LỜI NHÀ XUẤT BẢN Nhân kỷ niệm 82 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh (3-2-1930 - 3-2-2012) và cũng đúng dịp chúc mừng thượng thọ tuổi 95 của đồng chí Đỗ Mười - nguyên Tổng Bí thư của Đảng. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật trân trọng giới thiệu với bạn đọc cuốn sách Đồng chí Đỗ Mười – dấu ấn qua những chặng đường lịch sử.
Cuốn sách gồm hơn 80 bài viết, bài trả lời phỏng vấn (chủ yếu dưới dạng hồi ức, hồi ký, cảm tưởng) của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước qua các thời kỳ, cán bộ lãnh đạo các bộ, ngành, các địa phương, đơn vị, những người cộng sự, các nhà văn, nhà báo, trí thức, văn nghệ sĩ đã trực tiếp sống và làm việc với đồng chí Đỗ Mười kể lại những chặng đường công tác, những quyết sách, những tình cảm tốt đẹp về một nhà lãnh đạo, một người cộng sản trung kiên, quyết đoán, nói đi đôi với làm, hết lòng vì Đảng, vì nước, vì dân.
Đồng chí Đỗ Mười tên khai sinh là Nguyễn Duy Cống, sinh ngày 2-2-1917 trong một gia đình nông dân thuần hậu tại làng Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội.
Ngay từ năm 1936, khi mới 19 tuổi đồng chí đã tham gia Mặt trận Dân chủ Đông Dương và năm 1939 trở thành đảng viên cộng sản. Do những hoạt động yêu nước và cách mạng, tháng 10-1941, đồng chí bị thực dân Pháp bắt, kết án 10 năm tù, giam giữ tại Hỏa Lò - Hà Nội. Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, và Chỉ thị Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta của Thường vụ Trung ương Đảng ra đời (10-3-1945), đồng chí tổ chức vượt ngục thành công và trở về hoạt động khi cao trào cách mạng đang dâng cao, được Đảng phân công làm Bí thư Tỉnh uỷ Hà Đông, trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành chính quyền tại địa phương ven đô trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945.
Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được điều động làm Bí thư Tỉnh ủy của nhiều tỉnh như Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, kiêm phụ trách các tỉnh Hòa Bình, Thái Bình, xây dựng chính quyền cách mạng và tổ chức cuộc chiến đấu của nhân dân các tỉnh vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, đồng chí là Phó Bí thư Liên khu uỷ III, kiêm Bí thư Khu uỷ, Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến hành chính, Chính uỷ các lực lượng vũ trang Khu Tả Ngạn gồm các tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An, Thái Bình. Là một trong những người lãnh đạo chủ chốt trong vùng địch hậu ở chiến trường chính Bắc Bộ, đồng chí trở thành người chỉ huy, nhà quân sự tài năng, được mệnh danh là một vị tướng của chiến tranh du kích ở đồng bằng Bắc Bộ.
Từ sau khi hoà bình lập lại, đồng chí được Đảng phân công phụ trách nhiều bộ, ngành, nhiều lĩnh vực. Tháng 3-1955, tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá II, đồng chí được bầu làm Uỷ viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng ở tuổi 38 và từ đó liên tục tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng 7 khoá (từ khoá II đến khoá VIII), 33 năm là thành viên Chính phủ, 19 năm là Phó Thủ tướng, 3 năm làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, 8 khóa là đại biểu Quốc hội (từ khóa II đến khóa IX), liên tục trong 5 khoá là Uỷ viên Bộ Chính trị, 7 năm làm Tổng Bí thư của Đảng (khoá VII và nửa nhiệm kỳ khoá VIII).
Với 95 tuổi đời, 73 tuổi Đảng, 76 năm hoạt động không ngừng nghỉ vì độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân và sự hùng cường của đất nước trong sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế dù ở bất cứ cương vị công tác nào, từ lãnh đạo một tỉnh, một khu hay một bộ, ngành, một lĩnh vực rồi trở thành người lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước ta và cả khi đã thôi nhiệm, đồng chí Đỗ Mười đều để lại dấu ấn rất quan trọng, những tình cảm trong sáng, đẹp đẽ với đồng bào, đồng chí.
Cuốn sách này mới chỉ bước đầu ghi lại phần nào những cống hiến to lớn, những phẩm chất tốt đẹp và những tình cảm yêu thương trân trọng con người của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười.
Các bài viết trong cuốn sách đều thống nhất đánh giá đồng chí Đỗ Mười là người cộng sản mẫu mực, kiên định với mục tiêu lý tưởng, nhà lãnh đạo tài năng, tư duy nhạy bén, sắc sảo, lý luận gắn liền với thực tiễn, sâu sát thực tế, sống gần dân, thân dân, nhất quán nói đi đôi với làm, con người luôn luôn suy tư và hành động, hành động quyết liệt, hết lòng vì nước, vì dân.
Đồng chí là một tấm gương sáng suốt đời say mê học tập, tìm tòi chân lý, nêu cao đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư, xứng đáng là học trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Chúng tôi xin được trân trọng cảm ơn Nhà xuất bản Lao động, Nhà xuất bản Dân trí và đồng chí Phan Trọng Kính - Trợ lý của đồng chí Đỗ Mười, nhà báo Diệu Ân đã cộng tác, giúp đỡ Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật trong quá trình tổ chức biên tập - xuất bản cuốn sách này.
Cuốn sách ra mắt bạn đọc vào đầu Xuân Nhâm Thìn, đúng dịp đồng chí Đỗ Mười tròn 95 tuổi, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật xem đây là món quà mừng thượng thọ đồng chí, chúc đồng chí trường thọ, tiếp tục đóng góp sức lực và trí tuệ nhiều hơn nữa cho Đảng, cho dân.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách cùng bạn đọc.
Tháng 1 năm 2012
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA - SỰ THẬT
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI TƯ DUY NHẠY BÉN, SẮC SẢO, HÀNH ĐỘNG QUYẾT LIỆT LÊ KHẢ PHIÊU*
Tôi tham gia cách mạng sau anh Mười khá lâu. Trước đây, tôi tham gia chiến đấu ở các chiến trường nên ít có dịp được gần anh, nhưng danh tiếng và công tích cống hiến cho cách mạng của anh, tôi đã được nghe kể nhiều và rất mến phục anh. Anh Đỗ Mười tham gia phong trào dân chủ năm 1936, vào Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939. Anh bị thực dân Pháp bắt năm 1941, kết án 10 năm tù, giam ở Hỏa Lò. Tháng 3-1945, anh vượt ngục. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, anh được giao nhiều chức vụ quan trọng: Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch ở nhiều tỉnh, Bí thư Khu ủy, Chính ủy Quân khu Tư lệnh Khu Tả Ngạn sông Hồng. Chủ tịch ủy ban kháng chiến Liên khu III, Phó Chủ nhiệm Hội đồng chi viện tiền tuyến Trung ương thời kỳ chống đế quốc Mỹ, trực tiếp tổ chức chỉ đạo xây dựng đường ống dẫn dầu bí mật từ Lạng Sơn vào chiến trường miền Nam. Từ sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp kết thúc thắng lợi, nhất là sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, anh Đỗ Mười đảm nhận những trọng trách: Bộ trưởng Bộ Nội thương, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Chủ nhiệm ủy ban Vật giá Nhà nước, Chủ nhiệm ủy ban Kiến thiết cơ bản Phó Thủ tướng nhiều khóa, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng năm 1988 – 1991, Thường trực Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Trên 70 năm liên tục công tác, được phân công phụ trách nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của Đảng và Nhà nước, cả trong chiến tranh và trong hòa bình xây dựng, anh được tôi luyện thử thách, trong thực tiễn trở thành một cán bộ có bản lĩnh vững vàng, sắc sảo, quyết đoán, gắn bó máu thịt với nhân dân. Ở anh thực tiễn và lý luận quyện chặt với nhau, thể hiện giữa chính trị và kinh tế, giữa Đảng và chính quyền và nhân dân tạo nên chất xám trong anh, góp phần quan trọng khi anh đề xuất các chủ trương đường lối, chính sách của Đảng đúng đắn, phù hợp lòng dân được nhân dân ủng hộ.
Yêu mến và quý trọng anh Mười từ rất lâu nhưng mãi đến năm 1991, khi tôi rời chiến trường Campuchia về công tác ở Bộ Quốc phòng, được tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng rồi tham gia Ban Bí thư, làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, tôi mới được gần anh Đỗ Mười, học anh và hiểu anh nhiều hơn. Anh giữ trọng trách Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đang từ khóa VII đến nửa khóa VIII. Anh là Tổng Bí thư Đảng, Bí thư Quân ủy Trung ương nên chúng tôi được gặp, làm việc với nhau nhiều hơn hiểu nhau hơn. Anh Đỗ Mười là một con người sâu sát thực tế, sâu sát quần chúng nhân dân, nói đi đôi với làm, có tư duy nhạy bén, sắc sảo. Anh là một con người hành động, hành động quyết liệt. Trong công tác xây dựng Đảng, anh luôn giữ vũng nguyên tắc, kiên định lập trường, chịu lắng nghe, chăm lo phát hiện và bồi dưỡng cán bộ cho Đảng. Còn nhớ, khi tôi là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, một lần anh Mười cùng dự sinh hoạt với Quân ủy Trung ương, lắng nghe tôi phát biểu, cùng tranh luận, ít lâu sau anh đề nghị với Quân ủy Trung ương dành thời gian thích đáng để tôi được tham gia trực Đảng cùng với đồng chí Đào Duy Tùng. Khi cả anh và anh Đào Duy Tùng đi công tác vắng, anh gọi tôi đến và giao tôi trực Đảng. Anh nói: "Việc này mới đối với đồng chí nhưng cứ làm rồi quen dần". Tôi hiểu đây là cách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Tổng Bí thư Đỗ Mười, không chỉ riêng tôi mà trong nhiều trường hợp khác, qua cách chọn cán bộ, giao việc của anh Mười tôi thấy anh là người luôn chăm lo đào tạo cán bộ cho Đảng và Nhà nước, nhất là những cán bộ đã kinh qua chiến đấu ở tác chiến trường, con em các đồng chí cách mạng lão thành, con em các đồng chí thương binh, liệt sĩ.
Không chỉ trong xây dựng Đảng mà trong xây dựng và phát triển kinh tế anh Đỗ Mười được phân công phụ trách nhiều lĩnh vực quan trọng. Anh rất quan tâm đến lĩnh vực công nghiệp, nhất là công nghiệp cơ khí chế tạo, tài chính, ngân hàng, xây dựng nông thôn mới, xây dựng quan hệ sản xuất đã hội chủ nghĩa. Anh đi nhiều, nghe nhiều, đọc nhiều và rất thích tranh luận trong các hội nghị các ngành ở Trung ương và cả các cuộc họp ở cơ sở. Anh say sưa tranh luận đến cùng từng sự việc nên không phải không có lúc người ta tưởng anh có tư tưởng áp đặt mất dân chủ. Nhưng càng gần anh, càng hiểu anh tôi càng thấy anh là một người nói to, nói lớn nhưng làm nhiều, là một đồng chí lãnh đạo thực sự cầu thị; có lúc anh nói rất căng nhưng khi được nghe trình bày lại một cách cặn kẽ, hiểu rõ thì anh sẵn sàng thay đổi quan điểm, thay đổi nhận xét cả trong các công việc, cả về những con người cụ thể. Anh là một người vì lẽ phải nghe lẽ phải, chính anh là người đóng góp tích cực cho Nghị quyết của Trung ương về xây dựng cơ chế dân chủ ở cơ sở, ở cương vị cao nhưng anh Đỗ Mười luôn chịu khó đọc sách, tích lũy kiến thức từ những chuyến đi cơ sở. Ngay cả khi đã nghỉ, tuổi đã cao nhưng nhiều lần đến thăm anh tôi vẫn thấy anh còn miệt mài đọc sách. Anh là độc giả số một đọc nhiều sách nhất của Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật. Câu chuyện trong những lần tôi gặp anh không có gì ngoài những băn khoăn làm thế nào để công tác xây dựng Đảng ngày càng tốt hơn để ngày càng giảm đi những cán bộ lãnh đạo thoái hóa, biến chất, mất lòng dân, làm thế nào để chọn đúng những cán bộ chủ trì của Đảng, Nhà nước, xứng tầm với sự lớn mạnh của Đảng, sự phát triển của đất nước. Là Tổng Bí thư nối tiếp anh, khi cả hai người đều đã nghỉ, tôi càng nhớ lại khi anh còn làm Tổng Bí thư, trong họp bàn về chủ trương cũng như nhân sự, cụ thể khi còn có ý kiến khác nhau thì anh là người đấu tranh mạnh mẽ, nói rõ quan điểm của mình. Tinh thần đó đã làm cho các đồng chí trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và cả Trung ương đều tranh luận sôi nổi, tranh luận để đi đến thống nhất chứ không một chiều, "độc diễn”, độc đoán.
Tham gia cách mạng từ khi còn trẻ, đến nay tuổi đã gần 100 nhưng anh Đỗ Mười vẫn giữ nguyên tính cách của một người cộng sản trung kiên, một con người của hành động. Anh vẫn đọc, vẫn nghe và vui mừng trước các thành tựu của đất nước, trăn trở trước những khó khăn của đời sống nhân dân ở một số vùng. Anh buồn vì một số tồn tại, yếu kém trong Đảng, trong một số cán bộ Đảng và chính quyền các cấp chậm được khắc phục. Tôi quý trọng và học tập tinh thần cách mạng, suốt đời vì nước, vì dân, mãi mãi tận tụy với Đảng, tận hiếu với dân của anh Đỗ Mười.
______
* Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
ANH ĐỖ MƯỜI NGƯỜI CỘNG SẢN KIÊN TRUNG, HẾT LÒNG VÌ NƯỚC, VÌ DÂN Đại tướng LÊ ĐỨC ANH*
Tôi gặp anh Đỗ Mười tại Campuchia năm 1979. Lúc bấy giờ, tôi là Phó Tổng Tham mưu trưởng phụ trách Quân tình nguyện Việt Nam tại Campuchia. Đầu năm 1986, tôi làm Tổng Tham mưu trưởng thì anh Đỗ Mười làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Từ đấy, tôi và anh Đỗ Mười được làm việc gần nhau.
Đến nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (tháng 12-1986), anh Đỗ Mười giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tôi làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, chúng tôi cùng được phân công giữ những trọng trách của đất nước: Anh Đỗ Mười làm Tổng Bí thư, tôi là Chủ tịch nước, cùng nhau lo toan cho vận mệnh của đất nước và của dân tộc.
Tôi muốn nói rõ hơn về con người và sự nghiệp của anh Đỗ Mười qua các thời kỳ chúng tôi gần nhau, cùng công tác với nhau.
Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất, trong 10 năm đầu khi cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1976-1986) hậu quả cuộc chiến tranh ác liệt còn nhiều, ta chưa khắc phục được bao nhiêu. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế nước ta gặp nhiều khó khăn, lạm phát trên 700%. Biên chế bộ máy nhà nước phình to, chi phí nhiều, hiệu quả thấp. Lực lượng vũ trang quân số đông, nhưng an ninh, quốc phòng không yên tâm. Ta bị bao vây cấm vận ngặt nghèo. Cuối thập niên 80, đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô khủng hoảng, lần lượt sụp đổ. Các thế lực phản động ra sức chống phá ta...
Trong bối cảnh đó, Đảng ta đã làm hai việc lớn có ý nghĩa lịch sử:
- Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI có nhiều quyết sách mới để xây dựng đất nước, phát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh. Trên cơ sở đó, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước.
- Đại hội lần thứ VII của Đảng thảo luận và thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh đã tổng kết quá trình cách mạng Việt Nam, rút ra những bài học kinh nghiệm cho ra những phương hướng và giải pháp đổi mới toàn diện đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa.
Trong hai việc lớn đó, anh Đỗ Mười đều có đóng góp quan trọng. Anh làm rất cụ thể và triển khai thực hiện có hiệu quả. Anh là người có lập trường kiên định, làm đúng theo đường lối của Đảng.
Anh đã cùng Đảng và Nhà nước đề xuất nhiều giải pháp chống lạm phát có hiệu quả, đưa lạm phát từ 774% năm 1986 xuống còn 34,7% năm 1989 và 14% năm 1992. Trong việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, việc nước ta gia nhập ASEAN, vấn đề bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, đều có công đóng góp của anh.
Anh là người cộng sản tiên phong, xuất sắc của giai cấp công nhân. Anh nắm chắc mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Anh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng Đảng, nắm vững nguyên tắc về xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc; giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và sinh hoạt Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Anh là một cán bộ có tinh thần trách nhiệm cao, làm việc có nguyên tắc, quyết đoán trên cơ sở dân chủ, bàn bạc với mọi người, biết tôn trọng những ý kiến đúng. Trong các cuộc hội nghị bàn về những vấn đề có tầm chiến lược, anh có những đóng góp quan trọng. Những ý kiến của anh thật sắc sảo, có sức thuyết phục lớn, động viên, khích lệ các ngành, các địa phương có sáng kiến, có thành tựu trong việc thực hiện đường lối của Đảng, Chính phủ chính sách của Nhà nước.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, anh Đỗ Mười đã được Đảng và Nhà nước giao phó nhiều trọng trách, ở cương vị công tác nào anh cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ, có nhiệm vụ hoàn thành xuất sắc. Anh có nhiều cống hiến cho dân tộc, cho đất nước, cho cách mạng, nhưng anh rất khiêm tốn. Anh sống chân thành, giản dị, gần gũi, chan hòa với mọi người. Được sống gần anh và những lần làm việc trực tiếp với anh, tôi đã cảm nhận được nhiều điều sâu đậm về anh - người đảng viên cộng sản trung kiên hết lòng vì nước, vì dân.
Ngày 20-7-2010
___________________
* Nguyên ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐƯA ĐẤT NƯỚC LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÕ VĂN KIỆT*
Hỏi: Thưa đồng chí, nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 87 của đồng chí Đỗ Mười (2-2-1917 - 2-2-2003), nguyên Tổng Bí thư của Đảng, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, xin đồng chí cho biết một vài cảm nghĩ và những kỷ niệm sâu sắc trong thời gian đồng chí cùng làm việc với đồng chí Đỗ Mười?
Trả lời: Tôi với đồng chí Đỗ Mười công tác với nhau trong thời kỳ sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Còn giai đoạn trước, mỗi người ở một chiến trường, một lĩnh vực khác nhau. Cái mốc có ý nghĩa nhất là sau Đại hội VI của Đảng. Đó là lúc mà tôi và đồng chí Đỗ Mười được cùng công tác với nhau, biết nhau, gần gũi nhau rất nhiều, từ khi đồng chí Đỗ Mười còn làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cho đến khi đồng chí làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tôi là Phó Chủ tịch Thường trực cho đồng chí và tiếp sau đó đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư Đảng, tôi được phân công làm Thủ tướng Chính phủ. Tôi cho rằng đồng chí Đỗ Mười có một sự đóng góp lớn đối với thời kỳ đổi mới, nhất là từ sau Đại hội lần thứ VI của Đảng, lúc bấy giờ sự cộng tác giữa tôi đồng chí Đỗ Mười và nhiều đồng chí khác là rất chặt chẽ. Cho đến khi đồng chí Đỗ Mười nghỉ, tôi cũng nghỉ trách nhiệm trong cơ quan đảng, nhà nước, được Ban Chấp hành Trung ương giao làm Cố vấn, và sau Đại hội IX của Đảng, không còn tiếp tục làm Cố vấn nữa, nhưng theo tôi được biết, đồng chí Đỗ Mười không có một thay đổi nào khác mà vẫn tiếp tục đóng góp cho Đảng và Nhà nước. Nếu nói về mức độ tận tụy của đồng chí thì những lời nói của tôi ở đây không đủ để diễn tả được hết. Đồng chí làm bất kể việc gì có thể làm được với tất cả bầu tâm huyết làm sao cho đất nước được ngày một phát triển. Thời gian ấy, khi đồng chí Đỗ Mười làm Tổng Bí thư, ở bên Chính phủ chúng tôi cần trao đổi một vấn đề gì quan trọng với đồng chí thì hầu như cần gặp lúc nào cũng được. Ngược lại, khi đồng chí thấy có những vấn đề cần thiết cấp bách, nếu lúc đó là ngoài giờ đồng chí đến thẳng câu lạc bộ thể thao tìm tôi để anh em cùng trao đổi. Đồng chí Đỗ Mười là một người có cường độ làm việc đặc biệt, ít người có sức làm việc như đồng chí.
Cái gặp nhau giữa tôi và đồng chí Đỗ Mười mà tôi cảm thấy sâu sắc nhất đó là khi làm được bất cứ một việc gì từ nhỏ đến lớn đều không thấy thỏa mãn, mà bao giờ cũng muốn làm hơn và tiếp tục làm nhiều hơn cái và mình đã làm được. Thời kỳ đồng chí làm Tổng Bí thư (nhiệm kỳ khóa VII và nửa nhiệm kỳ khóa VIII) không hề thấy đồng chí bộc lộ ra việc đã đẩy đất nước lên một cái mức có thể nói là rất quan trọng1, tiếp nối nhiệm kỳ của đồng chí Nguyễn Văn Linh. Đó là vấn đề tôi rất tâm đắc vì nó cũng phù hợp với bản thân của mình.
Hỏi: Thưa đồng chí, đồng chí và đồng chí Đỗ Mười có những trăn trở gì?
Trả lời: Sự trăn trở cũng có những phần giống nhau và cũng có mức độ khác nhau. Phần giống nhau là, chúng tôi từ trước đến nay vẫn còn day dứt, đất nước của mình lẽ ra đi lên với nhịp độ mạnh hơn, cao hơn và tạo ra được một cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế độc lập, tự chủ. Vấn đề này so với thời gian trước rõ nhất là trong thời kỳ từ đổi mới (sau Đại hội Đảng lần thứ VI) đến bây giờ. Nhưng cái đó cũng không phải là một lời nói, một chủ trương hay một tuyên bố, một mong muốn. Mà độc lập, tự chủ nó thể hiện ra từ cấu trúc của nền kinh tế đất nước, cả về chính trị, kinh tế, văn hoá... Cái đó phải được thể hiện bằng công cuộc xây dựng của mình. Có lẽ còn phải phấn đấu một thời gan dài nữa và phải rất kiên định đi theo hướng này. Đó là cái lo lắng của đồng chí Đỗ Mười và tôi. Đó cũng là sự gần gũi, sự gặp nhau của chúng tôi. Đối với đồng chí Đỗ Mười, không có gì lay chuyển được mục tiêu đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Định hướng đó, mục tiêu đó đối với đồng chí Đỗ Mười không phải lo lắng gì vì đồng chí là người rất kiên định. Đó cũng là phẩm chất quan trọng của một đồng chí lãnh đạo tầm cỡ lớn ở trong Đảng.
Hỏi: Đồng chí đánh giá thế nào về tình cảm con người của đồng chí Đỗ Mười, tình đồng chí, đồng đội, tình anh em gắn bó?
Trả lời: Có thể nói, đồng chí Đỗ Mười là một người rất thẳng thắn đối với cán bộ. Cái gì không được, cái gì không chịu, cái gì đồng chí thấy sai, đồng chí nói ngay và nói với tất cả những tình cảm muốn làm sao cho cán bộ khắc phục được thiếu sót của mình. Nhưng đồng chí cũng có thể rất dễ dãi, gần gũi đối với cán bộ và nếu như những sai lầm, khuyết điểm đã nhận ra được thì đồng chí dễ tha thứ. Tôi nghĩ rằng đó cũng là một đặc tính rất tốt của một người lãnh đạo, tức là phải nghiêm nhưng trong quan hệ giữa con người với con người, giữa người lãnh đạo đối với cán bộ cần có sự cảm thông, có sự gần gũi, quan tâm.
Nguyễn Thị Việt Nga thực hiện
___________
*Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Chính phủ.
1. Đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, kết thúc chặng đầu thời kỳ quá độ, bắt đầu xuất khẩu gạo, bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế quốc dân, tốc độ tăng trưởng GDP hơn 9%, tạo được những tiền đề cần thiết để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, với Mỹ, gia nhập ASEAN, bắt đầu hội nhập quốc tế theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại (BT).
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI – MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO XUẤT SẮC CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VÀ CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI NGUYỄN TẤN DŨNG*
Ngày 2-2-2012, chúng ta trân trọng chúc mừng sinh nhật lần thứ 95 của đồng chí Đỗ Mười - một nhà lãnh đạo xuất sắc của Đảng, Nhà nước và công cuộc đổi mới của đất nước ta.
Bảy mươi ba tuổi Đảng, 76 năm hoạt động cách mạng, đồng chí Đỗ Mười đã đảm nhiệm nhiều vị trí lãnh đạo trong Đảng và chính quyền, từ Bí thư cấp ủy tại một số tỉnh đồng bằng Bắc Bộ và Khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban Kháng chiến hành chính và Chính ủy Tư lệnh Liên Khu III; Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến và Chính ủy Tư lệnh Khu Tả Ngạn sông Hồng trong kháng chiến chống thực dân Pháp, đến đứng đầu nhiều bộ, ngành, nhiều năm lãnh đạo Chính phủ và đảm nhiệm cương vị Tổng Bí thư của Đảng1. Trong thời chiến cũng như thời bình, đồng chí luôn là một chiến sĩ cách mạng kiên trung, một người chỉ huy mưu lược, quyết đoán, một nhà lãnh đạo tài năng, đức độ với cuộc sống giản dị, chân tình, hết lòng vì nước vì dân.
Trưởng thành từ một công nhân, với nhiệt huyết cách mạng sục sôi, lại say mê tự học, nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn cùng với sự mẫn cảm chính trị đã tạo cho đồng chí Đỗ Mười sự hiểu biết sâu sắc về nhiều lĩnh vực với một tư duy sắc sảo, nhạy bén và khả năng hùng biện, cuốn hút mọi người cùng hành động. Trải qua nhiều lĩnh vực công tác, đương đầu với những thăng trầm trong tiến trình phát triển của đất nước đã trui rèn đồng chí Đỗ Mười thành một nhà lãnh đạo tầm cỡ của cách mạng Việt Nam, để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trên từng cương vị công tác, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Vào cuối thập niên 70 của thế kỷ XX, nền kinh tế nước ta trong tình trạng khủng hoảng kéo dài, lạm phát tăng cao, sản xuất đình đốn. Việc chuyển đổi cơ chế quản lý nâng cao hiệu quả của nền kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân là nhiệm vụ hết sức khó khăn; trong nhiều vấn đề cụ thể còn là cuộc đấu tranh về quan điểm phát triển, đòi hỏi quyết tâm chính trị rất cao. Với trách nhiệm là Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí Đỗ Mười đã cùng với nhiều đồng chí lãnh đạo và các cán bộ đi sâu đi sát cơ sở, nghiên cứu tìm tòi từ thực tiễn, đề xuất với Đảng và Chính phủ nhiều giải pháp sáng tạo trong lãnh đạo điều hành để thực hiện những bước quan trọng về phát huy dân chủ trong kinh tế đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh, khai thác mặt tích cực của thị trường, tạo điều kiện giải phóng sức sản xuất, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại. Nhờ đó nền kinh tế từng bước được tháo gỡ khó khăn, sản xuất và đời sống dần được cải thiện, nước ta đã kiềm chế được lạm phát phi mã từ 774% năm 1986 xuống 34% năm 1989, 14% năm 1992 mà không có sự trợ giúp nào từ bên ngoài.
Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn, Đại hội lần thứ VI của Đảng đã đề ra đường lối đổi mới mà tiền đề quan trọng nhất là đổi một tư duy trước hết là tư duy kinh tế. Thực hiện đường lối đó, nhiều chính sách mới đã được ban hành như chính sách đổi mới kế hoạch hóa và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa đối với xí nghiệp quốc doanh, chính sách đổi mới cơ chế quản lý xây dựng cơ bản, chính sách đầu tư nước ngoài, chính sách khoán 10 trong nông nghiệp... Nhờ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý, điều hành có hiệu quả của Nhà nước, chỉ sau hơn bốn năm tiến hành công cuộc đổi mới, nước ta từ chỗ thiếu ăn triền miên, phải nhập khẩu gạo, đã vươn lên đã ăn có dự trữ và xuất khẩu hàng hóa trên thị trường, nhất là hàng tiêu dùng dồi dào, đa dạng và lưu thông tương đối thuận lợi, kinh tế đối ngoại phát triển nhanh... và đặc biệt là bước đầu hình thành nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước2, tạo tiền đề quan trọng để đổi mới sâu rộng và toàn diện hơn trong giai đoạn sau này.
Quán triệt đường lối của Đại hội Đảng VI, đồng chí Đỗ Mười đã cùng Bộ Chính trị và Trung ương Đảng tổng kết, đúc rút những bài học kinh nghiệm quý báu từ những ngày đầu đổi mới, đề ra và chỉ đạo thực hiện nhiều giải pháp mang tầm chiến lược trong phát triển đất nước. Với vai trò là ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí đã cùng lãnh dạo Đảng và Nhà nước chỉ đạo việc nghiên cứu, trình Đại hội Đảng VII thông qua hai văn kiện lịch sử là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và Chiến lược ổn định là phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. Các văn kiện này đã xác định hệ thống các quan điểm chủ trương và giải pháp tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Năm 1991, đồng chí Đỗ Mười đảm nhận trọng trách Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII. Đây là thời kỳ đất nước ta đứng trước những thử thách hiểm nghèo. Một mặt là do hậu quả của khủng hoảng kinh tế - xã hội kéo dài nhiều năm, mặt khác, sự sụp đổ của Liên Xô và hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu đã tác động sâu sắc đến đời sống kinh tế - xã hội nước ta, lòng tin của một bộ phận nhân dân giảm sút, đông đảo cán bộ và nhân dân lo lắng, một số dao động, hoài nghi về tiền đồ của chủ nghĩa xã hội3. Chính tại thời khắc lịch sử này, bản lĩnh của người cộng sản được tôi luyện qua nhiều thử thách trong đấu tranh cách mạng, ở đồng chí Đỗ Mười đã được phát huy cao độ.
Từ sự kiện Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, với nhạy bén chính trị của mình, đồng chí cùng Bộ Chính trị và Trung ương Đảng chỉ đạo nghiên cứu, phân tích làm rõ những sai lầm trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, đi sâu chấn chỉnh nội bộ Đảng ta, không để Đảng ta lệch lạc về quan điểm, đường lối; lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân đoàn kết, triển khai sâu rộng và hiệu quả Nghị quyết Đại hội lần thứ của VII của Đảng, tiếp tục tạo nên sức chiến đấu mới cho Đảng vượt qua những năm tháng cam go và giữ vững vai trò lãnh đạo. Phát biểu khai mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII, ngày 18-6-1992, Tổng Bí thư Đỗ Mười đã đưa ra một luận điểm rất quan trọng: "Tất cả phải được tiến hành một cách đồng bộ, trong đó nhiệm vụ kinh tế là trung tâm và nhiệm vụ xây dựng Đảng giữ vai trò then chốt"4. Tiếp đó, Ban Chấp hành Trung ương do đồng chí Đỗ Mười đứng đầu đã triệu tập Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng. Hội nghị là sự chuẩn bị chính trị tư tưởng cho Đảng và nhân dân ta kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện phe xã hội chủ nghĩa cùng phong trào cộng sản và công nhân thế giới ở vào giai đoạn thoái trào. Chính tại hội nghị này, Đảng ta xác định bốn nguy cơ đang đặt ra đối với Đảng ta, đất nước ta, đó là: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới do điểm xuất phát thấp, nhịp độ tăng trưởng chưa cao và chưa vững chắc, lại phải đi lên trong môi trường cạnh tranh gay gắt; nguy cơ chệch hướng xã hội chủ nghĩa nếu không khắc phục được những lệch lạc trong chỉ đạo thực hiện; nạn tham nhũng, các tệ nạn xã hội khác; âm mưu và hành động diễn biến hoà bình, của các thế lực thù địch5. Để đối phó với những nguy cơ đó, hội nghị đã một lần nữa khẳng định phát triển kinh tế là trung tâm xây dựng, Đảng là then chốt6. Dưới sự lãnh đạo của Đảng mà đồng chí Đỗ Mười trong vai trò Tổng Bí thư cả hệ thống chính trị đã chung sức đồng lòng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, từng bước đưa Cương lĩnh và Chiến lược vào cuộc sống, nước ta đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, tạo thế và lực mới, tiếp tục tiến lên đổi mới và hội nhập.
Đồng chí Đỗ Mười đã luôn suy nghĩ, trăn trở về kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, về hội nhập kinh tế quốc tế và độc lập tự chủ, về tiến trình công nghiệp hóa và hướng đi lên của nông nghiệp nông thôn và nông dân nước ta. Cũng trong nhiệm kỳ Đại hội VII, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết Trung ương 5 về tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn và Nghị quyết Trung ương 7 về phát triển công nghiệp, công nghệ đến năm 2000 theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xây dựng giai cấp công nhân trong giai đoạn mới. Đây là các nghị quyết quan trọng đặt nền móng để Trung ương các khóa sau tiếp tục hoàn thiện, nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế cơ bản nhất trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Nhìn lại, chúng ta càng thấy tính sáng suốt, đúng đắn trong các nghị quyết này càng nhận thấy sự đóng góp to lớn của đồng chí Đỗ Mười với sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta.
Cùng với đổi mới kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã triển khai năng động, hiệu quả đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế, Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước vì hòa bình, hợp tác và phát triển. Ngay trong những ngày đầu của nhiệm kỳ Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười đã cùng lãnh đạo Đảng, Nhà nước chỉ đạo thực hiện chủ trương khôi phục và mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt với Trung Quốc; xóa bỏ thế lực bao vây, cấm vận và bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ; gia nhập ASEAN; khai thông quan hệ với các định chế tài chính quốc tế. Các thành tựu ngoại giao thời kỳ này đã mở ra chương mới cho đối ngoại Việt Nam góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế và hợp tác nhiều mặt giữa nước ta với các nước, tạo tiền đề để nước ta chủ động tích cực hội nhập khu vực và thế giới tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tố quốc. Dân chủ là bản chất tốt đẹp của chế độ ta, ở đồng chí Đỗ Mười dân chủ không chỉ là tác phong lãnh đạo sâu sát thực tiễn, gần gũi với nhân dân mà còn là quan điểm cốt lõi của Đảng, vừa dân chủ, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc phát triển đất nước. Đồng chí Đỗ Mười đã đề xuất với Bộ Chính trị khoá VIII ban hành Chỉ thị về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của nhân dân, làm lành mạnh các quan hệ xã hội, góp phần tích cực xây dựng chính quyền trong sạch, vững mạnh, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở và trên phạm vi cả nước. Đồng chí Đỗ Mười cũng luôn quan tâm lãnh đạo việc xây dựng và hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước ta thực sự là của dân, do dân và vì dân. Chính trong nhiệm kỳ đồng chí Đỗ Mười làm Tổng Bí thư dưới sự lãnh đạo của Đảng, Quốc hội đã sửa đổi Hiến pháp 1992 để phù hợp với tình hình mới, đề cao nguyên tắc mọi quyền lực Nhà nước đều thuộc về nhân dân và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội.
Gắn bó với nhân dân, quan tâm đến đời sống của các tầng lớp nhân dân là bản chất, là tính cách tự nhiên của đồng chí Đỗ Mười. Đồng chí luôn gần gũi và sẵn sàng đối thoại với dân, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của nhân dân; luôn trăn trở về các chủ trương, chính sách nhằm bảo vệ quyền lợi và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân. Đảm trách cương vị Tổng Bí thư của Đảng, dù bận trăm công ngàn việc đồng chí vẫn dành thời gian đọc đơn thư của dân, chỉ đạo việc tiếp dân, trở thành một nhiệm vụ thường xuyên của lãnh đạo các cấp ủy Đảng và chính quyền. Đặc biệt quan tâm đến những người có công với cách mạng, gia đình chính sách, đồng chí Đỗ Mười đã đề xuất phong tặng Danh hiệu vinh dự nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xác lập thêm một hình thức tri ân đền ơn đáp nghĩa thiết thực, có ý nghĩa giáo dục và giá trị nhân văn sâu sắc trong xã hội ta.
Tinh thần cách mạng triệt để, phong cách làm việc cụ thể, sâu sát, nhiều khi trời chưa sáng hoặc đã đến tận khuya, đồng chí Đỗ Mười vẫn đánh thức cấp dưới dậy dặn dò, nhắc nhở việc này việc khác. Đồng chí cũng hay "truy hỏi" cấp dưới, làm một số người đối thoại mất tự tin. Đấy có thể là nhược điểm của đồng chí, nhưng sâu thẳm bên trong một con người luôn hành động quyết liệt là một tấm lòng nhân ái bao dung, yêu thương cấp dưới, yêu thương đồng chí, đồng bào, chăm lo phát hiện, bồi dưỡng và đào tạo cán bộ cho Đảng, cho đất nước. Nhiều người từng được làm việc, tiếp xúc với đồng chí Đỗ Mười cũng có cảm nhận giống tôi. Không ít trong số họ đã được đồng chí Đỗ Mười phát hiện, bồi dưỡng đào tạo, trở thành những cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị nước ta.
Đối với tôi, dù thời gian đi qua đã khá lâu, đến nay tôi vẫn còn nhớ rất rõ từng cử chỉ, lời nói rất sâu sắc, thuyết phục và rất thân tình của đồng chí Đỗ Mười khi tôi phải vào bệnh viện để phẫu thuật và trước khi điều động tôi từ Bí thư Tỉnh ủy Kiên Giang ra nhận nhiệm vụ Thứ trưởng Bộ Công an, hay khi giới thiệu tôi tham gia Bộ Chính trị, Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và khi phân công tôi làm nhiệm vụ Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ, kiêm nhiệm Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Tôi luôn chân thành biết ơn và thật sự khâm phục về tấm gương cách mạng trong sáng, về tình thương và trách nhiệm của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười.
*
* *
Vẫn nguyên tính cách của người cộng sản kiên trung, một con người của hành động luôn đau đáu nghĩ suy, lo toan những vấn đề đặt ra của đất nước, của Đảng, tuy đã nghỉ công tác nhưng đồng chí vẫn giữ giờ giấc như ngày còn đương chức, vẫn thức khuya dậy sớm, nghiên cứu tài liệu, gặp gỡ các nhà khoa học, bạn bè đồng chí để tìm hiểu những vấn đề mới, luận bàn về công việc của đất nước, về xây dựng Đảng; tâm huyết đề xuất với Đảng và Nhà nước về nhiều công việc quan trọng, từ những tư duy chính sách mới về chính trị kinh tế, văn hóa, xã hội bảo đảm đời sống của người nghèo, phòng tránh thiên tai, bão lũ ... Ở đồng chí Đỗ Mười - một học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, luôn mẫu mực về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư; một nhân cách lớn, một tấm lòng nhân hậu của nhà lãnh đạo luôn hòa quyện với những suy nghĩ và mong ước đời thường của người dân.
Những ai đã từng gặp gỡ, từng chiến đấu, công tác và làm việc gần gũi với đồng chí Đỗ Mười, hẳn không thể quên những hình ảnh vô cùng thân thiết, dung dị, những kỷ niệm đẹp đẽ đầy tình đồng chí, tình người, những thái độ ân cần chỉ bảo, động viên, khuyến khích của đồng chí. Và, chắc hẳn cũng đồng cảm chia sẻ cảm xúc mộc mạc mà chân thành như nhà thơ Phạm Tiến Duật đã viết:
"… Tôi nhìn bác, người anh, người đồng chí,
Hiền từ như đồng đất quê tôi.
Ấy trái tim không già, ấy trái tim trung thực,
Suốt một đời chỉ đập vì dân"7.
–––––––––––––––––––––––––––
* Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ.
1. Đồng chí Đỗ Mười đã tham gia 7 khóa Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 8 khóa là đại biểu Quốc hội, 33 năm là thành viên Chính phủ, 5 khóa tham gia Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, hơn một khóa làm Tổng Bí thư của Đảng.
2. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.18.
3. Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.109.
4, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t.52, tr.82; t.53, tr.198.
6. Điều này được Đại hội Đảng lần thứ VII tiếp tục khẳng định thành một bài học quan trọng.
7. Trích bài thơ Một trái tim không thể nào già của nhà thơ Phạm Tiến Duật kính tặng đồng chí Đỗ Mười.
ANH ĐỖ MƯỜI - MỘT CÁN BỘ RẤT TRUNG THÀNH CỦA ĐẢNG NGUYỄN VĂN TRÂN*
Đầu năm 1940, tôi bị địch bắt ở Từ Liêm (lúc đó thuộc về tỉnh Hà Đông). Cuối năm 1940, chúng giam tôi trong nhà tù Sơn La. Thời kỳ này anh Đỗ Mười hoạt động ở Hà Đông. Năm 1943, tôi vượt ngục về tham gia Xứ ủy Bắc Kỳ, chuyên phụ trách công đoàn. Giữa năm 1944, đồng chí Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ Văn Tiến Dũng bị bắt, Trung ương cử tôi làm Bí thư Xứ ủy Bắc Kỳ.
Tháng 3-1945, Nhật đảo chính Pháp, lợi dụng thời cơ này các tù nhân chính trị ở nhà tù Hỏa Lò tổ chức vượt ngục thành công, trong đó có anh Đỗ Mười. Các đồng chí đã nhanh chóng bắt liên lạc với cơ sở Đảng và được đưa về cơ quan Xứ ủy Bắc Kỳ ở làng Vạn Phúc. Hồi ấy, tôi đang làm Bí thư biết rằng rất thiếu cán bộ cốt cán, nghe tin các anh về tôi rất mừng.
Tôi còn nhớ lúc đó tôi đã nói chuyện với anh Mười:
- Các đồng chí đã thoát khỏi nhà tù đế quốc về với Xứ ủy tôi rất mừng, bây giờ đồng chí muốn bố trí công tác thế nào?
- Trước khi bị bắt tôi là cán bộ ở Hà Đông.
- Vậy Xứ ủy quyết định đưa anh về làm Bí thư Tỉnh lỵ Hà Đông, trước mắt là như vậy, vì đây là địa bàn anh đã hoạt động quen, nhưng khi cần Trung ương sẽ điều động anh đi nơi khác.
Sau khi anh Đỗ Mười về Hà Đông lãnh đạo, phong trào cách mạng của tỉnh phát triển rất tốt. Tháng 9-1945, sau Cách mạng Tháng Tám thành công, anh Đỗ Mười vẫn tiếp tục làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông. Thời kỳ này mặc dù chính quyền cách mạng đã điều hành đất nước, nhưng vì chính quyền còn quá non trẻ nên bọn phản động đội lốt Công giáo nổi lên chống phá cách mạng, đặc biệt nghiêm trọng là Công giáo ở tỉnh Ninh Bình.
Bác Hồ chỉ thị cho Xứ ủy Bắc Kỳ phải tổ chức gặp mặt các cha cố Công giáo để phổ biến chủ trương đại đoàn kết dân tộc, Công giáo kính Chúa, yêu nước.
Tôi đã về Phát Diệm - Ninh Bình tổ chức cuộc họp này và đã gặp Giám mục Lê Hữu Từ, yêu cầu giám mục vận động giáo dân đoàn kết, ủng hộ chính quyền cách mạng non trẻ. Giám mục Lê Hữu Từ đã nhận lời sẽ kêu gọi giáo dân chấp hành theo yêu cầu của cách mạng, nhưng khi Pháp nhảy dù xuống Ninh Bình, giám mục lại chạy theo Pháp chống phá lại cách mạng rất quyết liệt. Xứ ủy Bức Kỳ thấy cần tăng cường cán bộ cho Tỉnh ủy Ninh Bình nên đã quyết định điều anh Đỗ Mười, Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông về làm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình. Thời kỳ anh Mười về Ninh Bình làm công tác đoàn kết Công giáo rất tốt. Với vai trò Bí thư Tỉnh ủy, anh đã vận động được bà con Công giáo đi theo ủng hộ cho cách mạng và đề nghị với Khu ủy Khu III cho thành lập ủy ban liên lạc những người Công giáo kháng chiến kính Chúa, yêu nước.
Tháng 1-1948, Trung ương chủ trương thành lập Liên khu III trên cơ sở hợp nhất ba chiến khu:
1. Chiến khu I, là chiến khu Hà Nội, do tôi phụ trách;
2. Chiến khu II, gồm: Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình, do anh Trần Quốc Hoàn phụ trách.
3. Chiến khu III, gồm: Hải Phòng, Quảng Ninh, Kiến An, Thái Bình, do anh Lê Thanh Nghị phụ trách.
Tôi được cử làm Bí thư Liên khu III. Đồng chí Lê Thanh Nghị làm Phó Bí thư.
Khi tôi làm Bí thư Liên khu III, anh Đỗ Mười là Ủy viên Thường vụ kiêm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình.
Năm 1950, nổi lên một vấn đề hết sức khó khăn: bọn Pháp tổ chức những trận càn rất lớn nhằm bảo vệ đường 5 - là đường giao thông huyết mạch của chúng từ Hải Phòng về Hà Nội. Từ những cuộc càn quét lớn đó nhiều cơ sở cách mạng của ta bị tan vỡ, nhân dân rất hoang mang.
Trung ương yêu cầu phải thành lập Mặt trận đường 5, cử một đồng chí khu ủy viên phụ trách đường 5. Khi Trung ương yêu cầu có rất nhiều anh xung phong. Trung ương nghiên cứu quyết định cử anh Đỗ Mười sang Phụ trách Mặt trận đường 5. Anh Đỗ Mười về phụ trách Mặt trận đường 5 đã tổ chức được nhiều trận đánh hay, đánh được nhiều đoàn tàu chở quân lính, vũ khí, lương thực của địch từ Hải Phòng lên tiếp viện cho Điện Biên Phủ.
Trung ương quyết định cho thành lập Khu Tả Ngạn, cử đồng chí Đỗ Mười là Bí thư Khu ủy Tả Ngạn. Như vậy, từ thực tế cách mạng Trung ương đã chỉ đạo rất kịp thời về việc thành lập Khu Tả Ngạn riêng để không phải về Liên khu III xin ý kiến chỉ đạo quá xa sẽ bị chậm trễ.
Khu Tả Ngạn lúc đó gồm có: Hưng Yên, Hải Dương, Thái Bình, Kiến An, Hải Phòng. Tôi được biết thời kỳ ở đường 5, anh Mười có nhiều cách chỉ huy các trận đánh rất dũng cảm, sáng tạo, diệt nhiều sinh lực địch, phối hợp chặn đường chi viện then chốt chủ yếu cho mặt trận Điện Biên Phủ, bọn Pháp phải dùng máy bay để chi viện. Ta còn tổ chức đánh sân bay Cát Bi, tiêu diệt khá nhiều máy bay của địch. Cũng thời điểm đó ở Hà Nội, bộ đội ta cũng tổ chức đánh sân bay Gia Lâm, phá được 50 máy bay. Như vậy, thời kỳ ở Khu Tả Ngạn anh Đỗ Mười cũng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Đến năm 1953, tôi đi tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ, anh Đỗ Mười vẫn ở Khu Tả Ngạn, sau này chúng tôi ít có dịp cùng công tác.
Theo tôi, anh Đỗ Mười là cán bộ rất trung thành với cách mạng, đặc biệt hăng hái, nhiệt tình; một cán bộ quyết liệt lắm, không do dự dù khi làm công tác ở tỉnh, ở Tả Ngạn hay ở cấp Nhà nước. Anh sống vì dân, tất cả đều vì dân. Anh là người có tư tưởng, quan điểm rất rõ ràng, giữ vững lập trường quan điểm, không dao động, lung lay, không sợ khó khăn, gian khổ.
Ngày 10-10-2010
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––
* Nguyên Bí thư Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội.
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CỦA ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI LÀ THỰC TẾ SỐNG VÀ CHIẾN ĐẤU GS. VŨ KHIÊU*
Tôi được gặp đồng chí Đỗ Mười sau ngày Cách mạng Tháng Tám. Sáu mươi năm qua là 60 năm tôi được gần gũi và thường xuyên được học hỏi đồng chí trong công tác cũng như trong cuộc sống. Tôi có thể nói rằng, sự trưởng thành của tôi trên con đường cách mạng gắn liền với việc đồng chí quan tâm và bồi dưỡng tôi ngay những năm tháng đầu tiên khi tôi được gia nhập Đảng Cộng sản.
Tình cảm giữa đồng chí và tôi thực là sâu sắc. Hôm nay, nhân ngày sinh 88 tuổi của đồng chí, tôi không nói về nỗi riêng tư này mà chỉ nêu lên mấy điểm mà tôi cảm nhận được ở con người đồng chí:
1. Đồng chí đã suốt đời thể hiện một nhiệt tình mãnh liệt lý tưởng cách mạng, đối với sự nghiệp giải phóng cho dân tộc bị nô dịch, cho nhân dân bị đói khổ, cho con người bị chà đạp, cho nhân loại bị khổ đau.
Nhiệt tình ấy thường biểu hiện qua sự nhận thức rất nhạy bén trước mọi diễn biến của cuộc sống, qua sự giải quyết mau lẹ mọi vấn đề được đặt ra và đặc biệt qua một thái độ lúc nào cũng linh hoạt và sôi nổi.
Chính tình cảm sâu sắc đối với sự nghiệp cách mạng và tấm lòng thành thật yêu thương đối với mọi con người đã khiến cho cả việc làm và lời nói của đồng chí luôn luôn có một sức mạnh thuyết phục. Tôi được chứng kiến nhiều buổi nói chuyện của đồng chí với nhân dân và tôi đã vô cùng xúc động khi các cụ, các bác, các cô, các anh chị em cùng khóc như mưa khi đồng chí nói về tội ác của giặc, về nỗi khổ của nhân dân, về sự hy sinh của người cộng sản. Từ những ngày tháng ấy, tôi nhận thức được tài hùng biện của đồng chí, nhưng tôi nghĩ rằng ở đồng chí không chỉ là cách thức nói năng mà xuất phát từ những tình cảm cháy bỏng của đồng chí. Ở đây tôi rút ra bài học là không thể có những bài phát biểu hay nếu như không phải là những lời nói toát ra từ một khối óc sáng suốt và từ một trái tim thực sự chân thành.
Sau này tôi lại được biết khi đồng chí làm Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, sau đó làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong nhiều lần tiếp xúc với khách quốc tế và các đoàn ngoại giao, đồng chí đã chinh phục được lòng người qua những lời nói giản dị và đầy ý nghĩa. Đặc biệt, đồng chí thường nêu lên tinh thần nhân văn chủ nghĩa lấy truyền thống đại nghĩa của Việt Nam để thuyết phục đối phương và mở rộng quan hệ đa phương với tất cả các nước yêu chuộng hòa bình yên thế giới.
2. Từ lâu, tôi rất khâm phục tinh thần hiếu học của đồng chí Đỗ Mười. Khổng Tử ngày xưa có nói tới ba loại tri thức: thứ nhất là sinh ra đã biết (sinh nhi tri), thứ hai là do học mà biết (học nhi tri), thứ ba là do khốn khó mà biết (khốn nhi tri). Tôi thấy đồng chí Đỗ Mười đã tập trung vào mình cả ba loại tri thức đó. Trong khi tiếp xúc với đồng chí Đỗ Mười, tôi thấy đồng chí rất thông minh và nhạy bén trước mọi vấn đề. Nhưng tôi nghĩ rằng sự thông minh không đủ để cho một con người trở thành trí thức. Đồng chí còn là một người lăn lộn trong cuộc sống và trong chiến đấu. Nhà văn Xôviết Mácxim Gorki trong cuốn sách Trường đại học của tôi đã cho thấy ông trở thành một nhà văn lớn là do học tập từ trong cuộc sống gian khổ và khó khăn của ông. Trường đại học của đồng chí Đỗ Mười chính là cuộc sống của đồng chí, là thực tiễn cách mạng mà đồng chí đã trải qua. Sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo, cha mẹ đông con, bị phong kiến, thực dân áp bức, bóc lột, đồng chí không được học nhiều. Nhưng tham gia cách mạng từ rất sớm (ngay từ năm 1936), bị bắt giam ở nhà tù Hỏa Lò cho đến ngày đầu khởi nghĩa, đồng chí vượt ngục ra ngoài hoạt động, lúc đó sự tàn bạo của thực dân Pháp và phát xít Nhật cộng với hai triệu người chết đói năm 1945, tất cả sự khốn khổ đó đã hun đúc tinh thần cách mạng và nâng cao tầm kiến thức của đồng chí.
Hai điều nói trên còn được bổ sung bằng một điều kiện thứ ba nữa. Đó là tinh thần tự học rất miệt mài và đầy nghị lực qua sách vở. Ngay từ thời đầu cách mạng, tôi thấy lúc nào đồng chí Đỗ Mười cũng có một cuốn sách trong cặp. Giờ nghỉ là đọc sách, đêm nằm cũng giở sách ra xem. Đồng chí tự gạch dưới hoặc chép lại những đoạn mà đồng chí cho là quan trọng. Hiện nay, trong nhà đồng chí có một thư viện gồm những sách đồng chí tích lũy từ trước và những sách đồng chí mới mua gần đây. Năm 1975, tôi có tặng đồng chí hai quyển sách vừa xuất bản năm đó: quyển Anh hùng và nghệ sĩ và quyển Người trí thức Việt Nam qua các chặng đường lịch sử. Hai quyển sách này rất dày mà chỉ sau một tháng sau, gặp tôi đồng chí nói: "Tôi đã đọc xong hai quyển sách của anh rồi". Tôi càng ngạc nhiên khi ngồi nói chuyện, đồng chí nhắc đến từng đoạn mà đồng chí cho là viết tốt và góp ý vào những đoạn mà đồng chí thấy còn thiếu sót.
Từ những điều nói trên khiến tôi nghĩ ràng sáu bảy mươi năm liên tục tự học với một sự cố gắng không mệt mỏi, đồng chí đã đạt tới một trình độ hiểu biết tương đối cao và toàn diện.
Tôi nghĩ rằng với bao nguồn hiểu biết ấy, đồng chí đã thực hiện thành công những nhiệm vụ rất đa dạng của Đảng và Nhà nước: từ những hoạt động khẩn trương trong vận động tổng khởi nghĩa đến làm bí thư nhiều tỉnh thời kháng chiến, phụ trách quân sự và chính trị ở quân khu cho đến Trưởng ban Phụ vận... Trong công tác chính quyền, đồng chí được giao những chức vụ từ Thứ trưởng đến Bộ trưởng, Trưởng ban Thanh tra Chính phủ, Trưởng ban Vật giá Chính phủ, Phó Thủ tướng và Thủ tướng...
Tôi nghĩ rằng, cuộc sống muôn màu đầy khó khăn và gian khổ cộng với tinh thần học tập suốt đời và óc thông minh vốn có, đó là trường đại học đầy đủ mà ít người có được.
3. Điều thứ ba mà tôi nhận thức được ở đồng chí: Đồng chí là một con người lúc nào cũng chân thành, yêu mến và săn sóc anh em đồng chí và đông đảo cán bộ chung quanh mình. Đồng chí quan tâm tới từng con người, hiểu biết những hoàn cảnh khó khăn của họ trong đời sống riêng tư cũng như trong công tác. Đặc biệt là đồng chí luôn luôn chú ý tới thế hệ trẻ sớm nhận ra những con người có đạo đức và tài năng để quan tâm bồi dưỡng và đề bạt họ. Chính vì thế mà những người đã từng gần gũi và làm việc nhiều năm với đồng chí Đỗ Mười đều hết lòng tin cậy và yêu mến đồng chí. Đối với tôi và nhiều người khác, đồng chí mãi mãi là tấm gương sáng về một người cộng sản chân chính.
–––––––––––––––––
* Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới.
NGƯỜI HỌC TRÒ XUẤT SẮC CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH VĨ ĐẠI PHẠM THẾ DUYỆT*
Trước hết, phải nói đồng chí Đỗ Mười là người mà cả cuộc đời đã "tận trung với nước, tận hiếu với dân", toàn tâm toàn ý phục vụ cách mạng. Trong lao tù đế quốc Pháp trước cách mạng năm 1945, đồng chí đã kiên trung bất khuất, vượt nhà tù Hoả Lò để về tiếp tục hoạt động cách mạng.
Đồng chí được Đảng phân công hoạt động từ các cơ sở, làm Bí thư nhiều tỉnh, thành phố và Khu Tả Ngạn, làm Bộ trưởng nhiều bộ quan trọng, rồi làm Phó Thủ tướng Chính phủ nhiều năm, Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa VI, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng sau khi đồng chí Phạm Hùng qua đời năm 1988, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, và nửa nhiệm kỳ khóa VIII, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho đến khi nghỉ công tác ở tuổi 84, đồng chí vẫn luôn học tập, làm việc, đóng góp nhiều ý kiến cho Đảng và các tổ chức trong hệ thống chính trị. Làm nhiệm vụ gì đồng chí cũng hoàn thành và có nhiều cống hiến xuất sắc cho cách mạng.
Tuy là người không học cao theo hệ chính quy, nhưng đồng chí rất ham học tập qua thực tiễn, qua đọc sách, nghiên cứu. Tôi được biết hiếm có đồng chí lãnh đạo nào chịu khó nghiên cứu để tự nâng trình độ hiểu biết về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội như đồng chí. Chính vì vậy, đồng chí hiểu biết toàn diện, sâu sắc nhiều vấn đề cả trong và ngoài nước. Mỗi khi đến thăm đồng chí, kể cả khi đồng chí đã nghỉ công tác, lúc nào tôi cũng thấy đồng chí đọc những tư liệu, những sách mới xuất bản (dày 400-500 trang) quan trọng. Đồng chí thường hỏi những vấn đề thời sự mọi người quan tâm và chỉ cho tôi những trang, dòng quan trọng đồng chí mới đọc. Tôi tự nghĩ đồng chí Đỗ Mười là người nêu tấm gương mẫu mực nhất về tinh thần học, học nữa, học mãi, học để có kiến thức làm việc và làm việc có hiệu quả.
Ấn tượng sâu sắc của tôi là đồng chí Đỗ Mười trên cương vị công tác nào cũng làm việc hết mình. Năm 1972, khi là Phó Thủ tướng Chính phủ, đồng chí đã triệu tập các bộ hữu quan cùng lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh bàn việc mỏ than Mạo Khê mở rộng xuống mức âm 150 m theo hiệp định Trung Quốc giúp ta thiết kế và xây dựng cùng với xây dựng cầu Thăng Long khi đó. Đây là cuộc họp cấp Chính phủ triệu tập mà không có giờ nghỉ trưa, cuối cùng đã có kết luận rõ trách nhiệm mọi việc cần giải quyết thuộc các bộ, các ngành, địa phương và cần làm. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi về ngày làm việc với đồng chí Đỗ Mười.
Sau này, kể từ năm 1982 đến nay, tôi càng hiểu sự quan tâm xây dựng nền công nghiệp nước nhà của đồng chí. Tôi thiết nghĩ có được nhiều công trình xây dựng và cơ sở công nghiệp về nhiệt điện, thủy điện cơ khí thủy lợi lớn như Hòa Bình, Uông Bí, Phả Lại, Diezel Sông Công, Apatít Lào Cai, dầu khí Vũng Tàu - Nam Côn Sơn, thủy lợi Dầu Tiếng - An Giang... thì công lao đóng góp của đồng chí Đỗ Mười và lớp cán bộ lãnh đạo đi trước thật không sao kể hết. Chính nhờ những chủ trương đúng đắn về phát triển công nghiệp trước đây mà đã tạo dựng được cơ sở và điều kiện cho công cuộc đổi mới hội nhập khu vực, hội nhập quốc tế thành công như hiện nay.
Những năm đầu đổi mới, tôi được Đảng phân công làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Đồng chí Đỗ Mười đã cùng Chính phủ, Bộ Chính trị luôn quan tâm giúp đỡ Hà Nội giải quyết rất nhiều vấn đề quan trọng để xóa bỏ bao cấp, xóa bỏ tem phiếu, giữ vừng Thủ đô Hà Nội ổn định và phát triển. Nhờ sự giúp đỡ của Trung ương và đồng chí Đỗ Mười với cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ) rồi cương vị Tổng Bí thư của Đảng mà Thủ đô đã thực sự đổi mới đúng hướng, phát triển nhanh với những bước đi vững chắc, xứng đáng là Thủ đô ngàn năm tuổi hôm nay.
Nhớ lại sự kiện mất ổn định ở nông thôn Thái Bình cuối năm 1997, tôi được Bộ Chính trị giao trách nhiệm Tổ trưởng Tổ công tác của Bộ Chính trị về giải quyết. Với cương vị Tổng Bí thư của Đảng, sau là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, đồng chí Đỗ Mười đã luôn luôn quan tâm, theo dõi tình hình Thái Bình và góp ý cách xử lý giải quyết của tổ công tác cùng với Đảng bộ Thái Bình. Kết quả là tình hình Thái Bình đã nhanh chóng ổn định, nhân dân Thái Bình rất tin tưởng ở sự lãnh đạo giải quyết đúng đắn của Đảng, Nhà nước.
Từ tình hình ở Thái Bình, đồng chí Đỗ Mười đã dày công góp phần chỉ đạo xây dựng và ban hành Chỉ thị số 30/CT-TW của Bộ Chính trị khóa VIII và Nghị định số 29/NĐ-CP của Chính phủ về Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở, đặc biệt là ở xã, phường và khu dân cư. Chính nhờ những văn bản quan trọng này mà nhân dân cả nước rất phấn khởi, hưởng ứng thực hiện... Nghị định số 29/NĐ-CP đến nay đã được Ủy ban Thường vụ Quốc hội nâng lên thành pháp lệnh về phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
Đồng chí Đỗ Mười đã có công lao to lớn trong chỉ đạo xây dựng ban hành và hướng dẫn thực hiện những văn bản mang tính pháp quy về phát huy quyền làm chủ của nhân dân ở cơ sở.
Khi về làm công tác chuyên trách ở Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi đều nhận được sự quan tâm, ủng hộ rất sâu sắc của đồng chí Đỗ Mười với các cuộc vận động: "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" và "Ngày vì người nghèo" do Mặt trận phát động. Tuy tuổi đã ngoài 90 nhưng đồng chí Đỗ Mười đã nhiều lần đến cơ quan Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam để tự tay bỏ những phong bì tiền vào hòm quỹ ủng hộ người nghèo, dự họp góp ý với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nhân Đại hội VI của Mặt trận (năm 2004). Những ý kiến của đồng chí bao giờ cũng rất sâu sắc và có sức cổ vũ đại đoàn kết các tầng lớp nhân dân. Tôi biết đồng chí không chỉ quan tâm đến việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng, của hệ thống chính trị, mà đồng chí còn luôn quan tâm đến tâm tư tình cảm, đời sống vật chất, tinh thần cua các tầng lớp nhân dân.
Vài thập kỷ qua, đồng chí Đỗ Mười không chỉ là người lãnh đạo có bản lĩnh chính trị vững vàng trong lãnh đạo, chỉ đạo tầm vĩ mô, vi mô để cùng Đảng ta đưa đất nước phát triển nhanh, vững chắc theo Cương lĩnh chính trị năm 1991 của Đảng, tránh được sự sụp đổ chế độ xã hội chủ nghĩa như Đông Âu, Liên Xô, mà đồng chí còn là tấm gương sáng về tinh thần học tập suốt đời, về lối sống cần kiệm, giản dị, liêm khiết, về ý thức tổ chức nghiêm minh và suốt đời phấn đấu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Mỗi lần đến thăm đồng chí Đỗ Mười ở nhà riêng, nhìn kỹ tấm hình Bác Hồ có dòng chữ Bác viết ở góc ảnh "Tặng chú Mười", tôi lại càng thêm cảm phục và quý trọng đồng chí.
Tôi tự nghĩ là người lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ai cũng có những khuyết điểm nhất định, nhưng phải nói đồng chí Đỗ Mười cùng nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng ta đã thực sự suốt đời sống vì Đảng, vì dân. Đồng chí rất xứng đáng là lớp học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Năm nay, đồng chí Đỗ Mười sang tuổi 95, tôi ước mong đồng chí luôn minh mẫn, khỏe mạnh để tiếp tục góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
––––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng.
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI - TÁC GIẢ CỦA "DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ" PHAN DIỄN*
Vào thời điểm Đảng ta chuẩn bị Đại hội VI, đang hình thành đường lối đổi mới, tôi và một số anh em thường có ấn tượng anh Mười là một đồng chí lãnh đạo mà quan điểm có phần "cứng" quá. Có lẽ vì anh tuyệt đối tin tưởng vào đường lối mà Đảng ta đã xác định, nên xem đó là thiêng liêng không được suy chuyển.
Tất cả các anh lãnh đạo lúc đó ai cũng sốt ruột về sự trì trệ của nền kinh tế. Anh Mười là người rất sôi nổi, nhiệt tình cách mạng rất cao, anh đi nhiều, biết nhiều nên lại càng sốt ruột. Phụ trách ngành xây dựng, trực tiếp chăm lo phát triển công nghiệp, anh đặc biệt lo lắng thấy nước mình khi ấy chưa có được mấy cơ sở công nghiệp nặng đáng kể, nhất là về luyện kim và cơ khí chế tạo. Anh nóng lòng muốn xây dựng công nghiệp, nhất là công nghiệp nặng, nhiều hơn, nhanh hơn. Anh đặt trọn niềm tin vào vai trò chỉ đạo kinh tế của Nhà nước, vào lực lượng kinh tế quốc doanh, nhưng rất e ngại và nhạy cảm với những biểu hiện tiêu cực của kinh tế tư nhân.
Công cuộc đổi mới của chúng ta rất diệu kỳ, một trong những cái diệu kỳ đó là công cuộc đổi mới lại do chính những người đã từng bị tư duy cũ trói buộc làm nên. Vẫn những đồng chí lãnh đạo ấy qua những trăn trở trước thực tế cuộc sống, qua những cuộc thảo luận, tranh cãi quyết liệt, những tìm tòi thử nghiệm và cả trả giá, cuối cùng đã tự lột xác trở thành những người đề xướng đổi mới, ủng hộ đổi mới rồi lãnh đạo công cuộc đổi mới của nước ta đi đến thành công.
Anh Đỗ Mười làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ) từ năm 1988 đến 1991 và làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng từ năm 1991 đến năm 1997. Những năm anh giữ cương vị lãnh đạo chủ chốt ấy, chính là thời kỳ Đảng ta đưa đường lối đổi mới vào cuộc sống, từng bước đổi mới thành công.
Đại hội VI của Đảng, đề ra đường lối đổi mới từ cuối năm 1986 nhưng hai năm đầu thực hiện đường lối ấy đất nước ta phải dấn thân vào muôn vàn khó khăn mà chưa thể hái ngay quả ngọt. Từ năm 1986 đến năm 1988 là ba năm liền lạm phát "phi mã", giá cả mỗi năm tầng với ba con số. Đầu năm 1988, hàng triệu người ở miền Bắc lâm vào cảnh đói, các thành phố và khu công nghiệp phải lo chạy lương thực hằng ngày. Đồng chí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng và đồng chí Đỗ Mười phải vào miền Nam trực tiếp đôn đốc việc thu mua lương thực để cung cấp cho nhân dân các thành phố, cho cán bộ, công nhân viên chức và quân đội.
Mặc dù gian nan thế, nhưng ban lãnh đạo Đảng ta, trong đó có anh Đỗ Mười, vẫn kiên trì thực hiện công cuộc đổi mới, quyết không quay lại con đường cũ. Chẳng bao lâu sau, tình hình bắt đầu chuyển biến, lạm phát giảm dần, đến giữa năm 1989, Việt Nam bắt đầu xuất khẩu được gạo, các năm sau đó mỗi năm đều xuất khẩu hàng triệu tấn gạo, trở thành nước xuất khẩu gạo lớn thứ nhì thế giới. Đây thật là một chuyển biến bất ngờ, một niềm vui lớn của đất nước. Từ đây chúng ta không còn phải nhận sự giúp đỡ về lương thực, không còn lo thiếu "cái ăn" nữa.
Trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, việc chuyển đổi cơ chế quản lý giá, từ chỗ Nhà nước định giá mọi sản phẩm một cách chủ quan chuyển sang cơ bản để thị trường định giá, từ cơ chế hai giá chuyển sang một giá là việc đặc biệt khó khăn và có ý nghĩa then chốt.
Năm 1987, Hội nghị Trung ương 2 khóa VI đã quyết định chuyển giá mua bán nông sản, hàng tiêu dùng sang giá thị trường. Đến đầu năm 1988, Bộ Chính trị bắt đầu bàn việc bỏ hệ thống giá cung cấp vật tư, tư liệu sản xuất, đồng thời định lại tỷ giá hối đoái. Theo đó, dự kiến giá cả vật tư hàng hóa sẽ tăng lên nhiều lần. Đây thực chất là bước tổng điều chỉnh giá, lương, tiền mới, khi thực hiện diễn biến thế nào còn rất khó lường, các đồng chí Bộ Chính trị đều băn khoăn, lo lắng. Anh Đỗ Mười ủng hộ thực hiện bước đi này, nhưng kiên quyết yêu cầu các cơ quan nhà nước không được tính toán một cách võ đoán trên bàn giấy mà phải đi xuống một số xí nghiệp tính xem với giá "đầu vào" mới, giá thành và giá bán sản phẩm của xí nghiệp sẽ đội lên đến đâu, thị trường có chấp nhận nổi không? Tiền lương và tài chính - tiền tệ của Nhà nước sẽ như thế nào? Sau đó mới quyết định.
Tôi còn nhớ, cuộc tranh luận về việc này ở Thành phố Hồ Chí Minh lúc đó gay gắt đến mức có một đồng chí Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng không tiếp thu nổi đã đứng lên xin từ chức ngay tại cuộc họp. Tập thể Bộ Chính trị, bao gồm cả đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng không đồng tình với thái độ này. Hội nghị cho rằng tranh luận là hoàn toàn cần thiết và bình thường. Ý kiến của đồng chí Đỗ Mười là đúng đắn và quyết định đưa ý kiến đó vào kết luận của Bộ Chính trị cuối cuộc họp. Chính anh Đỗ Mười đã chỉ đạo Chính phủ thực hiện nghị quyết Bộ Chính trị thành công, hoàn thành một bước quan trọng đầy khó khăn trong quá trình chuyển đổi cơ chế kinh tế mà không gây xáo trộn lớn. Nền kinh tế nước ta tiếp tục đổi mới, từng bước phát triển kinh tế nhiều thành phần, xóa bỏ bao cấp, xác lập thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập với nền kinh tế thế giới, lạm phát nguội dần, nhịp độ phát triển kinh tế nhanh hơn, đến năm 1995 đạt đỉnh cao tăng 9,5%.
Vậy là cùng với Trung ương Đảng, anh Đỗ Mười đã lãnh đạo đất nước, đưa đường lối đổi mới vào cuộc sống thành công, định hình được thể chế kinh tế mới, đưa nước ta thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước sang giai đoạn mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Anh Đỗ Mười cầm lái con thuyền cách mạng vào một thời điểm hiểm nghèo, Liên Xô và các nước xã hôi chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, phe xã hội chủ nghĩa tan rã. Trước kia không ai nghĩ là Liên Xô có thể sụp đổ, mà lại sụp đổ nhanh thế, dễ dàng thế, cú sốc này lớn quá, đột ngột quá, ghê gớm quá. Lúc này bản lĩnh chính trị của cơ quan lãnh đạo Đảng, của đồng chí Tổng Bí thư thật quan trọng, có ý nghĩa quyết định, sống còn.
Anh Đỗ Mười vừa lo chỉ đạo đổi mới, vừa giữ được chế độ, hai cái đó đều là những thắng lợi vĩ đại. Đảng ta thấy rõ không đổi mới là không được, nhưng đổi mới theo kiểu bất chấp thì sẽ đi vào con đường của Đông Âu. Chúng ta kiên quyết đổi mới, cương quyết giữ chế độ, giữ sự lãnh đạo của Đảng, giữ định hướng xã hội chủ nghĩa.
Cũng trong những năm ấy, nước ta đã phá được thế bị bao vây cấm vận, đặt lại quan hệ bình thường với Trung Quốc rồi với Mỹ, gia nhập khối ASEAN, đàm phán phân định lại biên giới trên bộ và trên vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc, đàm phán hiệp định thương mại tay đôi với Mỹ và nhiều nước, đàm phán gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới. Tất cả những cuộc đàm phán này đều đi đến thành công, mở ra cục diện đối ngoại mới chưa từng có trong lịch sử nước ta. Anh Đỗ Mười ghi đậm dấu ấn lãnh đạo trong tất cả những cột mốc đối ngoại ấy.
Trong công tác xây dựng Đảng, anh Đỗ Mười có nhiều đóng góp quan trọng, đặc biệt anh là người khởi xướng việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Đây là một chủ trương rất đúng đắn, sáng tạo được anh đưa ra sau khi suy ngẫm thực tế sự việc đã xảy ra ở Thái Bình, nhiều cán bộ đảng và chính quyền lúc đó vì tha hóa, hư hỏng, vi phạm quyền lợi của dân mà bị nhân dân bất bình, phản đối quyết liệt.
Tôi muốn nói đôi lời về cá nhân anh Mười. Theo tôi, anh Mười là người tận tuỵ vì dân, vì nước, giản dị, gần dân. Tôi có một kỷ niệm sâu sắc là thời kỳ anh Mười làm Tổng Bí thư đã tổ chức một cuộc họp rất dài để minh oan cho anh Đoàn Duy Thành. Câu chuyện là về thời gian anh Đoàn Duy Thành ở tù (thời kỳ chống Pháp). Có một số đồng chí nghi ngờ anh Thành không giữ được khí tiết, nhưng cũng có những đồng chí khẳng định là anh Thành đã vững vàng. Anh Đỗ Mười cho mời cả mấy chục đồng chí cả hai bên cùng họp để tiến hành tranh luận, nêu lên những lý lẽ, chứng cứ, qua đó mà xác minh, làm rõ từng việc một. Sau cuộc họp kéo dài trọn một ngày, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã kết luận rằng những nghi ngờ đối với anh Thành là không có cơ sở, đã minh oan cho anh.
Tôi rất tán thành cách làm thấu tình đạt lý và dân chủ này của anh Đỗ Mười.
Có một độ, có dư luận rộ lên, nhiều người phê phán anh Mười dùng triệu đôla quà tặng của Hàn Quốc cho cá nhân mình. Sự thật là ngay sau khi phía Hàn Quốc báo chuyển tiền, anh Mười đã chỉ đạo Văn phòng Trung ương Đảng chuyển toàn bộ số tiền này cho bên ngành giáo dục và chỉ dẫn rất tỉ mỉ nên dùng thế nào cho đúng mục đích, có hiệu quả. Bản thân anh chưa bao giờ đụng đến số tiền ấy.
Sau này, có nhiều người không biết lại đồn đại nghi ngờ. Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã yêu cầu Ban Bí thư ra một thông báo công khai trong nội bộ Đảng để giải tỏa chuyện này. Chính tôi đã soạn thảo thông báo đó.
Trong quá trình công tác lâu năm với anh Đỗ Mười, cũng có những việc tôi không tán thành lắm, như vài nhận xét đã nêu ở đầu bài, có thể coi đó là điều tôi không thật tán thành, nhưng dĩ nhiên qua thời gian những điều nhận xét trên cũng có những điều chỉnh. Cũng còn một số trường hợp khác như đối với cán bộ có khuyết điểm, anh xử lý còn thiếu cương quyết, có phần nể nang...
Anh Mười là một trong những lãnh đạo cao cấp nhất của Đảng ta, cũng là thủ trưởng trực tiếp của chúng tôi. Tôi thật sự kính trọng, khâm phục và luôn xem anh là tấm gương sáng. Anh Mười là con người trung thành với lý tưởng, với mục tiêu của Đảng, thật sự vì nước, vì dân. Anh có tính nguyên tắc cao, luôn bám chức vào đường lối, tôn trọng nghị quyết chung. Điều làm chúng tôi rất quý anh Mười là anh có cái tâm rất sáng. Vấn đề tôn vinh Bà mẹ Việt Nam anh hùng là đề xuất của đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười. Anh Mười tự rèn luyện trong thực tiễn cách mạng. Anh làm việc gì cũng có chủ ý, có những ý kiến độc lập. Anh có nhiều ý tưởng sáng suốt, sâu sắc ở tầm chiến lược mà chúng tôi rất khâm phục. Đây cũng là điều chúng ta luôn chờ mong ở những người lãnh đạo. Anh là người có bản lĩnh đặc biệt vững vàng trước thử thách, sóng gió. Không phải bằng những ngôn từ mà chính là cách anh ứng xử, hành động trong các tình huống, đã truyền cho những người ở bên anh niềm tin sắt đá vào tiền đồ của cách mạng của dân tộc.
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––
*Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị - Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng
ANH ĐỖ MƯỜI VỚI NGÀNH XÂY DỰNG ĐỒNG SĨ NGUYÊN*
Anh Đỗ Mười là một chiến sĩ cộng sản kiên trung, trải qua tù đày, qua rèn luyện trong hoạt động bí mật, qua hai cuộc kháng chiến, kể cả nhiều năm hoạt động địch hậu. Anh nổi tiếng là con người làm việc hết mình, say mê công tác, tận tụy với mọi nhiệm vụ, trung thực, thẳng thắn, trung hậu, không quản gian lao, vất vả, sẵn sàng làm bất cứ việc khó, lúc khó, nơi khó. Qua nhiều cương vị công tác khác nhau, cho đến khi làm Thủ tướng Chính phủ, rồi Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, anh Đỗ Mười tiêu biểu cho một nguyên thủ quốc gia có đức, có tài, xứng đáng là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, từ Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, tôi được chuyển ngành sang Bộ Xây dựng để chuẩn bị thay anh Đỗ Mười sắp chuyển sang làm Phó Thủ tướng Chính phủ.
Những ngày đầu về Bộ Xây dựng, mọi việc còn bỡ ngỡ, nhờ sự giúp đỡ của anh Đỗ Mười và cơ quan bộ, tôi đã sớm nắm bắt được công việc. Qua tìm hiểu ban đầu và cả về sau tôi càng hiểu anh Đỗ Mười là Bộ trưởng đầu tiên đã đặt nền móng rất cơ bản cho ngành xây dựng ở chặng đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. Anh đã có chủ trương rất đúng đắn: Muốn xây dựng được cơ sở vật chất, kỹ thuật, hạ tầng cho chủ nghĩa xã hội, trước hết phải xây dựng ngành xây dựng ở Trung ương và cả địa phương để từng bước vững mạnh theo hướng công nghiệp tổng hợp chuyên sâu đồng bộ, gồm:
- Lực lượng xây dựng dân dụng,
- Lực lượng xây dựng công nghiệp,
- Lực lượng lắp máy,
- Lực lượng thi công cơ giới,
- Lực lượng quy hoạch, thiết kế,
- Lực lượng nghiên cứu khoa học,
- Đào tạo cán bộ, công nhân,
- Cơ khí xây dựng,
- Công nghiệp vật liệu xây dựng, v.v...
Trên cơ sở xây dựng lực lượng xây dựng đúng hướng, đúng yêu cầu, nhiệm vụ mới, ngành xây dựng đã bắt tay xây dựng hàng loạt các công trình công nghiệp, dịch vụ, dân dụng văn hóa - xã hội có tầm cỡ như các nhà máy: nhiệt điện Phả Lại, Ninh Bình; thủy điện Hòa Bình, dầu khí Vũng Tàu; Apatít Lào Cai; tuyển than Quảng Ninh; các nhà máy xi măng: Bỉm Sơn, Hoàng Thạch, Kiên Lương; kính Đáp Cầu; các nhà máy bê tông đúc sẵn tấm lớn; hàng loạt nhà máy gạch có công suất lớn; giấy Bãi Bằng, giấy Tân Mai; dệt may; chế biến nông, lâm thủy sản; chế biến thức ăn gia súc; cơ khí sữa chữa...
