói chuyện thời sự trong nước và quốc tế, thông tin tình hình công tác đảng cho cán bộ, đảng viên. Trong các buổi thông tin này, tỷ lệ đảng viên tham gia khá cao, do đó, nên có thêm những thông tin về việc chấp hành nguyên tắc Đảng hoạt động khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, về những vụ việc trong thực tiễn mà tổ chức đảng, đảng viên dễ sai phạm. Từ đó, gợi mở những biện pháp phòng ngừa vi phạm nguyên tắc trong tổ chức và hoạt động của Đảng từ Trung ương đến cơ sở.
Tổ chức sinh hoạt cấp ủy, sinh hoạt chi bộ cần gắn nội dung sinh hoạt với việc tự phê bình và phê bình việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng và Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ở mọi đảng viên. Qua tự phê bình và phê bình cần biểu dương, khen thưởng cán bộ, đảng viên chấp hành tốt nguyên tắc; nhắc nhở, phê bình, hoặc đề xuất biện pháp xử lý nghiêm minh những cán bộ, đảng viên vi phạm nguyên tắc này.
Đổi mới nội dung, cách thức tuyên truyền về những vần đề chủ yếu của nguyên tắc để đoàn viên, hội viên của các đoàn thể quần chúng và đông đảo nhân dân nhận thức và thực hiện việc giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên từ cơ sở. Cấp ủy cùng cấp cần quan tâm lãnh đạo các đoàn thể nhân dân không ngừng đổi mới cách thức, biện pháp tổ chức sinh hoạt... Qua đó, động viên, khuyến khích quần chúng phát huy dân chủ, tinh thần trách nhiệm trong việc góp ý xây dựng Đảng, nhất là góp ý về những biểu hiện vi phạm nguyên tắc của tổ chức đảng và đảng viên. Từ đó, có biện pháp giáo dục, phòng ngừa vi phạm trong thời gian tiếp theo, tránh để xảy ra những vi phạm nghiêm trọng mới bắt tay vào kiểm điểm, xử lý.
Cần phát huy vai trò tiền phong, gương mẫu của cấp ủy, cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong thực hiện sống và làm việc theo khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Cần lấy tấm gương của cán bộ lãnh đạo, quản lý để tuyên truyền, thuyết phục cấp dưới, đây là bài học sống động nhất, thuyết phục nhất về việc chấp hành nghiêm chỉnh quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước. Tấm gương tiên phong, gương mẫu của cán bộ đảng viên cần được thể hiện trên tất cả các phương diện hoạt động của người cán bộ lãnh đạo quản lý: từ lời nói đến việc làm, từ suy nghĩ đến hành động, từ việc nhỏ đến việc lớn, từ quan hệ trong cơ quan, đơn vị, trong gia đình đến ngoài xã hội, từ quan hệ đồng chí, đồng nghiệp đến quan hệ với quần chúng, từ quan hệ làm việc giữa tổ chức đảng đến quan hệ đảng với chính quyền, Mặt trận, đoàn thể nhân dân... Tất cả đều đặt những hoạt động ấy trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
Thứ ba, tăng cường công tác kiểm tra phát hiện, xử lý nghiêm khắc các tổ chức đảng không thực hiện tốt nhiệm vụ tuyên truyền, giáo dục cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
Tiến hành các hoạt động tư tưởng là một trong năm nhiệm vụ cơ bản của tổ chức đảng. Nếu cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật thì ngoài việc xác định trách nhiệm của cán bộ, đảng viên đó, cần kiểm tra, kết luận và xác định trách nhiệm của tổ chức đảng nơi quản lý cán bộ, đảng viên đối với việc tuyên truyền, giáo dục họ về nguyên tắc này. Qua đó, cần xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng về việc học tập, quán triệt nguyên tắc và việc tuyên truyền, giáo dục của cấp ủy đối với cán bộ, đảng viên về nguyên tắc này.
2. Thực hiện mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị và đường lối đúng đắn, là cơ sở để Nhà nước luật hóa một cách chính xác, xây dựng đội ngũ cán hộ, đảng viên có chất lượng trực tiếp thực hiện có kết quả nguyên tắc
Để thực hiện có hiệu quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, trước hết Hiến pháp và pháp luật phải đúng đắn, chính xác. Hiến pháp và pháp luật là sự thể chế hóa Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng, phụ thuộc vào sự đúng đắn của Cương lĩnh và đường lối. Bởi vậy, Đảng phải đề ra được Cương lĩnh chính trị, đường lối đúng đắn. Điều này lại phụ thuộc và được quyết định bởi chất lượng công tác xây dựng Đảng và hiện nay, đó là chất lượng thực hiện cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng do Đảng phát động, toàn Đảng, toàn dân đang ra sức thực hiện. Thực hiện tốt cuộc vận động này, đảm bảo cho Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, đủ khả năng đề ra Cương lĩnh chính trị và đường lối đúng. Đó là cơ sở, là nhân tố quyết định để Nhà nước thể chế hóa một cách chính xác; Đảng có đủ năng lực lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa chính xác Cương lĩnh, đường lối do Đảng đề ra. Thực hiện tốt cuộc vận động này, các cấp ủy, đội ngũ cán bộ, đảng viên sẽ có chất lượng tốt, đó là chủ thể, lực lượng chủ yếu thực hiện có hiệu quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Thực hiện tốt cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng nhằm đạt được những điều nêu trên, cần coi trọng và thực hiện tốt những nội dung chủ yếu sau đây:
Một là, nâng cao bản lĩnh chính trị và trình độ trí tuệ của Đảng.
Đây là vấn đề quan trọng hàng đầu để Đảng xây dựng được Cương lĩnh chính trị và đường lối đúng, đảm bảo cho Cương lĩnh, đường lối được xây dựng trên cơ sở chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sự kiên định mục tiêu, lý tưởng của Đảng, nguyện vọng chính đáng của nhân dân, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Chỉ có bản lĩnh chính trị vững vàng và có trình độ trí tuệ Đảng mới có đủ khả năng lãnh đạo Nhà nước thể chế hóa một cách chính xác Cương lĩnh, đường lối của mình. Đồng thời, đảm bảo cho Đảng đề ra được những nghị quyết, chủ trương, giải pháp khả thi trong từng khoảng thời gian, không mâu thuẫn với Hiến pháp và pháp luật đã được ban hành, nhằm từng bước thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, đường lối đã đề ra.
Trong xây dựng Cương lĩnh, đường lối, chủ trương, giải pháp, Đảng cần tránh bảo thủ, trì trệ, đồng thời cần thận trọng, không nóng vội chủ quan, cần làm tốt công tác dự báo, chú ý đến những vấn đề mới nảy sinh để kịp thời nghiên cứu, tổng kết, bổ sung, phát triển Cương lĩnh, đường lối chủ trương của Đảng. Những chủ trương mới cần được chỉ đạo luật hóa nhanh chóng để đưa vào cuộc sống, tránh tình trạng "thông báo", "ý kiến truyền đạt của cấp ủy, của người đứng đầu cơ quan đảng" thay cho quy định của pháp luật. Ví dụ, khi kéo dài tuổi công tác của cán bộ nữ đang giữ chức vụ thứ trưởng, nếu Trưng ương có chủ trương, cần chỉ đạo sửa đổi, bổ sung luật lao động, luật cán bộ, công chức, sau đó tổ chức thực hiện theo luật. Hiện nay, do mới chỉ là thông báo của Ban Bí thư nên việc vận dụng đang có biểu hiện tùy tiện, thiếu thống nhất, gây bức xúc trong dư luận.
Hai là, tăng cường công tác xây dựng Đảng, thực sự coi xây đựng Đảng là nhiệm vụ then chốt ở tất cả các cấp các ngành, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng tốt, là những tấm gương về chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
Chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh là điều kiện rất cần thiết và là điều kiện tiên quyết không chỉ để giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa mà còn là điều kiện quan trọng để giữ vừng vai trò lãnh đạo của Đảng, giữ vững và tăng cường uy tín, trách nhiệm của Đảng đối với nhân dân. Toàn Đảng phải quán triệt đầy đủ quan điểm xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài, hết lòng, hết sức phục vụ Tổ quốc, phụng sự nhân dân, có tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng, trước dân tộc, năng động, dám nghĩ dám làm nhưng phải trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời mỗi cán bộ đảng viên là một tấm gương về chấp hành Hiến pháp và pháp luật để nhân dân noi theo.
Để đạt được điều nêu trên cần xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên đảm bảo các yêu cầu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra. Trong đó chú trọng các yêu cầu như: Về tư tưởng chính trị, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, tích cực thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, hoàn thành tốt nhiệm vụ chính trị được giao. Có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thách thức. Có ý thức giữ vững và nêu cao vai trò lãnh đạo của Đảng; có hiểu biết cơ bản về chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đủ sức hoàn thành tốt nhiệm vụ. Gương mẫu trong chấp hành Hiến pháp, pháp luật. Có năng lực vận động và lãnh đạo quần chúng tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và chấp hành Hiến pháp pháp luật; có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết. Gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân. Có lối sống trong sạch, lành mạnh, tôn trọng kỷ cương, phép nước và kỷ luật đảng. Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác, nhất là đấu tranh với những hoạt động vi phạm pháp luật.