Về dân dụng, bắt đầu xây dựng các khu chung cư cao tầng: Giảng Võ, Trung Tự và nhiều trường học, bệnh viện, bảo tàng, nhà văn hoá...
Các công trình đơn cử trên, đã có chủ trương từ khi anh Đỗ Mười làm Bộ trưởng Bộ Xây dựng, có cái đã bắt đầu triển khai, có cái đang ở giai đoạn chuẩn bị. Khi thay anh Đỗ Mười, tôi đã cùng với các đồng chí lãnh đạo bộ, tiếp tục sự nghiệp của anh để lại và đã hoàn thành tất cả. Trên cương vị Bộ trưởng Bộ Xây dựng, anh Đỗ Mười đã có sự cống hiến xứng đáng cho ngành xây dựng.
Chúc anh mạnh khỏe sống lâu, tiếp tục cống hiến cho Đảng, cho dân.
–––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
MỘT CON NGƯỜI TRUNG KIÊN LÊ PHƯỚC THỌ*
Trước giải phóng, khi còn ở miền Nam, chúng tôi có nghe tên ông Đỗ Mười nhưng chưa được gặp mặt vì tôi công tác ở miền Nam không ra tập kết.
Tôi chỉ biết ông Mười sau ngày giải phóng qua các thời kỳ công tác ở cơ quan Đảng và cơ quan Chính phủ.
Ông Đỗ Mười là người đã từng hoạt động thời kỳ trước cách mạng, luôn đối mặt trực diện với kẻ thù. Ông chiến đấu từ kháng chiến đến xây dựng hòa bình, ông làm việc bất kể giờ giấc, rất nhiệt tình cách mạng. Cũng có lúc tôi và ông Đào Duy Tùng phải khuyên ông cần giữ gìn sức khỏe, đó chính là toàn tâm, toàn ý phục vụ Đảng, phục vụ nhân dân.
Những ngày đầu vào Thành phố Hồ Chí Minh ông nói chuyện rất hấp dẫn. Con người ông nhân hậu, bình dị, rất dân chủ trong Đảng, đối với các đồng chí cùng le ấp, hoặc cấp dưới không phân biệt đối xử.
Tôi rất mến ông, vì đó là một người lãnh đạo luôn biết lắng nghe, gần gũi mọi người.
Ông là con người sâu sắc. Có những đồng chí có khuyết điểm, ông phê phán gay gắt, thẳng thắn góp ý nhưng không định kiến. Khi làm Tổng Bí thư, ông quy tụ được lực lượng cán bộ trí thức, cán bộ khoa học, kỹ thuật, các cấp, các ngành. Đoàn kết là thế mạnh, là bản lĩnh lãnh đạo của ông. "Nhân vô thập toàn" nhưng đã là người lãnh đạo trước hết phải biết cách khai thác tiềm năng trí tuệ của quần chúng, đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, đoàn kết trong nước, ngoài nước. Vai trò người lãnh đạo quan trọng nhất là tập hợp lực lượng. Chính ông đã làm được như vậy.
Tôi còn nhớ, khi ông làm bên Chính phủ, đất nước còn khó khăn về kinh tế, ông đã có quyết tâm rất cao để giải quyết vấn đề lương thực. Ông trực tiếp đi xuống các tỉnh để đôn đốc việc sản xuất và thu mua nông sản của nông dân.
Khi tôi làm Bí thư tỉnh Hậu Giang (1978 – 1979), sản lượng lúa của Hậu Giang cao nhất, thu hoạch mỗi năm hàng triệu tấn lương thực.
Lần đầu tiên gặp ông, tôi có cảm tình ngay, trông ông rất thông minh và bình dị. Trong buổi nói chuyện với lãnh đạo tỉnh Hậu Giang, ông Mười rất cương quyết, đưa ra hướng cải tạo nông nghiệp rất quyết liệt.
Năm 1991, ông Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư. Tôi được phụ trách Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng, chính vì vậy tôi rất hiểu ông Mười.
Năm 1991, các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ. Đảng ta đứng trước một thử thách rất lớn. Trong thời điểm lịch sử đó, có một số đồng chí chao đảo, muốn đa đảng, ông Đỗ Mười rất vững vàng, tôi cho rằng ông có công rất lớn trong việc giữ vững ngọn cờ của Đảng trong hoàn cảnh như vậy.
Ông Nguyễn Văn Linh chỉ đạo xây dựng Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (1991), giao cho đồng chí Đào Duy Tùng chấp bút. Sau khi soạn thảo xong, Cương lĩnh đã được Bộ Chính trị thông qua và đó là chỗ dựa chắc chắn để tập hợp sức mạnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân giữ vững lập trường của Đảng và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Công lao này là công sức chung của mọi người nhưng lúc đó ông Mười là Tổng Bí thư, là người nắm đường lối, chỉ đạo toàn Đảng thực hiện nghiêm chỉnh theo đường lối của Đảng, ông còn đề xuất nhiều vấn đề mới bổ sung cho đường lối đổi mới của Đảng.
Tại Đại hội Đảng lần thứ VII đã đưa ra vấn đề quan trọng xác định nhiệm vụ kinh tế là trọng tâm, xây dựng Đảng là then chốt. Hồi đó, nước ta vẫn còn bị cấm vận, nền kinh tế của ta chủ yếu dựa vào Liên Xô. Khi Liên Xô sụp đổ, Đảng ta chỉ đạo mình tự đi lên. Trong công tác đối ngoại, ông Mười rất vững vàng, không nghiêng về phía nào, cố gắng thuyết phục và đấu tranh để xóa bỏ cấm vận.
Có lần ông Mười tâm sự với tôi:
- Chú thấy không, tình hình đất nước rất khó khăn. Mình làm thế nào mà giữ cho được chế độ?
Tôi trả lời thẳng thắn:
- Mình phải tự thân đi lên, phải biết đánh giá đúng ưu điểm và cương quyết nhìn thẳng vào sự thật, khắc phục tồn tại.
- Tôi đồng ý, cái khó nhất là tìm cho ra khuyết điểm mà phải cương quyết sửa chữa thì Đảng ta mới mạnh được. Về công tác tổ chức chú phải quan tâm đến phẩm chất cán bộ, đảng viên, đòi hỏi cao nhất của cán bộ là trung thực và biết đoàn kết, vì cán bộ là quyết định.
Nghe ông Mười nói như vậy, tôi rất tâm đắc và cảm phục nhưng tôi cũng đưa ra một nhận xét của mình:
- Tôi cho rằng quan trọng nhất là đường lối, đường lối đúng mới vạch ra hướng đi đúng, tập hợp được lực lượng, vì vẫn tài nguyên đó, vẫn con người cán bộ đó, sao có lúc ta vẫn bị đói phải đi xin gạo.
Ông Đỗ Mười cho rằng nhận thức đó là hoàn toàn đúng.
Về đội ngũ cán bộ, ông Đỗ Mười nắm rất chắc, nên khi chúng tôi đưa danh sách cán bộ sang xin ý kiến, ông góp ý từng người rất xác đáng.
Tôi và ông như tay trái, tay mặt rất quý nhau nhưng có khi cũng tranh luận rất gay gắt. Tôi rất kính trọng, tin tưởng ông Mười, ông vào tù ra khám, làm bí thư nhiều tỉnh, suốt đời cống hiến cho cách mạng. Nghỉ hưu ông vẫn đọc sách, vẫn góp ý bàn bạc xây dựng Đảng...
Diệu Ân ghi
VIỆT NAM SẴN SÀNG LÀ BẠN CỦA TẤT CẢ CÁC NƯỚC NGUYỄN MẠNH CẦM*
Trước năm 1986, thời kỳ tôi làm Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, tôi mới có dịp tiếp xúc với đồng chí Đỗ Mười qua nhưng cuộc họp do đồng chí triệu tập. Cuộc họp nào đồng chí chủ trì cũng rất sôi nổi. Đồng chí vừa nghe vừa trao đổi ý kiến, ý nào không rõ là đồng chí hỏi lại ngay, buộc người phát biểu phải trình bày rõ ý kiến của mình. Đồng chí thường xoáy vào những vấn đề có ý kiến khác nhau, buộc mọi người tham dự cuộc họp phải nói rõ chính kiến của anh để tìm ra lẽ phải. Ngay những trường hợp đồng chí nêu trước suy nghĩ của mình, đồng chí vẫn lắng nghe những ý kiến trái với ý kiến của mình và không ngần ngại tiếp thu khi cảm thấy ít nhiều có lý. Điều tôi có ấn tượng là trong cuộc sống đồng chí rất giản dị, bao giờ cũng chỉ mặc bộ đại cán bạc màu; trong tiếp xúc luôn sôi nổi nhưng chân tình, thân mật.
Sau Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng (tháng l2-1986), tôi được cử làm Đại sứ tại Liên Xô. Tháng 4-1987, tôi sang Mátxcơva nhận nhiệm vụ thì tháng 5-1987, Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta do đồng chí Nguyễn Văn Linh - Tổng Bí thư và đồng chí Đỗ Mười - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng dẫn đầu sang thăm và làm việc với lãnh đạo Liên Xô. Lúc đó, đất nước ta đang trải qua một cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội nghiêm trọng. Ta phải dựa vào sự giúp đỡ của các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, chủ yếu là Liên Xô để khắc phục khó khăn. Qua đàm phán, lãnh đạo Liên Xô quyết định dành cho ta khoản viện trợ 1,2 tỷ rúp chuyển nhượng (l rúp chuyển nhượng có giá trị gần bằng 1 đôla rưỡi) mỗi năm, trong đó một phần là viện trợ không hoàn lại, phần lớn là cho vay ưu đãi, lãi suất rất thấp, thời gian cho vay kéo dài. Số tiền đó ta phân bổ bao nhiêu cho thiết bị toàn bộ (tức các nhà máy hoàn chỉnh bao nhiêu cho vật tư và bao nhiêu cho hàng hóa tiêu dùng... là tùy ta, miễn là số lượng ta đề ra bạn chấp nhận được. Thường những công trình cụ thể, những vật tư quý hiếm, các cơ quan có trách nhiệm của ta phải bàn với lãnh đạo các ngành có liên quan của bạn. Tại hội đàm, đồng chí Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bạn chỉ thỏa thuận về nguyên tắc còn số lượng cụ thể thì các Bộ trưởng của bạn dự hội đàm nếu nắm chắc tình hình tán thành đề nghị của ta thì hai bên thông qua luôn, còn thì các đồng chí Bộ trưởng sẽ gặp Bộ trưởng liên quan của ta để bàn cụ thể sau. Đối với những vấn đề quan trọng, để tranh thủ thời gian, đồng chí Đỗ Mười thỏa thuận với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng bạn để đồng chí cùng với Bộ trưởng ta làm việc trực tiếp với Bộ trưởng bạn. Cách làm đó đạt kết quả cao. Một phần do đồng chí trình bày có sức thuyết phục một phần do các Bộ trưởng bạn kính nể đồng chí. Sau khi đoàn về nước, các bộ, ngành liên quan có trách nhiệm theo dõi và đôn đốc bạn giao hàng đáp ứng yêu cầu cửa ta. Song, thường việc giao hàng không tránh được sự chạm trễ. Với tư cách người đứng đầu Chính phủ, đồng chí Đỗ Mười nắm rất vững yêu cầu của ta và theo dõi rất sát tiến độ giao hàng của bạn, nhất là đối với thiết bị, vật tư thiết yếu và hàng hóa quan trọng. Hằng ngày, sau buổi giao ban buổi sáng thấy mặt hàng nào cần đốc thúc bạn chuyển sang gấp là đồng chí gọi điện thoại sang yêu cầu tôi làm việc ngay với bạn. Nhưng múi giờ ta sớm hơn múi giờ Mátxcơva 3 tiếng vào mùa hè và 4 tiếng vào mùa đông. Khi ở trong nước các cơ quan bắt đầu làm việc thì ở Mátxcơva mới 2-3 giờ sáng. Đồng chí thường gọi luôn, mỗi tuần 3-4 lần nên có hôm tôi mạnh dạn trình bày: "Anh ơi, anh gọi lúc này ở Mátxcơva mới 2-3 giờ sáng, chúng tôi vừa mới đi ngủ anh ạ. "Thế à, tớ chủ quan cứ nghĩ như ở nhà, tớ xin lỗi nhé, lần sau rút kinh nghiệm tớ gọi chậm hơn". Bẵng đi khoảng năm hôm, đồng chí không gọi vào giờ đó nữa nhưng sau đó đồng chí quên đi và lại tiếp tục gọi. Tôi tự nhủ: "Đồng chí đã đích thân đôn đốc những việc mà đáng lẽ ra đồng chí không phải lo đến, mình không có quyền vì giờ giấc mà để lỡ việc của đồng chí trong khi đồng chí còn bao nhiêu công việc phải xử lý". Chính nhờ sự đốc thúc của đồng chí mà tôi được đồng chí Guxép, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, Chủ nhiệm phân ban hợp tác với Việt Nam nhận xét: "Nhờ sự nhắc nhở kịp thời của Đại sứ Việt Nam mà phân ban của tôi thực hiện tốt các cam kết với Việt Nam, nhất là trong tình hình các đồng chí đang gặp rất nhiều khó khăn". Thực tình phải nói đó là nhờ sự quan tâm của đồng chí Đỗ Mười.
Đầu tháng 8-1991, tôi kết thúc nhiệm kỳ đại sứ tại Liên Xô về nước nhận nhiệm vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao thay đồng chí Nguyễn Cơ Thạch. Tháng 9-1992, nhận lời mời của Ủy viên Quốc vụ viện kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tiền Kỳ Tham, tôi sang thăm Trung Quốc trao đổi về quan hệ giữa hai nước và chuẩn bị cho cuộc tới thăm chính thức của Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta. Vào đầu tháng 11-1992, nhận lời mời của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc và Quốc vụ viện nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam do Tổng Bí thư Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt dẫn đầu sang thăm Trung Quốc. Một cuộc đi thăm có ý nghĩa lịch sử trọng đại, đánh dấu việc bình thường hóa quan hệ chấm dứt hơn 10 năm quan hệ căng thẳng, mở ra một giai đoạn mại trong lịch sử quan hệ giữa hai Đảng và hai Nhà nước Việt Nam - Trung Quốc.
Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ ta được lãnh đạo và nhân dân Trung Quốc đón tiếp trọng thị và thân tình.
Tôi còn nhớ, ngoài cuộc hội đàm chung giữa hai Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ hai nước còn có nhiều cuộc gặp riêng giữa đồng chí Giang Trạch Dân - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và đồng chí Lý Bằng - Thủ tướng Quốc vụ viện với đồng chí Đỗ Mười và đồng chí Võ Văn Kiệt. Chính các cuộc gặp riêng này mới cụ thể hóa những nguyên tắc và phương hướng khôi phục và phát triển quan hệ được thỏa thuận trong hội đàm chung. Hai bên trao đổi ý kiến về những biện pháp, những việc làm cụ thể để cho quan hệ nhanh chóng trở lại bình thường. Cụ thể là tiến tới ký kết hiệp định về biên giới trên bộ trước năm 2000 để xây dựng biên giới hòa bình hữu nghị giữa hai nước khi bước vào thế kỷ XXI. Thực hiện việc phân định vịnh Bắc Bộ một cách công bằng, hợp lý, chậm lắm là vào năm 2000. Đối với những vấn đề ít nhiều phức tạp do lịch su để lại khó có thể giải quyết một sớm một chiều thì lanh đạo cao nhất của hai Đảng, hai Chính phủ thỏa thuận giải quyết từng bước trên tinh thần đồng chí, láng giềng hữu nghị vì lợi ích của hai Đảng, hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực.
Sau khi ký thông cáo chung về chuyến thăm, đoàn rời Bắc Kinh đi thăm thành phố Quảng Châu (tỉnh Quảng Đông); đặc khu kinh tế Thâm Quyến - khu kinh tế tiêu biểu cho thành công của công cuộc cải cách mở cửa ở Trung Quốc với những thành quả vượt bậc và thành phố Nam Ninh (thủ phủ Khu tự trị dân tộc Choang - Quảng Tây). Khi gặp lãnh đạo các địa phương này, đồng chí Đỗ Mười đặt rất nhiều câu hỏi, từ chủ trương cải cách mở cửa, những biện pháp tiến hành, những chủ trương cụ thể đến kết quả đạt được, so sánh với tình hình trước khi tiến hành cải cách. Đến đâu đồng chí cũng yêu cầu được đi xem một số cơ sở sản xuất, kinh doanh. Đồng chí đặc biệt quan tâm đến vấn đề phát triển công nghiệp và cải thiện đời sống nhân dân. Lúc này chúng ta đã tiến hành công cuộc đổi mới được 5 năm, tôi hiểu đồng chí muốn tìm hiểu kinh nghiệm của các địa phương bạn để đối chiếu với cách làm của ta nhằm rút ra những bài học thiết thực cho quá trình tiếp tục công cuộc đổi mới về sau. Một số cuộc trao đổi ý kiến hay đi thăm cơ sở đồng chí chia sẻ ngay với chúng tôi những điều đồng chí tâm đắc những điều ta nên học tập.
Về dấu ấn của đồng chí Đỗ Mười trên lĩnh vực đối ngoại tôi không thể kể hết được, nhưng không thể không nói đến ý kiến quyết định của đồng chí đối với việc Việt Nam gia nhập ASEAN, bước mở đầu quá trình đưa Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới.
Cuối năm 1991, đầu năm 1992, sau khi vấn đề Campuchia được giải quyết, các văn kiện về lập lại hòa bình ở Campuchia được ký kết, đồng chí Võ Văn Kiệt với tư cách Chủ tịch Hội đồng Bộ trướng dẫn đầu Đoàn đại biểu Chính phủ ta thăm các nước ASEAN nhằm cải thiện và thúc đẩy quan hệ với các nước ASEAN trên cơ sở đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở đa phương hoá, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, được thông qua tại Đại hội toàn quốc lần thử VII của Đảng (tháng 6-1991). Trong dịp này một số nhà lãnh đạo ASEAN gợi ý Việt Nam xem xét vấn đề gia nhập ASEAN. Đồng chí Võ Văn Kiệt trao đổi với chúng tôi, các thành viên trong đoàn để thống nhất ý kiến về báo cáo với Bộ Chính trị. Khi về nước, đồng chí giao cho tôi đến báo cáo với đồng chí Tổng Bí thư. Nghe tôi trình bày xong, đồng chí Đỗ Mười nói ngay: "Tình hình đã thay đổi, căn cứ kết quả chuyến đi thăm của anh Kiệt với thái độ của các nước ASEAN đã thay đổi so với mấy năm nước khi còn vấn đề Campuchia. Họ lại chủ động hợp tác để đưa khu vực phát triển. Lúc này ta gia nhập ASEAN là thích đáng. Gia nhập ASEAN sẽ làm tăng thêm sức mạnh của ta, tăng thêm vị thế của ta". Vấn đề sau đó được đưa ra xin ý kiến Bộ Chính trị và Bộ Chính trị đã nhất trí thông qua.
Khi làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng như khi làm Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười rất quan tâm đến công tác ngoại giao, vì đây là một trong ba lĩnh vực đặt dưới sự lãnh đạo chỉ đạo trực tiếp của Bộ Chính trị. Đồng chí rất chú ý những hội nghị quốc tế ta tham dự như Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội nghị Phong trào không liên kết, các hội nghị ASEAN, nên mỗi lần tôi đi họp về đồng chí thường chủ động yêu cầu tôi báo cáo diễn biến, kết quả hội nghị và trao đổi ý kiến với tôi về những vấn đề cần báo cáo Bộ Chính trị. Với tư cách Bộ trưởng Ngoại giao, Ủy viên Bộ Chính trị phụ trách đối ngoại, tôi thường tháp tùng đồng chí trong các chuyến thăm chính thức các nước. Mỗi chuyến đi để lại cho tôi một số kỷ niệm nhất định. Song có một chuyến thăm để lại cho tôi ấn tượng khó quên, đó là chuyến thăm Hàn Quốc. Trong hội đàm với Tổng thống Hàn Quốc, có một việc đồng chí không hề đề cập, không nói ra nhưng phía Hàn Quốc lại rất chú ý. Sau hội đàm trong một cuộc gặp riêng với đồng chí, Tổng thống Hàn Quốc thẳng thắn và chân thành nêu: "Tôi rất cảm phục sự tế nhị của người Việt Nam. Có một việc do lịch sử để lại tuy trong hội đàm ngài Tổng Bí thư không đề cập đến vì tế nhị nhưng chúng tôi vẫn canh cánh trong lòng. Đó là việc quân đội Hàn Quốc tham gia chiến tranh Việt Nam và đã gây nhiều thiệt hại cả về người và của cho nhân dân Việt Nam. Đó là món nợ mà chúng tôi phải trả. Tôi hứa với ngài Tổng Bí thư sẽ yêu cầu các bộ, ngành, các tập đoàn và công ty Hàn Quốc hợp tác tốt với Việt Nam để trả món nợ này. Mong ngài Tổng Bí thư thông cảm".
Chúng tôi được biết ngay sau chuyến thăm của đồng chí Đỗ Mười, Tổng thống Hàn Quốc đã triệu tập đại diện các bộ ngành và tập đoàn, công ty Hàn Quốc giao trách nhiệm. Điều trăn trở này cũng đã được Tổng thống Hàn Quốc nêu với Thủ tướng Võ Văn Kiệt, lúc Thủ tướng sang thăm Hàn Quốc.
Trên thực tế, đúng như Tổng thống Hàn Quốc đã hứa, chỉ một thời gian ngắn sau ngày hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao, Hàn Quốc đã đưa quan hệ với Việt Nam phát triển. Có thể nói với tốc độ kỷ lục nhanh chóng, Hàn Quốc trở thành một nước đầu tư trực tiếp hàng đầu vào Việt Nam quan hệ thương mại nhanh chóng được mở rộng.
Đồng chí Đỗ Mười, một người học trò tốt của Bác Hồ, luôn tiếp thu và làm theo đạo đức của Bác, một người lãnh đạo cần, kiệm, liêm, chính. Đồng chí Đỗ Mười rất ham học, ham đọc, đọc rất nhiều loại sách, đặc biệt là các sách về lý luận Mác - Lênin, các tác phẩm của Bác Hồ. Khi đến thăm đồng chí, nhiều người được nghe đồng chí nói về những vấn đề mình đang bức xúc đang suy nghĩ, hoặc những đoạn sách đồng chí vừa mới đọc đang thích thú. Đồng chí thường đối chiếu những điểm lý luận ghi nhận được từ các tác phẩm về chủ nghĩa Mác - Lênin, đặc biệt từ bài nói, bài viết của Bác với những việc ta đang làm, những chủ trương ta đang thực hiện và không ngần ngại chia sẻ ý kiến đánh giá, nhận xét của mình với người đối thoại. Tác phong đó, nếp nghĩ đó gắn bó chặt chẽ với đồng chí từ những ngày đương chức cho mãi đến bây giờ. Chính qua nhưng cuộc tiếp xúc, trao đổi đó người đối thoại với đồng chí được bồi dưỡng thêm kiến thức. Tôi là một trong những người có may mắn đó.
Tuy bản thân tôi cũng có thói quen đọc và ham đọc do công tác đòi hỏi nhưng so với anh thì chẳng thấm tháp vào đâu. Do anh đọc nhiều, biết nhiều loại sách nên có nhiều quyển liên quan đến đối ngoại, cả những tác phẩm chính diện lẫn những tác phẩm phản diện, chính do anh giới thiệu mà tôi biết để tìm đọc. Không ít trường hợp anh không chỉ giới thiệu mà còn tìm sách tặng tôi.
Đồng chí Đồ Mười là người đã từng phụ trách nhiều công việc cả trước và sau khi nước nhà thống nhất nên anh nắm tình hình cụ thể về rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống xã hội. Đồng chí có thể nói một cách chi tiết công trình nào ở đâu, do nước nào giúp xây dựng, công suất thiết kế ra sao, tình trạng thiết bị như thế nào, tình trạng bây giờ ra sao, địa phương nào mạnh về lĩnh vực gì, địa phương nào yếu, tại sao? Đó là điều rất thuận lợi cho chúng tôi khi bàn bạc, thảo luận những chủ trương, chính sách cần đưa ra. Tôi tin rằng các đồng chí trong Bộ Chính trị lúc bấy giờ cũng chia sẻ suy nghĩ này của tôi.
Tháng 6 - 2010
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao.
MỘT TẤM GƯƠNG ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG, MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI NĂNG NGUYỄN ĐỨC BÌNH*
Đồng chí, Đỗ Mười nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, năm nay lên tuổi 95. Đồng chí đã tham gia phong trào Bình dân năm 1936, kinh qua hoạt động từ cơ sở thời bí mật. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí bị thực dân Pháp bắt và nhiều năm bị tù đày. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí làm Bí thư các tỉnh ủy: Hà Đông, Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình, Hải Phòng; Phó Bí thư Khu ủy kiêm Phó Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính và Tư lệnh Quân khu III, Bí thư Khu ủy Khu Tả Ngạn kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính và Chính ủy Tư lệnh Quân khu Tả ngạn sông Hồng. Lên Trung ương, đồng chí đã kinh qua các chức vụ từ ủy viên Trung ương Đảng (Đại hội II) đến Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị (Đại hội IV), Ủy viên chính thức Bộ Chính trị (Đại hội V, VI); về chính quyền, đồng chí là Bộ trưởng các bộ: Nội thương, Xây dựng, ủy ban Vật giá Nhà nước, Thanh tra Chính phủ..., Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng. Từ Đại hội Đảng lần thứ VII, đồng chí được cử làm Tổng Bí thư, đến khóa VIII được bầu lại làm Tổng Bí thư; đến giữa khóa VIII đồng chí được suy tôn làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương cùng với các đồng chí Lê Đức Anh, Võ Văn Kiệt.
Tôi nhớ mãi ngày ấy, ngày mà đồng chí Đỗ Mười được trao huy hiệu 70 năm tuổi Đảng. Cùng dự với Đảng bộ Văn phòng Trung ương Đảng hôm ấy, có mặt đông đủ các đồng chí lãnh đạo cao cấp đương chức và các đồng chí nguyên ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Sau khi được trao huy hiệu danh dự, đồng chí Đỗ Mười xúc động nói: "Tôi cảm ơn Đảng đã trao cho tôi phần thưởng cao quý này, thật vô cùng hạnh phúc cho tôi. Là một đảng viên, tôi còn nhớ như in lễ kết nạp tôi vào Đảng cách đây 70 năm. Hôm ấy, đứng trước cờ Đảng và đông đủ đảng viên trong chi bộ, tôi đã tuyên thệ trong bầu không khí vô cùng thiêng liêng. Hôm nay, tôi có thể báo cáo với Đảng rằng: 70 năm qua, tôi đã luôn luôn giữ trọn lời thề suốt đời hy sinh, chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, của giai cấp và nhân dân, luôn giữ tư cách đạo đức trong sạch, không làm gì có hại đến uy tín và thanh danh của Đảng, ra sức bảo vệ Đảng. Nay đã cuối đời, tôi xin hứa với Đảng: còn sống ngày nào tôi còn phấn đấu vì Đảng vì dân theo sức lực của mình, thực hiện đúng những lời thề đã hứa dưới lá cờ Đảng quang vinh cách đây 70 năm".
Được làm việc cùng đồng chí Đỗ Mười, tôi thấy ở đồng chí một nhân cách thực sự cộng sản, một con người thật giản dị, trung thực, thẳng thắn, kiên định, mẫu mực. Ở đồng chí tỏ rõ bản lĩnh một nhà lãnh đạo sắc sảo, tài năng, rất nhạy cảm về chính trị, về tư tưởng, lý luận. Đồng chí luôn giữ vững nguyên tắc cách mạng và cương lĩnh đường lối của Đảng. Với tư cách nhà lãnh đạo, đồng chí dứt khoát không để sự nghiệp cách mạng dù một ly cũng không chệch hướng. Đồng chí có niềm tin không gì lay chuyển nổi ở chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, ở lý tưởng cộng sản, ở con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng chí đã góp phần rất quan trọng vào hoạt động của Đảng và Nhà nước thời kỳ chuyển sang đổi mới vào việc hình thành Cương lĩnh của Đảng năm 1991 và chuẩn bị Đại hội VII. Đó là những thời điểm Đảng ta phải giải quyết biết bao nhiêu vấn đề cực kỳ phức tạp do trong nước thì hậu quả khủng hoảng kinh tế - xã hội, bên ngoài do sự sụp đổ của Liên Xô; tình hình tư tưởng trong Đảng không ổn định. Là người lãnh đạo, đồng chí đã rất kiên định trên đường lối cơ bản độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đồng chí có sức mạnh truyền thụ niềm tin đó cho cán bộ, đảng viên và nhân dân do chỗ bản thân có niềm tin sắt đá, lại có sức thuyết phục cao bằng lý luận và chân lý thực tiễn cùng nhiệt tình cách mạng sôi nổi, sức truyền cảm chân thành. Đồng chí là con người thực tiễn, học lý luận chủ yếu thông qua tổng kết thực tiễn. Thêm nữa, có thể nói việc tự học lý luận của đồng chí thì không mấy ai bằng. Trên bàn làm việc của đồng chí có hàng chồng sách về những vấn đề lý luận và khoa học xã hội từ những tác phẩm của Bác Hồ, những sách về chủ nghĩa Mác – Lênin, về xây dựng Đảng và Nhà nước, về các trào lưu học thuật phương Tây, đến các tạp chí lý luận chính trị, từ sách báo chính diện đến phản diện. Đồng chí đọc ngoài giờ làm việc và đọc không biết mệt. Đồng chí có thể bàn luận với bất cứ ai quan tâm, kể cả cán bộ chuyên lý luận, về những vấn đề đã đọc, bàn luận say sưa không kém gì bàn về thực tiễn chính trị, kinh tế và quản lý, về công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, về công nghiệp khai khoáng... Về chính sách ngoại giao, đồng chí nói phải đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả cái nước, đổi mới nhưng không đổi màu, hội nhập mà không hòa tan. Chúng ta nhất thiết phải xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Muốn thế phải có công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất, cơ khí chế tạo mạnh, thoát dần tình trạng gia công lắp ráp, phụ thuộc bên ngoài.
Những vấn đề về Đảng, về xây dựng Đảng và công tác cán bộ luôn ở trung tâm suy nghĩ và công việc hằng ngày của đồng chí. Trong sinh hoạt Bộ Chính trị và Ban Bí thư bàn vấn đề gì, đồng chí cũng có trong đầu mình chủ kiến trước, nhưng thực hiện đầy đủ dân chủ tập thể, chăm chú lắng nghe ý kiến mọi người, khuyến khích thảo luận hết nhẽ rồi mới đưa ra ý kiến của mình và kết luận. Đối với những ý kiến trái chiều, đồng chí có cách gợi ý thảo luận đến cùng. Khi kết luận đồng chí phân tích có lý, có tình và có cách giải quyết thỏa đáng khiến tất cả đồng tình. Với cách làm việc đó, đồng chí Đỗ Mười đã thực hiện tốt sự đoàn kết trong tập thể lãnh đạo cấp cao suốt ba nhiệm kỳ VII, VIII và IX. Trong các cuộc làm việc với lãnh đạo các địa phương, ban ngành Trung ương, đồng chí vẫn giữ được phong cách đó.
Đồng chí Đỗ Mười quan tâm cả các lĩnh vực khoa học văn nghệ, gần gũi anh chị em trong các giới này. Quan tâm đến cả đời sống của các anh chị, có ý kiến với các cơ quan chức năng giải quyết những trường hợp khó khăn về điều kiện sống. Đồng chí cũng nhiều lần động viên, khuyến khích anh chị em phát huy tự do dân chủ trong nghiên cứu, thảo luận, đấu tranh phê bình tự phê bình. Đồng chí nhắc mãi nhiều lần Viện Khoa học xã hội đề xuất Quy chế dân chủ trong hoạt động lý luận khoa học. Chủ trương đẩy mạnh dân chủ ở cơ sở, phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng là sáng kiến của đồng chí. Khi còn là Phó Thủ tướng phụ trách các bộ Xây dựng, Công nghiệp, đồng chí đã trực tiếp chỉ đạo xây dựng nhiều công trình quan trọng của đất nước, trong đó có công trình Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bảo tàng Hồ Chí Minh.
Đồng chí Đỗ Mười là người được Bác Hồ nhiều năm quan tâm và dìu dắt, từ việc cho đi chữa bệnh dài ngày cho đến giao phó những công việc khó khăn, phức tạp. Có thể nói, đồng chí cũng là một trong những người học trò xuất sắc của Bác. Trong công việc hằng ngày cũng như trong đời tư, đồng chí luôn lấy gương và những lời giáo huấn của Người để soi rọi và chỉ đạo thực hiện.
Cuối cùng, tôi có ấn tượng rất sâu sắc về đức tính cần, kiệm, giản dị ở đồng chí Đỗ Mười. Đồng chí luôn làm việc không biết mệt, sẵn sàng làm hết mình bất cứ việc gì và bất cứ ở đâu có khó khăn. Đồng chí tự học, tự nghiên cứu cũng không biết mệt. Đồng chí có ý thức rất tiết kiệm của công và cả trong đời sống riêng. Tôi nhớ trong các cuộc họp Bộ Chính trị một thời, giữa buổi có được bát súp bồi dưỡng, nhưng sau đó đồng chí Đỗ Mười nói với anh em ở Văn phòng không nhất thiết có ăn uống giữa giờ, chỉ cần uống nước chè thôi. Trong đời sống gia đình, đồng chí cũng thật tiết kiệm. Ngôi nhà đồng chí ở vẫn là một biệt thự bình thường được phân từ hồi còn làm việc ở Hội đồng Bộ trưởng rất khiêm tốn, kém khang trang so với một số nhà trong phố. Phòng làm việc với phòng khách, phòng nghỉ là một. Đồng chí tiếp khách ngay trước bàn làm việc và cạnh đó giường nghỉ là một chiếc phản gỗ đơn sơ. Được biết, khi lên làm Tổng Bí thư, Văn phòng đề xuất chuyển chỗ khác để đồng chí ở rộng hơn, đàng hoàng hơn, đồng chí không đồng ý, nói: ở như thế này là tốt rồi, ta sống không nên quá cách biệt với nhân dân. Nghe nói đã có nhiều khách nước ngoài muốn đến nhà thăm đồng chí nhưng cơ quan phải tìm cách nói khéo để khách miễn đến. Nhưng, có một lần, một nữ phóng viên Hãng Reuters nằn nì mãi để xin được vào thăm nhà Tổng Bí thư Đỗ Mười. Cô này nói tiếng Việt rất sõi. Khi được phép của đồng chí Đỗ Mười, cô đi hết phòng này sang phòng khác để xem cách sống của vị lãnh đạo cao nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam như thế nào. Khi ra về, cô rất cảm ơn ngài Tổng Bí thư đã cho vào thăm và tiếp chuyện. Ít hôm sau, trên bài báo mà cô viết có câu: "Đến thăm nhà ông Tổng Bí thư Đỗ Mười tưởng sang trọng lắm, không ngờ ông ở rất khiêm tốn, đồ đạc trong nhà toàn những thứ rẻ tiền...".
Nhân ngày sinh thứ 95 của đồng chí Đỗ Mười, tôi kính chúc đồng chí dồi dào sức khỏe, làm việc và nghiên cứu vừa sức để có thể sống lâu ngoài 100 tuổi.
––––––––––––––––––––
* Nguyên ủy viên Bộ Chính trị - Bí thứ Trung ương Đảng,
VIỆT NAM KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA NGUYỄN ĐỨC BÌNH*
Hỏi: Thưa đồng chí, sự kiện Liên Xô sụp đổ tác động đến tình hình Việt Nam lúc đó như thế nào ạ?
Trả lời: Năm 1991, Liên Xô bị sụp đổ kéo theo sự tan rã của phe xã hội chủ nghĩa. Đó là tổn thất rất lớn đối với phong trào cộng sản và công nhân, phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, ảnh hưởng cả đến sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Liên Xô là người anh cả của phe xã hội chủ nghĩa, đã đóng vai trò chủ yếu chiến thắng phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau chiến tranh phát triển rất nhanh, là cường quốc hàng đầu trên thế giới. Liên Xô đã đạt những thành quả vĩ đại trong lĩnh vực kinh tế và khoa học kỹ thuật, là nước đầu tiên đi vào vũ trụ. Liên Xô giúp đỡ Việt Nam hết mình trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, đã đặt nền móng cho ngành dầu khí ở nước ta. Chúng ta chịu ơn sâu nghĩa nặng từ Đảng Cộng sản và nhân dân Liên Xô, chúng ta không bao giờ quên sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và phe xã hội chủ nghĩa trước đây.
Năm 1991, anh Đỗ Mười đã góp phần quan trọng vào việc chuẩn bị Đại hội VII của Đảng, Đại hội đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Cương lĩnh vừa được Đại hội XI khẳng định, bổ sung, phát triển.
Năm 1991, Đại hội VII của Đảng đã bầu anh Đỗ Mười làm Tổng Bí thư. Khi nghe tin Liên Xô bị sụp đổ, anh Mười đã lập tức cho triệu tập cuộc họp bất thường của Bộ Chính trị.
Trong cuộc họp, anh Mười đã đặt vấn đề thảo luận nguyên nhân Liên Xô sụp đổ và Liên Xô đổ ta phải tính toán ra sao, cần có những biện pháp như thế nào trước tình hình mới.
Tôi nhớ cuộc họp tuy có đau buồn nhưng không khí rất sôi nổi, không có biểu hiện hoang mang, lo lắng. Các ý kiến thảo luận đều tỏ ra vững vàng, sáng suốt. Sau đó, thay mặt Bộ Chính trị, anh Mười đã đưa ra những đánh giá cuối cùng với những ý chính như: Chúng ta vô cùng đau xót trước sự mất mát bất ngờ này, mặc dù từ những năm 1989-1990, khi các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt sụp đổ chúng ta đã phán đoán rằng Liên Xô với "cải tổ" kiểu phản bội thế này thì rồi cũng sẽ sập thôi. Liên Xô đổ là do vận dụng sai chủ nghĩa Mác – Lênin, kéo dài quá lâu mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, không đổi mới. Đảng Cộng sản Liên Xô rất bảo thủ, chủ quan mất cảnh giác, để cho một số nhân vật lãnh đạo chủ chốt trượt dài từ hữu khuynh đến xét lại, phản bội, mở đường cho bọn đế quốc càng đẩy mạnh diễn biến hòa bình, kể cả dùng đồng tiền mua chuộc cán bộ lãnh đạo thoái hóa, biến chất cả về tư tưởng, chính trị, đạo đức, gây mất lòng tin của hàng triệu đảng viên cộng sản và nhân dân lao động. Phải thay đổi thực trạng là cần thiết nhưng mô hình, đường lối, cách thức cải tổ của Liên Xô là hoàn toàn sai, là phản bội chủ nghĩa Mác - Lênin và những nguyên tắc xã hội chủ nghĩa. Chúng ta coi đây là bài học kinh nghiệm xương máu để củng cố Đảng ta. Chúng ta phải tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phải thường xuyên đổi mới, đổi mới toàn diện, triệt để nhưng đổi mới có nguyên tắc, đổi mới nhưng tuyệt đối không đổi màu.
Hỏi: Thưa đồng chí, lúc đó Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã có những quyết sách quan trọng như thế nào?
Trả lời: Từ chỗ đánh giá đúng tình hình, nguyên nhân Liên Xô sụp đổ, Bộ Chính trị đã đưa ra những phương án cấp bách để ổn định tình hình chính trị, giải quyết tư tưởng trong nội bộ Đảng. Trong thời điểm khó khăn này, Bộ Chính trị đứng đầu là anh Đỗ Mười đã thể hiện bản lĩnh rất vững vàng, kiên định chèo lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng gió, giữ vững được vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngay sau cuộc họp bất thường của Bộ Chính trị, anh Đỗ Mười đã đi khắp ba miền Bắc - Trung - Nam để giải thích tình hình Liên Xô sụp đổ và quan điểm lập trường của Đảng ta. Không những đi khắp ba miền đất nước mà trong những hội nghị quan trọng của các ban, ngành trung ương, anh Mười với tính kiên định và rất nhạy bén về lập trường tư tưởng với khả năng thuyết phục bằng sự phân tích sâu sắc về lý luận và chính trị, với nhiệt tình cách mạng cháy bỏng đã làm rõ sự kiện Liên Xô, Đông Âu sụp đổ, đã khẳng định quyết tâm lớn của Đảng ta là giữ vững độc lập tự chủ, không sự thay đổi nào từ bên ngoài có thể thay đổi được con đường xã hội chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng ta và nhân dân ta đã lựa chọn.
Trong những bài phát biểu của mình, anh Mười luôn luôn nhắc nhở đến công lao to lớn của Liên Xô và đặc biệt nhấn mạnh đến những bài học "chết người" từ sự kiện sụp đổ mà chúng ta cần rút ra để củng cố Đảng. Anh Mười có tài hùng biện nên có sức thu hút người nghe. Anh đưa ra những thắng lợi trong công cuộc đổi mới của Đảng ta, nền kinh tế của ta đang bước đầu phát triển, đã ngăn chặn được nạn lạm phát, đã có gạo xuất khẩu và đã khai thác được dầu khí. Anh Mười nhấn mạnh yêu cầu các cấp ủy Đảng phải làm thật tốt công tác củng cố nội bộ, những đảng viên nào dao động cần được giáo dục, thuyết phục, ai có tư tưởng đa nguyên, đa đảng cần xử lý nghiêm, cần ra sức chống diễn biến hòa bình và tự diễn biến.
Hỏi: Thưa đồng chí, lúc đó công tác tuyên truyền của ta như thế nào?
Trả lời: Lúc đó Bộ Chính trị đã quyết định nhanh chóng phổ biến và quán triệt nghị quyết Đại hội VII, phải tổ chức nghiên cứu sâu sắc cơ sở lý luận khoa học của Cương lĩnh 1991, đưa Cương lĩnh xuống thảo luận ở các chi bộ. Anh Đỗ Mười giao cho tôi tổ chức cho xuất bản các bộ sách C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, Lênin Toàn tập và Hồ Chí Minh Toàn tập. Việc cho xuất bản các bộ sách lớn này khẳng định tư tưởng, lập trường Đảng ta tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, giữ vững và củng cố được lòng tin của cán bộ và nhân dân lúc bấy giờ nhằm đẩy mạnh nghiên cứu sâu nền tảng tư tưởng của Đảng.
Anh Mười chỉ đạo cần tuyên truyền, phân tích rõ sự kiện Liên Xô sụp đổ để tránh sự hoang mang trong nhân dân. Đồng thời phải kiên quyết chống lại những luận điệu xuyên tạc, thù địch; giải thích rõ những thành tựu đổi mới của ta để tăng thêm lòng tin của nhân dân đối với Đảng.
Phải nói vai trò lãnh đạo của Bộ Chính trị và đồng chí Tổng Bí thư lúc đó là hết sức quan trọng, đúng đắn, sáng suốt và nhạy bén. Anh Mười đã kiên quyết đưa ra những biện pháp tích cực để ngăn chặn kịp thời những ảnh hưởng của tư tưởng tiêu cực xâm hại Đảng ta. Con người anh lúc nào cũng trong sáng về đạo đức, nhiệt tình cách mạng và tính chiến đấu cao đã nêu một tấm gương mẫu mực về tính kiên định lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Người đứng đầu Đảng ở mỗi bước ngoặt đều cực kỳ quan trọng. Anh Mười đã làm tốt trách nhiệm của mình vào thời điểm đầy thử thách. Đảng ta trước sau như một, luôn kiên định con đường xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, đoàn kết quốc tế, tuyệt đối trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Diệu Ân thực hiện
––––––––––––––––––––
* Nguyên ủy viên Bộ Chính trị - Bí thư Trung ương Đảng.
COI TRỌNG VIỆC CHUẨN BỊ ĐỘI NGŨ KẾ CẬN LÊ XUÂN TÙNG*
Lần đầu tiên tôi biết ông Mười là do ông đã ra Côn Đảo thăm nghĩa trang Hàng Dương, ông đã chụp một tấm ảnh đang thắp hương trước mộ bố tôi là ông Lê Xuân Thứ, Bí thư đầu tiên của Đảng bộ tỉnh Bình Định, Xứ ủy viên Xứ ủy Trung Kỳ (1930 - 1931). Tôi nhớ vào khoảng năm 1997, lúc đó ông Mười đang làm Tổng Bí thư, có một lần ông đã tặng tôi tấm ảnh rất đẹp. Tôi vô cùng xúc động, vì tôi chưa bao giờ kể về bố tôi với ông. Ông thường nhắc nhở chúng tôi phải quan tâm đời con cháu của những bậc lão thành cách mạng, nhớ giáo dục, đào tạo họ thành những cán bộ trung thành của Đảng ông là nhà hoạt động chính trị có tầm cỡ. Những việc ông đã làm khiến chúng tôi phải suy nghĩ và noi theo.
Ông Mười có đặc điểm là rất ham đọc sách, ông đọc thực sự để nghiên cứu tìm hiểu.
Tôi còn nhớ như in, vào năm 1987, ông Mười - Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cùng Đoàn đại biểu cấp cao của Đảng ta do đồng chí Nguyễn Văn Linh, Tổng Bí thư dẫn đầu sang Liên Xô công tác. Lúc rảnh rỗi, ông Mười rủ tôi tranh thủ ra thăm cửa hàng sách, ông nhờ đồng chí phiên dịch đọc tên sách kinh tế và chính trị, ông đặt mua mang về, nhờ dịch ra tiếng Việt để ông đọc. Mỗi khi tôi đến nhà thấy ông bày ra rất nhiều sách mới, ông giới thiệu cho tôi đọc.
Nhiệm vụ của Tổng Bí thư chủ yếu là chăm lo đường lối, chăm lo đội ngũ lãnh đạo chủ chốt của Trung ương và địa phương. Ông luôn tổ chức nghiên cứu, vạch ra đường lối và theo dõi đến cùng quá trình thực hiện đường lối. Vấn đề "dân chủ ở cơ sở" là sáng kiến của ông Mười. Điểm mới ở đây là dân chủ hóa trực tiếp ở cơ sở mà trước đây ít nói đến. Hà Nội là địa phương đi đầu thực hiện dân chủ ở cơ sở. Ông yêu cầu chúng tôi đưa ông về làm việc tận phường, xã, xí nghiệp. Trong đường lối kinh tế, ông Mười rất chú ý vấn đề phát huy nội lực. Chính vì vậy mà chúng ta đã chống được tình trạng lạm phát.
Ông Mười đã rất quan tâm chuẩn bị đội ngũ kế cận, đặc biệt là các chức danh quan trọng, trong đó có người kế nhiệm ông làm Tổng Bí thư. Đã có những đồng chí được tiến cử để cho đi học, đi tham quan nước ngoài và cử về địa phương công tác, thử thách.
Ông Mười chọn Hà Nội là đơn vị làm thí điểm về vấn đề liên doanh giữa nhân dân với Nhà nước. Ông thường gọi tôi lên báo cáo tình hình diễn biến ra sao. Thấy tôi đau chân không chịu nghỉ vẫn cố đi làm, ông bảo tôi: "Tôi đã nói anh Lê Khả Phiêu, Thường trực Ban Bí thư chuẩn bị giấy tờ cho anh đi chữa bệnh ở nước ngoài". Tôi hết sức cảm động trước sự quan tâm sâu sắc của ông.
Ông Mười là một trong những học trò của Bác Hồ về tính liêm khiết.
Theo tôi, người cán bộ của Đảng, Nhà nước phải dùng đức trị - đó là liêm khiết, chí công vô tư, nêu gương giáo dục mọi người.
Nhà của ông Mười ở Hà Nội từ khi hòa bình lập lại (1954), ông ở chiến khu về, đến nay vẫn ở đó.
Ông Mười chấn chỉnh những lệch lạc về đường lối, ông phê phán gay gắt những ai thường suy nghĩ rằng: "có tiền là mua được tất cả".
Ông là người nắm rất chắc tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi biết ông có một quyển sách ghi các câu nói của Bác Hồ để vận dụng vào đường lối cách mạng ở Việt Nam.
Trong lễ nhận Huy hiệu 70 năm tuổi Đang, ông đã nói rất sâu sắc, thấm thía, đại ý: Đảng viên không chỉ trung thành với Đảng, điều quan trọng nữa là giữ thanh danh, uy tín cho Đảng.
Tháng 12-2010
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––
* Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội.
ĐẠI HỌC TRƯỜNG ĐỜI NGUYÊN VĂN CHI*
Hỏi: Thưa đồng chí, được biết đồng chí là người được đồng chí Đỗ Mười hết sức tin cậy, xin đồng chí kể lại những kỷ niệm về thời kỳ đồng chí Đỗ Mười làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng?
Trả lời: Tôi được gặp đồng chí Đỗ Mười từ năm 1976, lúc đó tôi đang làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện Hòa Vang. Tôi làm Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam - Đà Nẵng khi mới 41 tuổi, năm 1986 tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI. Đến Đại hội VII của Đảng, đồng chí Đỗ Mười lên làm Tổng Bí thư, phân công tôi làm Phó ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương. Năm 1993, đồng chí phân công tôi về công tác ở miền Tây Nam Bộ bảy năm rưỡi để nắm bắt tình hình hoạt động của những đảng phái phản động cũ và mới như: Quốc dân Đảng, Đại Việt, Cần lao nhân vị, Nhân xã Đảng, Đảng Dân chủ, Đảng nhân dân cách mạng hành động, v.v. Trước khi tôi đi đồng chí căn dặn: “Muốn bảo vệ được Đảng ta, phải nắm được hoạt động của các đảng phái phản động, hiện nay tình hình các đảng phái phản động ở miền Tây hoạt động đất phức tạp, cậu vào đó nắm bắt tình hình và đưa ra các biện pháp xử lý kịp thời, giao việc này cho cậu, tin tưởng cậu sẽ làm tốt". Được Tổng Bí thư tin tưởng giao nhiệm vụ, tôi nghiêm túc chấp hành.
Khi vào miền Tây công tác với nhiệm vụ được giao quá nặng nề, tôi cảm phục tầm nhìn của đồng chí Tổng Bí thư. Hơn 7 năm đó, tôi đã nắm được hầu hết hoạt động của các đảng phái phản động cũ và mới, kể cả những đảng phái từ bên ngoài xâm nhập vào với âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng của ta. Nếu lúc đó ta để ngỏ miền Tây thì tình hình chính trị sẽ rất phức tạp. Sau này chúng ta đã dùng các biện pháp chính trị, hành chính, kể cả vũ trang để vô hiệu hóa các hoạt động của chúng. Hơn 7 năm đó, ít người biết tôi làm công việc thầm lặng này. Qua công việc, đồng chí Đỗ Mười càng hiểu và tin tưởng tôi hơn, đánh giá tôi là con người có bản lĩnh, sống chết bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ này. Đồng chí có ý tưởng quy hoạch tôi ở Ban Bảo vệ chính trị nội bộ Trung ương, nhưng đến đầu năm 2003 thì tôi sang làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Không thể giãi bày hết những tình cảm của tôi với đồng chí Đỗ Mười qua lời nói được. Đồng chí đối với tôi như người cha, người anh cách mạng hay là đồng chí, đồng đội mà không thể diễn đạt hết được, mỗi người có một tâm trạng riêng.
Hỏi: Thưa đồng chí, xin đồng chí nói kỹ hơn về việc đồng chí Đỗ Mười luôn tin tưởng vào lực lượng trẻ sẽ kế cận bảo vệ Đảng?
Trả lời: Đúng vậy, lúc làm Bí thư Tỉnh ủy, tôi là một cán bộ còn quá trẻ so với các đồng chí lão thành khác. Nhưng chị có biết không, 9 tuổi tôi đã đã làm giao liên, phải mang tài liệu, thư từ đến những “hòm thư bí mật", lần nào được giao tôi cũng hoàn thành. Có lẽ thấy tôi trẻ, 26 tuổi đã là Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, làm Bí thư Huyện ủy Hòa Vang, lại là con em gia đình cách mạng nên đồng chí Đỗ Mười tin tưởng tôi. Tôi còn nhớ, có lần khi tôi đã vào Trung ương rồi, đồng chí Đỗ Mười còn nói trong hội nghị: "Đồng chí này cần được quy hoạch sớm". Những ý kiến của đồng chí làm tôi luôn suy nghĩ phải làm việc sao cho thật tốt để giữ mãi lòng tin của đồng chí đối với tôi.
Hỏi: Ở đồng chí Đỗ Mười nổi bật lên đức tính cơ bản nhất là gì ?
Trả lời: Đồng chí rất thân tình, không có thành kiến, không đố kỵ, không cố chấp, nói rồi thôi, đạo đức của đồng chí là như thế đấy.
Hỏi: Đồng chí Đỗ Mười làm Tổng Bí thư giữa lúc Liên Xô sụp đổ, đồng chí thấy sự vững vàng của đồng chí Đỗ Mười thế nào?
Trả lời: Đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã biết tình hình Liên Xô có những biểu hiện nguy cơ tiềm ẩn, nhưng Đảng ta không ngờ Liên Xô đổ nhanh như vậy. Khi đồng chí Đỗ Mười lên thay đồng chí Nguyễn Văn Linh, đồng chí trăn trở lắm. Lúc đó là lúc thể hiện bản lĩnh chính trị của Tổng Bí thư.
Đồng chí đi sâu vào chấn chỉnh ngay nội bộ Đảng, không để trong Đảng mắc sai lầm về đường lối. Đồng chí đã gọi tôi ra làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng.
Hỏi: Đồng chí Đỗ Mười có tâm sự riêng với đồng chí tại sao Liên Xô sụp đổ không ?
Trả lời: Có chứ, ông gọi tôi từ Quảng Nam - Đà Nẵng ra Hà Nội nói chuyện riêng về tình hình Liên Xô, ông nói rõ là mình phải củng cố nội bộ Đảng thật tốt, nội bộ trong Đảng tốt thì không thể đổ được, "nội yên, ngoại tĩnh", nếu có quan điểm sai lầm thì phải xử lý ngay, không thể để gieo rắc mầm mống tư tưởng đa nguyên, đa đảng; đa nguyên, đa đảng là mất nước, mất chế độ.
Hỏi: Đồng chí Đỗ Mười có cương quyết xử lý vấn đề nội bộ?
Trả lời: Đồng chí Đỗ Mười rất cương quyết, những trường hợp đảng viên vi phạm về quan điểm, đường lối là đồng chí cương quyết xử lý ngay.
Hỏi: Đồng chí có còn nhớ Chỉ thị số 30 về dân chủ ở cơ sở chứ ạ?
Trả lời: Tôi nhớ chứ, tác giả Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị chính là đồng chí Đỗ Mười. Có lần đồng chí Đỗ Mười giải thích cho tôi dân chủ là một lối ra, nó mang tính chất công bằng, bình đẳng để cho Đảng gần gũi với dân, hiểu dân hơn. Đồng chí nhấn mạnh ý "đẩy thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân". Đến bây giờ vấn đề dân chủ ở cơ sở đã thành quy chế giá trị. Chỉ thị số 30 của Bộ Chính trị sẽ còn lâu dài và ngày càng hoàn thiện hơn, đã thể chế hóa thành pháp lệnh.
Hỏi: Đồng chí Đỗ Mười có khi nào nhắc nhở đồng chí không?
Trả lời: Có chứ, đồng chí chỉ nhắc nhở nhẹ để cho mình nhận ra vấn đề nhưng rất sâu sắc: đó là phải có văn hóa đọc mới có tri thức, phải có thực tiễn mới hiểu được lòng dân.
Hỏi: Như vậy là đồng chí đã làm công tác bảo vệ nội bộ Đảng trong một thời gian dài?
Trả lời: Tôi tham gia Ban Chấp hành Trung ương Đảng 5 khóa thì gần 4 khóa làm công tác bảo vệ chính trị nội bộ Đảng và tham gia giữ gìn kỷ cương, kỷ luật của Đảng, trong đó 1 khóa làm Ủy viên Bộ Chính trị. Tôi đã có tổng kết: "Thiên kế, vạn kế, nhất kế Đảng". Nền kinh tế của một số nước xã hội chủ nghĩa mạnh thế mà đảng vẫn bị đổ; khi cá nhân một số người có chức, quyền có quá nhiều tiền bạc thì họ chỉ lo giữ của cải của họ, họ không lo nghĩ đến bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ đâu.
Nước ta có Đảng lãnh đạo, có cả một hệ thống chính trị giám sát, nhờ có dân chủ và luôn chăm lo cuộc sống cho dân nghèo nên Đảng vẫn giữ được vai trò lãnh đạo. Đồng chí Đỗ Mười rất coi trọng công tác kiểm tra của Đảng. Chúng tôi đã trình Bộ Chính trị về "Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2020", nếu thực hiện được như chiến lược đề ra thì sẽ góp phần rất tích cực làm cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, không có cửa cho tham nhũng. Đồng chí Đỗ Mười rất ủng hộ chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng.
Hỏi: Đồng chí thấy cán bộ, đảng viên, nhân dân đánh giá về đồng chí Đỗ Mười thế nào?
Trả lời: Mọi người đều ca ngợi đồng chí Đỗ Mười là người sâu sát cơ sở, khi đồng chí làm Tổng Bí thư, mọi người nhận thấy đồng chí là người tâm huyết, nhân dân biết những đức tính tốt của đồng chí. Nếu được hỏi, mọi người sẽ nói đồng chí là con người luôn giữ gìn sự liêm khiết, đó là phẩm chất mà ngành kiểm tra chúng tôi lấy đồng chí làm gương sáng để noi theo.
Hỏi: Còn tinh thần tự học của đồng chí Đỗ Mười, đồng chí học được gì?
Trả lời: Đồng chí Đỗ Mười rất kiên trì trong việc tự học, theo tôi có thể cấp cho ông tấm bằng "đại học đường đời". Nếu cần tấm bằng đại học, chỉ cần học đại học 4 - 5 năm. Trường đại học của đồng chí không ai học được, không ai có được. Trong chiến tranh, chị biết đồng chí Đỗ Mười làm gì không? Đồng chí làm Bí thư, Chính ủy, Tư lệnh, Trưởng ban Tuyên huấn, Trưởng ban Tổ chức Quân khu Tả ngạn sông Hồng. Ông đảm nhận bốn, năm chức vụ cùng một lúc, có thời gian ngắn Bộ Chính trị còn phân công đồng chí làm Bí thư Đảng đoàn Hội Phụ nữ. Nếu đồng chí không chịu khó học tập, chịu khó nghiên cứu từ trong sách vở, từ thực tiễn cách mạng thì làm sao đảm nhận được những trọng trách lớn như vậy. Đồng chí là người hiểu tâm tư, tình cảm của nhân dân nên rất thương dân. Có thể nói, tất cả các lĩnh vực đồng chí đều am hiểu là do đồng chí tôn trọng thực tế khách quan. Với tri thức rộng, đồng chí Đỗ Mười nhìn nhận rất xa, suy nghĩ rất sâu, nhiều khi đồng chí tâm sự với tôi: "Dân còn khổ lắm cậu ơi, mình cảm thấy chưa hoàn thành nhiệm vụ trước dân".
Lúc nào đồng chí cũng nghĩ đến nước, đến dân. Tôi tự hào là người hiểu một phần về đồng chí Đỗ Mười...
Ngày 1-12-2010
Diệu Ân thực hiện
––––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng
HÔM NAY BÁC ĐÃ LÀ NGƯỜI DÂN CỦA BẢN RỒI TÒNG THỊ PHÓNG*
Tấm lòng bác Đỗ Mười đối với đồng bào các dân tộc lớn lắm, đồng bào rất kính trọng bác. Bác đặc biệt quan tâm đến các tỉnh nghèo, vùng cao, miền núi khó khăn, vùng biên giới.
Lúc đó, tôi làm Phó Bí thư Tỉnh ủy Sơn La (cuối năm 1993), được về dự hội nghị do Trung ương tổ chức. Trong thời gian hội nghị, bao giờ bác Mười cũng dành thời gian thăm hỏi các đại biểu các tỉnh miền núi. Bác thường hỏi chúng tôi: "Đời sống đồng bào có khó khăn lắm không? Có bị đói không? Có đủ muối iốt không? Ruộng nương của bà con có bị sương muối không?".
Có một lần, chúng tôi về huyện Mộc Châu đón bác lên thăm Sơn La. Trên đường đi, nhìn thấy rất nhiều phụ nữ đeo gùi nhưng lại dùng khăn móc vào đầu, trông rất khó nhọc. Bác quay sang hỏi tôi:
- Này cô Phóng ơi, tại sao chị em lại đeo gùi như vậy? Chắc là vất vả, nặng nhọc lắm?
Tôi trả lời:
- Thưa bác đúng ạ, cực nhọc lắm ạ!
- Cô có nghĩ cách gì để chị em không phải gùi như thế này không? Cô là cán bộ lãnh đạo, cô phải lo cho nhiều phụ nữ dân tộc khác nữa.
Chính câu nói của bác đã làm cho tôi phải day dứt suy nghĩ cả cuộc đời, làm thế nào cải thiện được đời sống cho đồng bào, nhất là đời sống cho người phụ nữ các dân tộc.
Khi tôi làm Bí thư Tỉnh ủy Sơn La, có lần bác Mười lên tỉnh, bác hỏi chúng tôi: "Tình hình sản xuất của Sơn La thế nào? Làm thế nào phủ xanh đất trống, đồi núi trọc? Làm gì để nâng cao đời sống cho bà con?".
Chúng tôi báo cáo: "Thưa bác, tỉnh đã cho quy hoạch lại vùng sản xuất dọc trục đường số 6, giảm diện tích lúa nương để trồng ngô tẻ đỏ, cà phê, chè, mận tam hoa, xen canh gối vụ, lấy ngắn nuôi dài".
Bác rất vui khi nghe báo cáo nhưng lại muốn lên nương tận mắt xem bà con sản xuất.
Chúng tôi đã mời bác đi thăm.
Trông thấy bác, mọi người to lên:
- Bác ơi, bác đã lên nương, bác đã là người dân của bản rồi!
Bà con xúm quanh bác chuyện trò vui vẻ, có một chị mạnh dạn nói:
- Hôm nay bác đến thăm bà con, không có gì tặng bác, chúng cháu hái rau bí gọi là có món quà quê tặng bác.
Nói rồi chị em chuyển tận tay Tổng Bí thư những mớ rau bí xanh ngon.
Bác tươi cười dặn dò:
- Các cô, các chú xen canh gối vụ thế này là rất tốt, không lo dân đói, nhưng phải chú ý bảo vệ rừng, bảo vệ nguồn nước nhé.
Khi về đến cơ quan bác nói:
- Cô Phóng cho chế biến món đặc sản rau bí bà con mới tặng tôi sáng nay nhé.
Chúng tôi và anh em cơ quan đã làm món rau bí xào tỏi để đãi bác và khách Trung ương.
Còn một kỷ niệm về bác mà tôi nhớ mãi. Lần đó, bác lên để thăm công trình thủy điện Sơn La. Bác yêu cầu Bí thư Tỉnh ủy và một số cán bộ phải đưa bác lên tận nơi. Chặng đầu tiên có máy bay trực thăng đón bác từ tỉnh đến gần công trình thủy điện. Sau đó, chúng tôi lại mời bác lên ô tô đi tiếp. Ngồi ô tô đi trên đường trơn, dốc đứng, trong lòng tôi rất lo vì sợ lỡ có chuyện gì xảy ra thì nguy to. Nhưng ngược lại, bác rất vui, ngắm cảnh thiên nhiên hùng vĩ, bác còn động viên chúng tôi và khen mảnh đất Sơn La rất giàu đẹp và giàu truyền thống lịch sử cách mạng.
Chặng đường cuối cùng vào tận nơi còn phải chuyển sang đi bằng thuyền. Vào đến tận khu vực thủy điện Sơn La rồi, tôi đã tưởng là mình hoàn thành nhiệm vụ nhưng bác nói: "Tôi quan tâm đến nơi khoan địa chất". Thế là chúng tôi lại xuống thuyền vượt qua một đoạn thác mới đến nơi đang khoan địa chất. Bác đi bộ vào tận trong hầm để quan sát hiện trường. Anh em cán bộ, công nhân thấy bác Mười, reo lên phấn khởi. Bác bắt tay từng người rồi ân cần hỏi: "Các chú nghiên cứu tầng địa chất thế nào? Định làm bậc cao hay bậc thấp? Làm sao điều tiết nước cho vùng hạ du? Các tổ máy có an toàn khi tần suất lũ cao nhất không?".
Sau khi trao đổi về vấn đề kỹ thuật, bác Mười hỏi đồng chí Giám đốc Công ty hết sức cụ thể, chi tiết về phương án di dân và tái định cư.
Bác lại dặn chúng tôi:
- Các anh chị phải nghiên cứu kỹ, lo cho dân làm sao nơi ở mới phải tốt hơn nơi ở cũ, bảo đảm đời sống cho dân, coi đó là trọng tâm số một của tỉnh. Phải nghe dân, bàn với dân giữ được bản sắc văn hóa các dân tộc rồi mới quyết định. Phải giải thích cho dân hiểu vì sự nghiệp phát triền kinh tế - xã hội của đất nước mà mỗi người, mỗi gia đình phải cố gắng đoàn kết yêu thương nhau.
Bác còn dặn: "Cô Phóng nhớ phải nói với đồng bào như vậy nhé".
Nghe bác dặn câu này, tôi rất cảm động về sự chăm lo của bác, của Trung ương với đồng bào các dân tộc thiểu số, dặn dò chúng tôi, tôi phải chăm lo chu đáo cho đồng bào khi di dân để xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La.
Những năm sâu này, khi tôi về công tác ở Ban Dân vận Trung ương, rồi chuyển sang công tác bên Quốc hội, bác Mười vẫn luôn căn dặn tôi: "Cháu phải nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, giúp dân hiểu, dân biết, nhưng còn phải để cho dân kiểm tra. Cháu nên nhớ phương châm công tác dân vận là gần dân, hiểu dân, trọng dân, học dân, có trách nhiệm với dân".
Hà Nội ngày 3-3-2011
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––
* Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Quốc hội.
ĐỔNG CHÍ ĐỖ MƯỜI GẮN BÓ VỚI TỔ CHỨC HỘI VÀ PHONG TRÀO CỦA PHỤ NỮ HÀ THỊ KHIẾT*
Có thể nói đồng chí Đỗ Mười đã để lại cho phụ nữ Việt Nam chúng tôi những tình cảm thân thương, kính trọng, những ấn tượng rất sâu đậm về một chiến sĩ cách mạng, một người lãnh đạo đã từng đảm nhiệm nhiều trọng trách của đất nước. Với sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ Việt Nam, chúng tôi không khỏi nhớ đến những ngày đầu rất gian khổ trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Đồng chí Đỗ Mười đã gắn bó với tổ chức Hội và phong trào phụ nữ Việt Nam. Khi chị Hoàng Ngân mất, đồng chí đã được Trung ương giao nhiệm vụ cùng chị Hà Giang chuẩn bị cho Đại hội hợp nhất Hội Phụ nữ cứu quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Việc sáp nhập hai tổ chức này đã chứng tỏ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta và thể hiện sự phát triển lớn mạnh của phong trào phụ nữ Việt Nam, đáp ứng sự lớn mạnh của phong trào cách mạng trong thời kỳ đó. Đồng chí Đỗ Mười được các chị lớn tuổi thường nói vui với nhau là "chị Mười", vì đồng chí rất gắn bó, rất quan tâm, cùng với chị Hoàng Ngân thường xuyên chỉ đạo các phong trào phụ nữ kháng chiến. Vì vậy, chị em chúng tôi, lớp phụ nữ đi sau cứ lầm tưởng rằng đồng chí Đỗ Mười đã từng làm Bí thư Đảng Đoàn của Hội, nhưng không phải mà chính là đồng chí đã được Bác Hồ và Liên khu ủy III cử cùng chị Hà Giang làm công tác tổ chức sáp nhập và phát triển Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam trong thời gian đó.
Từ đó đến nay bất cứ ở cương vị nào, đồng chí Đỗ Mười cũng rất quan tâm tới Hội và phong trào phụ nữ. Cụ thể, trong thời gian giữ cương vị Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ngày 19-10-1988, đồng chí Đỗ Mười đã ký và ban hành Quyết định số 163 của Hội đồng Bộ trưởng về "Quy định trách nhiệm của các cấp chính quyền trong việc bảo đảm cho các cấp Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam tham gia quản lý nhà nước". Đây là một quyết định có ý nghĩa chính trị rất sâu sắc, đã tạo một bước phát triển quan trọng trong phong trào phụ nữ, tạo điều kiện thuận lợi để các cấp Hội Phụ nữ tham gia quản lý nhà nước, nâng cao hiệu lực hoạt động của các cấp chính quyền, làm tăng thêm lòng tin của các cấp Hội Phụ nữ đối với các cơ quan quản lý nhà nước và những vấn đề liên quan đến quyền và những lợi ích chính đáng của phụ nữ và trẻ em. Quyết định số 163 đã được chúng tôi tiến hành tổng kết và cũng khẳng định rằng sức sống của Quyết định số 163 đến nay cũng như sau này vẫn còn được phát huy và có bổ sung những vấn đề mới cho phù hợp với tình hình hiện tại của đất nước.
Với cương vị là Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười đã luôn quan tâm, theo dõi chỉ đạo phong trào phụ nữ và tham dự các hoạt động lớn của Hội trong những ngày lễ lớn và trong đại hội. Đồng chí dù bận trăm công ngàn việc vẫn dành thời gian thích đáng cho Hội Phụ nữ và cho phong trào phụ nữ. Đồng chí đã khẳng định: "Thời kỳ nào phụ nữ Việt Nam cũng ghi lại tên tuổi sáng ngời, gắn liền với lịch sử dân tộc, xứng đáng với tám chữ vàng chói lọi: Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang".
Thực tế những năm qua đã chứng minh, không có sự thành công nào của cách mạng, không có sự tiến bộ nào của đất nước mà không có sự tham gia tích cực của phụ nữ. Sự trưởng thành của phong trào phụ nữ, những thành tích mà chị em phụ nữ đã đạt được gắn liền với quá trình thực hiện công cuộc đổi mới. Một lần nữa phụ nữ Việt Nam lại tỏ rõ những năng lực mới trong học tập, nghiên cứu, lao động sáng tạo đạt những thành tích xuất sắc trong mọi lĩnh vực...
Với phong trào của Hội, đồng chí Đỗ Mười đã chỉ rõ, hoạt động của Hội phải đi vào chiều sâu, phải tổ chức nhiều hoạt động thiết thực để mang lại nhiều quyền lợi hơn nữa cho phụ nữ và trẻ em. Chú trọng khai thác, quản lý, sử dụng nhiều nguồn vốn nhất là những nguồn vốn từ các tổ chức xã hội, để hỗ trợ cho chị em nghèo ổn định nâng cao đời sống. Tổ chức Hội cần phải đổi mới nội dung và phương thức hoạt động để thu hút đông đảo các tầng lớp phụ nữ tham gia vào tổ chức Hội.
Vào cuối năm 1991-1992, trên cương vị là Tổng Bí thư của Đảng, đồng chí đã đi thăm một số mẹ liệt sĩ ở các tỉnh Tây Ninh, Bến Tre, Thừa Thiên - Huế, gặp các bà mẹ có tới 6-7 người con liệt sĩ. Trong khi trao đổi tâm sự, có bà mẹ nói với đồng chí, đại ý: Mất hết con nhưng nước được độc lập là sung sướng, toại nguyện rồi... Nghe những lời nói đó, đồng chí rất xúc động, đồng chí về cứ suy nghĩ mãi: Phụ nữ Việt Nam anh hùng, vậy Đảng, Nhà nước và nhân dân phải làm gì để xứng đáng với sự hy sinh đó? Từ suy nghĩ ấy, đồng chí đã nảy ra ý tưởng phải phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng cho những người vợ, người mẹ hy sinh chồng, con cho cách mạng. Đồng chí trao đổi với đồng chí Chủ tịch nước và báo cáo Bộ Chính trị, và được chấp nhận ngay. Sau đó, Ủy Ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua và Chủ tịch nước ký lệnh ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước "Bà mẹ Việt Nam anh hùng", đến nay đã được hơn 10 năm.
Trong công việc, đồng chí Đỗ Mười luôn luôn thể hiện sự nhiệt tình và nghiêm túc. Lần đầu được làm việc với đồng chí Đỗ Mười, có thể nói, ai cũng rất ngại. Khi tôi mới làm Bí thư Tỉnh ủy Tuyên Quang cũng vậy, đến gặp đồng chí thấy đồng chí nghiêm khắc quá nên không biết nói chuyện gì cả. Đến khi vào câu chuyện, thấy đồng chí rất thân tình, thông cảm và chia sẻ với đồng chí, với chị em mới yên tâm. Vì vậy, trong đời thường, ai được gặp gỡ, tiếp xúc với đồng chí đều nhận được sự ân tình, những tình cảm quý mến của đồng chí đối với mình.
Là một trong những cán bộ lão thành cách mạng có nhiều đóng góp cho đất nước, cho phụ nữ Việt Nam, đồng chí Đỗ Mười đã cống hiến đời mình làm tròn trách nhiệm của người con trung hiếu với nhân dân, với gia đình và với Tổ quốc.
Nhân dịp này, thay mặt Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, thay mặt chị em phụ nữ cả nước, tôi xin gửi tới đồng chí Đỗ Mười lời cảm ơn chân thành sâu sắc nhất, cùng với những tình cảm thân thương, kính trọng của phụ nữ Việt Nam và mong muốn rằng đồng chí luôn luôn được khỏe mạnh, thượng thượng thọ để tiếp tục quan tâm tới công tác Hội, tới phong trào phụ nữ Việt Nam.
Nguyễn Thị Việt Nga ghi
––––––––––––––––––––
* Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam.
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI LÃNH ĐẠO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC CÔNG NGHỆ GS.TS. VŨ ĐÌNH CỰ*
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, đồng chí Đỗ Mười đã có những đóng góp vô cùng to lớn trong xây dựng đất nước, đưa đất nước vượt qua khó khăn, tiến lên trên con đường xã hội chủ nghĩa.
Dưới đây, tôi xin trình bày sự chỉ bảo của đồng chí Đỗ Mười đã cho tôi những hiểu biết cần thiết để góp phần thắng đế quốc Mỹ trong chiến tranh và tham gia phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta trong hòa bình.
1. Sự lãnh đạo của Đảng trong rà phá bom, mìn, thủy lôi
Tháng 5-1972, đế quốc Mỹ cho máy bay thả bom, mìn, thủy lôi từ trường xuống các cửa sông, cảng biển hòng phong tỏa vùng cảng Hải Phòng. Các cán bộ khoa học kỹ thuật thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Giao thông vận tải, Trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội đã khẩn trương nghiên cứu biện pháp rà phá bom, mìn, thủy lôi với mục tiêu bảo đảm thắng nhanh, ít hoặc không có thương vong. Người chỉ đạo cuộc chiến đấu trên đây là đồng chí Đỗ Mười, lúc đó là Phó Thủ tướng.
Tham gia thảo luận về nhiệm vụ chiến đấu đó, về phía quân đội có Thiếu tướng Phùng Thế Tài, đại diện phía Bộ Giao thông vận tải có Vụ trưởng Vụ Kỹ thuật Nguyễn Kha. Trong thảo luận có một số vấn đề đặt ra là thống nhất hai lực lượng rà phá của hai bên lại hay là phân công từng bên, hoạt động chủ yếu theo các vị trí được phân công.
Trong thảo luận thấy nảy ra các khó khăn. Nếu phối hợp đồng bộ thì sức mạnh chung sẽ lớn hơn, nhưng lại bị dàn mỏng. Nếu tách thành hai đơn vị thì trách nhiệm mỗi bên sẽ tích cực hơn nhưng sẽ khó phối hợp nhanh. Sự bàn bạc rất sôi nổi và những ý kiến khác nhau kéo dài.
Sau một thời gian suy nghĩ, đồng chí Đỗ Mười đã quyết định như sau:
- Quân đội thực hiện rà phá trong phạm vi chiến đấu của mình.
- Bộ Giao thông vận tải thực hiện rà phá tích cực trong phạm vi được phân công về giao thông vận tải.
Nhưng hai bên phải thường xuyên, ít nhất là hằng tháng, nếu cần thì gần hơn, trao đổi và phổ biến cho nhau những kết quả và kinh nghiệm tốt trong chiến đấu rà phá.
Hai bên đều nhất trí với quyết định thỏa đáng của đồng chí Đỗ Mười.
Đơn vị GK1 chúng tôi trong hoạt động rà phá đạt kết quả rất to lớn, được các đồng chí, trong đó có đồng chí Đỗ Mười khen thưởng và Chủ tịch Tôn Đức Thắng thưởng Huân chương và sau này tổ GK1 được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I. Chúng tôi đạt được các kết quả rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường của địch mà không gây thương vong, một phần quan trọng là nhờ sự tạo điều kiện, giúp đỡ rất hiệu quả của đồng chí Đỗ Mười qua việc cung cấp rất thuận lợi các trang, thiết bị quan trọng. Như khi thiếu các phương tiện để chế tạo trang bị mạnh thì được đồng chí Đỗ Mười cung cấp từ các kho đặc biệt, các phương tiện điện tử để chế tạo nhanh các máy rà phát. Cũng nhờ các ưu tiên đó chúng tôi đã hoàn thành chế tạo phương tiện an toàn trên ô tô (trường hợp dọc đường địch thả thủy lôi hoặc bom mìn nổ chậm) để đưa ngài Xihanúc về nước.
2. Viện Nghiên cứu Công nghệ quốc gia
Cuối cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và tay sai, nhân dân ta tiến hành xây dựng Lăng Bác Hồ. Đồng chí Đỗ Mười được giao nhiệm vụ chính trong công việc quan trọng này.
Khi Lăng đã hoàn thành, nhân dân cả nước, kể cả người nước ngoài rất phấn khởi được vào viếng Bác trong Lăng. Mọi người đều rất vui sướng được thấy Bác yên nghỉ. Khi ra về, được người hướng dẫn cho biết, người có công lớn trong việc xây dựng Lăng Bác là đồng chí Đỗ Mười, ai cũng hết lời ca tụng.
Tôi chỉ được phục vụ một số công việc khoa học và công nghệ trong lĩnh vực vật lý học và công nghệ ứng dụng, nên được đồng chí Đỗ Mười giao cho một số việc liên quan.
Đồng chí quan tâm đến hầu hết các ngành cơ khí, nhất là cơ khí hiện đại, trong đó có lĩnh vực điện tử cao cấp và vi điện tử cùng với cáp quang và máy tính điện tử v.v..
Trước tiên, đồng chí đã thành lập một tổ chức các chuyên gia đi khảo sát rộng khắp đất nước, các nhu cầu cần thiết về lĩnh vực điện tử dân dụng, cao cấp và hiện đại. Sau khi nghe báo cáo, đồng chí Đỗ Mười đã quyết định thành lập Tổng cục Điện tử cả ở phía Bắc và phía Nam. Tổng cục có trách nhiệm xây dựng và phát triển nhanh những dụng cụ dân dụng, những trang, thiết bị điện tử chuyên dụng và phương tiện phát triển kinh tế cả nước bằng máy móc điện tử...
Để mở đầu cho một hướng phát triển nhanh của đất nước, các đồng chí có trách nhiệm cao của Chính phủ, sau khi bàn kỹ, đã cho thành lập một viện nghiên cứu đặc biệt hướng vào các ngành công nghệ cao còn chưa phát triển ở nước ta do chiến tranh cản trở. Viện nghiên cứu mới này gọi là Viện Nghiên cứu Công nghệ quốc gia và được Chính phủ trực tiếp quản lý, thành lập ngày 16-10-1984.