Ngoài những yêu cầu nêu trên các cấp ủy cần luôn coi trọng giáo dục, nâng cao tri thức của đảng viên về Hiến pháp, pháp luật. Trên thực tế nhiều cấp ủy chưa thực sự coi trọng công việc này nên đã xảy ra không ít trường hợp đảng viên vi phạm pháp luật nhưng họ không biết. Cùng với việc triển khai thực hiện mạnh mẽ nguyên tắc này có thể mở một đợt học tập Hiến pháp và pháp luật trong các chi bộ bằng các hình thức, phương pháp thích hợp như thông qua sinh hoạt chi bộ, qua các bản tin nội bộ, thi tìm hiểu về Hiến pháp, pháp luật qua hệ thống truyền thanh cơ sở, hoặc mời báo cáo viên báo cáo về Hiến pháp, pháp luật cho chi bộ, đảng bộ... Cấp ủy cần thường xuyên kiểm tra việc học tập nâng cao trình độ về Hiến pháp, pháp luật của đảng viên.
Ba là, đấu tranh, khắc phục tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, tham nhũng, lãng phí, quan liêu và các tiêu cực khác ở trong Đảng và trong xã hội.
Hiện nay những tiêu cực trong xã hội đã xâm nhập vào trong Đảng, vào bộ máy nhà nước. Những tiêu cực đó được thể hiện ở một bộ phận cán bộ, đảng viên làm giảm sút khá nghiêm trọng uy tín, thanh danh của Đảng và Nhà nước, ảnh hưởng đến vị thế cầm quyền của Đảng, sức mạnh của Nhà nước và sự tồn tại, phát triển của chế độ ta. Trong đó, có không ít những biểu hiện suy thoái, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để mưu lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm và có những hoạt động biểu hiện sự lách luật, lướt luật, hoặc cố ý làm trái pháp luật. Những hoạt động này thường xảy ra trong quản lý tài sản công, công tác cán bộ, truy tố, xét xử... gây bức xúc trong nhân dân, cản trở việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Cần tập trung sự chỉ đạo của các cấp ủy, chính quyền và sử dụng mạnh mẽ các cơ quan chức năng cả các phương tiện thông tin đại chúng và đề cao vai trò, trách nhiệm của nhân dân nhằm loại trừ tình trạng này, tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật đạt kết quả.
Bốn là, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân
Tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với dân là một nội dung quan trọng của cuộc vận động xây dựng, chỉnh đến Đảng, và là vấn đề cấp thiết hiện nay, là bài học lớn được rút ra qua quá trình lãnh đạo cách mạng của Đảng, được khẳng định một lần nữa bởi thực tiễn 25 năm lãnh đạo công cuộc đổi mới của Đảng.
Hiện nay ở một số nơi, nhất là ở cơ sở đã xảy ra sự phản ứng, đôi khi gay gắt của nhân dân đối với một số cán bộ, đảng viên và chính quyền, ở một vài nơi sự phản ứng đó đã trở thành "điểm nóng". Tình hình đó liên quan đến nhiều vấn đề, trong đó có việc tổ chức đảng, đảng viên quan liêu, tham nhũng, vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là điều kiện tốt để xử lý những cán bộ, đảng viên đó, tăng cường mối quan hệ và sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, lấy lại uy tín, thanh danh cho các tổ chức đảng ở những nơi đó, góp phần nâng cao uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng.
Tăng cường mối quan hệ và sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân, đòi hỏi phải xây dựng Đảng trong sạch, vừng mạnh với sự giúp đỡ, ủng hộ của nhân dân. Các quyết định, chủ trương được thông qua phải lấy lợi ích chính đáng của nhân dân làm mục đích; các chính sách được ban hành phải theo mục tiêu vì dân; mọi hoạt động của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể phải thực sự lấy dân làm gốc. Chỉ như thế, nhân dân mới coi là Đảng của mình, và sẽ có trách nhiệm giám sát tổ chức và hoạt động của tổ chức đảng, của cán bộ đảng viên, tránh các biểu hiện vi phạm Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, nhân dân có thể đóng góp ý kiến để tổ chức đảng, đảng viên thực hiện tốt hơn các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Đảng, trong đó có nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
3. Đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đủ sức thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và đồng bộ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả
Để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật một vấn đề rất quan trọng cần giải quyết là phải có thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và đồng bộ. Điều này trước tiên phụ thuộc một cách quyết định vào năng lực của Nhà nước về thể chế hóa Cương lĩnh chính trị và đường lối của Đảng; tiếp theo là hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của Nhà nước theo quy định của Hiến pháp, pháp luật. Bởi vậy, cần đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, để Nhà nước đủ sức thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và đồng bộ, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả. Cần tập trung vào những vấn đề sau đây:
Thứ nhất, đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân.
Kiện toàn tổ chức, bộ máy, cơ chế hoạt động của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở: bộ máy gọn nhẹ với chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, có cơ chế để quy trách nhiệm cá nhân của cán bộ lãnh đạo quản lý ở từng cấp, từng cơ quan, đơn vị. Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày l-8-2007, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước chỉ rõ: "Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Hoàn thiện quy chế bầu cử nhằm nâng cao chất lượng đại biểu Quốc hội; tăng hợp lý số lượng đại biểu Quốc hội chuyên trách, phát huy tốt vai trò của đại biểu Quốc hội và đoàn đại biểu Quốc hội, cải tiến hoạt động chất vấn của đại biểu Quốc hội theo hướng nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác giám sát. Tổ chức lại một số ủy ban của Quốc hội; nâng cao vai trò và chất lượng hoạt động của Hội đồng Dân tộc và các ủy ban của Quốc hội. Đổi mới hơn nữa quy trình xây dựng luật, giảm mạnh việc ban hành pháp lệnh. Thực hiện tốt hơn nhiệm vụ quyết định các vần đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao của Quốc hội"1.
Về cơ cấu tổ chức của Chính phủ: "Tiếp tục hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; giảm phù hợp số đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ; khắc phục tình trạng bỏ trống hoặc trùng lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, ngành; không giữ các cơ quan thuộc Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước; chỉ duy trì một số cơ quan cần thiết thuộc Chính phủ là đơn vị sự nghiệp.
Tập trung xây dựng các bộ để làm tốt chức năng chủ yếu là xây dựng thể chế, luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển đối với các lĩnh vực được phân công; tổ chức chỉ đạo thực hiện và đôn đốc, kiểm tra, thanh tra việc chấp hành.
Thực hiện phân cấp mạnh và phù hợp hơn về nhiệm vụ từ Chính phủ và các bộ cho chính quyền địa phương, phát huy tinh thần trách nhiệm, tính năng động, sáng tạo của chính quyền địa phương trên cơ sở phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của mỗi cấp trong bộ máy chính quyền, đồng thời xây dựng hành lang pháp lý bảo đảm sự thống nhất quản lý của nhà nước Trung ương".
Đối với các cơ quan tư pháp: Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần và nội dung Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị. Tiến hành cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm trọng tâm; ban hành quy định cụ thể để thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của tòa án đối với các khiếu hiện hành chính; bảo đảm thực hiện nguyên tắc tòa án, thẩm phán xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tránh tình trạng "án bỏ túi", xin ý kiến chỉ đạo của cấp ủy để làm cơ sở đưa ra phán quyết trong các vụ án. Nghĩa là cấp ủy can thiệp sâu vào chuyên môn của cán bộ tư pháp.
Nâng cao phẩm chất, năng lực, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ cơ quan tư pháp các cấp để đủ sức phát hiện, xử lý nghiêm minh, đúng pháp luật các loại tội phạm. Cần có cơ chế để có thể xử lý tất cả các hành vi vi phạm pháp luật của đảng viên, nhất là cán bộ đảng viên là người đứng đầu cơ quan đảng, chính quyền ở mỗi cấp. Trên thực tế, trình tự, thủ tục truy tố những người phạm tội vẫn còn những khó khăn nhất định. Nếu làm đúng quy trình, thủ tục thì thủ phạm có đủ thời gian để tẩu tán tang vật, tài sản liên quan đến tội phạm, xóa dấu vết phạm tội, gây khó khăn cho công tác điều tra sau này.
Thứ hai, tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý rõ ràng, minh bạch, hạn chế tối đa bệnh quan liêu, tham nhũng của cán bộ, đảng viên trong các cơ quan công quyền.
Đẩy mạnh cải cách hành chính trên cơ sở minh bạch về thủ tục, quy định rõ về quyền hạn, trách nhiệm của cán bộ, công chức; quyền lợi và nghĩa vụ của công dân là cơ sở thu hẹp những mảnh đất mà những đảng viên có chức, có quyền tranh thủ trục lợi, vi phạm quy định của Hiến pháp và pháp luật. Do đó, tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và doanh nghiệp. Tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định sai pháp luật, không phù hợp để kiên quyết sửa đổi.
Trong quá trình thực hiện đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cần quan tâm làm tốt những điểm sau:
Giảm đầu mối, bỏ cấp trung gian, hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực. Hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương. Tiếp tục phân cấp mạnh và giao quyền chủ động hơn nữa cho chính quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với Trung ương; đồng thời hoàn thiện thể chế, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển để bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất của Trung ương.
Tập trung chỉ đạo rà soát và cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính, tạo môi trường thuận lợi nhất cho sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và nhu cầu chính đáng của người dân.
Các cấp chính quyền và từng cơ quan hành chính nhà nước khẩn trương rà soát các loại thủ tục hành chính, bãi bỏ hoặc sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc trình cấp trên xem xét sửa đổi theo hướng tạo thuận tiện cho nhân dân và doanh nghiệp. Xử lý nghiêm những cá nhân và tổ chức tuỳ tiện dặt ra các quy định trái pháp luật, trái thẩm quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân. Đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành chính trong việc cải cách thủ tục hành chính.
Công bố công khai các thủ tục (các loại giấy tờ biểu mẫu) và quy trình giải quyết công việc, thời gian giải quyết, phí và lệ phí theo quy định để nhân dân biết và thực hiện thuận lợi. Tiếp tục đẩy mạnh việc thực hiện có hiệu quả cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các cơ quan hành chính nhà nước và mở rộng áp dụng tại các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công như bệnh viện, trường học.
Thứ ba, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước. Nghiên cứu hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ theo hướng xây dựng hệ thống cơ quan hành pháp thống nhất, thông suốt, hiện đại và đúng với vai trò là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Tập trung xây dựng các quy định hướng dẫn thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ đầy đủ và cụ thể. Thực hiện nhất quán nguyên tắc một việc chỉ giao cho một cơ quan, một người chịu trách nhiệm chính.
Chính phủ tập trung thực hiện tốt hơn nữa chức năng quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực mà pháp luật đã quy định. Xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội cho phù hợp với yêu cầu phát triển. Tập trung làm tốt hơn việc hoạch định thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng giải pháp, bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, xã hội. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và nâng cao năng lực chỉ đạo tổ chức thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra. Xử lý nghiêm các trường hợp cấp ủy, chính quyền cấp dưới không thực hiện nghiêm những quy định của Trung ương. Tình trạng "trên bảo dưới không nghe" của Tập đoàn VINASHIN là một ví dụ điển hình.
Thứ tư nâng cao chất lượng, tiến độ thể chế hóa đường lối, chủ trương của Đảng thành pháp luật tiến tới xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn thiện đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta.
Khi có những điểm của đường lối, chủ trương mới của Đảng, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nhanh chóng xây dựng kế hoạch cụ thể hóa thành các văn bản pháp luật. Một mặt, đưa được đường lối, chủ trương của Đảng vào cuộc sống nhanh chóng; mặt khác, pháp luật điều chỉnh được mọi hành vi của tổ chức, cá nhân trên lãnh thổ thuộc phạm vi điều chỉnh của luật đó, kể cả các tổ chức đảng và đảng viên. Khi đó sẽ hạn chế được việc vi phạm của các tổ chức đảng và đảng viên trong việc viện dẫn tùy tiện chủ trương, đường lối của Đảng. Nghĩa là hạn chế hoặc ngăn ngừa các tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Hiến pháp và pháp luật.
Hiện nay, tiến độ xây dựng pháp luật của Chính phủ và Quốc hội vẫn chưa đáp ứng yêu cầu đề ra. Nhất là những nội dung liên quan đến sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và một số đạo luật lớn.
Để thực hiện tốt việc cụ thể hóa, thế chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành pháp luật, cần xây dựng được đội ngũ cán bộ trong các cơ quan Trung ương liên quan đến việc xây dựng dự thảo luật, đại biểu Quốc hội, nhất là đại biểu chuyên trách, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức làm việc cao của đội ngũ cán bộ này trước Đảng, trước cử tri trong cả nước. Đồng thời, cần chuẩn hóa thủ tục xây dựng, trình dự thảo luật ra Quốc hội, thảo luận dự thảo tại tổ, tại hội trường, đảm bảo đại biểu Quốc hội có đủ thời gian nghiên cứu thảo luận kỹ, nhất là những bộ luật lớn, có phạm vi điều chỉnh rộng.. Trên thực tế, đã có những luật được xây dựng và ban hành trong thời gian ngắn nhưng đi vào thực tế nhanh chóng, đáp ứng được tâm tư, nguyện vọng của đông đảo cử tri, của doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế - xã hội trong cả nước. Ngược lại, có những luật được đầu tư nhiều tiền của, thời gian, công sức nhưng sau khi ban hành vẫn rất khó thực hiện, và có những quy định không phù hợp với thực tế phải tiếp tục sửa chữa, bổ sung hoặc cần có quá nhiều văn bản dưới luật để giải thích...
Hơn nữa, thông qua hoạt động của mình, Quốc hội, Chính phủ, các bộ, ngành ở Trung ương có trách nhiệm đọng góp ý kiến cho Trung ương hoàn thiện chủ trương, đường lối và công tác xây dựng nội bộ Đảng, trong đó có thể tham gia trực tiếp giám sát hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên trong việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội X nêu rõ: "Bộ máy nhà nước, các thiết chế khác trong hệ thống chính trị có nhiệm vụ đề xuất ý kiến với Đảng trong quá trình xây dựng, hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chính sách của Đảng"1.
Thực hiện tốt Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1-8-2007 Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước. Trong đó Nghị quyết yêu cầu: "Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; khắc phục nhanh tình trạng ban hành luật khung, hạn chế tối đa luật phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành. Khắc phục tình trạng ban hành luật với những vấn đề chưa đủ rõ và khó hướng dẫn thực hiện. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải được đề cao, phải được bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh trong thực tiễn của đời sống xã hội và thông qua hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội.
Các văn bản pháp luật ban hành phải quán triệt tinh thần đẩy mạnh cải cách hành chính; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; hạn chế tối đa việc quy định về tổ chức bộ máy ngay trong các luật chuyên ngành và quy định thủ tục hành chính phức tạp, gây phiền hà ngay trong các thể chế pháp luật". Đồng thời, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế: "Tập trung chỉ đạo chặt chẽ và đẩy nhanh việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật, đặc biệt là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và các thể chế về nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Xác định hợp lý chương trình xây dựng pháp luật dài hạn và ngắn hạn. Nâng cao chất lượng xây dựng luật; xác định rõ quan điểm chỉ đạo của từng văn bản pháp luật cần ban hành. Ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật đủ cụ thể, rõ ràng, kịp thời, đúng quy định.
Xác định rõ những văn bản pháp luật cần thiết phải có để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế; không nhất thiết mỗi lĩnh vực, mỗi ngành phải có một bộ luật riêng. Tiếp tục đổi mới và hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật; có cơ chế hợp lý để nhân dân tham gia ý kiến, nhất là các đối tượng chịu sự điều chỉnh của pháp luật sẽ ban hành. Khi đưa ra lấy ý kiến nhân dân phải được chuẩn bị kỹ, những vấn đề nhạy cảm liên quan đến quan điểm chính trị phải có sự lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị".
Thứ năm, tăng cường giáo dục pháp luật, đề cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là những cán bộ, công chức là đảng viên.
Trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân không chỉ đòi hỏi có bộ máy hợp lý, khoa học, có hệ thống pháp luật đồng bộ, mà còn phải có đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan nhà nước các cấp nắm chắc pháp luật, có ý thức cao trọng việc tự giác chấp hành pháp luật, thực sự là những "công bộc" của nhân dân để vận hành bộ máy ấy, đưa pháp luật vào cuộc sống, đáp ứng tốt nguyện vọng của nhân dân. Để có đội ngũ cán bộ như thế cần coi trọng đào tạo, bồi dưỡng cả ở nhà trường, trong thực tiễn và việc tự học, tự rèn của cán bộ, công chức nhà nước; đồng thời cần đề cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật của những cán bộ này; cấp ủy, chính quyền các cấp cần tạo điều kiện thuận lợi để họ tự học, tự rèn luyện và nâng cao ý thức tự giác, chấp hành pháp luật.
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đòi hỏi cán bộ vừa hồng, vừa chuyên. Nghĩa là, đội ngũ cán bộ nắm chắc chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; đồng thời trong quá trình triển khai chủ trương, đường lối ấy, người cán bộ cách mạng phải có tâm trong sáng, thực hiện nhiệm vụ được giao với tinh thần trách nhiệm cao nhất trên cơ sở chấp hành đúng các quy định của pháp luật. Nắm chắc quy định của pháp luật không phải đề phục vụ lợi ích cá nhân thông qua việc lợi dụng kẽ hở của luật pháp mà phải áp dụng, chấp hành, tuân thủ pháp luật vì lợi ích của nhân dán, của đất nước. Nắm chắc quy định của pháp luật để có ý thức và trách nhiệm phản ánh lên cấp trên để sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật, để mọi cá nhân, tổ chức trong đó có tổ chức đảng và đảng viên phải xây dựng tổ chức và hoạt động trong hành lang pháp luật đã được xây dựng. Những cán bộ, công chức nhà nước cần nhận thức sâu sắc điều này, tích cực thực hiện quá trình đào tạo, bồi dưỡng, tự học, tự rèn luyện và nâng cao ý thức tự giác chấp hành pháp luật một cách có hiệu quả. Những cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước các cấp là đảng viên cần phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu của đảng viên trong thực hiện công việc này.
4. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy chính quyền các cấp, cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên
Những vấn đề này có thể được coi là những vấn đề chủ yếu cần giải quyết thuộc cơ chế để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
a) Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của đảng
Phương thức lãnh đạo của Đảng là tổng thể các hình thức, phương pháp, cách thức, quy chế, quy định, quy trình, lề lối làm việc, tác phong công tác... mà Đảng sử dụng để tác động vào đối tượng lãnh đạo nhằm thực hiện thắng lợi Cương lĩnh chính trị, đường lối của Đảng.