Đồng chí Đỗ Mười trực tiếp quản lý hoạt động của Viện Nghiên cứu Công nghệ quốc gia. Giai đoạn đầu, Viện có các đơn vị chính như:
- Viện Công nghệ lade (laser);
- Viện Công nghệ vi điện tử;
- Viện Công nghệ quang học;
- Trung tâm nghiên cứu, lắp ráp và kiểm định sản phẩm;
- Một số xí nghiệp, xưởng sản xuất sản phẩm đặc biệt.
Viện được cung cấp kinh phí cho nghiên cứu và xây dựng các cơ sở khoa học đáp ứng nhanh các yêu cầu cấp bách. Một cơ sở khá lớn và khang trang được xây dựng ở số 25 phố Lý Thánh Tông - Hà Nội, bắt đầu ngay từ năm 1984.
Ngay từ đầu Viện đã được tạo điều kiện để thành lập một hệ thống các phòng thí nghiệm có đủ trang bị bảo đảm sự phát triển kịp thời nhiều lĩnh vực công nghệ cao.
Rất quan tâm đến sự phát triển nhanh của những lĩnh vực công nghệ cao ở nước ta, đồng chí Đỗ Mười đã khai thác, tạo điều kiện đặc biệt cho sự phát triển khoa học và công nghệ ở nước ta.
Trong lần được mời đến thăm Hàn Quốc (năm 1996) đồng chí đã tọa đàm rất thân mật với Tổng thống Hàn Quốc Kim Young Sam và đề nghị giúp Việt Nam một trung tâm hợp tác Việt - Hàn.
Ngày 20-01-2000, Trung tâm Hợp tác công nghệ Việt - Hàn đã được khai trương, có đồng chí Đỗ Mười đến dự và giao nhiệm vụ. Cho đến nay đã trên 10 năm, Trung tâm vẫn hoạt động tích cực, đào tạo cán bộ trong nước trao đổi với các chuyên gia Hàn Quốc.
Đồng chí Đỗ Mười đã có những thành tích, đóng góp to lớn trên nhiều mặt. Các cán bộ khoa học và công nghệ rất biết ơn đồng chí đã có nhiều chỉ bảo sáng suốt, nhiều hướng dẫn quan trọng, kịp thời làm cho khoa học và công nghệ có bước phát triển tích cực.
––––––––––––––––––
*Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội.
TRONG GIA ĐÌNH ANH RẤT GIỮ LỄ NGUYỄN THỌ CHÂN*
Gia đình anh Đỗ Mười rất nghèo. Bố anh tên là Nguyễn Duy Trinh, sinh được bảy người con (bốn trai, ba gái).
Tôi và bố anh Đỗ Mười là con chú con bác. Gia đình tôi có cụ Tú làm thông phán ở huyện Yên Mô (tỉnh Ninh Bình). Cụ đưa anh Đỗ Mười theo để học, nhờ vậy anh Đỗ Mười thi được sơ học yếu lược (cấp I), có biết một ít tiếng Pháp.
Anh Đỗ Mười vào Đảng sau tôi khoảng 5 tháng nhưng sinh hoạt cùng chi bộ. Anh là một người hiếm có, trải qua từ chi bộ, ở tù, kháng chiến tham gia nhiều cấp ủy từ tỉnh tới trung ương.
Sau ngày hòa bình, anh trải qua nhiều ngành: thương nghiệp, xây dựng; làm Phó Thủ tướng Thường trực, v.v... Ở nơi nào anh làm việc cũng cần cù, chăm chỉ.
Anh Đỗ Mười trải qua nhiều công tác khác nhau nên hiểu biết rộng, nhiều kinh nghiệm. Anh Đỗ Mười phục đồng chí Lê Duẩn về tầm nhìn chiến lược đối với cách mạng Việt Nam. Các đồng chí lãnh đạo đều nể trọng anh Đỗ Mười, tuy nói năng chát chúa nhưng rất chân thành, thẳng thắn và công bằng.
Tôi còn nhớ, hồi tôi đi công tác nước ngoài về, là Ủy viên Trung ương, Bộ trưởng. Họ xếp cho tôi ở nhà khách số 7 Nguyễn Cảnh Chân. Khi gặp Đỗ Mười, lúc đó là Bộ trưởng Bộ Xây dựng, tôi bảo: "Anh xếp nhà cho tôi".
Đỗ Mười nói: "Chú cứ ở đấy đi, nhà khách cũng là nhà, cháu xếp nhà cho chú, người ta bảo vì quan hệ chú cháu".
Nghe anh nói như vậy, tôi đành ở nhà khách suốt 20 năm. Anh lo cho người khác được, nhưng không giúp chú mình.
Anh Đỗ Mười có nhược điểm hay nói lớn, ít giữ gìn nhưng một lòng vì công việc. Anh sống giản dị, quần áo, đồ đạc xuềnh xoàng. Có lần ông Phạm Văn Đồng than: "Nhà ông Mười chẳng có đồ đạc gì đáng giá".
Anh không có phòng ngủ riêng, chỉ có cái giường nhỏ cạnh bàn bàn việc. Có hôm, anh mời tôi ăn cơm rồi ngủ lại buổi trưa, anh mời tôi nằm giường, còn anh ngồi ghế.
Năm 1991, Liên Xô sụp đổ, lúc đó tôi đã về hưu ở Thành phố Hồ Chí Minh. Anh Mười có nói với tôi: "Nước Nga lớn lắm, có dầu khí, sắt thép, có lương thực, khoa học kỹ thuật phát triển, đội ngũ nhân tài lớn, đất nước Nga có mọi thứ, không sợ, rồi nước Nga sẽ hưng thịnh trở lại và sẽ vẫn là cường quốc trên thế giới".
Qua đó để nói anh Đỗ Mười rất nhạy cảm chính trị, vẫn giữ tình cảm và niềm tin với những người chiến sĩ cộng sản và nhân dân Liên Xô. Chính vì vậy, khi làm Tổng Bí thư anh ấy rất vững vàng.
Về nhược điểm của anh Đỗ Mười, ông Nguyễn Văn Linh cũng có lần nói với tôi: "Vấn đề cải tạo ở miền Nam, anh ấy có nhận sai lầm, nhưng không phải chỉ do anh ấy".
Thời kỳ ở Bộ Nội thương, anh ấy lo mọi mặt. Lĩnh vực này rất dễ sai lầm nhưng cá nhân anh ấy không có khuyết điểm gì. Anh ấy là con người chịu khó học chịu khó đọc, nói năng chát chúa nhưng chỉ một lòng vì công việc nên không ai giận. Anh ấy không kiêu căng, rất giữ đúng nguyên tắc, các đồng chí lãnh đạo đều khen.
Trong gia đình anh rất giữ lễ, tôi là chú, anh gọi chú xưng cháu lễ độ. Vào nhà thờ tổ, anh để tôi khấn, anh không dám khấn.
Tháng 5-2010
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––
* Lão thành cách mạng, nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động.
KỶ NIỆM MỘT THỜI CÔNG TÁC VỚI ANH ĐỖ MƯỜI TRẦN DIỆP*
Tôi bắt đầu quen và làm việc với anh Mười từ năm 1941. Năm ấy cũng là năm tôi, cha tôi và em tôi thoát ly gia đình đi hoạt động cách mạng vào cuối mùa xuân.
Từ Vĩnh Yên, tôi cùng hai người nữa đi lên Tuyên Quang. Nhưng ngay từ buổi đầu đã gặp chuyện không suôn sẻ. Người được phân công đón chúng tôi bị bắt, không có ai đón, bỡ ngỡ giữa nơi núi rừng xa lạ, chúng tôi quay trở lại. Đến Vĩnh Yên, cả nhóm bị cơn sốt rét ác tính rất nặng. May có thuốc nên chúng tôi dứt được bệnh. Khi đã hồi sức, chúng tôi lên đường. Cấp trên - người chỉ đạo trực tiếp là anh Trường Chinh, suốt thời kỳ hoạt động bí mật, anh không rời địa bàn Hà Nội, nơi có nhiều mật thám và bọn tay chân rình rập, đầy nguy hiểm để chỉ đạo sát sao phong trào cách mạng - điều tôi về vùng ven đô chuẩn bị cho việc in báo Cờ giải phóng và Tạp chí Cộng sản. Phương tiện thích hợp nhất trong hoàn cảnh lúc ấy là in litô. Bấy giờ tìm hòn đá, thỏi mực để in cũng rất khó khăn vì sự kiểm soát chặt chẽ của địch. Tôi vừa phụ trách tổ in, vừa mò mẫm viết bản in. Viết bản in không dễ dàng vì phải viết trái để khi in ra thành phẩm mới đọc được. Sau đó có thêm anh Trần Đăng Ninh, lúc ấy là Xứ ủy viên Bắc Kỳ, mọi người gọi anh Ninh là “Đáng đầu to" vì anh có cái đầu to.
Tổ in của chúng tôi được lệnh đặt cơ sở ở làng Đông Phù (Thanh Trì, Hà Đông, nay là làng Đông Mỹ, Hà Nội). Cơ sở đảng ở Đông Phù được xem là mạnh vì nhiều nơi chỉ có một đảng viên, còn ở đây có cả một chi bộ, chi bộ này tồn tại lâu dài, toàn người trong làng, không bị xáo trộn. Người thành lập chi bộ này là ông giáo Gia - họ hàng nhà anh Mười. Ông giáo Gia hoạt động từ năm 1930, bị tù ở Côn Đảo, được ân xá năm 1936, trở về làng ông lại tiếp tục hoạt động. Ông giáo Gia mở một xưởng làm các đồ dùng sơn bằng sơn ta như mâm, quả, khay, vừa có công ăn việc làm vừa tạo cơ sở để hoạt động, ông rất có uy tín, rất được dân làng quý trọng. Những người cùng tham gia hoạt động với ông là các anh Đỗ Mười, Nguyễn Thọ Chân... Họ là lớp học trò đầu tiên của ông giáo Gia. Anh Trần Đăng Ninh giao cho cơ sở tìm địa điểm cho cơ quan. Chính ở Đông Phù, lần đầu tiên tôi gặp gỡ và cùng sinh hoạt với anh Mười. Tôi thấy anh là một người lao động chất phác, nhiệt tình, dễ mến. Thời kỳ mới về đấy, tôi ở trong nhà anh Đỗ Mười. Vợ anh Mười là một cô đỡ có bằng, có học, giúp đỡ chúng tôi nhiều. Chúng tôi cùng sinh hoạt một chi bộ, không cùng làm một công việc nhưng vẫn thường xuyên tiếp xúc, sinh hoạt chính trị cùng nhau.
Lúc ấy, ông giáo Gia tìm được một thanh niên, ông phân công anh ấy mở quán chữa xe đạp nhỏ ở phố chợ gần làng Đông Phù. Ít bữa sau tôi ra quán ở cùng với anh ấy. Chúng tôi ăn ở cùng với nhau rất hòa hợp. Cơm nước anh ấy lo. Cửa hàng nhỏ, hồi ấy ít xe đạp nên không có nhiều việc, tiền không có. Anh ấy mua một chai tương, mỗi bữa luộc một quả trứng dầm tương chia đôi, rau dưa thì kiếm loanh quanh. Năm 1963, tôi gặp lại anh ấy, đã đeo lon đại tá, thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau rất vui vẻ mừng rỡ, rồi anh ấy bị bệnh mất.
Mãi anh Trần Đăng Ninh mới kiếm được hòn đá in. Tôi loay hoay tập rửa, mài, viết vì còn chờ mực. Anh Ninh phải tự lo vật tư. Anh Ninh vốn là công nhân Nhà in Lê Văn Tân nên anh ấy tìm đến các cơ sở cũ nhờ kiếm mực in. Giấy nến thì mua ở nhà Taupin (phố Tràng Tiền) nhưng rất khó khăn vì địch quản lý rất chặt. Ít bữa sau, anh Phan Trọng Tuệ báo anh Trần Đăng Ninh đã bị bắt và tổ in của chúng tôi phải đi khỏi Đông Phù. Tôi từ biệt các bạn bè, đồng chí, gia đình anh Mười để ra đi. Vừa tìm được chỗ tốt lại phải rời bỏ. Thời gian ở Đông Phù, cùng sinh hoạt chi bộ với anh Mười không dài nhưng tình cảm giữa tôi với anh và các đồng chí ở đây thật tốt đẹp. Chúng tôi ở sát nách địch, được giúp đỡ để hoạt động, được bảo vệ an toàn, đó là nhờ người dân và chi bộ làng Đông Phù. Những ngày ở đây là một trong nhũng kỷ niệm đáng nhớ trong đời hoạt động cách mạng của tôi. Giữa tôi và anh Mười có tình thân bắt đầu từ đây.
Anh Tuệ bảo tôi chuyển sang Đình Bảng, Bắc Ninh, mang theo vật tư. Mang hòn đá theo rất dễ bị địch nghi ngờ, mà bỏ đi thì không thể được. Em gái anh Nguyễn Thọ Chân, tên là cô Tứ, gánh hòn đá in vùi trong đống hàng. Sang tới Đình Bảng không thấy có người đón, nhưng vì đã biết chỗ đó nên tôi cứ đi. Thấy một chiếc ô tô sáu, bảy chỗ ngồi đỗ ở đầu làng, đi một quãng thấy người túm năm tụm ba bàn tán, tôi sinh nghi, cứ đi trên đường chính mà không rẽ vào ngõ nơi định đến. Tôi gặp cháu bé con nhà cơ sở, cháu bảo tôi rằng không ai bị bắt cả, nhưng mật thám vẫn còn ở đó. Hôm ấy ở nhà ông Đám Thi (thân sinh của các đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh, Nguyễn Đình Lim) có cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng. Các đồng chí Trường Chinh, Hoàng Văn Thụ, Hoàng Quốc Việt cùng với anh Tỉnh nhảy sang hàng xóm chạy thoát.
Hôm ấy, thế là tôi cũng thoát. Tôi tính đường rút, nhưng còn viên đá thì làm thế nào? Kiếm được một viên đá thật công phu, không thể vứt bỏ cũng không thể bị địch bắt cùng với nó. Để cho cô Tứ gánh đi thì cũng khó cho cô ấy. Lúc đó nhìn thấy có một ngôi miếu nhỏ ở ngoài đồng, có tường rào, có cổng xây trên cao, có bức hoành đắp rồng phượng, sau bức hoành này là một cái hốc kín đáo, tôi leo lên giấu viên đá vào đó rồi nói với cô Tứ: "Chị cứ về đi, coi như đi chợ về".
Tôi trở về Hà Nội, tìm đến ở nhờ nhà những người bạn trước đây cùng hoạt động thanh niên với mình. Rồi tôi nhắn sang cơ sở ở Bắc Ninh - bên đó có người học ở Hà Nội, trong đó có anh Vũ Kỳ, sau là thư ký của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chỉ một tuần sau, anh Kỳ đến tìm tôi, đưa tôi đến nhà anh trai ông Nguyễn Chương (ông Chương sau lấy bà Như, nguyên Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam). Ông này có cửa hàng rất lớn ở phố Hàng Đào. Được một tuần lễ thì có người liên lạc đến đưa tôi lên Thượng Cát (ngoại thành Hà Nội). Tới Thượng Cát, tôi mới biết mình được đưa tới chỗ các anh Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt (ở giữa làng). Đêm hôm sau, chúng tôi ra ngoài đê để bố trí xưởng in. Tôi sang Bắc Ninh lấy hòn đá in mang về. Xưởng in chưa xong thì tôi bị bắt, đó là vào khoảng tháng 4-1942.
Một tháng sau khi tôi bị bắt, cơ sở ở Đông Phù, Thanh Trì cũng bị bắt, trong đó có anh Nguyễn Thọ Chân, cô Tứ, anh Mười. Thời gian bị địch giữ ở Sở mật thám, chúng tra khảo, tôi không khai nhận nên bọn chúng không có gì để đối chiếu. Một hôm khi chúng giải tôi từ chỗ tra tấn về phòng giam, tôi nhìn thấy anh Mười bị chúng bắt quỳ trên cây củi tạ, tay ôm một bó củi tạ... Không khai thác được gì ở tôi, địch chuyển tôi sang Hỏa Lò. Anh Mười sau cũng sang Hỏa Lò. Cô Tứ bị bắt rồi hy sinh ở Hỏa Lò (sau này đã tìm được mộ).
Tôi và anh Mười mỗi người bị giam ở một nơi, không gặp nhau, không thấy nhau. Sau khi xử án, tôi bị chuyển lên nhà tù Sơn La rồi bị đày ra Côn Đảo. Anh Mười vẫn ở Hỏa Lò. Khi Nhật đảo chính Pháp, anh Mười cùng một nhóm tù nhân vượt ngục.
Đầu năm 1946, tôi ở Côn Đảo về, công tác ở Tiền Giang, sau đó được điều động cùng anh Lê Văn Lương và một số anh nữa ra Bắc theo đường đi bộ. Chúng tôi từ Bà Rịa - Vũng Tàu đi ra Bình Thuận ngủ đêm tại Tuy Phong. Sáng hôm sau là ngày Tổng tuyển cử. Đó là một ngày hội khó quên trong ký ức người Việt Nam thời ấy.
Ra Bắc, tôi được điều về Thành ủy Hà Nội làm Bí thư Liên khu 2 (nay là quận Hai Bà Trưng, trụ sở ở góc phố Bà Triệu - Tô Hiến Thành). Cuối năm 1946, tôi được điều về Nam Định công tác, làm Bí thư Thành ủy. Tôi lại gặp anh Mười ở đó. Anh Mười là Bí thư Tỉnh ủy. Trong Ban Thường vụ có anh Mười, anh Kiên (sau này là Bí thư Thành ủy Hải Phòng) và tôi. Gặp lại nhau, anh Mười và tôi vui vẻ nhớ lại những ngày ở Đông Phù. Lúc ấy tôi mới biết sau khởi nghĩa anh Mười là Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông, Hà Nam trước khi chuyển về Nam Định. Anh Mười kể chuyện hồi ở Hoa Lò anh Khoái - con trai cả của nhà văn Nguyễn Công Hoan, anh vợ tôi sau này - dạy anh học. Chẳng có sách vở, chỉ học truyền miệng. Tôi biết tính anh Mười, anh ấy hiểu rõ chỗ hạn chế của mình về kiến thức nên rất chịu khó học... Công việc của chúng tôi lúc ý là chuẩn bị kháng chiến. Cơ quan Tỉnh ủy bấy giờ sơ sài, tạm bợ, ăn uống kham khổ chỉ có rau muống luộc, mấy con tôm kho mặn và cơm gạo hẩm mốc. Thấy thế, một hôm cậu Ý, lái xe của cơ quan nói:
- Ở đây ăn khổ quá. Hai anh về nhà em ăn cơm với vợ chồng em, cũng bấy nhiêu tiền thôi.
Nhân thể chúng tôi giao cho cậu ấy tổ chức lại bữa ăn ở cơ quan. Gạo hẩm cũ đem bán đi mua gạo tốt hơn ăn, cải thiện cuộc sống trong cơ quan. Vợ chồng cậu Ý thuê một căn gác nhỏ phố Hàng Thiếc. Ngày hai bữa chúng tôi về đấy ăn, tình cảm vui vẻ, ấm cúng. Sau này tôi trở lại tìm gia đình cậu ấy nhưng không gặp được.
Nam Định là địa bàn mới nên chúng tôi phải tìm hiểu kỹ tình hình ở đây. Anh Mười đã làm việc ở Hà Nam nên quen việc, còn tôi thì rất bỡ ngỡ. Đây là thời kỳ chuẩn bị kháng chiến. Trước khi cuộc kháng chiến toàn quốc nổ ra, Ban Chỉ huy mặt trận gồm các đồng chí: Đỗ Mười, Bí thư Tỉnh ủy; Nguyễn Hữu Ninh, Chủ tịch ủy ban hành chính Nam Định; Hà Kế Tấn, Chính trị viên Trung đoàn 34... đã họp tại thôn Mỹ Trọng (ngoại thành Nam Định) nghe đồng chí Hoàng Sâm truyền đạt mệnh lệnh và chủ trương của Trung ương Đảng, bàn thống nhất kế hoạch tác chiến. Trong kế hoạch tác chiến, Ban Chỉ huy mặt trận Nam Định đã xác định rõ quyết tâm chủ động tiến công bao vây quân Pháp trong nội thành Nam Định nhằm tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch và phương tiện chiến tranh của chúng, tạo điều kiện cho địa phương góp phần với cả nước đủ thời gian và lực lượng bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ.
Lúc bấy giờ, tôi là Chủ tịch Ủy ban kháng chiến thành phố, lo công việc trong thành phố là chính; còn anh Mười lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến tỉnh Nam Định, bao quát và chỉ đạo toàn bộ công việc trong tỉnh.
Ở Nam Định lúc ấy vẫn còn chủ Tây (chủ Nhà máy Sợi) và một đại đội lính Tây đóng trong Nhà máy Sợi và nhà băng, nhưng chúng gần như "án binh bất động". Về phía ta, có lực lượng tự vệ và vệ quốc quân Trung đoàn 34 của anh Hà Kế Tấn, đóng ở Nam Định nhưng phụ trách cả Hà Nam. Lúc ấy, anh Lê Ngọc Hiền là Tiểu đoàn trưởng phụ trách tiểu đoàn ở Nam Định. Đánh nhau được vài bữa thì vệ quốc quân rút đi.
Lúc tình hình căng thẳng, cấp trên yêu cầu chúng tôi không dùng thông tin bình thường nữa. Ngày nào tôi cũng phải lên Hà Nội để báo cáo và nghe lệnh Anh Trần Danh Tuyên, Thường trực Xứ ủy, thường trực ở phố Khâm Thiên. Các tỉnh ủy ở các tỉnh xung quanh Hà Nội hằng ngày phải về báo cáo và nhận lệnh. Những ngày đó, tôi ra đi từ sáng sớm, đang mùa gặt, sương mù mờ mịt khắp nơi - cảnh đẹp mà buồn, nghĩ rằng không biết mình có còn thấy lại nữa không. Ven đường vắng vẻ, quãng quãng lại có barie chắn, khi thấy xe mình họ nhấc barie lên cho qua. Trong lòng tôi luôn luôn xao động chờ đợi một cái gì đó đột biến sẽ bùng nổ. Ra tới đường nhựa cảnh đỡ hiu quạnh... Phố Khâm Thiên vắng tanh. Trụ sở của anh Tuyên đặt ở gần đồn cảnh sát cuối phố Khâm Thiên gần ngã tư Ô Chợ Dừa. Tôi gặp anh Trần Danh Tuyên, thông báo tình hình xong thì về. Tới Nam Định, tôi đến gặp anh Mười báo cáo lại: "Chưa có gì".
Hôm "có gì" ấy là ngày anh Tuyên bảo: "7 giờ tối hôm nay khởi sự. Nhà máy Điện sẽ ngắt điện". Hà Nội mất điện thì Nam Định cũng mất điện.
Tôi về báo cáo lại với anh Mười. Anh Mười triệu tập các cán bộ chuẩn bị chiến đấu. Anh Mười ra Nhà Đỏ ngoài đê, lấy đó làm trụ sở liên lạc giữa nội - ngoại thành (Nhà Đỏ là một ngôi biệt thự tư nhân, sơn màu đỏ).
Ngoài lệnh tắt đèn, Nam Định bắn ba quả pháo cối vào Nhà máy Sợi. Súng đặt tên sân thượng nhà Phúc Lai (buôn thuốc lào). Anh Mười cũng đến nhà Phúc Lai chứng kiến việc bắn ba quả moócchiê rồi trở về Nhà Đỏ. Tôi trở về phố Hàng Tiện. Qua các phố, thấy dân đã đi tản cư cả rồi nhưng đồ đạc, của cải vẫn để nguyên. Mấy hôm trước Ủy ban kháng chiến đôn đốc dân đi tản cư, chúng tôi thuê một số thuyền đậu ở các bến kề phố để giúp những người không có phương tiện. Trong phố lúc ấy không còn dân. Dân ở các nơi gánh rơm rạ tới đốt xung quanh Nhà máy Dệt, khói mù mịt. Bọn Tây không bắn lại. Dân đốt rơm ở phía dưới thì chúng rút lên tầng lên. Tôi từ trên đê, đi ra bờ sông rồi quay đi. Súng nổ đì đạch nhưng không biết là bắn vào đâu. Đường vào Nhà máy Sợi bị Tây bịt kín lại, che chiếu để mình không nhìn thấy gì mà bắn trả. Tây thả dù tiếp tế, ta cũng ra tranh cướp.
Thấy nhà dân còn nhiều của cải mà không khóa cửa, tôi báo cáo với anh Mười. Anh Mười thấy ngay vấn đề, thông báo về địa phương cho dân biết ai có đồ đạc còn để trong thành phố thì được tự do về mang đi. Dân tấp nập trở về chuyển đồ đạc đi. Đồng thời kêu gọi công nhân về tháo dỡ nhà máy, lấy được gì ở Nhà máy Rượu, Nhà máy Nước thì dùng thuyền chở đi, trừ Nhà máy Dệt vì Tây vẫn giữ. Sau đó chúng tôi tổ chức lắp được một nhà máy cơ khí nhỏ ở huyện Lạc Thủy - Hòa Bình.
Ngày 6-l-1947 là ngày có trận đánh lớn ở Nam Định. Địch nhảy dù lúc nửa đêm vào khu phố của ta, chủ yếu là khu Bến Thóc gần bến Đò Quan, sang phía cổng Hậu. Tự vệ và một số vệ quốc quân chiến đấu chống lại kiên cường, diệt được nhiều địch.
Sau ngày 6-1, chúng tôi chuẩn bị rút khỏi thành phố. Lúc ấy, quân ta ở Hà Nội đã rút, địch đánh nống ra Nam Định. Bọn Pháp đi mũi chính theo đường đê, dưới sông có ca nô. Chúng chiếm Nam Định không gặp kháng cự vì ta đã chủ động rút trước, nhưng bọn chúng cũng không chiếm được nơi nào ở vòng ngoài của thành phố.
Sau trận ngày 6-1-1947, tôi nhận được quyết định về công tác ở Liên khu II mới thành lập (gồm các tỉnh Nam Định, Hà Nam, Ninh Bình, Hòa Bình, Sơn Tây). Anh Trần Quốc Hoàn làm Bí thư; anh Lộc (sau này làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp) làm Phó Bí thư. Anh Mười tiếp tục ở lại Nam Định. Thế là chúng tôi xa nhau. Sau này khi hòa bình rồi về Hà Nội mới gặp lại nhau... Tôi vẫn giữ lại những kỷ niệm về thời kỳ làm việc ở Nam Định những ngày đầu kháng chiến. Anh Mười và tôi đã ở bên nhau trong những ngày khó khăn, cùng nhau giải quyết công việc. Chúng tôi làm việc với nhau một cách hòa hợp. Anh Mười là một đồng chí tích cực, tận tâm trong công việc.
–––––––––––––––––––
*Nguyên Thường vụ Tỉnh ủy Nam Định, nguyên Thứ trưởng Bộ Công nghiệp.
NGƯỜI ANH CỦA GIỚI THỢ CHÚNG TÔI Nhà văn Lê MINH
Giữa năm 1946, một sự tình cờ thế nào mà cả hai anh em tôi cùng được về công tác ở Tỉnh ủy Nam Định. Anh Tài Khoái, bí danh Tĩnh, từ Thường vụ Thành ủy Hải Phòng về Thường vụ Tỉnh ủy Nam Định với bí danh mới là Thuận. Tôi, bí danh là Chi, từ Ban Công vận Liên khu 2, thành phố Hà Nội về Ban Công vận Tỉnh ủy Nam Định với bí danh mới là Minh. Lúc này, trụ sở của Công nhân cứu quốc đoàn trong Mặt trận Việt Minh cũng là nơi làm việc của Ban Công vận Tỉnh ủy.
Chúng tôi đang gấp rút mở những lớp huấn luyện ngắn ngày để đào tạo cán bộ công vận, từ những đảng viên và hội viên Công nhân cứu quốc, cán bộ cơ sở của hai nhà máy lớn trong thành phố là Nhà máy Sợi và Nhà máy Tơ vẫn đang dưới quyền của chủ tư bản người Pháp. Nay đất nước đã độc lập, tự do mà thân phận người thợ vẫn bị coi rẻ, đầy đọa, bị bóc lột như thời còn đế quốc cai trị. Nhất là với phụ nữ, rất đông ở hai nhà máy này, vẫn bị hạ nhục từ nhiều hình thức bất công và đồi bại. Chúng tôi chia sẻ với nhau những nỗi lòng thầm kín, thân thương, tin cậy lẫn nhau hơn người ruột thịt.
Thợ Nhà máy Dệt có một xóm ở tập trung, do chủ nhà máy là người Pháp xây dựng, gọi là Khu nhà lá, ở cuối phố Năng Tĩnh, ý hẳn để chủ dễ kiểm soát thợ, nhưng cũng lại là nơi tổ chức cách mạng của ta có điều kiện gây dựng lực lượng. Đã từng nổ ra nhiều cuộc đấu tranh giữa thợ và chủ quyết liệt ở nhà máy này... Ngoài ra, có những xóm làng đông thợ dệt ở, như Mỹ Trọng, Cầu Da, Mai Xá... Vì thế, ngoài thời gian nắm bắt tình hình nhà máy giữa chủ và thợ, tôi tổ chức gấp rút các lớp huấn luyện đào tạo cán bộ tại trụ sở Hội Công nhân cứu quốc, sau những ca sáng tan tầm. Tối tối, tôi đi về các làng đông công nhân ở tập trung để sinh hoạt và tổ chức họ thành những lực lượng nòng cốt cho tình thế mới, nếu cuộc tổng đình công nhà máy sẽ nổ ra, nếu cuộc kháng chiến có thể phải huy động. Tại nhà một đồng chí đang là thợ nhuộm trong Nhà máy Sợi, tôi lập một tủ sách nhỏ để khích lệ công nhân đến đọc. Tôi hiểu, từ cuộc sống lao động tập thể, tiếp cận với nhiều loại máy móc theo dây chuyền ảnh hưởng đến nhau, họ chính là lực lượng mang nhiều kiến thức đặc biệt, cần được gấp rút đào tạo chuẩn bị cho tình thế cách mạng.
Một thời kỳ vô cùng căng thẳng, bề bộn những nhiệm vụ mà mấy ai đã được từng trải, được hướng dẫn. Phải tự nghĩ ra mà làm. Đã là thợ một nhà máy, tự nhiên có ý thức rất rõ về tính tập thể, tính chiến đấu, tình thương yêu chia ngọt sẻ bùi. Tình cảm ấy giữa cán bộ và những người thợ được nuôi dưỡng rất tự nhiên, như ruột thịt. Cho đến tận sau này, khi chúng tôi dù tuổi đã cao, vẫn tìm đến nhau để nhớ và ôn những chuyện thời còn con gái.
Chính ở giai đoạn nóng bỏng này của cách mạng mà Trung ương đã điều động về lãnh đạo tỉnh Nam Định một Bí thư Tỉnh ủy mới. Và cũng phải kể rằng tuy hai anh em tôi công tác ở cùng một tỉnh, nhưng địa bàn hoạt động khác nhau, chỉ thấp thoáng gặp ở hội nghị. Thỉnh thoảng đi đâu qua trụ sở Hội Công nhân cứu quốc, anh Thuận rẽ tạt vào, anh em cũng chỉ nói với nhau vài câu, hoặc có khi không gặp, anh gửi cho tôi quả na, quả ổi... như thời chúng tôi còn nhỏ.
Trước Cách mạng Tháng Tám, anh đã bị bắt từ khi còn đang đi học. Ba lần bị bắt, ba lần ngồi tù. Anh là người đã giác ngộ tôi, đưa tôi vào con đường đi làm cách mạng từ rất sớm. Lần này vừa gặp, anh đã báo ngay một tin vui:
- Bí thư Tỉnh ủy mới về rồi đấy. Hóa ra là anh Định (tức đồng chí Đỗ Mười), đồng chí đã ở cùng banh với anh hồi chúng nó giải anh lên Hỏa Lò, Hà Nội. Gặp nhau bất ngờ, ôn chuyện cũ, anh Định nhắc mãi việc anh đã dạy anh ấy học văn hóa lúc ở tù.
Quả vậy, trong cuộc họp đầu tiên với cán bộ, tôi có ngay ấn tượng về anh Định, sao mà gần gũi với phong cách của người thợ. Việc nào ra việc ấy, dứt khoát, cụ thể, rõ ràng, không rườm rà, hoa lá, không lý luận suông nhưng lại rất thuyết phục.
Tình thế đất nước đang ở giai đoạn căng thẳng, chất ngất biết bao nhiệm vụ trước mắt, kể cả gấp rút chuẩn bị mọi lực lượng khi thực dân Pháp đang âm mưu quay lại xâm chiếm nước ta lần thứ hai.
Tại Nam Định, đầu tháng 4-1946, quân đội Tưởng Giới Thạch rút, thay vào đó là 850 quân Pháp vào đồn trú. Chúng đóng quân ở Nhà máy Sợi, ở Trường tư thục Xanh Tôma, ở trại lính Căng Carô, ở Nhà băng, ở Nhà máy Tơ, Nhà máy Rượu. Tỉnh đã lập Ban liên kiểm Việt - Pháp để giải quyết mọi hành động khiêu khích của quân Pháp.
Ngày l-5-1946, nhân dân thành phố rước đuốc diễu hành kỷ niệm ngày Quốc tế Lao động qua ngã tư Cửa Đông, bị lính Pháp từ Trường Xanh Tôma ra khiêu khích, ném lựu đạn vào đoàn diễu hành. Ngày 10-10-1946, Cao ủy Pháp tại Việt Nam tự quyền tăng thuế nhập khẩu để tăng gấp đôi giá bán vải. Sở kinh tế Bắc Bộ can thiệp, bọn chủ không thực hiện theo yêu cầu. Thợ nhà máy cử đoàn đại biểu chất vấn chủ, phản đối việc tăng giá vải vô lý vì điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của họ. Chủ từ chối. Ngày 12-11-1946, Ủy ban đấu tranh của công nhân nhà máy chính thức thành lập, cử đại biểu gặp chủ nhà máy nêu các yêu sách. Chủ từ chối gặp. Ngày 13-12-1946, được sự chỉ đạo của Tỉnh ủy và Ban Công vận, toàn thể công nhân Nhà máy Sợi tổng đình công. Tiếp sau, Nhà máy Tơ cũng tổng đình công. Cổng Nhà máy Sợi, Nhà máy Tơ không một bóng người. Đã bao nhiêu năm, người dân thành phố quen với tiếng còi tầm nhà máy, quen với tiếng rào rào khi thợ tan tầm, quen với mùi hồ khét lẹt khi đến gần cổng nhà máy, tiếng chí chát thoi đập, tiếng rầm rịch máy chạy. Giờ đây lặng phắc, lặng phắc đến rợn người.
Với đội ngũ công nhân, chúng tôi đã sẵn sàng tổ chức họ và hàng loạt công việc mới: luyện tập quân sự, đánh du kích, làm công tác cứu thương, tiếp tế, công tác giao thông, tích trữ lương thực, thực phẩm... Trong lớp huấn luyện đào tạo cán bộ, tôi quan tâm hướng dẫn anh chị em những kinh nghiệm hoạt động bí mật, phương pháp công tác, cách ghi chép sổ sách để đúc kết được kinh nghiệm lãnh đạo trên từng tình huống, với từng loại người. Bởi cách mạng thành công hay không là ở sức mạnh của nhân dân, mà cán bộ là người hướng dẫn, người biết tổ chức họ.
Tin tức từ Hà Nội dội về Nam Định nóng bỏng hằng ngày. Quân đội Pháp gây hấn ở phố Yên Ninh, bắn giết nhiều người. Xe bọc thép xả súng bắn bất kỳ khi chúng chạy qua đâu. Ở Nam Định cũng không khác gì. Chiều 17-12-1946, lính Pháp gây rối, cho xe ô tô đặt súng liên thanh chạy qua các phố, xả súng, phá các chướng ngại vật. Ngày 18-12, chúng cho xe ủi phá tiếp các chướng ngại vật ở ngã tư Cửa Đông, Nhà máy Tơ, bến Đò Quan. Chiều 19-12-1946, lính ở Trường Xanh Tôma kéo ra Cửa Đông bắn giết. Ngay 7 giờ tối 19-12-1946, thực hiện mật lệnh, Hà Nội tắt điện toàn thành phố, ta chủ động nổ súng trước, mở đầu cuộc kháng chiến. Ở Nam Định, đúng 0h30’ ngày 20-12-1946, trận địa của ta ở bờ nam bến Đò Quan, đại đội trợ chiến bất ngờ mở đầu trận tiến công địch, bắn pháo 75 ly vào các nơi đóng quân của chúng ở Nhà băng. Tại Căng Carô, vệ quốc quân và du kích quân cũng mở đầu đánh chiếm một phần doanh trại địch. Nam Định là cửa ngõ quan trọng, bọn đế quốc rất cần mở đường để tiến về phía Nam. Bị quân ta tấn công dồn dập, quân Pháp phải co cụm trong các vị trí, đến 8h sáng ngày 20-12-1946, chúng mới cho 4 máy bay phóng pháo bắn phá thành phố Nam Định. Trong tình thế một mất một còn đó, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Lê Định chỉ đạo các huyện sẵn sàng chiến đấu, và ngày ngày cùng với đồng chí Bí thư Thành ủy Trần Diệp lãnh đạo sát sao cuộc chiến đấu trong thành phố. Các anh nhận định: Sớm muộn gì địch cũng sẽ giải vây cho quân của chúng ở Nam Định bằng đường sông. Ta cần huy động các lực lượng công nhân và nhân dân thành phố xiết chặt vòng vây, tạo điều kiện tiêu diệt địch trong thành phố; nhanh chóng xây dựng đội quyết tử quân, cũng như chuẩn bị sẵn sàng đội ngũ công nhân ở lại trong thành phố hoạt động địch hậu và khi chủ nhà máy tuyển thợ thì trở về làm, tạo các nòng cốt chiến đấu trong lòng địch.
Ngờ đâu, đang giữa cuộc chiến đấu một mất một còn này, anh Thuận tôi hy sinh. Đó là ngày 20-5-1947.
Sau này, trở về công tác tại Hà Nội, bất ngờ tôi gặp anh Định, lúc này bí danh là Đỗ Mười. Anh hỏi tôi đang công tác ở đâu và hỏi thăm sức khỏe của cha mẹ tôi. Anh biết cha mẹ tôi rất đau thương vì anh Thuận đã hy sinh. Anh tự coi như thay anh Thuận, anh đến thăm và anh gọi mẹ tôi là mẹ.
Ấn tượng để lại trong tôi nhiều nhất còn là thời kỳ tôi làm công tác văn học. Anh Đỗ Mười đang là Phó Thủ tướng Chính phủ, sau nhiều lần hỏi tôi về sự lãnh đạo văn nghệ, bất ngờ một hôm tôi nhận được giấy của Văn phòng Chính phủ mời tôi lên làm việc với Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Vì đã biết tính cách của đồng chí nên tôi mạnh dạn trình bày thẳng thắn một kiến nghị như đã nói với anh Đỗ Mười: Khi chúng tôi là cán bộ công tác Đảng, đoàn thể, quân đội,... chúng tôi được dự các cuộc họp, được nghiên cứu, nắm bắt mọi tình hình xấu tốt của đất nước, những việc xảy ra rất cụ thể ở các địa bàn, thì nay, vì làm công tác văn nghệ, chúng tôi chỉ được đứng ở rìa đường. Không những thế, người sáng tác còn phải có giới phê bình, uốn nắn. Vậy khi chỉ cho chúng tôi được nhìn thấy những mảnh vụn của đời sống, mà lại đòi hỏi chúng tôi phải có tác phẩm "ngang tầm thời đại". Vậy chúng tôi là ai? Chúng tôi chỉ sáng tác được vì đó là cuộc sống của chính mình thôi thúc, vì tâm nguyện của chính đời mình. Xưa kia chưa có chính quyền trong tay nhân dân, không có ai lãnh đạo người cầm bút - vậy mà cha tôi1, đã viết những truyện ngắn tố cáo những bất công của xã hội đế quốc, phong kiến, của giới cầm quyền. Vậy chúng tôi cho rằng: Muốn lãnh đạo có hiệu quả trước tiên cần hiểu về nghề lao động sáng tạo của chúng tôi, tin chúng tôi và tạo điều kiện để chúng tôi được ở trong cuộc. Chỉ ở trong cuộc, nhà văn mới có tác phẩm thể hiện đúng thời đại mình.
Sau này, khi tôi nhận công tác mở Trường Viết văn Nguyễn Du, phụ trách chương trình giảng dạy về nghiệp vụ văn học, nhiều bài giảng phải mời các nhà văn cao tuổi dày kinh nghiệm, tôi chỉ đi xe đạp. Ngày ấy, các nhà văn bậc thầy vẫn còn đi được xe đạp. Một lần, tôi đón anh Nguyễn Văn Bổng đi cùng. Đến đầu phố Khâm Thiên, anh xuống dắt xe. Đường đông nghẽn ngẹt. Thấy tôi vẫn ngồi trên xe len lách, anh cười hỏi: "Ngày nào bà cũng đi thế này à?". Tôi cười: "Anh yên tâm, hết khóa I tôi sẽ thành diễn viên xiếc". Nhưng chính điều anh Bổng hỏi đã thức tỉnh tôi. Không thể để các anh phải đi đến trường giảng theo cách của tôi. Tôi đến nhà đồng chí Đỗ Mười, đúng vào bữa ăn tối. Chị Thanh đi lấy thêm bát đũa, kéo ghế mời tôi. Tôi nói đùa:
- Xem cơm nhà anh chị có ngon hơn cơm nhà tôi không, tôi mới ăn chứ.
Lâu nay tôi vẫn biết, anh chị sống rất giản dị. Tôi vào ngay việc:
- Tôi đến anh để xin một cái xe ô tô.
- Cô cần xe ô tô làm gì?
Trường Viết văn chúng tôi phải mời các nhà văn đến giảng, để các vị đi xe đạp qua đường Khâm Thiên đông như kiến để đến trường thì tôi không thể yên tâm được anh ạ. Tôi đi quen thì đã đành.
- Cô xin xe để đón thầy chứ gì?
Tôi im lặng.
- Nhưng cô biết phải đến những đâu mà xin. Thôi để tôi nhờ các anh ở Văn phòng tôi hộ cô. Khi nào có xe, cô cho người đến nhận.
Cách anh giải quyết công việc chẳng khác gì thời kháng chiến ở Nam Định.
*
* *
Nhiều lần sau này, giới văn chúng tôi được tiếp cận với đồng chí Đỗ Mười. Nhất là Đại hội Nhà văn, chúng tôi mời đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đến nói chuyện. Không cần văn bản viết trước, anh nói những điều tận đáy lòng những lý lẽ, suy nghĩ về thời đại, về công việc của giới chúng tôi, giản dị, thiết thực, sâu sắc và rất vui. Anh là con người trưởng thành từ cuộc sống, chiến đấu, tự đúc kết kinh nghiệm, tự nâng cao lý luận - con người của giới thợ, như xưa kia tôi đã nhận xét.
Một lần tôi được tin chị Thanh ốm nặng, vội đến thăm. Anh đưa tôi lên gác, bước vào phòng lạnh ngắt, tôi phải giật mình:
- Các anh đều có chế độ chăm sóc sức khỏe, sao lại lạnh thế này?
Anh gọi chị để chị biết có tôi đến rồi trả lời tôi:
- Gia đình mình thì cũng như mọi anh em thôi mà. Có sao đâu.
Một lần, bất ngờ chính anh đến nơi gia đình chúng tôi đang ở, bắt gặp tôi đang ngồi viết trong bếp, kê một miếng gỗ lên mặt bồn rửa bát để đặt máy chữ. Bao quanh là hai bếp đun bằng mùn cưa, cùng với rá, rổ, xoong, nồi, bát đĩa... Anh đứng lặng, không nói gì. Anh rất rõ trong ngôi nhà này, năm gia đình vợ chồng, con cháu chúng tôi cùng ở nên quá chật chội. Lần ấy, gặp tôi ở một cuộc họp, anh bảo: "Cô cũng phải có chỗ để ngồi viết chứ. Có thể, cô bảo một gia đình cháu nào đẻ hai con, làm đơn xin ở với bà ngoại. Bà có bằng "Có công với nước". Đang có một khu mới xây xong sắp xếp được".
Sau này, nhiều lần tôi đã mạnh dạn đến xin anh diện tích làm việc cho một số cơ quan làm văn học, do các bạn đến nhờ tôi báo cáo, trình bày.
*
* *
Bây giờ, tháng 10-2009, chúng tôi đến thăm anh, anh ở căn phòng dưới nhà. Một cái bàn dài, đầu bàn là máy vi tính. Anh đang ngồi trước máy. Cạnh bàn là một cái phản nhỏ đủ một người nằm cái phản chứ không phải cái thường một kiểu mới hiện nay. Phía bên kia cửa vào, như ngày xưa khi còn chị Thanh, đó là nơi ăn cơm của gia đình.
Căn phòng phía bên kia hành lang, sát với cầu thang lên gác, trước kia là nơi anh làm việc với cán bộ khi họ đến nhà, nay là thư viện. Anh thường tìm sách đọc, sách kín các ô, tầng. Phía ngoài sân, những giò phong lan rực rỡ hoa, treo ngang tầm mắt, anh thường ra đó tưới cây, tập thở, hít khí trời.
Tôi biết từ hồi về Hà Nội công tác, anh đã ở ngôi nhà này. Và từ đó, anh thay đổi rất nhiều cấp bậc công việc, nhưng anh vẫn ở ngôi nhà này. Không xây cất thêm, không trang bị đồ đạc mới, chỉ có sách là ngày một nhiều thêm.
Anh vẫn sống giản dị và làm việc hết lòng, vẫn theo dõi, nghiên cứu nhiều việc mà thời đương quyền anh vẫn quan tâm. Anh vẫn là anh Định của những ngày năm xưa ở Nam Định. Anh vẫn trong đội ngũ cán bộ của Đảng, như trong giới thợ chúng tôi, lấy công việc của cách mạng làm trọng.
Tháng 10-2009
–––––––––––––––––––––
1. Nhà văn Nguyễn Công Hoan.
LÒNG DÂN NHO LÂM VỚI ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI ĐOÀN QUỐC SỸ
Chúng tôi về thăm thôn Nho Lâm, một thôn nhỏ có 237 hộ, với 981 khẩu. Đây là vùng quê giàu truyền thống văn hóa và lịch sử, có ngôi đình làng thờ bốn vị tướng tài họ Trần thời Tây Sơn là Trần Bá Giáp, Trần Bá Ngọa, Trần Bá Hãn và Trần Bá Dũng đã theo cụ Quang Trung diệt quân Thanh mà sử sách còn ghi lại. Và chính nơi đây, năm 1947, nhân dân Nho Lâm đã nuôi dưỡng, bảo vệ cơ quan của Tỉnh ủy Nam Định do đồng chí Lê Định (bí danh lúc ấy của đồng chí Đỗ Mười) là Bí thư Tỉnh ủy. Ngày 19-12-1946, Trung đoàn 34 đã cùng với tự vệ thành phố Nam Định nổ súng vào đầu giặc Pháp cùng với toàn quốc kháng chiến, Tỉnh ủy Nam Định sơ tán ra Bút Đỏ rồi chuyển về huyện Vụ Bản, sau sơ tán về làm việc tại Nho Lâm (Nam Trực).
Đồng chí Lê Định làm việc tại nhà cụ Trần Văn Cung, khi ấy cụ là Bí thư Đoàn Thanh niên cứu quốc Nho Lâm, nơi có phong trào đoàn mạnh nhất vùng này. Từ đó đến nay đã gần 50 năm, trải qua biết bao thăng trầm, nhưng lòng dân Nho Lâm son sắt bao giờ cũng hướng về Đảng, về cách mạng. Hình ảnh đẹp đẽ của cán bộ Việt Minh thời bấy giờ đã in sâu vào tâm khảm các cụ già làng... Tại đình làng, chúng tôi đã được nghe gần 30 cụ kể về một thời oanh liệt của quê hương, về đồng chí Đỗ Mười kính mến.
Ngày ấy, đồng chí Đỗ Mười còn rất trẻ, người dỏng cao, da đen, tác phong rất nhanh nhẹn, vui tính nhưng làm việc thì rất nghiêm túc. Hằng ngày, lúc rảnh rỗi đồng chí thường cõng con thứ ba của cụ Trần Văn Cung là Trần Văn Hiển đi chơi. Nay anh Hiển đã 56 tuổi, đang công tác ở Bộ Xây dựng.
Thôn Nho Lâm có cây đa to nhất vùng Nam Trực (cũ), đồng chí Đỗ Mười thường ra đây để nắm bắt tình hình. Một buổi trưa hè, các bà ở làng Thượng Nông (có nghề nấu kẹo truyền thống) vào chợ Giao Cùi, chợ Nam Trực bán kẹo kéo và phỏng rang. Các bà ở làng Hành Quần, Nho Lâm ra chợ Thượng mua hàng. Các bà đến nghỉ mát ở gốc đa đầu làng và gặp đồng chí Đỗ Mười tại đó. Đồng chí đã giảng giải về cách mạng, về đường lối của Việt Minh. Đồng chí ví đỗ đỏ là Việt Minh, đỗ xanh là ngụy quân, ngụy quyền, đỗ đen là giặc Pháp. Đồng chí giảng giải, phân tích về ba giai đoạn kháng chiến. Bà con tâm tắc nói với nhau: "Ông Việt Minh trẻ thế mà nói dễ hiểu, dễ nghe, làm quên mất cả họp chợ".
Ngày ấy... và ngày ấy lại hiện về trong tâm trí các già làng ở thôn Nho Lâm. Do được giác ngộ và sớm có ý thức với Đảng, với cách mạng, thôn Nho Lâm đã từng bán cả ngôi đình năm gian gỗ lim cho một người ở Hải Hậu để lấy tiền mua công phiếu kháng chiến. Ngày chia tay, đồng chí Đỗ Mười đã chào bà con trong thôn, cho quà các cháu và căn dặn mọi người hướng về Đảng, về cách mạng. Năm 1949, địch phát hiện nơi đã từng là cơ sở cách mạng, chúng đã đốt nhà dân, xóm thôn cháy xơ xác. Tiếp đến là những trận bom giội vào làng, song chúng không thể dập tắt được ý chí, tấm lòng của bà con thôn Nho Lâm đối với Đảng, với Bác Hồ. Trong ba cuộc chiến tranh, thôn Nho Lâm có 180 thanh niên lên đường làm nghĩa vụ quân sự, nhiều gia đình có thương binh, liệt sĩ và hiện tại có hàng trăm người là cán bộ trung, cao cấp, kỹ sư, bác sĩ...
Thôn Nho Lâm nay đang từng bước đổi thay, không còn gia đình nào nhà tường đất, lợp rạ. Ngôi nhà rạ năm gian của cụ Trần Văn Cung, 81 tuổi, ngày ấy là nơi đồng chí Đỗ Mười ở, nay đã được xây dựng thành ngôi nhà ngói khang trang, duy chỉ còn lại cái am ở đầu ngõ. Cả thôn có tới 90% nhà ngói, gần 50% số hộ có tivi. Bộ mặt nông thôn mới ở Nho Lâm chuyển mình cùng với sự đổi mới của quê hương và đất nước.
Ngày 7-5-1996
MỘT NHÀ QUÂN SỰ XUẤT SẮC Trung tướng ĐẶNG KINH*
Năm 195l, ông Mười là Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Khu Tả Ngạn. Tôi là Tỉnh đội trưởng tỉnh Kiến An (sau này tỉnh Kiến An nhập về Hải Phòng). Năm 1952, ông Mười về thành lập Khu Tả Ngạn và chỉ huy Mặt trận đường 5.
Khi ông về Khu Tả Ngạn tình hình hết sức khó khăn, phức tạp bởi vì cả 5 tỉnh đồng bằng (Hải Phòng, Kiến An, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình) đều bị tạm chiếm. Toàn bộ khu vực này, địch liên tục tổ chức các trận càn rất lớn. Cơ sở cách mạng bị phá vỡ nhiều, bà con hoang mang.
Bọn thực dân Pháp lập các khu Công giáo có vũ trang, quân đội của chúng đóng từ xã đến tỉnh. Mỗi xã, mỗi huyện đều có tháp canh để cảnh giới. Bọn chúng được trang bị vũ khí hiện đại, có pháo cỡ l0 ly, đại liên, trung liên, tiểu liên. Chúng rất chủ quan coi như đã đủ lực lượng làm chủ, khống chế đồng bằng Bắc Bộ, một vựa lúa lớn, tiềm năng về người và của lớn.
Địch mở chiến dịch Hòa Bình nên vùng đồng bằng bị trống. Chủ trương của ta là đánh vào sau lưng địch. Sư đoàn 320 do ông Văn Tiến Dũng làm Sư trưởng đã về chi viện cho Khu Tả Ngạn. Ông Đỗ Mười đã chỉ đạo: Phân tán bộ đội tỉnh xuống cơ sở để "bám đất, bám dân". Tôi nhớ, có lần ông đã trực tiếp hỏi tôi: "Cậu là Tỉnh đội trưởng Kiến An, tôi đưa bộ đội về cậu làm cách nào?".
Tôi nói: "Tôi làm được, tôi bố trí tiểu đội đưa về thôn, xã sẽ có trung đội. Tôi phân tán hai đại đội về cho hai huyện Tiên Lãng và Vĩnh Bảo, giữ lại một đại đội tập trung".
Bọn địch dồn quân lên Hòa Bình cắt đường liên lạc giữa Việt Bắc với Khu III, Khu IV. Địch bị trống ở đồng bằng, nên chúng ta sẵn sàng đón thời cơ, phối hợp với bộ đội chủ lực (các sư đoàn 320, 308, 304) để mở chiến dịch lớn đánh đồng bằng. Toàn bộ Khu Tả Ngạn, toàn dân, toàn quân cùng nhau đứng lên phá tề ngụy, lập chính quyền cách mạng, thành lập chính quyền dân chủ nhân dân của ta.
Tháng l-1952, ta mở đợt tấn công vào hai huyện Vĩnh Bảo và Tiên Lãng thành công; diệt 61 cụm của ngụy, lập được chính quyền dân chủ nhân dân. Ta mở được khu căn cứ du kích ở hai huyện này. Ngày 5-2-1952, quân chủ lực phối hợp với bộ đội địa phương mở trận phục kích đánh tan tiểu đoàn 22BGB của ngụy. Tên thiếu tá Phan Trọng Vinh tự tử.
Các sư đoàn chủ lực mở nhiều đợt tấn công liên tục ở Hưng Yên, Thái Bình, đánh tan bộ máy chính quyền ngụy, lập chính quyền cách mạng nhưng theo hình thức xôi đỗ "đêm ta, ngày địch". Nhờ có những cuộc thắng lớn nên quân ta được trang bị thêm vũ khí.
Bọn địch bị thất bại ở Hòa Bình, chúng rút về hậu phương càn quét và đánh Sư đoàn 320. Lực lượng của chúng rất mạnh, có 6 binh đoàn lính chủ lực của Pháp, nhưng chúng không khôi phục được chính quyền như cũ.
Tháng 7-1952, Trung ương triệu tập họp, Bác Hồ đến dự. Bác Hồ chỉ thị: Lấy ít đánh nhiều; lấy yếu thắng mạnh; đánh bất ngờ.
Sau hội nghị đó trở về, ông Đỗ Mười chỉ đạo mở rộng chiến trường đánh trên đường 5 và đánh liên tục, đánh thật mạnh.
Ông Đỗ Mười giao nhiệm vụ cho tôi: "Chúng ta quyết định đánh vào Kiến An. Đây là căn cứ rất quan trọng của Pháp, có kho bom, kho đạn, kho xe. Cậu chuẩn bị kế hoạch, báo cáo lại với tôi rồi mới được đánh".
Tôi chuẩn bị phương án chiến đấu rất tỉ mỉ rồi mới báo cáo ông Mười. Sau khi xem xong, ông đồng ý và cho phép đánh tan thị xã Kiến An và đánh Sở dầu, đốt hết nhiên liệu.
Đêm 21-4-1953, chúng tôi đánh vào thị xã Kiến An, với lực lượng của ta 300 quân đánh tan 2.000 quân của địch. Ta có 20 người, mỗi người đánh 3 kho đạn (mỗi kho dùng 1 lít xăng và 1 cân bộc phá), trong một đêm ta đánh được 60 kho đạn. Chúng tôi đánh thẳng vào thị xã Kiến An, bắt sống Bộ chỉ huy địch - có một thiếu tá, hai đại úy và Tỉnh trưởng Kiến An tên là Trịnh Như Tiết. Đây là trận đánh điển hình nhất, diệt Bộ chỉ huy địch, thu được 1,4 triệu tiền Đông Dương. Qua trận thắng này, ông Đỗ Mười đã đề nghị cấp trên tặng cho tôi Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất (1953). Tôi rất phấn khởi vì liên tục chiến đấu từ năm 1941 đến năm 1943 mới được nhận huân chương cao quý này.
Trong buổi trao huân chương, ông Đỗ Mười đã đánh giá: "Đây là trận thắng lớn, cả nước chưa từng có".
Đợt tấn công thứ hai là đốt kho xăng Hải Phòng. Kho xăng rộng 6 ha, có 20 bồn xăng, mỗi bồn xăng đường kính 20 mét, cao 16 mét.
Khi tôi đề nghị đánh kho xăng, ông Đỗ Mười căn dặn: "Trận đánh này ta phải hành quân xa 25 km, cách xa vùng du kích, nên phải tổ chức nơi ăn chốn ở thật chu đáo, phải cho quân ém trước một hôm rồi mới đánh. Đánh xong rút ra một địa điểm khác và ở lại một đêm. Phải tìm cơ sở trung kiên nhất".
Giữa tháng 6-1953, chúng tôi hành quân, mang 16 quả bộc phá mỗi quả nặng 10 kg, vượt sông Văn Úc từ Tiên Lãng sang An Lão, sau vượt sông Lạch Tray vào xã Quốc Tuấn trú quân. Hôm sau, chúng tôi đánh sang xã Đặng Cương. Kết quả là sau 15 phút đốt cháy 147 triệu lít xăng và 500 xe cơ giới. Ta hy sinh một đồng chí. Tôi về báo cáo kết quả với ông Mười.
Khi nghe tôi báo cáo xong, ông Mười phấn khởi, vỗ tay vào đùi nói to: "Đây là cái tát vào mặt Tướng Nava. Từ nay bọn chúng sẽ hạn chế càn quét, vì chúng không có xăng dầu. Đây là kho xăng lớn nhất của chúng, chúc mừng chiến thắng của các cậu".
Lại nói về trận đánh sân bay Cát Bi. Khi tôi trình bày kế hoạch đưa 130 chiến sĩ vào đánh sân bay, ông Mười có vẻ phân vân: "Ta chỉ có 130, nếu địch đối phó thì làm thế nào?" Tôi trả lời: "Thà tôi bị hy sinh, nhưng đánh được trận này giúp chủ lực giành thắng lợi ở Điện Bên Phủ tôi sẵn sàng".
Ông Mười nói: "Tôi sẽ điều thêm Trung đoàn 50 bảo vệ, hỗ trợ".
Khi chuẩn bị đánh, ông gọi tôi căn dặn: "Cậu không được chủ quan, phải đánh nhỏ ăn chắc". Tôi hỏi "Yêu cầu đánh bao nhiêu cái?". Ông nói: "Đánh 50 cái máy bay".
Tôi có vẻ hơi tiếc.
Ông Mười dặn: "Ta chịu khó "năng nhặt, chặt bị", nếu cần ta đánh tiếp. Cậu cứ tính thành tích cho anh em để khen thưởng, cứ diệt được 1 máy bay tương đương diệt được 1 trung đội Âu - Phi. Nếu diệt được 50 máy bay là 5 tiểu đoàn".
Đêm ngày 7-3-1954, bộ đội ta đánh sân bay Cát Bi, dùng 32 người phá 59 máy bay. Bác Hồ nghe báo công đã tặng ngay cho 32 chiến sĩ mỗi người một Huân chương Chiến sĩ hạng Nhất. Riêng tôi được Bác Hồ tặng Huân chương Quân công hạng Hai.
Lúc đó được nhận huân chương này rất hiếm.
Nhưng thành tích của tôi đạt được là nhờ có sự chỉ đạo rất đúng đắn của ông Mười. Ông ấy gan dạ lắm. Tôi biết trận càn ở tỉnh Thái Bình rất ghê gớm, ta thiệt hại nặng, anh Thịnh, Khu ủy viên, Bí thư Tỉnh ủy Thái Bình bị hy sinh, du kích đã giải vòng vây cho ông Mười.
Ông Mười là nhà quân sự xuất sắc, một cán bộ trung kiên của Đảng. Khi ông Mười ở Khu Tả Ngạn được gọi là anh Ngạn. Nhân dân Khu Tả Ngạn, đặc biệt nhân dân Hải Phòng rất quý ông Mười.
Tôi coi ông Mười như người anh cả, tôi chưa bao giờ bị ông phê bình.
Trong thời gian tôi đi học ở nước ngoài 5 năm, ông làm Bộ trưởng Bộ Nội thương, khi về Hải Phòng công tác, ông rất quan tâm đến vợ con tôi. Không bao giờ tôi quên được ông Đỗ Mười.
Ngày 23-10-2010
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––
*Nguyên Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam.
ANH MƯỜI Ở TẢ NGẠN SÔNG HỒNG VŨ TRỌNG NAM*
I- PHÁ ÂM MƯU BÌNH ĐỊNH CỦA ĐỊCH
Sau thất bại thảm hại ở biên giới đông bắc Việt Nam, Pháp cử Tướng Đờ Lát, một tướng nổi tiếng tài ba sang Đông Dương làm Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp. Đờ Lát vạch ra một kế hoạch chiến lược mới với tham vọng xoay chuyển tình thế có lợi cho đạo quân viễn chinh. Mục tiêu chủ yếu của kế hoạch này là nhằm bình định, giữ cho được đồng bằng Bắc Bộ. Tả ngạn sông Hồng là địa bàn trọng điểm của kế hoạch Đờ Lát. Bộ chỉ huy Pháp cho rằng chỉ có càn quét với quy mô lớn và tàn khốc mới có thể bình định được vùng chúng chiếm đóng, mới ngăn chặn được cuộc chiến đấu của quân và dân đồng bằng, đi tới triệt nguồn tiếp tế nhân lực, tài lực, vật lực từ đồng bằng lên Việt Bắc.
Đến cuối năm 1950, quân Pháp đã chiếm đóng gần hết đồng bằng Bắc Bộ. Hưng Yên chỉ còn 10% làng, xã không có đồn giặc. Thái Bình có khu căn cứ du kích liên tỉnh, đến lúc này, sau các cuộc càn quét của địch, khu căn cứ du kích co lại chỉ còn bằng 10% đất đai của tỉnh. Cuộc kháng chiến của quân và dân ta ở tả ngạn sông Hồng bước sang một giai đoạn mới khó khăn, quyết liệt gấp bội.
Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng (tháng 9-1951) nhấn mạnh nhiệm vụ đưa toàn bộ công tác trong vùng địch chiếm lên một bước phát triển mới. Hội nghị đã chia vùng sau lưng địch thành vùng tạm bị chiếm và vùng du kích, hoạt động theo hai phương thức khác nhau. Để có sự tổ chức thực hiện tại chỗ, trực tiếp, nhanh chóng, cụ thể và hiệu quả hơn trước những âm mưu, thủ đoạn ngày càng tàn bạo, thâm độc của kẻ thù, Trung ương quyết định thành lập Khu Tả Ngạn sông Hồng, một bước ngoặt trong sự lãnh đạo của Đảng ở vùng sau lưng địch, nhằm đẩy tới cao trào tiến công địch ở một vùng bị địch chiếm đóng lâu và sâu. Khu Tả Ngạn sông Hồng bao gồm thành phố Hải Phòng và các tỉnh Kiến Anh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình. Khu vực thuộc Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh.
Anh Đỗ Mười đang làm Phó Bí thư Liên khu ủy III kiêm Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến liên khu, được Trung ương gọi lên Việt Bắc nhận nhiệm vụ mới. Lúc đầu Trung ương bảo anh chuẩn bị vào miền Nam. Chưa kịp đi Nam thì Trung ương lại cử anh tham gia Đảng đoàn Phụ nữ Trung ương giúp các chị bên ấy thực hiện chủ trương thống nhất Hội Phụ nữ cứu quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Vì việc này, từ ngày ấy anh chị em đùa gọi anh là "chị Mười". Mới được ít ngày, trước nhu cầu cấp thiết phải tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo ở Khu Tả Ngạn, Trung ương quyết định anh Mười phải về ngay Khu Tả Ngạn làm Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính khu và Chính ủy Bộ Tư lệnh khu. Đầu tháng 11-1951, anh có mặt ở Khu Tả Ngạn sông Hồng với cái tên mới là Ngạn.
Trung ương giao nhiệm vụ cho anh cùng các cấp ủy Đảng từ khu đến tỉnh, huyện, xã và các đơn vị bộ đội chủ lực, bộ đội địa phương trong khu đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn diện cả về quân sự, chính trị, kinh tế, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh ở Khu Tả Ngạn, phối hợp nhịp nhàng với mặt trận chính, vận động các tầng lớp nhân dân ở cả hai vùng (vùng du kích và vùng bị địch tạm chiếm) tham gia kháng chiến, phá cho được âm mưu, kế hoạch bình định của kẻ thù.
Về Khu Tả Ngạn, việc chiếm nhiều thì giờ, trí tuệ và sức lực nhất của anh Ngạn là chống địch càn quét. Trong những năm chiến tranh, quân và dân Khu Tả Ngạn sông Hồng đã phải chống chọi với hàng chục cuộc càn quét lớn của địch, do các binh đoàn chủ lực cơ động đảm trách với sự tham gia của quân địa phương, có đủ các loại pháo, xe cơ giới, có cả máy bay, tàu chiến hỗ trợ, có trận chúng huy động đến 2 vạn quân, lớn hơn quân số đánh ra vùng tự do Hòa Bình, còn các cuộc vây quét nhỏ của quân địa phương và vệ sĩ thì nhiều không kể xiết. Các cuộc càn lớn của địch nhằm mục đích tiêu diệt bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương của ta, triệt phá làng kháng chiến, phá hoại kinh tế của ta, bắt thanh niên, trấn an hội tề và vệ sĩ của bọn phản động trong Công giáo. Khi huy động tổng lực càn quét các khu căn cứ du kích Tiên Hưng, Duyên Hà, Hưng Nhân, Quỳnh Côi, Thái Ninh (Thái Bình), Phù Cừ, Tiên Lữ (Hưng Yên), Thanh Miện (Hải Dương), chúng đặc biệt chú ý vây bắt, tìm diệt các cơ quan đầu não của khu và tỉnh. Trong một lần địch vây quét làng Chỉ Thiện (Thái Ninh), anh Ngạn và anh Hà (Khu ủy viên Khu Tả Ngạn) mỗi người xuống một hầm bí mật, hầm của anh Hà bị địch phát hiện, chúng ném lựu đạn xuống, anh Hà hy sinh; chúng sục tìm anh Ngạn nhưng không tìm được. Chúng muốn đuổi Sư đoàn 320 được Trung ương cử vào Tả ngạn hợp lực với lực lượng vũ trang địa phương phá kế hoạch Nava và vây bắt anh Văn Tiến Dũng, lúc đó có mặt ở Thái Bình, nhưng Sư đoàn 320 vẫn đứng vững ở Tả Ngạn và anh Dũng đã đi hướng khác, không cùng anh Ngạn sang Thái Ninh.
Ta chống địch càn quét và bình định dần dần có kinh nghiệm, mỗi ngày một tiến bộ, hạn chế được thiệt hại, làm cho địch bị tổn thất mà không đạt được mục tiêu chủ yếu chúng đã đề ra. Trung đoàn 42 của khu góp công lớn đánh bại các cuộc càn quét ác liệt của lực lượng cơ động địch.
Từ thực tiễn chỉ đạo và chỉ huy chiến đấu chống càn, anh Ngạn đã tổng kết: Điều quan trọng trước hết là phải tiến công, tích cực tiến công. Muốn phá được cuộc càn của địch thì phải chủ động tiến công địch. Nếu chỉ chờ địch đánh rồi chống đỡ hoặc tiêu cực chạy dài thì nhất định thua. Anh luôn luôn làm cho cán bộ và chiến sĩ thấm nhuần tư tưởng tiến công. Có anh em đã nói vui anh là "Chính ủy tiến công". Những mệnh lệnh chiến đấu của Bộ Tư lệnh khu mà anh ký, anh đều ký tên là Công.
Anh yêu cầu các đơn vị bộ đội tập trung phải phát huy tinh thần tiêu diệt địch, không diệt được đơn vị to thì diệt đơn vị nhỏ, không diệt được toàn bộ thì diệt bộ phận, không diệt được địch ở nơi địch càn thì luồn ra ngoài vùng địch càn mà tìm diệt. Chỉ có như thế ta mới ít bị tiêu hao, mới biến sự bị động của ta thành của địch. Nhiệm vụ của du kích chiến tranh là vừa đánh tiêu diệt, vừa đánh tiêu hao địch. Trong khi bộ đội chủ lực và bộ đội tỉnh đánh tiêu diệt là chính nhưng khi cần có thể đánh tiêu hao, bộ đội huyện và dân quân du kích có nhiệm vụ chính là đánh kiềm chế, tiêu hao địch nhưng cũng cần tranh thủ tiêu diệt bộ phận nhỏ. Chỉ có đánh tiêu diệt mới mau chóng kết thúc cuộc càn, mới bảo toàn được lực lượng mình, mới lấy được vũ khí của địch trang bị cho mình.
Anh nhấn mạnh phương châm đánh phối hợp trong và ngoài vòng vây, địa bàn này với địa bàn khác. Bô đội huyện và du kích xa đánh kiềm chế tiêu hao địch trong vòng vây. Bộ đội tỉnh vừa đánh vừa luồn ra khỏi vòng vây chủ động tìm địch mà diệt, đánh địch ngoài vòng vây. Anh biểu dương những trận chống càn có sự phối hợp giữa trong và ngoài vòng vây, giữa các địa bàn xa nhau mà lại khá đắc lực, nhất là việc đánh mạnh, đánh thẳng vào nơi quan trọng của địch ở ngoài vòng càn. Muốn làm được như vậy, các đơn vị phải thường xuyên chuẩn bị mục tiêu công kích để sẵn sàng góp phần phá càn thắng lợi. Trận mật tập vào căn cứ của binh đoàn cơ động số 3 (GM3) ở Bần Yên Nhân (Hưng Yên), trận đánh đoàn tàu chở nhiều quân và súng đạn ở Cẩm Giàng (Hải Dương), trận tập kích vào Sở dầu Thượng Lý (Hải Phòng) kho nhiên liệu lớn nhất của quân viễn chinh Pháp, đặc biệt là trận tập kích sân bay Cát Bi (Kiến An) phá 59 máy bay, làm sân bay bốc cháy 17 giờ liền, v.v. chẳng những là đòn choáng váng đánh vào các trận càn của địch mà còn hỗ trợ đắc lực cuộc chiến đấu của ta ở chiến trường chính.
Trong chống càn, anh nhắc các đơn vị phải chú ý đánh địch khi chúng rút bởi đó là lúc chúng đã mệt mỏi lại mang theo những thứ vừa cướp được khá nặng nề. Anh đề cao hình thức tác chiến chủ yếu trong chống phá càn: đánh tập kích (gồm phục kích. Tập kích vào quân đi càn có nhiều yếu tố thuận lợi: binh sĩ địch mệt mỏi, di chuyển ngoài công sự, không hiểu địa hình tiến lui, bị đánh bất ngờ. Đánh ngay vào quân đi càn có ý nghĩa phá càn nhiều hơn là đánh vào vị trí cố định của địch.
Đối phó với chiến thuật của địch là tập trung lực lượng lớn bao vây tiêu diệt hoặc tiêu hao lực lượng ta, anh cùng Bộ Tư lệnh chỉ đạo linh hoạt việc tập trung, phân tán và cơ động lực lượng, vừa đánh vừa luồn, bảo đảm cho lực lượng phân tán rộng nhưng khi cần tập trung vẫn mau lẹ.
Trong hoàn cảnh địa bàn địch bao vây chia cắt, anh chủ trương Bộ Tư lệnh khu, các ban chỉ huy trung đoàn và tỉnh đội phân công nhau xuống nắm các đơn vị, chỉ huy các đơn vị tự động tác chiến ở từng khu vực theo kế hoạch và phương châm chung. Lập lâm thời các ban chỉ đạo từng khu vực để giữ vững sự chỉ đạo tập thể, để thống nhất chủ trương và hành động trong khu vực đó mỗi khi chống trận càn lớn.
Anh rất quan tâm nắm tình hình địch, tăng cường bảo mật, phòng gian, phong tỏa tin tức không để lọt vào tai địch. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy Đảng hoạt động ở địch hậu Tả Ngạn được anh tóm gọn trong sáu chữ: "Hai bám, bốn nắm, một di". “Hai bám" là bám sát lấy dân, bám chặt lấy đất. "Bốn nắm" là nắm chắc tình hình địch, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, nắm vững cán bộ và nắm chắc lực lượng vũ trang. "Một di" là luôn luôn di chuyển, không đóng chốt lâu ở một điểm. Trong việc này anh luôn nêu gương. Với bộ quần áo nâu, đầu đội nón, đôi khi còn đeo trên vai những rọ tre để bắt cá hay vác cuốc như đi thăm đồng, anh đến không ai biết, đi không ai hay. Bộ phận giúp việc anh gồm 12 người, có nhiệm vụ làm hầm bí mật, canh gác, liên lạc, nấu ăn và thư ký, phân tán trong nhà dân, lưu động trong các làng, xóm của Thái Bình, Hưng Yên và Hải Dương, không ở nơi nào quá một tuần lễ.
Thực hiện chỉ thị của Trung ương đẩy mạnh cuộc đấu tranh toàn diện, anh Ngạn rất coi trọng xây dựng về chính trị trong công tác xây dựng Đảng. Trong mỗi thời kỳ nhất định, anh yêu cầu các đảng bộ địa phương phải căn cứ vào sự chỉ đạo của cơ quan lãnh đạo cấp trên và xuất phát từ tình hình cụ thể ở địa phương mà xác định nhiệm vụ chính trị của đảng bộ mình trong thời kỳ ấy. Không có nhiệm vụ chính trị được xác định một cách đúng đắn thì không có mục tiêu để xây dựng Đảng. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (tháng 9-1951) là cẩm nang của Đảng bộ Tả Ngạn, các cấp bộ Đảng phải nắm vững và thực hiện cho tốt. Đào tạo, sử dụng và rèn luyện cán bộ, nhất là những người đứng đầu các tổ chức, là vấn đề anh rất quan tâm. Anh nêu gương về tác phong đi sâu, đi sát và ngày đêm khẩn trương làm việc rất cụ thể. Được tin anh ốm mệt, Bác Hồ chỉ thị đưa anh ra vùng tự do chữa bệnh, anh xin phép ở lại. Bác bảo chi bộ nơi anh Ngạn sinh hoạt không được để anh làm việc căng thẳng trong lúc đang chữa bệnh.
Anh luôn luôn yêu cầu các cấp ủy Đảng chính quyền và đoàn thể quần chúng động viên và hướng dẫn nhân dân tham gia kháng chiến. Bản thân anh thường trực tiếp gặp bà con trong xóm sau bữa cơm tối, chung quanh ấm nước chè đặt ở giữa sân, lắng nghe bà con nói và giải đáp những băn khoăn, lo lắng của bà con. Mặc cho địch o ép, khủng bố, đồng bào ta lúc nào cũng hăng hái phục vụ bộ đội và du kích chiến đấu, có rất nhiều sáng kiến chặn bàn tay cướp phá của địch và chống địch bắt thanh niên ta vào lính. Công tác vận động binh lính địch không thể thiếu trong các cuộc chống càn lớn cũng như nhỏ và cả trong những lúc không phải chống càn.
Ở vùng địch tạm chiếm, công tác tư tưởng cực kỳ quan trọng. Cuộc đấu tranh một mất một còn giữa ta và địch diễn ra ác liệt, sống chết chưa biết lúc nào. Đời sống vật chất đã thiếu thốn, tinh thần lại luôn luôn căng thẳng. Địch ra sức lung lạc tinh thần của cán bộ, đảng viên, chiến sĩ và nhân dân bằng khủng bố, dụ dỗ, mua chuộc với đủ các thủ đoạn của chiến tranh tâm lý. Trước tình hình đó, phải làm cho mọi người vững tin vào thắng lợi cuối cùng của kháng chiến, có ý chí quyết chiến, quyết thắng, dám đánh và biết đánh, chịu đựng gian khổ, hy sinh, dựa vào sức mình mà chiến đấu, không ỷ lại vào bên ngoài, không trông chờ bộ đội chủ lực, chống cầu an chạy dài, đầu hàng, phản bội... Cuộc đấu tranh tư tưởng diễn ra hằng ngày, hàng giờ, không đơn giản chút nào. Chính vì tầm quan trọng của công tác tư tưởng mà anh - Bí thư Khu ủy, trực tiếp làm Trưởng ban Tuyên huấn.
Thực hiện chính sách "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt”, ở tả ngạn sông Hồng, địch ra sức bao vây và phá hoại kinh tế kháng chiến, đồng thời dùng mọi thủ đoạn vơ vét sức người, sức của của ta. Anh luôn luôn nhắc cán bộ bám đất, bám dân, vừa sản xuất vừa chiến đấu. Đây là yêu cầu cơ bản để tranh thủ nhân dân, phá âm mưu địch, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân. Sản xuất và bảo vệ sản xuất, phòng đói và cứu đói luôn luôn là một nhiệm vụ trung tâm của các khu căn cứ du kích và du kích ở Tả Ngạn. Hưởng úng lời kêu gọi của các cấp ủy đảng và chính quyền, đồng bào ta tranh thủ mọi nơi, mọi lúc, vừa hợp pháp vừa bất hợp pháp với địch để sản xuất. Có những lúc cần phải đánh địch để sản xuất. Anh Ngạn đề nghị Sư đoàn 320 cho Trung đoàn 64 diệt địch ở Đào Thành (Hưng Nhân - Thái Bình) để mở cống lấy nước tưới lúa. Sau khi diệt địch ở Trà Linh (Thụy Anh), anh bàn với Thái Bình tổ chức cuộc đấu tranh chính trị hết sức rộng lớn trong vùng địch tạm chiếm, có sự tham gia của báo chí trong nội thành Hà Nội, đòi địch chữa cống Trà Linh và đóng mở cống đúng lúc. Đi đôi với sản xuất phải bằng mọi cách bảo vệ thành quả của sản xuất, chống địch cướp phá và hạn chế thiệt hại do dịch họa và thiên tai. Bản thân anh Ngạn đã có lần xuống bàn với dân việc phòng và chống bệnh lở mồm long móng của trâu bò để giữ gìn sức kéo. Thật kỳ diệu, ngay trong chiến tranh ác liệt, sản xuất ở Tả Ngạn không bị đảo lộn nhiều, lương thực làm ra nói chung là đủ ăn, bảo đảm "hậu cần tại chỗ" cho quân dân địa phương, còn hỗ trợ cho tỉnh bạn và vượt vòng vây trùng điệp của địch đưa hàng ngàn tấn thóc lên Việt Bắc.