Phương thức lãnh đạo của Đảng có vai trò rất quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả lãnh đạo thực hiện Cương lĩnh, đường lối, chủ trương của Đảng. Nếu không có phương thức lãnh đạo thì đường lối, chủ trương của Đảng không thành hiện thực. Thực tế cho thấy, khi đã có đường lối, chủ trương đúng, có hệ thống tổ chức hợp lý, có đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng tốt, nhưng Đảng không tạo dựng được phương thức lãnh đạo phù hợp, khoa học thì hiệu quả lãnh đạo thấp, thậm chí trong nhiều trường hợp, đường lối, chủ trương đúng cũng bị vô hiệu hóa. Bởi vậy, cần đặc biệt coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo để tăng cường chất lượng, hiệu quả lãnh đạo của Đảng; đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tết nguyên tắc Đáng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Cần làm tốt những nội dung sau:
Thứ nhất, nhận thức sâu sắc về phương chức lãnh đạo của Đảng.
Trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân hiện nay, cần nhận thức sâu sắc về cả nội dung, hình thức, phương pháp lãnh đạo của Đảng. Những lĩnh vực nào, nội dung nào cần có sự quyết định toàn diện trực tiếp của Đảng những lĩnh vực nào ra nghị quyết, chủ trương để Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật để quản lý xã hội; những nội dung, lĩnh vực nào do cơ quan nhà nước quyết định theo chức năng, nhiệm vụ được giao. Tránh cả hai khuynh hướng, Đảng bao biện làm thay hoặc buông lỏng vai trò lãnh đạo. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: "Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước trong việc thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách lớn của Đảng thành Hiến pháp, pháp luật, kế hoạch, các chương trình mục tiêu lớn của Nhà nước. Đảng lãnh đạo nhưng không làm thay Nhà nước và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Đề phòng và khắc phục khuynh hướng tổ chức đảng buông lỏng sự lãnh đạo hoặc bao biện làm thay cũng như khuynh hướng các cơ quan nhà nước thụ động, né tránh trách nhiệm, việc gì cũng xin ý kiến cấp ủy Đảng"3.
Trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, khâu mấu chốt là đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước ở các cấp từ Trung ương đến cơ sở; xây dựng hệ thống các quy chế về sự lãnh đạo của Đảng ở các cấp, các ngành theo tinh thần: Đảng lãnh đạo Nhà nước bằng Cương lĩnh, đường lối, quan điểm, chủ trương, các nghị quyết, nguyên tắc giải quyết các vấn đề lớn, có ý nghĩa chính trị quan trọng. Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ động, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm của Nhà nước trong quản lý đất nước và xã hội theo pháp luật. Đồng thời, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng phải đồng bộ với đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, đổi mới kinh tế. Tiếp tục làm rõ quan điểm về Đảng lãnh đạo và Đảng cầm quyền làm cơ sở đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng một cách cơ bản, toàn diện.
Thứ hai, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước.
Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, một vấn đề rất trọng tâm là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng với Nhà nước. Điều này đòi hỏi phải có cơ chế, quy định cụ thể về Đảng lãnh đạo Nhà nước và về Đảng chấp hành Hiến pháp và pháp luật. Trong quan hệ giữa chủ thể lãnh đạo với đói tượng lãnh đạo thì Nhà nước chịu sự lãnh đạo của Đáng đối với mọi hoạt động của mình, song sự lãnh đạo của Đảng là lãnh đạo chính trị, Đảng không làm thay công việc của Nhà nước, không can thiệp quá sâu vào công việc của Nhà nước. Nhà nước chấp hành một cách tuyệt đối sự lãnh đạo chính trị của Đảng. Trong quan hệ giữa chủ thể quản lý với đối tượng quản lý, và với tư cách là một tổ chức trong xã hội, Đảng phải tuân thủ sự quản lý của Nhà nước, các tổ chức của Đảng, mọi đảng viên phải chịu sự quản lý của Nhà nước, tức là phải tuân thủ và chấp hành Hiến pháp và pháp luật.
Thứ ba, xác định đúng nội dung lãnh đạo để hạn chế và tránh tình trạng Đảng, các cấp ủy bao biện làm thay công việc của chính quyền, hoặc buông lỏng lãnh đạo chính quyền.
Xác định đúng nội dung lãnh đạo Nhà nước và chính quyền địa phương là vấn đề quan trọng hàng đầu để hạn chế tình trạng Đảng bao biện làm thay công việc của Nhà nước, can thiệp quá sâu vào công việc cụ thể của Nhà nước cũng như tình trạng cấp ủy các cấp hóa thành chính quyền ở các địa phương định đoạt và chỉ đạo, quyết định mọi công việc của chính quyền (trên thực tế khuynh hướng cấp ủy địa phương buông lỏng lãnh đạo chính quyền ít xảy ra). Để xác định đúng nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và chính quyền địa phương cần:
Đối với Quốc hội: Đảng xây dựng cơ chế, quy chế cụ thể giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa vai trò lãnh đạo về quan điểm, phương hướng, chủ trương, nguyên tắc, giải pháp lớn của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư (đối với những vấn đề kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng, đối ngoại trọng đại của đất nước) với thẩm quyền quyết định của Quốc hội trên những vấn để này theo Hiến pháp và Luật tổ chức, hoạt động của Quốc hội.
Đối với Chính phủ: Đảng cần xác định rõ hơn thẩm quyền quyết định của Chính phủ. Xác định rõ những loại việc ở tầm Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp quyết định; những loại việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến định hướng; những loại việc Chính phủ chủ động quyết định theo thẩm quyền.
Đối với các cơ quan tư pháp: Đảng lãnh đạo công tác tư pháp, lãnh đạo công tác đào tạo, bồi dưỡng, quản lý và sử dụng đội ngũ cán bộ tư pháp, tôn trọng nguyên tắc: "Khi xét xử thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật". Nâng cao vai trò, trách nhiệm của các cấp ủy đảng, ban cán sự đảng của các cơ quan tư pháp theo quy định của Đảng. Đề cao trách nhiệm của cơ quan điều tra, viện kiểm sát nhân dân, tòa án nhân dân.
Đối với lĩnh vực quốc phòng, an ninh: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt các lĩnh vực này về quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách, xây dựng các lực lượng vũ trang nhân dân trong sạch, vững mạnh, có bản lĩnh chính trị vững vàng, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống; đồng thời phát huy trách nhiệm quản lý của Nhà nước đối với các cơ quan này.
Đối với chính quyền địa phương: định rõ những loại việc ban chấp hành đảng bộ, ban thường vụ cho ý kiến trước khi hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân quyết định thực hiện; những loại việc do ban chấp hành, ban thường vụ cho ý kiến định hướng, hội đồng nhân dân quyết định; những loại việc do hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân quyết định theo thẩm quyền. Sự lãnh đạo của cấp ủy đảng là định hướng và bảo đảm để hội đồng nhân dân quyết định các nhiệm vụ kinh tế - xã hội ở địa phương, tạo điều kiện cho ủy ban nhân dân, người đứng đầu cơ quan hành chính nhà nước địa phương quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ đề ra.
Đối với Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân: tăng cường và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong việc xây dựng, ban hành cơ chế, chính sách, tạo điều kiện cho các tổ chức này hoạt động đúng định hướng chính trị, đúng pháp luật và có hiệu quả. Phát huy tinh thần tự chủ, sáng tạo của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc kiện toàn tổ chức và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động. Có cơ chế, chính sách lãnh đạo và quản lý phù hợp với từng loại hội. Tiếp tục luật hóa các hoạt động của các đoàn thể nhân dân và các hội.
Tiếp tục đổi mới phong cách, lề lối làm việc của Đảng theo hướng thực sự dân chủ, kỷ cương, thiết thực, sâu sát cơ sở, sâu sát quần chúng; làm việc có chương trình, kế hoạch, có trọng tâm, trọng điểm, nói đi đôi với làm. Đổi mới cách ra nghị quyết, văn kiện và báo cáo phải ngắn gọn, thiết thực, cụ thể; đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả của hội nghị. Cấp ủy dành nhiều thời gian tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra, tổng kết việc thực hiện nghị quyết; chỉ đạo hoạt động của Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân.
Thứ tư, đổi mới cách ra chỉ thị, nghị quyết và việc quán triệt, tổ chức thực hiện nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư chỉ ra nghị quyết, chỉ thị khi thật cần thiết, không ra quá nhiều nghị quyết, chỉ thị ở một nhiệm kỳ và ở một hội nghị Trung ương. Những nghị quyết của các khóa trước vẫn còn giá trị thì không ra nghị quyết mới, chỉ kiểm tra, tổng kết, kết luận để chỉ đạo tiếp tục thực hiện.
Nghị quyết, chỉ thị của các cấp ủy cần ngắn gọn, rõ chủ trương, quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ và giải pháp cụ thể, phân công thực hiện rõ người, rõ việc, rõ thời gian hoàn thành. Nhà nước cần rút ngắn thời gian thể chế hóa, cụ thể hóa các nghị quyết, chỉ thị của Đảng. Bên cạnh đó, cấp ủy cấp dưới hạn chế ra nghị quyết để thực hiện nghị quyết của cấp ủy cấp trên mà chủ yếu là xây dựng chương trình hành động, kế hoạch thực hiện nghị quyết của cấp trên một cách thiết thực.
b) Phát huy vai trò. trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức đảng và chính quyền các cấp trong thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật
Người đứng đầu cấp ủy (bí thư cấp ủy), chính quyền các cấp và đứng đầu cơ quan, đơn vị, nhất là bí thư cấp ủy các cấp, có vai trò và trách nhiệm rất to lớn, có tính quyết định việc thực hiện có kết quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Bởi vậy, cần quan tâm phát huy vai trò và trách nhiệm của họ.