Về chính sách ruộng đất, anh bàn với Khu ủy đề nghị Trung ương cho thực hiện từng bước. Trước mắt, những nơi chưa làm thì làm cho xong việc cấp công điền cho dân; nơi nào làm rồi nhưng không được công bằng mà cơ sở kháng chiến ở đó vững thì điều chỉnh cho hợp lý; tạm cấp và tạm giao ruộng của Việt gian và ruộng vắng chủ cho nông dân cày cấy. Thực hiện giảm tô theo đúng chính sách để vừa có lợi cho nông dân, vừa không đẩy địa chủ, phú nông và con em họ rời bỏ kháng chiến. Anh trực tiếp chỉ đạo uốn nắn một số nơi tả khuynh làm ẩu trong giảm tô. Ở Tả ngạn sông Hồng khẩu hiệu “Người cày có ruộng" đã được thực hiện trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
Lúc kháng chiến, tả ngạn sông Hồng có gần 30 vạn đồng bào theo đạo Thiên Chúa (gần 1 phần 10 dân số). Trước đây thực dân Pháp đã lợi dụng đạo Thiên Chúa làm công cụ để xâm lược nước ta. Trong chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai, chúng tích cực sử dụng bọn phản động đội lốt Công giáo chống lại cuộc kháng chiến của dân tộc. Ở Tả Ngạn, một số nơi sa vào bẫy khiêu khích của địch gây nên sự xung đột lương giáo. Bọn phản động lợi dụng cơ hội đó khoét sâu thành kiến, tách giáo dân ra khỏi đội ngũ nhân dân kháng chiến. Nhận thức rõ vấn đề Công giáo nói chung, là nông dân Công giáo ở Tả Ngạn nói riêng là vấn đề lớn, trong hơn 3 năm làm Bí thư Khu ủy Khu Tả Ngạn, anh Ngạn đã ba lần chủ trì Hội nghị Khu ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính và các đoàn thể nhân dân khu chuyên bàn về công tác vận động đồng bào Công giáo. Là người đã tổ chức Ủy ban Công giáo kháng chiến ở Liên khu III, anh nhắc các địa phương trong khi tập trung công tác vào bà con theo đạo là chính cũng đừng quên các chức sắc Công giáo, vận động họ nếu không tham gia kháng chiến thì chí ít cũng đừng chống lại kháng chiến. Những kết quả trong công tác Công giáo vận ở Tả Ngạn đã được thực tế chứng minh. Nhưng so với yêu cầu đề ra, những kết quả đạt được còn thấp. Đặc biệt là trong công tác chống địch cưỡng ép đồng bào ta di cư vào Nam, anh Ngạn cùng Khu ủy tự nhận xét: Chúng ta chưa thực hiện được đầy đủ yêu cầu của Trung ương.
*
* *
Tả ngạn sông Hồng là nơi tiếng súng kháng chiến nổ ra sớm nhất và kết thúc muộn nhất ở miền Bắc nước ta. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Trung ương Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Bộ Tổng tư lệnh, quân dân Tả Ngạn, với sự phối hợp của Sư đoàn 320, chiến đấu rất kiên cường và anh dũng, đã thu được những chiến công và thành tích vẻ vang. Đến tháng 4-1952, vùng giải phóng ở Khu Tả Ngạn mở ra rất rộng. Âm mưu và thủ đoạn bình định đồng bằng sông Hồng của các tướng lĩnh Pháp từ Đờ Lát đến Nava… đều thất bại nặng nề. Địa bàn Tả Ngạn là nơi ta đã thực hiện thành công chủ trương chiến lược biến hậu phương của địch thành tiền phương của ta. Cùng với các chiến trường khác, Đảng bộ, chính quyền và đồng bào chiến sĩ trong khu đã có cống hiến xứng đáng đối với sự nghiệp giải phóng miền Bắc, tạo nên hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Anh Ngạn đã góp nhiều công sức vào thành tựu đó.
II- BƯỚC VÀO CUỘC ĐẤU TRANH MỚI
Ngày 31-l-1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết số 4 thành lập Ban Chỉ đạo khu 300 ngày. Khu 300 ngày là khu vực Pháp được tạm đóng quân trong thời hạn 300 ngày, kể từ ngày Hiệp định Giơnevơ năm 1954 có hiệu lực, trước khi chuyển quân vào miền Nam. Khu vực này gồm gần hết tỉnh Quảng Yên, một phần tỉnh Hải Dương, toàn bộ tỉnh Kiến An, đặc khu Hòn Gai và thành phố Hải Phòng. Trung ương cho Ban Chỉ đạo khu 300 ngày được trực tiếp lãnh đạo mọi mặt công tác trong khu cho tới khi hoàn thành tiếp quản khu. Trung ương rút anh Mười ra khỏi Khu ủy Khu Tả Ngạn sông Hồng và cử anh làm Trưởng Ban Chỉ đao khu 300 ngày. Anh Mười lại bước vào cuộc đấu tranh mới, một cuộc đấu tranh gay go, phức tạp trong suốt 300 ngày.
Trong khi cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp đã buộc phải kết thúc theo Hiệp định Giơnevơ thì một cuộc chiến tranh xâm lược mới nên đất nước ta do đế quốc Mỹ đạo diễn và tiến hành lại bắt đầu. Ở khu 300 ngày chúng tung gián điệp cài vào những nơi quân Pháp đã và sẽ rút để phá hoại miền Bắc được giải phóng và phục vụ cho kế hoạch của Mỹ đối với miền Bắc sau này. Chúng hạ lệnh cho bọn tay sai phải bằng mọi cách cướp đi hoặc phá hoại tất cả máy móc, tài sản trước khi rút vào miền Nam. Chính Mỹ đã gây sức ép buộc một số công ty của người Pháp đang còn hy vọng ở lại làm ăn với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải thu gọn công việc, dãn thợ và nhân viên, tháo gỡ máy móc đem đi. Nham hiểm nhất là Mỹ âm mưu cưỡng ép đồng bào ta ở miền Bắc phải di cư vào miền Nam bằng đủ các thủ đoạn đe dọa, cưỡng bức, mua chuộc, dùng giáo lý, thần quyền lung lạc và triệt để khai thác mọi sơ hở của ta, trước mắt nhằm gây mất ổn định ở miền Bắc và lâu dài là phục vụ cho kế hoạch can thiệp sâu vào miền Nam Việt Nam.
Để thực hiện nhiệm vụ được Trung ương giao, anh Mười cùng các đồng chí trong Ban đặc biệt chú trọng làm cho các cấp ủy đảng trong khu hiểu rõ chiến tranh ở miền Bắc tuy đã kết thúc nhưng cơ bản mới chỉ là im tiếng súng, chiến tranh “không có tiếng súng” với Mỹ vẫn tiếp diễn gay go, quyết liệt. Việc thực hiện Hiệp định đình chiến ở miền Bắc tiến hành trong thời gian gần 10 tháng, bây giờ mới là những ngày đầu. Ở những nơi địch tập kết quân để chuyển vào miền Nam nhiều vấn đề mới sẽ nảy sinh, nhiều công việc nặng nề, phức tạp đang đặt ra trước mắt mà trong nhiều lĩnh vực cán bộ ta lại chưa có kinh nghiệm. Ban chỉ đạo các cấp ủy đảng khu 300 ngày phải động viên cán bộ, đảng viên và quân dân trong khu tăng cường đoàn kết, tiếp tục nâng cao ý chí chiến đấu và tinh thần cảnh giác, nâng cao trình độ về mọi mặt, chống tư tưởng chủ quan, thỏa mãn và hòa bình chủ nghĩa. Anh Mười luôn nhắc nhở các cấp ủy đảng trong khu phải đoàn kết rộng rãi các tầng lớp nhân dân ở những nơi địch còn đóng quân, đấu tranh chống địch vi phạm Hiệp định, không mắc mưu khiêu khích của bọn hiếu chiến, không làm việc gì để Pháp vin cớ trì hoãn việc rút quân.
Các địa phương không những phải chú trọng bảo vệ lực lượng ta về mọi mặt mà còn phải nắm thời cơ thuận lợi làm tan rã hàng ngũ của địch. Anh chỉ đạo các cấp ủy đảng trong khu tăng cường cán bộ vào vùng địch tạm đóng quân để mở rộng phong trào đấu tranh của quần chúng; có thể bố trí một số cán bộ hoạt động bán công khai còn đại bộ phận vẫn phải hoạt động bí mật.
Đề phòng xảy ra khả năng đối phương dây dưa không chịu rút quân, anh Mười đề nghị các đồng chí trong Ủy ban liên hiệp đình chiến hướng vào việc thúc đẩy đối phương bàn sớm việc chuyển giao toàn bộ khu 300 ngày, không nên bị động sa lầy vào vấn đề giao nhận tài sản. Đấu tranh bảo vệ tài sản và tài liệu của các công sở và xí nghiệp, không cho địch cướp phá cũng nên có trọng tâm, trọng điểm có sự phân loại tính chất quan trọng ở từng địa bàn để huy động lực lượng và đặt mức đấu tranh cho thích hợp theo phương châm có lý, có lợi, có chừng mực. Trong các loại tài sản thì chú ý nhiều hơn đến các thiết bị, phương tiện, vật tư của hải cảng, máy điện, máy nước, công chính, bưu điện và bệnh viện.
Đấu tranh chống địch cưỡng ép di cư là cuộc đấu tranh chính trị gay go và cấp bách. Anh Mười nhấn mạnh: Về căn bản đây là cuộc tranh chấp quần chúng giáo dân lâu dài giữa ta và địch, đồng thời là cuộc đấu tranh chống địch vừa lợi dụng Điều 14 của Hiệp định Giơnevơ để cưỡng bức di cư, vừa vu khống ta vi phạm Hiệp định. Đây còn là cuộc đấu tranh chống bọn phản động đội lốt Công giáo lợi dụng giáo lý, thần quyền để bắt giáo dân di cư. Chúng lại lợi dụng việc dân di cư để xuyên tạc chính sách tôn giáo của ta, vu khống chế độ ta phá đạo. Việc quan trọng trước hết là phải bám sát quần chúng để làm tốt công tác vận động. Không những phải giải thích cặn kẽ để đồng bào Công giáo không mắc mưu địch, mà còn phải giải quyết tư tưởng thành kiến với Công giáo của đồng bào bên lương. Phải chăm sóc chu đáo đời sống của những giáo dân còn ở lại và bảo vệ tài sản của những người đã bỏ chạy, kể cả của nhà chung. Đối với những tên tay sai của địch ngấm ngầm hay trắng trợn dụ dỗ, cưỡng bức giáo dân theo địch vào Nam thì vạch mặt, cảnh cáo chúng, nếu chúng có những hành động phạm pháp thì kịp thời xử lý theo pháp luật... Tuy nhiên, như anh Mười nhận xét: Chúng ta chưa thực hiện được đầy đủ yêu cầu của Trung ương.
Về công tác địch vận, bao nhiêu ngụy quân và nhân viên ngụy quyền của địch còn ở miền Bắc đều dồn hết vào khu 300 ngày. Anh Mười yêu cầu các tỉnh, thành ủy trong khu gấp rút tăng cường cán bộ, phát động đông đảo quần chúng tiến công làm tan rã lực lượng này, không để địch đưa được toàn bộ khối ngụy quân vào Nam. Đối với công chức, nhất là những nhân viên nghiệp vụ kỹ thuật, cần tích cực vận động họ ở lại làm việc dưới chế độ mới. Việc chấp hành đúng đắn chính sách đối với người đã cộng tác với đối phương nay trở về có ý nghĩa chính trị rất lớn. Ngay từ giữa tháng 12-1954, anh Mười đề nghị với Khu ủy Tả Ngạn: Đối với những tên đã thành án và tài sản đã bị Nhà nước tuyên bố tịch thu thì không trả lại. Đối với những người khác trong thời gian họ cộng tác với đối phương, ruộng đất của họ đã tạm giao cho nông dân quản lý nếu họ vốn là địa chủ, trả cho họ một số ruộng đất để tự họ lao động sinh sống, phần còn lại nông dân vẫn cày cấy, không phải nộp tô; nếu họ vốn là phú nông, sức họ tự sản xuất được đến đâu vả lại họ đến đấy; nếu họ là trung, bần nông, trả lại hết cho họ; phần ruộng "treo giò" (chính quyền xã còn tạm giữ khi họ chưa trở về) thì phải dứt khoát trả lại sớm cho họ để họ kịp làm vụ chiêm. Nhà cửa, trâu bò trước đây họ cướp của dân, nói chung không đặt ra vấn đề đòi lại, trường hợp còn nguyên vẹn thì thuyết phục họ trả lại cho người đã bị chiếm đoạt.
Các tỉnh, thành phố trong khu huy động cả bộ máy quân, dân, chính, đảng ở địa phương vào công tác địch vận, đã thu được kết quả lớn.
Cùng với các việc trên, anh Mười ngày đêm làm việc với các đồng chí lãnh đạo địa phương về công tác tiếp quản vùng giải phóng. Theo chỉ thị của Trung ương, Ban Chỉ đạo khu 300 ngày chỉ đạo thực hiện các chủ trương lớn: Khi vào vùng giải phóng việc quan trọng trước hết là nhanh chóng ổn định lòng dân và phục hồi trật tự cách mạng. Mọi hoạt động thuộc về lợi ích công cộng (điện, nước, vệ sinh...) phải được duy trì. Mọi công việc làm ăn, buôn bán của dân giữ cho được bình thường, không được để bị ngừng trệ. Mọi hàng hóa đang có được tiếp tục bán, không cấm, không tịch thu, trưng thu bất cứ loại hàng nào. Với việc triển khai nhanh hoạt động của thương nghiệp quốc doanh, bảo đảm có đủ lượng bán ra về những mặt hàng thiết yếu, đi đôi với việc sử dụng nhiều biện pháp để nắm tồn kho của tư thương và bằng việc đánh thuế tồn kho mà buộc họ phải đưa hàng hóa ra bán, để giữ cho giá cả hàng hóa trên thị trường được bình ổn, không bị tệ đầu cơ tích trữ làm đột biến giá. Tổ chức thu đổi tiền tệ, nhanh chóng quét sạch tiền Đông Dương trong vùng mới giải phóng, đưa tiền Ngân hàng Việt Nam ra chiếm lĩnh thị trường, sớm xây dựng thị trường tiền tệ thống nhất đi đôi với hệ thống giá cả thống nhất trên toàn bộ lãnh thổ miền Bắc trên cơ sở giá chỉ đạo ở vùng tự do cũ. Những hoạt động văn hóa của tư nhân không có nội dung phản động được tiếp tục hoạt động. Các trường học cần được nhanh chóng mở cửa. Các tổ chức chính trị - xã hội phản động thì bị đình chỉ hoạt động ngay. Binh sĩ ngụy ra trình diện không bị coi là hàng binh, chỉ tước vũ khí rồi cho về. Việc tổ chức đoàn thể quần chúng của ta thì dựa vào các tổ chức hiện có vừa củng cố vừa phát triển, củng cố tới đâu vững chắc tới đó. Các cơ quan chuyên môn của chính quyền lồng vào các tổ chức tiếp quản để khi kết thúc thời kỳ tiếp quản, bộ máy chính quyền có thể tiếp tục hoạt động đều đặn.
Công tác tiếp quản khu 300 ngày diễn ra theo đúng kế hoạch, đúng trình tự, đúng thời gian, đúng chính sách, đúng Hiệp định, đạt yêu cầu Trung ương đề ra, được Bác Hồ gửi điện khen. Ban Chỉ đạo khu 300 ngày hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được giải thể. Anh Mười được Trung ương cử làm Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban quân quản thành phố Hải Phòng.
––––––––––––––––––––
* Thư ký đồng chí Đỗ Mười trong kháng chiến chống thực dân Pháp, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội thương.
NHỮNG KỶ NIỆM SÂU SẮC VỀ ANH ĐỖ MƯỜI NGUYỄN SÁNG*
Có thể nói, Mặt trận 5 là tiền thân của Khu Tả Ngạn. Nó được lập từ năm 1947, khi mà đường 18, đường số 5, Đông Triều, Phả Lại, Thủy Nguyên, Núi Đèo, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An bị biến thành "vành đai trắng" của địch. Đồng chí Hoàng Minh Thảo là Chiến khu trưởng kiêm Chỉ huy trưởng Mặt trận 5; đồng chí Ngô Lân làm Tham mưu trưởng.
Khi lập Khu Tả Ngạn, đồng chí Đỗ Mười làm Bí thư Khu ủy kiêm Chính ủy; đồng chí Nguyễn Khai làm Phó Chính ủy kiêm Tư lệnh khu; đồng chí Dương Hữu Miên làm Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng; tôi làm Tham mưu phó. Toàn bộ cơ quan Mặt trận 5 chuyển sang là cơ quan ngành quân sự của Khu Tả Ngạn. Chúng tôi có nhiều kỷ niệm đẹp về anh Đỗ Mười, khi ấy là Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính khu, kiêm Chính ủy Khu Tả Ngạn.
Khi anh Mười sang lãnh đạo Khu Tả Ngạn, là thời kỳ cục diện đồng bằng Bắc Bộ có sự thay đổi, nói chung, theo chiều hướng có lợi cho ta. Nhưng với Khu Tả Ngạn bấy giờ có khác. Sau khi quân Pháp bị thất bại nặng nề phải rút chạy khỏi Hòa Bình (cuối tháng 11-1951), Tướng Salăng, Tổng chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương, tập trung lực lượng cơ động, tiến hành bình định ráo riết đồng bằng Bắc Bộ, mà trọng điểm là vùng tả ngạn sông Hồng (Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Kiến An), kho người, kho của phong phú, nhằm thực hiện âm mưu "lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt". Địch tiến hành gần hai chục cuộc hành quân quy mô lớn, có lần lên tới một vạn quân như các trận càn "Trái quýt" (Măngđarin), "Thủy ngân" (Mécquya), "Lạc đà" (Đơrômađe), v.v… Chúng liên miên quét đi quét lại, bằng những binh đoàn (GM) quân tinh nhuệ Âu - Phi, với một số Việt binh đoàn (BVN), kéo dài dai dẳng hơn tháng trời như trận càn "Diều hâu" (Giécphô), địch huy động tới 6 binh đoàn cơ động, 6 tiểu đoàn Pháp, 3 tiểu đoàn công binh, 1 tiểu đoàn cơ giới các loại, 1 tiểu đoàn vận tải… càn các huyện nam Thái Bình.
Quân Pháp thường phải huy động máy bay, xe tăng, đại bác cỡ lớn, tàu chiến, canô, xe lội nước… phối hợp, yểm trợ cho các GM, nhằm đối phó với phong trào chiến tranh nhân dân phát triển ngày càng mạnh. Có nhiều trận, ta chiến đấu rất táo bạo, đưa chiến tranh vào hậu phương địch, nơi mà chúng cho là an toàn nhất. Ta đã biến hậu phương địch thành tiền tuyến của ta.
Khu Tả Ngạn lúc này bốn phía đều có địch. Toàn khu là một vùng quan trọng, nằm sâu trong vùng tạm chiếm, có cảng lớn Hải Phòng, có đường giao thông huyết mạch số 5 và đường sắt, là cửa ngõ vào Thủ đô Hà Nội, vào đồng bằng Bắc Bộ, mà ta và địch đều có quyết tâm giành quyền làm chủ.
Cùng những mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, chúng tôi ý thức rằng về mặt quân sự, anh Mười là người chỉ huy cao nhất. Anh nhận nhiệm vụ của Trung ương, của Liên khu ủy, Bộ Tư lệnh Liên khu III, giao cho xây dựng Khu Tả Ngạn thành một căn cứ vững chắc ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ.
Nhiệm vụ của anh Mười rất vinh quang nhưng cũng rất nặng nề, nó được đặt trên đôi vai người cán bộ đã được tôi luyện, thử thách trong đấu tranh cách mạng, rất sung sức và xông xáo, là người "Đẩy cày cách mạng, vai không mỏi" (thơ Tố Hữu).
Có thể nói, khi ấy hàng mấy năm liền không có cuộc họp nào mà anh Miên và tôi vắng mặt. Hằng ngày, đầu giờ buổi sáng, anh Miên hoặc tôi, nhưng thường là tôi, sang trực tiếp báo cáo rất vắn tắt tình hình với anh Mười. Anh vắng hay bận việc thì tôi gặp đồng chí Phạm Gia Tuân để báo cáo. Có lần cả đồng chí Trưởng ban Tác chiến và Trợ lý Tác chiến đi theo, cùng gặp anh Mười để báo cáo và nhận nhiệm vụ. Làm việc với anh, chúng tôi đều thấy rất thoải mái, nhưng phải chuẩn bị thật kỹ, thật tỉ mỉ, cụ thể. Vì sau khi nghe báo cáo xong, anh đều đặt ra những giả thuyết, những câu hỏi, những phán đoán tình huống... làm cho anh em chúng tôi phải suy nghĩ, động não. Đúng hay sai cứ tự do phát biểu. Cuối cùng chúng tôi nhận được những lời giải đáp rất đúng, rất trúng, mà chúng tôi cứ bình luận với nhau là "ý kiến cụ rất chính xác". Chưa có lần nào anh phán đoán sai về diễn biến tình hình địch. Điều đó giúp chúng tôi nâng dần trình độ suy xét, phán đoán. Đồng thời anh em tham mưu chúng tôi còn nghiên cứu những bản báo cáo hằng tháng, hằng quý và tổng kết năm, do đồng chí Vũ Trọng Nam, thư ký của anh chấp bút. Báo cáo đã thể hiện được tư tưởng chỉ đạo của anh Mười đối với các mặt phong trào. Tình hình chỉ viết những điểm chủ yếu và ngắn, nhưng phần phương hướng nhiệm vụ, biện pháp thực hiện viết khá cụ thể. Anh Miên và anh em chúng tôi lấy nó làm kim chỉ nam cho hoạt động quân sự của mình. Các đồng chí chỉ huy tỉnh đội, thành đội cũng rất tâm đắc vận dụng vào hoàn cảnh thực tế của địa phương mình.
Đôi lúc sang làm việc, tôi gặp anh đọc sách. Có lần thấy anh đọc quyển sách quân sự nước ngoài, anh hỏi tôi: "Cậu Sáng có hiểu các chiến thuật "nhất điểm lưỡng diện; đầu nhọn đuôi dài; bao vây vu hồi" là thế nào không? Trong hậu địch thì "chiến đấu ngoại tuyến trong nội tuyến" là thế nào? Mình theo dõi một đơn vị của Trung đoàn 50 vừa rồi thực hiện đánh như vậy, làm thằng địch bất ngờ và ta thắng!".
Tôi trả lời hơi vòng vo làm anh khó hiểu. Tôi liền vẽ lên giấy, anh thích thú về lời đáp của tôi.
Lần khác, tôi và đồng chí Lê Nghĩa, Trưởng ban Tác chiến khu đi họp, gặp anh Mười ở sân nhà dân, đột nhiên anh hỏi: "Các cậu có nhớ dân tộc ta có mấy bản tuyên ngôn độc lập không?". Tôi trả lời: Sau khi thắng quân Tống xâm lược, Lý Thường Kiệt có bài thơ tuyên ngôn độc lập "Nam quốc sơn hà Nam đế cư...". Đến thời nhà Lê thắng quân Minh, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo cũng là một bản tuyên ngôn độc lập. Đến thế kỷ này, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa". Nghe tôi đáp, anh tỏ vẻ ưng ý.
Thời kỳ anh Mười mới sang Tả Ngạn, địch không thể càn quét theo lối cũ: 1 tiểu đội ngụy cũng chia làm ba mũi hô xung phong vào một làng; những trận địch "quây đêm, quét sớm", 11 - 12 giờ đêm hành quân bí mật đến một điểm nào đó rồi sáng sớm tinh mơ nổ súng..., mà phải tổ chức những trận càn quét lớn, dài ngày, càn đi càn lại; bao vây lớn kết hợp bao vây nhỏ, rồi cất vó quân ta. Thời kỳ này có thể coi là đỉnh cao của kế hoạch bình định chiếm đất hoặc phá căn cứ du kích, mà địch tiến hành trên địa bàn châu thổ sông Hồng.
Thời kỳ này, chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân ở Tả Ngạn phát triển mạnh mẽ và khá đều. Bộ Tổng tư lệnh lại đưa quả đấm thép Đại đoàn 320 vào địch hậu, phối hợp với các lực lượng bộ đội địa phương, dân quân du kích là chủ lực khu. Do đó, các tỉnh nam, bắc sông Luộc đều có nhưng khu căn cứ du kích vững chắc. Nhưng ba bề bốn bên đều có đồn địch, hình thái tác chiến trong lòng địch cài răng lược, chiến đấu không có tiền tuyến và cũng chẳng có hậu phương. Địch vẫn có thể càn quét lúc nào cũng được, nhưng quy mô tổ chức, sử dụng lực lượng, nhất là càn quét vào các khu du kích và căn cứ du kích, lực lượng địch huy động phải lớn và mức độ tổn thất của địch cũng khá lớn. Địch không thể có đủ lực lượng để bao vây cả một khu, một vùng quá rộng. Do đó, có những đoạn trống, vòng vây địch không khép kín, địch phải dùng pháo binh cỡ lớn bắn cầm canh để ngăn chặn. Hoặc chúng bao vây một khu vục nhỏ rồi bất ngờ lật cánh sang càn khu khác,v.v..
Khó nhất là phán đoán hành động của địch. Địch thì rất xảo quyệt. Có khi chúng kéo quân từ Hà Nội, Hải Phòng về tập kết ở thị trấn Ninh Giang (Hải Dương), rồi từ đây, dựa vào phương tiện vận tải thủy, bộ, chúng có thể đột ngột kéo lên phía bắc sông Luộc, càn Hưng Yên, Hải Dương, hoặc xuống phía nam sông Luộc là Thái Bình, Kiến An. Ta căn cứ vào sự nắm bắt tình hình của tình báo các địa phương, kết hợp với sự nhận định, phán đoán rồi từ đó mà khẳng định địch sẽ càn quét ở đâu, hướng nào là trọng điểm, hướng nào là mập mờ nghi binh.
Những lúc này, anh Mười cùng các đồng chí trong Bộ Tư lệnh khu gọi anh em tham mưu, kể cả trợ lý tác chiến, đến báo cáo tình hình cụ thể, dân chủ đề xuất ý kiến phán đoán của mình. Cuối cùng, anh Mười phân tích, kết luận và khẳng định về ý đồ của địch.
Tôi nhớ khoảng cuối năm 1952, địch dùng lực lượng khá lớn, 3 - 4 binh đoàn cơ động, phần lớn là quân Âu - Phi, càn khu vực nam và bắc huyện Thanh Hà (Hải Dương). Địch dùng từ 1 đến 2 binh đoàn càn quét một làng, một xóm, rồi chốt lại ở đó qua đêm. Hằng ngày địch lùng sục, dẫm nát đường sá, đào bới vườn tược, tìm bắt người của ta. Ở đây có con sông Ruột Lợn bao quanh huyện. Chiều chiều, thủy triều dâng lên, nước con sông Ruột Lợn dâng theo. Mọi lần bộ đội du kích thường xuống hầm bí mật để đến đêm lên đánh địch. Nhưng lần này địch có quá nhiều quân ở một thôn, một xóm, dù có lên được ta cũng khó hoạt động, ở lại hầm suốt đêm thì hầm ngập nước và không ai tiếp tế vì dân bị địch dồn đi tập trung. Trước thực tế đầy khó khăn đó, anh Mười xem xét rồi chỉ thị cho địa phương kiên quyết cho rút hết cán bộ cơ sở sang bên kia sông, tạm thời chưa hoạt động, chỉ để một vài cán bộ cơ sở nhiều tuổi, già yếu ở lại trà trộn tập trung với dân để nắm tình hình. Nhờ tính quyết đoán rất nhanh, rất trúng của anh Mười, mà anh em chúng tôi bớt ám ảnh về chuyện "địch đến, không đánh mà lại rút ra ngoài". Thực tế cho thấy đây là một quyết định đúng đắn, táo bạo, tránh được tổn thất, tạm lùi để rồi tiến.
Sau này, chúng tôi được biết đấy là một kiểu càn quét mà Pháp rút kinh nghiệm qua một số cuộc chiến tranh ở Philíppin, Malaixia, Trung Quốc, để vận dụng vào Việt Nam. Anh em chúng tôi gọi là kiểu càn "bắt cá ngóc". Cuộc càn này địch lấy tên là "Rắn độc" (Vipêrin).
Có lần vào một tối mùa đông, chúng tôi được tin địch sẽ càn vào khu vực mà Bộ Tư lệnh khu đang ở. Anh em được lệnh ăn cơm sớm để chuyển địa điểm, đánh càn. Đêm tối mịt mùng, anh Khai, anh Miên và anh em cơ quan ra xếp hàng một ở đầu xóm. Tôi vào chỗ anh Mười. Anh đã sẵn sàng chờ ở sân, khoác tay nải cùng đồng chí bảo vệ đi ngay. Tôi lại nhanh chân ra chỗ xếp hàng, đếm lại thấy thiếu 3-4 người. Tôi vội quay lại để thúc giục. Hạn chế dùng đèn pin tôi luồn từ chái nhà nọ sang nhà kia, theo lối tắt tìm anh em, khiến các anh phải đứng chờ tới 15 - 20 phút.
Chúng tôi vừa ra đến chỗ xếp hàng quân, khoảng 12 người, thì thấy anh Mười nói khẽ nhưng đủ nghe: "Cậu để mình chỉ huy". Nói xong, anh đi lên phía trước khẽ hô: "Đứng nghiêm! Bước đi, bước".
Tôi đi cuối cùng thấy mấy tiếng cười khúc khích. Có tiếng hỏi: - Bố nào lại hô thế? Làm gì có khẩu lệnh: "Đứng nghiêm! Bước đi, bước". Và có tiếng trả lời: "Khẽ chứ, cụ Ngạn hô đấy!". Hiểu ra, anh em lại khúc khích cười.
Kỷ niệm về anh Mười nhiều khi sâu đậm đến lớn lao, nhưng có khi chỉ đơn giản thế thôi. Nói chung, chúng tôi cảm nhận được lúc nào anh cũng dân chủ, cởi mở, rộng lượng, không cáu gắt với ai, anh em rất dễ gần anh.
Tới địa điểm mới, anh Mười cùng các anh trong Bộ Tư lệnh và cơ quan lại thâu đêm suốt sáng theo dõi cuộc càn mới của địch.
Anh Mười rất quan tâm xây dựng cơ sở nhân dân. Anh thường nhấn mạnh: "Cơ sở, cơ sở và cơ sở", vì mọi việc đều diễn ra từ cơ sở.
Trong một cuộc họp với các tỉnh, thành đội bàn về chủ trương tổng phá tề, các địa phương đều ủng hộ và chấp hành. Trong cuộc tổng phá tề ta sẽ phá vỡ hệ thống hội tề, nhưng trong đó lại có những nhân mối đáng tin cậy của ta. Do đó, anh Mười yêu cầu cần làm rõ tư tưởng chỉ đạo không diệt tề, phá tề ẩu. Trong bản chỉ thị phá tề có câu: "Tổng phá tề sẽ tiêu diệt một số tháp canh" và thêm mười chữ: "khi có điều kiện và phải được trên cho phép". Cái ý này là của anh Mười. Chỉ thêm mười chữ thôi nhưng duy trì được nhân mối, giữ được cơ sở và phong trào trong lòng địch. Anh Miên nói với tôi: "Cái ý ấy của cụ Ngạn rất quan trọng, nếu không thì nhân tổng phá tề sẽ xảy ra chuyện báo ân báo oán, anh em phá sạch cơ sở nhân mối".
Trừ khi đột xuất họp bất thường, còn hằng tháng Bộ Tư lệnh khu đều tổ chức họp với các đồng chí Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch ủy ban, Tỉnh đội, Thành đội trưởng. Tôi thay mặt cơ quan tham mưu khu dự họp. Mỗi lần họp hai, ba ngày đêm. Khi có tài liệu cần nghiên cứu thì kéo dài năm, sáu ngày đêm liền. Đêm thắp đèn dầu hoặc nến. Họp không có bồi dưỡng, chỉ có nước chè xanh. Ai hút thuốc lá thì tự túc. Không bao giờ nghỉ họp trước 12 giờ đêm. Có điều may là các anh tuy đã hơi đứng tuổi nhưng khỏe, chả ai phải đeo kính lão. Tài liệu đánh máy bằng giấy bản, đọc rồi cũng quen. Mỗi người "gia tài" chỉ có một cái tay nải lép kẹp khoác vai, rất nhẹ.
Anh Mười hơn tuổi chúng tôi nhưng làm việc rất say sưa, không biết mệt mỏi, nên có sức động viên, cổ vũ chúng tôi. Có lần họp, đồng chí nào đó hút thuốc lá thơm Côtáp. Anh Mười liền hỏi: "Cậu nào đốt nhà dân đây?". Chúng tôi đang mải nghe anh truyền đạt văn bản, bỗng nghe một câu hỏi lạc đề, chưa hiểu anh nói gì. Anh vừa cười vừa nhắc lại: "Cậu nào "đốt nhà dân" thì dập ngay đi!". Chúng tôi mới hiểu là anh nhắc khéo về hút thuốc lá thơm đắt tiền, lãng phí.
Họp xong, chúng tôi phân tán về nhà dân ăn cơm, chỉ có rau, mắm, có sao ăn vậy, rất kham khổ. Các cuộc họp, có khi kéo dài đến nửa đêm, mệt mỏi, nhưng anh Mười vẫn tỉnh táo, sáng suốt phát biểu hoặc theo dõi ý kiến anh em, nắm mắt đầy đủ. Ai nói chệch là anh uốn nắn có lý lẽ, dễ tiếp thu.
Chúng tôi, những người chấp bút về văn bản quân sự bảo nhau: Cụ phát biểu là cứ ghi cho đủ. Vừa ghi vừa sắp xếp, sửa lời văn theo ý mình thì không kịp và dễ bỏ sót những ý hay của cụ. Không may bỏ sót thì khi thông qua văn bản, anh Miên hoặc cụ liền góp ý bổ sung.
Khi anh Mười kết luận cuộc họp thì ai cũng phải chịu, vì anh kết luận rõ ràng, ngắn gọn, cụ thể. Các ý kiến tranh luận gay cấn đều được anh giải đáp, chỉ ra cái sai, chấp nhận cái đúng, lại chỉ rõ cách làm thế nào cho phải, cho trúng nhằm giải quyết vấn đề... Ai nấy đều hài lòng và nhất trí về kết luận, về biện pháp cụ thể mà anh đưa ra. Tôi và các anh em tỉnh đội, thành đội vốn hay đùa, nói chuyện vặt, nhưng anh Mười chủ trì cuộc họp thì ai nấy đều nghiêm túc lắng nghe. Anh chủ tâm mở rộng dân chủ, lắng nghe mọi ý kiến của anh em, chỉ định từng người phát biểu. Hồi ấy có người "bạo hổ bằng hà" là anh Vũ Thái, Bí thư Tỉnh ủy Hưng Yên, rất hăng hái phát biểu, nói thẳng, không nể ai, anh Mười vẫn lắng nghe, rồi chọn ra ý đúng, giải thích những ý không đúng.
Đêm ấy họp đến 1-2 giờ khuya, anh Thái ngồi bên tôi và anh Chất (Phác) - Tỉnh đội trưởng Hải Dương. Thấy anh Thái ngủ gật, anh Chất nảy ý đùa vui. Anh khẽ hích vào sườn anh Thái cho tỉnh, rồi khẽ nói: "Cụ Ngạn phê bình Hưng Yên giết tề ẩu đấy". Thái mở choàng mắt. Tôi hích thêm và bảo: "Phát đi!". Thế là Vũ Thái giơ tay nói lia lịa. Anh nhận Hưng Yên có giết nhưng không ẩu, không ẩu!
Anh Mười đã biết tính anh Thái, không vội cắt ngang, để anh nói xong rồi mới tủm tỉm cười: "Ông Thái ngủ gật, tỉnh giấc chưa? Hội nghị đang bàn về đấu tranh kinh tế, ủng hộ tiền Việt Nam, tẩy chay tiền Đông Dương, sao ông lại chen vào chuyện giết ẩu?". Anh Thái nhận ra cái sai của mình, ngồi ngay như cán tàn. Mọi người trong cuộc họp bấm bụng mà cười. Tan họp ra về, anh Thái chửi tục tôi và anh Chất. Tôi bảo: "Tại bố ngủ gật, nghe tai nọ ra tai kia, nó thế!".
Anh Vũ Thái vào Đảng sớm hơn anh Mười, có phần chủ quan, nói rất tự tin, nói lia lịa... Nhưng khi anh Mười truyền đạt nghị quyết hay kết luận hội nghị, anh Thái vẫn chăm chú lắng nghe, ghi đầy đủ để về làm cho đúng.
Bọn chúng tôi trẻ tuổi, mỗi khi họp thường có cái thú quan sát và bình phẩm từng đồng chí cán bộ dự họp. Cứ thấy anh Mười khi phát biểu đang ngồi xếp chân bằng tròn mà từ từ ngồi nhổm dậy, rồi ngồi bó gối, là chúng tôi liếc nhìn nhau "đánh tín hiệu coi chừng". Nếu anh phát biểu ý kiến một lúc rồi từ từ xoay sang tư thế hai đầu gối quỳ xuống chiếu, hơi khom khom lưng, giơ tay lên băm băm vào không khí, thì chúng tôi lại bấm đùi nhau, khúc khích ngầm: "Chất chưa? Mở mắt chưa? Tỉnh ngủ chưa?". Không khí cuộc họp lúc này tưởng như căng thẳng nhưng vẫn dân chủ, vui và có phần thoải mái, vì ý kiến của anh càng nghe càng sáng sủa, chính xác, giải tỏa được thắc mắc, đi vào lòng người.
Bằng tác phong giản dị, cách sống chân thực, chan hòa, cởi mở, anh đã tạo cho tôi, cho các anh Lê Nghĩa - Trưởng ban Tác chiến và Hoàng Thế - Phó ban sự hưng phấn làm việc, khiến chúng tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ ngay cả trong những giờ phút khó khăn nhất.
Sau này, hằng năm cứ đến tháng 5, anh em cơ quan tham mưu Mặt trận 5, Khu Tả Ngạn, thường họp mặt để ôn lại những kỷ niệm sâu đậm thời kháng chiến. Song chưa dám mời anh Mười, vì ngại anh đang bận nhiều việc lớn.
Tháng 5-1995, tôi mạnh dạn biên thư đến anh, lúc đó anh đang là Tổng Bí thư Đảng. Tôi chỉ đề nghị anh viết cho chúng tôi vài lời để động viên anh em khi họp mặt. Nhận được thư, mặc dù rất bận anh vẫn đến dự họp với chúng tôi tại gia đình đồng chí Hoàng Thế ở phường Bách Khoa. Anh em chúng tôi rất bất ngờ và rất phấn khởi đón tiếp anh. Anh hồ hởi, ân cần hỏi thăm hoàn cảnh gia đình từng người.
Sau cuộc họp vui và đầy tình cảm, bắt tay chúng tôi ra về, anh mới nói: "Hôm nay là ngày giỗ đầu nhà tôi, định làm buổi sáng, nhưng tôi đến đây họp mặt với các cậu, nên hoãn giỗ lại đến chiều".
Trong cuộc gặp mặt này còn có cháu gái Dương Thị Độ - Trung tá, bác sĩ, con gái anh Dương Hữu Miên. Mỗi lần gặp tôi, khi tôi còn đang công tác ở Quân khu III, anh Mười đều nhắc tôi phải theo dõi việc thực hiện chính sách với anh Miên và gia đình. Nay gặp con anh ở đây, anh Mười tỏ ý hài lòng. Các cháu con anh Miên cũng rất biết ơn bác Đỗ Mười về tấm lòng ưu ái, thân thương mà bác dành cho gia đình mình.
Trong cuộc họp này, anh Mười cũng không quên hỏi thăm đồng chí Nguyễn Văn Chức, nguyên Đại đội trưởng Đại đội Lê Lợi, bộ đội địa phương tỉnh Thái Bình. Đơn vị đồng chí Chức đã chiến đấu dũng cảm bảo vệ anh Mười ở làng Chỉ Thiện (Thái Ninh). Cách đây gần một năm, đồng chí Chức mất, anh Mười có gửi vòng hoa đến viếng.
Cách nhà đồng chí Hoàng Thế độ gần 100 mét có đồn công an. Đến 12 giờ trưa, khi anh Mười ra về, các đồng chí công an mới biết và trách anh Hoàng Thế không cho phường biết trước để bảo vệ. Chúng tôi nói vui với nhau: "Chúng ta được sống lại với một tác phong thời địch hậu "đến không ai biết, đi không ai hay", đúng theo tác phong Bác Hồ". Khi anh Mười ra về, chúng tôi bảo nhau: "Đã mấy chục năm, nay lại cùng nguyên Chính ủy ngồi trên chiếc chiếu, xếp chân bằng tròn".
Anh Mười còn để lại cho gia đình tôi một kỷ niệm đẹp. Tôi nhớ, đêm ấy ở thôn Mua Đồng (Hải Dương), anh Đỗ Mười làm chủ hôn, anh Nguyễn Khai tuyên bố lý do, anh Đặng Tính thổi kèn "bắp ngô" (ácmônica), anh Hoàng Thế thổi "kèn tây" bằng kẽ tay như "hề xiếc" rất vui trong buổi lễ thành hôn của vợ chồng chúng tôi, tổ chức theo đời sống mới 100%, không rượu, không bánh kẹo, không thuốc lá, chỉ có nước chè tươi do Tỉnh hội Phụ nữ Hải Dương cho.
Chúng tôi nhớ suốt đời không bao giờ quên tấm lòng và tình đồng chí, đồng đội này. Có thể nói, anh Mười là người đã chắp cánh, cổ vũ động viên hai chúng tôi trong suốt chặng đường dài công tác, chiến đấu từ ngày ấy cho đến nay.
Nhớ những kỷ niệm về anh Mười, tôi cũng nhớ mấy kỷ niệm về anh Vũ Trọng Nam, thư ký của anh Mười. Anh Nam cần mẫn đêm ngày làm việc. Nhiều đêm thức cùng ngọn nến hoặc ngọn đèn con, ghi chép lại những điều cần thiết hoặc làm báo cáo. Anh làm việc rạc cả người, ăn, ở nhà dân, không có gì bồi dưỡng. Biết nhau, thương nhau nhưng "lực bất tòng tâm" chẳng có gì giúp nhau. Chúng tôi sống chết với dân, "bốn cùng" với dân: cùng ăn, cùng ở, cùng làm, cùng chiến đấu. Chống càn, luồn càn về, ai còn, ai mất, chuyện như cơm bữa. Nhiều lần chúng tôi sang chỗ làm việc của Chính ủy, thấy hai thầy trò say sưa thông qua báo cáo, thì chúng tôi lại bấm nhau rút lui. Khi tôi lên dự hội nghị ở Bộ tổng Tham mưu, có mấy đồng chí quen thân bảo tôi: "Rất thích đọc báo cáo của Khu Tả Ngạn, vì nó phản ánh súc tích, phong phú tình hình địch hậu; với phong cách nói thẳng, nói thật, nó phân tích, lý giải, đề xuất những giải pháp rất thiết thực, đáp ứng đòi hỏi của cuộc sống và chiến đấu trong địch hậu".
Rồi hòa bình lập lại, tôi được phân công làm Cục trưởng Cục Xây dựng kinh tế Quân khu III. Tôi lại được làm việc trực tiếp với anh Mười ở cơ quan Chính phủ hoặc ở nơi anh nghỉ. Với cương vị là Thủ tướng, anh đến dự cuộc họp tổng kết việc Quân khu III đưa quân vào cảng làm kinh tế ở khâu vận tải, bốc xếp, tại tất cả các cầu của Sáu Kho.
Cũng vẫn tác phong như thời chiến, trên diễn đàn, anh nói thẳng, nói thật, bàn tay băm vào không khí. Từ trên bục, anh xuống hàng ghế đại biểu, nắm vai một cán bộ lãnh đạo sở nói: "Cậu trả lời tôi, trả lời cho anh chị em công nhân cảng về một vạn cái cối (cuộn) tơ nhập khẩu về để dệt vải láng bây giờ ở đâu? Ở đâu?".
Cả hội trường, anh em cán bộ, công nhân là tổ trưởng, là thủ kho ở cảng rất thích thú và tỏ ra rất đồng tình với anh. Rồi anh đến thẳng chỗ tôi đặt tay lên vai tôi lắc lắc: "Vất vả nhất là các cậu này!". Mọi người đều hiểu ý anh là: đưa bộ đội vào cảng làm kinh tế, bộ đội lao động rất vất vả nhưng lại là những người khác hưởng thụ.
Nói về Khu Tả Ngạn sông Hồng với bao kỷ niệm gian khổ nhưng cũng rất sâu nặng tình đồng chí, đồng đội, chúng tôi không bao giờ quên các anh Nguyễn Khai, Đặng Tính, Dương Hữu Miên và nhiều anh khác đã về cõi vĩnh hằng, và cũng không bao giờ quên những kỷ niệm về anh Đỗ Mười, vị Chính ủy, người đồng đội rất thân thiết của chúng tôi!
Thái Bình, ngày đông 1998
––––––––––––––––––
* Nguyên Tham mưu trưởng Mặt trận 5, Tham mưu phó Khu Tả Ngạn.
NHỚ ĐỒNG CHÍ BÍ THƯ KHU ỦY TẢ NGẠN ĐỖ MƯỜI NGUYỄN TIỆP*
Từ cuối năm 1950, tình hình địa bàn tả ngạn sông Hồng còn rất khó khăn do địch chiếm hoàn toàn khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Tại cuộc họp bất thường, Ban Thường vụ Liên khu ủy III đã có nghị quyết về việc thành lập Ban Cán sự Tả Ngạn.
Đồng chí Đỗ Mười được cử làm Bí thư Ban Cán sự. Nhiệm vụ của Ban Cán sự là thay mặt Liên khu ủy chỉ đạo trực tiếp các tỉnh, liên hệ với Trung ương để nhận chỉ thị và sự giúp đỡ của Trung ương Ban Cán sự có trách nhiệm thi hành mọi chủ trương, chính sách của Liên khu ủy...
Việc Liên khu ủy III quyết định thành lập Ban Cán sự Tả Ngạn, đánh dấu một bước ngoặt mới trong sự lãnh đạo của Đảng ở Khu Tả Ngạn sông Hồng, là bước chuẩn bị cơ sở cho việc thành lập khu hành chính, quân sự ở tả ngạn, đồng thời chứng tỏ phong trào kháng chiến ở các tỉnh tả ngạn phát triển đến giai đoạn cần có sự lãnh đạo trực tiếp, nhanh chóng, cụ thể và hiệu quả hơn trước những âm mưu, thủ đoạn ngày càng nham hiểm của kẻ thù trên mảnh đất này.
Ngày 24-5-1952, Trung ương Đảng ra nghị quyết thành lập Khu Tả Ngạn sông Hồng trực thuộc Trung ương Đảng, Chính phủ và Bộ Tổng tư lệnh. Ban Bí thư bổ nhiệm đồng chí Đỗ Mười làm Bí thư Khu ủy, Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính khu, kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh khu.
Tôi biết đồng chí Đỗ Mười trong suốt thời kỳ hoạt động ở Khu Tả Ngạn. Với trách nhiệm là Bí thư Khu ủy, có thể nói đồng chí là nhà lãnh đạo có nhiều cá tính mà ai có dịp quan hệ, tiếp xúc cũng đều nhận thấy. Đồng chí rất kiên cường, nhiệt tình, sôi nổi, chịu khó đi sâu, đi sát nắm chắc tình hình của chiến trường để phát hiện những diễn biến mới, từ đó đề nghị Khu ủy và Bộ Tư lệnh khu thực hiện.
Ngay từ những ngày đầu về nhận nhiệm vụ Bí thư Khu ủy Tả Ngạn, việc đầu tiên của đồng chí và khu ủy là sắp xếp bộ máy và đội ngũ cán bộ, nhân viên bảo đảm các ban, ngành của Đảng, chính, quân, dân đi vào nề nếp; vừa bắt tay vào củng cố vùng giải phóng, khôi phục và đẩy mạnh sản xuất, nhằm đẩy mạnh cuộc chiến tranh du kích ở Tả Ngạn, vừa tích cực tăng cường công tác chỉ đạo đấu tranh sau lưng địch ở đồng bằng Bắc Bộ.
Tuy đồng chí Đỗ Mười là nhà lãnh đạo chung của Khu ủy Tả Ngạn, nhưng đồng chí đã dành rất nhiều thời gian để lãnh đạo về mặt quân sự. Đồng chí nắm rất chắc phương châm tác chiến đánh du kích như là đánh chắc thắng, diệt được nhiều địch nhưng phải bảo toàn lực lượng của ta, đánh liên tục, đánh nhỏ ăn chắc, đánh tê liệt giao thông của địch. Khi ta mở chiến dịch Điện Biên Phủ, thực hiện chỉ thị của Trung ương Đảng và Bộ Tổng tư lệnh, đồng chí Đỗ Mười đã ra một mệnh lệnh nổi tiếng cho các địa phương và đơn vị trong Khu Tả Ngạn và từng chiến trường, từng địa phương, từng đơn vị trong khu: "Căng địch ra, kéo lực lượng cơ động của địch về giam chân chúng lại, không cho chúng đưa nhiều lực lượng của Tả Ngạn đi các chiến trường khác".
Chấp hành mệnh lệnh đó, bộ đội Kiến An đã đánh sân bay Cát Bi, đốt cháy 59 máy bay địch, Trung đoàn 42 và Trung đoàn 50 cùng bộ đội địa phương các tỉnh trong khu liên tục tổng công kích đường số 5 và tuyến đường sắt Hà Nội - Hải Phòng làm ngừng trệ việc vận chuyển binh lính và phương tiện chiến tranh của địch hàng tuần lễ. Tổng công kích đường 5 có ý nghĩa chiến lược: tiêu diệt sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, khai thông tuyến đường sông từ bắc sông Luộc đến nam sông Đường, cầm chân binh đoàn chiến lược số 5 và số 8 của quân đội Pháp, làm cho chúng không vận chuyển được phương tiện chiến tranh từ Hải Phòng đi Hà Nội để lên ứng cứu quân Pháp ở Điện Biên Phủ.
Tại các cuộc gặp với cán bộ hay khi phát biểu ý kiến trong hội nghị, ai cũng nhận thấy nhiệt tình cách mạng của đồng chí Đỗ Mười. Đồng chí nói rất sôi nổi, rất hăng say làm cho người nghe thấy hừng hực khí thế tiến công, phải khắc phục khó khăn, sửa chữa khuyết điểm, hoàn thành thật tốt nhiệm vụ. Đôi khi đồng chí nói gay gắt nhưng tất cả anh em tiếp thu thoải mái, thực hiện nghiêm túc.
Đồng chí rất nhạy cảm chính trị. Trước một năm, đồng chí đã chuẩn bị cho chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954. Đồng chí giao nhiệm vụ cho Trung đoàn 42, đơn vị chủ lực của Khu Tả Ngạn đi nghiên cứu thực địa để dùng sức mạnh tiêu diệt vị trí ở Khuể, là chi khu do tiểu đoàn Pháp chiếm giữ cùng với đại đội pháo 105 ly, lại phòng ngự trong công sự kiên cố. Sau khi đi nghiên cứu kỹ tình hình, về gặp đồng chí Đỗ Mười và đồng chí Khai (Phó Bí thư Khu ủy) tôi báo cáo tình hình: Đây là một căn cứ chi khu rất mạnh, có công sự kiên cố, Trung đoàn 42 khó có thể đánh tiêu diệt được và đề nghị các đồng chí cân nhắc. Đồng chí Đỗ Mười trao đổi với đồng chí Khai và đi đến kết luận là thôi, không dùng bộ đội chủ lực đánh địch và thực hiện phương châm "vào nhỏ ra to", chỉ dùng bộ đội chủ lực đánh mở đường để bộ phận tập kích vào đánh sân bay Cát Bi.
Có thể thấy do đồng chí Đỗ Mười đã linh hoạt sử dụng lực lượng, không cần dùng lực lượng chủ lực vẫn đánh được địch. Phương châm của Khu ủy, đứng đầu là đồng chí Đỗ Mười, lúc đó là bí mật, phân tán mà giành được thắng lợi rất lớn.
Đồng chí Đỗ Mười là người có tinh thần rất kiên định và lối sống rất trung thực. Trong hoàn cảnh rất ác liệt của Khu Tả Ngạn, ngày đêm địch hoành hành trắng trợn, cái sống và cái chết gần nhau trong gang tấc, có cán bộ đã dao động bỏ đất, bỏ dân chạy về vùng tự do, đồng chí Đỗ Mười đã cùng Ban Thường vụ Khu ủy, các đồng chí trong Bộ Tư lệnh khu kiên trì bám đất bám dân suốt cuộc kháng chiến. Một hình ảnh in đậm trong tâm trí tôi, khi được tin đồng chí bị cảm thương hàn, tôi đến thăm, đồng chí ngồi dậy nói chuyện với phong cách hết sức sôi nổi, nhiệt tình, với ý chí tiến công địch. Đồng chí trăn trở với câu hỏi làm sao để gây thiệt hại lớn cho địch và bảo toàn, phát triển lực lượng của ta? Hình ảnh đồng chí vóc dáng cao to nhưng bị cảm thương hàn nặng, sức khỏe sút rất nhanh, trông rất thương tâm nhưng nghĩ đến công việc vẫn sôi nổi, tinh thần cách mạng tiến công rất cao, đã gây cho tôi và những cán bộ, chiến sĩ ấn tượng không phai mờ về một chiến sĩ cộng sản kiên cường, vì sự nghiệp độc lập dân tộc và giải phóng Tổ quốc, đi lên chủ nghĩa xã hội.
––––––––––––––––––––
* Nguyên Trung đoàn trưởng Trung đoàn 50 - Khu Tả Ngạn
CHI VIỆN CHO CHIẾN TRƯỜNG MIỀN NAM NGÂN TƯỜNG LÂN *
Chi viện cho miền Nam là công việc hết sức quan trọng, yêu cầu bức thiết của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân là phải dồn sức chi viện từ hậu phương lớn cho tiền tuyến lớn.
Lúc đó, đồng chí Phạm Văn Đồng là Chủ tịch Hội đồng Chi viện tiền tuyến; đồng chí Đỗ Mười là Phó Chủ tịch Thường trực; đồng chí Đinh Đức Thiện phụ trách hậu cần; đồng chí Phan Trọng Tuệ phụ trách giao thông; đồng chí Đồng Sỹ Nguyên phụ trách Đoàn 559 (Binh đoàn Trường Sơn). Còn tôi lúc đó là Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải, được đồng chí Đỗ Mười phân công một số việc.
Khẩu hiệu bấy giờ là "Tất cả vì miền Nam ruột thịt". Thanh niên, sinh viên hăng hái lên đường làm nghĩa vụ quân sự, số lượng rất đông.
Chúng ta đã "xẻ dọc Trường Sơn" và "đục thủng Trường Sơn" từ đông sang tây, để đưa người, xăng dầu, vũ khí, khí tài, lương thực chi viện cho tiền tuyến. Với cương vị là Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Chi viện tiền tuyến, đồng chí Đỗ Mười đã trực tiếp chỉ đạo đồng chí Phan Tú Quang trong việc lắp đặt đường ống vận chuyển xăng dầu từ miền Bắc vào miền Nam. Đợt 1, lắp ống dã chiến vào đến Quảng Bình. Đợt 2, đưa ống vào Trường Sơn để lực lượng của đồng chí Đồng Sĩ Nguyên lắp tiếp.
Trong thời gian lắp ống dã chiến, bộ đội xăng dầu đi rải ống, dân cũng tham gia đào đường để đặt ống, lắp đặt và tham gia vận hành với bộ đội. Sau đó, đường ống xăng dầu qua xã nào xã đó phải bảo vệ. Từ đường ống dã chiến để chống chiến tranh phá hoại, sau này ta lắp thành mạng lưới đường ống chính thức rất quy mô, từ Lạng Sơn qua Đông Trường Sơn đến tỉnh Bình Phước. Nhờ có đường ống xăng dầu thông suốt, ta mới có chiến dịch Buôn Ma Thuột, mới đẩy nhanh công tác chi viện và đưa chiến dịch Hồ Chí Minh lên giai đoạn thần tốc.
Về chi viện lương thực, lúc đó Khu 5 rất khó khăn, thiếu gạo trầm trọng, dân và bộ đội bị đói. Ta có hàng trăm ô tô tải chở gạo nhưng bị máy bay địch ném bom, bị cháy dọc đường nhiều.
Ta đã dùng hàng vạn xe đạp thồ để mở chiến dịch tiếp gạo cho miền Nam. Khi xe về, ta giao xe cho các xã để trang bị cho dân công chuyển gạo cho chiến trường. Khi hoàn thành chiến dịch, dân công được thưởng xe đạp đó. Như vậy, hàng vạn xe là hàng vạn dân công tham gia chở gạo. Đoàn người nối đuôi nhau đi không mệt mỏi. Khi bom Mỹ ném xuống họ tản ra, nấp xuống hầm trú ẩn, sau đó lại lên đường đi suốt ngày đêm, tiếp gạo cho chiến trường.
Mác Namara, nguyên Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ phải thốt lên: "Không đánh được đâu, không bom đạn nào đánh được "đàn kiến cộng sản". Khi đánh thì họ tản ra, sau lại chụm vào nhau, lại đi".
Có lần đồng chí Đỗ Mười đi xe bọc thép của quân đội vào tận Đồng Hới (Quảng Bình) để kiểm tra việc vận chuyển lương thực và vũ khí qua đường bộ, đường biển. Khi đến Quảng Bình, ngoài việc kiểm tra vận chuyển lương thực bằng đường bộ, đồng chí còn kiểm tra việc tiếp tế gạo cho Khu 5 bằng cách cho gạo vào bao tải bọc nilông rồi thả xuống biển để sóng đánh vào bờ, dân ai nhặt cũng được.
*
* *
Mỹ gây ra sự kiện vịnh Bắc Bộ để lấy cớ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc. Thực ra ta cũng đã dự đoán trước nên khi xảy ra sự kiện vịnh Bắc Bộ ta vẫn rất vững vàng.
Để làm thất bại chiến tranh phá hoại của Mỹ, ta cần có vũ khí hiện đại, nhất là tên lửa, các loại vũ khí này chỉ Liên Xô mới có. Liên Xô sẵn sàng chuyển các loại vũ khí này cho ta bằng đường sắt qua lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng lúc này giữa hai nước Trung Quốc và Liên Xô còn có một bất hòa nên Trung Quốc không đồng ý để Liên Xô chuyển vũ khí qua lãnh thổ Trung Quốc. Ta phải cử người sang thương lượng với Trung Quốc họ mới đồng ý để Liên Xô chuyển vũ khí bằng đường sắt qua lãnh thổ Trung Quốc đến biên giới Trung - Việt. Chủ yếu là các loại vũ khí Trung Quốc không có. Nhờ đó, ta có điều kiện hạ được rất nhiều máy bay, trong đó có nhiều máy bay B52. Dân tộc ta hết sức tự hào về trận "Điện Biên Phủ trên không" ở Hà Nội.
Trung Quốc cũng dành cho ta sự giúp đỡ to lớn như chi viện lương thực, vũ khí, quân trang, quân dụng và cả tiền bạc nữa.
Mỹ phong tỏa cảng Hải Phòng, hòng ngăn chặn ta nhập hàng viện trợ theo đường biển, buộc ta chỉ nhập theo đường bộ, qua biên giới Lạng Sơn.
Tại cảng Hải Phòng, đồng chí Đỗ Mười ra lệnh cho sơ tán hàng viện trợ dọc theo đường 5 và sơ tán về Chí Linh, Đông Triều; đồng thời thương lượng với một số tàu của các nước lớn neo đậu lại cảng một thời gian vì địch không dám ném bom vào tàu quốc tế. Trong khi đó ta chuyển hàng lên "cảng cạn" Lạng Sơn. Nói chung, "cảng cạn" Lạng Sơn sau này vẫn an toàn, không có trận bom nào ném trúng điểm vận chuyển hàng và nơi để hàng. Để phá thủy lôi, ta tổ chức một bộ phận nghiên cứu bao gồm: Tổng cục Kỹ thuật - Bộ Quốc phòng, Quân khu Tả Ngạn, Hữu Ngạn và Tổng cục Đường biển, lực lượng hải quân, một số nhà khoa học để nghiên cứu thiết bị và phương tiện phá thủy lôi. Kết quả các thiết bị chế tạo của ta rất có hiệu quả. Mặc dù địch thả thuỷ lôi rất dày đặc trên sông, trên biển nhưng thủy lôi thả đến đâu, ta phá đến đấy.
Lúc đó đồng chí Lê Duẩn là Bí thư Thứ nhất Bộ Chính trị. Đồng chí Lê Duẩn đã đưa ra những khẩu hiệu: "Tất cả cho tiền tuyến", "Tất cả cho chiến thắng". Căn cứ vào những quyết định của Bộ Chính trị, đồng chí Lê Duẩn đã viết "Những bức thư vào Nam" để chỉ đạo cuộc cách mạng miền Nam, chỉ đạo ba mũi giáp công", "ba vùng chiến lược", "chiến tranh toàn dân, toàn diện"...
Đồng chí Lê Duẩn rất quan tâm công tác chi viện tiền tuyến. Đồng chí yêu cầu đồng chí Đỗ Mười thường xuyên báo cáo tình hình chi viện, có gì khó khăn và đã xử lý thế nào? Đồng chí Đỗ Mười đã thường xuyên báo cáo nên Bộ Chính trị rất hài lòng, không có gì chê trách.
Lúc đó việc vận chuyển bằng đường sắt bị hạn chế vì hầu hết các cầu đều bị địch phá hủy. Ngành đường sắt có sáng kiến lớn là tổ chức nghi binh các cầu, đó là vẫn để chiếc cầu bị đánh như vậy không sửa chữa, nhưng có thể lắp đặt các đường ray trên cầu cho tàu chạy qua, sau đó lại cất đi. Chính nhờ sáng kiến lớn này mà ta đã chuyển được nhiều vũ khí vào chiến trường. Giai cấp công nhân của ta kiên cường, sáng tạo lắm!
Một số các ngành như hậu cần, giao thông, xăng dầu,... có tổng kết sơ bộ cũng thấy một số điểm nổi bật như sau:
- Trong quá trình chỉ đạo chi viện, căng thẳng nhất là địch phong tỏa và đánh phá rất ác liệt, không cho vận chuyển từ ngoài nước vào trong nước, từ miền Bắc vào miền Nam. Nhưng ta đã có nhiều biện pháp đối phó rất sáng tạo và rất hiệu quả. Địch cứ đánh, ta cứ đi.
- Vấn đề vật tư thì một phần là của trong nước, một phần lớn là của nước ngoài, về vũ khí, khí tài phần quan trọng là do viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước anh em.
- Bảo vệ, tổ chức vận chuyển ta có nhiều sáng kiến, hạn chế được thương vong, tổn thất.
- Kịp thời đáp ứng yêu cầu của tiền tuyến.
- Tinh thần cách mạng sôi sục của nhân dân mà lực lượng chính là nông dân, công nhân và thanh niên xung phong.
- Vai trò của trí thức rất lớn, có thể nêu ra đây một số mặt điển hình như: tham mưu chiến lược, nghiên cứu chế tạo, cải tiến vũ khí, khí tài, thiết bị phá thủy lôi,...
Tóm lại, việc chi viện cho chiến trường miền Nam đã thể hiện vai trò của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn, thể hiện được đường lối của Đảng và Bác Hồ vạch ra, đã góp phần quyết định vào thắng lợi của công cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. Trong đó có vai trò rất quan trọng của Hội đồng Chi viện tiền tuyến mà đồng chí Đỗ Mười được phân công trực tiếp chỉ đạo.
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––
* Nguyên Thứ trưởng Bộ Giao thông vận tải.
CHÚNG TA VINH DỰ ĐƯỢC XÂY DỰNG LĂNG BÁC NGUYỄN MẠNH KIỂM*
Năm 1972, tôi làm Viện phó Viện Vật liệu xây dựng. Tôi được phân công phụ trách một phòng nghiên cứu chất lượng xây dựng Lăng Bác.
Thời kỳ này đồng chí Đỗ Mười là Phó Thủ tướng làm Trưởng ban Chỉ đạo nhà nước về xây dựng Lăng.
Được chọn về làm nhiệm vụ xây dựng công trình vĩ đại đầy ý nghĩa này chúng tôi hết sức vinh dự. Có nhiều lần trong khi giao nhiệm vụ, đồng chí Đỗ Mười thường nhắc nhở chúng tôi: "Chúng ta được làm nhà cho Bác phải làm thật chất lượng, thật khẩn trương để khi đất nước thống nhất đón đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế về thăm Bác. Tất cả chúng ta dành tình cảm kính trọng, toàn tâm, toàn ý làm cho tốt, không có kể công".
Tôi còn nhớ nhiều kỷ niệm với đồng chí Đỗ Mười, đặc biệt là về vấn đề chuẩn bị xi măng để xây Lăng Bác.
Trong một lần họp bàn với chuyên gia Liên Xô về vật liệu xây dựng, đồng chí Đỗ Mười tỏ ra rất băn khoăn về việc ximăng mác cao (mác 600) phải đưa sang Việt Nam hàng vạn tấn, chở bằng tàu biển phải rất lâu mới đến Hải Phòng. Như vậy tiến độ thi công sẽ rất chậm, không thể hoàn thành công trình vào năm 1975 được.
Sau khi họp xong, ra khỏi hội trường, đồng chí Đỗ Mười gọi tôi lại hỏi: “Kiểm ơi! Bao nhiêu ngàn tấn ximăng chuyển từ Liên Xô về tốn kém mà lâu lắm, cậu xem ta có tự làm được không? Có cách gì giải quyết không? Liệu trong nước mình có lo được ximăng không?".
Tôi hết sức bất ngờ và cảm động khi được đồng chí Đỗ Mười đặt niềm tin vào mình như vậy. Tôi suy nghĩ một lát và trả lời:
- Báo cáo Phó Thủ tướng, có khả năng làm được ạ. Có thể mình phải điều chỉnh kỹ thuật sản xuất để đạt tiêu chuẩn của Liên Xô.
Đồng chí Đỗ Mười mừng quá hỏi lại:
- Có chắc chắn không? Nếu thế thì tốt quá, cậu về bàn ngay với Viện, với Tổng cục Hóa chất, với Ximăng Hải Phòng để có kết luận sớm cho tôi trả lời với bạn có phải nhập ximăng không. Cậu biết đấy, xây Lăng Bác bắt buộc trong ba năm phải xong mà ximăng là quan trọng lắm.
Thấy đồng chí Mười tâm huyết như vậy, tôi bỗng can đảm lên, thấy không có gì là không làm được.
- Báo cáo Phó Thủ tướng, cho chúng tôi xin chậm nhất một tuần sẽ trả lời.
Đồng chí Đỗ Mười phấn chấn hẳn lên:
- Vậy cậu đi ngay đi, tôi sẽ gọi ngay cho Ximăng Hải Phòng, tôi điện cho Bộ Xây dựng hỗ trợ.
Nói rồi đồng chí Đỗ Mười đặt tay lên vai tôi động viên: - Cậu phải cố gắng, việc này hệ trọng lắm, tôi tin các cậu làm được gặp khó khăn gì báo cho tôi ngay, sớm có câu trả lời cho tôi.
Thấy đồng chí thân mật như vậy, tôi cũng thấy ấm áp:
- Bác cứ yên tâm, chúng em sẽ đi Hải Phòng ngay.
Ngay hôm đó, nhóm cán bộ của Viện đã xuống Hải Phòng làm việc. Chúng tôi nghiên cứu quy trình sản xuất của nhà máy, bàn bạc với lãnh đạo và cán bộ kỹ thuật nhà máy, yêu cầu dừng sản xuất để thực hiện thí điểm mẻ xi măng đặc biệt mác cao (mác 600) trong thời gian 5 ngày. Ông Vương Quốc Mỹ, Thứ trưởng Bộ Xây dựng được phân công chỉ huy trưởng công trường Lăng cũng tham gia theo dõi việc nung thí nghiệm xi măng mác cao.
Chúng tôi điều chỉnh chế độ nung đốt, điều chỉnh các thông số kỹ thuật năm lần, bảy lượt tưởng chừng như thất bại, nhưng mày mò mãi cuối cùng đã cho ra đời thành công mẻ ximăng mác 600.
Các đồng chí lãnh đạo nhà máy và anh em công nhân Hải Phòng hết sức hân hoan trước thành công này, họ vinh dự được góp phần vào công trình xây Lăng Bác Hồ.
Sau mẻ thí nghiệm, chúng tôi khẳng định mình tự làm được ximăng mác cao. Tôi đã đến gặp đồng chí Đỗ Mười để báo cáo thành công trên.
Đồng chí Mười nắm tay tôi thân mật:
- Tốt quá! Cậu cho sản xuất thêm theo tính toán này đi, phải làm thử vài lần nữa. Các cậu giỏi, tốt lắm, tôi rất mừng đấy. Chúng ta tự làm được xi măng thì tốt quá, mình phát huy tinh thần tự lực tự cường, tôi sẽ báo cho bạn không phải xin nhập ximăng nữa.
Nếu đồng chí Đỗ Mười không đưa ra quyết định sáng suốt, chắc chắn trong ba năm không thể xây xong Lăng Bác. Sau đó tiến độ làm việc rất khẩn trương, chỉ hơn hai năm là công trình hoàn thành.
Còn một câu chuyện khác khá đặc biệt, đó là việc thử phóng xạ các vật liệu xây Lăng.
Một hôm, đồng chí Đỗ Mười đột ngột hỏi tôi:
- Chú Kiểm, liệu mình có đánh giá được lượng phóng xạ của các vật liệu có ảnh hưởng đến thi hài của Bác không?
Bị hỏi bất ngờ nên tôi trả lời:
- Báo cáo Phó Thủ tướng, chúng em chưa lường đến việc này ạ!
Thấy tôi trả lời như vậy, đồng chí Mười có vẻ cảm thông, nhưng đồng chí nói tiếp:
- Nhưng chú làm về vật liệu xây dựng, chú phải tính cho.
Lúc này, tôi trả lời một cách chung chung:
- Báo cáo, bọn em có nghiên cứu về ảnh hưởng phóng xạ đến các sinh vật sống thôi còn chưa nghiên cứu về phóng xạ đối với thi hài. Do vậy, trong tiêu chuẩn vật liệu xây dựng Lăng Bác chúng em chưa lường hết được.
Đồng chí Đỗ Mười nói:
- Thôi được, bây giờ tôi giao cho chú tập hợp tất cả các vật liệu xây dựng đóng gói thành từng bao gửi sang Liên Xô nhờ bạn kiểm tra độ phóng xạ. Chú nên nhớ chúng ta không được để bất cứ vấn đề gì ảnh hưởng đến thi hài Bác. Cả nước đang hướng về Lăng Bác, các chú phải cẩn thận.
Mấy hôm sau, đồng chí Đỗ Mười yêu cầu có một chuyên cơ để chở vật liệu sang Liên Xô nhờ thử phóng xạ. Trong đoàn đi đa số là các đồng chí công binh.
Trước khi đi đồng chí Mười còn dặn tôi:
- Chú mang đi ba lá thư, một thư tôi gửi cho Đại sứ quán của ta ở Liên Xô, một thư gửi cho Viện Nghiên cứu nguyên tử Liên Xô, một thư tôi gửi cho nhà khoa học Nguyễn Văn Hiệu đang nghiên cứu ở bên đó. Chú gắng lấy được kết quả sau 10 ngày, trả lời ngay xem có ảnh hưởng gì không. Chú chia mẫu ra để mấy nơi thử.
Sang đến Liên Xô, tôi chuyển thư cho Đại sứ quán của ta. Các đồng chí chuyên gia Liên Xô rất nhiệt tình giúp đỡ, vật liệu của ta được thử phóng xạ ở phòng xét nghiệm của Viện Du hành vũ trụ và Viện Khoáng sản. Ông Nguyễn Văn Hiệu đến Đại sứ quán để nhận vật liệu đi thử ở nơi ông đang nghiên cứu.
Sau khi có kết luận, lập tức Đại sứ quán của ta báo cáo về trong nước kết luận của bạn là: "Lượng phóng xạ của các vật liệu xây dựng Lăng Bác thấp dưới mức cho phép".
Đồng chí Đỗ Mười chỉ đạo chúng tôi làm việc thử phóng xạ thể hiện rõ tình cảm đối với Bác Hồ, thể hiện sự quyết tâm làm bằng được. Đồng chí rất tin tưởng lực lượng kỹ thuật. Đồng chí có tầm bao quát, giao nhiệm vụ rất rõ ràng và luôn luôn nhắc nhở anh chị em xây Lăng Bác phải bảo đảm chất lượng, tiến độ. Hồi đó, công trường Lăng còn gọi là công trường 75808. Con số 75 được chọn là có ý năm 1975 xây xong Lăng Bác. Tôi thấy đồng chí Mười luôn luôn lắng nghe, luôn hỏi rất tỉ mỉ, ra quyết định dứt khoát. Đồng chí luôn chăm lo đời sống, tạo điều kiện cho anh em làm việc.
Còn một chuyện khác nữa là: Lúc đầu, trong bản thiết kế của Liên Xô đưa sang để xây dựng quảng trường sẽ được xây hoàn toàn bằng bê tông. Khi xem bản thiết kế xong, đồng chí Đỗ Mười chất vấn tôi:
- Nước ta nóng, làm toàn ximăng bê tông thì đồng bào chịu sao nổi khi đứng ở quảng trường. Quảng trường phải được coi là sân công viên để mọi người đến gần với Bác, cần phải có một không gian xanh.
Tôi trả lời ngay:
- Báo cáo Phó Thủ tướng, đây là bản thiết kế của Liên Xô, họ sẽ giữ bản quyền của họ.
Đồng chí Đỗ Mười nói:
- Chúng ta sẽ bàn với họ thiết kế lại.
Sau này trong các buổi làm việc với các đồng chí Liên Xô, đồng chí Đỗ Mười đã trình bày ý tưởng của mình là trồng những ô cỏ xanh trước Lăng Bác và đã được bạn ủng hộ.
Về vị trí đặt thi hài của Bác, theo thiết kế của Liên Xô, giống mẫu của Lăng Lênin là khi khách vào thăm phải đi xuống hầm ở phía dưới. Khi xem bản thiết kế, đồng chí Đỗ Mười cũng có bàn với một số anh em, trong đó có tôi. Đồng chí nói:
- Vị trí đặt Bác phải để lên cao để đề phòng lụt lội, vì khí hậu và thời tiết ớ nước ta không bình thường.
Ý tưởng của đồng chí Đỗ Mười cũng được phía bạn ủng hộ.
Khi xây dựng Lăng Bác, đồng chí Đỗ Mười gọi tôi sang bên sân của Bộ Ngoại giao ngắm toàn cảnh Lăng Bác.
Khi Lăng Bác được khánh thành một thời gian, đồng chí hỏi tôi:
- Cậu tiếp xúc với cán bộ và nhân dân vào thăm Lăng Bác, mọi người có ý kiến gì không?
Tôi trả lời ngay:
- Em có nghe dân phàn nàn đá ốp mặt ngoài của Lăng xám quá.
Ông cười và nói luôn:
- Chính như vậy là ưu điểm, màu xám là màu của lăng tẩm.
Sau khi xây dựng Lăng Bác thành công, tôi được tặng một tấm bằng khen mà đến bây giờ tôi vẫn treo ở vị trí trang trọng trong nhà. Tôi còn có bức ảnh rất quý là được chụp chung với đồng chí Đỗ Mười tại Lăng Bác sau những ngày xây dựng đầy kỷ niệm đó.
Tháng 5-2010
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI VỚI VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM GS.VS. NGUYỄN DUY QUÝ*
Ông Đỗ Mười là con người thực tiễn, ông đọc sách rất nhiều. Ông rất coi trọng khoa học xã hội nhân văn. Thời kỳ ông làm Tổng Bí thư, nhất là sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ ông đã cho dịch và xuất bản bộ C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập, 54 tập, Hồ Chí Minh Toàn tập, 12 tập.
Ông thường xuyên đến Viện Khoa học xã hội và Nhân văn để nghiên cứu các vấn đề về khủng hoảng kinh tế. Có lần ông nói với tôi:
- Anh giao cho các nhà khoa học nghiên cứu và góp phần đưa ra phương án giải quyết vấn đề khủng hoảng kinh tế ở nước ta. Anh thấy đấy, các nhà máy hiện nay làm ăn không có lãi, có quá nhiều lỗ thủng, thậm chí bị mất cả vốn.
Lĩnh hội ý kiến chỉ đạo của Tổng Bí thư, Viện chúng tôi đã đi sâu nghiên cứu một loạt đề tài quan trọng để đóng góp phần lý luận và thực tiễn cho Đảng. Một số buổi hội thảo, ông Đỗ Mười đến dự và chăm chú lắng nghe. Thông qua các hội thảo, Viện đã đóng góp rất nhiều ý kiến quan trọng cho Đảng, cho Nhà nước.
Năm 1991, khi Liên Xô bị sụp đổ, một số người hoang mang, dao động, lo rằng xã hội ta cũng sẽ đổi chiều. Lúc này, vấn đề nổi cộm mang tính thời sự nóng bỏng là Việt Nam đi theo con đường xã hội chủ nghĩa như thế nào?
Rất nhiều nhà khoa học đã đưa ra các tham luận hết sức thuyết phục vừa có lý luận, vừa có thực tiễn để chứng minh Việt Nam vẫn duy trì được con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Đại ý các bản tham luận đó toát lên nội dung chính là: Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội gắn với lịch sử, văn hóa của Việt Nam. Ở Việt Nam, Đảng gắn với dân, dựa vào dân, vì quyền lợi của dân. Chúng ta thực hiện được lời Bác Hồ dạy: Việc gì có hại cho dân thì không được làm. Thấm nhuần tư tưởng này, nhất định Việt Nam sẽ giữ được chủ nghĩa xã hội.
Tôi nhớ trong một cuộc hội thảo quan trọng của Viện, ông Đỗ Mười đã phát biểu rất tâm huyết, đại ý: Ta phải vượt qua khó khăn, bọn cơ hội đang tập trung nói xấu Đảng. Chúng ta phải coi trọng đoàn kết trong Đảng, phải củng cố Mặt trận, coi trọng các đoàn thể nhân dân, coi trọng trí thức, đối xử tốt với các nhà khoa học, v.v..
Nghe ý kiến của ông Đỗ Mười, các nhà khoa học rất tin tưởng ở Đảng, luôn luôn sát cánh ủng hộ Đảng. Khi Liên Xô sụp đổ, ông Đỗ Mười rất bình tĩnh. Có lần ông nói với tôi:
- Thế giới phức tạp, cơ hội có nhưng thách thức cũng nhiều, ta phải nghiên cứu tìm cách vượt qua, khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội.
Ông Mười nói:
- Việc chuyển sang cơ chế thị trường là cần thiết, nhưng mặt trái của nó là chạy theo đồng tiền, tha hóa con người dễ mất nước lắm.
Ông yêu cầu tôi tổ chức một loạt các cuộc hội thảo bàn về: Thế nào là cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa? Thế nào là toàn cầu hóa kinh tế?
Trong các cuộc hội thảo rất sôi nổi của các nhà khoa học, ai cũng mong muốn được đóng góp phần nào để chống lạm phát, đẩy mạnh kinh tế đất nước và cuối cùng kết luận là cần xóa bỏ cơ chế bao cấp, xóa bỏ tem phiếu để dân tự do mua bán.
Ông Đỗ Mười lắng nghe ý kiến các nhà khoa học và ông đã đưa những vấn đề kinh tế nóng bỏng đó bàn trong Bộ Chính trị (khoá VII). Vào năm 1992 là chúng ta xóa bỏ bao cấp, nền kinh tế chuyển hẳn sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển hẳn sang chế độ một giá. Đây thực sự là bước chuyển mình lớn của nền kinh tế đất nước. Ông Đỗ Mười có công lớn trong việc chống lạm phát và đưa về một giá. Các nhà khoa học chúng tôi đánh giá rất cao đóng góp của ông Đỗ Mười trong việc làm khởi sắc nền kinh tế đất nước. Nền nông nghiệp phát triển, nước ta đã có gạo xuất khẩu. Có lần ông Đỗ Mười vào thăm Viện gặp tôi, ông rất cởi mở, thân tình nói:
- Cơ chế thị trường tốt lắm Quý ạ! Nhưng chú ý mặt trái là chạy theo đồng tiền, phải chống tiêu cực, phải đưa ra toàn Đảng chống tiêu cực, phải chống tiêu cực trong Đảng trước, phải đi từ chi bộ, đồng chí nào tiêu cực phải răn đe ngay. Tôi sẽ xem xét kỹ danh sách những đồng chí được giới thiệu vào Trung ương kỳ này. Chúng ta cần những cán bộ có đức, có tài, luôn luôn vì lợi ích của dân.
Trong thời kỳ làm Tổng Bí thư, ông Đỗ Mười đã có công là cho thành lập Hội đồng Lý luận Trung ương. Ông Nguyễn Đức Bình, Ủy viên Bộ Chính trị làm Chủ tịch, tôi làm Phó Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng có 15 thành viên là các nhà khoa học xã hội giỏi, các nhà triết học, nhà kinh tế. Thường trực Hội đồng là Giáo sư Đặng Xuân Kỳ. Văn phòng của Hội đồng Lý luận Trung ương đặt cạnh Văn phòng Trung ương Đảng.
Tôi và ông Nguyễn Đức Bình thường xuyên phải báo cáo ông Đỗ Mười về hoạt động của Hội đồng. Đến nay Hội đồng Lý luận Trung ương vẫn được duy trì, số ủy viên đã hơn 30 người.
Khi chuẩn bị cho Nghị quyết Trung ương 2 về khoa học và giáo dục, ông Đỗ Mười yêu cầu Viện tôi tổ chức cuộc hội thảo, ông trực tiếp đến dự. Trong cuộc hội thảo đó đã rút ra được kết luận: Việc phát triển giáo dục khoa học là quốc sách hàng đầu của Nhà nước Việt Nam. Ông Đỗ Mười đã lắng nghe và phát biểu động viên các nhà khoa học tham gia hội thảo...
Ông Đỗ Mười là người giàu kinh nghiệm thực tiễn, chịu khó lắng nghe. Một sự kiện quan trọng là năm 1988, khi ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã góp phần cho ra đời Luật đầu tư. Đó là một dấu mốc hết sức đáng nhớ cho phép nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.
Tháng 6-2011
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––
* Nguyên Chủ tịch Viện Khoa học xã hội Việt Nam.
GIÁO DỤC ĐƯỢC ĐẶT LÊN HÀNG ĐẦU GS.VS. PHẠM MINH HẠC*
Ông Đỗ Mười gọi bà nội của tôi là cô họ. Bà nội tôi mang họ Nguyễn Duy. Quê tôi có cuốn sách Lịch sử làng Đông Phù, do Đại tá Nguyễn Hân chủ biên.
Nét nổi bật của làng Đông Phù là khi vua Quang Trung dẫn đội quân thần tốc ra giải phóng Thăng Long đã cho quân đóng lại ở Đông Phù. Nhân dân trong làng đã giúp đỡ lương thực cho nghĩa binh. Từ làng Đông Phù, nhà vua đã quyết định mở ba đường tấn công vào kinh thành Thăng Long.
Quê tôi có phong trào cách mạng rất sớm. Năm 1930, làng tôi đã có chi bộ Đảng, bí thư đầu tiên là ông Phạm Gia. Năm 1939, bí thư chi bộ là ông chú ruột tôi, tên là Phạm Thụy Hùng, trong chi bộ có ông Đỗ Mười, ông Nguyễn Thọ Chân và một số ông khác nữa.
Ông Phạm Gia là một nhà giáo, ông đã mở rộng ra hai cơ sở để hoạt động cách mạng, đó là cơ sở sơn mài và trường tiểu học tư thục ở làng. Chính ông Đỗ Mười đã được ông Phạm Gia đào tạo cho làm nghề sơn mài để lấy cớ hoạt động cách mạng. Khi tôi còn nhỏ đi học vỡ lòng ngay đầu xóm nhà ông Mười nên thỉnh thoảng cũng được nhìn thấy ông.
Khi tôi 9 tuổi, tôi nghe bà con ở làng kể nhiều về ông Mười. Ông hoạt động cách mạng và bị bắt ngay trong làng, bị đưa vào nhà tù, sau đó ông đã vượt ngục về tham gia cách mạng.
Năm 14 tuổi, tôi được làm việc đánh máy ở Văn phòng Huyện ủy Kim Bảng (tỉnh Hà Nam). Lúc đó tôi có biết ông Mười về làm Bí thư Tỉnh ủy Hà Đông. Mãi đến năm 1959, khi tôi được đi đào tạo ở Liên Xô về, tôi mới có dịp đến thăm gia đình ông.
Tôi có một kỷ niệm rất sâu sắc với ông Mười, đó là khi tôi báo cáo với ông là tôi sắp lấy vợ, ông đã dặn tôi: "Khi nào các cháu cưới bác sẽ có quà".
Chúng tôi chọn ngày 19-5-1967 sẽ làm lễ cưới nên ông hẹn: "Cuối giờ làm việc các cháu chờ bác ở cơ quan".
Ông Mười đưa chúng tôi đến một cửa hàng cung cấp mua một mảnh vải hoa nền vải xanh rất đẹp tặng cho chúng tôi để vợ tôi may áo dài. Tấm áo dài này vợ tôi rất quý và cất giữ làm kỷ niệm đến bây giờ.
Ông Đỗ Mười rất quan tâm đến công việc của làng, của xã. Những ngày hội, ngày lễ của làng ông đều về dự và phát biểu rất hay. Tôi nhiều lần được nghe ông nói chuyện, bà con rất thích nghe ông nói, vì ông có khả năng truyền cảm, thu phục lòng người. Bà con ai cũng tự hào về ông, quý mến, nể trọng ông.
Ông Đỗ Mười đặc biệt quan tâm đến ngành giáo dục. Khi làm Phó Thủ tướng, ông đã quyết định xây dựng nâng cấp Trường đại học Sư phạm. Khi làm Thủ tướng Chính phủ, ông đã có cuộc gặp gỡ nói chuyện với các nhà giáo nhân dân và nhà giáo ưu tú. Trong buổi gặp mặt thân mật đó, ông đã rất nhấn mạnh yếu tố con người. Con người là nhân tố quyết định của công cuộc đổi mới, giáo dục, là nhân tố hàng đầu, muốn có khoa học - kỹ thuật phải có giáo dục.
Khi lên làm Tổng Bí thư, ông đã đưa vấn đề giáo dục lên vị trí hàng đầu. Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư, khóa VII (ngày 4-l-1993), ông đã có một bài phát biểu rất quan trọng: "Chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh".
Trong Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, ông Đỗ Mười đã có một bài phát biểu rất ý nghĩa: "Phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của toàn dân". Bài phát biểu này là linh hồn của Nghị quyết Trung ương 2 về vấn đề giáo dục. Nghị quyết là cẩm nang cho toàn ngành giáo dục và đến nay vẫn còn nguyên giá trị chiến lược. Chính tôi là người được chấp bút và được cử đi phổ biến Nghị quyết Trung ương 2 nên tôi thấu hiểu niềm hân hoan, sự cảm động sâu sắc của ngành giáo dục trước sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với thầy và trò trong sự nghiệp đổi mới đất nước.
Tôi rất kính trọng ông Đỗ Mười, vì ông là người có ý chí cách mạng lớn. Tôi được biết Bác Hồ đã dành một tình cảm đậm đà, sâu sắc, một niềm tin vào ông Đỗ Mười từ ngày còn kháng chiến chống thực dân Pháp và sau này Bác đã quyết định đề bạt ông làm Phó Thủ tướng, một cán bộ cao cấp mà Bác Hồ luôn tin cậy và quý mến.
Ông Đỗ Mười đã sống, làm việc hết mình, xứng đáng với tấm lòng của Bác đã dành cho.
Ngày 16-1-2011
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục.
NHÀ LÃNH ĐẠO CHÚ Ý ĐẾN CƠ CHẾ ĐẦU TƯ, HOẠCH ĐỊNH CHÍNH SÁCH CHO NÔNG NGHIỆP NGUYỄN ĐỨC TRIỀU*
Chúng tôi trân trọng học theo cụ Đỗ Mười. Cụ đọc nhiều sách, bỏ nhiều công phu nghiên cứu về tình hình nông nghiệp kinh tế hộ. Cụ dành nhiều thời gian đi cơ sở để nắm chắc tình hình, giúp Đảng và Nhà nước hoạch định chính sách cho nông nghiệp. Cụ đánh giá rất cao vai trò của nông dân. Trên 85% nông dân sống ở nông thôn. Họ là quân chủ lực, giàu lòng yêu nước, đi theo cách mạng, bảo vệ cách mạng, theo Đảng đến cùng. Khi cách mạng thành công, người nông dân đã có ruộng, đời sống vật chất và tinh thần không ngừng thay đổi. Tuy vậy, đại đa số nông dân còn nhiều khó khăn. Trong nhiều cuộc hội nghị, cụ Mười rất trăn trở, nói lên suy nghĩ của mình, đại ý: Tôi còn nợ nông dân nhiều quá, một bộ phận nông dân còn nghèo, mù chữ, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đội ngũ cán bộ ở nhiều nơi còn mất dân chủ, niềm tin của bà con nông dân bị mai một. Nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, nhưng nông nghiệp phải chịu ảnh hưởng nhiều do thiên tai, mưa lũ, nắng hạn mà ta chưa khắc phục được. Vì vậy, phải tập trung làm quy hoạch thủy lợi...
Những đề xuất của cụ Mười về vấn đề thủy lợi đã được đưa vào nghị quyết của các hội nghị của Trung ương, cũng như của các kỳ đại hội của nông dân. Thời kỳ đầu do tầm nhìn hạn chế nên nghiên cứu chưa tập trung, còn chắp vá, xử lý theo tình thế. Sau này được Đảng và Nhà nước quan tâm, đưa lên thành chính sách, từ đó đã kêu gọi, tập trung được trí tuệ của các nhà khoa học để hoạch định hệ thống thủy lợi trong cả nước. Trong những năm làm Phó Thủ tướng cho đến sau này là Tổng Bí thư, cụ Mười đã đi nhiều nơi trên đất nước và có nhiều đóng góp to lớn trong việc xây dựng các công trình thủy lợi, như: Thạch Nham, Sông Hinh, Dầu Tiếng...; thủy điện như: Thác Bà, Hòa Bình, Trị An…; các nhà máy phục vụ nông nghiệp như: Apatít Lào Cai, Super phốt phát Lâm Thao, Phân lân Văn Điển, Điện - đạm Cà Mau.
Các hệ thống sông, hồ cũng được quy hoạch theo một hệ thống tưới, tiêu khoa học, có hệ thống cống, mương, máng và hệ thống máy bơm hợp lý nên đã chủ động việc điều tiết nguồn nước cho nông nghiệp.
Hiện nay, nhìn chung hệ thống thủy lợi tương đối tốt, ở miền Bắc tương đối hoàn chỉnh. Như vậy là thủy lợi đã đi trước một bước, chủ động tưới, tiêu để chống hạn, chống úng.
Khi làm Tổng Bí thư của Đảng, cụ Mười càng quan tâm đến phát triển nông nghiệp nhiều hơn. Đặc biệt là vấn đề tiết kiệm đất nông nghiệp. Cụ nói: "Từ khi tôi làm Phó Thủ tướng, tôi không bao giờ lấy đất nông nghiệp để làm công nghiệp. Các công trình công nghiệp đều đưa lên đồi, ai muốn lấy một hécta đất canh tác để làm gì đó đều phải xin phép Thủ tướng Chính phủ".
Cụ theo sát sự thành công trong nông nghiệp, cụ căn dặn chúng tôi phải quan tâm đến xây dựng điển hình, từ đó nhân rộng giúp nông dân làm giàu.
Mặc dù bận trăm công ngàn việc nhưng cụ vẫn đi đến các tỉnh, đặc biệt là đến với bà con ở miền núi. Mỗi khi đi vào nhà của đồng bào, cụ chú ý đến chất lượng bữa ăn của họ. Mỗi khi có hội nghị thi đua của những người nông dân làm ăn giỏi, cụ vui vẻ nhận lời đến dự. Các đại biểu nông dân nhìn thấy cụ là xúm lại, vây quanh để được nghe cụ nói chuyện. Cụ dặn cán bộ là phải quan tâm đến trường học, đường làng, điện, chú ý đến dân sinh, dân trí, dân chủ.
Tôi hết sức cảm động khi mỗi lần đến nhà thăm, cụ thường nhắc: "Ông là thủ lĩnh của nông dân, ông xem lãi ròng của nông dân bao nhiêu? Ông phải quan tâm đến mô hình mới. Nông dân ta rất năng động, chính nông dân đã sáng chế ra máy bóc đỗ, bóc lạc, máy cày. Ông Nghĩa ở Long An còn cải tiến máy gieo hạt. Kinh tế hộ có tiềm năng lớn, nhưng chỉ làm ăn riêng lẻ thì không tiến ăn được, phải biết "dồn điền, đổi thửa" để đưa máy móc vào mới có năng suất cao được. Muốn vậy phải xây dựng và củng cố các hợp tác xã và các nông, lâm trường quốc doanh để có hướng làm ăn lớn".
Nghe cụ nói như vậy, tôi cảm phục lắm, tôi nói với cụ: "Ý của cụ gợi mở, anh em đã chỉ đạo thực hiện tốt về kinh tế hộ, mở rộng phạm vi liên doanh, đưa máy mới vào. Đến nay, người nghèo đã đủ ăn, đã có nhiều hộ nông dân giàu lên nhanh chóng".
Cụ hỏi: "Một hécta các anh tính ra bao nhiêu ngày công? Hiệu quả ra sao? Bộ máy lãnh đạo ở nông thôn như thế nào? Dân có tin Đảng không? Đảng có tin dân không? Các cậu phải nhớ dân chủ là động lực, là mục tiêu của cách mạng”.
Nghe những lời cụ dặn dò chúng tôi rất thấm thía. Tôi nhận thấy cụ là một nhà lãnh đạo của Đảng, luôn dành nhiều tình cảm và trí tuệ cho nông dân và Hội Nông dân. Tôi rất trân trọng tình cảm của cụ, cụ là tấm gương sáng cho tôi noi theo.
Giáp Tết Tân Mão
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam.
PHẢI GIỮ ĐƯỢC CỔ PHẦN CHO CÔNG NHÂN CÙ THỊ HẬU*
Cụ Đỗ Mười hết sức quan tâm đến giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn. Sự quan tâm của cụ liên quan nhiều đến chủ trương của Đảng đối với giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn.
Cụ thường xuyên gọi điện cho tôi, nhắc nhở tôi đại ý: Cô cần quan tâm đến cổ phần của công nhân, làm sao phải giữ được cổ phần cho công nhân, không để công nhân "bán lúa non", giữ được cổ phần là còn giữ được quyền lợi, giữ được vai trò làm chủ của công nhân. Cô phải quan tâm đến việc ăn, ở, đi lại của công nhân, đặc biệt là vấn đề an toàn lao động; cần chú ý đào tạo công nhân có trình độ đảm trách công tác ở các cấp, các ngành của Đảng, giới thiệu công nhân ưu tú tham gia vào Quốc hội…
Nghe lời nhắc nhở của cụ, tôi hết sức xúc động. Tôi đã truyền đạt lại ý kiến của cụ trong các buổi họp của Tổng Liên đoàn.
Chúng tôi đã cố gắng trích quỹ của Tổng Liên đoàn mở một số lớp đào tạo công nhân ưu tú hằng năm để có những cán bộ tốt giới thiệu cho Đảng. Chúng tôi quan tâm đến đời sống, việc làm của giai cấp công nhân, nhưng còn vấn đề giữ lại cổ phần cho công nhân thì thực sự khó khăn vì công nhân nghèo, khi giá cổ phiếu tăng lên gấp hai, ba lần là họ đã vội vàng bán cổ phiếu của mình đi, do đó, họ không còn được tham gia phân phối lợi nhuận, bây giờ đa số công nhân chỉ nhận được đồng lương cơ bản.
Thực ra trăn trở của cụ Mười cũng chính là trăn trở của những cán bộ công đoàn của chúng tôi.
Cụ Đỗ Mười rất thương công nhân, muốn công nhân thực sự tham gia làm chủ nhà máy. Cụ rất tâm huyết lo lắng đến vận mệnh của đất nước, quan tâm sâu sắc đến vai trò của giai cấp công nhân trong sự nghiệp cách mạng của Đảng, đến việc người công nhân phải được làm chủ bằng cổ phần của mình.
Những lần đến dự đại hội của Tổng Liên đoàn, cụ luôn luôn nhấn mạnh là để khuyến khích công nhân trong các ngành kỹ nghệ và thương mại có thể định vị cho công nhân tham gia vào việc chia lãi hàng năm. Việc chia lãi cho công nhân là quan tâm đến quyền lợi thiết thực của họ, giúp cho mỗi người công nhân gắn bó với nhà máy hơn.
Những lời nói của cụ Mười rất hay, rất sâu sắc, ý nghĩa. Cụ là một người quý hiếm, đặc biệt có quan điểm rất rõ ràng về giai cấp công nhân. Cụ có đóng góp to lớn trong việc đổi mới nền kinh tế đất nước.
Giai cấp công nhân rất kính trọng cụ, công nhân rất quen với cụ. Cụ ra công trường, xuống nhà máy hỏi thăm mọi người thân thiện gần gũi, thoải mái, tươi cười. Cụ sống rất bình dân, không mấy người được như vậy.
Chính tôi là người được cụ Mười phát hiện, đào tạo. Tôi luôn được sự dìu dắt của cụ nên đã vững vàng nên cương vị công tác của mình. Bản thân tôi chỉ là nữ công nhân Nhà máy dệt 8-3, trình độ văn hóa lớp 7. Sau đó tôi đã được Đảng quan tâm cho đi đào tạo, tôi đã phấn đấu tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân. Tôi được tham gia vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI. Đến khóa VII, tôi xin rút khỏi danh sách bầu với lý do là Tổng Liên đoàn đã có một đồng chí trong Ban Chấp hành rồi.
Khi tôi báo cáo, cụ Mười hỏi:
- Vì sao cô lại xin rút ra khỏi danh sách bầu?
Tôi trình bày lý do xong, cụ lại bảo:
- Thế để đến già mới đào tạo cán bộ cho Đảng à? Cô không được thoái thác nhiệm vụ.
Nghe cụ nói như vậy, tôi không dám cãi lại. Sau đó, có sự quan tâm của Đảng, Tổng Liên đoàn đã được ưu tiên có hai người cùng vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII nên tôi mới vinh dự được tái cử.
Tôi còn nhớ, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII cụ Mười làm Tổng Bí thư, có 30 đồng chí xuất thân từ giai cấp công nhân.
Cái tâm của mình cụ Mười lúc nào cũng nghĩ đến cán bộ xuất thân từ giai cấp công nhân.
Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua Nghị quyết "Về tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước".
Nhờ có Nghị quyết của Trung ương Đảng nên các cấp ủy Đảng quan tâm đến giai cấp công nhân hơn. Nhưng tổ chức công đoàn cũng phải tự vươn lên đẩy mạnh công tác đào tạo giới thiệu nhiều cán bộ tốt cho Đảng.
Nhìn chung tình hình đời sống công nhân hiện nay đã khá hơn trước. Chúng ta mở rộng liên doanh với nước ngoài để tạo việc làm cho người lao động, có thêm thu nhập.
Các nhà đầu tư nước ngoài đều nhận thấy công nhân Việt Nam cần cù, thông minh, đảm bảo chất lượng sản phẩm.
Có thể nói, sự quan tâm sâu sắc, tỉ mỉ của cụ Mười đã không uổng phí.
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Người cao tuổi Việt Nam.
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI ĐẶC BIỆT QUAN TÂM ĐẾN CÔNG NHÂN VÀ NÔNG DÂN MAI THẾ TRUNG*
Là cán bộ công tác ở tỉnh, tôi ít có điều kiện được gặp gỡ, tiếp xúc trực tiếp với đồng chí nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, trừ những lần được nghe đồng chí nói chuyện tại những hội nghị toàn quốc hoặc những chuyến đồng chí đến thăm và nói chuyện với cán bộ chủ chốt của tỉnh. Cho đến cuối năm 2001, đồng chí có tổ chức chuyến đi thăm, làm việc và khảo sát tình hình thực tế tại tỉnh Bình Dương. Tôi may mắn được phân công tháp tùng đồng chí trong suốt chuyến đi, từ phiên họp của Ban Thường vụ Tỉnh ủy báo cáo tình hình với đồng chí đến khi đồng chí thăm, làm việc tại Ban Thường vụ Huyện ủy huyện Bến Cát, xã Lai Uyên. Hợp tác xã Tân Trường và Công ty Trách nhiệm hữu hạn gốm sứ Minh Long I. Tiếp đó, đồng chí đi khảo sát thực tế ở các ở sở cung ứng vật tư để tìm hiểu tình hình cung ứng vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp của tỉnh.
Điều để lại ấn tượng và kỷ niệm sâu sắc đối với tôi về đồng chí nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười là trong các lần làm việc tại cơ sở, đồng chí luôn thể hiện tác phong rất sâu sát, rất cụ thể và toàn diện. Khi tìm hiểu bất cứ một vấn đề gì, đồng chí cũng tìm hiểu cặn kẽ, đến nơi đến chốn. Đồng chí đặc biệt quan tâm đến giai cấp công nhân và nông dân. Điều này được thể hiện ở chỗ trong suốt 3 ngày đi công tác cùng với đồng chí, tôi thấy đồng chí luôn say sưa nghiên cứu cuốn sách Bàn về liên minh công nông của đồng chí Lê Duẩn.
Sau 3 ngày làm việc tại Bình Dương, đoàn công tác của đồng chí Đỗ Mười chuyển sang làm việc tại tỉnh Tây Ninh. Trước khi chia tay chúng tôi, đồng chí có lưu ý và dặn dò tôi ba điều, cho đến bây giờ tôi cho rằng nó vẫn còn nguyên giá trị, mang đậm dấu ấn dân tộc và thời đại:
- Thứ nhất là, nông dân rất cách mạng, nông dân ta hiện tại còn khổ và còn nhiều cái khó lắm. Các đồng chí phải lo cho nông dân để bớt cái khó, để tiến lên;
- Thứ hai là, Bình Dương có tốc độ phát triển công nghiệp mạnh, đội ngũ công nhân lao động vì thế sẽ tăng lên rất nhanh. Các đồng chí phải quan tâm, tổ chức họ lại thành giai cấp;
- Thứ ba là, phải tạo mọi điều kiện cho tư sản dân tộc phát triển vì tiềm năng của Bình Dương trong phát triển kinh tế ngoài quốc doanh còn rất lớn. Chính phát triển thành phần kinh tế ngoài quốc doanh họ sẽ có điều kiện cạnh tranh và hội nhập trong thời kỳ mở cửa.
Có thể nói, qua quan sát những nội dung mà đồng chí làm việc và chỉ đạo thực tế cũng như lời dặn trước lúc chia tay của đồng chí đã để lại trong tôi một tình cảm và ấn tượng rất sâu sắc. Đồng chí không chỉ là người sâu sát, thực tế, tìm hiểu công việc cụ thể và đưa ra phương hướng tháo gỡ vấn đề, đồng chí nâng lên một tầm khái quát rất cao, mang tầm chiến lược, thể hiện lý tưởng cao cả của Đảng và thể hiện tầm vóc của một lanh tụ của giai cấp.
Trong nhiều năm qua, lời dặn của đồng chí nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười luôn tồn tại trong suy nghĩ và hành động của tôi. Đó cũng là cơ sở để tôi cùng với tập thể Ban Thường vụ, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh chỉ đạo giải quyết nhưng vấn đề kinh tế - xã hội của tỉnh Bình Dương. Đến thời điểm này, Bình Dương có trên 12.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó có trên 2.100 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, còn lại là doanh nghiệp đầu tư trong nước. Doanh nghiệp trong nước chính là nội lực, là tư sản dân tộc, là thành phần kinh tế như đồng chí đã căn dặn. Tôi còn nhớ lúc đồng chí về thăm Bình Dương vào năm 2001, thành phần kinh tế trong nước chưa phát triển nhiều nhưng đến nay, các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế ngoài quốc doanh ở Bình Dương đã có sự phát triển vượt bậc. Gắn với đó là chính sách an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, chăm lo cho các đối tượng chính sách, đặc biệt là tạo điều kiện để các cơ sở, các tổ chức thực hiện tốt công tác nhân đạo - xã hội. Trong đó, Trung tâm nhân đạo Quê Hương là một cơ sở rất tiêu biểu và điển hình.
Đồng chí không chỉ lo cho nông dân, công nhân, liên minh công nông, lo cho tư sản dân tộc phát triển, lo cho kinh tế của đất nước mà còn quan tâm rất sâu sắc đến việc chăm sóc, bảo vệ những người bất hạnh, cơ nhỡ. Điều này được thể hiện cụ thể nhất qua bức thư mà đồng chí gửi cho tôi vào đầu năm 2011 với lời nhắc nhở phải kiểm tra, giúp tháo gỡ những khó khăn vướng mắc về một thủ tục ở Trung tâm nhân đạo Quê Hương để trung tâm làm tốt công tác chăm sóc, giáo dục, bảo vệ trẻ em mồ côi, khuyết tật - một sứ mạng rất cao cả và tốt đẹp. Điều này cũng thể hiện đồng chí là một nhà hoạt động cách mạng, một lãnh tụ, tấm gương ra mẫu mực mà chúng tôi cần học tập và làm theo. Thực hiện lời dặn của đồng chí, hiện nay, các ngành chức năng có lên quan của thị xã Dĩ An và tỉnh Bình Dương đang tích cực hỗ trợ, giúp đỡ, tạo điều kiện để Trung tâm nhân đạo Quê Hương hoạt động ngày càng tốt hơn.
Quỳnh Như ghi
–––––––––––––––––––––
* Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Bình Dương.
KHÔNG ĐỂ ĐỒNG BÀO TÂY NGUYÊN THIẾU ĐẤT SẢN XUẤT KSOR PHƯỚC *
Tôi rất ấn tượng về bác Đỗ Mười, một con người rất xông xáo, có ý chí ngùn ngụt, tinh thần làm việc quên mình, lo lắng việc của Đảng, của dân.
Tôi là người dân tộc Jrai (Giarai) được tham gia Trung ương Đảng từ khóa VIII (năm 1996), khi đó bác Mười làm Tổng Bí thư. Tôi còn nhớ một kỷ niệm rất sâu sắc, trong một cuộc họp quan trọng bàn về vấn đề kinh tế - xã hội vùng miền Trung - Tây Nguyên, tôi đã tham gia phát biểu. Trong phát biểu của mình, tôi có phản ánh ở tỉnh Gia Lai, đồng bào dân tộc tại chỗ thiếu đất sản xuất, nhiều nơi do nghèo, thiếu vốn nên họ phải làm thuê ngay lên mảnh đất của mình. Tôi vừa phát biểu xong, bác Đỗ Mười đi thẳng đến bàn tôi hỏi:
- Đồng chí làm gì ở Gia Lai?
Tôi chưa kịp trả lời, đồng chí Nguyễn Văn An - Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng giới thiệu:
- Thưa anh, đồng chí ấy tên Ksor Phước, người Jrai, mới vào Trung ương khóa VIII, làm Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Gia Lai.
- Thế tại sao đồng chí không báo, hay viết thư cho Tổng Bí thư biết những khó khăn thiếu đất sản xuất của đồng bào Tây Nguyên?
Tôi trả lời là việc này chỉ là chuyện nhỏ, kéo dài gần chục năm nay, tôi tưởng ở Trung ương ai cũng biết cả rồi chứ. Bác Đỗ Mười nói:
- Vấn đề này rất lớn, như vậy là nghiêm trọng lắm, vì sao để thiếu đất sản xuất ngay trên quê hương mình, mục tiêu của cách mạng là người cày phải có ruộng.
Sau buổi họp đó, bác tâm tư, trăn trở lắm. Hôm sau, đồng chí thư ký của bác là ông Phan Trọng Kính nói với tôi: “Nghe anh phát biểu về tình hình bà con thiếu đất sản xuất làm bác mất ngủ. Bác đặt vấn đề họp xong sẽ lên thăm bà con tỉnh Gia Lai ngay". Biết bác sắp lên thăm, tôi xin phép về trước để chuẩn bị đón. Sáng ngày 26-4-1997, bác lên bất ngờ, cực nhanh, hoàn toàn không nằm trong kế hoạch trước vì bác quá thương đồng bào.
Buổi tối, Thường vụ Tỉnh ủy Gia Lai họp báo cáo, bác nói: “Tôi lên đây muốn nghe báo cáo những kiến nghị trực tiếp của tỉnh với Trung ương". Đồng chí Lê Tam, Bí thư Tỉnh ủy Gia Lai đã có chuẩn bị ý kiến để trình bày những khó khăn của tỉnh.
Ngày hôm sau, tôi tháp tùng bác đến thăm và làm việc tại huyện Chưpah. Đây là huyện có nhiều nông trường cà phê, cao su làm ăn rất khá, nhưng đồng bào dân tộc tại chỗ (người Jrai) ở cùng xã thì rất nghèo. Tại Huyện ủy, theo đề nghị của bác, huyện có mời các đồng chí giám đốc các nông trường cà phê, cao su và Bộ Tư lệnh Binh đoàn 15, một số già làng tới dự và phát biểu ý kiến... Đáng chú ý là đồng chí cựu giám đốc nông trường cà phê có bài phát biểu (chuẩn bị trước). Khi trình bày, đồng chí rất run và có nói rõ là tự nhiên thấy lo lắng khi trình bày trước đồng chí Tổng Bí thư. Nghe xong, bác cười rất hiền hậu... Sau buổi làm việc ai cũng thấy bác là người lúc nào cũng nghiêm trị, đăm chiêu với công việc, nhưng lại rất thương người.
Bác Mười nhận xét: Do điểm xuất phát thấp và do một số nguyên nhân khách quan và chủ quan nên hiện nay bà con các dân tộc ở Gia Lai còn nghèo, còn nhiều khó khăn lắm. Ở đây có một phần trách nhiệm lớn do chúng ta, trong đó có Trung ương. Việc chăm lo phát triển toàn diện về kinh tế - xã hội, đặc biệt là phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống của đồng bào các dân tộc là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, số một của chúng ta từ Trung ương đến địa phương và tới cơ sở... Những năm qua, Đảng bộ và chính quyền ở Gia Lai đã rất nỗ lực giải quyết, khắc phục được rất nhiều khó khăn để phát triển được sản xuất, cải thiện từng bước đời sống của nhân dân. Các đồng chí cần rà soát, tổng hợp kiến nghị lên Trung ương những cơ chế, chính sách, nguồn lực gì, giúp cho Gia Lai sớm khắc phục các khó khăn, thách thức hiện nay để phát huy nội lực vươn lên cùng cả nước... Bác rất chú ý lắng nghe và cho ý kiến về tăng cường đại đoàn kết dân tộc, tương trợ giúp nhau phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo giữa các dân tộc, về quốc phòng, an ninh. Bác căn dặn chúng tôi:
- Đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên sớm đi theo cách mạng từ những năm chống thực dân Pháp đô hộ đến nay. Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và chống đế quốc Mỹ, nhờ có đồng bào các dân tộc mà chúng ta mới có được các vùng căn cứ cách mạng rộng lớn, vững chắc. Đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên đã có nhiều đóng góp to lớn cho cách mạng giải phóng dân tộc và thống nhất Tổ quốc. Các đồng chí phải nâng cao cảnh giác vì Tây Nguyên là địa bàn trọng điểm về quân sự, kinh tế, chính trị, bọn thù địch tìm mọi cách chống phá ta. Cần tôn trọng tín ngưỡng của dân, không lẫn lộn tín ngưỡng tôn giáo với hoạt động chính trị, phản động. Nếu không cẩn thận bọn thù địch lợi dụng tín ngưỡng phá hoại đoàn kết gây chia rẽ dân tộc để chống phá chính quyền cách mạng. Điều cơ bản nhất là khi đời sống của dân được nâng cao, dân tin Đảng sẽ tự giải quyết chống lại bọn phản động. Vì vậy, điều cốt lõi là phải giữ được khối đại đoàn kết.
Buổi chiều, bác làm việc với Huyện ủy Mang Yang.
Sau khi nghe hai Huyện ủy báo cáo, bác hỏi ý kiến các già làng. Các già làng phát biểu, trong đó có nêu đề nghị Nhà nước cần có chính sách với người có công với cách mạng.
Nghe các già làng trình bày xong, bác lập tức điện ngay ra Hà Nội yêu cầu cử cán bộ vào tỉnh Gia Lai để nghiên cứu giải quyết chính sách với người có công.
Mấy hôm sau ở Trung ương đã có đoàn cán bộ vào, bà con phấn khởi lắm.
Sau chuyến đi của bác Mười lên Tây Nguyên, Chính phủ đã có nhiều cố gắng hơn trong việc giúp cho Gia Lai cách tháo gỡ khó khăn về đất sản xuất.
Sau này, một số lâm - nông trường của Nhà nước đã nghiên cứu giao lại một phần đất, một phần rừng cho dân quản lý, sản xuất.
Tỉnh đã hoàn thành cơ bản việc giúp dân định canh, định cư, đời sống nhân dân ổn định dần.
Tôi còn một kỷ niệm nữa với bác Mười, đó là vào thời gian bác vừa làm Tổng Bí thư (khóa VII), bác lên Tây Nguyên ngay (năm 1992). Lần nào lên thăm, bác cũng thường nêu vấn đề và căn dặn Đảng bộ, chính quyền tỉnh Gia Lai phải ghi nhớ: Tây Nguyên là địa bàn có vị trí chiến lược về chính trị, kinh tế, xã hội. Đặc biệt là một trọng điểm chiến lược về quốc phòng và an ninh của cả nước.
Những điều bác dặn hết sức đúng đắn, sau này các việc xảy ra đúng như vậy, tuy đến năm 1992, ta cơ bản đã giải quyết xong tình hình FULRO. Nhưng sau đó bọn FULRO lưu vong ở nước ngoài vẫn tìm mọi cách lợi dụng Tin Lành để tập hợp lực lượng chống phá cách mạng. Bác Mười đúng là người có tầm nhìn của nhà tiên tri.
Có lần, anh Lê Tam - Bí thư Tỉnh ủy nói với tôi: Gần bác Mười là thấy ngay bác là người mặc dù tuổi đã cao nhưng rất năng động, minh mẫn, có tâm, luôn thương người. Bác không bao giờ áp đặt cho rằng khuyết điểm đó thuộc địa phương đó hoặc con người đó. Bác sống giản dị, có sức thu hút, cảm hóa cao rất tự nhiên. Bác hỏi cụ thể từng khó khăn, gợi ý cách tháo gỡ rất rõ ràng. Tôi và anh Lê Tam rất kính trọng bác Mười. Có thể nói, thời kỳ làm Tổng Bí thư năm nào bác cũng lên Tây Nguyên.
Cũng như đồng bào cả nước, ở Tây Nguyên đa số người dân đều biết đến bác Đỗ Mười, nhất là cán bộ, đảng viên và công chức rất kính trọng bác. Nói đến bác, ai cũng nghĩ đó là người cộng sản chân chính, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng; luôn giữ vững niềm tin vào chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Bác là người lãnh đạo nghiêm nghị, luôn làm việc, lúc nào cũng suy nghĩ đau đáu phải làm gì tốt hơn để phụng sự nhân dân, phụng sự Tổ quốc. Với riêng tôi, do có một số lần làm việc, trao đổi công việc trực tiếp với bác, những khi đó tôi thấy ở bác có sức lôi cuốn rất tự nhiên. Theo tôi, bác Đỗ Mười đã cơ bản hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ Tổng Bí thư của Đảng khi đương nhiệm.
Ngày 18-2-2011
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––
* Ủy viên Trung ương Đảng, Chủ tịch Hội đồng dân tộc của Quốc hội.
KỶ NIỆM VỀ ANH ĐỖ MƯỜI TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI HỮU THỌ*
Với anh Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Bí thư Khu ủy Tả Ngạn sông Hồng thời kỳ chống thực dân Pháp xâm lược, tôi có rất nhiều kỷ niệm sâu sắc, vì trong thời kỳ kháng chiến lần thứ nhất, tôi công tác ở Thái Bình thuộc Khu III và khi làm Tổng Biên tập Báo Nhân Dân rồi Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương thì anh là Tổng Bí thư, rồi Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Nhiều chuyện về anh được nghe kể lại, tuy người kể là những người tin cậy nhưng không trực tiếp cho nên tôi không dám kể lại, viết ra vì sợ không hiểu hết. Chỉ xin kể những gì tôi chứng kiến trong một năm vào thời kỳ đổi mới. Đó là năm 1997, năm có rất nhiều sự kiện phức tạp: bão số 5 lần đầu tiên đổ bộ vào Nam Bộ nơi chưa bao giờ có bão, đã làm thiệt hại tới 15 nghìn tỷ đồng, một số tiền rất lớn lúc đó, rồi cuộc khủng hoảng tài chính khởi đầu từ Thái Lan, lan rộng ra khu vực và thế giới, ảnh hưởng sâu sắc tới nước ta khi đã bước đầu hội nhập kinh tế quốc tế, 60% GDP đất nước do xuất nhập khẩu, rồi cuộc "nổi dậy" của nông dân Thái Bình... Đối với người lãnh đạo thì phẩm chất quan trọng nhất là tấm lòng với nước, với dân và những ý tưởng, chủ trương trong các thời khắc quan trọng của đất nước, xin chỉ kể hai câu chuyện có liên quan tới sự chỉ đạo của anh:
Tình hình kinh tế nước ta đang diễn biến thuận lợi trong thời kỳ đổi mới, tiếp tục tăng trưởng 7-8% một năm thì khoảng tháng 7-1997 xảy ra cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu từ Thái Lan, sau đó lan rộng ra và ảnh hưởng sâu sắc tới nước ta. Cuộc khủng hoảng kinh tế lần này có dịp để chúng ta nhìn lại những việc làm được rất quan trọng và đặc biệt là những yếu kém để khắc phục trên con đường tiến lên. Nước nào phát triển cũng phải đi vay, lúc đó ta mới nợ khoảng 8,5 - 9 tỷ đôla Mỹ nhưng "té nước theo mưa", một số định chế tài chính thế giới lúc đó xếp nước ta vào một trong số 41 nước nợ lớn và cho rằng là một trong số 18 nước khó trả được nợ. Chúng ta cũng nhận ra những yếu kém trong quản lý vĩ mô của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa: để phân biệt giàu nghèo quá nhanh, việc giải quyết việc làm và những vấn đề xã hội, nhất là nạn tham nhũng chưa tốt, vấn đề thực thi dân chủ còn có mặt hạn chế, mà Tổng Bí thư nói thẳng thắn, công khai: "Có nơi vi phạm nghiêm trọng quyền làm chủ của dân...", không những làm giảm nhịp độ tăng trưởng kinh tế mà còn "tiềm ẩn những nguy cơ gây mất ổn định về kinh tế, xã hội" và nhân tố đó có phần tăng lên.
Nhưng quan trọng là phải có những biện pháp giải quyết vấn đề khủng hoảng kinh tế thế giới đang ảnh hưởng tới nước ta. Trong lúc này chúng ta cần nhiều vốn để kích thích nền kinh tế không để các doanh nghiệp đình đốn làm cho thất nghiệp trở thành vấn đề xã hội lớn, trong khi vốn ngân sách rất eo hẹp. Còn nhớ lúc đó nhiều nước sẵn sàng cho ta vay 500 triệu đôla nhưng điều quan trọng là với những ràng buộc mà nếu làm theo thì nền kinh tế và có khi cả chính trị cũng bị lệ thuộc, do đó Trung ương Đảng không chấp nhận. Lúc ấy tôi là Ủy viên Trung ương nhưng cũng là ở "vòng ngoài" nhưng nghe ngóng thì cũng biết được và thấy lo lắng. Trách nhiệm là phải có phương hướng làm yên lòng các cán bộ cốt cán trong thời buổi khó khăn này. Lúc đó chuẩn bị họp mặt định kỳ các cán bộ cốt cán của Ban để truyền đạt thì đồng chí Tổng Bí thư gọi điện sang nói: "Để tớ (đồng chí hay xưng hô thân mật như thế) sang trực tiếp gặp mặt anh chị em và truyền đạt Nghị quyết của Bộ Chính trị, vì lực lượng này quan trọng lắm". Và đồng chí đi bộ từ số 4 sang số 10 Nguyễn Cảnh Chân trong đó có cơ quan Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
Tại cuộc họp, đồng chí say sưa phân tích thế và lực mới của đất nước, nêu thắng lợi nhưng đồng thời nói thẳng những khuyết tật của nền kinh tế, đồng thời nói rõ không thể chấp nhận vay tiền có điều kiện để bị ràng buộc vì sẽ mất quyền tự chủ và gây ra những vấn đề xã hội phức tạp mới. Do đó, phải ra sức phát huy nội lực để vượt qua. Chúng tôi cũng hiểu là không thể ràng buộc với các điều kiện khắt khe của nước ngoài, cần phải phát huy nội lực như những Nghị quyết của Trung ương đã khẳng định. Song, chúng tôi hiểu nội lực về phần vốn, mà vốn ngân sách theo tôi biết là không có bao nhiêu cho nên hiểu nhưng chưa tin, vì lấy đâu ra số vốn khổng lồ để có thể vượt qua thử thách to lớn này.
Đây có lẽ là lần đầu tiên chúng tôi được đồng chí Tổng Bí thư nói sâu về thời cơ, thách thức, về tiềm lực mới sau 10 năm đổi mới và những quan niệm mới về nội lực của dân tộc. Nói về tiềm năng mới, đồng chí nêu nông nghiệp nước nhà đã bước đầu trở thành nông nghiệp hàng hóa, tiềm năng công nghiệp đã khác trước, đặc biệt là tiềm lực con người Việt Nam với 76 triệu dân, 35 triệu lao động (lúc đó) và với ý chí và trí tuệ tiềm tàng... nghĩa là thế lực đất nước đã thay đổi.
Đồng chí đã phân tích toàn diện về nội lực, bao gồm trước hết là năng lực ý chí, trí tuệ và năng lực mọi mặt của dân tộc, của con người Việt Nam. Đó là tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật. Đó là truyền thống dân tộc, truyền thống cách mạng... Nói về vốn là thứ mọi người quan tâm thì đồng chí nêu rõ quan điểm của Trung ương, nói rõ vốn thì quan trọng, nhất là vốn con người, còn vốn tài chính thì không chỉ là vốn ngân sách mà còn là vốn trong dân rất lớn. Nếu có chính sách hợp lý để huy động thì không quá thiếu, do đó, dù vốn nước ngoài rất quan trọng nhưng vốn trong nước là chính. Nội lực, theo đồng chí còn có tinh thần tiết kiệm, sự đầu tư hợp lý và có hiệu quả, là kiên quyết chống lãng phí, tham ô... Đồng chí nói: "Khi nói nội lực là phải nhớ tới nội lực toàn diện của dân tộc, khắc phục tình trạng người làm kinh tế thì chỉ nói về nội lực về kinh tế, người làm văn hóa thì chỉ nói nội lực về văn hóa. Nếu quan niệm nội lực toàn diện thì mới thấy nội lực của dân tộc là to lớn. Do đó, quyết tâm vượt qua thử thách bằng nội lực là chính để không phụ thuộc, không bị sức ép".
Tôi không phải không biết gì về quan điểm đó. Tôi cũng biết tư tưởng Nghị quyết mới của Trung ương nhưng vai trò người đứng đầu bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định. Cuộc truyền đạt trực tiếp của Tổng Bí thư hôm ấy đã để lại cho chúng tôi ấn tượng sâu sắc không chỉ vì lý lẽ mà quan trọng là ở tấm lòng, lòng tin ở tính chiến đấu, lý lẽ thuyết phục của người lãnh đạo. Về tinh thần độc lập tự chủ trong quá trình hội nhập quốc tế, đó thực sự là bài học cho chúng tôi và cũng là kỷ niệm sâu sắc trong công tác của mình.
Việc thứ hai, đã để lại ấn tượng sâu sắc với chúng tôi là sự khiếu kiện đông người có tính chất như một cuộc "nổi dậy" của nông dân Thái Bình năm 1997. Bình vốn là quê mẹ tôi cũng là nơi tôi tham gia kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp ở vùng sau lưng địch. Cho nên những gì xảy ra ở Thái Bình là điều chúng tôi rất quan tâm. Sự khiếu kiện đông người dẫn tới bạo động diễn ra ở Thái Bình tháng 5-1997. Sự kiện đó thì không có gì lạ, vì với cương vị công tác của mình tôi cũng biết các vụ khiếu kiện đông người đã từng diễn ra ở Thanh Hóa, Nam Định, Hải Dương, Hà Tây, Đồng Nai, Hà Nam, Vĩnh Phúc, Bến Tre, Vĩnh Long, Hải Phòng, Hà Nội..., có nơi diễn ra những hành động có tính chất bạo lực như bắt giữ, thậm chí đánh đập cán bộ, không cho cán bộ vào làng, vô hiệu hóa chính quyền địa phương mà chúng tôi gọi là "điểm nóng" nhưng xem ra ở Thái Bình diễn ra rộng hơn, phức tạp hơn... Đặc biệt là nơi mới năm 1996 tôi đã dự Hội nghị toàn quốc giới thiệu mô hình xây dựng Đảng có hiệu quả (!), nơi dẫn đầu cả nước về xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn, đường láng ximăng cho ô tô chạy tới xóm, thế mà bây giờ lại xảy ra sự kiện động trời này?
Theo những gì biết được thì khởi đầu là ở một xã thuộc huyện Quỳnh Côi rồi lan rộng ra cả tỉnh, 225 trong số 286 xã có khiếu kiện đông người, 78 xã có tranh chấp, 52 xã trở thành "điểm nóng" với những hành vi cực đoan như đã nêu ở trên. Như thế là rất phức tạp và bất ngờ không chỉ với chúng tôi. Thường vụ Bộ Chính trị họp với các đồng chí Cố vấn và các đồng chí lãnh đạo chủ chốt tỉnh Thái Bình. Tôi là Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa cùng đại diện một số Ban Đảng cũng được dự thính tham gia phân tích nguyên nhân còn những ý kiến khác nhau. Một số đồng chí địa phương cho là có bàn tay địch phá hoại, một số đồng chí thì cho rằng một số cán bộ về hưu bất mãn kích động. Nhưng anh Đỗ Mười, các đồng chí Cố vấn và một số đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị cho là không hẳn như thế, vì người dân cách mạng ở Thái Bình không dễ gì bị kích động chống chính quyền; trước hết cần xem lại sự lãnh đạo của ta.
Vốn quen biết địa phương cho nên có anh em tìm đến, tôi còn nhớ là anh V - nguyên là cán bộ vận động đồng bào có đạo ở sâu trong lòng địch, anh P - nguyên là Chánh Văn phòng Tỉnh ủy trong kháng chiến đến chơi nói rằng các đồng chí cũ cùng nhau chung tiền để các anh ấy về Hà Nội trình bày với Trung ương. Cùng chiến đấu 9 năm, tôi hiểu các anh P, V đều là những người rất tốt, các anh ấy hỏi thẳng tôi: "Cậu có tin là chúng mình là bọn xấu hay phản động không? Nhưng bọn chúng ức hiếp dân hơn cả bọn kỳ hào xưa thì người dân nào chịu được". Trước khi đến nhà tôi, nghe nói các anh đã đến trình bày với anh Đỗ Mười và anh Nguyễn Ngọc Trìu. Các anh ấy đều là những người có uy tín trong dân. Tôi nghĩ là các anh ấy có thể là người "giương cờ" nhưng không bao giờ nghĩ các anh ấy là người xấu. Vậy căn bản vấn đề là gì? Nếu tôi nhớ không nhầm thì phải 10 hôm sau lãnh đạo mới có thể kết luận nguyên nhân chính, vì biết đúng nguyên nhân mới có giải pháp đúng. Lúc này mà sai một ly sẽ đi một dặm. Sở dĩ lâu mới kết luận được, vì còn phải chờ các phái viên đến tận nơi xem xét nguyên nhân về báo cáo. Thì ra, sở dĩ có khiếu kiện đông người, một số nơi xảy ra bạo lực chủ yếu là do: việc bán đất, thu hồi đất, giao đấu, đấu thầu đất sai thẩm quyền, không công bằng, trong thực hiện lại bất minh, sà xẻo, công tác quản lý, sử dụng tài chính ngân sách, các quỹ không công khai, lãng phí, tham nhũng; huy động quá cao sức đóng góp của dân, có nơi chiếm tới 37-40% thu nhập nông nghiệp; bên cạnh vấn đề tài chính có nơi có hiện tượng ức hiếp dân của một số cán bộ rồi bao che cho nhau. Các nơi khiếu kiện đông người, dân chúng chỉ yêu cầu hai việc: kiểm tra, kết luận các sai phạm và xử lý cán bộ có trách nhiệm. Đúng là có một số cán bộ nghỉ hưu kích động nhưng đó không phải là nguyên nhân chính. Nghĩa là ý kiến của anh Đỗ Mười và các đồng chí Cố vấn được thực tiễn chứng minh là đúng. Và anh Đỗ Mười đề xuất cần có Quy chế dân chủ ở cơ sở, được Thường vụ Bộ Chính trị đồng ý và giao cho anh chuẩn bị để trình bày.
Anh Mười có sự giúp sức của anh Lê Đức Bình, Trưởng ban Nội chính Trung ương, sau đó là trợ lý cho anh đi khảo sát nhiều nơi, chuẩn bị khá công phu để Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30-CT/TW, Ủy ban Thường vụ quốc hội và Chính phủ ban hành nghị quyết và Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã.
Quy chế dân chủ ở cơ sở đã đi vào thực tiễn và đúng ý nguyện của dân, quy định rõ:
- Việc gì chính quyền cũng phải báo cáo rộng rãi với dân;
- Việc gì chính quyền cũng cần bàn với dân trước khi ra quyết định;
- Việc gì cũng nhất thiết phải do dân quyết định.
Đó là bản quy định mẫu, từng địa phương sẽ căn cứ điều kiện cụ thể của mình mà bàn bạc với dân để thêm các quy định cụ thể hơn.
Với những gì tôi biết thì Chỉ thị số 30 về xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở có vị trí quan trọng trong việc luật hóa, lệ hóa bảo đảm quyền làm chủ của dân có vai trò quyết định của Bộ Chính trị khóa VIII nhưng công lao xây dựng thuộc về anh Đỗ Mười và các anh Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương.
Còn nhớ khi anh cử đi kiểm tra việc thực hiện ở một số nơi, tôi tới báo cáo với anh việc trở lại Thái Bình, về gặp những người dân đã nhường hầm bí mật cho anh trong chiến dịch càn quét "Con cóc" của địch, vào trại giam thăm một cậu con một cơ sở bị xử tù trong vụ lộn xộn năm 1997 vì tội chia đất, thì cậu ta nói: "Tội em đi tù là đúng rồi, vì em ký quyết định. Nhưng em ký quyết định của Đảng ủy vậy tại sao chỉ có em ngồi tù còn ông Bí thư kết luận và Đảng ủy vẫn không việc gì?". Anh Mười nghe tôi báo cáo thấy cũng có lý, thấy vai trò lãnh đạo có quyền ra quyết định nhưng lại không có trách nhiệm gì, cần bổ sung quy định. Xem ra cũng là vấn đề chưa có lời giải cho tới hôm nay.
Kỷ niệm về anh Mười thì nhiều nhưng chỉ xin ghi tóm tắt hai việc với trí nhớ của người đã vào tuổi tám mươi lúc nhớ, lúc quên.
Ngày 20-10-2010
–––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
MỘT PHONG CÁCH CHỈ ĐẠO QUYẾT LIỆT LÊ HUY NGỌ*
Tôi có những kỷ niệm sâu sắc với bác Đỗ Mười từ thời làm Chủ tịch tỉnh Vĩnh Phú.
Tỉnh Vĩnh Phú có khu công nghiệp Việt Trì - Lâm Thao, Nhà máy giấy Bãi Bằng. Bác thường về kiểm tra Nhà máy giấy Bãi Bằng, bác yêu cầu tỉnh Vĩnh Phú báo cáo về tình hình cung cấp nguyên liệu cho nhà máy. Nhà máy có công suất 5 vạn tấn và cần 15 vạn tấn nguyên liệu giấy, Trung ương giao cho các lâm trường quốc doanh của Vĩnh Phú, Tuyên Quang cung cấp nguyên liệu, nhưng hằng năm vẫn thiếu, mỗi năm nhà máy chỉ sản xuất cầm chừng 2 vạn tấn.
Trong buổi họp, có đồng chí Hoàng Quy - Bí thư Tỉnh ủy và tôi được ngồi cạnh bác Mười để báo cáo. Bác rất bức xúc về tình hình thiếu nguyên liệu trầm trọng và kéo dài. Bác hỏi vì sao có nhiều lâm trường mà lại không cung cấp đủ nguyên liệu. Bác nói gay gắt: "Trung ương làm nhà máy, địa phương phải làm vùng nguyên liệu tập trung, đất nước đang cần rất nhiều giấy, mình phải tự sản xuất, hạn chế nhập ngoại. Vĩnh Phú là tỉnh trung du, có ba phần tư diện tích đất là đồi rừng, lại có lâm trường quốc doanh sao lại không làm được". Bác đập tay lên bàn, rồi tiện tay kéo cổ áo tôi ra phía sau và hỏi:
- Các anh có làm được không? Anh là kỹ sư nông nghiệp còn trẻ mà không làm được à?
Tôi lo lắng trả lời:
- Thưa bác, Vĩnh Phú đang làm, đã xây dựng lâm trường quốc doanh, trồng rừng tập trung thâm canh nhưng vẫn phải có thời gian và tìm hiểu thêm vùng cung cấp nguyên liệu khác nữa.
Bác lại hỏi:
- Nguồn nào và bao giờ làm? Để 2 vạn tấn giấy một năm là không được!
Tôi mạnh dạn thưa:
- Báo cáo bác, nếu chỉ dựa vào lâm trường quốc doanh thì không đủ sức ạ.
Bác nói ngay:
- Vậy còn sức nào nữa, thế thì các anh phải xuống bàn với dân, hỏi cách làm nguyên liệu.
Gợi ý của bác Mười làm chúng tôi vui hẳn lên, cuộc bàn luận trở nên sôi nổi, vui vẻ vì đó cũng là vấn đề tỉnh Vĩnh Phú đang trong quá trình khảo sát, tìm tòi về hướng đi lên cho kinh tế đồi rừng theo mô hình RV (ruộng - vườn) mà trong dân đang làm
Cuộc bàn bạc đang sôi nổi, một ông bạn ngồi cạnh tôi nói nhỏ:
- Ngọ ơi, cẩn thận nhé, đứt hết khuy áo rồi.
- Không sao, cụ thương cụ mới kéo áo mình để nhắc nhở thôi.
Sau cuộc họp, mọi người ra về, bác Mười quay sang hỏi tôi:
- Ngọ ơi! Tớ nói thế cậu có giận không?
Tôi cảm động thưa:
- Bác lo cho nhà máy, cho dân như vậy sao dám giận, bác đã truyền nhiệt huyết sang cho mọi người, việc này Vĩnh Phú sẽ tiếp tục tìm cách để làm tốt hơn.
Sau cuộc họp, Thường vụ Tỉnh ủy phân công cán bộ xuống các huyện để tìm hiểu cách tháo gỡ. Tôi được cử xuống huyện Đoan Hùng. Vì trước đó đồng chí Trần Văn Đăng - Bí thư Huyện ủy đã nghiên cứu mô hình rừng - vườn nên đưa chúng tôi xuống xã Minh Tiến, là xã có nhiều mô hình về vườn - rừng, trồng bưởi Diễn, trồng vầu phát triển rất tốt, đây chính là nguồn nguyên liệu làm giấy. Hỏi ra mới biết dân không bán nguyên liệu cho nhà máy vì giá thu mua rẻ và đất đai ít, vì chỉ trồng trong vườn...
Một thời gian sau, bác Mười lại lên kiểm tra, chúng tôi đưa bác xuống thăm xã Minh Tiến. Bác rất vui thấy nguồn nguyên liệu trong dân phát triển rất tốt. Khi về họp Thường vụ Tỉnh ủy, bác hỏi:
- Làm thế nào để dân bán cho ta?
Tôi báo cáo:
- Vấn đề thứ nhất là nâng giá mua ngang với giá của bên ngoài.
- Vấn đề thứ hai là muốn có nhiều nguyên liệu thì phải giao đất rừng cho dân tự quản, tự chăm sóc và bán cho nhà máy.
- Báo cáo với bác Đỗ Mười, vấn đề này thật không dễ dàng. Vì Vĩnh Phú đang trải qua thời kỳ "hậu khoán hộ", từ khoán lúa, khoán hoa màu, Vĩnh Phú đang làm thử việc "giao khoán đất rừng cho dân".
Bác nghe xong, thấy việc nghiên cứu của tỉnh là có cơ sở và quyết tâm của tỉnh là rất có trách nhiệm. Bác hỏi chúng tôi đã nghĩ kỹ chưa và đồng ý để tỉnh làm thử ở một huyện.
Sau đó, Thường vụ Tỉnh ủy giao cho đồng chí Trần Văn Đăng - Bí thư Huyện ủy Đoan Hùng lên kế hoạch thực hiện. Từ huyện Đoan Hùng làm thí điểm tốt, chúng tôi nhân điển hình cho toàn tỉnh và từ đó việc cung cấp nguyên liệu cho Nhà máy giấy đã được giải quyết cơ bản lâu dài. Công suất Nhà máy giấy Bãi Bằng đã đạt 5 vạn tấn và đang phấn đấu nâng lên 10 vạn tấn một năm.
Nếu hồi đó bác Mười không thúc đẩy, quyết liệt đòi hỏi Vĩnh Phú thì liệu bây giờ chúng ta có vùng nguyên liệu và sản lượng giấy như bây giờ không?
*
* *
Khi làm Phó Thủ tướng, bác Đỗ Mười rất quan tâm chỉ đạo nông nghiệp. Bác luôn nhắc nhở: "Nhất nước, nhì phân...".
Còn nhớ, năm 1971, nước ta chịu một trận lụt lịch sử, mưa to, tổ hợp lũ sông Đà, sông Lô, sông Gâm gây lũ lớn, Vĩnh Phú bị vỡ đê, Hà Nội và các tỉnh ven sông Hồng bị uy hiếp nặng nề. Vĩnh Phú phải mất mấy năm sau mới khôi phục lại đời sống của dân. Thông thường nước ta cứ khoảng mười năm lại có những trận lụt kinh hoàng như vậy. Bác Mười cùng với các ngành đã tập trung chỉ đạo làm thủy điện; sau Thác Bà là đến Hòa Bình và sau đó là Tuyên Quang để vừa có nguồn điện lớn cho đất nước vừa hạn chế được lũ lụt, giảm nhẹ thiên tai và điều tiết nước chống hạn cho đồng bằng Bắc Bộ trong mùa khô hạn. Hệ thống thủy điện Thác Bà - Hòa Bình - Tuyên Quang là minh chứng cho một tầm nhìn chiến lược về khai thác và sử dụng tổng hợp tài nguyên nước.
Có một lần, bác Mười lên Vĩnh Phú kiểm tra Nhà máy phân lân Lâm Thao, bác thân mật nói với tôi:
- Ngọ ơi! Nước mình mỗi năm phải nhập 4 - 5 triệu tấn phân bón, rất tốn ngoại tệ, liệu mình có tự sản xuất được không?
Bác thường xuyên đến kiểm tra và yêu cầu tỉnh Vĩnh Phú phải hỗ trợ để thúc đẩy và mở rộng sản xuất phân lân Lâm Thao và phân tổng hợp NPK. Sau này tôi được biết từ Apatít Lào Cai đến Phân lân Lâm Thao và các cơ sở sản xuất phân bón như Đạm Bắc Giang đều được bác Đỗ Mười chỉ đạo thúc đẩy tiến độ thực hiện. Khi gặp chúng tôi, bác thường nói: "Nước ta ngành nông nghiệp là cơ bản, vì vậy trước tiên công nghiệp phải phục vụ nông nghiệp, nông nghiệp có phát triển thì mới yên dân và công nghiệp mới phát triển nhanh được. Các địa phương phải chủ động phối hợp với các nhà máy mở rộng sản xuất phân bón, máy móc, công cụ phục vụ nông nghiệp".
Thời gian trôi đi, có một hôm, bác Mười nhắn tôi xuống đón bác ở cầu Việt Trì. Xe của Tỉnh ủy xuống đón, khi nhìn thấy tôi, bác gọi:
- Ngọ ơi, lên đây ngồi với tớ.
Tôi nói:
- Thôi xin Bác cho tôi ngồi xe sau cũng được.
- Chú cứ lên đây.
Tôi lên xe cùng bác Mười. Sau mấy câu thăm hỏi công việc và gia đình, bác quay sang hỏi tôi:
- Chú quê Thanh Hóa, thỉnh thoảng có về thăm quê không? Có khi nào chú muốn về quê công tác không? Thanh Hóa đang thiếu cán bộ lãnh đạo...
- Thưa bác, tuy cháu là người quê Thanh Hóa nhưng cháu xa quê đã hơn ba mươi năm và cũng ít được quan hệ với các vị lão thành ở tỉnh.
- Không sao, trước lạ sau quen. Ở đâu cũng là công việc của Đảng, Vĩnh Phú gồm ba tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên, Phú Thọ nhập lại chú làm được thì về Thanh Hóa cũng làm được, tôi tin tưởng chú...
Suốt ngày hôm đó, bác Mười đã gặp gỡ trao đổi ý kiến với Thường vụ Tỉnh ủy và một số đồng chí cán bộ lão thành cách mạng đến tối rồi về thẳng Hà Nội.
Việc phải đến đã đến, sau đó bác Nguyễn Văn Linh lên thăm Vĩnh Phú và tháng 6-1988, tôi được Trung ương điều về làm Bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Khi về tỉnh Thanh Hoá, nhiệm vụ chính là chỉnh đốn tổ chức rất nặng nề, nhưng thử thách đầu tiên đối với tôi lại là một số huyện mất mùa, dân bị đói.
Cũng vào thời điểm này, Trung ương đã có lệnh điều 1,8 vạn tấn gạo của Thanh Hóa ra Hà Nội. Tôi thấy dân đói mà lại điều gạo về Trung ương, bức xúc quá nên quyết định ra Hà Nội trực tiếp báo cáo với bác Mười. Tôi nói: "Tôi đã đi kiểm tra ba huyện Quan Hóa, Bá Thước, Như Xuân thấy dân đói lắm bác ạ".
Bác có vẻ rất lo lắng và hỏi tôi: "Dân đói hả Ngọ? Thôi được rồi, để tôi gọi điện báo cáo với anh Nguyễn Văn Linh". Sau đó bác quay lại nói với tôi là Trung ương đồng ý để lại cho Thanh Hóa 1,8 vạn tấn gạo để cứu đói cho dân.
Ngay đêm đó, tôi về Thanh Hóa báo cáo với Thường vụ Tỉnh ủy và hôm sau gọi ba huyện lên nhận gạo cứu đói cho dân. Quyết định của bác Mười lúc đó đã làm vơi bớt nỗi khổ của người dân Thanh Hóa.
Khi tôi làm Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, bác làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, bác thường gọi điện sang nhắc nhở công việc:
- Phải giữ bằng được bát cơm cho dân. Đất nước mình người đông, đất hẹp, phải giữ đất trồng lúa, anh phải báo cáo Thủ tướng chỉ ra đất lúa chỗ nào, phải đưa công nghiệp lên vùng đất đồi, phải bảo vệ an ninh lương thực, phải đảm bảo bát cơm cho dân.
Một hôm tôi đến thăm bác, bác nói luôn:
- Hôm nay tôi muốn nghe chú nói thôi, không phải là báo cáo, vậy đất nông nghiệp còn được bao nhiêu? Đất lúa giữ lại bao nhiêu? Có nói được không?
Nhưng có lẽ cảm động nhất là khi tôi đi làm công tác chống lụt bão. Khi có những trận lụt bão lớn tôi thường trực tiếp đi xuống vùng lũ để chỉ đạo việc cứu dân. Trong những lúc khẩn cấp đó, bác luôn gọi điện xuống, kể cả những lúc đêm khuya. Năm 1999, trận lũ lịch sử xảy ra ở miền Trung, giữa đêm Bác gọi:
- Chú đang ở đâu?
- Em đang ở hồ Phú Ninh, Quảng Nam.
- Thành phố Tam Kỳ lụt sâu không?
Tôi trả lời:
- Lụt sâu 2,5m đến 3m, nguy hiểm lắm, bác ạ.
- Vậy có phải xả lũ hồ Phú Ninh không?
- Báo cáo bác, xả lũ thì tính mạng người dân vô cùng nguy hiểm.
- Vậy thì làm sao?
- Theo dõi sát mực nước lên, chuẩn bị mọi phương tiện cứu đập, cứu dân, đồng thời cảnh báo cho dân biết để chủ động và điều động cấp tốc 2.000 bộ đội lên bảo vệ mặt đập.
- Có được không?
- Được ạ
- Thế nhá, Ngọ báo cáo với các đồng chí địa phương, quân đội dù phải gian khổ đến mấy cũng phải bảo vệ đập, bảo vệ dân.
Chúng tôi như đã được tiếp lửa từ trái tim người lãnh đạo luôn lo lắng cho người dân.
Thời gian tôi làm Phó ban Thường trực Ban Tổ chức Trung ương Đảng (1991 – 1997), tôi được gần bác nhiều hơn. Tôi nhận thấy bác là con người có tầm nhìn chiến lược về sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, luôn xả thân vì công việc, vì dân, vì nước; làm việc gì cũng quyết liệt theo đuổi, đôn đốc đến cùng.
Hà Nội, ngày 5-3-2011
Diệu Ân ghi
_______________
*Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
BẢN LĨNH CHÍNH TRỊ CỦA NGƯỜI CỘNG SẢN NGUYỄN THỊ NGỌC LIÊN*
Ông Mười là người rất sâu sát, quan điểm của ông Mười là tuyệt đối trung thành, thẳng đường không có dọc ngang. Ông "cầm cương" giữ vững chủ nghĩa xã hội, đổi mới vẫn đi theo con đường chủ nghĩa xã hội. Khi ông làm Tổng Bí thư Đảng, ai có tư tưởng chuệch choạc là ông đấu tranh đến cùng. Vì ông quá kiên định như vậy khiến cho không ai có thể quẹo qua quẹo lại được.
Có lần chúng tôi cự ông là quá cứng nhắc, ông đã trả lời chúng tôi bằng cách là phát cho mỗi người một tập tài liệu về Mác để bắt chúng tôi phải đọc thật kỹ.
Ông nhắc nhở chúng tôi phải giữ vững 6 nguyên tắc của đổi mới như Nghị quyết Hội nghị Trung ương 6 khóa VI, tháng 3-1989.
Tôi rất quý gia đình ông Mười. Khi tôi về Cục Quản trị T.78 (thuộc Văn phòng Trung ương Đảng), tôi ở lầu 4, bà Thanh, vợ ông Mười ở lầu 2. Ông thế nào thì bà cũng như vậy. Bà Thanh là một phu nhân rất trong sáng, nhiều người mang vải ngoại rất đẹp đến tặng, bà không nhận. Bà nhờ tôi mua cho vải Việt Nam và chỉ có tôi đi may đồ bà mới vừa ý. Nhiều lần ông Mười vào miền Nam công tác, ghé thăm bà Thanh, gặp tôi ông dặn dò: "Cô ở trong này thay anh giúp đỡ, động viên chị và các cháu".
Cũng có lần ông bà mời tôi ăn cơm, trông mâm cơm đạm bạc, tôi nói vui: "Cơm thế này ai ăn nổi, chẳng lẽ Đảng không nuôi được anh sao?".
Tôi nói thế nhưng ông bà Mười không giận, vẫn ân cần mời tôi cùng ăn.
Ông Mười sống rất giản dị, tiết kiệm, đi đâu cũng chỉ mặc chiếc áo bộ đội đã cũ, có lần tôi nói: "Anh là Tổng Bí thư, ăn mặc cho đàng hoàng, anh là đại diện của quốc gia đấy".
Có lần chúng tôi thấy ông mặc áo sơ mi có kẻ sọc, liền nói nhỏ: "Ông Mười hôm nay đổi mới quá".
Ông Mười có phẩm chất trong sáng, chưa nghe ai nói ông Mười tơ hào cái gì của dân dù là một đồng xu. Ông làm việc hết mình. Tôi gần gũi với gia đình ông nên biết hai ông bà hạnh phúc lắm. Ông rất xót xa vợ con, khi bà mất ông khóc hụ hụ, chúng tôi cũng hết sức cảm động, ít ông chồng nào thương vợ như vậy.
Tôi thấy ông Mười rất thương yêu cán bộ. Tôi là người hay "cãi" nhất mà không bao giờ bị trù úm. Nếu có ai nói ông Mười như vậy tôi phản đối.
Khi làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ông Đỗ Mười đã tích cực chống lạm phát.
Thời kỳ đó Trung ương Đảng họp bàn về chống lạm phát quyết liệt lắm. Ông Đỗ Mười rất xông xáo trong lĩnh vực này. Ông chỉ đạo phải chủ động phát triển nội lực, đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp để trước mắt lo đủ gạo ăn.
Ông Mười chỉ đạo sát sao hai vựa lúa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long. Ông đi xuống tỉnh, xuống huyện yêu cầu nâng cao năng suất lúa, phát triển ngành nghề thủ công nghiệp. Để phá thế độc canh trong nông nghiệp, ông yêu cầu phát trồng cây công nghiệp ngắn ngày ở vùng trung du như cây cà phê, cây cao su, thuốc lá, đậu nành.
Chỉ khoảng nửa năm sau, nước ta đã có bước đột phá trong nông nghiệp, mở đầu là đồng bằng Nam Bộ. Gạo đã cân đối đủ ăn trong toàn quốc. Sau đó chúng ta còn xuất khẩu được gạo và cây công nghiệp như cao su, cà phê. Dự trữ quốc gia tăng lên rõ rệt. Hàng hóa thông thương hai miền Nam - Bắc.
Tôi còn nhớ, thời kỳ đó ta ký hợp đồng với Liên Xô là xuất cao su chưa tái chế cho họ, hầu như là không có lãi. Nếu như ta có nhà máy chế xuất cao su thì hàng hóa có giá trị kinh tế cao hơn nhiều lần.
Sau khi tham quan một số nước về, tôi đã có đề xuất với Trung ương cho Đồng Nai xây dựng Khu chế xuất Biên Hòa - Đồng Nai.
Đề xuất của tôi được Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân Đồng Nai ủng hộ.
Tôi mang dự án xin xây dựng khu chế xuất ra trình bày với Trung ương, lúc đó ông Mười rất ủng hộ. Tôi ở lại chờ hơn một tuần chưa thấy hồi âm, nhưng tôi vẫn quyết định ở lại Hà Nội chờ khi nào lãnh đạo thông qua mới về.
Một hôm, ông Võ Văn Kiệt, Phó Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng hỏi tôi:
- Sao cô chưa vào trong đó?
- Tôi chờ anh ký giấy phép rồi mới về.
Ông Kiệt cười động viên:
- Thôi được, để tôi xem lại.
Mấy hôm sau ông Kiệt nói với Văn phòng Chính phủ:
- Thôi, đánh máy để ký cho cô Hai Liên về.
Như vậy Đồng Nai được Trung ương cho ra đời khu chế xuất đầu tiên (năm 1987).
Ông Mười thương cán bộ lắm, nhưng đối với cán bộ vi phạm đường lối phẩm chất cách mạng, ông xử lý rất nghiêm.
Tôi cũng có nhiều kỷ niệm trong những cuộc đấu tranh bảo vệ nội bộ Đảng. Thực ra câu chuyện xảy ra đã lâu rồi, nhưng nó vẫn là bài học hết sức cần thiết để bảo vệ sự trong sáng trong nội bộ Đảng ta.
Tôi không nhớ rõ thời gian, nhưng cũng có lần nhận được tin báo về sự thiếu trung kiên của một cán bộ cao cấp khi ở trong nhà tù của Mỹ - ngụy, tôi đã không bỏ qua. Tôi đã phải dày công tìm tài liệu từ bên công an và tự sắp xếp thành một bộ hồ sơ. Tôi yêu cầu được báo cáo trục tiếp với đồng chí Tổng Bí thư. Hôm tôi trình bày có anh Vũ Chính và anh Nguyễn Đình Hương cùng dự.
Khi tôi trình bày xong, ông Mười có vẻ băn khoăn còn hỏi lại tôi:
- Liệu cô có bị nhầm lẫn không, cậu ấy bị tù đày, bị tra tấn cực khổ, ốm nhom, ốm nhách, lại là cán bộ cao cấp của Đảng ta, những cán bộ như vậy rất quý.
- Nếu em nói sai, em sẽ chịu tội trước Đảng. Tất cả các chứng cứ đều là sự thật, anh yên tâm.
- Nếu cô đảm bảo đúng sự thật, vấn đề này cần đưa ra Trung ương.
Khi ông Mười đồng ý đưa ra Trung ương, tôi thật sự mừng là ông còn rất tin tưởng vào cán bộ cấp dưới và quyết tâm chống lại những con người cơ hội phản bội. Sau này đồng chí cán bộ cao cấp đó đã bị khai trừ khỏi Đảng...
Tỉnh Đồng Nai đặc chủng là Công giáo, riêng tỉnh Đồng Nai có 300 linh mục (bằng số linh mục ở miền Bắc).
Khi tôi làm Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai, tôi mới có 37 tuổi, là Ủy viên Trung ương trẻ nhất từ khóa V. Khi ông Mười làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng cũng nhiều lần về làm việc với Đồng Nai.
Lần nào về ông Mười cũng ân cần thăm hỏi đời sống bà con Công giáo.
Ông thường hỏi:
- Đời sống đồng bào thế nào? Đảng, chính quyền giúp đỡ đồng bào Công giáo ra sao?
Có lần tôi nói với ông:
- Anh có đến thăm bà con dòng Mến Thánh giá ở Trà Cổ Đồng Nai không?
Ông trả lời ngay:
- Tôi đi chứ, nhưng cô cho tôi biết tình hình ở đó ra sao?
- Đồng bào dưới đó là Công giáo toàn tòng, họ được tổ chức vào hợp tác xã công, thương, tín. Hợp tác xã đã giải quyết việc làm cho bà con. Họ trồng khoai mì, trồng dâu, nuôi tằm, đời sống bà con ổn định tốt. Đây là một mô hình hay, chúng tôi sẽ nhân rộng trong toàn tỉnh.
Đoàn cán bộ của tỉnh, có công an dẫn đường đưa ông Mười xuống Trà Cổ. Khi đến hợp tác xã, tôi dặn mấy chú công an: "Tụi bay chờ ngoài này để ông Đỗ Mười đi vào cùng cán bộ tỉnh thôi". Trong đoàn có anh Phan Trọng Kính là thư ký riêng và có anh Thanh là bảo vệ.
Bà con thấy ông Đỗ Mười đến thăm rất vui mừng, tập hợp về hội trường, ông Mười bắt tay bà con và căn dặn, đại ý là bà con cần phấn đấu sản xuất tốt hơn nữa để cuộc sống khá giả hơn. Bà con giáo dân ở Trà Cổ cảm động lắm.
Cũng có lần tôi đưa ông Mười đi thăm Nhà máy điện Trị An đang thi công.
Ông Mười đi xe Lađa của Liên Xô. Khi đến Trị An đầu ông Mười toàn bụi đỏ, ông phải đi tắm gội và thay quần áo.
Mặc dù thời gian qua lâu, nhưng tôi vẫn nhớ kỷ niệm này.
Ở Nhà máy điện Trị An đa số là đồng bào Công giáo. Ông Mười đã phát biểu, động viên anh chị em trí thức, công nhân, bà con cố gắng phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật để mau chóng có điện phục vụ sản xuất và đời sống của dân.
Tháng 11-2010
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đồng Nai, nguyên Phó Tổng Thanh tra Nhà nước.
BÀI HỌC VỀ DÂN CHỦ CƠ SỞ LÊ DANH XƯƠNG
Bác Đỗ Mười có rất nhiều kỷ niệm với Hải Phòng. Chúng tôi học tập bác về phong cách lãnh đạo, tình cảm sâu sắc, tình đồng chí và sự quan tâm thiết thực đối với đời sống của công nhân, nông dân và dân nghèo thành thị.
Chúng tôi quý bác đến mức không có gì không thể nói với bác. Mỗi khi chúng tôi sai, bác chỉ bảo ngay và nhắc nhở rất nghiêm khắc. Bác luôn nhắc lãnh đạo Hải Phòng phải làm việc tốt hơn nữa, không bao giờ được thỏa mãn, chủ quan. Bác Mười đặc biệt quan tâm căn dặn xây dựng tốt các cơ sở Đảng; phải biết vươn bàn tay của Đảng đến các cơ sở sản xuất, Đảng phải gắn bó mật thiết với dân.
Bác về Hải Phòng chỉ đạo việc thực hiện quyền làm chủ của dân. Lãnh đạo Hải Phòng mời bác về Thành ủy, Bác Đỗ Mười nói: "Nên làm như vậy, đó là thực hiện dân chủ thiết thực nhất".
Về nông nghiệp bác cũng rất quan tâm. Bác yêu cầu chúng tôi đưa về thăm xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo sau đó thăm xã Dư Hàng Kênh (huyện An Hai). Bác tham gia nhiều ý kiến hay, có một câu nói mà tất cả nông dân Hải Phòng đều ghi nhớ: "Ly nông, không ly hương", có nghĩa là tạo ngành nghề thủ công cho nông dân, không để dân thất nghiệp, phải đi ra thành phố.
Bác còn góp ý cho chúng tôi đầu tư chiều sâu vào giống mới, cây trồng, vật nuôi, biết rút dần lao động cây trồng sang chăn nuôi. Có một lần về Hải Phòng bác đã nghiêm khắc hỏi chúng tôi: "Vì sao Hải Phòng lại để thất thoát điện trầm trọng như vậy? Dân kêu vệ sinh kém, nước kém, vào một thành phố cảng lớn nhất nước như vậy mà thấy toàn những dây thừng tha từ nhà cao tầng để câu nước lên như những sợi dây thòng lọng như vậy là thế nào? Cả thành phố các anh làm ăn ra sao?". Chúng tôi nghe bác phê bình như vậy thấy rất xấu hổ, riêng tôi thấy mình phải chịu trách nhiệm lớn về vấn đề này. Bác nói xong rồi bảo tôi: "Anh cho tôi đi bộ thăm thành phố của các anh".
Thành phố cử một đoàn cán bộ đi theo, có cả công an bảo vệ cùng đi.
Sau khi đi khảo sát một vòng về, chúng tôi báo cáo tình hình khó khăn của Hải Phòng. Bác Đỗ Mười lắng nghe xong nói luôn: "Khó mới cần các anh. Tôi nói như vậy các anh đừng buồn đấy, khó thì bao giờ cũng khó, cách mạng là khó khăn nhưng cái khó phải ló cái khôn. Các anh không được ngồi than phiền, nếu các anh không giải quyết đời sống cho dân thì các anh chẳng còn để mà than phiền".
Thấy những lời góp ý của bác Mười hết sức thân tình, Đảng bộ chúng tôi hứa quyết tâm sửa chữa, khắc phục bằng được tình trạng ấy.