Phát huy vai trò và trách nhiệm của những cán bộ nêu trên cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó , trước tiên cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của bản thân những người đứng đầm chủ thể quản lý trực tiếp những người đó; của cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên; những người, những tổ chức có liên quan và nhân dân về những vấn đề chủ yếu như: chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò, trách nhiệm của những người đứng đầu; trách nhiệm của họ đối với việc giáo dục, kiểm tra cán bộ, đảng viên chấp hành pháp luật, trách nhiệm liên đới khi trên địa bàn có cán bộ, đáng viên vi phạm pháp luật. Những vấn đề này được chính những người đứng đầu, được chủ thể quản lý trực tiếp, được cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên, nhân dân và những tổ chức có liên quan nhận thức sâu sắc, họ sẽ tìm ra được những giải pháp khả thi và tích cực thực hiện có hiệu quả để nâng cao vai trò trách nhiệm của họ đối với những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật xảy ra trên địa bàn.
Để nâng cao nhận thức, trách nhiệm của những người đứng đầu nêu trên trong thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, cần thực hiện tết những điểm sau đây:
- Làm rõ chức năng, nhiệm vụ, vị trí, vai trò và trách nhiệm của những người đứng đầu
Bí thư cấp ủy các cấp và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước ở các cấp, chức năng chủ yếu là lãnh đạo, tổ chức thực hiện và quản lý mọi hoạt động thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị (nhiều bí thư cấp ủy lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội), thực hiện nhiệm vụ quốc phòng an ninh.
Trọng tâm hoạt động của bí thư cấp ủy là công tác xây dựng Đảng. Bí thư cấp ủy có vai trò quyết định kết quả công tác xây dựng Đảng của tổ chức đảng. Chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của bí thư cấp ủy là chủ trì quyết định các hoạt động về xây dựng chủ trương, nghị quyết đối với mọi mặt hoạt động của địa phương, cơ quan, đơn vị, công tác xây dựng Đảng, công tác tư tưởng, công tác dân vận, và chỉ đạo tổ chức thực hiện những nhiệm vụ đó. Bí thư cấp ủy có trách nhiệm cao nhất đối với các hoạt động này nhất là đối với công tác xây dựng Đảng, gồm: xây dựng nội bộ Đảng; lãnh đạo các lĩnh vực đời sống xã hội và lãnh đạo các tổ chức trong hệ thống chính trị, trọng tâm là lãnh đạo chính quyền và ban lãnh đạo, quản lý cơ quan, đơn vị. Người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị có vị trí, vai trò quyết định mọi hoạt động của địa phương, cơ quan, đơn vị theo đúng đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Chức năng, nhiệm vụ của họ là tổ chức thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị, quản lý các hoạt động trên địa bàn để các hoạt động đó theo đúng pháp luật.
Những hoạt động của bí thư cấp ủy và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị đạt kết quá tốt nhất là cán bộ, đảng viên chấp hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật có vai trò và công lao to lớn của họ. Cán bộ, đảng viên chấp hành không nghiêm, hoặc vi phạm pháp luật gây thiệt hại tài sản của Nhà nước và của nhân dân, làm giảm uy tín, thanh danh của Đảng, Nhà nước thì bí thư cấp ủy và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị phải chịu trách nhiệm liên đới, trong đó bí thư cấp ủy chịu trách nhiệm cao nhất.
- Để thực hiện có kết quả vai trò, trách nhiệm người đứng đầu cần tập trung thực hiện tốt những điểm chủ yếu sau đây:
Xây dựng chương trình, kế hoạch tổ chức thực hiện vai trò, trách nhiệm của những người đứng đầu. Đặc biệt coi trọng kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện việc nâng cao vai trò, trách nhiệm của họ.
Nâng cao vai trò và trách nhiệm của người đứng đầu tổ chức, cơ quan, đơn vị, trong đó có bí thư cấp ủy là chủ trương lớn của Đảng, là nhiệm vụ cấp bách của cấp ủy, chính quyền địa phương. Nhiệm vụ này cần được tổ chức thực hiện một cách nghiêm túc và phải thường xuyên kiểm tra, giám sát. Cần xác định rõ nội dung, phương pháp tiến hành kiểm tra, giám sát, và chấp hành đúng những quy định, hướng dẫn của Trung ương. Đồng thời, coi trọng công tác giám sát, kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra với công tác giám sát quá trình tự nâng cao vai trò, trách nhiệm của bản thân những cán bộ này, với việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cấp ủy, tổ chức có liên quan để phòng ngừa, ngăn chặn, loại trừ những khuyết điểm ngay từ khi mới manh nha.
Đề cao vai trò, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị và nhân dân tham gia vào quá trình nâng cao vai trò, trách nhiệm của bí thư cấp ủy các cấp và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị. Coi trọng công tác giám sát, phản biện xã hội của mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể ở địa phương đối với việc nâng cao vai trò trách nhiệm của những cán bộ đó. Kết hợp chặt chẽ công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức trong hệ thống chính trị với công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng đối với các hoạt động nâng cao vai trò, trách nhiệm của bí thư cấp ủy và người đứng đầu, chính quyền, cơ quan, đơn vị trong thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật,
Định kỳ sơ kết, tổng kết hoạt động nâng cao vai trò, trách nhiệm của bí thư cấp ủy và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị. Qua sơ kết, tổng kết cần rút ra những kinh nghiệm và đề xuất các chủ trương, giải pháp thực hiện công việc này đạt kết quá tất hơn trong thời gian tới.
Xây dựng và hoàn thiện những quy định pháp lý về vai trò, trách nhiệm của bí thư cấp ủy và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị, cần tập trung vào: xây dựng và hoàn thiện quy chế về sự lãnh đạo của cấp ủy một cách rõ ràng, cụ thể đối với các mặt hoạt động của địa phương, cơ quan, đơn vị; đối với chính quyền, ban lãnh đạo đơn vị; với các đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn. Quy định rõ trách nhiệm của cấp ủy, Ban Thường vụ cấp ủy đến đâu đối với những việc lớn xảy ra trong phạm vi phụ trách về các tồ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật
Có quy chế công khai, minh bạch về thực hiện vai trò, trách nhiệm của bí thư cấp ủy và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị đối với các trường hợp vi phạm pháp luật xảy ra ở địa phương, cơ quan, đơn vị. Trên cơ sở đó, các đoàn thể chính trị - xã hội và nhân dân tham gia kiểm tra, giám sát việc thực hiện vai trò, trách nhiệm của những cán bộ nêu trên.
Bổ sung và hoàn thiện chế tài xử phạt nghiêm minh sự liên đới trách nhiệm của bí thư cấp ủy và người đứng đầu chính quyền, cơ quan, đơn vị về kỷ luật đảng và nhà nước, khi ở địa phương, cơ quan, đơn vị có tổ chức đảng, đảng viên vi phạm pháp luật, thể hiện trong Hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng, trong Luật cán bộ, công chức của Nhà nước. Có cơ chế từ chức của những cán bộ này khi trên địa bàn phụ trách xảy ra các vi phạm pháp luật.
c) Cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng
Hiện nay nhiều người đang đề nghị luật hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng, tức là xây dựng một văn bản pháp luật về vấn đề này. Theo Ban chủ nhiệm đề tài, luật hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng không có nghĩa là phải xây dựng một văn bản pháp luật về vấn đề này, không nên máy móc cho rằng, đã có luật về hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội thì cũng phải có luật về Đảng. Điều này hiện nay theo quan điểm của Ban Chủ nhiệm đề tài là chưa thực sự cần thiết, bởi vì vị trí, vai trò và tính chất hoạt động của Đảng có nhiều khác biệt lớn so với các tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị nước ta. Hơn nữa chúng ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên việc xây dựng hệ thống pháp luật khó tránh khỏi những sai sót. Nếu nóng vội trong xây dựng luật về Đảng, khi xảy ra những sai sót thì hậu quả sẽ rất lớn, khó lường so với hậu quả của những sai sót có thể xảy ra khi xây dựng luật về các tổ chức chính trị - xã hội. Bởi vậy, theo chúng tôi cần đẩy mạnh việc cụ thể hóa nội dung của Điều 4 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: Đảng "là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật". Việc cụ thể hóa Điều 4 Hiến pháp không nhất thiết phải ghi trong các văn bản của Nhà nước, có thể được ghi trong các văn bản, quy định của Đảng.
Hiến pháp 1992 (sửa đổi) và Điều lệ Đảng đều khẳng định điều nêu trên. Đó là nguyên tắc hiến định, được nhân dân ta tự nguyện thừa nhận. Điều này càng thể hiện quyết tâm của Đảng trong lãnh đạo xây dựng nhà nước pháp quyền. Tuy nhiên, trong thực tế không tránh khỏi, có lúc, có nơi, một số tổ chức đảng yếu kém về năng lực, không đảm bảo vai trò lãnh đạo của mình đối với cơ quan chính quyền, hoặc tổ chức đảng bao biện làm thay chính quyền. Cả hai trường hợp này đều làm giảm vai trò lãnh đạo của Đảng. Chính vì vậy, cùng với việc đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cần thiết phải cụ thể hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.