Lúc đó, Hải Phòng đứng hạng cuối cùng của cả nước về tình trạng điện, nước và vệ sinh. Sau khi nghe những lời phê bình của bác Đỗ Mười, Đảng bộ chúng tôi nghiêm túc kiểm điểm và phải quyết liệt giải bằng được bài toán khó này. Đảng bộ và chính quyền thành phố cùng ra tay. Trước tiên, chúng tôi yêu cầu ngành điện, ngành nước tham mưu. Sau đó chúng tôi từng bước cải tạo mạng lưới điện và hệ thống nước sạch. Khi chúng tôi cải tạo hoàn toàn hệ thống nước sạch, bác Đỗ Mười lại về Hải Phòng kiểm tra. Bác hỏi nhân dân: "Họ nói nước uống ngay được có đúng không".
Nhân dân vui mừng khoe: "Đúng đấy ạ! Nước trong và sạch lắm ạ. Hải Phòng không còn thiếu nước nữa, nhà tầng vẫn còn dư nước ạ"
Sau 5 năm tích cực thực hiện các chương trình dân sinh xã hội, Hải Phòng trở thành đơn vị đứng đầu cả nước về phong trào tiết kiệm điện và thỏa mãn nguồn nước sạch cho dân Thành phố xanh, sạch, đẹp, trở thành nơi du lịch cho khách thập phương
Toàn dân Hải Phòng ai cũng biết và kính trọng bác Mười. Bác Mười Bác đã làm Chủ tịch ủy ban quân quản Hải Phòng từ năm 1955. Khi lên phát biểu ở Nhà hát Hải Phòng, bác rất gày, dân ta thương bác lắm. Tình cảm của bác Mười thấm vào lòng dân Hải Phòng sâu sắc lắm. Bác là người có tinh thần đấu tranh chống tiêu cực, luôn luôn giữ gìn bản thân và gương mẫu cần, kiệm, liêm, chính. Nhiều lần lên Hà Nội chúng tôi thường ghé thăm nhà Bác. Bác tâm sự rất cởi mở: "Tớ có gì đâu, xe ô tô cũng của Nhà nước, tớ cứ ở chỗ này, gọn gàng, lại được sống hòa cùng nhân dân, chả muốn đi đâu".
Lúc nào bác cũng ân cần hỏi thăm chúng tôi: "Con các cậu thế nào? Vợ có khỏe không?". Tình cảm của bác quyện với tình cảm của mỗi chúng tôi, chúng tôi luôn bộc bạch tâm tư của mình mong được sự động viên ân cần của bác. Trái tim, tâm hồn của bác gắn bó bền chặt với cán bộ nhân dân Hải Phòng.
Chính nhờ học tập nhiều ở bác mà tôi đứng vững lãnh đạo Đảng bộ Hải Phòng 15 năm không bị sai phạm. Nhưng có một việc chúng tôi, chưa học bác được, đó là khả năng đọc sách, nghiên cứu tài liệu của bác rất đặc biệt. Khi gặp chúng tôi, câu đầu tiên bác nói là: "Các anh đã đọc cuốn sách này chưa? Nếu chưa đọc, các anh phải đọc đi, tôi cho mượn về mà đọc". Đúng là Đảng ta may mắn có một nhà lãnh đạo có trình độ uyên thâm như bác Mười. Có một số đồng chí, cán bộ tâm sự với tôi: "Bác mắng cho, nhưng lại bảo cách làm nên rất phấn khởi".
Riêng tôi học bác cách gần dân, nghe dân nói, nghe dân hiến kế. Chính nhờ vậy mà tránh được bệnh quan liêu, tôi cũng thấm thía cách góp ý cho cán bộ phải vừa thẳng thắn vừa thương yêu sẽ giúp cho đồng chí không bi quan. Mỗi lần cán bộ có khuyết điểm tôi thường gặp riêng góp ý, không đao to búa lớn. Chính vì như vậy, nên giữ được đoàn kết trong Đảng bộ.
Bài học về dân chủ ở cơ sở thật thấm thía, cán bộ gần dân, được dân tin yêu là một hạnh phúc lớn.
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––
* Nguyên ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Thành ủy Hải Phòng.
BÁC MƯỜI VỚI VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO CÁN BỘ TRẺ CHO ĐẢNG LÊ HOÀNG QUÂN*
Tôi được biết bác Đỗ Mười từ khi bác làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Thủ tướng Chính phủ), lúc đó tôi còn rất trẻ, mới ngoài ba mươi tuổi và đang làm Bí thư thị xã Biên Hòa. Bác Đỗ Mười thường xuyên vào thăm Biên Hòa, bác quan tâm đến khu công nghiệp, đặc biệt là Nhà máy kéo lớn do Liên Xô viện trợ, bác quyết tâm xây dựng công nghiệp cơ khí. Mỗi lần về Biên Hòa bác đều thăm hỏi đời sống của cán bộ, công nhân công nghiệp và nhắc nhở chú ý mặt hàng máy cày, máy kéo cho nông dân.
Năm 1991, khi Liên Xô sụp đổ, trong Đảng ta cũng có những đồng chí đòi hỏi phải đa đảng, có đồng chí dao động, mất lòng tin, hoang mang, lo lắng, nhưng đại đa số các đồng chí đảng viên vẫn tuyệt đối trung thành với Đảng. Nhân dân, đảng viên ở Biên Hòa vẫn không có biểu hiện hoang mang, chúng tôi được học tập Cương lĩnh 1991, lúc đó đồng chí Đỗ Mười làm Tổng Bí thư Đảng (khoá VII). Các chi bộ, các đảng viên sôi nổi thảo luận Cương lĩnh, nội dung bản Cương lĩnh toát lên hai điểm cơ bản, đó là: khẳng định chủ nghĩa Mác - Lênin, khẳng định tư tưởng Hồ Chí Minh; Cương lĩnh đã thống nhất được tư tưởng, hành động, kiên định con đường đổi mới trong toàn Đảng, toàn dân.
Chúng ta đã rút ra những bài học đổi mới sau thất bại của Liên Xô, với những kết luận, đó là: Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Trong Bộ Chính trị có ông Đỗ Mười làm Tổng Bí thư, ông Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước và ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng đã tạo ra thế chân kiềng rất vững vàng. Đảng ta đã lãnh đạo đất nước ta vượt qua thời kỳ sóng gió, thông qua việc học tập thực hiện theo Cương lĩnh 1991 đã ổn định chính trị, ổn định lòng dân.
Tôi cũng có một kỷ niệm khá sâu sắc với bác Đỗ Mười, bác rất tin vào cán bộ trẻ, quan tâm phát hiện bồi dưỡng cán bộ trẻ.
Vào khoảng năm 1996, tập thể Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai ra gặp Bộ Chính trị xin ý kiến về việc lựa chọn cán bộ làm Chủ tịch ủy ban nhân tỉnh Đồng Nai. Sau chuyến đi đó về, các đồng chí có phổ biến lại cho tôi và nhấn mạnh lời đồng chí Đỗ Mười: "Hiền thì tốt và trẻ cũng tốt, Lê Hoàng Quân đã trưởng thành từ cán bộ phong trào, hiện là Bí thư Biên Hòa, cậu ấy có năng lực, có thể đảm nhận Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai được, cứ giao việc cho cậu ấy rồi giúp đỡ, uốn nắn thêm". Thực ra lúc đó tôi hoàn toàn không bao giờ nghĩ là mình được gánh vác trách nhiệm lớn như vậy, vì tôi mới ngoài bốn mươi tuổi. Khi làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, tôi phải làm hết sức cố gắng để không phụ lòng tin của các đồng chí lãnh đạo.
Tỉnh Đồng Nai là tỉnh lớn, có truyền thống cách mạng. Trong thời kỳ đổi mới, Đồng Nai đi đầu trong những hoạt động đầu tư với nhiều dự án lớn. Bác Đỗ Mười thường hay về thăm Đồng Nai, nhiều lần tôi được báo cáo sự phát triển của tỉnh cho bác nghe, bác tỏ ra rất hài lòng. Khi tôi về làm Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, bác Đỗ Mười vẫn luôn quan tâm động viên và cho tôi những lời khuyên hết sức quan trọng, thiết thực. Mỗi khi tôi ra Hà Nội công tác, tôi vẫn tới thăm gia đình bác. Tôi vẫn nhận thấy ở bác một bầu nhiệt huyết, luôn trăn trở với đất nước, nêu tấm gương về trách nhiệm của người đảng viên. Hằng ngày bác vẫn miệt mài đọc sách, nghiên cứu các tài liệu nên có những am hiểu sâu sắc muốn truyền đạt cho lớp cán bộ trẻ.
Tôi hết sức kính trọng tấm gương cống hiến, đức tính "cần kiệm, liêm, chính" của bác Đỗ Mười. Bác là một học trò xuất sắc của Bác Hồ. Tôi còn học hỏi ở bác tính quyết đoán trong lãnh đạo nước, những thử thách của thời cuộc để biết tập hợp lực lượng của toàn Đảng, toàn dân, để cùng nhau bảo vệ đường lối.
Hiện nay, những thế lực thù địch dùng nhiều thủ đoạn bôi xấu lãnh tụ của ta, hòng chia rẽ nội bộ ta, làm mất lòng tin của dân với Đảng ta. Ta cần chủ động nêu cao những gương sáng của các lãnh tụ để cho nhân dân biết, đó chính là tăng thêm tình yêu của dân với Đảng, với Nhà nước ta.
Ngày 17-5-2010
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––
* Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
BÁC ĐỖ MƯỜI - MỘT CẢM XÚC TRONG TÔI PGS. TS. TRẦN THỊ TRUNG CHIẾN *
Tôi còn nhớ vào mùa hè năm 1996, Đại hội VIII diễn ra tại Thủ đô Hà Nội. Tại đại hội này, tôi được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương. Sau khi Đại hội VIII bế mạc thì phiên họp thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII khai mạc. Tâm trạng tôi lúc này vừa mừng vừa lo, với trách nhiệm mới của mình phải làm thế nào để xứng đáng với lòng tin của Đảng của nhân dân.
Tại Văn phòng Trung ương ở số 4 phố Nguyên Cảnh Chân, các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành mới và khách mời đến rất đông đủ. Tôi cùng một vài đồng chí đang đứng trước cửa hội trường chào hỏi và trao đổi công việc với nhau thì bác Đỗ Mười bước đến bắt tay chúng tôi và thăm hỏi một cách thân mật, gần gũi, giản dị như một người bạn, một người đồng chí.
Sau đó bác Mười bước đến cạnh tôi và nói: "Chị tham gia Ban Chấp hành Trung ương rồi, chị phải học tập tấm gương Bà Trưng, Bà Triệu, chị Ba Định…. Chị cũng là một trong số những người đại diện cho phụ nữ miền Nam đấy". Tôi đáp: "Thưa bác, cháu sẽ cố gắng hơn nữa". Bác lại nói tiếp: "Bây giờ ở Bộ Y tế có hai ủy viên Trung ương rồi, chắc công việc của ngành y tế phải làm tốt hơn. Hiện nay bà con mình ở vùng sâu, vùng xa, người nghèo bị bệnh gặp rất nhiều khó khăn. Tôi đã đi thăm một số cơ sở y tế thì thấy rất chật chội, 2 - 3 người một giường bệnh. Thuốc men chưa đầy đủ, trang thiết bị thì cũng còn quá đơn giản, đặc biệt là các đơn vị y tế tại huyện, xã chưa đủ bác sĩ thì làm sao lo sức khỏe tốt cho dân được. Bây giờ làm thế nào mỗi xã phải có một bác sĩ thì tốt nhất. Chị phải bàn bạc trong lãnh đạo bộ, anh em trong ngành xem xét đưa ra giải pháp để kiến nghị đến Trung ương, Chính phủ, Quốc hội, cho việc chăm lo sức khỏe của người dân trong thời gian tới". Sau đó bác bước vào vào hội trường vì giờ họp đã bắt đầu.
Tôi nhìn theo dáng đi của bác mà dâng trào một tình cảm thân thương, kính trọng. Tôi xem bác như một người cha, một người thầy, một người đồng chí hết lòng vì sức khỏe nhân dân, vì sự nghiệp của đất nước. Những lần họp Ban Chấp hành Trung ương tiếp theo, bác Mười đều hỏi thăm tôi về công việc của ngành y tế và chỉ bảo tôi rất nhiều việc cần phải làm của ngành. Lần họp Hội nghị lần thứ hai của Ban Chấp hành khóa VIII, bác có nói với tôi: "Bộ Y tế trong cơ cấu Ban Chấp hành Trung ương thì không có hai ủy viên Trung ương, chắc tới đây phải điều động đi một, chị chuẩn bị nhận nhiệm vụ mới". Nghe bác nói, tôi rất lo lắng, không rõ nhiệm vụ gì sẽ được giao cho tôi nhưng tôi không dám hỏi lại.
Câu chuyện mà đồng chí Tổng Bí thư nói với tôi hôm đó đã thành sự thật. Vào tháng 10-1997, tôi được điều động và bổ nhiệm làm Bộ trưởng - Chủ nhiệm Ủy ban quốc gia dân số, kế hoạch hóa gia đình thay cho Giáo sư Mai Kỷ nghỉ hưu.
Đầu năm 2003, tôi đang giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Y tế, có nhiều vấn đề bức xúc trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, tình hình dịch bệnh phát triển rất mạnh trong đó có dịch SARS, H1N1, dịch sốt xuất huyết, tiêu chảy, cán bộ y tế thì thiếu, bệnh viện thì không đủ giường bệnh cho bệnh nhân... Đặc biệt thị trường dược phẩm Việt Nam có xu hướng tăng giá đột biến, vì tỷ giá ngoại tệ biến động, trong khi đó 90% các nguyên liệu sản xuất thuốc tại Việt Nam phải nhập khẩu, dẫn đến tình trạng độc quyền trong việc cung cấp thuốc. Vì vậy, chúng ta không thể chủ động được sản xuất thuốc trong nước để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân. Thời điểm này dư luận báo chí rất quan tâm và phê phán về việc bình ổn giá thuốc và trách nhiệm vụ của Bộ Y tế, trong khi đó theo Nghị định số 49 của Chính phủ về chức năng nhiệm vụ của Bộ Y tế thì không có chức năng quản lý giá. Sự kiện này đã gây dư luận không tốt cho nhân dân về tình hình giá thuốc. Thủ tướng và Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Y tế, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ và các bộ, ngành có liên quan tìm giải pháp tháo gỡ khó khăn này.
Vào tối ngày 2-6-2004, lúc gần 22 giờ, chuông điện thoại trên bàn reo lên, tôi nhấc máy thì đầu dây bên kia có giọng nói: "Bác Mười muốn nói chuyện với chị". Tôi giật mình và trả lời: "Vâng, tôi nghe đây". Bác Mười nói: "Chị đừng có buồn và quá lo lắng, vấn đề giá thuốc đã xảy ra nhiều năm rồi, tôi cũng đã trao đổi với anh Đỗ Nguyên Phương trước đây. Việc này khó khăn lắm mà nguyên nhân là mình không phát triển được công nghiệp dược trong nước, đặc biệt là nguồn nguyên liệu và một số thuốc đặc trị. Do đó, có khá nhiều công ty độc quyền, cho nên chúng ta không kiềm chế và quản lý được vấn đề giá thuốc. Một số nước trong khu vực cũng giống tình trạng như thế. Trước đây, tôi có bàn với anh Phạm Song, anh Đỗ Nguyên Phương làm thế nào chúng ta phải có nhà máy sản xuất được kháng sinh và có giải pháp, cơ chế, chính sách để phát triển ngành dược của nước mình. Ngày mai chị đến gặp tôi".
Sự quan tâm chỉ bảo và động viên của bác làm cho tôi quá cảm động, như tiếp thêm một sức mạnh mới cho tôi để làm tốt công việc của mình hơn nữa.
Nhớ lời dặn của bác Mười, chiều ngày 26-6-2004, tôi đến gặp bác tại nhà Bác bắt đầu phân tích tình hình diễn biến kinh tế - xã hội của Việt Nam, của thế giới, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong bối cảnh hội nhập vai trò của Chính phủ trong điều hành kinh tế - xã hội đạt được mục tiêu đã đề ra... Đặc biệt là vấn đề y tế, bác rất quan tâm, Bác nói: "Tôi thấy vừa qua mình làm rất tốt công tác y tế dự phòng, nhất là trong việc đối phó với dịch SARS, H1N1. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã cảnh báo về đại dịch cúm A H1N1 lây từ người sang người mà Việt Nam là trọng điểm. Tôi thấy Chính phủ vừa qua đã lo chuẩn bị các phương án đối phó và còn tổ chức sản xuất thuốc Tamiflu dự trữ là tốt rồi. Đối với vấn đề khám, chữa bệnh còn khó khăn nhiều lắm và phải mất nhiều thời gian, phải đầu tư nhiều hơn và phát triển y tế tư nhân tại nhưng khu vực mà bà con có khả năng chi trả. Làm thế nào mà không còn tình trạng 2-3 người một giường bệnh nữa. Đặc biệt là phải chăm lo cho gia đình chính sách, gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình nghèo ở vùng sâu, vùng xa. Cố gắng làm sao mình phải có nhà máy sản xuất thuốc kháng sinh hợp tác với các công ty dược phẩm nước ngoài để sản xuất được thuốc đặc trị trong nước thì mới chủ động được vấn đề giá cả và chất lượng thuốc cho nhân dân".
Những năm tháng sau đó, thỉnh thoảng tôi đến thăm và xin ý kiến bác. Mỗi lần gặp được nghe bác nói, bác dặn dò công việc một cách say sưa và tâm huyết, tôi cảm nhận lòng yêu dân và cách nhiệm với Đảng của Bác.
Tôi đã học tập rất nhiều ở bác về tầm nhìn về nhân cách. Bác là tấm gương cho tôi để nâng cao hơn nữa trách nhiệm và niềm tin để làm tốt công việc của mình. Tôi luôn luôn mong bác Mười khỏe mạnh sống vui vẻ với con cháu.
––––––––––––––––
*Nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế
TRỌN ĐỜI TÔI VẪN NHỚ LÊ QUANG VỊNH*
Chuyện cũ đã qua lâu lắm rồi, các chi tiết cụ thể tôi không còn nhớ nổi nhưng nghĩa tình ngày xưa ấy thì bao giờ cũng cháy bỏng trong tôi.
Năm ấy, tôi cũng không nhớ chính xác là năm nào trong thập niên 80 của thế kỷ XX, chỉ nhớ vào lúc ấy tôi đang công tác ở Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với cương vị là Phó Tổng Thư ký, kiêm ủy viên Đoàn Chủ tịch. Ban Bí thư Trung ương Đảng ra quyết định điều động tôi về nhận nhiệm vụ ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy kiêm Bí thư Huyện ủy một huyện đảo với chức trách cụ thể là xây dựng huyện trở thành một thành phố trên biển.
Có lẽ để khích lệ tôi trước một nhiệm vụ còn mới mẻ và khó khăn, tôi nhớ hình như hồi ấy Quyền Thủ tướng mời tôi dự một bữa cơm thân mật và dặn dò tôi trước khi tôi lên đường.
Quả thật, ngay từ buổi ban đầu, công việc của tôi đã tỏ ra không dễ dàng, suôn sẻ. Từ khi được giải phóng cho đến lúc đó, tôi chỉ làm công tác khoa học giáo dục, rồi công tác vận động quần chúng, công tác đoàn thể. Bây giờ chuyển qua công tác tổ chức hành chính, công tác đảng, công tác chính quyền, tôi cảm thấy bỡ ngỡ, lúng túng, nhất là về những vấn đề quyền lực và lợi ích, những vấn đề sinh tử của người đời.
Hai năm sau ngày nhận nhiệm vụ, những vụ việc phức tạp trên huyện đảo đã nổ bùng ra thành chuyện to lớn. Trước hết ở cấp huyện, tôi thấy có nhiều tiêu cực dính líu đến một số cán bộ chủ chốt của huyện. Do đó, tôi không thể đưa vấn đề ra Huyện ủy mà phải báo cáo lên Thường trực Tỉnh ủy. Sau mấy lần báo cáo, ý kiến của tôi đều bị gạt phăng đi. Vì vậy, tôi đành lẳng lặng ra báo cáo thẳng với Trung ương.
Hồi đó, bác Đỗ Mười làm Thường trực Ban Bí thư Trung ương Đảng, bác nhận báo cáo và yên lặng nghe tôi trình bày. Sau đó, bác bảo tôi về và tiếp tục cáng đáng công việc.
Thế rồi người ta liên tục mở ra hàng loạt cuộc họp kiểm điểm phê bình về việc gọi là tôi "gây mất đoàn kết nội bộ", "báo cáo vượt cấp những vấn đề không có thật"... Tính ra thì cũng cả chục vấn đề. Sau mỗi lần kiểm điểm phê bình, tôi chỉ biết nói hai tiếng "bảo lưu"!.
Lần cuối cùng, lúc đó tôi đang bị bệnh nặng, phải về Thành phố Hồ Chí Minh điều trị đã nhiều tháng rồi, phiên họp toàn thể Ban Chấp hành Tỉnh ủy quyết định hình thức kỷ luật tôi là cảnh cáo.
Tôi về Thành phố Hồ Chí Minh chữa trị bệnh, mãi cho đến hơn một năm sau nữa mới khỏi. Tỉnh ủy cho tôi chuyển công tác. Tôi trở lại công tác ở Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nhưng không phải là Phó Tổng Thư ký, Ủy viên Đoàn Chủ tịch mà với chức danh "chuyên viên cao cấp".
Thật ra, lúc đó tôi cũng không biết tôi sẽ làm gì, gần như ai cũng mỉa mai tôi là "ngồi chơi xơi nước". Tuy nhiên, tôi cũng có những công việc mà tôi làm say mê thích thú. Đó là nghiên cứu những chuyên đề về công tác Mặt trận Tổ quốc ở cơ sở.
Thời gian trôi qua thật nhanh, thấm thoắt tôi về lại Mặt trận Tổ quốc Trung ương đã hơn 4 năm. Tôi gần như quên hết những việc đã xảy ra ở huyện đảo trước đây.
Một hôm, tôi được Văn phòng thông báo là Ban Thư ký muốn tìm lại tất cả những chiến sĩ tử tù thời Mỹ - ngụy và tổ chức cho họ có một chuyến ra thăm Thủ đô, vào lăng viếng Bách về quê Bác, về quê hương cách mạng ở Việt Bắc, thăm mái đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào... và tôi là người có trách nhiệm cụ thể thực hiện việc đi tìm ấy.
Tù tử hình thì tôi biết tương đối rõ, bởi bản thân tôi đã ở trong ngục tử hình nhiều năm. Hồi đó ngục tử hình ở Côn Đảo gồm có ba phòng: 2, 3, 4 của trại II (sau đổi tên là trại Phú Hải). Đến năm 1965, gần 200 tù tử hình được chuyển thành chung thân khổ sai, chỉ còn lại 16 người (kể cả chính trị và thường án) là vẫn còn mang án tử hình thôi, thì tôi mới ra khỏi cái khu "tu dưỡng". Bấy giờ chỉ còn lại một phòng duy nhất là phòng 3. Vì vậy, sau khi đã bàn bạc kỹ lưỡng, chúng tôi nhất trí chỉ tập hợp những người mang án tử hình cho đến ngày 30-4-1975 mà thôi.
Đoàn được Tổng Bí thư tiếp. Tôi lúc đó là cán bộ tổ chức, không thuộc diện chiến sĩ tử tù. Tuy nhiên, nhiều trường hợp người ta vẫn nhắc tới tôi như một chiến sĩ tử tù. Phần tôi, mỗi lần được dự chung với các anh chị mang án tử hình cho đến ngày 30-4-1975, tôi vẫn cảm thấy miễn cưỡng thế nào đấy. Lý do là đến năm 1965, tôi không còn mang án tử hình nữa. Vả lại, án tử hình là của kẻ địch gán ghép cho mình, chứ đâu phải là một danh hiệu cách mạng, bởi trong số tù tử hình ấy có một số người tuy mang án tử hình chính trị nhưng không hề hoạt động cách mạng gì cả, họ là dân thường bị kẻ địch bắt bớ, đánh đập tàn bạo đến mức phải nhận lún những vụ việc mà mình không làm.
Hôm ấy, Tổng Bí thư tiếp đoàn chiến sĩ tử tù tại khách sạn Tây Hồ với nhiều đồng chí ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng. Tôi thật bất ngờ khi bác Mười bắt đầu bài nói trước một cử tọa đặc biệt như thế. Tôi dùng chữ "bài nói" bởi đó là một bài có bố cục, có chuẩn bị công phu. Sau khi nói về đoàn chiến sĩ tử tù, rồi bác chuyển sang nói về tôi. Bác Mười nói nhiều, nhưng tai tôi không còn nghe được nữa, mắt tôi không còn trông thấy gì nữa, lệ nóng lăn xuống má và tôi khóc nức nở...
Khoảng chừng hai tháng sau khi kết thúc chuyến đi lịch sử của đoàn chiến sĩ tử tù, tôi được bổ nhiệm làm Phó Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ. Hai năm sau đó tôi được bổ nhiệm làm Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ. Đồng thời Bộ Chính trị ra quyết định cử tôi làm Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương, một chức danh trong Đảng mà các Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ khác qua các thời kỳ không có.
Sau khi được bổ nhiệm làm Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương, Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ, tôi được Tổng Bí thư gọi đến căn dặn về những vấn đề tín ngưỡng tôn giáo.
Bác Mười bảo: "Đại đoàn kết dân tộc là đường lối cơ bản của Đảng và Nhà nước ta… Dù tôn giáo thế nào, tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, toàn xã hội đều phải sống và làm việc theo đúng chính sách và pháp luật của Nhà nước... Đại đoàn kết dân tộc phải lấy mục tiêu thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập dân chủ và giàu mạnh, góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ trên thế giới làm điểm tương đồng, đồng thời chấp nhận những điểm khác nhau, tất cả vì độc lập của Tổ quốc, tự do và hạnh phúc của nhân dân...".
Qua những lời bác nói, tôi tự nhiên thấy chính nghĩa sáng ngời chính sách của Đảng. Có lẽ không ai quên được bài học lịch sử về việc các vua chúa nước ta thời ấy vì muốn giữ độc lập chủ quyền mà bắt đạo, cấm đạo, phủ nhận nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của quần chúng, khiến cho công cuộc đoàn kết toàn dân chống xâm lược bị thất bại. Bởi vì nếu tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân thì tất cả mọi người đều có nhu cầu cuộc sống đời thường như nhau. Bởi vì cho dù các thành viên của xã hội có nhận thức thế nào về thế giới bên kia thì trong thế giới hiện thực vẫn phải sống với nhau trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Sự đồng thuận xã hội không đòi hỏi tín ngưỡng hay không tín ngưỡng phải giống nhau, nhưng yêu cầu phải bảo đảm và tôn trọng Hiến pháp và pháp luật Nhà nước.
Tôi nêu lên một thắc mắc: "Lịch sử đã chứng minh là thực dân đế quốc luôn luôn lợi dụng tôn giáo để phá hoại độc lập, thống nhất dân tộc".
Bác Mười cười, không trả lời thẳng vào thắc mắc của tôi mà dẫn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Thực dân phong kiến thi hành chính sách chia rẽ đồng bào giáo và đồng bào lương để thống trị. Tôi đề nghị Chính phủ ra tuyên bố. Tín ngưỡng tự do và lương giao đoàn kết!"1.
Tôi lại hỏi: "Nhưng sao có thể xóa bỏ quá khứ, sửa đổi lịch sử?".
Bác Mười lại cười và nói: "Không ai có quyền và có thể sửa đổi lịch sử, quá khứ. Vì sự nghiệp lớn, chúng ta cần khép lại quá khứ mở ra tương lai, xóa bỏ là xóa bỏ định kiến, mặc cảm, hận thù để xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau... Ngày nay mà còn nuôi thù hận, cản trở hòa hợp là có tội đó!".
Hai mươi năm đổi mới đã trôi qua, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách nhằm thúc đẩy hòa hợp dân tộc để thống nhất lòng người. Tất nhiên vấn đề đó không hề dễ dàng suôn sẻ.
Trên thế giới, lịch sử của nhiều quốc gia cũng cho thấy họ đã từng trăn trở để hòa hợp dân tộc, thống nhất lòng người, nhưng không có trường hợp nào giống như Việt Nam chúng ta. Có lẽ cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất của dân tộc ta lâu dài quá, các bạo cường quốc cướp nước ta nhiều quá, cách thức xâm lược cũng đa dạng quá…
Bác Mười nói tiếp bằng giọng nói xa xăm như một nhà hiền triết: "Thì phải phát huy những truyền thống nhân nghĩa của ông cha ta ngày xưa, truyền thống đạo đức của dân tộc ta từ ngàn năm trước…".
Qua lời bác Mười, trong tôi vụt hiện lên nhưng cảnh tượng thê lương, bi đát của thời Đông Hán sang cai trị Giao Chỉ và những lời kêu gọi toàn dân hợp đoàn nổi dậy:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương
Người trong một nước phải thương nhau cùng...
Trong nhà tù Côn Đảo thời chống Mỹ, tù chính trị vẫn dạy cho nhau học một bài thơ dài nhan đề là Kinh nhật tụng, tương truyền là của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó có một đoạn 20 câu nói về tôn giáo như sau:
Với tôn giáo đạo nào cũng đạo
Đừng chia ra đó giáo đây lương.
Giáo lương cũng một đau thương
Mẹ cha một giống quê hương một nòi.
Hỡi lương giáo một lời tha thiết.
Nghĩa đồng bào phải biết thương nhau
Lẽ nào cắt áo chia bâu
Để cho máu chảy ruột rầu sao đang?
Đừng để chúng dễ dàng lợi dụng
Xúi bên kia nghi bụng bên này
Tự mình chặt đứt chân tay
Bà con bôi mặt cắt mày bỏ nhau
Đừng để chúng đè đầu cưỡi cổ
Tám mươi năm đô hộ sờ sờ
Xưa kia ta dại nước cờ
Một lần há dại đến giờ nữa ư?
Thắt chặt lại khư khư một mối
Đừng để ai lừa dối rẽ phân
Thù chung là bọn thực dân
Là phường bán nước, là quân buôn nòi.
Tự nhiên, tôi hiểu rõ ra vấn đề lương giáo. Đó là một vấn đề lợi dụng tôn giáo chia rẽ dân tộc để dễ bề thống trị nước ta. Vì vậy để không mắc mưu của thực dân đế quốc, chủ trương "tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn kết" là hoàn toàn đúng đắn.
Bây giờ thì tôi đã 75 tuổi rồi. Trong cuộc đời công tác, tôi có 10 năm làm công tác tôn giáo. Nhìn lại quá trình bắt đầu công tác này, rồi dần dần lớn lên trong công tác, tôi thầm biết ơn đồng chí Đỗ Mười - người cầm lái trí tuệ. Có lẽ đồng chí cũng đã quên rồi, nhưng tôi thì trọn đời tôi vẫn nhớ.
––––––––––––––––––
* Nguyên Phó Trưởng ban Dân vận Trung ương, nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ
1. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Sđd, t. 4. tr. 7-8
BÁC MƯỜI VỚI NGÀNH THỦY ĐIỆN NGUYỄN KHẮC KIÊN*
Tôi là kỹ sư xây dựng thủy điện nên có vinh dự nhiều lần được gặp bác Mười. Phải nói bác Mười rất say mê với ngành thủy điện, bác dành nhiều tâm huyết, trí tuệ, tài năng để quyết tâm làm bằng được hệ thống thủy điện trong toàn quốc, để bằng mọi giá có nguồn điện cho đất nước. Đến nay theo đánh giá, tỷ lệ cung cấp điện năng của thủy điện là 40%. Đầu tư cho thủy điện rẻ, bền vững, vận hành không tốn kém.
Thủy điện Thác Bà là xuất phát điểm của nước ta, do Liên Xô giúp đỡ. Năm 1979, chúng ta bắt tay vào xây dựng thủy điện Hòa Bình cũng dựa vào sự viện trợ, giúp đỡ của Liên Xô.
Thủy điện Hòa Bình có quy mô rất lớn với lực lượng hùng hậu: có 2.000 kỹ sư, 27.000 công nhân, có 500 chuyên gia Liên Xô, có cả một binh đoàn 565 tham gia đào hầm.
Công trình được xây dựng với 2 triệu mét khối bê tông, máy móc, thiết bị nặng nề; khó khăn nhất là phải chạy đua với thời tiết, nhất là vào mùa nước lũ.
Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến công trình thủy điện có quy mô đồ sộ này. Rất nhiều các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước đến thăm công trình, như các đồng chí: Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, Lê Duẩn, Đỗ Mười...
Khi tổ chức nghiệm thu công trình phải có Hội đồng Nhà nước quyết định.
Tôi còn nhớ, năm 1986, Nhà nước ta đổi tiền, đời sống của nhân dân gặp rất nhiều khó khăn. Để ổn định đời sống cho công nhân trên công trình, bác Đỗ Mười, lúc đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã có sáng kiến ra văn bản kêu gọi mỗi tỉnh chịu trách nhiệm đóng góp một thứ cho Hòa Bình, có tỉnh góp gạo, có tỉnh góp nhân lực, có tỉnh góp hoa quả, cứ đúng hạn là mang lên cho Hòa Bình. Sáng kiến này của bác Mười đã huy động tổng lực của toàn quốc góp công, góp của xây dựng nhà máy.
Khi được làm Phó Tổng Giám đốc Công ty, tôi nhiều lần được đưa bác Mười đi thăm nhà máy. Có lần bác Mười vào tận trong hầm máy thăm chuyên gia Liên Xô và anh em kỹ sư, công nhân. Bác chọn một vị trí cao ở trong hầm để đứng nói chuyện. Bác nói hết sức sôi nổi, đại ý: Đất nước ta còn rất nghèo, tiềm năng thủy điện của chúng ta rất lớn, công việc của các đồng chí làm ở đây là hết sức quan trọng và đầy ý nghĩa lớn lao. Từ đây, chúng ta sẽ cung cấp nguồn điện lớn để phát triển nền kinh tế đất nước. Tôi thay mặt Chính phủ chúc các đồng chí luôn luôn khỏe mạnh, đoàn kết tốt, có nhiều sáng kiến hay để nhanh chóng đưa công trình vào vận hành...
Cả khu hầm rộng vang lên tiếng hoan hô, tiếng reo hò mừng vui trước sự quan tâm của Chính phủ.
Mỗi năm, bác Mười lên thăm thủy điện Hòa Bình hai đến ba lần. Năm 1990, tôi được bầu làm Tổng Giám đốc kiêm Bí thư Đảng ủy của Tổng Công ty, bác Mười có lần dặn dò riêng tôi: Cần phải quan tâm đời sống và chế độ cho các đồng chí chuyên gia Liên Xô. Bạn giúp ta hết sức nhiệt tình, bạn có gì khó khăn, công ty phải báo cáo Chính phủ ngay; phải quan tâm đời sống người lao động, phải luôn luôn gần gũi, lắng nghe học tập cách làm việc của bạn; đặc biệt quan tâm đến an toàn lao động...
Những lời dặn dò của bác Mười hết sức giản dị mà sâu lắng, đầy tình cảm và trách nhiệm, tôi luôn luôn ghi nhớ trong cuộc đời công tác của mình.
Ông Tổng công trình sư của đoàn chuyên gia Liên Xô tên là Bôgachencô hết sức nể trọng bác Đỗ Mười.
Liên Xô dành cho Việt Nam sự giúp đỡ chí tình nhất, bạn đem đến cho Việt Nam những kỹ thuật tiên tiến nhất của bạn.
Trong quá trình thi công, chuyên gia Liên Xô lao động quên mình vì dòng điện của Việt Nam. Các chuyên gia chia ngọt, sẻ bùi với đội ngũ kỹ sư Việt Nam. Có 8 đồng chí chuyên gia đã hy sinh trong khi làm nhiệm vụ. Đó là sự hy sinh cao cả của những người cộng sản quốc tế. Chúng tôi ghi nhớ sâu sắc công ơn của các chuyên gia và coi đó là tấm gương để học tập.
Bác Mười nhắc nhở chúng tôi phải hết sức quan tâm đến gia đình các chuyên gia. Hằng năm vào dịp Tết, chúng tôi đều gửi quà cho vợ con các chuyên gia ở Liên Xô.
Có một kỷ niệm vui là: có một lần, bác Mười hỏi bác sĩ của Trung tâm Y tế trên công trường:
- Làm thế nào để giảm được bệnh phổi cho công nhân?
- Bia hơi ạ!
Bác sĩ trả lời ngay, không hiểu là đùa hay thật, ai cũng cười vui.
Sau đó một thời gian, bác Mười yêu cầu Hà Nội thường xuyên cung cấp bia hơi cho Hòa Bình. Chính từ quyết định của bác Mười mà anh em công nhân ở Sông Đà trưa nào đi làm cũng mang một cái ca để uống bia hơi.
Tôi còn được biết bác Mười rất nhân hậu, giải quyết công việc có tình, có lý. Hồi đó, điều kiện thi công trên công trường còn lạc hậu, có những vụ tai nạn chết người xảy ra. Khi tôi báo cáo với bác các vụ tai nạn, bác bình tĩnh trả lời:
- Phải xét đầy đủ mọi yếu tố, cái gì đáng kỷ luật phải kỷ luật, có thể cho ra tòa hoặc cách chức, nhưng phải xử lý có tình, có lý.
Năm 1994, công trình được hoàn thành bác Đỗ Mười thay mặt Đảng và Nhà nước trao chiếc chìa khóa tượng trưng cho Nhà máy Thủy điện Hòa Bình.
Bước đầu đã có 4 tổ máy phát điện được vận hành.
Một lần, bác Mười vào tận nơi xem tổ máy vận hành. Bác quan sát trên các đồng hồ, sau đó hỏi tôi:
- Sao đồng hồ báo thấp như vậy?
- Thưa bác, vì chưa đủ lượng dây tải điện nên không dám chạy hết công suất ạ.
- Nghĩa là ta còn thừa điện chứ gì? Trong lúc này miền Nam đang rất thiếu điện, để tôi về báo cáo Bộ Chính trị có cách giải quyết.
Sau đó, bác Mười đã bàn với đồng chí Võ Văn Kiệt quyết định tải điện vào cho miền Nam bằng đường dây 500kv.
Những người thợ Sông Đà không bao giờ quên hình ảnh thân thiết của bác Đỗ Mười.
Tôi hết sức kính trọng, biết ơn bác Đỗ Mười.
Hà Nội ngày 15-3-2011
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––––
* Nguyên Tông Giám đốc Tổng Công ty xây dựng Thủy điện Sông Đà.
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI VÀ NGÀNH DẦU KHÍ VIỆT NAM NGÔ THƯỜNG SAN*
Ông Đỗ Mười là nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước, rất gần gũi với những người làm dầu khí chúng tôi với tên gọi thân thiết: anh Mười, bác Mười. Tôi muốn nói lên sự quan tâm sâu sắc của ông trong việc xây dựng ngành và sự có mặt rất quyết định của ông ở những bước ngoặt lịch sử của ngành mà vai trò chỉ đạo của ông đã thúc đẩy sự phát triển và đặt nền móng cho những thành tựu giai đoạn hiện nay của ngành dầu khí Việt Nam...
Lần đầu tiên tôi được làm việc và tiếp xúc với ông khi là Phó Tổng Giám đốc Liên doanh dầu khí Vietsovpetro. Tôi được nghe nói rất nhiều về ông như một đồng chí lãnh đạo rất sâu sát, cụ thể, đòi hỏi cấp dưới phải có tinh thần tự chủ, quyết liệt, phát huy nội lực, dám làm, dám chịu trách nhiệm... Ông luôn nhắc nhở chúng tôi phải nhanh chóng xây dựng ngành dầu khí làm nền tảng cho công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa.
Vào đầu tháng 3-1981, ở cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông đã đến kiểm tra công tác xây dựng và chuẩn bị hạ thủy chân đế dàn khoan đầu tiên của Vietsovpetro. Chúng tôi đã báo cáo với ông về tiến độ, những khó khăn kỹ thuật vì phải nhập tất cả và đồng bộ từ Bacu (Liên Xô), công nhân kỹ thuật láp ráp 100% là người Liên Xô, v.v… Trước sự ngạc nhiên của nhiều người, ông quay sang hỏi lãnh đạo phía Việt Nam: "Một chân đế dàn khoan có bao nhiêu tấn thép, loại mác gì? Bao nhiêu bulong, mác thép, kích cỡ? Bao nhiêu "cút nối", chế tạo ra sao?". Lẽ dĩ nhiên chúng tôi không trả lời được đầy đủ vì đó là phần thiết kế của nhà máy chế tạo. Trước gương mặt suy tư của ông, chúng tôi đã cảm thấy thiếu sót lớn không chỉ là sự thiếu sâu sát, mà vấn đề quan trọng là không suy nghĩ về phía Việt Nam có thể làm được gì, những nhà máy cơ khí, các viện thiết kế của chúng ta có thể làm được gì, dù là những chi tiết rất đơn giản để không phải nhập từ Liên Xô.
Để sửa sai, chúng tôi đã tranh thủ sự hợp tác của các nhà máy cơ khí Trần Hưng Đạo, Sông Công, Ba Son; của Viện Thiết kế Công trình biển, Bộ Xây dựng, Viện Thiết kế Công trình thủy, Bộ Giao thông vận tải, Công ty Xây lắp 18-3, v.v… Từ chân đế thứ hai, thứ ba sau này, chúng tôi đã thay thế một số lớn chi tiết sản xuất tại Việt Nam, bắt đầu chế tạo các "cút nối" là bộ phận khó khăn trong chân đế ở tại cảng Vietsovpetro, đặc biệt là sự trưởng thành của đội ngũ kỹ thuật lắp ráp người Việt Nam có thể thay thế người Liên Xô.
Tinh thần "phát huy nội lực" xuyên suốt sự chỉ đạo của ông. Đối với công trình sớm đưa khí từ mỏ Bạch Hổ vào bờ, sau gần 10 năm khai thác mỏ Bạch Hổ, lượng khí đồng hành vẫn phải đốt bỏ hàng năm lúc đó đã lên đến gần 1 tỷ mét khối, tương đương 1 triệu tấn dầu, vừa lãng phí vừa gây ô nhiễm môi trường. Ta không đủ về năng lực tài chính và kỹ thuật nên kêu gọi liên doanh đầu tư. Việc đàm phán liên doanh bị kéo dài do nhiều nguyên nhân. Không chờ đợi kết quả đàm phán, ông cho phép ngành dầu khí tự vay vốn tự đầu tư và bắt đầu từng bước xây dựng đường ống và những công trình xử lý tàng trữ. Quyết định phát huy nội lực sớm đưa khí vào bờ của ông đã làm lợi cho đất nước hàng chục ngàn tỷ đồng, tăng giá trị gia tăng của khai thác dầu thô và kịp thời giải quyết được sự thiếu hụt năng lượng của đất nước những năm 1996-1999, quan trọng hơn cả là đặt nền móng cho sự phát triển ngành công nghiệp khí theo hướng hiện đại hóa.
Ông rất quan tâm đến sự phát triển ngành công nghiệp dầu khí toàn diện, hoàn chỉnh và bền vững. Mỗi lần công tác phía Nam, ông đều yêu cầu chúng tôi báo cáo về hoạt động khai thác dầu khí ở Liên doanh Vietsovpetro. Ông luôn nhắc nhở chúng tôi việc gia tăng sản lượng phải bền vững, duy trì đời mỏ và kết hợp gia tăng trữ lượng. Ông kiên định đường lối hợp tác với Liên Xô (sau là với Cộng hoà Liên bang Nga) để xây dựng ngành dầu khí về cơ sở kỹ thuật và đội ngũ kỹ thuật, chuyên gia, tin tưởng ở trình độ khoa học dầu khí của Nga. Vào những năm 1986-1987, mặc dù chúng ta đã bắt đầu khai thác dầu ở mỏ Bạch Hổ, nhưng những giếng khai thác sớm được thiết kế dựa theo tài liệu cũ của Công ty Mobil, nên kết quả không như mong muốn, gây tâm lý hoài nghi trong toàn ngành. Lúc đó Liên doanh Vietsovpetro chủ trương mở rộng diện thăm dò bằng giếng khoan số 4. Phương án này không được các cán bộ kỹ thuật Hà Nội đồng tình. Ý kiến khác biệt được báo cáo đến ông. Sau khi nghe Liên doanh báo cáo, với sự tin tưởng vào khả năng của đội ngũ địa chất Việt Nam và Liên Xô, ông đã quyết cho phép khoan giếng số 4. Sự thành công phát hiện dầu lưu lượng lớn của giếng khoan số 4 không chỉ có ý nghĩa về mặt kinh tế mà quan trọng là khẳng định tầng chứa dầu mới thứ hai ở Việt Nam và khu vực mà trước đây nhiều công ty tư bản làm việc ở Việt Nam không thừa nhận, và giúp chúng tôi làm giảm đi sự hoài nghi, hoang mang đối với tương lai phát triển của Liên doanh dầu khí Việt - Xô.
Ông rất tình cảm và tế nhị, được các chuyên gia Liên Xô mến phục không chỉ vì ông là nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam mà vì tình cảm rất con người của ông. Khi Tổng Giám đốc Vietsovpetro - đồng chí Ardanốp bị bệnh, ông đã gửi thư, gửi quà, gửi lời hỏi thăm, đồng thời chỉ đạo các đồng chí lãnh đạo Tổng cục Dầu khí làm việc với bệnh viện để bệnh viện chăm sóc chữa trị chu đáo hơn. Nhưng ông cũng rất nguyên tắc và kiên định trong bảo vệ quyền lợi của Việt Nam trong Liên doanh. Ông đã yêu cầu tổ đàm phán về sửa đổi Hiệp định liên doanh tìm kiếm, thăm dò khai thác dầu khí Vietsovpetro, kiên trì thuyết phục phía bạn về các điều khoản kinh tế. Những chỉ đạo rất nguyên tắc và kiên định của ông đã mang lại thành công và Hiệp định sửa đổi của Liên doanh dầu khí Việt - Xô năm 1990 là cơ sở hoạt động có hiệu quả của Liên doanh dầu khí trong gần 20 năm qua, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
Trong chỉ đạo, ông xem ngành dầu khí là công cụ kinh tế vĩ mô của Nhà nước. Ông yêu cầu chúng tôi mỗi khi làm việc với ông phải báo cáo rất chi tiết, cụ thể những chỉ tiêu, từ việc quản lý tiền bán dầu, hiệu quả khai thác của Vietsovpetro, lợi nhuận hằng năm Vietsovpetro phải đóng góp cho Nhà nước.
Ông rất quan tâm đến "giá trị dây chuyền" của công nghiệp khí và sự đóng góp của ngành trong việc tạo sự phát triển ổn định kinh tế đất nước. Khi gặp khó khăn trong đàm phán để tổ chức liên doanh xây dựng Nhà máy đạm ở Phú Mỹ, cũng như nếu không tổ chức được việc tiêu thụ khí ở miền Tây Nam Bộ thì ta phải bán khí khai thác được ở Tây Nam với giá rẻ cho nước ngoài, mặc dù lúc đó ông đã chuyển sang làm Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nhưng ông rất quan tâm và yêu cầu Chính phủ ủng hộ để ngành dầu khí tự vay vốn, tự đầu tư xây dựng khu Khí - Điện - Đạm Phú Mỹ và Khí - Điện - Đạm Cà Mau. Hiệu quả kinh tế của quyết định sáng suốt này có thể thấy rõ; ý nghĩa chính trị - xã hội của những công trình này chắc cần thời gian mới nhận biết được trong chính sách bảo đảm an ninh lương thực và đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn của Đảng. Nhưng quan trọng đối với ngành dầu khí - đó là nền tảng ban đầu của sự phát triển toàn diện và hoàn chỉnh của ngành dầu khí như một tập đoàn kinh tế nhà nước.
Ngày nay, ngành dầu khí đã trở thành tập đoàn kinh tế phát triển hoàn chỉnh, đa ngành, đóng góp quan trọng cho nền kinh tế quốc dân và là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô quan trọng của Chính phủ. Nền tảng của sự phát triển này là kết quả của đường lối và chủ trương phát triển ngành dầu khí của Đảng và Nhà nước, trong đó có vai trò và dấu ấn của ông Đỗ Mười, đặc biệt trong những giai đoạn bước ngoặt lịch sử của ngành. Tập thể lãnh đạo và cán bộ ngành dầu khí Việt Nam hiện đang thực hiện thắng lợi, xứng đáng với sự mong ước và tin cậy của ông đối với ngành dầu khí Việt Nam.
––––––––––––––––––––
* Nguyên Tổng Giám đốc Liên doanh dầu khí Vietsovpetro, nguyên Tổng giám đốc Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam.
NGƯỜI ĐẶC BIỆT QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ NGÀNH DẦU KHÍ Thiếu tướng PHẠM THIỆP *
Năm 1976, tôi vào Vũng Tàu, làm Phó Giám đốc rồi làm Tổng Giám đốc Công ty Du lịch dịch vụ dầu khí, gọi tắt là OSC. Người ký quyết định cho thành lập công ty này là ông Đỗ Mười. Thời kỳ đầu Công ty gặp nhiều khó khăn lắm, cơ sở vật chất thiếu thốn, trình độ ngoại ngữ yếu kém, nhiều cán bộ chưa qua đào tạo chuyên ngành du lịch. Ông yêu cầu chúng tôi phải phục vụ thật tốt các công ty vào giúp Việt Nam khai thác dầu khí. Thời kỳ đầu tiên có ba công ty tư bản vào thăm dò dầu khí. Các công ty tư bản họ yêu cầu phục vụ rất cao, phải có sàn nhảy, có sân tennít, nhà ở phải có vườn rộng. Ngoài ra, họ yêu cầu phải có đội ngũ phục vụ ngoài giàn khoan.
Chúng tôi báo cáo ông Đỗ Mười lúc đó làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Ông giải quyết nhanh chóng, dứt khoát mọi yêu cầu của công ty.
Ông dặn dò chúng tôi: "Các cậu phải phục vụ thật tốt, thật chu đáo mọi yêu cầu của họ. Đất nước ta đang rất cần dầu khí, họ sang giúp mình là rất tốt, nhưng các cậu phải hết sức chắt chiu, cái gì thật cần mới mua sắm. Đây là bước đi ban đầu của ngành dầu khí Việt Nam, rất nhiều khó khăn, nhưng các cậu cứ báo cáo tôi sẽ giải quyết".
Lĩnh hội ý kiến của ông Đỗ Mười, chúng tôi khẩn trương bắt tay vào công việc, kiện toàn tổ chức và cơ sở làm việc. Chúng tôi sẵn sàng lắng nghe, đáp ứng mọi yêu cầu của các công ty nước ngoài. Khó nhất là việc tổ chức các sàn nhảy, vì việc này mình chưa quen. Chúng tôi phải về Thành phố Hồ Chí Minh tìm đến các câu lạc bộ, mời các chuyên gia về thiết kế sàn nhảy. Sau khi có sàn nhảy đủ tiêu chuẩn, phải mời một số vũ công nổi tiếng về biểu diễn và nhảy cùng với họ. Họ có vẻ rất hài lòng về cách phục vụ chu đáo của công ty chúng tôi. Một hôm ông Đỗ Mười về thăm Vũng Tàu, tôi mời ông ra thăm sàn nhảy:
- Mời anh ra xem họ nhảy ra sao?
- Để tôi ra xem.
Nói rồi ông vui vẻ cùng đi với anh em chúng tôi vào sàn nhảy. Ông tỏ ra rất hài lòng, khi ra về ông còn nói vui: "Các cậu để đèn thế vẫn còn sáng, tớ đi các nước thấy họ để đèn tối hơn".
Khi được ông Đỗ Mười hài lòng về phong cách phục vụ chúng tôi rất mừng.
Về vấn đề sân tennít chúng tôi cũng phải nhờ ông Bửu ở Thành phổ Hồ Chí Minh về giúp đỡ. Làm xong sân tennít, công ty thu được nhiều đôla, vì mỗi giờ là 1 đôla. Nhưng khó khăn nhất là các công ty tư bản họ có nhu cầu muốn có những sòng bạc. Chúng tôi đã phải tổ chức sòng bạc ở khu Nam Sơn. Về nhu cầu này công ty cũng đáp ứng được.
Ông Đỗ Mười dặn chúng tôi phải phục vụ thật tốt ở dàn khoan. Lĩnh hội ý của ông Mười, chúng tôi tổ chức chuyển nhiều hoa quả tươi ra dàn khoan cho họ ăn uống thoải mái. Sau khi các công ty tư bản rút, công ty dầu khí của Liên Xô vào tiếp tục giúp Việt Nam thăm dò, khai thác dầu khí.
Liên Xô vào, họ dùng tiền rúp mà ta thì không thể mua bán trực tiếp bằng tiền rúp được. Ông Đỗ Mười đồng ý cho công ty chúng tôi dùng tiền đôla để nhập máy lạnh, máy điều hòa nhiệt độ từ các nước tư bản. Tôi còn nhớ, có lần ông Mười gọi cho tôi, nội dung đại ý là: Quân y viện 108 (Bệnh viện Trung ương Quân đội l08) ở Hà Nội đang cần 6 máy điều hòa tốt, cậu chuyển ra ngay.
Nhận được ý kiến của ông Mười chúng tôi lập tức chấp hành chuyển cho Quân y viện 108 sáu máy điều hòa loại tốt nhất.
Công ty dầu khí của Liên Xô đã khai thác thành công mẻ dầu thô đầu tiên, người mừng nhất chắc là ông Đỗ Mười. Ông bất chấp mọi khó khăn, nguy hiểm để tổ chức khai thác bằng được dầu khí. Khi biết thềm lục địa của ta có trữ lượng dầu lớn ông mừng lắm. Ông nói: "Dân ta sẽ giảm bớt khó khăn, nghèo đói".
Ông đối với các bạn Liên Xô tận tình lắm. Ông yêu cầu chúng tôi phải phục vụ các bạn hết mình, đáp ứng mọi yêu cầu của bạn. Các chuyên gia Liên Xô rất quý mến, kính trọng ông Mười.
Năm 1995, tôi về hưu nhưng thỉnh thoảng gia đình tôi vẫn ra thăm ông Mười. Có thể nói, không có ông Mười thì không thể có Công ty Du lịch dịch vụ dầu khí ra đời kịp thời phục vụ dịch vụ tốt như vậy. Đó chính là tầm nhìn chiến lược của người lãnh đạo.
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––
* Nguyên Tổng Giám đốc Công ty Du lịch dịch vụ dầu khí (OSC)
MỘT LÁ THƯ ĐẦY NGHĨA TÌNH TRẦN QUÂN NGỌC*
Giờ đây bức tranh dầu khí của đất nước ta đã khá sinh động và nhiều màu sắc. Về mặt khai thác, sau đứa con đầu lòng là Xí nghiệp Liên doanh dầu khí Vietsovpetro (hợp tác giữa nước ta và Liên Xô trước đây, nay là Cộng hòa Liên bang Nga), đơn vị khai thác những tấn dầu thô đầu tiên ở mỏ Bạch Hổ tại thềm lục địa của nước ta đã lần lượt xuất hiện những "đứa em" khác: Rồng, Đại Hùng, Rạng Đông, Sư Tử Đen, Lan Tây… Trong lĩnh vực chế biến, từ những năm 90 của thế kỷ XX, chúng ta đã dùng khí thiên nhiên để sản xuất điện tại các nhà máy điện Bà Rịa, Phú Mỹ. Năm 2002, Nhà máy đạm Phú Mỹ cho ra đời những tấn sản phẩm đầu tiên; năm 2003, đưa vào vận hành nhà máy xử lý khí (LG) Dinh Cố. Hiện nay chúng ta đang khẩn trương xây dựng nhà máy lọc dầu đầu tiên tại Dung Quất, Nhà máy điện - đạm Cà Mau. Nhiều dự án hóa dầu khác cũng đang được xúc tiến ở cả ba miền Bắc Trung, Nam của đất nước.
Những năm gần đây, mỗi năm ngành dầu khí đóng góp từ 20 đến 25% tổng thu ngân sách nhà nước. Riêng năm 2006, Việt Nam đã khai thác được 18 triệu tấn dầu thô (trong đó xuất khẩu được 17,2 triệu tấn) và 6,79 tỷ mét khối khí thiên nhiên.
Có được những thành tựu to lớn đó, trước hết là nhờ sự lao động cần cù, sáng tạo của hàng vạn công nhân, cán bộ của toàn ngành dầu khí, sự hợp tác anh em với ngành dầu khí Liên Xô nước đây (ngày nay, sự hợp tác này được mở rộng ra với nhiều nước khác, trên cơ sở hai bên cùng có lợi). Và một nguyên nhân quan trọng nữa, đó là sự quyết tâm sự chỉ đạo chặt chẽ, ráo riết của Đảng và Nhà nước.
Nhớ lại những ngày cách đây gần một phần ba thế kỷ, khi ngành dầu khí của chúng ta mới bước những bước đầu tiên trong một công việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác, xây dựng các cơ sở vật chất - kỹ thuật trên bờ, tạo dựng những đơn vị nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ... thì Đảng và Nhà nước Liên Xô đã cử sang ta những cán bộ tài năng nhiều kinh nghiệm thực tế để giúp chúng ta triển khai các công việc và đào tạo cán bộ. Đồng chí Mameđốp, Tổng Giám đốc đầu tiên của Xí nghiệp Liên doanh từng nhiều năm là Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Khai thác dầu khí tại biển Caxpiên.
Đồng chí Ardanốp, Chánh kỹ sư của Xí nghiệp Liên doanh (ở nhiệm kỳ hai được cử làm Tổng Giám đốc) từng phụ trách khu dầu mỏ Chiumen, một trong những khu mỏ lớn nhất của Liên Xô. Đồng chí từng được tặng thưởng Huân chương Lênin và Giải thưởng Lênin về khoa học - kỹ thuật trong khai thác dầu khí. Ngoài ra, còn rất nhiều kỹ sư, công nhân giỏi, có tay nghề cao đã được cử sang làm việc trong Xí nghiệp Liên doanh. Họ làm việc ngày đêm, coi sự nghiệp dầu khí của Việt Nam như của chính Tổ quốc họ. Nếu Mameđốp hiền hoà, điềm đạm, luôn cư xử với mọi người xung quanh một cách dịu dàng, chân tình thì Ardanốp là người rất trực tính, cứng rắn, đã làm việc thì làm đến cùng, nhiều khi quên ăn, quên ngủ. Mấy năm làm việc tại Việt Nam, nơi có khí hậu hoàn toàn khác với phương Bắc giá lạnh của quê hương ông, Ardanốp gầy và già đi trông thấy.
Tôi còn giữ được một lá thư với bút tích của đồng chí Đỗ Mười quan tâm tới Andanốp. Lúc đó đồng chí Đỗ Mười là ủy viên Bộ Chính trị, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng được Bộ Chính trị giao đặc trách công tác dầu khí. Toàn văn lá thư như sau:
"Chú Ngọc,
Đồng chí Tổng Giám đốc Liên doanh dầu khí Vũng Tàu ốm do làm việc mệt mỏi.
Tôi muốn chú chuẩn bị viết cho tôi một lá thư hỏi thăm sức khỏe đồng chí Tổng Giám đốc, tôi đã nói với anh Quang1 mai vào miền Nam chuyển lời hỏi thăm kèm theo của tôi. Đồng thời tìm mua cho tôi một ít chè sâm gửi biếu đồng chí Tổng Giám đốc.
Chú viết, tối nay đem lại cho tôi, sáng mai anh Quang nên lấy mang đi.
Thân,
Đỗ Mười".
Chỉ mấy dòng chữ ngắn ngủi và giản dị nhưng đã thể hiện được tấm lòng của một trong nhũng đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước ta đối với một người làm dầu khí và toàn ngành dầu khí Việt Nam nói chung. Đồng thời, qua lá thư ngắn ngủi đó, cũng thể hiện được một phần cốt cách của người viết: luôn ân cần, chu đáo, thân tình với đồng chí, bè bạn, bà con, với mọi người xung quanh.
Ngày 2-2-2007, đồng chí Đỗ Mười tròn 90 tuổi. Mong ông còn được nhiều năm tháng khỏe mạnh, sum vầy với đồng chí, cháu, con để chứng kiến sự phát triển của đất nước ta, điều mà những chiến sĩ cách mạng lớp ông từng mong ước và góp bao công sức để tạo dựng nên.
–––––––––––––––––
* Nguyên Vụ trưởng, thư ký chuyên trách về dầu khí và công nghiệp của nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười.
1. Đồng chí Phan Tử Quang, lúc đó là Phó Tổng Cục trưởng Tổng Cục Dầu khí.
ANH ĐỖ MƯỜI VÀ CUỘC ĐẤU TRANH KIỀM CHẾ VÀ ĐẨY LÙI LẠM PHÁT (1988-1989) NGUYỄN THƯỢNG HOÀ*
Từ tháng 10-1956, khi được Đảng điều về làm Thứ trưởng Bộ Nội thương, anh Đỗ Mười rất quan tâm lĩnh vực kinh tế. Một trong những vấn đề anh thường xuyên yêu cầu chúng tôi báo cáo là tình hình thị trường, giá cả và những biện pháp bình ổn giá, đặc biệt là vấn đề cân đối ba mặt: tiền tệ - tài chính - hàng hóa (lúc đó thường gọi là kim - tài - mậu). Dưới sự chỉ đạo của anh, ngành thương nghiệp đã cùng với các ngành tài chính, ngân hàng tích cực đấu tranh bình ổn giá có kết quả trong suốt thời kỳ khôi phục và phát triển kinh tế sau kháng chiến chống thực dân Pháp (1955-1960).
Bẵng đi một thời gian được Đảng trao các trọng trách khác từ đầu những năm 1980, anh lại trở lại với công tác kinh tế trên cương vị Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách khởi công nghiệp - xây dựng - vật tư - tài chính - tiền tệ - vật giá - nội, ngoại thương. Một điều khiến anh luôn luôn lo lắng là tình hình giá cả tăng cao, bắt đầu có biểu hiện lạm phát. Anh làm việc ngày đêm với các đồng chí phụ trách các ngành, các địa phương để thúc đẩy sản xuất, tăng nguồn hàng cung ứng cho thị trường, đôn đốc việc tiếp nhận nguyên liệu, nhiên liệu, vật tư nhập khẩu và cung ứng cho các ngành sản xuất, chỉ đạo hằng ngày việc thu mua nguồn hàng trong nước và cung ứng cho thị trường, công tác tài chính, ngân hàng, vật giá. Kết quả là từ năm 1981 đến năm 1985, giá hằng tháng chỉ tăng ở mức 3-5%.
Từ tháng 6-1988, khi đảm nhiệm trọng trách Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, điều anh trăn trở nhất là làm sao khắc phục được lạm phát đã tới mức độ phi mã.
Để thực hiện Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, Nhà nước đã tiến hành nhiều biện pháp quyết liệt nhằm kiềm chế và đẩy lùi lạm phát như:
- Điều chỉnh cơ cấu đầu tư, kiên quyết giảm đầu tư vào các công trình xây dựng cơ bản quy mô lớn, thời gian xây dựng kéo dài, chậm phát huy hiệu quả.
- Điều chỉnh cơ cấu kinh tế, giảm xây dựng công nghiệp nặng, tập trung sức thực hiện ba chương trình kinh tế: sản xuất nông nghiệp, hàng xuất khẩu và hàng tiêu dùng với năng suất, chất lượng, hiệu quả ngày càng cao.
- Thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, giải phóng sức sản xuất, phát triển mạnh mẽ nền kinh tế hàng hóa có kế hoạch, khuyến khích kinh tế tư nhân phát triển kinh doanh làm ra nhiều của cải cho xã hội và tạo thêm được nhiều việc làm cho nhân dân.
- Đối với các doanh nghiệp nhà nước thì ban hành Quyết định số 217 của Hội đồng Bộ trưởng xóa bỏ cơ chế hành chính bao cấp, mở rộng quyền tự chủ cho cơ sở trong sản xuất, kinh doanh.
- Đối với nông nghiệp thì Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 tổ chức lại sản xuất nông nghiệp dựa trên cơ sở các hộ nông dân được giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài (thường gọi là khoán 10).
- Xóa bỏ tình trạng chia cắt thị trường, khôi phục giao lưu hàng hóa (kể cả lúa gạo) trên phạm vi cả nước. Mở rộng quyền hoạt động ngoại thương cho các tỉnh, thành phố.
- Thực hiện từng bước cải cách giá, áp dụng chế độ giá kinh doanh Nhà nước không bù lỗ bù giá, đưa dần giá chỉ đạo của Nhà nước lên sát giá thị trường, trên cơ sở đó từng bước xóa bỏ chế độ hai giá.
Tuy nhiên, giá thị trường vẫn tăng mạnh, tới 300 - 400% rồi gần 500% một năm, tức là đã xấp xỉ mức siêu lạm phát. Hỏi ý kiến các chuyên gia của khối SEV thì các bạn cho biết các nước xã hội chủ nghĩa lúc đó cũng đang lâm vào tình trạng lạm phát, chưa tìm được cách khắc phục. Chuyên gia của các thể chế tài chính quốc tế thì nói là Việt Nam phải có 3 tỷ đôla để cân đối tài chính tiền tệ. Nhưng nước ta khi đó không có đủ 3 tỷ đồng. Còn các chuyên gia kinh tế trong nước, người thì đề xuất phương án phát hành "đồng tiền nặng" được bảo đảm bằng vàng để thay thế dần đồng tiền mất giá hiện hành, người thì đưa ra thuyết "dĩ độc trị độc, lấy lạm phát để trị lạm phát". Nhưng anh Đỗ Mười cho rằng những giải pháp này đi ngược lại lợi ích của nhân dân. Làm như vậy là Nhà nước hủy bỏ đồng tiền hiện hành, khiến nhân dân mất trắng số tiền đang nắm giữ và sẽ phản đối.
Đi sâu nghiên cứu tình hình kinh tế - tài chính, anh rút ra kết luận: Lạm phát ở nước ta có nguyên nhân do hậu quả của ba cuộc chiến tranh, song chủ yếu là do những yếu kém về tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội dẫn đến những mất cân đối lớn trong nền kinh tế. Những biện pháp mà Đảng và Nhà nước đã thực hiện tuy có cải thiện được một bước tình hình kinh tế nhưng vẫn còn những mất cân đối rất quan trọng trực tiếp gây ra lạm phát chưa được khắc phục. Đó là:
- Mất cân đối cung cầu hàng hoá: Việc thực hiện ba chương trình: sản xuất nông nghiệp (chủ yếu là lương thực), sản xuất hàng tiêu dùng, sản xuất hàng xuất khẩu, tuy có làm tăng thêm lượng hàng hóa sản xuất ra, nhưng hàng hóa trên thị trường vẫn khan hiếm, vì phần lớn hàng hóa sản xuất ra được đưa vào cung cấp theo tem phiếu, một số loại hàng dành để xuất khẩu theo các hiệp định của khối SEV như hàng may mặc, giày dép, rượu, thuốc lá, v.v... lượng đưa ra bán ở thị trường không đáng kể.
Vật tư cho sản xuất như xăng dầu, kim khí, phân hóa học, bông sợi, hóa chất nhập khẩu từ các nước xã hội chủ nghĩa không đáp ứng nhu cầu. Việc nhập bổ sung từ các nước ngoài xã hội chủ nghĩa bị hạn chế do thiếu ngoại tệ mạnh. Đại bộ phận vật tư lại được đưa vào cung cấp theo kế hoạch cho các doanh nghiệp nhà nước, phân bón thì đưa vào hợp đồng hai chiều để trao đổi thóc lúa với nông dân, phần đưa ra thị trường bán cho các cơ sở sản xuất tư nhân rất ít.
Mặt khác, ta lại tự làm khó ta bằng những quy định hạn chế ngặt nghèo việc nhập khẩu qua đường phi mậu dịch của cán bộ, chuyên gia ra nước ngoài công tác, sinh viên và người Việt lao động ở nước ngoài đem theo khi về nước, hạn chế Việt kiều gửi hàng hóa và ngoại tệ về nước cho thân nhân.
- Mất cân đối thu chi tài chính: Do sản xuất, kinh doanh kém hiệu quả mà thu nhập quốc dân tăng chậm, mức động viên cho ngân sách thấp, lại bị thất thu nhiều, nhất là thuế. Ngược lại yêu cầu chi rất lớn mà đại bộ phận là các khoản bao cấp vốn cho các doanh nghiệp nhà nước, chi bù lỗ xuất, nhập khẩu, chi hỗ trợ hàng cung cấp theo tem phiếu, chi lương cho công nhân, viên chức nhà nước và trợ cấp theo các chính sách xã hội... Hậu quả là ngân sách nhà nước bội chi ngày càng lớn và Nhà nước phải yêu cầu ngân hàng phát hành thêm tiền mặt cho ngân sách vay để bảo đảm cân đối thu chi ngân sách.
- Mất cân đối giữa nhập khẩu và xuất khẩu và giữa thu chi ngoại hối. Nguyên nhân chính là tỷ giá ngoại hối bất hợp lý, Nhà nước định giá ngoại tệ quá thấp so với giá trị thực trên thị trường. Hậu quả là xuất khẩu thường bị lỗ lớn, Nhà nước phải trợ giá xuất khẩu, ngược lại giá bán hàng nhập khẩu lại quá rẻ khiến Nhà nước thất thu rất lớn. Hằng năm ngân sách nhà nước phải bù lỗ rất lớn cho xuất nhập khẩu.
Cũng do tỷ giá ngoại hối bất hợp lý nên hằng năm yêu cầu Nhà nước cấp ngoại tệ để nhập khẩu vật tư, hàng hóa thiết yếu rất lớn, trong khi ngoại tệ các doanh nghiệp xuất khẩu thu được thì doanh nghiệp chiếm dụng phần lớn, số kết nối cho ngân sách rất ít.
- Mất cân đối giữa tín dụng và huy động vốn vào ngân hàng. Do lãi suất tín dụng quá thấp và giữ nguyên trong một thời gian dài trong khi giá cả thị trường tăng ngày càng cao đã khiến lãi suất của ngân hàng trên danh nghĩa là "dương" nhưng trên thực tế là "âm". Vì vậy từ doanh nghiệp nhà nước đến tập thể, tư nhân đều đổ xô vào vay vốn của ngân hàng, bởi vay được càng nhiều càng có lợi do đồng tiền mất giá. Đầu năm vay 1 triệu đồng, cuối năm số tiền phải trả nợ ngân hàng giá trị thực tế chỉ còn khoảng 200.000 - 300.000 đồng. Có chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp ở huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang nói với anh Đỗ Mười: "Đầu năm hợp tác xã vay tiền ngân hàng để mua cả con trâu, đến cuối năm số tiền phải trả nợ ngân hàng chỉ bằng đuôi trâu". Ngược lại, do lãi suất tiền gửi vào ngân hàng thực tế "âm" nên không ai chịu gửi tiền vào ngân hàng vì chỉ một thời gian sau, đồng tiền mất giá thì gần như mất trắng số tiền gửi. Nhân dân không còn tin tưởng vào giá trị đồng tiền. Người có nhiều tiền đều đem mua vàng và hàng có giá trị để cất giữ trong gia đình. Các doanh nghiệp cũng không gửi tiền chưa dùng đến vào ngân hàng mà đem mua tư liệu sản xuất để cất giữ.
Vì vậy, mất cân đối giữa tín dụng của ngân hàng và vốn mà ngân hàng huy động được ngày càng nghiêm trọng. Ngân hàng phải phát hành thêm tiền mặt để cho vay. Lượng tiền mặt trên thị trường tăng rất nhanh, có năm tăng tới 300 - 400%.
Tác động cộng hưởng của các mất cân đối trên đây dẫn tới hậu quả là: mất cân đối tiền, hàng ngày càng nghiêm trọng. Tiền ra khiến sức mua bằng tiền của xã hội tăng. Ngược lại, nguồn cung hàng hóa cho xã hội tuy có tăng do các chính sách thúc đẩy sản xuất của Đảng và Nhà nước nhưng vẫn thấp xa so với nhu cầu xã hội bằng tiền. Tiền nhiều mà hàng ít thì giá cả bị đẩy lên. Giá lên làm tăng nhu cầu tiền lưu thông, buộc ngân hàng phải phát hành thêm tiền. Tiền ra thêm lại đẩy giá lên. Đó là cái vòng luẩn quẩn xoáy trôn ốc làm cho lạm phát ngày càng nghiêm trọng, vì chỉ số lạm phát luôn luôn tương ứng với chỉ số phát hành tiền mặt.
Từ những nhận định lên, anh Đỗ Mười đã tập trung giải quyết năm vấn đề mà anh cho là những nguyên nhân trực tiếp chủ yếu gây ra lạm phát:
- Tiếp tục khắc phục mất cân đối cung cầu hàng hóa;
- Khắc phục mất cân đối thu chi ngân sách;
- Khắc phục những bất hợp lý trong chính sách xuất nhập khẩu và chính sách ngoại hối;
- Khắc phục mất cân đối trong thu chi tiền mặt của ngân hàng, mất cân đối giữa tiền và hàng.
- Xử lý quan hệ giữa giá và lương đi đôi với việc tiếp tục xóa bỏ giá bao cấp, thực hiện chính sách một giá theo giá bảo đảm kinh doanh.
1. Để tiếp tục khắc phục mất cân đối cung cầu hàng hóa
Tháng 2-1989, anh Đỗ Mười bảo tôi sang bàn với đồng chí lãnh đạo Ủy ban Kế hoạch Nhà nước tìm mọi cách đẩy mạnh sản xuất hàng hóa trong nước, tạo nên một quỹ hàng hóa để ứng phó với những biến động về cung cầu hàng hóa có thể xảy ra khi thực hiện những biện pháp quyết liệt chống lạm phát.
Để tăng thêm nguồn hàng, anh yêu cầu Bộ Ngoại thương xóa bỏ những quy định không hợp lý về nhập khẩu phi mậu dịch, không những cho phép mà còn khuyến khích cán bộ, chuyên gia, học sinh, sinh viên, lao động ở nước ngoài, Việt kiều khi trở về nước đem hàng về càng nhiều càng tốt, Nhà nước không đánh thuế, không thu mua.
2. Về xuất nhập khẩu và ngoại tệ
Tháng 3-1989, Nhà nước xóa bỏ chế độ hai tỷ giá song hành: bỏ tỷ giá chính thức (lúc đó là 3.500đ/USD, thấp hơn gần 25% so với tỷ giá trên thị trường (4.550đ/USD); thực hiện một tỷ giá ngoại tệ duy nhất được vận dụng linh hoạt theo diễn biến tỷ giá được hình thành trên thị trường qua hoạt động xuất nhập khẩu. Kinh doanh xuất nhập khẩu phải lấy xuất khẩu để thanh toán nhập khẩu, ngân sách không trợ cấp xuất khẩu, không bù lỗ nhập khẩu. Mở rộng quyền hoạt động xuất nhập khẩu cho các tỉnh, thành phố để phát huy khả năng xuất nhập khẩu của các địa phương và tăng nhập khẩu tư liệu sản xuất và những hàng tiêu dùng đem lại nguồn thu cho ngân sách.
Ngoài việc xóa bỏ hai tỷ giá song hành và quy định người được nhận kiều hối phải nộp thuế và bán cho Nhà nước một phần theo tỷ giá chính thức, Nhà nước còn khuyến khích kiều bào ở nước ngoài gửi kiều hối về nước càng nhiều càng tốt. Nhà nước không mua, không đánh thuế.
3. Về tiền tệ và tín dụng
Thực hiện chính sách lãi suất mới trong việc huy động vốn và trong việc cho vay của ngân hàng. Chuyển từ lãi suất thực "âm" sang lãi suất thực "dương" theo nguyên tắc: lãi suất danh nghĩa hằng tháng được xác định trên cơ sở chỉ số lạm phát bình quân hằng tháng của quý trước cộng với tỷ lệ lãi cơ bản mà người gửi tiền vào ngân hàng được hưởng, người vay tiền của ngân hàng phải chịu. Lãi suất này được điều chỉnh theo sự thay đổi của chỉ số lạm phát từng quý.
Tháng 4-1989, căn cứ vào chỉ số lạm phát bình quân hằng tháng quý IV năm 1988 là 7%, lãi suất mới được quy định như sau:
Lãi suất tiền gửi tiết kiệm vào ngân hàng kỳ hạn 3 tháng là 12% một tháng (tức là bằng chỉ số lạm phát 7% cộng với lãi suất cơ bản (thực lãi) 5%). Nếu gửi không kỳ hạn thì lãi suất là 9% một tháng, tức là bằng chỉ số lạm phát 7% cộng với thực lãi 2%.
- Lãi suất tiền vay ngân hàng được nâng lên 10 - 11%, tức là bằng chỉ số lạm phát cộng với thực lãi mà người vay phải trả cho ngân hàng là 3 - 4%.
Ngân hàng phải quản lý chặt chẽ việc cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước, giảm tín dụng cho Nhà nước để bù đắp bội chi ngân sách.
Tổ chức lại hệ thống ngân hàng, bao gồm Ngân hàng Nhà nước làm chức năng quản lý nhà nước và nhiều ngân hàng chuyên doanh hoạt động bằng vốn tự thu hút trong xã hội theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh có lãi.
Ngân hàng phải thu hút vốn từ xã hội để bảo đảm nhu cầu tín dụng, hạn chế việc phát hành thêm tiền mặt ra thị trường.
4. Về giá và lương
Đưa toàn bộ giá hàng tiêu dùng và tư liệu sản xuất của Nhà nước lên sát giá thị trường.
So với mức giá bán cung cấp quy định tháng 10-1987 thì mức giá bán lẻ hàng tiêu dùng thiết yếu tháng 7-1989 tăng từ 8 đến 14 lần. Thí dụ: Giá 1 kg gạo từ 50 đồng lên 578 đồng; giá 1 lít dầu hỏa từ 60 đồng lên 700 đồng; giá 1 lít nước mắm từ 85 đồng lên 668 đồng; giá 1 kg đường kết tinh từ 260 đồng lên 2.105 đồng, giá 1 kg xà phòng giặt từ 240 đồng lên 2.100 đồng.
Việc điều chỉnh giá bán tư liệu sản xuất được tiến hành chậm hơn giá bán hàng tiêu dùng: Tháng 6-1989, vẫn còn giữ chế độ bán hai giá (giá cung cấp và giá bán lẻ sát giá thị trường), đến quý IV-1990, mới bán bình thường theo một giá thống nhất sát giá thị trường. Mục đích là để các doanh nghiệp có thời gian áp dụng các biện pháp thích ứng với mức giá đầu vào mới trên cơ sở giá ở đầu ra đã được điều chỉnh trước.
Giá bán lẻ hàng tiêu dùng được điều chỉnh tăng lên ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống cán bộ, công nhân, viên chức. Để bảo đảm lợi ích của cán bộ, công nhân, viên chức, tiền lương được điều chỉnh lên, không những đủ bù lại tác động của việc tăng giá hàng mà còn có cải thiện một phần đời sống của họ: tiền lương tối thiểu được nâng gấp 4 lần, tổng quỹ tiền lương được tăng lên gấp 5 lần so với năm 1988.
Những biện pháp mạnh mẽ, quyết liệt này khi đưa ra đã gây những phản ứng của cả các nhà kinh tế và các doanh nghiệp. Trước tình hình đó, anh Mười rất thận trọng. Anh cử một đoàn cán bộ gồm: Tổng Giám đốc Ngân hàng Nhà nước, Bộ trưởng Bộ Tài chính, Bộ trưởng Bộ Thương mại, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước xuống Hải Phòng làm thí điểm. Kết quả cho thấy, việc thực hiện các biện pháp trên không gây ra những rối loạn kinh tế - xã hội như có ý kiến lo ngại. Trên cơ sở đó, anh đề nghị Hội đồng Bộ trưởng áp dụng trên phạm vi cả nước.