Có thể nói rằng, về thực chất việc làm này là tạo cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong điều kiện một đảng cầm quyền. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, chính V.I.Lênin đã nhận thấy sự bất cập về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo và Nhà nước quản lý trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền. Tháng 3 năm 1922, V.I.Lênin viết: "...Tôi phải đề cập đến mặt thực tiễn của vấn đề về các cơ quan xôviết các cơ quan cao cấp và thái độ của Đảng với các cơ quan đó. Giữa Đảng và các cơ quan xôviết hiện đã có những quan hệ không đúng; về điều đó tất cả chúng ta đều hoàn toàn nhất trí... Trên hình thức, sửa chữa được hiện tượng đó là việc rất khó vì ở nước ta chỉ có một đảng cầm quyền duy nhất đang lãnh đạo. Cho nên, đối với bất cứ một việc gì ở Hội đồng Bộ trưởng dân ủy, người ta cũng đều đưa sang Bộ Chính trị. Đó cũng là lỗi lớn của tôi, vì rằng mối liên hệ giữa Hội đồng Bộ trưởng dân ủy và Bộ Chính trị phần lớn là do chính đích thân tôi cáng đáng...". Và Người đề nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng: "cần phân định một cách rõ ràng hơn nữa những nhiệm vụ của đảng (và của Ban Chấp hành trung ương của nó) với nhiệm vụ của Chính quyền xôviết; tăng thêm trách nhiệm và tính chủ động cho các cán bộ xôviết và các cơ quan xô viết, còn về đảng thì dành quyền lãnh đạo chung công tác của tất cả các cơ quan nhà nước gộp chung lại, mà không can thiệp một cách quá thường xuyên, không chính quy và thường là nhỏ nhặt, như hiện nay"4.
Những chỉ dẫn của V.I.Lênin chính là cơ sở lý luận và phương pháp luận để giải quyết mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong tình hình hiện nay ở nước ta và việc cụ thể hóa vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng ta trong giai đoạn hiện nay.
Chức năng hàng đầu của Đảng là xác định chiến lược và chính sách phát triển, đề ra đường lối phát triển kinh tế - xã hội làm cơ sở định hướng hoạt động cho Nhà nước và xã hội. Hiện nay, không ít cấp ủy Đảng can thiệp quá sâu vào hoạt động của chính quyền và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Điều đó làm mất vai trò chủ động sáng tạo, tinh thần tự chịu trách nhiệm của bản thân các tổ chức.
Bên cạnh đó, có những luận điệu đòi xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng mà Hiến pháp đã quy định. Vì vậy, về nội dung lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, cần được cụ thể hóa, chỉ rõ những việc cụ thể Đảng lãnh đạo Nhà nước thực hiện, tránh tình trạng lãnh dạo chung chung, thậm chí bao biện làm thay. Cụ thể là: khẩn trương xây dựng, hoàn thiện hệ thống văn bản quy định của Đảng, trong đó quy định cụ thể về nguyên tắc, nội dung và cơ chế Đảng lãnh đạo đối với Nhà nước trong từng lĩnh vực: lập pháp, hành pháp, tư pháp và từng cấp, từng loại hình tổ chức nhà nước.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng chỉ rõ: "Xác định rõ hơn thẩm quyền quyết định của Chính phủ. Xác định rõ những loại việc ở tầm Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư trực tiếp quyết định; những loại việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư cho ý kiến định hướng; những loại việc Chính phủ chủ động quyết định theo thẩm quyền". Do đó, trong xây dựng chương trình, kế hoạch công tác của Trung ương Đảng cần xác định đúng, trúng những vấn đề quan trọng mà Đảng cần bàn và quyết định. Điều đó có ý nghĩa rất quan trọng để tránh sự lẫn lộn về chức năng lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước, để các cấp ủy tập trung thời gian, công sức vào nhiệm vụ lãnh đạo chính trị, lãnh đạo tư tưởng, và kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, nghị quyết của cấp trên và của cấp ủy địa phương, nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo của mình.
Đảng cũng quy định việc xây dựng và thực hiện chế độ báo cáo xin ý kiến. Đảng ủy cơ sở định kỳ 6 tháng một lần phái báo cáo về hoạt động của mình trước hội nghị toàn thể đảng viên trong đảng bộ. Ban thường vụ cấp ủy tỉnh, huyện và tương đương phải báo cáo, xin ý kiến ban chấp hành cùng cấp về hoạt động của mình giữa hai kỳ họp ban chấp hành. Bộ Chính trị, Ban Bí thư phải báo cáo, xin ý kiến Ban Chấp hành Trung ương về hoạt động của mình giữa hai kỳ họp Ban Chấp hành Trung ương. Đây là một chủ trương đúng, nhưng nếu chỉ dừng lại ở chủ trương thì việc tổ chức thực hiện sẽ chung chung, khó đảm bảo hiệu lực, hiệu quả của chủ trương. Những nội dung này cũng phải được cụ thể hóa chi tiết trên cơ sở Hiến pháp và pháp luật hiện hành để thực hiện. Từ đó, phòng ngừa tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Hiến pháp và pháp luật, đặc biệt đối với những trường hợp bao biện, làm thay trong điều kiện đảng duy nhất cầm quyền ở nước ta hiện nay.
d) Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật
Giải quyết đúng đắn mối quan hệ này có vai trò và tác dụng không nhỏ đối với việc thực hiện có kết quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Làm rõ và giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật, vừa góp phần khắc phục những nhận thức lệch lạc về Điều lệ Đảng, pháp luật và mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên, vừa tạo nên sự hỗ trợ lẫn nhau trong chấp hành Điều lệ Đáng với chấp hành pháp luật; tạo điều kiện thuận lợi cho đảng viên trong thực hiện Điều lệ Đảng và thực hiện quyền công dân theo quy định của pháp luật, chăm lo cho lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích chính đáng của cá nhân, gia đình được pháp luật và xã hội thừa nhận.
Về mối quan hệ giữa Điều lệ Đảng với pháp luật, đã có nhiều người cho rằng, chúng hoàn toàn độc lập không có quan hệ với nhau. Điều lệ Đảng là thể chế chính trị có giá trị trong Đảng, còn pháp luật là thể chế pháp lý có giá trị trong toàn xã hội. Điều lệ Đảng và pháp luật có mục đích, đối tượng, phạm vi và phương pháp điều chỉnh khác nhau, hoàn toàn độc lập với nhau nên việc tìm giải pháp giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên là ảo tưởng. Từ đó, họ đi tới hai thiên hướng, hoặc tuyệt đối hóa Điều lệ Đảng, hoặc tuyệt đối hóa pháp luật. Nếu theo thiên hướng tuyệt đối hóa pháp luật sẽ dẫn đến cho rằng, Điều lệ Đảng phải phụ thuộc và chịu sự chi phối, ràng buộc bởi pháp luật. Nếu theo thiên hướng tuyệt đối hóa Điều lệ Đảng sẽ dẫn đến cho rằng, pháp luật phải phụ thuộc và chịu sự chi phối, ràng buộc bởi Điều lệ Đảng.
Cả hai thiên hướng nêu trên đều không chính xác. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, Điều lệ Đảng và pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau và có nhiều điểm khác nhau. Tuy Điều lệ Đảng là thể chế chính trị trong Đảng, song Đảng là lực lượng lãnh đạo toàn xã hội, nên Điều lệ Đảng cũng có tác động rất lớn đến xã hội. Pháp luật là sự thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, phải chịu sự chi phối, ràng buộc bởi chủ trương, dường lối của Đảng. Điều lệ Đảng không chỉ quy định những vấn đề về xây dựng nội bộ Đảng, mà còn quy định những vấn đề về Đảng lãnh đạo xã hội và hoạt động của các tổ chức đảng, đảng viên trong xã hội, đó là những chủ trương, quan điểm lớn của Đảng. Pháp luật phải chịu sự chi phối, ràng buộc bởi những quy định đó. Song, khi chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng đã được luật hóa thì nó lại quy định, chi phối và ràng buộc hoạt động của Đảng, của các tổ chức đảng và đảng viên. Bởi vậy, Điều lệ Đảng và pháp luật có mối quan hệ mật thiết với nhau, chi phối và quy định lẫn nhau, tìm cách giải quyết đúng đắn mối quan hệ này là rất cần thiết. Khi có những điểm mâu thuẫn giữa Điều lệ Đảng với pháp luật, cần căn cứ vào thực tiễn để nghiên cứu, điều chỉnh hoặc Điều lệ Đảng, hoặc pháp luật cho phù hợp.