Kết quả thật đáng phấn khởi:
- Lạm phát bị chặn đứng, chỉ số giá từ tháng 5 đến tháng 7-1989, giảm so với các tháng trước, có tháng chỉ số là âm: tháng 4 giảm 1% so với tháng 3; tháng 5 giảm 2% so với tháng 4. Tiếp đó, do lạm phát tiếp tục giảm trong tháng 6 và tháng 7, 8, 9, ngân hàng đã hai lần điều chỉnh lãi suất xuống cho phù hợp với chỉ số lạm phát nhưng vẫn bảo đảm người gửi tiền được hưởng lãi suất cơ bản.
- Cung cầu hàng hóa trên thị trường cân đối hơn. Hàng ra thị trường nhiều hơn việc mua bán trên thị trường thoải mái, nhu cầu giả tạo giảm hẳn, sức mua xã hội có phần chậm lại vì các gia đình đem các hàng tích trữ ra dùng thay vì phải mua theo giá mới. Việc xóa bỏ bao cấp ở đầu vào (vật tư, nguyên liệu, vốn) cho các doanh nghiệp nhà nước, tuy lúc đầu có làm cho một số doanh nghiệp lúng túng nhưng họ cũng nhanh chóng ứng phó được bằng cách đưa các vật tư găm trữ trước kia ra sử dụng, thậm chí còn bán bớt các vật tư chưa cần dùng để có thêm vốn hoạt động, khỏi phải vay ngân hàng với lãi suất cao.
- Yêu cầu tín dụng của các doanh nghiệp nhà nước giảm mạnh: Năm 1988, yêu cầu tín dụng Ngân hàng tăng 350% so với 1987. Trong 6 tháng đầu năm 1989, chỉ tăng 58% so với cả năm 1988.
Ngược lại, tiền gửi vào ngân hàng tăng mạnh: Số dư tiền gửi tiết kiệm đến tháng 6-1990 tăng 15,6% so với tháng 12-1988, thể hiện sự tin tưởng trở lại vào đồng tiền Việt Nam.
Ngân hàng có thêm vốn hoạt động để đáp ứng nhu cầu tín dụng trong xã hội, thậm chí có thể cung ứng thêm tiền mặt cho thị trường mà không đẩy giá lên gây lạm phát như các năm trước.
- Nhân dân phấn khởi. Nền kinh tế tránh được thảm họa lạm phát phi mã, vững bước tiến lên thực hiện đường lối đổi mới của Đại hội VI của Đảng. Các chuyên gia kinh tế nước ngoài vô cùng ngạc nhiên và hết lời ca ngợi Đảng Cộng sản Việt Nam đã dũng cảm thực hiện những cải cách cơ bản, nhất là việc xóa bỏ bao cấp gạo, việc thực hiện một tỷ giá ngoại tệ duy nhất trên cơ sở tỷ giá hình thành trên thị trường (mà họ gọi là "phá giá đồng tiền Việt Nam"), việc chuyển đổi từ lãi suất thực "âm" sang lãi suất thực "dương" mà không gây xáo trộn kinh tế, chính trị, xã hội.
Trong những tháng sau đó, chỉ số giá có tăng trở lại, nhưng mức độ tăng thấp hơn nhiều. Đó là do tài chính phải chi những khoản rất lớn cho an ninh, quốc phòng để rút quân khỏi Campuchia và giảm quân số, cho xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế (điện, giao thông vận tải...) để tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế và thu hút vốn đầu tư của nước ngoài (FDI, ODA), cho xây dựng cơ sở hạ tầng xã hội, phát triển dịch vụ xã hội, để trả nợ đến hạn và lãi tiền vay nước ngoài. Ngược lại, nguồn thu lại gặp những khó khăn mới, như không còn nguồn viện trợ, nguồn vay và nguồn nhập khẩu vật tư chiến lược (xăng dầu, kim khí, phân hoá học) với giá ưu đãi từ Liên Xô. Cho nên ngân sách lại tiếp tục bội chi và lại phải tiếp tục vay ngân hàng, ngân hàng lại phải phát hành thêm tiền để cân đối ngân sách. Chỉ từ năm 1992 trở đi, khi nền kinh tế phát triển, GDP tăng, đời sống nhân dân được nâng cao dần, tỷ lệ huy động GDP cho ngân sách tăng lên; mặt khác, có thêm nguồn thu mới từ dầu thô, xuất khẩu gạo, vay và viện trợ nước ngoài mới chấm dứt được việc ngân sách phải vay ngân hàng và cơ bản khắc phục được lạm phát.
Rút kinh nghiệm cuộc đấu tranh chống lạm phát, anh Đỗ Mười nêu lên một số điểm:
1. Phải tự mình đi sâu nghiên cứu tình hình để tìm ra những chủ trương, biện pháp thích hợp, không giáo điều máy móc vận dụng kinh nghiệm của nước ngoài.
Cần phân tích tổng hợp các nguyên nhân - nguyên nhân sâu xa và nguyên nhân trực tiếp. Phải thấy lạm phát xảy ra là do tác động tổng hợp của rất nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là những yếu kém về tổ chức và quản lý kinh tế - xã hội dẫn tới kìm hãm sức sản xuất xã hội, cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, kế hoạch không gắn sản xuất với thị trường, không tôn trọng quy luật giá trị và không vận dụng các đòn bẩy kinh tế, gây ra những mất cân đối nghiêm trọng trong nền kinh tế.
2. Lạm phát là một tai họa lớn, tác động đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, làm đảo lộn đời sống mọi tầng lớp nhân dân, làm chậm lại công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Cho nên chống lạm phát là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp, quyết liệt, gian khổ.
Đã là đấu tranh cách mạng thì phải dùng những biện pháp xử lý có tính chất cách mạng. Vấn đề hàng đầu là phải động viên được đông đảo nhân dân tham gia. Muốn vậy phải có chính sách đúng, được nhân dân đồng tình ủng hộ, phải biết dùng lợi ích để lôi cuốn nhân dân thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước, tạo thành động lực thúc đẩy cuộc đấu tranh cách mạng tiến tới mạnh mẽ. Việc nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên 12% là một ví dụ điển hình: Trong khi chỉ số lạm phát là 7% một tháng, với lãi suất tiền gửi tiết kiệm 12%, nhân dân thấy gửi tiền vào ngân hàng vừa bảo đảm được giá trị tiền gửi vừa có lợi thêm 5% nên đã ồ ạt gửi tiền vào ngân hàng. Một ví dụ khác: Khi Nhà nước sửa đổi chính sách đối với nhập khẩu phi mậu dịch, hàng từ nước ngoài đem về rất nhiều, hầu hết là hàng mà nhân dân trong nước rất cần như tân dược, vải vóc, đồ điện tử,... Người đem hàng về phấn khởi vì có thêm thu nhập, nhân dân cũng phấn khởi vì có hàng để mua. Số lượng kiều hối gửi về cũng tăng gấp nhiều lần. Đối với nông dân, việc nâng giá mua lúa lên sát giá thị trường khiến nông dân phấn khởi, bán gần triệu tấn lúa cho Nhà nước, nhờ đó Nhà nước không còn phải nhập khẩu gạo mà vẫn có lực lượng để bình ổn giá thị trường, ngoài ra có gạo để xuất khẩu.
3. Chống lạm phát phải tiến hành toàn điện, đồng bộ, có sự phối hợp chặt chẽ các biện pháp. Tùy tình hình diễn biến mà kịp thời điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện. Phải đặt thành trách nhiệm của tất cả các ngành, các cấp, tạo ra sự nhất trí quyết tâm cao. Đây là bài học rút ra được từ hai cuộc cải cách giá năm 1981 và năm 1985.
Những biện pháp chống lạm phát áp dụng đầu năm 1989 rất táo bạo, quyết liệt. Nhưng nhờ có anh Đỗ Mười vừa là người chịu trách nhiệm cao nhất, vừa là người có đầy đủ quyền hạn để ra những quyết định cần thiết, kịp thời, cộng với sự chỉ đạo rất tập trung, rất cụ thể, đề cao kỷ cương, kỷ luật nên cuộc đấu tranh chống lạm phát đã giành được thắng lợi tốt đẹp.
––––––––––––––––––––
* Nguyên Quyền Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước.
ANH MƯỜI CHỈ ĐẠO NGÀNH NỘI THƯƠNG CHỐNG LẠM PHÁT VŨ TRỌNG NAM*
Tháng 7-1986, khi nói chuyện với Hội nghị cán bộ ngành nội thương, trước những yêu cầu bức xúc của nhân dân, anh Tô (đồng chí Phạm Văn Đồng - BT) đề ra cho ngành nội thương, cho tất cả các ngành kinh tế - tài chính, tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở một mục tiêu phấn đấu hết sức quan trọng là làm thế nào để đến cuối năm 1986 và thời gian tiếp theo đó chỉ số giá cả trên thị trường xã hội nếu có tăng cũng không tăng quá hai con số thấp nhất.
Lãnh đạo Bộ Nội thương bàn nát nước mà vẫn chưa thấy có cách gì kéo được chỉ số giá đang tăng từ 20% một tháng xuống khoảng 10%.
Chúng tôi biết rằng biện pháp có ý nghĩa quyết định kéo giá xuống là phải dựa vào chính sách kinh tế mới của Đảng, bằng mọi cách thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển. Nhưng chúng tôi tính rằng việc nâng cao sản lượng hàng hóa phải có thời gian. Nếu kế hoạch sản xuất năm 1986 được thực hiện trọn vẹn thì quỹ hàng hóa của Nhà nước năm này vẫn thiếu hàng tỷ đồng so với quỹ mua của dân cư. Cứ hụt 1% kế hoạch sản xuất thì quỹ hàng hóa lại thiếu thêm 1 tỷ đồng nữa. Thế mà vụ chiêm năm 1986 ở miền Bắc vừa bị thất bát nặng và mưa lũ đang uy hiếp mạnh vụ mùa. Khả năng tăng thêm quỹ hàng hóa của xã hội lúc này là rất hạn chế. Chúng tôi cũng tính rằng quản lý lưu thông hàng hóa đã bắt đầu có sự cải tiến. Quyết định số 76 của Hội đồng Bộ trưởng đã quy định quyền tự chủ của các đơn vị kinh tế cơ sở trong tiêu thụ sản phẩm. Thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán vận dụng cơ chế mua theo hai giá như thế nào để đạt được mục tiêu nắm 80% nông sản hàng hóa ở vùng chuyên canh, 40 - 50% ở các nơi khác. Thế nhưng 6 tháng đầu năm 1986, mua mới đạt 36% kế hoạch năm cả về nông sản thực phẩm và công nghệ phẩm. Khó khăn chính là ách tắc về giá. Mua với giá Nhà nước chỉ đạo và hướng dẫn thì không mua được. Nâng giá mua lên sát giá thị trường để có thể mua được thì Nhà nước không cấp bù cho ngành nội thương. Nếu cứ mua theo giá Nhà nước đã nâng lên từ đầu tháng 7 (còn thấp nhiều so với giá thị trường) thì cả năm 1986 phải bù lỗ 6,2 tỷ đồng cho 6 mặt hàng cung cấp theo định lượng (không kể lương thực) mà dự trù đầu năm trong ngân sách nhà nước chỉ có 3,2 tỷ. Tiếp tục nâng giá mua lên nữa thì có thể phần bù lỗ cung cấp sẽ nuốt hết mức bội chi ngân sách cả năm đã được Quốc hội phê chuẩn. Mua đã khó mà bán cũng không dễ mặc dù lúc này quản lý phân phối hàng hóa đã bước đầu có sự đổi mới (bước đầu thôi chứ chưa thoải mái như bây giờ). Chúng tôi biết rằng để thực hiện được mục tiêu mà Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đề ra thì phải vận dụng một cách đồng bộ các biện pháp, kể cả về mặt tài chính, tiền tệ, nhưng sự phối hợp giữa các ngành không được ăn khớp.
Mặc dù hết sức cố gắng với sự chung sức phấn đấu của các ngành, các cấp, nhưng kết quả chưa được nhiều, so với mục tiêu cấp trên đề ra thì còn xa vời. Tình hình năm 1987 cũng chưa sáng sủa lắm.
Giữa năm 1988, anh Mười xuống trực tiếp làm việc với Bộ Nội thương. Đầu tiên anh hỏi: "Các anh đã nghiên cứu kỹ Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VI chưa, đã đọc Tư bản của Mác chưa?". Chưa ai kịp trả lời thì anh nói: "Tiền và hàng mất cân đối nghiêm trọng như thế này thì các anh có cách gì chặn đứng được tốc độ tăng giá và tốc độ lạm phát đang tăng vùn vụt như phi mã, phải làm thế nào để đồng tiền không bị mất giá, hàng hóa phải được trao đổi ngang giá. Cứ để lạm phát như hiện nay thì lòng dân không thể yên, chính trị - xã hội cũng khó ổn định. Chống lạm phát là một nhiệm vụ chính trị rất quan trọng, là một cuộc đấu tranh cách mạng phức tạp và gian khổ. Nghị quyết Đại hội VI là cẩm nang quan trọng phải vận dụng cho tốt nghị quyết này và phải dựa vào dân để từng bước đẩy lùi lạm phát".
Anh Mười nói tiếp: "Tôi đồng ý là ngành nội thương phải hết lòng, hết sức và bằng biện pháp kinh tế là chủ yếu để kích thích nông nghiệp và công nghiệp tăng nhanh sản lượng hàng hóa. Cùng với việc đẩy mạnh sản xuất trong nước và mở rộng hoạt động xuất nhập khẩu chính ngạch, cần khuyến khích mạnh việc nhập hàng phi mậu dịch. Lâu nay có chuyện cấm đoán hoặc hạn chế nghiêm ngặt việc người Việt Nam ở nước ngoài đưa hàng về. Việc làm đó là không đúng. Hãy để cho du học sinh, cán bộ và người lao động cũng như bà con Việt kiều thoải mái đưa hàng tiêu dùng và nguyên liệu về, và gửi quà biếu về cho thân nhân ở trong nước. Các cơ quan nhà nước không đánh thuế, Nhà nước không thu mua, mậu dịch quốc doanh mua thì mua theo giá thị trường với sự thỏa thuận của người bán. Chính quyền các cấp và cơ quan quản lý thương nghiệp, quản lý thị trường phải khuyến khích giao lưu hàng hóa giữa thành thị và nông thôn, miền xuôi và miền ngược, chấn chỉnh ngay việc tùy tiện đặt ra các trạm kiểm soát trên đường giao thông, chấm dứt ngay tình trạng "ngăn sông, cấm chợ" làm cho hàng hóa đã chưa nhiều lại bị ứ lại ở nơi này nơi khác, không lưu thông bình thường được.
Bán lẻ hàng hóa là vấn đề rất quan trọng, nhưng không đơn giản. Ngành nội thương và lương thực đã thực hiện chế độ cung cấp hàng hóa theo định lượng trong nhiều năm nay. Chế độ cung cấp hàng hóa theo định lượng bằng tem phiếu mà các anh đã thực hiện thực chất là sự chia một cái bánh nhỏ cho nhiều người, cực chẳng đã phải làm. Không chỉ riêng nước ta trong chiến tranh mới phải làm như vậy. Phải khẳng định chế độ cung cấp là một ưu điểm của thời chiến vì lúc đó nếu không có sự phân phối tập trung, không ai ra chiến trường. Lúc đó Nhà nước độc quyền chi viện cho miền Nam, độc quyền phân phối cho quân đội và công nhân viên chức. Chính nhờ chế độ cung cấp thời đó mới có sức mạnh tổng hợp của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn để đi đến chiến thắng giặc Mỹ xâm lược. Song chúng ta duy trì quá lâu chế độ cung cấp hiện vật bình quân chủ nghĩa với giá rất thấp, đến mức gần như cho không và diện cung cấp mở ra tràn lan, đã gây ra hiện tượng tiêu cực. Tôi đã bàn thống nhất trong Hội đồng Bộ trưởng, đã báo cáo và xin ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị, cần thực hiện thống nhất cơ chế một giá (cả giá mua và giá bán lẻ), giá đó được xác định trên cơ sở giá trị hàng hóa, có tính đến quan hệ cung - cầu, tiền - hàng trong từng thời gian, có phân biệt theo tính chất mặt hàng và phải thể hiện chính sách kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước. Đó là chủ trương rất đúng đắn, đáp ứng nguyện vọng tha thiết của nhân dân, của những người làm thương nghiệp xã hội chủ nghĩa. Các anh có đồng ý như thế không?". Tất cả chúng tôi có mặt hôm đó nhiệt liệt hoan nghênh ý kiến anh Mười.
Anh Mười nói tiếp: "Tôi chỉ đạo cách bán hàng tiêu dùng trước. Các anh ở bộ phải yêu cầu tất cả các cửa hàng mậu dịch đưa hàng tiêu dùng niêm yết giá bán mới sát giá thị trường ở từng địa phương. Sau khi đưa giá hàng tiêu dùng về một giá để chống được nạn đầu cơ, tích trữ, dần dần bỏ tem phiếu và sổ gạo. Nhà nước không cần tuyên bố bỏ chế độ tem phiếu mà dân thấy không cần nữa sẽ tự bỏ. Sau khi đưa hàng tiêu dùng và lương thực về một giá, ta tiếp tục đưa nguyên vật liệu về một giá. Bằng cách này, chúng ta điều chỉnh được nguồn cung và cầu. Nhà nước sẽ thu tiền về rất nhiều. Tất nhiên có vấn đề bù giá vào lương cho cán bộ, công nhân, viên chức.
Một vấn đề hết sức quan trọng là làm thế nào rút bớt được tiền về. Tôi đã báo cáo với Hội đồng Bộ trưởng và Bộ Chính trị: Dân gửi tiền vào ngân hàng với lãi suất 3% trong khi giá hàng trên thị trường tăng 9%, là không hợp lý vì họ gửi tiền vào đầu tháng đến cuối tháng tiền đã mất giá nên chẳng mấy ai gửi tiền vào ngân hàng. Tôi yêu cầu ngân hàng tăng lãi suất tiền gửi lên 12% một tháng rồi rút dần xuống. Theo hướng này chắc chắn ngân hàng thu tiền về rất nhiều, không phải in thêm tiền nữa. Tiền được thu bớt về, hàng có nhiều để tung ra, chúng ta sẽ thực hiện được mục tiêu kéo giá thị trường xuống, ngân hàng có điều kiện thực hiện vay và cho vay, tài chính không phải bội chi, đồng thời lực lượng sản xuất được giải phóng, kinh tế hàng hóa sẽ nhanh chóng phát triển.
Ngành nội thương phải cùng các ngành, các cấp ra sức phấn đấu thực hiện theo hướng tôi vừa nói nhằm chặn đứng nạn lạm phát bằng chính nội lực của mình".
Có sự chỉ đạo sát sao, cụ thể, kịp thời của anh Mười ngành nội thương đã đạt được mục tiêu phấn đấu đề ra.
–––––––––––––––––––
* Nguyên Thứ trưởng Bộ Nội Thương.
CHIẾC GHẾ NÓNG VÕ ĐẠI LƯỢC*
Năm 1988, khi ông Đỗ Mười làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, tình hình lạm phát rất nguy kịch, lên tới ba con số một năm. Đời sống nhân dân khó khăn, giá cả tăng liên tục, kinh tế đình đốn, hàng hóa khan hiếm. Nếu không cương quyết kiểm soát lạm phát chắc sẽ rất khó tiếp tục công cuộc đổi mới, ông phải vào cuộc đương đầu với cơn sốt lạm phát.
Trên bàn của ông lúc đó có hơn 40 đề án chống lạm phát, thậm chí cả đoàn chuyên gia kinh tế Liên Xô sang giúp đỡ cũng có một đề án.
Tôi còn nhớ, người khởi xướng đổi mới là ông Trường Chinh (1986), nhưng sự đổi mới vẫn vướng khuôn khổ kinh tế kế hoạch, chế độ bao cấp dù bước đầu đã chuyển sang kinh tế hàng hóa.
Năm 1989, tôi là Viện trưởng Viện Kinh tế thế giới, được phân công làm Tổ trưởng Tổ Nghiên cứu chống lạm phát của Ủy ban Khoa học xã hội. Tổ cũng đã có dự án chống lạm phát. Nhưng tôi đã không tán thành quan điểm của bản dự án đó và viết riêng một dự án khác.
Tôi được anh Lê Đức Thúy, thư ký của ông Đỗ Mười, thông báo là ông muốn nghe tôi trình bày đề án chống lạm phát.
Nhận được tin này, thực lòng tôi hơi ngại, vì nghĩ khó thuyết phục được ông Mười. Trước đó ông đã có những báo cáo viết theo tinh thần kinh tế bao cấp, tôi có cảm giác ông sẽ khó đồng ý với dự án của tôi.
Đây là lần đầu tiên tôi được làm việc riêng với ông Đỗ Mười. Khi tôi đến Văn phòng Chính phủ, ông đã ngồi chờ tôi, trông ông rất bình dị, gần gũi. Hôm đó trời nóng, không có máy điều hoà, ông vẫn mặc bộ quần áo bộ đội.
Ông đứng lên và chỉ chỗ cho tôi ngồi rồi ân cần mời tôi uống nước. Tôi có ấn tượng ban đầu rất tốt về ông. Ông Mười bắt vào câu chuyện luôn:
- Tôi được biết anh mới hoàn thành đề án về vấn đề chống lạm phát ở Việt Nam, tôi muốn nghe anh trình bày.
Lúc đó tôi cũng hơi hồi hộp, vì tôi biết ông đã được nghe trình bày quá nhiều đề án rồi, nhưng tôi vẫn sẵn sàng:
- Tôi hết sức vui mừng, vinh dự được trình bày với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đề án này, vì đây là vấn đề hết sức bức xúc, mức lạm phát đã lên 9% một tháng.
Ông khích lệ:
- Anh cứ nói thoải mái, hôm nay chỉ có một mình tôi làm việc với anh.
Ông lấy cuốn sổ và cái bút sẵn sàng chăm chú nghe tôi trình bày. Khi tôi trình bày ông tỏ ra rất hào hứng lắng nghe, chỉ ghi chép rất ít vì ông có trí nhớ rất tuyệt vời, ông cho phép tôi trình bày từ đầu đến cuối không hề hỏi lại.
Sau khi tôi trình bày xong, ông nói:
- Tôi đồng ý, giải pháp của anh có những ý tưởng tốt, cần được xem xét.
Sau đó, ông cho gọi ngay đồng chí Hồ Tế, Thứ trưởng Bộ Tài chính, Ủy viên Thường trực Tiểu ban chống lạm phát của Chính phủ lên làm việc.
Một lát, đồng chí Hồ Tế đã có mặt, ông Đỗ Mười nói dứt khoát:
- Tôi đã nghe đề án chống lạm phát của đồng chí Võ Đại Lược. Yêu cầu anh tổ chức hội nghị thảo luận đề án này. Thành phần mời là các bộ, các ngành có liên quan đến vấn đề chống lạm phát.
Đồng chí Hồ Tế chấp hành lệnh của ông Đỗ Mười, sau một tuần đã tổ chức được hội nghị có cả trăm đại biểu thuộc nhiều cơ quan khác nhau đến dự, đó là các nhà kinh tế nổi tiếng trong nước và đại diện nhiều bộ, ngành liên quan.
Hai bản đề án để hội thảo là đề án chống lạm phát của Bộ Tài chính và bản đề án của tôi.
Đề án của tôi không được ủng hộ vì nó mang nhiều yếu tố đổi mới, đó là ủng hộ chủ trương lãi suất dương, đẩy mạnh tự do hóa thương mại, xóa bao cấp, độc quyền nhà nước và động viên mở cửa cho xuất, nhập khẩu, v.v…
Sau buổi hội thảo tôi cũng hơi buồn, vì những điều mình ấp ủ sẽ không được thực hiện. Nhưng ngay hôm sau tôi nhận được điện thoại của đồng chí Phan Trọng Kính, thư ký riêng của ông Đỗ Mười, yêu cầu tôi lên làm việc riêng với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
Sáng hôm đó trời cũng nắng gay gắt. Khi tôi bước vào văn phòng, ông Đỗ Mười hỏi ngay:
- Kết quả cuộc hội thảo thế nào?
Tôi không e ngại, báo cáo luôn:
- Báo cáo Chủ tịch, căn cứ vào kết quả hội thảo có khoảng 90% đại biểu phản đối, đề án của tôi hoàn toàn thất bại. Không ai dám ủng hộ ra mặt.
Ông Mười nhìn tôi bằng ánh mắt thông cảm, đầy khích lệ:
- Không sợ, anh nên nhớ ghế tôi đây là ghế nóng 220V, đúng, cực nóng, anh nào muốn vào ngồi tôi đứng dậy ngay. Nghe anh trình bày, tôi thấy đề án của anh có nhiều điểm cũng như trong suy nghĩ của tôi, tôi ủng hộ. Tôi sẽ cho thí điểm ở Hải Phòng.
Nghe ông Mười khẳng định như vậy, tôi thực sự ngạc nhiên, hết sức vui mừng, quá bất ngờ.
Buổi làm việc hôm đó tôi nhớ mãi. Tôi hết sức tôn trọng vốn kiến thức kinh tế phong phú, sâu sắc của ông Đỗ Mười, ông đã rất quyết liệt, nhạy bén trên mặt trận chống lạm phát.
Tôi được biết ông đã cử và đích thân chỉ đạo một đoàn cán bộ về Hải Phòng làm thí điểm. Chỉ sau một tháng, kinh tế Hải Phòng sôi động hẳn lên. Chính phủ cho phép tăng lãi suất tiền gửi của dân lên 12% một tháng. Người dân Hải Phòng đem bán hết các hàng đầu cơ tích trữ để lấy tiền gửi tiết kiệm. Hàng hóa tràn ngập, giá cả hạ thấp, đời sống dần dần ổn định.
Khoảng tháng 2-1989, ông bắt đầu cho làm thí điểm ở Hà Nội, cho dân được tự do buôn bán, hàng hóa lương thực, thực phẩm được tự do đưa vào Hà Nội, không bị ngăn sông, cấm chợ. Chẳng bao lâu sau, những cái chợ ở Hà Nội tràn ngập hàng hoá, dân tự do mua bán hả hê. Những cửa hàng bán theo tem phiếu ít người vào mua. Như vậy bắt đầu từ năm 1989 đã vô hiệu hóa tem phiếu.
Từ điển hình thắng lợi ở Hà Nội đã được nhân rộng ra toàn quốc. Cho đến đầu năm 1989, ông Đỗ Mười vẫn còn yêu cầu cho nhập gạo. Nhưng đến quý III năm 1989 Việt Nam bắt đầu xuất khẩu gạo. Ông Đỗ Mười hết sức vui mừng tâm sự:
- Quý I năm 1989, tôi còn yêu cầu nhập gạo nhưng sang quý III, dân thừa gạo ăn phải xuất khẩu, hết sức bất ngờ. Như vậy, tôi không phải in thêm tiền mà còn có thêm nguồn tiền dự trữ. Lúc đầu ngân sách dự trữ của cả nước chỉ có khoảng hơn 20 triệu đôla Mỹ, nhờ xuất khẩu gạo đã nâng lên dự trữ cả trăm triệu đôla.
Sau này, tôi thường được ông Đỗ Mười gọi lên làm việc. Tôi còn nhớ khi đó tình hình lạm phát đã xuống một con số, việc chống lạm phát ở Việt Nam coi như thành công và được thế giới ca ngợi là một thành tựu kỳ diệu.
Tôi rất kính trọng ông Đỗ Mười về tinh thần chịu đọc, chịu học. Có một lần tôi đi Nhật về khoe với ông Mười là tôi mới đem về cuốn sách Kinh tế, chính trị học Nhật Bản, tôi sẽ cho dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt. Ông Mười nói ngay: "Dịch xong chương nào, anh đưa tôi đọc ngay". Thấy ông nói như vậy, tôi rất mừng, vì đất nước có người lãnh đạo chịu đọc, chịu nghe và luôn luôn suy nghĩ lựa chọn để áp dụng vào kinh tế Việt Nam.
Ông Đỗ Mười đã lắng nghe, lựa chọn những giải pháp khả thi và có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển, điều đó không thể phủ nhận...
Sau này khi làm Tổng Bí thư của Đảng, ông đã đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với khu vực và quốc tế, nối lại quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và quyết định Việt Nam gia nhập ASEAN. Ông đã nói một câu nổi tiếng: "Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước". Những đường lối cởi mở đó làm bộ mặt đất nước khởi sắc.
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––
* Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế thế giới.
MỘT CON NGƯỜI SUỐT ĐỜI TẬN TỤY VÌ NƯỚC, VÌ DÂN TRẦN QUÂN NGỌC*
Lần đầu tiên tôi được nghe ông Đỗ Mười nói chuyện là vào năm 1957, tại Nhà hát Nhân dân, Hà Nội (sau là Cung Văn hóa Hữu nghị Việt - Xô, nay là Cung văn hoá hữu nghị Hà Nội). Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh ông hôm đó: ông cao, gầy, mặc một bộ đại cán màu xanh nhạt, đầu húi cua, chân đi đôi giày bộ đội cao cổ, da đen. Ông trình bày về tình hình kinh tế của nước ta lúc đó, giọng sang sảng, đầy nhiệt tình, ông nói say sưa, hùng biện, lý luận sâu sắc nhưng dễ hiểu, những dẫn chứng đưa ra rất cụ thể và dí dỏm. Có thể nói thời ấy có hai người nói chuyện được đám thanh niên chúng tôi thích nhất là ông Đỗ Mười, Bộ trưởng Bộ Nội thương và anh Việt Phương thư ký riêng của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.
Tôi có ngờ đâu 20 năm sau, tôi có khoảng 10 năm gắn bó với ông. Câu chuyện xảy ra như sau: Một hôm, đồng chí Lê Tự, Tổng Cục trưởng Tổng Cục Hóa chất bảo tôi cùng đi với đồng chí sang Bộ Xây dựng làm việc. Tôi có nhiệm vụ báo cáo với lãnh đạo của Bộ Xây dựng về quy hoạch phát triển ngành công nghiệp hóa chất trong giai đoạn 1975-1985. Người trực tiếp nghe báo cáo của tôi hôm đó là ông Đỗ Mười, Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng Bộ Xây dựng. Ít lâu sau, đồng chí Lê Tự nói với tôi: "Anh Mười "chấm" chú đấy. Anh ấy muốn điều chú lên Phủ Thủ tướng để giúp theo dõi công việc của các ngành dầu khí, hóa chất và một số ngành khác. Cho chú đi, tôi cũng tiếc lắm, nhưng giữa tôi và anh ấy tình nghĩa rất sâu nặng: Thời kháng chiến chống Pháp, anh ấy là Chính ủy kiêm Tư lệnh Khu Tả Ngạn thì tôi là phó của anh ấy bao nhiêu năm…".
Ít lâu sau, tôi nhận được quyết định điều về Phủ Thủ tướng, biên chế tại Vụ Xây dựng cơ bản. Vừa chuyển về cơ quan mới, tôi đã phải tháp tùng ông Đỗ Mười đi kiểm tra các công trình trọng điểm của Nhà nước, như công trình xây dựng Nhà máy thủy điện Hòa Bình, cơ sở lắp ráp giàn khoan dầu Vũng Tàu, nhà máy làm giàu quặng apatít, Nhà máy giấy Bãi Bằng... Mặc dù đã tích lũy được một số kinh nghiệm dự thảo văn bản nhưng lên Phủ Thủ tướng, tôi lại phải mày mò tìm hiểu, học tập cách dự thảo văn bản, gần như phải học lại từ đầu. Có những chỉ thị của Thủ tướng tôi dự thảo xong, đưa trình ông Đỗ Mười đọc. Ông bắt tôi ngồi cạnh, đọc, sửa từng câu từng chữ. Điều làm tôi ngạc nhiên nhất là ông có kiến thức sâu rộng về nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội. Sau này tìm hiểu tôi mới được biết ông đã từng là Bí thư Tỉnh ủy hoặc Chủ tịch Ủy ban nhân dân của 7 tỉnh, khu, thành phố (Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Hòa Bình, Khu Tả Ngạn sông Hồng, Hải Phòng), đã đảm nhiệm chức vụ Thứ trưởng, Bộ trưởng của gần mười ngành khác nhau như Bộ Nội thương, Ủy ban Vật giá Nhà nước, Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Ủy ban Thanh tra Chính phủ, Hội đồng Chi viện tiền tuyến, Bộ Xây dựng... Đó là chưa kể các trách nhiệm ông gánh vác trong 8 khóa Quốc hội, 5 khóa ở Trung ương Đảng... Không những ông thuộc việc mà còn nhớ việc, từ việc lớn tới những việc tưởng chừng nhỏ, nhờ có trí nhớ tuyệt vời.
Thời kỳ tôi giúp việc ông, ông ngủ rất ít, chừng 5 - 6 tiếng là nhiều. Phần lớn thời gian nếu không đi kiểm tra, đôn đốc các cơ sở, ông dành cho việc đọc các công văn, giấy tờ, sách báo. Thường anh em chuyên viên thư ký chúng tôi mỗi ngày phải đọc hàng trăm trang công văn của các bộ, ngành, địa phương gửi lên; tóm tắt nội dung vào một mẩu giấy nhỏ. Ông đọc hết nội dung công văn, gạch dưới những đoạn quan trọng hoặc ghi thêm bên lề... Ngoài ra, hằng ngày ông vẫn đều đặn nghiên cứu thêm lý luận, đọc rất nhiều loại sách để bổ sung kiến thức mọi mặt. Bộ sách kinh điển Tư bản của Mác ông đọc đi đọc lại nhiều lần, mỗi lần đều có những đoạn gạch dưới, những ghi chép bên lề. Khi tôi mới về công tác với ông, ông giao cho tôi bộ sách về Bộ Công thương Nhật Bản (Miti) đã dịch ra tiếng Việt, gồm 17 tập. Ông dặn: "Chú phải đọc thì mới có thêm kiến thức về kinh tế, mới hiểu được cấu trúc của bộ máy nhà nước của họ, để lo cải tiến bộ máy của ta". Thỉnh thoảng ông lại hỏi: "Chú đọc đến tập mấy rồi?". Sau này, ngoài lĩnh vực kinh tế, ông còn tìm hiểu nhiều lĩnh vực khác như thơ văn Lý - Trần, về Phật giáo... Khi đã bước vào tuổi 90, ông vẫn giữ nếp đọc sách đều đặn hằng ngày. Ông đọc cuốn Thế giới phẳng của Thomas Friedman, đọc Cạnh tranh nhà nước, phần Phát triển - cái giá của chủ nghĩa tự do... Phát hiện những cuốn sách hay, bổ ích đối với ngành, bộ nào là ông nhắc lãnh đạo bộ, ngành đó phải đọc, có khi ông cho sao chụp và gửi thẳng cho những đồng chí lãnh đạo đó.
Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, tình hình kinh tế - xã hội nước ta gặp nhiều khó khăn, nhiều công việc khẩn trương phải giải quyết nên hằng ngày ông làm việc ba buổi: hai buổi trong giờ hành chính, thêm một buổi tối để giải quyết những vấn đề bức xúc, họp hành, đôi khi tiếp khách trong và ngoài nước. Anh em chuyên viên chúng tôi nhiều lúc chỉ kịp về nhà ăn cơm tối lại đạp xe lên cơ quan làm việc tiếp. Làm việc căng thẳng thì dĩ nhiên ảnh hưởng tới sức khỏe của ông và cả chúng tôi nữa. Văn phòng bàn đi bàn lại mãi chuyện bồi dưỡng cho những người làm thêm giờ buổi tối. Cuối cùng quyết định: trong giờ giải lao cho mỗi người bát chè đậu xanh hoặc chiếc bánh bao nhỏ. Lúc đó cả Thủ tướng, Bộ trưởng, chuyên viên đều vừa đứng ở hành lang vừa ăn như nhau, giản dị, thân mật bình đẳng. Có hôm đổi món, cho uống một cốc sữa. Ông Đỗ Mười nhắc khéo chị cấp dưỡng: "Cho bát chè là được rồi, sữa bây giờ khan hiếm, phải để dành cho các cháu bé, những người ốm ở bệnh viện". Hồi ấy, thấy ông làm việc quá căng thẳng như vậy, sợ ảnh hưởng tới sức khỏe, Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Ban Bí thư đã phải "cấm" ông hội họp, làm việc thêm trong buổi tối.
Điểm nổi bật trong cung cách lãnh đạo của ông là ông đặc biệt chú ý tới quyền lợi chính đáng của người dân. Trước đây, khi thấy bà con mang đơn thư khiếu nại lên các cơ quan, chính quyền, anh em bảo vệ thường đề nghị bà con trở về quê quán, không nhận các đơn thư tố cáo, khiếu nại. Khi phát hiện ra điều này, ông yêu cầu Phủ Thủ tướng phải tổ chức một bộ phận tiếp dân, nhận các đơn khiếu nại của dân một cách chu đáo, ân cần. Tôi nhớ có một lần Quốc hội họp ở Hội trường Ba Đình, nhân dân mang đơn khiếu nại đến rất đông. Anh em chúng tôi ra thăm dò được biết: nhân dân tố cáo nhiều về chuyện đất đai, nhà cửa, nhũng nhiễu của cán bộ chính quyền địa phương... và yêu cầu được gặp mặt đích thân Thủ tướng để đưa đơn. Chúng tôi báo cáo với ông về chuyện này. Nhiều đồng chí cán bộ lãnh đạo, cán bộ bên an ninh không đồng ý để ông ra trực tiếp nhận đơn khiếu nại của dân, rằng như thế sẽ tạo ra tiền lệ không tốt có thể nguy hiểm đến tính mạng... ông Đỗ Mười phản ứng lại ngay: "Ơ hay, mình là cán bộ của dân, người dân muốn gặp, mà lại sợ dân à? Thủ tướng thì cũng chỉ là công bộc của dân mà thôi. Cứ để tôi ra gặp đồng bào". Thế là ông rời phòng họp, đi thẳng ra đường Hoàng Diệu, gặp dân. Tôi và đồng chí sĩ quan bảo vệ đi sát theo ông. Từ xa đã thấy bà con reo hò: "Bác Mười ra rồi! Thủ tưởng tới rồi, bà con ơi!". Đồng bào vỗ tay nhiệt liệt. Ông nói với bà con thật ân cần, giản dị: "Tôi đang họp trong kia, nghe mấy chú giúp việc tôi báo cáo là bà con muốn gặp tôi. Tôi ra ngay! Đơn, thư của bà con đâu, đưa thẳng cho tôi. Tôi về sẽ đọc và giao cho các cơ quan có liên quan nghiên cứu giải quyết và trả lời bà con sớm"'. Ông đã tận tay nhận hàng trăm đơn thư khiếu nại như vậy. Trên đường về phòng họp, ông nói với tôi: "Chú thấy không, chẳng có chuyện gì xảy ra cả. Mình là cán bộ của dân, trước kia, do dân nuôi, dân che chở, tại sao bây giờ lại sợ gặp dân? Tôi không sao hiểu nổi!".
Tôi nhớ một trường hợp khác nữa: Trước Đại hội VII, Bộ Chính trị giao cho ông đi giải quyết một số vấn đề mất đoàn kết, một số chuyện vướng mắc tại một số tỉnh. Chúng tôi được theo ông đi từ Bắc vào Nam. Tới Phú Khánh, sau mấy ngày làm việc căng thẳng, sáng sớm hôm đó chúng tôi rời nhà khách Ủy ban nhân dân tỉnh để ra sân bay Nha Trang đi tiếp thì xảy ra chuyện. Đi đầu là xe của Sở Công an dẫn đường, xe thứ hai là xe Thủ tướng. Khi chiếc xe của Thủ tướng vừa từ từ lăn bánh ra khỏi nhà khách Ủy ban thì một người lao vào phía trước xe. Đồng chí lái xe phanh xe kịp thời. Đồng chí bảo vệ và tôi mở cửa xe nhảy xuống. May quá, cụ già không sao. Cụ lổm ngổm ngồi dậy và quỳ dâng lá đơn lên trán, nói lắp bắp: "Tôi xin dâng lá đơn khiếu nại này lên cụ Thủ tướng!". Ông Đỗ Mười lúc đó cũng đã xuống xe, ông lấy tay đỡ cụ đứng lên và nói: "Chết chửa, tôi có phải là vua chúa gì đâu mà cụ phải quỳ xuống như thế! Tôi cũng chỉ là người đầy tớ của dân mà thôi! Cụ đừng bao giờ làm thế nữa nhé! Cụ cứ đưa đơn cho tôi, tôi sẽ tự mình đọc đơn của cụ sớm, cụ cứ yên tâm!".
Sau đó, ông cho gọi Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Giám đốc Sở Công an lại nhắc nhở (ông nói to cho cả bà con đang đứng vây quanh chỗ đó cùng nghe): "Bà con có chuyện oan ức mới làm đơn khiếu nại Chính phủ. Đó là chuyện bình thường. Sau khi tôi đi rồi, các anh tuyệt đối không được bắt bớ, trù dập, hăm dọa dân vì chuyện xảy ra hôm nay. Nếu tôi nghe thấy bất cứ một chuyện gì như thế, tôi sẽ kỷ luật nặng các anh. Thôi chào cụ, chào bà con, chúng tôi phải đi tiếp, kẻo chậm giờ máy bay".
Cứ một lần nghĩ tới sự kiện này, lòng tôi lại bồi hồi xúc động, nước mắt lại ứa ra! Suốt đời tôi không bao giờ quên được hình ảnh vị Thủ tướng cúi xuống nâng người dân đứng dậy, miệng nói: "Tôi cũng chỉ là người đầy tớ của dân mà thôi!".
Chuyện Thủ tướng "vi hành" để tìm hiểu đời sống của dân, giá cả thị trường, cách phục vụ của các quầy bán thịt, bán nhu yếu phẩm, bán bia hơi... thời đó là chuyện bình thường. Có nhiều hôm, sau khi làm việc ở Phủ Thủ tướng về, ông cho xe ôtô đỗ ở rất xa hoặc đi về nhà trước, còn ông cùng thư ký và bảo vệ đi lang thang trong chợ, trên phố để tìm hiểu tình hình. Thấy cán bộ kêu ca về nạn cửa quyền tại các quầy bán bia hơi, ông đến tận nơi xem xét. Thấy dân kêu ca về chất lượng bột mì dùng chế biến bánh mì quá kém, trọng lượng chiếc bánh mì quá nhẹ do bị ăn bớt lượng bột, ông yêu cầu Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội phải đích thân vào cuộc để giải quyết vấn đề. Có một dạo, ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội, sáng sáng phải mang mẫu bánh mì tới đưa cho tôi để chuyển tới ông Đỗ Mười báo cáo, cho tới khi đạt yêu cầu mới thôi.
Ông rất không ưa chuyện bày vẽ ăn uống, nhậu nhẹt. Một lần ông về Quảng Ninh kiểm tra công việc của các mỏ than. Trên đường đi, đoàn chúng tôi dừng lại ở Hải Phòng để Bộ Giao thông vận tải đưa ông đi xem một chiếc tàu thủy vừa mới mua ở nước ngoài về. Xem xong con tàu, các vị lãnh đạo của ngành và của con tàu mời ông quay trở lại phòng của thuyền trưởng. Bước vào phòng đã thấy bày sẵn các món ăn thịnh soạn. Hàng trăm lon bia được đưa ra. Hồi đó các loại bia này đều phải nhập từ nước ngoài, trong nước chưa sản xuất được. Chủ nhà khẩn khoản mời ông và anh em chúng tôi dự tiệc. Ông nhẹ nhàng từ chối: "Tiệc đã bày ra rồi, các cậu cứ "vui vẻ" đi. Bọn tớ đã ăn sáng rồi, bây giờ phải đi tiếp ra Quảng Ninh cho kịp họp". Mời thế nào ông cũng từ chối. Sau đó đoàn chúng tôi lên đường đi tiếp. Tới Phà Rừng, ông hỏi nhỏ: "Đoàn mình có cậu nào mang theo đồ ăn sáng không?". Tôi nhanh nhảu trả lời: "Nhà em có chuẩn bị cho em cơm nắm muối vừng và mấy củ khoai luộc. Khoai nghệ ngon lắm anh ạ". Ông nói: "Chú cho tôi củ khoai lang nghệ". Vừa ăn ngon lành củ khoai ông vừa nói: "Chú xem: Họ bày ra patê, xúc xích, bia lon cả đống. Toàn đôla cả đấy. Nuốt vào họng thế nào được!". Cứ chén củ khoai lang như anh em mình, vừa bổ, vừa nhuận tràng, vừa thanh thản trong lòng! Cho tôi gửi lời cảm ơn cô Tân nhé!".
Trong công việc, ông rất tỉ mỉ, cụ thể. Cái gì không biết thì hỏi, hỏi đi hỏi lại cho tới khi nắm được, hiểu được mới thôi. Một lần, vào đầu những năm 1980, ông đi kiểm tra việc thăm dò tìm kiếm quặng pirít sắt ở Nam Đông thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế. Cuộc họp có nhiều đồng chí lãnh đạo và chuyên gia của Liên đoàn Địa chất tham gia. Bỗng nhiên ông rời chỗ ngồi trang trọng dành cho vị lãnh đạo cao nhất, xuống ngồi cạnh chúng tôi, ghé vào tai tôi hỏi nhỏ: "Các cậu ấy đang nói về nguyên tố ácxêních. Tôi không hiểu gì về nguyên tố này cả, chú giải thích tôi nghe". Sau đó ông hỏi thêm một số vấn đề khác nữa. Đức tính khiêm tốn đó đã để lại trong tôi một ấn tượng sâu sắc. Không biết thì hỏi, chẳng có gì xấu hổ, chẳng việc gì phải giấu dốt, đúng như điều Bác Hồ căn dặn.
Ông ăn mặc giản dị. Thời bao cấp thì đi đâu cũng chỉ mặc bộ đồ đại cán đã bạc màu. Ông rất ngại mặc complê, thắt cà vạt trong các buổi lễ long trọng hoặc phải tiếp khách. Áo sơ mi cũ, có khi phải lộn cổ, píchkê lại cũng mặc. Sau này khi đã nhiều tuổi, ông thích mặc những bộ lụa màu xám hoặc trắng, mỡ gà, trông vẫn lịch sự, đẹp và giản dị. Bữa ăn hằng ngày rất đạm bạc, như cuộc sống của một cán bộ bình thường. Thời bao cấp thì còn thiếu thốn là đằng khác, bởi vì gia đình ông chia đôi, nửa ở miền Nam, nửa ở miền Bắc: bà Thanh - vợ ông bị hen suyễn nặng phải vào sống ở Thành phố Hồ Chí Minh cùng người con trai. Ông phải đảm nhiệm công việc của Nhà nước, nên sống ở Hà Nội với người con gái. Do đó, tiêu chuẩn thịt hằng tháng của ông phải dành làm ruốc gửi vào Nam tiếp tế cho bà Thanh và con trai. Nhiều lần, khi vào Nam công tác, tôi đã chuyển những đồ tiếp tế đó của ông cho bà. Nói một cách vắn tắt là ông không để ý tới chuyện ăn mặc, đời sống sinh hoạt hằng ngày.
Có một số chuyện ông Đỗ Mười lại rất chú ý. Đó là những chuyện liên quan tới việc hiếu hỉ. Tới các địa phương ông dành nhiều thời gian thăm các vị cách mạng lão thành, gia đình có nhiều người hy sinh cho cách mạng, các bạn bè cùng hoạt động thời cách mạng và trong hai cuộc kháng chiến. Các đám cưới của những người thân, họ hàng, con cháu của bạn bè, dù bận ông cũng cố gắng sắp xếp thời giờ tới dự, tặng một món quà nhỏ hoặc chụp với cô dâu chú rể một tấm ảnh kỷ niệm. Một lần, trước khi bay ra giàn khoan dầu ở ngoài thềm lục địa, tôi bị chảy máu dạ dày, phải quay trở lại Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Khi làm xong việc ở Vũng Tàu, ông tới thăm tôi tại bệnh viện. Hôm đó bệnh viện bị cắt điện, thang máy ngừng hoạt động. Ông đã leo bộ 9 tầng nhà để lên thăm khiến tôi rất xúc động.
Cho tới nay, đã bước vào tuổi 94, ông vẫn thiết tha, quan tâm tới những vấn đề của đất nước, của Đảng, vẫn đóng góp ý kiến của mình với Bộ Chính trị, với các vị lãnh đạo chủ chốt của Nhà nước: từ vấn đề quy chế dân chủ ở cơ sở đến vấn đề chiến lược xây dựng ngành công nghiệp nặng, từ vấn đề nâng cao chất lượng giáo dục, dân trí tới vấn đề an sinh xã hội.
Ông Đỗ Mười có một gia đình riêng rất tốt. Bà Thanh, vợ ông là một bác sĩ sản khoa. Bà là một người cực kỳ hiền hậu, khiêm tốn, giản dị và liêm khiết. Ông có hai người con, một trai, một gái. Chúng tôi quen biết gia đình đã nhiều năm, thấy các cháu bao giờ cũng lễ độ, hồ hởi, thân mật. Cả hai đều là cán bộ của Nhà nước. Cũng như cha mẹ mình, các cháu sống rất giản dị và khiêm tốn. Mấy chục năm qua, chúng tôi thấy gia đình vẫn dùng những đồ dùng cũ kỹ, không có cái gì tỏ ra xa hoa. Khi ông làm Thủ tướng và Tổng Bí thư, khi đi nước ngoài công tác hoặc tiếp khách trong nước, ông được tặng một số quà nghệ thuật như tranh, tượng bằng gốm số thủy tinh... Trước đây được trang trí trong phòng. Sau này ông cũng đem tặng lại Nhà nước, tặng các viện bảo tàng, chỉ còn giữ lại vài thứ nhỏ. Ông để vào vị trí trang trọng nhất tấm chân dung Bác Hồ với bút tích của Bác Hồ: "Tặng chú Mười". Ông bảo đó là món quà quý nhất của đời ông. Chính Bác Hồ là người đích thân chọn ông làm Phó Thủ tướng. Suốt đời ông đã không ngừng phấn đấu để xứng đáng với sự tin yêu của Bác!
––––––––––––––––––––
* Nguyên Vụ trưởng, thư ký chuyên trách về dầu khí và công nghiệp của nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười.
NHỮNG KỶ NIỆM KHÓ QUÊN DƯƠNG VĂN PHÚC *
Tôi công tác ở Văn phòng Chính phủ nhiều năm, có nhiều kỷ niệm sâu sắc đối với ông Đỗ Mười.
Điều trước tiên cần nói là ông Đỗ Mười rất quan tâm đến tình cảm, tâm tư của dân, chú ý những người dân đi khiếu nại.
Khoảng tháng 8-1988, lúc đó ông Đỗ Mười làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, thấy dân đi khiếu nại, ông gọi tôi vào dặn:
- Chú Phúc và chú Cẩm lưu ý, dân có oan mới khiếu nại lên Chính phủ, nếu Chính phủ không giải quyết thì ai giải quyết. Sáu giờ sáng hằng ngày tôi đến, các chú nhớ chuyển đơn khiếu nại cho tôi xem, để tôi giải quyết.
Mặc dù công việc rất bận nhưng ông luôn sẵn sàng tiếp dân.
Có lần, một anh nông dân đi chiếc xe đạp thồ đến Phủ Thủ tướng kêu la ầm ĩ vì bị chính quyền địa phương lấy đất...
Ông nói: "Thôi được, để tớ tiếp, chú mời đồng chí Bí thư Thành ủy Hà Nội lên cùng nghe xem oan sai thế nào để còn giải quyết ngay cho dân”.
Khi ngồi vào bàn tiếp dân, ông chú ý lắng nghe sự bức xúc của anh nông dân rồi ông trả lời rõ ràng từng câu một. Nhưng anh nông dân vì quá nóng nảy nên ông Đỗ Mười nói đến đâu anh ta cũng nói đến đấy.
Tôi nhắc nhở anh nông dân:
- Bác Mười là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng còn ngồi nghe anh trình bày từ đầu đến cuối, bây giờ bác nói cho anh hiểu, bác nói câu nào anh cãi lại câu ấy là thất lễ.
Anh ta đỏ mặt nói:
- Thôi chết, cháu quên! Cháu xin lỗi!
Sau đó, ông Đỗ Mười trao đổi với đồng chí Phó Bí thư Thường trực Hà Nội giải quyết việc oan ức về đất đai cho người dân ở huyện Hoài Đức.
Một lần khác, ông Đỗ Mười thấy một đoàn khoảng hơn 60 người đứng ngoài cổng cơ quan, thái độ căng thẳng, buổi tối họ ngủ ngay trước cửa Phủ Thủ tưởng. Ông hỏi tôi:
- Có việc gì đấy?
- Báo cáo anh, đây là đồng bào ở huyện An Lão, Hải Phòng lên thắc mắc về việc dời mồ mả của họ ở đường 5.
Ông suy nghĩ một lát rồi nói:
- Tôi đồng ý tiếp dân, chiều nay chú Phúc gọi điện mời Chủ tịch thành phố Hải Phòng lên cùng nghe.
Tôi trực tiếp điện cho Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng. Sau đó đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố đã lên gặp ông Đỗ Mười.
Trong buổi tiếp, dân phản ánh là khi giải tỏa nghĩa trang, xã đã đưa cho mỗi gia đình một cái nồi đất để đựng hài cốt, nhân dân rất phẫn nộ về cách ứng xử thiếu đạo lý này nên kéo nhau đi kiện.
Sau khi gặp ông Đỗ Mười, đồng chí Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng trao đổi với tôi. Tôi đề nghị đồng chí Phó Chủ tịch nhắc huyện An Lão cử người xuống xã gặp dân, ngày mai Thủ tướng cũng sẽ cử người xuống. Sau đó, tôi ra gặp và giải thích cho dân là Thủ tướng sẽ cử người xuống xã cùng với cán bộ của thành phố và huyện giải quyết yêu cầu chính đáng của bà con. Rồi Thủ tướng cho xe của Văn phòng đưa bà con về xã.
Qua một số lần dân đến Phủ Thủ tướng khiếu nại, ăn nằm tại hiên nhà và sân của Văn phòng, ông Đỗ Mười định cho xây một số nhà ngoài khuôn viên cơ quan Phủ Thủ tướng để dân đi khiếu nại có chỗ ăn ở, không phải nằm vạ vật. Sau khi nghe tôi đã báo cáo lại cặn kẽ, ông Mười mới thôi không giao Văn phòng xây nhà kế tiếp nữa. Thấy ông Đỗ Mười rất nhiệt tình tiếp dân, mất khá nhiều thời gian, tôi đã đề nghị là ông chỉ gặp một số đối tượng nào đó do Văn phòng sắp xếp, số đông còn lại Văn phòng sẽ tiếp, nếu gặp vướng mắc sẽ báo cáo với ông. Một người lãnh đạo Chính phủ săn sóc tiếp dân như ông Đỗ Mười thật hiếm có, phải có lòng thương dân như thế nào mới làm được như vậy.
Về cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, ông Đỗ Mười là tấm gương sáng thực hiện lời dạy của Bác Hồ. Ông làm việc với cường độ rất cao, ít ai bì kịp.
Ông Đỗ Mười không nề hà việc lớn, việc nhỏ, có việc không phải trách nhiệm của ông nhưng vì lợi ích chung cũng được ông quan tâm. Chuẩn bị Đại hội Đảng lần thứ VI, việc trang trí hội trường và chuẩn bị chỗ ngồi cho hơn một nghìn đại biểu do Văn phòng phụ trách, buổi chiều sau giờ làm việc, ông Đỗ Mười ra Hội trường Ba Đình xem anh em chuẩn bị đến đâu. Có lần ông Đỗ Mười nói với tôi: "Này Phúc ơi! Lần nào tớ ra đây cũng thấy cậu thợ lắp đặt ống nghe cho từng đại biểu làm việc chuyên cần mê mải, cậu này ở cơ quan nào? Tớ rất thích những người như vậy".
Ông Đỗ Mười rất quan tâm giáo dục cán bộ ý thức giữ gìn tiết kiệm. Tôi và một số anh em còn nhớ, vào khoảng năm 1989, tại một cuộc họp Hội đồng Chính phủ đến giờ giải lao, đại biểu ra ăn bánh ngọt và uống sữa. Ông Đỗ Mười gọi tôi ra nói: "Lần sau không được cho uống sữa, sữa còn hiếm phải để dành cho người già, người bệnh và trẻ em".
Ông Đỗ Mười đặc biệt ghét bày đặt ra để chè chén. Một lần ông về tỉnh X làm việc, xong việc có lẽ để tỏ lòng quý trọng lãnh đạo cấp trên, tỉnh bố trí bữa ăn rất thịnh soạn, thết đãi ông và các cán bộ cùng đi. Khi về, ông nói với tôi: "Tớ ngán quá, đành phải nói là đau bụng không ăn được để từ chối, rồi ăn qua loa mấy thức ăn nhẹ".
Về cuộc sống riêng, ông rất liêm khiết, khi vợ ông là bà Tạ Thị Thanh vào Thành phố Hồ Chí Minh ở dài ngày, theo chị phục vụ nói lại, hằng tuần tiêu chuẩn thịt của ông, ông không ăn, ông nhờ chế biến gửi vào cho bà Thanh vì bà thường đau yếu, ông không bao giờ yêu cầu cơ quan Văn phòng cung cấp thêm thực phẩm.
Nhà ở của ông không rộng và không thuận tiện khi phải xuống xe ra vào. Khi tôi đưa ông đi xem một nhà thuận tiện hơn, xem xong ông từ chối vì cho là nhà rộng quá.
Khi làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông thường quan tâm đến sinh hoạt của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng với tấm lòng trong sáng và tình cảm cách mạng. Hằng năm vào mùa hè, đồng chí Phạm Văn Đồng thường lên Tam Đảo vừa làm việc vừa nghỉ ngơi. Từ Hà Nội lên Tam Đảo đường xa và phải qua sông Hồng (lúc bấy giờ mới chỉ có cầu Long Biên), ông Đỗ Mười bảo tôi đi xem khu nghỉ mát Ba Vì cũ. Sau khi xem xét tôi về báo cáo, ông Đỗ Mười giao Bộ Xây dựng khảo sát rồi khôi phục lại đường sá, nhà cửa để sử dụng lâu dài, trước mắt có thể để đồng chí Phạm Văn Đồng lên đó vừa làm việc vừa nghỉ khi cần. Ông Đỗ Mười quan tâm cả những việc rất chi tiết, như khi thiết kế nhà họp và làm việc của Chính phủ, ông dặn là không mở của sổ nhìn sang nhà ông Phạm Văn Đồng (vì nhà ông Phạm Văn Đồng ở rất gần khu nhà họp của Chính phủ).
Khi ông Phạm Văn Đồng thôi giữ chức Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông Phạm Hùng được bầu lên thay, ông Đỗ Mười vẫn thường đến thăm và trò chuyện với ông Phạm Văn Đồng.
Cuối cùng, tôi cần nói thêm một điểm là do công tác ở nhiều tỉnh, nhiều bộ, ngành khác nhau và là người rất ham học nên ông Đỗ Mười có kiến thức rộng và sâu. Ông có thể phát biểu ý kiến về nhiều vấn đề và nêu ra những quyết định xác đáng.
Ngày 12-4-2010
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––
*Nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ.
MỘT TẤM GƯƠNG SÁNG VỀ CẦN, KIỆM, LIÊM, CHÍNH, CHÍ CÔNG VÔ TƯ PHAN TRỌNG KÍNH*
Năm 1972, sau khi tốt nghiệp Trường Đại học Xây dựng Mátxcơva về nước, tôi được phân công về Bộ Xây dựng - nơi mà trước đây tôi đã từng công tác. Hồi ấy, tôi là một cán bộ kỹ thuật phụ trách thi công một số công trình tại Hà Nội.
Trở về Bộ Xây dựng (trước đây gọi là Bộ Kiến trúc), tôi được bộ phân công về Cục Quản lý thi công chuyên theo dõi và kiểm tra thi công các công trình đang xây dựng. Ít tháng sau, tôi lại được bộ điều động lên giúp việc cho đồng chí Đỗ Mười - Phó Thủ tướng Chính phủ kiêm Bộ trưởng, với danh nghĩa là thư ký riêng. Thư ký riêng mà bộ giao trách nhiệm là không những quán xuyến công việc chung ở Bộ mà còn quản lý các tài liệu mật của Đảng, Chính phủ thuộc chức trách của đồng chí Đỗ Mười đảm nhiệm lúc bấy giờ.
Có thể nói, từ ngày được phục vụ đồng chí Bộ trưởng, tôi thấy đồng chí có cường độ làm việc rất phi thường: một ngày làm việc của đồng chí không phải là 10 tiếng mà thường xuyên là 16 - 17 tiếng. Bốn giờ sáng đồng chí đã dậy ngồi vào bàn đọc sách; đến 6 giờ nghe tin tức các đài trong và ngoài nước; 7 giờ sáng tập thể dục; ăn sáng xong là lên xe đến công sở làm việc. Nhiều hôm, đồng chí làm việc đến quá 12 giờ trưa mới nghỉ. Trưa về, ăn cơm xong là đồng chí ngồi vào ghế tựa nghe tin tức trong nước và thế giới qua băng cát xét mà Thông tấn xã Việt Nam thu để phục vụ các đồng chí lãnh đạo. Buổi chiều không những về muộn mà nhiều hôm đồng chí còn nói với Văn phòng triệu tập các cuộc họp tối, có khi mãi đến quá 11 giờ mới nghỉ. Hầu như tuần nào cũng có hai, ba cuộc họp như vậy.
Trải qua năm tháng, kể từ ngày được bộ điều động lên giúp việc cho đồng chí Đỗ Mười đến nay đã gần 40 năm, tôi đã đi theo đồng chí không biết bao nhiêu là cơ quan, công trường, nhà máy, các địa phương trong và ngoài nước, dự không biết bao nhiêu cuộc họp từ cơ sở cho đến các bộ, các ngành và Trung ương; thấu hiểu hoàn cảnh và sinh hoạt gia đình cũng như cuộc đời hoạt động cách mạng đầy sóng gió của đồng chí. Tôi nhận thấy một điều là đồng chí làm vì hết sức mình vì Đảng, vì dân, không quản ngày đêm, giờ giấc, không bao giờ mảy may nghĩ đến cá nhân mình, dù là một việc nhỏ. Những nơi nào nóng bỏng nhất, những công việc nào khó khăn nhất là đồng chí đều có mặt.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đồng chí đã được Đảng giao nhiệm vụ Bí thư Tỉnh ủy các tỉnh Hà Đông, Hà Nam, Ninh Bình, phụ trách Hòa Bình, Bí thư kèm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Nam Định, Phó Bí thư Liên khu ủy III, Phó Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu III, Tư lệnh Liên khu III, Bí thư kiêm Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chính và Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu Tả Ngạn sông Hồng, Bí thư Thành ủy kiêm Chủ tịch ủy ban quân quản thành phố Hải Phòng.
Sau hòa bình lập lại, năm 1955, đồng chí được Đảng phân công phụ trách Bộ Nội thương, Ủy ban Vật giá Nhà nước, Trưởng phái đoàn Thanh tra Chính phủ, Ủy ban Kiến thiết cơ bản Nhà nước, Phó Chủ tịch Hội đồng Chi viện tiền tuyến Trung ương, Trưởng Ban chống phong tỏa cảng Hải Phòng, Phó Thủ tướng phụ trách các bộ: Xây dựng, Công nghiệp, Vật tư... Công việc nào được Đảng phân công, đồng chí đều ngày đêm đem hết sức mình để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
Là một vị Tư lệnh và Chính ủy các quân khu vùng đồng bằng Bắc Bộ, đồng chí đã chỉ huy đập tan các cuộc càn quét lớn của thực dân Pháp hồi năm 1949-1950 tại các tỉnh Thái Bình, Hưng Yên, Hải Dương,...; chỉ huy trận tập kích vào sân bay Cát Bi, đốt cháy hàng chục máy bay địch.
Là Phó Thủ tướng suốt 20 năm, đồng chí được giao giải quyết nhiều công việc quan trọng: chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, giải toả cảng Hải Phòng, chi viện cho miền Nam... rồi chỉ huy chống bão lụt và thường xuyên lăn lộn trên các công trường trọng điểm của Nhà nước.
Là Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí đã giải quyết nhanh chóng nạn lạm phát phi mã hồi năm 1988-1989; xóa bỏ bao cấp, xóa bỏ nạn ngăn sông cấm chợ, đưa hai giá về một giá; góp phần quan trọng xây dựng Cương lĩnh năm 1991 và Chiến lược kinh tế - xã hội 10 năm (1991-2000). Đồng chí đã đề xuất với Bộ Chính trị và Quốc hội nhiều ý kiến quan trọng trong việc xây dựng các chính sách lớn của đất nước.
Là Thường trực Ban Bí thư, đồng chí đã nhanh chóng chỉ đạo kịp thời việc quản lý khu vực biển đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Tổ quốc sau ngày giải phóng đất nước năm 1975.
Khi đồng chí được bầu làm Tổng Bí thư cũng là lúc Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu sụp đổ, tình hình kinh tế - xã hội của đất nước lúc này đầy rẫy những khó khăn. Điều đầu tiên là đồng chí đã cùng Bộ Chính trị lãnh đạo ổn định tình hình chính trị và tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân, kiên quyết giữ vững con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ đã lựa chọn, tiếp tục công cuộc đổi mới, mở rộng quan hệ với các nước, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, với Hoa Kỳ, chủ động gia nhập ASEAN và thu được nhiều thắng lợi trong xây dựng và phát triển kinh tế, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh và trật tự xã hội cũng như trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nước nhà.
Những đề xuất như xây dựng Quy chế dân chủ ở cơ sở, phong tặng danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng...; những câu nói nổi tiếng như: "Đổi mới không đổi màu", "Hội nhập không hòa tan" hoặc "xoá bỏ mặc cảm, xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ, nhìn về tương lai", hoặc "Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trên thế giới", v.v... đều xuất phát từ thực tế khi đồng chí tiếp xúc với đồng bào, đồng chí hoặc các nhà lãnh đạo, chính khách nước ngoài.
Ví dụ: Năm 1991, khi đồng chí về thăm một số tỉnh ở miền Trung và miền Nam, đến đâu đồng chí cũng hỏi thăm các gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với nước, thăm hỏi các bà mẹ có con hy sinh ở Tây Ninh, Bến Tre, Thừa Thiên - Huế. Cảm động nhất là có một bà mẹ ở Thừa Thiên - Huế có 5 con hy sinh. Khi đồng chí đến thăm hỏi, cụ vừa lau nước mắt vừa nói với Tổng Bí thư: "Gia đình tôi đã mất hết, các con tôi đã mất hết, nhưng mà đất nước được độc lập và có được hòa bình như hôm nay, thế là tôi cũng toại nguyện rồi...".
Trước lời nói đầy khí phách anh hùng đó, đồng chí về trao đổi với đồng chí Lê Đức Anh là Chủ tịch nước và báo cáo Bộ Chính trị nên có hình thức tôn vinh một cách xứng đáng các bà mẹ Việt Nam anh hùng. Một thời gian sau, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua và Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã ký lệnh ban hành Pháp lệnh quy định danh hiệu vinh dự Nhà nước Bà mẹ Việt Nam anh hùng.
Cũng thời gian đó, có việc nhân dân một số xã ở tỉnh Thái Bình đã nổi lên chống lại một số cán bộ, đảng viên tham ô, ức hiếp quần chúng nhiều năm liền. Trước tình hình đó, đồng chí đã về thăm Thái Bình và gặp gỡ các bí thư xã và các cụ lão thành trong tỉnh để nắm tình hình thì thấy rằng sự việc xảy ra rất nghiêm trọng, ở đây đã có tình trạng cán bộ xã rất tham nhũng, lộng quyền, quan liêu, xa rời quần chúng, vi phạm quyền làm chủ của nhân dân; chính quyền làm việc gì, dân hầu như không được biết, được bàn, nếu dân có ý kiến thì bị chính quyền ngăn chặn ngay tức khắc.
Đồng chí hỏi: "Để xảy ra tình trạng này, trách nhiệm của đảng bộ xã, đảng bộ huyện thế nào? Tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách đến đâu? Những cá nhân sai phạm, tại sao đảng bộ không đưa ra để kiểm thảo, có hình thức kỷ luật nghiêm và thay thế".
Thấu hiểu tình hình đó, đồng chí nghĩ rằng không những ở Thái Bình mà chắc các địa phương khác ít nhiều cũng có tình trạng như vậy. Khi trở về, đồng chí họp với các ngành có liên quan, cho đi kiểm tra các địa phương các cơ quan, trường học, bệnh viện, các đơn vị sản xuất và sau đó ban hành Chỉ thị số 30-CT/TW về Quy chủ dân chủ ở cơ sở. Quy chế đó sau khi ban hành đã phát huy được hiệu quả tích cực về quyền làm chủ của nhân dân.
Về công tác đối ngoại cũng vậy, tiếp xúc với các nhà ngoại giao, các nguyên thủ, các chính khách nước ngoài… đồng chí luôn giữ một thái độ thẳng thắn, cởi mở, chân tình, tự tôn dân tộc, một tư thế đĩnh đạc, đàng hoàng, chủ động, có sức thuyết phục, gây được cảm tình đối với bạn bè quốc tế.
Thời kỳ chưa bình thường hóa quan hệ với Mỹ, đã có nhiều đoàn thượng nghị sĩ, hạ nghị sĩ Mỹ sang Việt Nam xin gặp Tổng Bí thư để đề nghị giúp đỡ tìm kiếm người Mỹ mất tích (MIA). Sang nhiều nhất là Thượng nghị sĩ Giôn Kery. Khi tiếp đoàn hạ nghị sĩ và thượng nghị sĩ do Giôn Kery dẫn đầu để bàn vấn đề MIA, đồng chí Đỗ Mười nói: Vấn đề MIA, như đã nói với ngài nhiều lần, là vấn đề nhân đạo. Chúng tôi không gắn vấn đề này với vấn đề chính trị. Nhưng thực ra nó là vấn đề chính trị của nước Mỹ. Chúng tôi sẽ hợp tác tốt với các ngài để giải quyết vấn đề MIA. Vừa qua, lời nói và việc làm của chúng tôi đều nhất quán. Tôi nói lại một lần nữa với các ngài là không thể có người Mỹ nào mà chúng tôi đang giam giữ. Chúng tôi giam giữ để làm gì? Tôi nghĩ rằng, chúng ta không nên khơi lại những mất mát, khổ đau mà hai đất nước của chúng ta đã chịu đựng. Nhân dân Việt Nam chúng tôi càng đau đớn gấp nhiều lần! Hàng triệu người chết và mất tích, hàng chục vạn người bị tàn tật; chất độc da cam mà các ngài gây ra đang để lại những hậu quả nặng nề. Các ngài gây lại những xót xa như thế này thì hàng triệu gia đình Việt Nam càng suy nghĩ và tác động đến tâm lý rất nhiều. Chúng tôi nói với nhân dân chúng tôi là hãy cố gắng bỏ qua, nhưng nhân dân Việt Nam cứ hỏi chúng tôi: Đây là nhân đạo cho người Mỹ, còn nhân đạo đối với nhân dân Việt Nam thì thế nào? Quả là một vấn đề hết sức nặng nề! Như các ngài đã rõ, đất nước chúng tôi đã chịu nhiều đau khổ từ hàng nghìn năm nước đây cho đến sau này lại bị Nhật, Pháp, Mỹ sang xâm chiếm, gây bao tai họa, mất mát, đến hôm nay vẫn chưa hàn gắn được vết thương do chiến tranh gây nên. Vì vậy, chúng tôi muốn đất nước được hòa bình, ổn định để tập trung xây dựng lại. Chúng tôi tuyên bố: Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, tích cực góp phần cùng các nước Đông Nam Á và trên thế giới vào sự nghiệp chung vì hòa bình, ổn định, độc lập hợp tác và phát triển. Đối với Mỹ cũng vậy, Việt Nam với Mỹ từ lâu đã có quan hệ tốt, nhất là trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Việt Nam mãi mãi biết ơn nhân dân Mỹ. Nhưng không hiểu vì sao Mỹ lại có ác cảm với Việt Nam như vậy? Nhưng thôi. Bây giờ đó là chuyện quá khứ, chúng ta coi như gác lại và hãy nhìn về tương lai để cùng nhau hợp tác và phát triển. Nhân dịp này, tôi gửi lời hỏi thăm sức khoe Tổng thống Bill Clinton. Những năm vừa qua, Tổng thống đã làm được nhiều việc và đã đạt được nhiều thành tựu".
Thượng nghị sĩ Giôn Kery nói: "Cảm ơn ngài rất nhiều. Qua phát biểu của ngài, chúng tôi hiểu thế nào là Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam. Lời phát biểu của ngài rất quan trọng. Chúng tôi về sẽ báo cáo ngay với ngài Tổng thống Bill Clinton".
Phải nói rằng, kể từ Đại hội VII, Đại hội VIII cho đến nay, hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta ngày càng chủ động và tích cực mở rộng, ngoài một số nước xã hội chủ nghĩa và láng giềng anh em, chúng ta đã giữ quan hệ hữu nghị với Ấn Độ, mở rộng quan hệ với các nước Đông Nam Á, bình thường hóa quan hệ với Mỹ, phát triển quan hệ với các nước Tây Âu, Bắc Âu, Ôxtrâylia... cải thiện quan hệ với Nhật, Hàn Quốc, duy trì và mở rộng quan hệ với các Đảng Cộng sản và công nhân các phong trào cách mạng và phong trào độc lập dân tộc; tiếp tục quan hệ với một số đảng xã hội, xã hội - dân chủ,…
Đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười đã góp phần không nhỏ vào những thành tựu về công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.
Lại một việc nữa, hằng năm bà con Việt kiều từ các nước về thăm Tổ quốc. Trong số đó cũng có nhiều người trước đây theo chính quyền Sài Gòn. Thái độ của bà con khi về nước có phần mặc cảm, rụt rè. Trong một buổi nói chuyện thân mật với bà con về thăm quê hương đón xuân Ất Hợi năm 1995, trước tiên đồng chí thân ái chúc bà con đoàn kết, xây dựng cuộc sống ổn định nơi định cư, cùng nhau lo cho nước nhà, cho con cháu, lo cho đời nay, lo cho đời sau, chúc bà con làm ăn tấn tới. Sau nữa, đồng chí nói: "Tất cả chúng ta chỉ có một Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Chúng ta tự hào được là người Việt Nam, là con em của một dân tộc anh hùng, từ thời dựng nước tới nay đã đánh thắng nhiều kẻ thù xâm lược hung bạo và hùng mạnh. Chúng ta có quyền tự hào về truyền thống bất khuất, quật cường của dân tộc, nhưng chưa thể tự hào về sự giàu đẹp của đất nước. Phải cùng nhau suy nghĩ và hành động sao cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh...".
Đồng chí nói tiếp: "Trong một kỳ họp Quốc hội, tôi có nói: "xóa bỏ mặc cảm, xóa bỏ hận thù, đoàn kết nhau lại nhìn về tương lai,...". Vì sao tôi nói thế? Vì nếu không có thực dân, đế quốc sẽ không có "vết thương lòng" giữa những người Việt Nam với nhau. Nói cách khác, có "vết thương lòng" giữa những người Việt Nam với nhau là do thực dân, đế quốc gây nên. Ta đánh đuổi được đế quốc thực dân thì cũng phải xóa "vết thương lòng" đó. Đừng mắc lừa ngoại bang một lần nữa. Hãy đoàn kết nhau lại, không mặc cảm, không hận thù, hãy cùng nhau phấn đấu vì tương lai tươi sáng của dân tộc. Tôi nói vậy bà con có thấy đúng không?".
Hôm ấy, trước thái độ cởi mở, thân tình và những lời nói chân thành của Tổng Bí thư, bà con rất cảm động.
Đồng chí Đỗ Mười rất thông cảm với những hoàn cảnh éo le và những khúc mắc của đồng bào, đồng chí. Cũng chính vì thế mà những năm đồng chí còn đương chức và kể cả bây giờ, hằng ngày không biết bao nhiêu thư từ kêu oan hoặc khiếu nại, tố cáo từ các nơi gửi đến cho đồng chí. Đồng chí đều thu xếp thời gian để nghe hoặc tiếp xúc với bà con, việc nào giải quyết ngay được thì giải quyết, việc nào chưa giải quyết được thì gọi lãnh đạo địa phương lên trực tiếp gặp gỡ bà con để giải quyết và sau đó phải báo cáo lại cho đồng chí được biết.
Trong đời sống và sinh hoạt hằng ngày, đồng chí luôn thực hiện tấm gương đạo đức của Bác Hồ: Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Khi đến dự các cuộc họp, thấy bày biện nước suối hoặc ăn uống giữa giờ là đồng chí góp ý phải hết sức tiết kiệm. Đồng chí nói: "Một chai nước khoáng giá thành ở thị trường bằng nửa lít xăng, ta có thể thay dùng nước khoáng bằng nước chè xanh có được không? Nước chè xanh vừa ngon, vừa rẻ, giải khát tốt mà lại bổ nữa. Còn ăn uống cũng nên hạn chế, đánh lãng phí".
Có một lần, đồng chí Đỗ Mười dự cuộc họp bàn về thương mại tại tỉnh Nam Định, hôm ấy có đại biểu các tỉnh ở phía Bắc về dự. Đến trưa, tỉnh tổ chức bữa cơm gọi là thân mật nhưng rất thịnh soạn, bày biện nhiều món, thừa mứa nhiều. Đồng chí chỉ ăn qua loa và trước khi ra về đồng chí nhắc nhở các tỉnh phải hết sức tiết kiệm, không nên lãng phí như bữa ăn trưa nay. Đồng chí nói rất day dứt về việc đó. Đại biểu các tỉnh ngồi nghe bấm nhau, nếu có mời Tổng Bí thư về tỉnh thì cẩn thận đấy nhé.
Quả đúng như vậy, hôm đó, theo kế hoạch thì đến chiều Tổng Bí thư sẽ về làm việc với tình Thái Bình. Cũng may trong cuộc họp buổi sáng ở tỉnh Nam Định có đại biểu của tỉnh Thái Bình tham dự. Đồng chí này liền cấp tốc điện về Thái Bình báo là nếu có mời cơm đồng chí Tổng Bí thư chiều nay thì phải hết sức đạm bạc, nếu bày biện như ở Nam Định trưa nay thì liệu đấy. Đúng như vậy, bữa cơm chiều hôm ăn chỉ có rau muống luộc, bát canh cua, mấy quả cà và đĩa cá. Anh em bảo vệ, lái xe, thư ký, bác sĩ đi theo Tổng Bí thư còn xin thêm nước mắm và cơm để ăn cho đủ.
Trong sinh hoạt gia đình hằng ngày của đồng chí cũng rất giản dị. Bữa sáng có khi ăn bát cháo hoặc nắm xôi, cốc sữa. Bữa trưa, bữa tối cùng ăn cơm với gia đình. Trên mâm thường là bát canh, đĩa cá, mấy bìa đậu, một ít thịt cho các cháu, còn chủ yếu là rau luộc, muối vừng, đậu phụ. Đồ đạc trong nhà không có gì là sang trọng, ngoài những thứ cơ quan cấp như chiếc tủ, cái bàn, giường nằm và những đồ lặt vặt khác.
Có cô phóng viên Hãng Reuters xin được vào thăm nhà đồng chí Đỗ Mười. Ý định của nhà báo này là nhân dịp vào thăm để tìm hiểu xem đời sống của các vị nguyên thủ Việt Nam như thế nào, có khác gì so với đời sống của các vị tổng thống, thủ tướng ở các nước không?
Hôm ấy là ngày chủ nhật, đồng chí Đỗ Mười ở nhà. Cô phóng viên này xin được vào "yết kiến" Tổng Bí thư. Anh em bảo vệ mở cổng, thấy người nước ngoài liền gọi điện thoại cho tôi để xin ý kiến xử lý. Theo nguyên tắc thì việc tiếp khách nước ngoài đều được bố trí tiếp tại trụ sở Ban Đối ngoại Trung ương Đảng, nhưng cô phóng viên đó cứ muốn được đến thăm tại nhà. Tôi liền tức tốc phóng xe về để xin ý kiến Thủ trưởng. Đồng chí Đỗ Mười nói: "Cứ cho cô ấy vào".
Vào đến nhà, thấy Tổng Bí thư Đỗ Mười đang đọc sách. Cô kính cẩn chào và có lời cảm ơn bác đã cho đến thăm. Cô là người Anh, chắc sang Việt Nam đã lâu nên nói tiếng Việt rất sõi. Có lẽ vì vậy mà cô xưng hô với Tổng Bí thư là bác với cháu. Đầu tiên cô tự giới thiệu: "Cháu là phóng viên của Hãng Reuters. Từ lâu cháu đã được nghe nhiều người ca ngợi bác, hôm nay cháu đến trước tiên là thăm bác, sau nữa là cháu muốn tìm hiểu thêm về cuộc đời hoạt động của bác cũng như cuộc sống đời thường của bác".
Đồng chí Đỗ Mười mời cô ngồi và chủ động hỏi thăm về tình hình gia đình và hoạt động báo chí của cô ở Việt Nam. Đồng chí cũng kể cho cô nghe là sáng nào đồng chí cũng nghe tin đài BBC. Khen đài BBC đưa tin nhanh và cũng chê một số đài phương Tây thường đưa tin sai lệch, thiếu thiện chí.
Hôm ấy, cô phóng viên hỏi Tổng Bí thư đủ thứ chuyện: nào là về gia đình, vợ con và cuộc đời hoạt động cách mạng bị tù đày như thế nào; nào là bác đã bị Pháp cầm tù nhiều năm, bác có thấy cay đắng không? Tại sao người Pháp bỏ tù bác như vậy mà nay bác lại nói xóa bỏ hận thù? Và cả người Mỹ cũng vậy? v.v… Bác Đỗ Mười chăm chú nghe và trả lời cho cô từng câu hỏi bằng lời lẽ ân cần, tình cảm và đầy sức thuyết phục. Cô rất cảm động trước thái độ cởi mở, thân tình của Tổng Bí thư. Sau cùng, cô xin phép được thăm nơi ăn, ở và làm việc của Tổng Bí thư. Khi thăm thư viện của bác, cô phát hiện có quyển sách của Tổng thống Bill Clinton. Cô lấy xem, thấy bên trong quyển sách có nhiều trang đã gạch chân nhiều dòng bằng bút chì. Cô lấy thêm mấy quyển sách khác trong các giá sách gần đó cũng thấy có nhiều trang như vậy. Điều đó chứng tỏ bác đã đọc kỹ rất nhiều sách.
Sau khi được đồng chí bảo vệ dẫn cho xem các phòng, cô đến cạnh Tổng Bí thư cảm động nói "Thưa bác, cháu thấy thế hệ các bác đã chiến đấu và gian khổ nhiều, đáng lẽ ngày nay được hưởng sung sướng nhưng thực tế cuộc sống đời thường của bác cũng rất giản dị. Cháu có ý nghĩ cứ ám ảnh suốt là thế hệ của các bác là những người luôn nghĩ cho dân, cho nước, không hề nghĩ gì về mình; còn thế hệ trẻ bây giờ cháu thấy không được như các bác, họ bị ảnh hưởng nhiều lắm bác ạ!".
Đồng chí Đỗ Mười nói: "Không phải đâu chị ạ, chúng tôi đã qua nhiều thế hệ đấu tranh, mỗi thế hệ mỗi khác. Các thế hệ cứ lần lượt tiến lên và trưởng thành nhanh chóng. Các thế hệ sau tiến bộ hơn nhiều so với thế hệ trước. Chị nói thanh niên bây giờ họ bị ảnh hưởng nhiều. Điều đó có đúng một phần. Tất nhiên, kinh tế thị trường có nhiều mặt tích cực nhưng cũng có không ít mặt tiêu cực phát sinh trong đời sống hằng ngày. Song, con người Việt Nam, như chị nói đã tìm hiểu lịch sử dân tộc Việt Nam thì thấy đấy, họ cũng bình thường như tất cả mọi người, thế nhưng cái chất anh hùng và tinh thần quật cường khi Tổ quốc có nguy biến thì trong con người Việt Nam ai cũng có. Những người lãnh đạo Việt Nam mặc dù vào sinh ra tử, có nhiều công lao đối với đất nước, nhưng trong đời tư của họ vẫn như mọi người. Chị xem, ngôi nhà đây là của Nhà nước, mọi thứ treo trên tường đều là những tặng phẩm của bạn bè, đồng bào, đồng chí. Ngoài ra chị còn thấy những gì hơn nữa không. Cái quý nhất của tôi là những giá sách mà chị vừa xem đấy".
Như nhận thấy đã chiếm mất nhiều thì giờ của Tổng Bí thư, cô phóng viên đứng dậy, đến gần lại chỗ đồng chí Đỗ Mười và nói: "Cháu xin lỗi vì đã chiếm nhiều thời gian của bác. Cháu rất cảm ơn bác đã cho cháu đến nhà và được bác đón tiếp rất thân tình".
Đồng chí Đỗ Mười nói: "Tôi cũng rất cảm ơn chị. Chị là người có cảm tình với Việt Nam. Những năm công tác ở Việt Nam chị đã có đóng góp. Chúng ta ăn ở bao giờ cũng biết điều, bao giờ cũng nghĩ đến việc thiện. Làm được những việc thiện là một điều rất đẹp đẽ và rất có hậu".
Ít lâu sau trên đài BBC, cô phóng viên này có bài Được thăm nhà ông Đỗ Mười, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam.
Lại nói về ngôi nhà mà hiện nay đồng chí Đỗ Mười cùng với gia đình đang ở tại 11 Phạm Đình Hổ, quận Hai Bà Trưng - Hà Nội. Đây là ngôi nhà hai tầng có từ thời Pháp thuộc. Sau khi hòa bình lập lại, ta về tiếp quản Thủ đô. Bộ Nội thương đã bố trí cho đồng chí Đỗ Mười, lúc đó là Bộ trưởng cùng với một số cán bộ đến ở. Nói là một biệt thự nhưng cũng rất bình thường. Tầng một có 3 phòng: phòng lớn vừa làm việc, vừa tiếp khách, cạnh đó là bàn ăn; phòng bên cạnh là thư viện gồm nhiều kệ sách với gần vạn quyển, 1 phòng nhỏ để đồ lặt vặt. Tầng hai cũng có 3 phòng: 2 phòng dành cho con cháu, 1 phòng là của đồng chí và đồng chí bảo vệ nằm cạnh. Còn đằng sau nhà là dãy nhà bếp và nhà của các đồng chí cảnh vệ.
Đã nhiều lần các đồng chí Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng khi đến thăm đồng chí Đỗ Mười đều thấy nơi ở không tiện, mỗi lần đi về hoặc khách đến đều phải xuống xe từ ngoài đường. Các đồng chí ấy đã chỉ thị cho Ban Tài chính - Quản trị Trung ương là đổi nhà để đồng chí Đỗ Mười lên đường Phan Đình Phùng ở, vừa động rãi, tiện lợi, lại gần với cơ quan Trung ương và Chính phủ. Nhưng đồng chí không đồng ý. Đồng chí nói ở như thế này là được rồi, vừa gần gũi với nhân dân, vừa ít điều tiếng.
Ở phường Phạm Đình Hổ, mọi người ai cũng biết rõ đồng chí Đỗ Mười và chị Tạ Thị Thanh - vợ của đồng chí - một người phụ nữ hiền lành, phúc hậu, sống rất giản dị, biết giữ gìn cho chồng, cho con, không làm điều gì để ảnh hưởng đến uy tín và công việc của chồng. Chị là một bác sĩ phụ sản, Phó Giám đốc bệnh viện C, Hà Nội, rất tận tụy với công việc. Các y bác sĩ và cán bộ nhân viên trong bệnh viện cũng như bệnh nhân, ai cũng đều khen ngợi chị về tinh thần làm việc và thái độ ân cần, vui vẻ đối với mọi người.
Từ ngày chị Thanh mất, đồng chí Đỗ Mười rất thương nhớ, đồng chí vẫn sống một mình với con, với cháu, với anh em cảnh vệ ở trong nhà. Hằng ngày đồng chí cặm cụi đọc sách, nghe đài, tìm hiểu những cái mới để góp ý kiến với Trung ương, Chính phủ hoặc gặp gỡ bạn bè đồng chí các nhà khoa học, các nhà kinh tế để đàm luận, bàn bạc công việc của đất nước. Đồng chí vẫn giữ giờ giấc như thuở còn đi làm. Khi đồng chí Đỗ Mười còn 90 tuổi, tôi đã tặng đồng chí mấy vần thơ:
Chín mươi năm cuộc đời anh gian khổ
Anh hết lòng vì Đảng, vì dân
Sống trong sạch, làm việc chuyên cần.
Chung thủy với vợ con, tận tình với bạn bè, đồng chí.
Đến hôm nay, anh không hề nghỉ
Vẫn ngày đêm say sưa ngẫm nghĩ
Trên từng trang sách, sử, cuộc đời
Để tìm cho đất nước ngày mai
Làm sao cho dân ấm no, tự do, hạnh phúc
Làm sao cho nước nhà vững bền độc lập
Ai cũng có cơm ăn, áo mặc, học hành
Xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Sức của ta làm ra tất cả.
Anh mong sao con đường công nghiệp hóa
Phải tiến nhanh, tiến mạnh, kịp thời
Giữa thế kỷ này, đất nước Rồng bay
Tâm huyết của anh là như thế đó...
Đúng như vậy, kể từ khi còn là Phó Thủ tướng, rồi Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Tổng Bí thư, lúc nào đồng chí cũng quan tâm đến hai vấn đề là quốc sách,là cốt lõi, đó là con đường công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước và sự nghiệp giáo dục - đào tạo.
Nói về công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì lúc nào đồng chí cũng trăn trở. Đã hơn 30 năm kể từ ngày thống nhất đất nước đến nay, chúng ta vẫn chưa có được một ngành công nghiệp nặng tầm cỡ, trong đó bao gồm cả cơ khí nặng, cơ khí chính xác, cơ khí điện tử... Đồng chí quan niệm: chính hệ thống công nghiệp nặng là nền tảng vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nó chẳng những có khả năng đưa nông nghiệp mà còn dẫn dắt cả hệ thống các ngành công nghiệp lên trình độ tiên tiến.
Khi làm việc với các đồng chí lãnh đạo có trách nhiệm, đồng chí thường trích dẫn những lời nói của Bác Hồ để các đồng chí ấy càng quan tâm hơn đến vấn đề công nghiệp. Ví dụ, Bác Hồ nói: "Một nước độc lập, ắt phải có công nghệ nặng"1, hoặc: "Nhiệm vụ của công nghiệp nặng rất nặng nề nhưng rất vẻ vang. Để nâng cao không ngừng đời sống của nhân dân, để xây dựng thắng lợi chủ nghĩa xã hội, chúng ta phải quyết tâm phát triển tốt công nghiệp nặng"2.
Đồng chí thường nói: Tình hình hiện nay, máy cho sản xuất, máy cho tiêu dùng, máy lớn, máy nhỏ đều phụ thuộc vào nước ngoài, hàng năm phải nhập hằng tỷ đôla cho máy móc, phụ tùng, thiết bị. Nếu chúng ta có được một nền công nghiệp mạnh, cơ khí mạnh thì đỡ biết bao nhiêu. Đồng chí cho rằng đây là cái yếu cơ bản của nền kinh tế. Cho nên trong thời gian tới, chúng ta phải tập trung sức khắc phục yếu kém đó và đây cũng là thực hiện tốt những tư tưởng của Bác Hồ.
Cũng như vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa, vấn đề giáo dục - đào tạo là vấn đề mà đồng chí luôn quan tâm. Đồng chí coi phát triển giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Khi còn đương chức, đồng chí thường dành thời gian về thăm các trường từ mầm non, tiểu học, trung học, cao đẳng và đại học, đặc biệt là trường sư phạm. Dạo ấy, sinh viên Trường Đại học Sư phạm thường kháo nhau: "Ăn như sư, ở như phạm", nghĩa là ăn uống thì kham khổ đạm bạc như sư, còn nơi ở thì cũ nát, chật hẹp như nhà tù. Nghe thấy vậy, đồng chí liền đến thăm Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Quả thực là sau chiến tranh, các nhà trường của chúng ta nói chung và Trường Đại học Sư phạm Hà Nội nói riêng ở trong tình trạng thiếu thốn mọi bề: trường lớp chật hẹp, cơ sở vật chất và trang bị kỹ thuật nghèo nàn. Lúc bấy giờ đang là Phó Thủ tướng, đồng chí về báo cáo với Thủ tướng Phạm Văn Đồng là nên đầu tư thích đáng cho ngành giáo dục.
Chính sự quan tâm đúng múc đó mà ít lâu sau Trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã được mở mang thêm, từ trường học cho đến ký túc xá của sinh viên đều được cải thiện đáng kể. Sau Trường Đại học Sư phạm là Trường Đại học Y khoa Hà Nội và một số trường khác cũng được đồng chí quan tâm như vậy.
Tháng 1-1996, khi về dự Đại hội Đảng bộ Đại học Sư phạm Hà Nội với cương vị là Tổng Bí thư, đồng chí thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng thân ái gửi lời thăm hỏi đến các thầy, cô giáo, cán bộ, nhân viên, sinh viên, học sinh toàn trường và trong cả nước. Đồng chí nói: "Từ lâu, tôi hết sức quan tâm đến phát triển giáo dục và đào tạo nói chung và các trường sư phạm nói riêng. Quý trọng ông thầy và nghề dạy học là một giá trị của văn hóa Việt Nam, thấm nhuần truyền thống "tôn sư trọng đạo". Thầy, cô giáo cùng với nhà trường là nơi tiếp nối, duy trì, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Chính các thầy, cô giáo và nhà trường sáng tạo ra giá trị cao quý nhất là những con người có đủ phẩm chất và năng lực để tạo ra mọi giá trị khác cho cuộc sống của bản thân gia đình, cộng đồng và đất nước...".
Đồng chí khen ngợi những năm qua, trường đã đạt được những thành tích to lớn trong việc đào tạo đội ngũ thầy, cô giáo cho tất cả các cấp học từ mẫu giáo đến đại học và sau đại học. Tuy nhiên, còn nhiều điều chưa được như mong muốn. Đại hội của trường có trách nhiệm tìm cách giải quyết những khó khăn, tồn tại, khuyết điểm để vươn lên giữ vững danh hiệu đầu đàn của một trung tâm sư phạm lớn nhất, phát huy tác dụng đối với toàn bộ hệ thống sư phạm trong cả nước.
Trên đây là một vài nét về đạo đức cách mạng cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tấm lòng vì Đảng, vì dân của Thủ trưởng tôi. Nếu kể cho hết cả quá trình 70 năm hoạt động cách mạng, cả những việc mà đồng chí đã làm, đã kinh qua thì nhiều lắm, không sao kể hết.
Gần 40 năm được vinh dự phục vụ đồng chí Đỗ Mười, tôi đã học tập ở đồng chí rất nhiều. Điều đầu tiên là đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tấm lòng trong sáng, đầy nhiệt huyết đối với nhân dân, với đất nước ở đồng chí.
––––––––––––––––––––––––––––––––
* Trợ lý nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười
1, 2. Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.7, tr.208; t.11, tr. 352.
NHỮNG SỰ VIỆC NHỚ MÃI TRẦN HÀ*
Tôi rất may mắn có khoảng thời gian công tác ở gần đồng chí Đỗ Mười, từ khi đồng chí làm Phó Thủ tướng cho đến lúc làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Tôi được nhiều lần trực tiếp giúp việc phục vụ đồng chí, nhất là thời gian đồng chí làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Đồng chí đã để lại trong tôi biết bao ấn tượng sâu sắc về một nhà lãnh đạo xuất sắc, đầy bản lĩnh quyết đoán, một tấm gương sáng ngời đối với Đảng, với dân, đôn hậu, nhân nghĩa, đầy tình người. Tôi xin kể lại một vài sự việc cụ thể dưới đây, trong biết bao nhiêu sự việc mà tôi biết.
Đồng chí Đỗ Mười là người rất sâu sát thực tiễn, gần gũi cán bộ và nhân dân. Đồng chí là người ham đọc sách nhất, là những sách có giá trị tham khảo về hoạch định đường lối, chính sách và quản lý nhà nước, và thường giới thiệu những cuốn sách đó với các đồng chí xung quanh, có lúc tại phần họp Hội đồng Chính phủ. Đồng chí làm việc hăng say quên mình, có lúc quên giờ giấc và ngày nghỉ.
Đồng chí Đỗ Mười là người rất có công trong việc xây dựng và phát triển ngành công nghiệp, xây dựng từ buổi ban đầu. Đồng chí tập trung trí tuệ, thời gian, chăm lo chỉ đạo, thường xuyên đi sâu đi sát, kiểm tra, chỉ đạo, tháo gỡ khó khăn tại chỗ từ công trình thủy điện Hoà Bình ở miền Bắc đến công trình thủy lợi Thạch Nham - Quảng Ngãi ở miền Trung và công trình dầu khí Vũng Tàu - Nam Bộ, đặc biệt là công trình xây dựng Lăng Bác Hồ và Bảo tàng Hồ Chí Minh, v.v… Trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ, ngày đêm đồng chí tập trung chỉ đạo việc tiếp viện cho chiến trường miền Nam về các mặt hậu cần phương tiện xăng dầu, v.v… Tôi còn nhớ rõ, tại cuộc họp do đồng chí chủ trì, về việc tiếp viện xăng dầu cho chiến trường miền Nam đang căng thẳng, đã quá 11 giờ đêm, đồng chí bảo tôi gọi điện thoại cho đống chí Đại sứ nước ta ở Liên Xô để đồng chí nói chuyện về việc cung cấp xăng dầu. Thực hiện ngay chỉ thị của đồng chí, tôi gọi điện sang Đại sứ quán ta ở Liên Xô. Đồng chí đại sứ đi vắng, may gặp được đồng chí phó đại sứ, tôi mời đồng chí Đỗ Mười nói chuyện. Tôi mừng thầm là đã hoàn thành được nhiệm vụ tuy nhỏ nhưng không dễ dàng.
Đồng chí Đỗ Mười thường xuyên quan tâm đến các địa phương, nhất là những địa phương xa xôi ở miền Nam, sau ngày giải phóng. Có một kỷ niệm sâu sắc mà tôi không thể nào quên. Hồi đó vào khoảng năm 1977-1978, các đồng chí lãnh đạo, bí thư hoặc chủ tịch của một số huyện của tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng hay ra Hà Nội. Hôm đó, đoàn cán bộ huyện Tam Kỳ trực tiếp đến Văn phòng Chính phủ xin được gặp đồng chí Đỗ Mười để báo cáo và xin vật tư về phục vụ nông nghiệp. Là người con của quê hương Quảng Nam - Đà Nẵng, tôi rất lo lắng và sốt sắng tìm cách giúp đỡ. Tôi nghĩ rằng, xin được gặp đồng chí Đỗ Mười ban ngày thì rất khó, lịch làm việc kín hết. Tôi nhờ đồng chí thư ký báo cáo đồng chí Đỗ Mười cho phép các đồng chí lãnh đạo huyện đến nhà vào buổi tối và được đồng chí Đỗ Mười đồng ý. Tôi và các đồng chí ở huyện rất mừng rỡ vì được đến nhà, được đồng chí Đỗ Mười tiếp rất thân tình. Sau khi nghe các đồng chí ở huyện báo cáo tình hình và những đề nghị, đồng chí Đỗ Mười nói: "Các chú ở xa Trung ương, là tỉnh bị thiệt hại trong chiến tranh do giặc Mỹ gây ra rất nặng nề, các chú ra đây là các chú biết lo cho dân. Theo thủ tục hành chính thì huyện phải qua tỉnh, nhưng vì bức bách quá, các chú đã ra đây rồi, thì tôi đành phải giải quyết một số vấn đề mà huyện đề nghị, nhưng nhớ lần sau có đề nghị gì phải qua Ủy ban nhân dân tỉnh". Rồi đồng chí quay sang dặn tôi: "Chú Hà nói với lãnh đạo Văn phòng Chính phủ là tôi đã đồng ý giải quyết một số vấn đề cho huyện, Văn phòng ra văn bản, rồi chú đưa anh em lên Công ty gang thép Thái Nguyên nhận. Chú phải lo giúp đỡ anh em chu đáo!". Sau khi giải quyết xong cho huyện Tam Kỳ, đồng chí Đỗ Mười còn nói riêng với tôi: "Quảng Nam là mảnh đất cách mạng, trung dũng, kiên cường, đi đầu diệt Mỹ, là tỉnh có nhiều nhất là mẹ có con hy sinh. Trong thực tế huyện có khó khăn mới phải chạy ra Trung ương, Chính phủ, chú nhớ chú ý giúp đỡ một số huyện khác có khó khăn, các tỉnh Khu 5 đều là anh hùng cần giúp đỡ cho công bằng".
Khi tôi cùng anh em ở huyện ra về, ai nấy đều phấn khởi nói: Không ngờ được đồng chí Đỗ Mười cho gặp tại nhà, được giải quyết ngay một số đề nghị của huyện và được nghe những câu nói chí tình, chí nghĩa của đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Chính phủ.
Câu chuyện trên để lại trong tôi và các đồng chí ở huyện một hình ảnh cao đẹp vì Đảng, vì dân của đồng chí Đỗ Mười đối với đồng bào miền Nam nói chung và Quảng Nam nói riêng, mãi mãi không bao giờ quên.
Tôi xin kể tiếp một câu chuyện về đức nhân hậu, tình người của đồng chí Đỗ Mười:
Đồng chí Đỗ Mười ở số nhà 11, phố Phạm Đình Hổ, quận Hoàn Kiếm từ năm 1955 cho đến bây giờ. Diện tích nhà hẹp và mỗi khi mưa to bị nước ngập tận thềm nhà. Nhiều lần cơ quan báo cáo xin đồng chí bố trí đổi nhà khác thuận tiện hơn, nhưng đồng chí đều từ chối. Có lần Cục Quản trị nhờ tôi báo cáo mời đồng chí đến xem một căn nhà biệt thự bình thường ở phố Nguyễn Du đang còn để trống. Tôi mời mãi mới được đồng chí đồng ý đi xem, xem xong đồng chí nói ngay: "Căn nhà này to quá, sang quá, nên dành bố trí cho đồng chí khác có nhu cầu ở, còn tôi ở chỗ cũ là được rồi". Sau đó Văn phòng dự kiến bố trí căn nhà đó cho hai đồng chí lãnh đạo cấp bộ trưởng ở. Đồng chí nói: "Các đồng chí ấy là cán bộ lãnh đạo cấp cao, đã lớn tuổi, con đông lại có nhu cầu, bố trí cho các đồng chí ấy là hợp lý".
Tôi còn nhớ, mùa hè năm ấy nhiệt độ cao, trời nóng, đồng chí Đỗ Mười thường xuyên làm việc ban đêm, nên lãnh đạo cơ quan báo cáo đồng chí cho phép được lắp máy điều hòa nhiệt độ tại nhà đồng chí, và cũng nói với đồng chí là các đồng chí phó thủ tướng khác cũng đều được trang bị rồi. Nhưng đồng chí Đỗ Mười không đồng ý và nói: "Nên dành cho công sở và những đồng chí cán bộ lãnh đạo có tuổi, tôi còn khỏe mạnh, không có vấn đề gì".
Đồng chí Đỗ Mười trong những ngày chủ nhật, hoặc ngày nghỉ lễ nếu không làm việc ở cơ quan, thì đi xuống các địa phương, các công trường trọng điểm quốc gia. Đồng chí ham làm việc, có lúc quên cả giờ giấc. Tôi còn nhớ, có lần khoảng gần 12 giờ trưa, đồng chí sang phòng tôi làm việc. Đồng chí chỉ thị, nhắc nhở, dặn dò tôi một số công việc, đã quá 12 giờ rồi đồng chí vẫn tiếp tục nói. Để giữ gìn sức khỏe cho đồng chí, tôi đành báo cáo với đồng chí là: "Bác Tô dặn tôi phải bảo đảm sức khỏe cho anh". Nghe tôi báo cáo, đồng chí Đỗ Mười đồng ý ra về. Tôi thầm nghĩ đây cũng là sự thể hiện tình cảm sâu nặng giữa hai đồng chí lãnh đạo cao cấp với nhau.
Khi đồng chí Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, trước khi sang công tác bên cơ quan Trung ương Đảng, đồng chí còn ân cần dặn dò nhắc nhở chúng tôi: "Văn phòng Chính phủ là cơ quan tham mưu giúp việc, phục vụ trực tiếp của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, đảng viên, cán bộ phải luôn luôn tu dưỡng về đạo đức cách mạng, nâng cao trình độ trí tuệ và bản lĩnh đổi mới phong cách làm việc để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình". Chúng tôi mãi mãi biết ơn về tình cảm sâu đậm của đồng chí.
Từ thực tế những tháng năm được ở gần đồng chí Đỗ Mười, tôi thấy ở đồng chí là người cộng sản kiên cường, mẫu mực, người con ưu tú của dân tộc, người học trò xuất sắc của Bác Hồ kính yêu, đồng chí là tấm gương sáng về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh, có ý nghĩa thiết thực đối với cuộc vận động "Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh" hiện nay.
Tháng 5-2010
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––––––––
* Nguyên Vụ trưởng Vụ Tổng hợp - Văn phòng Chính phủ.
NHỮNG KỶ NIỆM VỀ ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI GS. PHẠM THÀNH*
Tôi không có điều kiện làm việc nhiều với đồng chí Đỗ Mười như với các đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh, Lê Duẩn. Nhưng những kỷ niệm của tôi về đồng chí Đỗ Mười hết sức sâu sắc. Bởi lẽ những quan hệ của tôi với đồng chí Đỗ Mười là mật thiết. Bên cạnh quan hệ công tác còn có quan hệ cá nhân khiến tôi mãi mãi nhớ ơn đồng chí.
Tôi nhận được quyết định nghỉ hưu năm 1992, nghĩa là vào năm tôi 68 tuổi, sau đó không lâu, tôi nhận được thư của đồng chí Đỗ Mười yêu cầu tôi tiếp tục lên làm việc với đồng chí. Lúc này đồng chí Đỗ Mười là Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam. Công việc mà đồng chí yêu cầu tôi làm là đọc sách cả của nước ngoài (Pháp, Anh, v.v..) do đồng chí giao cho tôi để báo cáo lại nội dung với đồng chí. Tôi vui vẻ nhận lời. Tôi gặp đồng chí và nhận việc ngay tại phòng làm việc của đồng chí ở số 2 phố Nguyễn Cảnh Chân - Hà Nội. Đồng chí bảo tôi: đồng chí làm việc ở đây thì tôi bố trí một chỗ làm việc ở Văn phòng tôi cho đồng chí. Tôi trả lời: "Để khỏi làm phiền các anh, tôi xin nhận sách về đọc ở nhà. Đọc xong hay khi các anh gọi, tôi sẽ xin lên làm việc". Đồng chí đồng ý. Thế là từ đây, tôi trở thành cán bộ của Văn phòng đồng chí Đỗ Mười. Và cũng từ đấy, tôi có quan hệ gần gũi đồng chí.
Đồng chí Đỗ Mười là Tổng Bí thư của Đảng từ tháng 6-1991 đến tháng 12-1997 (từ nhiệm kỳ Đại hội VII tới nửa nhiệm kỳ Đại hội VIII của Đảng). Địa vị lãnh đạo tối cao ấy của đồng chí khiến cho tôi quan tâm tìm hiểu điều đầu tiên là: quan điểm lý luận, chính trị của đồng chí. Đó là những quan điểm chỉ đạo về đường lối của đồng chí đối với toàn Đảng, toàn dân ta. Tôi vui mừng nhận thấy những quan điểm ấy hoàn toàn dựa trên nhận thức chung, nhất trí của toàn Đảng và rất sâu sắc. Có thể nói một cách tóm gọn lại là quan điểm đổi mới, quan điểm mà Đảng ta đã nêu lên và nhấn mạnh trước Đại hội VI của Đảng. Nhưng với đồng chí qua một thời gian thực tiễn, quan điểm đó ngày càng sâu sắc, toàn diện.
Một là, quan điểm về định hướng xã hội chủ nghĩa. Trên cơ sở thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, và đặc biệt là sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Đảng ta tiếp tục khẳng định sự cần thiết phải đổi mới tư duy, nhất là tư duy kinh tế, và thực sự đi vào đổi mới đường lối, chính sách, thậm chí cả lý luận của Đảng. Để khắc phục sự hoang mang, dao động, thậm chí mất phương hướng, không thể nào không đổi mới. Đây là một sự đổi mới toàn diện và rất căn bản để tiếp tục đưa đất nước đi lên con đường đã được Bác Hồ và Đảng ta lựa chọn từ ngày Đảng mới thành lập: con đường chủ nghĩa xã hội. Sự đổi mới ấy ngày càng rõ ràng, toàn diện và triệt để hơn. Điều đó thể hiện trong quan điểm của Đảng ta và trước hết trong quan điểm của đồng chí Đỗ Mười về định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đồng chí Đỗ Mười quan điểm đó bao hàm ba nội dung cơ bản sau đây:
1. Định hướng xã hội chủ nghĩa không phải xuất phát từ một ý định duy ý chí, chủ quan nhằm thực hiện một điều mong muốn của bất cứ cá nhân hay tập đoàn người nào. Đó trước hết là một yêu cầu khách quan của thời đại. Xã hội loài người đã phát triển đến mức độ tất yếu phải chuyển sang chủ nghĩa xã hội. Đó là tính tất yếu kinh tế do trình độ phát triển cao về kinh tế mà chủ nghĩa tư bản đã đạt để tự phủ định nó như Mác đã phân tích. Nước ta còn lạc hậu về kinh tế phải tiến lên theo định hướng đó của thời đại, chứ không thể phát triển theo bất cứ con đường nào khác.
2. Định hướng xã hội chủ nghĩa nói lên rằng đó là phương hướng mà đất nước ta đang phải theo. Quan điểm này nhằm đập tan ảo tưởng và sự nóng vội của những ai muốn thiết lập ngay chủ nghĩa xã hội toàn vẹn, đầy đủ ở nước ta trong lúc này, khi đất nước ta còn lạc hậu, nhất là về kinh tế. Nước ta chỉ mới đang hướng tới chủ nghĩa xã hội trong quá trình xây dựng chế độ xã hội tốt đẹp ấy trên tất cả các mặt, trước hết là về kinh tế.
3. Định hướng xã hội chủ nghĩa còn bao hàm tính tích cực trong thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Ngay từ bây giờ chúng ta phải nắm vững định hướng đó trong hoạt động thực tiễn của chúng ta. Chúng ta không được ngồi chờ một cách thụ động mà phải ra sức xây dựng đất nước theo đúng định hướng ấy. Chúng ta phải thực hiện từng bước, từng bước một trong điều kiện khách quan cho phép những gì có lợi cho chủ nghĩa xã hội, nếu không thì những khuynh hướng phi xã hội chủ nghĩa có thể chiếm ưu thế ngoài ý muốn của chúng ta. Định hướng xã hội chủ nghĩa ở đây bao hàm cuộc đấu tranh "ai thắng ai".
Nói tóm lại, hiểu định hướng xã hội chủ nghĩa một cách đầy đủ đòi hỏi phải đặt nó trong thời đại, phải coi nó vừa là vấn đề tư tưởng vừa là vấn đề thực tiễn.
Hai là, những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nếu định hướng xã hội chủ nghĩa là con đường tất yếu hợp quy luật của cách mạng chúng ta trong thời đại hiện nay thì quan điểm của đồng chí Đỗ Mười về những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa là một đóng góp quan trọng của đồng chí đối với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Với tư cách là Tổng Bí thư trong buổi đầu của đổi mới, đồng chí vừa là người nắm vững những quan điểm cơ bản của Đảng vừa là kiến trúc sư của những quan điểm ấy. Cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có nhiều nhiệm vụ hết sức quan trọng. Bởi lẽ xây dựng một chế độ hoàn toàn mới như chủ nghĩa xã hội thì không thể nào khác thế được. Phải xây dựng kinh tế, xây dựng chính trị, xây dựng văn hóa, xây dựng tư tưởng, xây dựng nếp sống mới cho cả một xã hội, cho một tập thể con người của cả một dân tộc. Nhưng đồng chí Đỗ Mười đã nhấn mạnh từ kinh nghiệm thực tiễn của Đảng: xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm và xây dựng Đảng là then chốt. Quán triệt được quan điểm này là vô cùng quan trọng. Không có nền kinh tế xã hội chủ nghĩa thì không thể nói gì đến chủ nghĩa xã hội. Các nhà kinh điển đã nói: xây dựng chủ nghĩa xã hội về thực chất là một sự nghiệp xây dựng kinh tế. Tầm quan trọng của nhiệm vụ xây dựng kinh tế không dừng lại ở tính chất quyết định của nó đối với chế độ. Trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, phải xây dựng kinh tế trong mối quan hệ chặt chẽ với các mặt xây dựng khác theo hai hướng sau đây: một là, xây dựng kinh tế phải luôn luôn đi trước, tạo điều kiện và làm cơ sở vững chắc cho các mặt xây dựng khác; hai là, các mặt xây dựng khác: chính trị, văn hóa, v.v… phải theo yêu cầu và thúc đẩy sự nghiệp xây dựng kinh tế. Đây là một sự nghiệp xây dựng nhiều mặt, hài hòa, trong đó xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm.
Để hoàn thành được sự nghiệp xây dựng trọng đại này, nhất thiết phải có điều kiện tiên quyết là xây dựng Đảng. Đồng chí Đỗ Mười cho đây là nhiệm vụ then chốt của sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa. Bởi lẽ sự nghiệp này là một công cuộc cách mạng tự giác chứ không phải tự phát. Lịch sử do con người làm ra, nhưng phải làm ra với sự hiểu biết sâu sắc về quy luật khách quan của nó. Xây dựng chủ nghĩa xã hội, một sự nghiệp to lớn có quy luật khách quan của nó cũng đòi hỏi như vậy. Vì lẽ đó, đồng chí Đỗ Mười luôn luôn nhấn mạnh: xây dựng Đảng là then chốt, không đem hết tâm sức ra xây dựng Đảng thì không thể có được một chính đảng vững vàng, chắc chắn, vừa có phẩm chất vừa có năng lực tư duy và năng lực thực tiễn như Đảng Cộng sản là đảng duy nhất nắm được quy luật của lịch sử từ chủ nghĩa tư bản tiến lên chủ nghĩa xã hội. Có Đảng Cộng sản anh minh lãnh đạo, nhất định nhân dân ta sẽ vững vàng tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Như vậy, nắm vững quan điểm xây dựng kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, chúng ta sẽ thực hiện được định hướng xã hội chủ nghĩa theo đúng xu thế khách quan của thời đại.
Ba là, những đóng góp to lớn khác của đồng chí Đỗ Mười đối với đường lối đổi mới của Đảng. Đồng chí không dừng lại ở những điều cơ bản quan trọng như đã nói ở trên mà luôn luôn suy nghĩ về những vấn đề cụ thể khác của Đảng. Để tránh nói vô căn cứ, tôi xin dẫn ra hai trường hợp khá điển hình mà tôi nắm được, đó là đường lối đối ngoại và đường lối xây dựng hệ thống chính trị.
Ai cũng biết rằng nhà nước nói riêng và hệ thống chính trị nói chung là một công cụ vô cùng sắc bén của cách mạng xã hội chủ nghĩa. Đảng ta từ Đại hội IV đã nêu ra nhà nước xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Quan điểm này về nhà nước là một cống hiến quan trọng và kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội. Nhưng một vấn đề rõ ràng là quan điểm ấy vẫn còn chung. Vấn đề là làm cho nó trở thành hiện thực. Trong một cuộc nói chuyện với các vị cách mạng lão thành đường 5 và các tỉnh Quân khu Tả Ngạn cũ, đồng chí nói: "Một lần nhờ đọc Lênin Toàn tập và Hồ Chí Minh Toàn tập, tôi đã phát hiện ra rằng: Xây dựng nền dân chủ ở cơ sở là vô cùng quan trọng. Tôi đã đưa ý kiến này trao đổi với anh Lê Khả Phiêu và các đồng chí Trung ương. Sau đó một nghị quyết của Đảng đã nhấn mạnh xây dựng nền dân chủ từ cơ sở". Từ đó chúng ta thấy rằng ý kiến của đồng chí Đỗ Mười đã được thực hiện trong chủ trương của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị bắt đầu bằng thực hành dân chủ ở cơ sở.
Về quan điểm đối ngoại của Đảng, chúng ta thấy có một nét đặc sắc là trong cách mạng xã hội chủ nghĩa nước ta tất yếu phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa đi lên cho kịp thời đại. Với tính tất yếu ấy, đất nước ta phải hội nhập với thế giới, chứ không thể đơn độc một mình. Đồng chí Đỗ Mười nắm vững quan điểm ấy và nhấn mạnh: "Hội nhập nhưng không được hòa tan", hoàn toàn tán thành và làm sáng rõ thêm đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng ta. Một mặt xây dựng quan hệ đa dạng, đa phương hóa về đối ngoại; mặt khác, giữ vững chính sách độc lập tự chủ giữ vững đường lối chính trị và bản sắc dân tộc
Chắc chắn rằng đồng chí Đỗ Mười có những đóng góp sâu sắc về quan điểm cho đường lối, chính sách của Đảng. Ví dụ như chủ trương gắn xây dựng với bảo vệ, giữ gìn một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Nhưng tôi xin dừng lại ở những điều cơ bản nêu ra ở trên và nhấn mạnh với những bộ óc sáng suốt của toàn Đảng và những lãnh tụ luôn luôn sáng tạo, những quan điểm của Đảng có thể trở thành điểm xuất phát cho một sự phát triển chủ nghĩa Mác trong thời đại hiện nay, dù chỉ là theo điều kiện cụ thể của ta.
Đến đây tôi xin trình bày ý kiến của tôi về nhân cách cộng sản của đồng chí Đỗ Mười. Tôi đã có dịp làm quen với nhiều người cộng sản lớp cũ, thực sự thấm nhuần nhân cách cộng sản mà họ đã tiếp thu được từ thời kỳ bí mật khi Đảng ta chỉ mới có một ít đảng viên hoạt động trong bóng tối. Đó là nhân cách cộng sản mà tôi cũng thấy rõ cả ở đồng chí Đỗ Mười, dù rằng đồng chí đã trải qua nhiều giai đoạn hoạt động khác nhau: khi bí mật, khi công khai, khi ở địa vị cán bộ thường cũng như khi ở cương vị lãnh đạo và là lãnh đạo tối cao của Đảng. Với nhân cách ấy chúng ta có thể nói đó là người cộng sản với nhũng phẩm chất như cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy cán bộ, đảng viên ngay sau những ngày mới giành được chính quyền.
Lần đầu tiên đến nhà đồng chí Đỗ Mười, lúc đó đang là Tổng Bí thư của Đảng, tôi rất đỗi ngạc nhiên. Mọi điều đã diễn ra ngoài suy nghĩ tưởng tượng của tôi. Nhà đồng chí ở phố Phạm Đình Hổ, không phải là một biệt thự lớn nguy nga tráng lệ mà là giống nhà những đồng chí khác mà tôi đã có dịp đến thăm như nhà của đồng chí Hà Xuân Trường, đồng chí Lê Xuân Đồng chẳng hạn. Một ngôi nhà cổ kính đơn sơ cả bên ngoài và bên trong. Tôi được đưa vào ngồi chờ đồng chí Đỗ Mười trên một ghế mây. Trước mặt tôi là một bàn thờ như vẫn có ở bao nhà khác, với một tấm ảnh chân dung chị Thanh, vợ đồng chí Đỗ Mười lúc đó vừa mới qua đời. Một lúc sau, tôi được đưa vào phòng khách của đồng chí Đỗ Mười. Nói là phòng khách thì không hoàn toàn đúng. Bởi vì ở đây đồng chí Đỗ Mười vừa làm việc, vừa tiếp khách và có lẽ vừa nằm nghỉ nữa. Bởi vì bên cạnh bàn làm việc, tôi thấy có kê một chiếc giường con vừa một người nằm. Trên bàn làm việc để mấy chồng sách và chồng tài liệu khá cao. Tiếp nối bàn làm việc là bàn tiếp khách dài với hai dãy ghế ở hai bên. Kề ngay phòng làm việc hay phòng khách kiêm phòng ngủ là phòng ăn của gia đình. Có hai lần đồng chí Đỗ Mười còn dẫn tôi đi xem thư viện của đồng chí. Đây là một căn phòng rộng như phòng khách, có bố trí rất nhiều kệ sách với đủ loại sách tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Nga. Rõ ràng đây là một thư viện tuy chật hẹp nhưng chẳng khác gì của một cơ quan nhỏ. Đồng chí Đỗ Mười bảo tôi xem sách và muốn xem sách gì thì cho tôi mượn về đọc. Có lần đồng chí rút ra từ kệ sách một quyển sách mới và tặng tôi để đáp lại việc tôi tặng đồng chí một tập thơ có bài đề tặng đồng chí. Đây là một quyển sách viết về đời hoạt động của đồng chí khi đồng chí chỉ huy các trận đánh thực dân Pháp ở Khu Tả Ngạn và trên đường 5 anh hùng. Có lẽ các phòng ở tầng trên là nơi ở của gia đình thì cũng giản dị và đơn sơ, chứ không có gì đặc biệt. Ở phía sau căn nhà chính là căn nhà phụ có bếp và nhà xe.
Tôi đã đến nhà đồng chí Đỗ Mười cả thảy bốn lần để mừng thọ hay thúc Tết đồng chí. Lần nào tôi cũng được đưa vào phòng khách và được đồng chí tiếp đón ân cần, niềm nở. Tôi là một cán bộ đã nghỉ hưu, bình thường như bao đồng chí khác. Nhưng đồng chí Đỗ Mười luôn luôn tỏ ra thân mật, bình đẳng trong đối xử, giao tiếp. Đồng chí bắt tay tôi và kéo tôi lại ngồi cạnh đồng chí. Có lần khách trong nhà khá đông, đồng chí đã đến gần tôi và nói to lên với các đồng chí có mặt tại phòng: "Tôi xin giới thiệu với các đồng chí: đây là đồng chí Phạm Thành, một đồng chí có nhiều đóng góp với Đảng". Tôi thầm nghĩ tôi có đóng góp gì nhiều đâu, có lẽ đồng chí muốn nói đến những bản lý luận của tôi gửi các đồng chí cấp trên để góp ý kiến chăng. Một lần khác, trong phòng khách có đông cựu chiến binh đường 5 và Khu Tả Ngạn đến mừng thọ đồng chí, đồng chí bảo tôi vào ngồi lẫn với khách ở trong phòng. Cuộc nói chuyện giữa đồng chí và khách diễn ra trong bầu không khí đầm ấm, vui vẻ. Cả chủ lẫn khách đều ôn lại những ngày chiến đấu gian khổ nhưng rất anh hùng mà họ đã cùng trải qua. Tôi nhớ mãi những lời nói giản dị và chân tình của đồng chí Đỗ Mười. Hôm đó đồng chí hỏi một số đồng chí về việc làm hiện nay của họ hồi thân mật căn dặn: "Ngày qua các đồng chí đã chiến đấu kiên cường. Ngày nay bước sang giai đoạn xây dựng đất nước, tôi đề nghị các đồng chí phải không ngừng học tập để nâng cao kiến thức, góp ý kiến với các đồng chí đang làm việc. Công cuộc xây dựng đòi hỏi phải có kiến thức khoa học chứ không thể chỉ dũng cảm như xưa". Tiếp đó, đồng chí nêu lên kinh nghiệm đọc sách của đồng chí, nhờ đọc sách của Lênin, của Bác Hồ mà đồng chí đã nảy ra sáng kiến về phát huy dân chủ ở cơ sở như đã nói ở phần trên.
Tôi nhớ, một lần tôi đã nghe đồng chí Đỗ Mười nói với cán bộ: "Tôi nay tuổi cao, đêm ít ngủ, thường thức dậy là vặn đèn lên đọc sách. Đọc sách là cách giải trí hay nhất, bổ ích nhất". Tôi thầm khâm phục đức tính cần mẫn, chăm chỉ học tập của đồng chí Đỗ Mười. Không chịu lãng phí dù là một giây một phút mà tuổi già cho phép mình hưởng.
Có một câu chuyện về đồng chí Đỗ Mười do đồng chí Thái, một cán bộ nghỉ hưu, hơn 80 tuổi, đã từng làm việc với đồng chí Đỗ Mười khi đồng chí làm Trưởng ban Công nghiệp ở miền Nam sau ngày giải phóng 30-4-1975. Đồng chí Thái nói với tôi: "Những câu chuyện của anh nói về bác Đỗ Mười quả đúng như vậy. Về phẩm chất, thì đó là một con người không chê vào đâu được. Tôi đã làm việc với đồng chí nhiều năm ở cơ quan Ban Công nghiệp Trung ương đóng ở miền Nam. Đồng chí sống rất giản dị, không chịu nhận quà biếu bao giờ. Đồng chí thường dặn anh em là đi công tác ở đâu thì ở nhà khách, chứ đừng ở khách sạn. Tuyệt đối không ai được nhận quà biếu, nếu có quà biếu thì phải báo cáo với tổ chức để xử lý. Đồng chí Đỗ Mười có tính thương người, chăm lo đời sống cán bộ. Trong cơ quan có một chị không có nhà ở, thường phải ăn ở tại cơ quan hay ở nhà người quen. Biết được điều đó, đồng chí Đỗ Mười báo cho cơ quan Thành ủy biết và Thành ủy đã giúp cho chị nhân viên có một nhà ở đàng hoàng. Tôi nghĩ thầm: đúng là tác phong, lối sống, phẩm chất của một người cộng sản chân chính: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, luôn luôn chăm lo đến đời sống của con người".
Về lối sống giản dị, phẩm chất cộng sản của đồng chí Đỗ Mười thì chính tôi cũng đã nghiệm thấy rất rõ qua một thời gian làm việc rất ngắn với đồng chí. Như trên tôi đã nói, đồng chí Đỗ Mười lấy tôi lên đọc sách giúp đồng chí, bởi lẽ đồng chí muốn biết rất nhiều qua sách vở nước ngoài nhưng ngặt một nỗi là Tổng Bí thư của Đảng nên đồng chí rất bận. Để giải quyết mâu thuẫn này đồng chí phải nhờ người đọc. Tôi đã đọc sách cho đồng chí Đỗ Mười khoảng bốn năm, đã trực tiếp tóm tắt cho đồng chí nghe quyển sách của Níchxơn phân tích sai lầm của Mỹ trong chiến tranh ở Việt Nam. Sách bằng tiếng Anh có đoạn nói Mỹ sai lầm vì đã không hiểu Việt Nam. Tôi trực tiếp dịch cho đồng chí nghe đoạn ấy. Đồng chí bảo tôi không chỉ Níchxơn thừa nhận sai lầm mà Mác Namara, Kítxinhgiơ cũng thừa nhận điều đó. Tôi nghĩ thầm: Tổng Bí thư biết nhiều và đọc nhiều thật. Đến nhà đồng chí, nhìn vào mặt bàn đầy sách và tài liệu tôi càng vỡ lẽ. Tôi còn đọc giúp đồng chí Đỗ Mười nhiều sách khác, có sách tiếng Anh, có tài liệu tiếng Pháp của Liên hợp quốc... Nhưng thời gian tôi làm việc với đồng chí Đỗ Mười quá ít. Và cũng không phải chỗ để nói về những quyển sách đó ở đây. Điều quan trọng là qua tiếp xúc với đồng chí Đỗ Mười tôi đã có dịp hiểu lối sống, phẩm chất của đồng chí. Tôi đặc biệt hiểu đồng chí qua ba sự việc của tôi sau đây, nói lên sự quan tâm của đồng chí đối với nhũng người xung quanh, nhất là đối với cán bộ dưới quyền.
Tôi mới vừa lên gặp đồng chí để nhận việc thì đồng chí hỏi tôi về hoàn cảnh của gia đình tôi. Tôi ngạc nhiên vì sao đồng chí đã hiểu ít nhiều và muốn hiểu cặn kẽ về đời tư của tôi. Tôi thành thật báo cáo với đồng chí rằng tôi có vợ và hai con bị bệnh tâm thần. Đồng chí tỏ ý thương tôi và nói: "Tôi có biết bác sĩ Tuấn chuyên khoa tâm thần, tôi sẽ giới thiệu bác sĩ ấy với anh để được chữa trị cho các cháu. Ngày mai anh đến nhà tôi, cháu Thủy, con tôi sẽ đưa anh đi gặp bác sĩ". Đúng hẹn, ngày hôm sau tôi đến nhà đồng chí Đỗ Mười thì cô Thủy đã sẵn sàng chờ tôi. Từ nhà đồng chí Đỗ Mười phải đi qua nhiều con phố, đến phố Khâm Thiên, đi qua ngã tư ô Chợ Dừa khoảng một cây số thì đến nhà bác sĩ Tuấn ở trong một xóm hẻo lánh. Chị Thủy đưa tôi đến đó và không quản trời tối, đường dài, vốn chờ đợi tôi trình bày bệnh tật con tôi và nghe bác sĩ Tuấn khuyên bảo tôi cách chữa. Mãi gần 10 giờ đêm chị Thủy và tôi mới từ biệt bác sĩ ra về.
Đó là câu chuyên đồng chí Đỗ Mười quan tâm đến hoàn cảnh của tôi thông qua việc giúp đỡ con tôi mà về sau nhiều lần đồng chí đã hỏi thăm lại. Câu thơ "Ơn cụ lâu dài tựa núi sông" còn sâu sắc hơn đối với thái độ thân tình của đồng chí đối với bản thân tôi trong hai trường hợp khác.
Sớm năm 2003 tôi tròn 80 tuổi. Con tôi ở Thành phố Hồ Chí Minh ra Hà Nội mừng thọ tôi. Vấn đề là mời ai là người thân thiết đến chia vui với tôi. Tôi có đến mời đồng chí Nguyễn Đức Bình, đồng chí Bình bảo tôi: "Thế, cậu có mời cụ Mười không?" Tôi lưỡng lự: đồng chí Đỗ Mười đã nhiều tuổi, không biết có đi không. Về sau, tôi mạnh dạn đến nhà đồng chí Đỗ Mười mời đồng chí đến dự lễ mừng thọ của tôi. Tôi ngạc nhiên và vui mừng hết sức khi nghe đồng chí nói: "Được, ai chứ anh thì tôi đi". Thế là buổi mừng thọ tôi 80 tuổi hôm đó diễn ra rất vui vẻ, trang trọng, thân thiết, có mặt cả đồng chí Đỗ Mười và đồng chí Nguyễn Đức Bình.
Một câu chuyện khác cũng của tôi càng nói lên sự quan tâm sâu xa và thiết thực của đồng chí Đỗ Mười đối với tôi, một cán bộ dưới quyền đồng chí.
Ngày 2-2-2004, tức giáp Tết Ất Dậu, tôi cùng Ban Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật đến mừng thọ đồng chí Đỗ Mười 88 tuổi. Như thường lệ, đồng chí Đỗ Mười kéo tôi lại ngồi cạnh đồng chí, đối diện với các cán bộ Nhà xuất bản. Điều đó khiến tôi hết súc xúc động. Càng xúc động hơn, khi tôi ra về bắt tay đồng chí Đỗ Mười, đồng chí tỏ ra băn khoăn về tôi, về sau đồng chí Phan Trọng Kính, thư ký của đồng chí Đỗ Mười nói lại với tôi: "Cụ Mười lo cho sức khỏe của anh lắm. Cụ nói: "Hôm nay tôi thấy anh Thành không được khỏe như mọi khi. Anh nên chú ý theo dõi". Đó là câu nói của đồng chí Kính nói với tôi chiều hôm sau, khi đồng chí đưa cho tôi một chiếc áo ấm do chính đồng chí Đỗ Mười tặng tôi mặc cho đỡ rét và kèm theo là một phong bì trong có 1 triệu đồng để tôi bồi dưỡng sức khỏe. Tôi vô cùng cảm động về sự quan tâm ân cần của đồng chí Đỗ Mười đối với tôi. Nhưng câu chuyện chưa kết thúc tại đây.
Ngày 28 Tết, tức ngày 6-2-2004, đúng như dự đoán của đồng chí Đỗ Mười, sức khỏe của tôi đã giảm sút đến mức tuyệt vọng. Sau vài ngày kém ăn, kém ngủ tôi đã ngã gục hôn mê bất tỉnh nhân sự. Các cháu trong nhà cùng vợ tôi đưa tôi đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị. Ở đây, trong năm, bảy ngày liền tôi hôn mê. Sau khi tỉnh lại, bà con cho biết: y bác sĩ rạch da tôi không thấy đau, cho ăn sữa bằng ống tôi không biết, cho thở ôxy tôi không hay. Gia đình tôi báo tin tôi ốm nặng cho các nơi biết. Người đến thăm tôi không hay. Anh Phan Trọng Kính hai lần đến nơi cấp cứu tôi và theo ý kiến đồng chí Đỗ Mười đã đề nghị các y, bác sĩ hết sức cứu chữa tôi. Về sau có người nhà tôi xem danh sách thấy tên tôi với ghi chú bệnh nhân phải được chăm sóc đặc biệt. Với sự nỗ lực của bệnh viện, tôi đã hồi phục trở lại và được đưa sang nằm ở khoa điều trị A. Tôi ở lại đấy hơn một tháng thì sức khỏe bắt đầu trở lại. Tôi đã vịn vào thành giường để ngồi dậy được.
Một hôm, tôi ngạc nhiên nhìn thấy một cụ già đến thăm tôi ngay bên giường bệnh. Tôi nhìn kỹ nhận ra đó là đồng chí Đỗ Mười và đi theo có anh Phan Trọng Kính, anh Vũ Hữu Ngoạn. Tôi ngồi dậy và cảm ơn đồng chí Đỗ Mười cùng các anh đến thăm. Đồng chí Đỗ Mười bảo tôi: "Cứ nằm xuống, anh còn yếu". Tôi nói chuyện lưu loát và báo cáo với đồng chí rằng nhân viên y tế ở đây làm việc rất chu đáo. Tôi được như hôm nay là nhờ có sự điều trị của họ. Đồng chí Đỗ Mười ra về trước sự ngạc nhiên, sửng sốt của những người xung quanh. Trước khi ra về đồng chí nói: "Đối với những người cán bộ như anh thì ai mà không tận tình chăm sóc được".
Đến đây tôi xin nói ngoài lề một điều chứng tỏ tôi hàm ơn đống chí Đỗ Mười biết bao. Số là trong thời gian non sống già chết, tôi không biết gì xung quanh cả, nhưng với 30% còn sống của bộ não tôi chỉ nhớ có mỗi một điều: Đồng chí Đỗ Mười đã khuyên y, bác sĩ chữa trị cho tôi bằng cách kết hợp Đông, Tây y. Tôi không rõ điều ấy có thật không hay chỉ là hoang tưởng trong cơn non nửa sống già nửa chết. Nhưng dù sao tôi đã được cải tử hoàn sinh, từ cái chết sống trở lại. Tất cả mọi người đều hết sức bát ngờ. Riêng tôi qua sự việc trên đây, tôi càng sâu thẳm lòng biết ơn đối với đồng chí Đỗ Mười.
Ngày 11-6-2005
___________________
*Nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia – Sự thật).
TÔI RẤT QUÝ TRỌNG VÀ CẢM PHỤC ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI VŨ HỮU NGOẠN*
Tôi quê ở Sơn Tây, nhưng trong kháng chiến chống thực dân Pháp lại công tác ở khu Việt Bắc. Ngay từ những ngày khói lửa ấy tôi đã được nghe nói đến đồng chí Đỗ Mười, biết tiếng đồng chí, biết đồng chí Lê Thanh Nghị và đồng chí Đỗ Mười là những cán bộ lãnh đạo Khu III - khu có tỉnh Sơn Tây của tôi, tỉnh được coi là "Bình Trị Thiên" của Bắc Bộ lúc bấy giờ. Cũng từ những khó khăn, thách thức như kiểu tỉnh Sơn Tây bị địch kìm kẹp, mà lãnh đạo Khu III đã có chủ trương táo bạo đưa cán bộ vào nằm vùng ở hậu địch để nắm bắt tình hình, liên hệ với quần chúng, tổ chức phá tề, diệt gian và đặc biệt có chủ trương rất sáng tạo: lập đại đội độc lập ở mỗi tỉnh (sau này phát triển rộng lên thành bộ đội địa phương quy mô lớn ở khắp các tỉnh trong cả nước).
Phát huy kinh nghiệm Khu III, khi làm Bí thư Khu ủy kiêm Chủ tịch Ủy ban kháng chiến hành chính và Chính ủy Khu Tả Ngạn, đồng chí Đỗ Mười đã đích thân bí mật sống trong vùng địch kiểm soát để nắm sát tình hình, chỉ đạo sát cuộc đấu tranh của nhân dân, đã chỉ đạo bộ đội địa phương cùng bộ đội chủ lực chống địch càn quét đánh vào hậu phương của ta cũng như chủ động đánh phá vào căn cứ của chúng, như đánh phá vào sân bay Cát Bi rất độc đáo và thành công.
Đồng chí Đỗ Mười từ lâu đã được Đảng và Bác Hồ đánh giá cao và tin cậy. Đồng chí có tài nghệ vận động quần chúng - một tài nghệ vô cùng cần thiết đối với nhà cách mạng. Để vận động quần chúng có hiệu quả thì có nhiều tiêu chuẩn, trong đó trước hết phải nói có sức thuyết phục. Khi ở tuổi 80, với cương vị Tổng Bí thư, có lần đồng chí đến Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh nói chuyện với hàng nghìn cán bộ cao cấp, trung cấp của Đảng và Nhà nước trong tám giờ đồng hồ, cả sáng cả chiều, nói về đề tài tuy quan trọng nhưng dễ khô khan là đường lối, quan điểm của Đảng, vấn đề xây dựng Đảng... mà người nghe không biết chán, càng nghe càng hấp dẫn, càng sôi nổi nhiệt huyết cách mạng dâng trào. Trong thời điểm Liên Xô tan vỡ, chủ nghĩa xã hội cùng phong trào cộng sản và công nhân trên thế giới tạm thời lâm vào thoái trào mà nghe nói chuyện chính trị được thuyết phục như thế thì thật là hiếm có. Khi nông dân Thái Bình nổi lên chống lại cán bộ xã, huyện, phá phách trụ sở…, thì ngoài đoàn công tác của Trung ương đến đây giải quyết tình hình, đồng chí Đỗ Mười cũng có chuyến công tác đặc biệt. Đồng chí đã gặp gỡ cán bộ lão thành cách mạng đã tiếp xúc và nói chuyện với bà con nông dân, với cán bộ xã, huyện, tỉnh. Theo đó mọi người thông suốt, cắt nghĩa đúng thực trạng, nguyên nhân và tìm ra giải pháp, góp phần đoàn kết nhanh chóng ổn định tình hình. Có thể kể đến hàng chục, hàng trăm cuộc tiếp xúc như thế với cá nhân, với tập thể, kể cả với những vụ khiếu kiện đông người, đều rất thành công. Sở dĩ thành công, lời nói có sức thuyết phục cao, vì đồng chí là con người của thực tiễn, đầy ắp thực tiễn, con người của dân, vì dân, chứa chan tình cảm cách mạng, tình đồng chí, nghĩa đồng bào và cả lý luận rất sâu sắc.
Thông qua vô tuyến truyền hình, cả nước nhìn rõ hình ảnh đồng chí Đỗ Mười, số ít trong những người lãnh đạo, đã đến nhà chùa thắp hương nghiêng mình trước cửa Phật, nhân ngày lễ của đạo Phật. Là lãnh tụ cộng sản, theo chủ nghĩa vô thần, thì cử chỉ ấy là đổi mới, vô cùng cởi mở, thân thiết, chân thành, có sức lôi cuốn, thuyết phục đồng bào theo tôn giáo. Thậm chí cả những người xa lạ chí hướng mà khi tiếp xúc với đồng chí Đỗ Mười thì cũng ít nhiều được cảm hóa. Tôi nghe nói một vị Hồng y giáo chủ ở Vaticăng sang thăm Việt Nam đã thôi không rút ở túi ra một bản danh sách đòi ta giải quyết về nhân quyền nữa, vì những lời lẽ của ngài Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam thật thẳng thắn lại cởi mở, gần gũi, chân thành và có lý lẽ đầy thuyết phục.
Tôi được làm quen, gần gũi, rồi tiếp xúc trực tiếp với đồng chí Đỗ Mười trong vòng 25 - 30 năm nay. Cuối nhưng năm 70, đầu nhưng năm 80 của thế kỷ XX, tôi phụ trách Khoa Kinh tế chính trị, Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Khi ấy, đồng chí Tố Hữu được phân công làm Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Bộ trưởng đã đưa tôi tham gia nhóm nghiên cứu chiến lược kinh tế do đồng chí phụ trách. Đồng chí đã gọi tôi lui tới nhà riêng nhiều lần để trao đổi về tình hình và lý luận, về những vấn đề kinh tế của Nhà nước. Do vậy, có vài lần tôi được tiếp cận đồng chí Đỗ Mười tại nhà đồng chí Tố Hữu vào sau giờ làm việc buổi chiều trong ngày. Trước và sau Đại hội V của Đảng, tôi đã viết nhiều bài đăng trên báo Nhân Dân, trong đó có các bài "Cuộc đấu tranh chống tiêu cực", "Cuộc đấu tranh giữa hai con đường ở nước ta hiện nay", "Kinh tế hàng hóa, kết hợp kế hoạch với thị trường", "Lợi ích kinh tế và thống nhất ba lợi ích", v.v.. Tôi được mấy người bạn ở Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng nói lại là đồng chí Đỗ Mười, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng phụ trách phân phối lưu thông lúc bấy giờ, đã đọc và tán thành, gửi lời động viên, khích lệ tôi rất phấn khởi. Vào những năm 1987-1988, đồng chí Đỗ Mười làm Thường trực Ban Bí thư, thường triệu tập Thành ủy Hà Nội và các ban của Trung ương đến giao ban, nhất là trước và sau những ngày lễ, tết, đồng chí quan tâm lắng nghe phản ánh tình hình tư tưởng và kinh tế - xã hội của Thủ đô. Với tư cách Ủy viên Thường vụ, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội khi ấy tôi có dịp được báo cáo tình hình với đồng chí Đỗ Mười, đồng thời được trực tiếp nghe nhiều ý kiến của đồng chí.
Kể từ tháng 6-1991, đồng chí Đỗ Mười giữ trọng trách Tổng Bí thư của Đảng, tôi có dịp được đồng chí cho tháp tùng một số cuộc thăm và làm việc ở các địa phương, được đồng chí trực tiếp gặp và trao đổi tại phòng làm việc của Tổng Bí thư ở số 4 phố Nguyễn Cảnh Chân, do vậy, tôi có dịp hiểu biết thêm phong cách và đức độ cùng tầm trí tuệ sâu sắc của đồng chí Đỗ Mười. Cùng một vấn đề, đồng chí đã trăn trở, suy nghĩ, lật đi lật lại gợi ý nhiều lần, đặt câu hỏi nhiều lần cho nghiên cứu, với thái độ rất cởi mở, dân chủ, lắng nghe, rất coi trọng thực tiễn, kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, khích lệ đổi mới tư duy, đồng thời cũng rất coi trọng nguyên tắc. Tôi thấy mình được trưởng thành và sắc bén thêm nhiều về chính trị, tư tưởng, lý luận.
Tôi được dự thính theo dõi nhiều phiên họp của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, được nhiều lần gặp, nghe và làm việc với Tổng Bí thư Đỗ Mười. Tôi cũng được tham gia dự thảo các bài khai mạc, bế mạc của Tổng Bí thư Đỗ Mười tại một số Hội nghị Trung ương. Phải nói ngay rằng đồng chí Đỗ Mười ít khi đọc bài viết sẵn mà thường nói vo. Người ta thấy đồng chí nói vo nhưng rất chặt chẽ, lôgích, rất sinh động, càng sôi nổi, càng nói càng hay, càng cuốn hút người nghe. Còn về những bài viết, những dự thảo văn kiện thì đồng chí cũng như đồng chí Đào Duy Tùng (Thường trực Ban Bí thư) thường góp ý kiến về nội dung trước khi dự thảo văn kiện và có phong cách, thói quen xem xét rất tỉ mỉ, cặn kẽ, chú ý từng câu, chữa từng dấu chấm phẩy, bảo đảm tính chính trị thực tiễn và phù hợp với yêu cầu phát triển sáng tạo lý luận. Đồng chí Đỗ Mười minh mẫn, sáng suốt lạ thường, nhanh trí lạ thường, có cái gì đó như khả năng bẩm sinh; có những vấn đề nhạy cảm phức tạp, tế nhị, một số đồng chí tham gia hội nghị thường phát biểu loanh quanh, vòng vo, khá dài, song đồng chí Đỗ Mười đã bắt mạch rất trúng tư tưởng, tâm lý của người phát biểu, rồi kết luận vấn đề rất sắc sảo, thông thường là mọi người "chịu" (nói như từ ngữ bà con miền Nam thường nói). Tôi còn nhớ, sau khi khảo sát và làm việc với nhiều Tỉnh ủy, Thành ủy, xem xét sáu bản dự thảo của trường, viện, học viện, xem xét dự thảo Báo cáo chính trị, sau khi nghe các đồng chí Bộ Chính trị, Ban Bí thư phát biểu, đồng chí Đỗ Mười cho rằng sự chuẩn bị hiện nay là chưa thật đúng, chưa thật trúng, còn xa với yêu cầu của thực tiễn, đồng chí nói Đảng lãnh đạo lúc này là phải bàn về công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phải bàn về quan hệ sản xuất, không như thế thì không còn là lãnh đạo nữa. Sau đó, Tổ biên tập đã viết lại bản dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội VIII làm cho bản báo cáo có hồn, sống động. Vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cùng vấn đề quan hệ sản xuất được quán triệt trong cả phần đánh giá tình hình cũng như phần phương hướng, nhiệm vụ, trong cả xây dựng kinh tế cũng như xây dựng hệ thống chính trị. Những cụm từ như nguy cơ chệch hướng, vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội, kết thúc chặng đầu tạo được tiền đề để bước vào thời kỳ mới - thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa - phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, năm thành phần kinh tế cùng vai trò, vị trí của từng thành phần, thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước, v.v... đã xuất hiện trong Báo cáo chính trị lúc bấy giờ.
Noi gương các đồng chí Tổng Bí thư tiền bối, đồng chí Đỗ Mười với cương vị Tổng Bí thư đã là người đứng đầu thể hiện tính tiên phong của Đảng về phương diện tư tưởng, làm công tác lý luận lớn nhất. Có lý luận để dẫn đường, để làm cơ sở cho đường lối, quan điểm, chính sách và tổ chức hành động đúng đắn. Chỉ trong thời gian ngắn, đồng chí Đỗ Mười đã để lại dấu ấn sâu sắc cho nhũng quan điểm, chính sách và thái độ đúng đắn như: phát huy nội lực là chính, đồng thời tranh thủ ngoại lực, hội nhập mà không hòa tan, đa phương hóa, đa dạng hóa trong hoạt động đối ngoại; Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước, bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ với Mỹ; xây dựng kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt; phát huy dân chủ cơ sở để làm cho Nhà nước trong sạch, vững mạnh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước, Đảng lãnh đạo thì phải nắm người (tức cán bộ), nắm tiền (tức ngân sách, kế hoạch nhà nước), v.v..
Từ khi thôi nhiệm vụ Tổng Bí thư, đồng chí Đỗ Mười đã nói với tôi: "Chú cộng tác với tôi, cùng nhau nghiên cứu những vấn đề lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội của nước ta, về đường lối, quan điểm và chính sách của Đảng...". Vì vô cùng quý trọng và cảm phục đồng chí Đỗ Mười, tôi đã sẵn sàng và dốc lòng thực hiện. Do vậy, trên 10 năm nay tôi càng có dịp tiếp xúc, làm việc trực tiếp với đồng chí Đỗ Mười hằng ngày, hằng tuần, nhiều khi ngoài giờ, có khi cả thứ bảy, chủ nhật. Tôi cảm động và càng quý trọng đồng chí. Tôi nghĩ rằng đồng chí Đỗ Mười là một trong số những người đứng hàng đầu học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, và nói chung cả hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh. Trước hết, đó là tấm gương mẫu mực - cần kiệm, liêm, chính.
Một năm có 365 ngày, trừ lúc ốm đau, còn lại đồng chí Đỗ Mười không nghỉ làm việc một ngày nào. Ở tuổi trên 90 mà làm việc nhiều như đồng chí Đỗ Mười thì cũng thật là hiếm có. Hằng ngày, thức giấc lúc 5 giờ, đồng chí Đỗ Mười nghe những bản tin thời sự của các đài trên thế giới; đến 7 giờ ăn sáng, sau đó ngồi vào bàn làm việc, đọc tài liệu, sách báo; 12 giờ ăn trưa, nghỉ trưa; 14 giờ lại ngồi vào bàn làm việc đọc tài liệu, sách báo; 18-19 giờ dùng cơm tối; khoảng 21 giờ đi ngủ. Sáng, chiều hằng ngày thường có khách là các đồng chí lão thành cách mạng, các đồng chí lãnh đạo các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, các ban, ngành ở trung ương và địa phương, các chuyên gia và các nhà khoa học đến thăm, đàm đạo và tham khảo ý kiến, cũng có cả nhân dân đến thăm và gặp gỡ. Thường những thư từ kiến nghị hoặc khiếu kiện thì đồng chí chuyển lại cho các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể xem xét giải quyết. Trong tuần có hai lần bác sĩ thăm khám sức khỏe. Thỉnh thoảng đồng chí về thăm địa phương hoặc các ngành, các cơ sở theo lời mời của những nơi này. Đó là tóm tắt công việc thường ngày của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười. Ý chí và sức làm việc như vậy tôi nghĩ người trẻ, người khỏe cũng khó theo kịp. Tôi cũng thầm nghĩ, thật là hạnh phúc cho Đảng và nhân dân khi có một đồng chí lãnh đạo cao nhất nghỉ công tác mà nhiều cán bộ và nhân dân vẫn tới thăm hỏi, trao đổi ý kiến ở đây không là quyền lực mà là uy tín, đạo đức và trí tuệ. Đó cũng là phần thưởng cao quý không kém gì huân, huy chương.
Còn về tấm gương tiết kiệm, khi biết thì thật là xúc động. Đến nhà lúc nào cũng chỉ thấy một bóng đèn để bàn có công suất nhỏ, chỉ đủ ánh sáng để một người đọc sách báo mà thôi. Khi cần lắm mới bật đèn sáng trên tường. Mùa hè khi nóng nực, đồng chí cũng chỉ dùng quạt trần hoặc quạt nan. Mãi gần đây mới dùng một máy điều hòa nhiệt độ. Bữa ăn của đồng chí cũng thật đơn giản thường là món đậu phụ, muối vừng và bát canh đồng quê, đôi khi thay cơm bằng bún, miến... Ngày Tết, đồng chí thường tổ chức bữa cơm thân tình trong gia đình với anh em văn phòng bảo vệ và phục vụ. Tất cả những anh chị em đã từng phục vụ đồng chí trong các thời kỳ cũng được mời đến tham dự.
Khi đương chức cũng như khi nghỉ công tác, đồng chí Đỗ Mười thường mong sao nhân dân ta, Đảng và Nhà nước ta tiết kiệm để đầu tư cho phát triển. Đồng chí thường nhận xét hiện nay có một bộ phận trong xã hội tiêu dùng vượt quá trình độ của nền kinh tế, thường nhắc nhở cán bộ tránh biến nước ta thành "một xã hội tiêu dùng". Đồng chí lo lắng nhiều về tình trạng lãng phí tài nguyên, đặc biệt là đất đai - thứ tư liệu sản xuất quý nhất của nước ta. Đồng chí cho rằng những buổi khai trương khởi công, khánh thành, lễ hội là cần thiết, chi phí cho nó là cần thiết, song hiện nay còn tình trạng phô trương hình thức, rất lãng phí.
Trong một chuyến thăm nước ngoài, người ta tặng đồng chí 1,1 triệu USD để dùng khuyến khích hoạt động giáo dục, đào tạo vì biết đồng chí rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Khi về nước, đồng chí đã báo cáo Bộ Chính trị, rồi chuyển cho các cơ quan đảng và nhà nước có trách nhiệm, đề nghị xây dựng một số trường học lớp học ở cả ba miền của đất nước và góp vào Quỹ khen thưởng dành cho học sinh nghèo học giỏi.
Đồng chí Đỗ Mười có một con trai và một con gái, đương nhiên có dâu, có rể và có các cháu nội, cháu ngoại. Tôi nhận thấy các con, các cháu của đồng chí không được hưởng một đặc quyền, đặc lợi, đặc ân gì của Thủ tướng hay Tổng Bí thư cả.
Tôi thật sự quý trọng và cảm phục đồng chí, có thể nói cần, kiệm, liêm, chính đã thành nếp sống, thành máu thịt của đồng chí Đỗ Mười, mà con người đã cần kiệm, liêm, chính thì tất yếu cũng chí công vô tư.
Trách nhiệm của đồng chí với Đảng, với đất nước không chỉ khi còn công tác mà thể hiện tâm huyết, sâu sắc cả lúc đã thôi chức vụ. Đồng chí Đỗ Mười vừa tin tưởng lại vừa lo lắng đến lớp cán bộ lãnh đạo kế nhiệm mình, luôn luôn lo lắng, suy nghĩ về sự nghiệp của Đảng và tiền đồ của đất nước, luôn mong sao các đồng chí lãnh đạo đương chức suy nghĩ và giải quyết đúng đắn những vấn đề chiến lược với tầm cao chính trị... Trong khi tâm nguyện đảng viên cộng sản phải chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, đồng chí đã nỗ lực phấn đấu giữ gìn và phát huy tầm cao của trí tuệ sâu sắc. Người ta đã từng biết đến Ph.Ăngghen ít bằng cấp nhưng vô cùng uyên bác. Đồng chí Đỗ Mười sớm tham gia hoạt động cách mạng nên trình độ học vấn có hạn. Để bù lại, đồng chí đã xả thân trong phong trào cách mạng của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng, "đánh đông dẹp bắc", đâu khó là có mặt, là người "đốc chiến đốc thắng", được Đảng và Bác Hồ giao phó rất nhiều việc, trải qua nhiều chức vụ, nhiều lĩnh vực, đồng thời suốt đời học tập, tự học tập nâng cao trình độ hiểu biết. Về phương diện này, đồng chí cũng đã tiếp thu được giáo huấn của Lênin: "Học, học nữa, học mãi". Nhà đồng chí có ít phòng và không lớn, nhưng đồng chí đã dành một phòng để làm thư viện với hàng vạn tài liệu và cuốn sách. Đồng chí muốn tham khảo vấn đề gì có thể dễ dàng tìm sách. Người ta nói thật chí lý: "Sách là thầy của thầy", có thể tìm thấy ở sách nhiều tri thức của Đảng, của dân tộc, của nhân loại. Một triết lý phương Tây rất đúng: Thông minh là do học tập, thiên tài là do tích lũy. Khi còn công tác cũng như khi thôi nhiệm, hầu như đồng chí vẫn luôn luôn miệt mài đọc sách. Đồng chí từng hỏi nhiều cán bộ cao cấp đã đọc quyển sách này, quyển sách kia chưa? Có nhiều đồng chí đã đáp lại: "Chưa đọc". Với nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu lý luận, tôi đã từng đọc hết bộ Tư bản, đọc hết bộ Lênin Toàn tập (55 tập), đọc nhiều sách báo, có kỹ năng đọc tương đối nhanh và nhiều, nhưng đến nay tôi vẫn chưa hiểu nổi điều kỳ lạ: ở tuổi trên 90, đồng chí Đỗ Mười vẫn thường xuyên đọc sách, thường là để giúp suy nghĩ về những vấn đề chính trị thực tiễn đặt ra. Đồng chí thường trích những ý hay, ý đúng của sách để gửi cho các đồng chí lãnh đạo của Đảng và Nhà nước tham khảo. Bộ sách Tư bản của Mác dày là thế, mà thấy bút tích đánh dấu của đồng chí Đỗ Mười ở rất nhiều trang, có khi ở chương nói về hàng hóa, có khi ở chương nói về tín dụng, ngân hàng, lại có khi về chương địa tô... Những dấu vết chì màu đỏ, màu vàng, màu xanh đồng chí Đỗ Mười đã để lại ở rất nhiều sách, đặc biệt ở các sách kinh điển và sách của Hồ Chí Minh.
Do tổng kết thực tiễn và đọc sách, mà đồng chí đã trao đổi không biết bao nhiêu lần về lý luận với các cán bộ cao cấp, với các cán bộ lý luận. Đồng chí Đỗ Mười đã nhiều lần nói về một sắc lệnh của Bác Hồ ký năm 1947 được in trong một cuốn sách đã xuất bản lâu lắm rồi rằng: "Các doanh nghiệp phải chia lãi cho công nhân". Đây là vấn đề rất sâu về lý luận và thực tiễn. Lý luận của chủ nghĩa Mác đã chỉ rõ tiền lương công nhân, về hình thức thì do chủ doanh nghiệp trả (nếu là quốc doanh thì do Nhà nước trả), nhưng thực chất là công nhân lĩnh cái do chính mình làm ra, và cả tiền lãi nữa cũng do công nhân tạo ra, chứ không phải do tiền tự sinh ra. Vì thế, chia lãi cho cả công nhân mới là công bằng, hợp lý, dĩ nhiên phải có quy định để phân chia sao cho hợp lý giữa người có công và người có của. Vấn đề hay và sâu sắc là thế, Nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã ghi là cần có chính sách quy định thực hành điều sâu sắc đó, nhưng trong tổ chức thực tiễn lại chưa thực hiện được. Đồng chí Đỗ Mười cũng đã từng nhiều lần nói về lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nước muốn độc lập thì phải có công nghiệp nặng, trong đó có vai trò quan trọng của cơ khí, để phát triển công nghiệp, cải tạo kỹ thuật trong nông nghiệp, xây dựng công nghiệp quốc phòng. Đồng chí thường nhận xét hiện nay ta mới chú trọng cơ khí lắp ráp, mà thực chất đó là gia công cho nước ngoài, chứ ít quan tâm xây dựng và phát triển cơ khí chế tạo, đặc biệt là cơ khí nặng. Trong các bài viết, bài nói của mình, đồng chí Đỗ Mười cũng thường nhắc đến luận điểm của Bác Hồ về nhiều thành phần kinh tế và Bác chỉ rõ kinh tế quốc doanh là sở hữu toàn dân, vì thế nó phải giữ vai trò lãnh đạo và Nhà nước phải có chính sách ưu tiên cho nó phát triển. Tiếc rằng trong thực tiễn, chúng ta chưa thật quán triệt đầy đủ. Đồng chí là người đề xuất chủ trương cổ phần hóa một bộ phận doanh nghiệp nhà nước, nhưng đồng chí vẫn lưu ý có sự khác nhau giữa cổ phần hóa tư bản chủ nghĩa và cổ phần hóa xã hội chủ nghĩa, mà đối với chúng ta là thực hành chủ trương và chính sách cổ phần hóa xã hội chủ nghĩa. Đấy là vấn đề vô cùng mới mẻ về lý luận và thực tiễn.