Mối quan hệ giữa điều lệ Đảng với pháp luật đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên. Hướng giải quyết đúng đắn mối quan hệ này thể hiện ở chỗ: là đảng viên thì phải chấp hành Điều lệ Đảng, đó là yêu cầu tối cao đối với đảng viên. Song, là đảng viên thì trước hết phải là công dân tốt, tức là phải là người gương mẫu chấp hành pháp luật. Ngoài là công dân còn là đảng viên nên có những điểm pháp luật quy định công dân được làm nhưng đảng viên không được làm. Trên thực tế, ở nhiều đảng viên đã diễn ra sự đấu tranh gay gắt: nếu thực hiện một số điểm pháp luật cho phép mà Điều lệ Đảng không cho phép thì vi phạm Điều lệ Đảng; nếu không thực hiện những điểm đó thì chấp hành tốt Điều lệ Đảng nhưng thiệt hại cho bản thân đảng viên, nhất là những điểm về làm kinh tế. Đã có một số ít đảng viên chọn con đường xa rời Đảng để không thiệt hại cho bản thân. Đây là sự lựa chọn cần phê phán. Vấn đề rất quan trọng là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật. Giải quyết đúng đắn mối quan hệ này cần nhận thức sâu sắc Điều lệ Đảng và pháp luật; mối quan hệ của chúng trong điều kiện Đảng cầm quyền, vai trò, trách nhiệm chấp hành pháp luật của đảng viên; cần có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết về thực hiện Điều lệ Đáng; xử lý nghiêm minh cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật; trong các Đại hội Đảng toàn quốc cần nâng cao chất lượng việc chuẩn bị, thảo luận, sửa chữa, bổ sung Điều lệ Đảng. Một điều rất quan trọng cần quán triệt và thực hiện tết góp phần giải quyết đúng đắn mối quan hệ này là: đã là đảng viên thì phải vừa chấp tốt Điều lệ Đáng, vừa chấp hành tốt pháp luật; là đảng viên thì phải chịu thiệt thòi so với công dân, đây là phẩm chất cao quý của người đảng viên mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy bảo.
5. Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật
Việc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật tuy đã được thực hiện từ nhiều năm trước đây, song mới được thực hiện mạnh mẽ trong vài năm gần đây, nhất là từ Đại hội X của Đảng đến nay, khi Đảng ta khẳng định điều này là một nguyên tắc hoạt động của Đảng và được ghi trong Điều lệ Đảng. Bởi vậy, đây là vấn đề mới, trong thực hiện sẽ còn nhiều sai sót. Vì thế, cần có sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên của các cấp ủy đảng, nhất là cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng.
Cấp ủy cần lãnh đạo, chỉ đạo các nội dung cụ thể và những điểm cần chú ý khi thực hiện nguyên tắc, phổ biến kịp thời những hướng dẫn của Đảng và của cấp ủy cấp trên về thực hiện nguyên tắc này, phổ biến những kinh nghiệm về thực hiện nguyên tắc. Cấp ủy có thể mở các lớp tập huấn về thực hiện nguyên tắc; thường xuyên theo dõi, giúp đỡ cấp dưới trong quá trình thực hiện nguyên tắc, uốn nắn những lệch lạc, động viên những tổ chức đảng, đảng viên thực hiện tốt nguyên tắc; phê bình và xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức đảng đảng viên thực hiện không tốt và vi phạm nguyên tắc; chỉ đạo và giúp đỡ cấp ủy cấp dưới sơ kết, tổng kết việc thực hiện nguyên tắc, rút ra những kinh nghiệm bổ ích.
Trong quá trình lãnh đạo, chỉ đạo cấp ủy cấp dưới thực hiện nguyên tắc, cấp ủy cấp trên cần chú ý chi đạo việc thực hiện nguyên tắc này trong tổng thể và đồng thời với việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác của Đảng, tránh xem nhẹ việc thực hiện các nguyên tắc khác.
Cần đặc biệt coi trọng và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật của các cấp ủy, tổ chức đảng và đảng viên. Có thể nói tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc này là nhân tố đặc biệt quan trọng để nguyên tắc được thực hiện đúng đắn và đạt kết quả. Để công tác kiểm tra, giám sát thực sự phát huy tác dụng đối với việc thực hiện nguyên tắc này cần tập trung vào những vần đề sau đây:
Một là, cấp ủy các cấp thường xuyên lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc.
Nghị quyết Trung ương 5 khóa X khẳng định: Kiểm tra, giám sát là nội dung rất quan trọng trong quá trình lãnh đạo của Đảng, là chức năng lãnh đạo, là nhiệm vụ thường xuyên của toàn Đảng, trước hết là nhiệm vụ của cấp ủy và người đứng đầu cấp ủy và do cấp ủy trực tiếp tiến hành. Tổ chức đảng và đảng viên phải chịu sự kiểm tra, giám sát của Đảng. Trong đó, coi trọng việc kiểm tra, giám sát trước hết đối với cấp ủy, người đứng đầu cấp ủy khi thực hiện nguyên tắc này. Tập trung kiểm tra, giám sát việc chấp hành Hiến pháp và pháp luật gắn liền với kiểm tra, giám sát việc chấp hành các chủ trương, đường lối, nghị quyết chỉ thị, quy định của Đảng về các nội dung, lĩnh vực sau:
- Lĩnh vực tư tưởng chính trị, quản lý báo chí: kiểm tra, giám sát việc thực hiện Hiến pháp và pháp luật trong công tác tư tưởng chính trị nói chung và hoạt động báo chí nói riêng. Việc phát ngôn, tuyên truyền, in ấn các bài viết, bài nói chuyện người đứng đầu cấp ủy tuân theo đúng Luật Xuất bản. Đồng thời, xem xét việc lãnh đạo công tác này, cấp ủy, người đứng đầu có vi phạm quy định của Hiến pháp và pháp luật về quyền tự do báo chí, quyền thông tin của cá nhân, tổ chức khác không. Điều 69 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật.
- Lĩnh vực kinh tế - tài chính: kiểm tra, giám sát việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong các khâu cấp và sử dụng nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước, tài trợ của nước ngoài; trong xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị của các tổ chức đảng và đảng viên. Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đã được ban hành, song vẫn còn một số tổ chức đảng và đảng viên thực hiện chưa nghiêm. Bởi vậy, cần tăng cường kiểm tra, giám sát việc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật của các tổ chức đảng và đảng viên về thực hiện những nội dung này. Các tổ chức đảng được sử dụng ngân sách nhà nước cấp phải tuân thủ đúng chế độ thu chi, kế toán, kiểm toán, quyết toán theo quy định của Nhà nước, không sứ dụng ngân sách sai mục đích, lãng phí tiền của của nhân dân.
- Lĩnh vực tư pháp: kiểm tra, giám sát việc các cấp ủy Ban Cán sự đảng lãnh đạo, chỉ đạo và tố chức thực hiện cải cách hành chính, lãnh đạo thực hiện cải cách tư pháp trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận; lãnh đạo việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của các cơ quan tư pháp. Cấp ủy không can thiệp vào hoạt động chuyên môn của thẩm phán, kiểm sát viên... Kiểm tra, giám sát nội dung này trên thực tế rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi cán bộ kiểm tra phải có bản lĩnh, trình độ, trí tuệ và am hiểu chuyên môn về lĩnh vực tư pháp, về trình tự, thủ tục trong tố tụng; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm với những kết luận trong kiểm tra, giám sát của mình đối với những vi phạm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
- Trong công tác tổ chức và cán bộ: kiểm tra, giám sát cấp ủy cấp dưới trong việc về tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bố trí, sử dụng, khen thưởng và thực hiện chính sách cán bộ. Chú ý kiểm tra những trường hợp ban thường vụ tỉnh ủy vận dụng việc bổ nhiệm, giải quyết chế độ chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kéo dài tuổi làm việc của cán bộ không đúng quy định của pháp luật, như: xét đặc cách nâng ngạch chuyên viên cao cấp cho cán bộ, kéo dài tuổi giữ chức vụ quản lý, tuổi làm việc của một số lãnh đạo sở, ban ngành trái quy định của Bộ luật lao động. Đối với những trường hợp này, qua thực tế cho thấy, nếu chỉ tiến hành thanh tra của cơ quan chính quyền sẽ khó phát hiện và chỉ đạo giải quyết đứt điểm và kịp thời.
Hai là, đổi mới, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc của tổ chức đảng và đảng viên, phát hiện và xử lý kịp thời những vi phạm nguyên tắc.
Cấp ủy các cấp cần thường xuyên kiểm tra, giám sát việc chấp hành nguyên tắc này của tổ chức đảng và đảng viên nhằm phát hiện nhân tố tích cực để khen thưởng, động viên và nhân rộng; đồng thời phát hiện những biểu hiện vi phạm để nhắc nhở, ngăn ngừa, hạn chế các sai phạm của tổ chức đảng và đảng viên. Tập trung kiểm tra, giám sát những lĩnh vực mà tổ chức đảng, người đứng đầu cấp ủy dễ bao biện, làm thay như đầu tư xây dựng cơ bản, quản lý sử dụng đất đai, tài chính, ngân hàng, thương mạn những nơi có dấu hiệu ban hành chủ trương, chính sách trái với Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước và bao che sai phạm của cấp dưới.
Các tổ chức đảng chủ động thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn dược giao; phối hợp với ủy ban kiểm tra tham mưu, giúp cấp ủy thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và nhiệm vụ cấp ủy giao. Kịp thời phát hiện dấu hiệu vi phạm thuộc lĩnh vực công tác cua tổ chức mình và chuyển tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, giải quyết.
Ủy ban yểm tra các cấp cần tăng cường kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên, trước hết là cấp ủy viên cùng cấp, cán bộ thuộc diện cấp ủy cấp mình quản lý, chủ động phát hiện và kịp thời kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật theo những nội dung trên. Nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Kịp thời phát hiện các tổ chức đảng ban hành nghị quyết, chỉ thị trái Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước để có những biện pháp xử lý theo đúng thẩm quyền.
Tổ chức đảng hoặc đảng viên vi phạm nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật phải bị xử lý kiên quyết, kịp thời, nghiêm minh về trách nhiệm vật chất, chính trị, hành chính hoặc hình sự (đối với đảng viên), bất kể người đó là ai và ở cương vị nào. Những đảng viên qua kiểm tra, giám sát phát hiện có vi phạm đủ cấu thành tội phạm phải chuyển hồ sơ đến cơ quan pháp luật để điều tra, truy tố xét xử; không để xử lý nội bộ, phải giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Đối với những vi phạm chưa đến mức phải xử lý theo pháp luật thì phải xử lý nghiêm theo quy định về kỷ luật cán bộ, công chức, đồng thời phải xử lý kỷ luật về Đảng.
Thứ ba, coi trọng sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra, giám sát tổ chức đảng và đảng viên thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động theo khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Tăng cường kiểm tra, giám sát gắn liền với sơ kết, tổng kết cần rút ra những kinh nghiệm cả thành công và chưa thành công, đề xuất các chủ trương giải pháp áp dụng kinh nghiệm đó trong thời gian tới.
Coi trọng sơ kết, tổng kết công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy. Hằng năm, cuối nhiệm kỳ, cấp ủy các cấp từ Trung ương đến cơ sở, trước hết là người đứng đầu cấp ủy phải trực tiếp chỉ đạo tổng kết quá trình thực hiện công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng nói chung và việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật nói riêng ở cấp mình. Tập trung đầu tư nghiên cứu cả ở tầm vĩ mô và vi mô vấn đề nâng cao khả năng dự báo về tình hình vi phạm Hiến pháp và pháp luật của tổ chức đảng và đảng viên, nhất là những vi phạm mới do tác động của toàn cầu hóa, cơ chế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ mới. Chú trọng nghiên cứu các chủ trương, biện pháp, cơ chế, chính sách để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra vi phạm Hiến pháp và pháp luật của tổ chức đảng và đảng viên.
-----
Chú thích
1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, tr.161.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.125.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, tr.307.
4. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến Bộ, Mátxcơva, 1978, tr.45, tr.75.
KẾT LUẬN Đảng duy nhất cầm quyền lãnh đạo xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mở cửa, chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế là nhiệm vụ rất nặng nề, phức tạp và hoàn toàn mới mẻ, đòi hỏi phải nâng cao năng lực và vai trò lãnh đạo của Đảng, phát huy mạnh mẽ vai trò quản lý của Nhà nước. Đạt được điều này phải thực hiện mạnh, có chất lượng, hiệu quả cao công tác xây dựng Đảng và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Trong đó, xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, được Đảng ta xác định là nhiệm vụ then chốt, cần được thực hiện một cách khẩn trương, nghiêm túc với chất lượng cao. Ngoài việc thực hiện tốt các chủ trương, giải pháp xây dựng, chỉnh đốn Đảng được Đảng xác định, một vấn đề không kém phần quan trọng là nghiên cứu, tìm tòi và khẳng định các nguyên tắc hoạt động của Đảng trong điều kiện hiện nay. Việc tổng kết thực tiễn, khẳng định và ghi vào Điều lệ Đảng nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là đóng góp to lớn của Đảng ta. Nghiên cứu về nguyên tắc và tìm các giải pháp thực hiện tốt nguyên tắc này hiện nay thực sự là vấn đề rất cần thiết và cấp bách.
Nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn như: Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật là điều tự nhiên trong thời đại ngày nay; Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật xuất phát từ yêu cầu phát huy vai trò lãnh dạo của Đảng và vai trò quản lý cửa Nhà nước trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong công cuộc đổi mới hiện nay; từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân; từ yêu cầu xây dựng Đảng ngày càng vững mạnh, không ngừng đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng từ Trung ương dấn cơ sở; kinh nghiệm lãnh dạo của Đảng ta trong điều kiện có chính quyền và thực tiễn lãnh đạo của một số Đảng Cộng sản cầm quyền trên thế giới, khẳng định trong quá trình cầm quyền Đảng Cộng sản phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Nội dung của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật gồm: cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng; nội dung và phương thức hoạt động của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật; hoạt động nội bộ của Đảng phải phù hợp với Hiến pháp, pháp luật; cán bộ, đảng viên của Đảng tôn trọng và gương mẫu thực hiện Hiến pháp và pháp luật.
Thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta là tổng thể hoạt động của Đảng, các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên tác động vào các tổ chức, cá nhân, các lĩnh vực đời sống xã hội theo các nội dung của nguyên tắc, không trái ngược và vượt qua những quy định của Hiến pháp và pháp luật, làm cho những nội dung ấy thành hiện thực, nhằm phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, chức năng quản lý của Nhà nước để kinh tế thị trường ở nước ta phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những nội dung chủ yếu của việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật gồm: tuyên truyền, giáo dục, tạo sự thống nhất nhận thức về nguyên tắc, đề cao trách nhiệm thực hiện nguyên tắc của các cấp ủy, tố chức đảng, cán bộ, đảng viên; triển khai thực hiện các nội dung của nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật; xây dựng những nhân tố đảm bảo thực hiện có kết quả nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; triển khai mạnh mẽ việc kiểm tra, giám sát các tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong quá trình thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật Triển khai thực hiện nguyên tắc này đồng bộ với việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức và hoạt động khác của Đảng. Thường xuyên sơ kết, tổng kết, uốn nắn những lệch lạc, phát hiện và cổ vũ, động viên những tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên thực hiện tốt nguyên tắc, xử lý kịp thời những tổ chức đảng, đảng viên vi phạm, đúc rút những kinh nghiệm bổ ích.
Quá trình thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nhất là từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đến nay, Đảng ta đã có nhiều ưu điểm và đạt được kết quả đáng khích lệ, song cũng còn không ít bất cập, khuyết điểm, yếu kém. Thực tiễn thực hiện nguyên tắc này đã đặt ra những vấn đề chủ yếu cần giải quyết để thực hiện tốt hơn nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật: trong điều kiện Đảng ta đang tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, Nhà nước ta đang trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và và dân nên có thể có những điểm trong đường lối, chủ trương của Đảng chưa hoàn thiện, và cũng có những điểm trong một số văn bản pháp luật chưa hợp lý cần có giải pháp giải quyết những trường hợp này; giải quyết tết mối quan hệ giữa quyền lực của Đảng và quyền lực của Nhà nước; quan tâm giải quyết có hiệu quả tình trạng không ít chính quyền có biểu hiện xem nhẹ vai trò lãnh đạo của Đảng làm giảm uy tín, vị thế cầm quyền của Đảng; sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp và hoạt động của các cơ quan tư pháp đặt ra một số vấn đề cần giải quyết để vừa đảm bảo tăng cường sự lãnh đạo của Đảng vừa phát huy vai trò của các cơ quan tư pháp; tháo gỡ những vướng mắc về giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội.
Để thực hiện tốt nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó cần quan tâm nghiên cứu và thực hiện tốt các giải pháp như: tăng cường tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức trách nhiệm cho cấp ủy các cấp và cán bộ đảng viên về nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; thực hiện mạnh mẽ cuộc vận động xây dựng, chỉnh đến Đảng để Đảng đề ra Cương lĩnh chính trị và đường lối đúng đắn, là cơ sở để Nhà nước luật hóa một cách chính xác, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có chất lượng, trực tiếp thực hiện có kết quả nguyên tắc: đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đủ sức thể chế hóa Cương lĩnh, đường lối của Đảng thành hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và hoạt động có hiệu lực, hiệu quả với tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, phát huy vai trò người đứng đầu cấp ủy các cấp, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cụ thể hóa chi tiết vai trò lãnh đạo và hoạt động của Đảng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa chấp hành Điều lệ Đảng với chấp hành pháp luật của đảng viên; tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện nguyên tắc Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật.
TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Ban Chỉ đạo Trung ương 6 (2): Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 lần 2) khóa VIII, đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng chống tham nhũng, lãng phí, tài liệu chỉ đạo hướng dẫn thực hiện (lưu hành nội bộ), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003.
2. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam, Ban Chấp hành Trung ương, Tiểu Ban tổng kết công tác xây dựng Đảng: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng, thời kỳ 1975-1995, Lưu hành nội bộ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977.
5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và sửa đổi Điều lệ Đảng, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1977.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Các Nghị quyết của Trung ương Đảng 1996-1999 (sách phụ vụ thảo luận các dự thảo Văn kiện Đại hội IX), Lưu hành nội bộ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000.
7. Đảng Cộng sản Việt Nam: Điều lệ Đảng, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III, 1960, t.2.
9. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7. 10. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc tần thứ V, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1982.
11 Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Nxb. Sự Thật, Hà Nội, 1991.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1982.
13. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987.
14. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996.
16. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ sáu khóa VI, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1989.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1993.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu (lần 2) Ban Chấp hành Trung khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
24. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung khóa IX. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
26. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004.
27. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006.
28. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007.
29. Đảng Cộng sản Việt Nam:Văn kiện Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.
30. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008.
31. Đảng Cộng san Việt Nam: Văn kiện Hội nghị làn thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009.
32. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7.
33.http://llwww.tapchicongsan.com.org.vn/details.asp?Object=5&News_id=4153116.
34.http://123.30.49.74:8080/tiengviet/tulieuvankien/vankiendang/details.asp?topic=191&sub topic=700&id=BT16101053403.
35. V.I. Lênin: Toàn tập, Nxb. Tiến Bộ, Mátxcơva, 1978, t.45.
1A Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội
E-mail: congdcsvn@vptw.dcs.vn
Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu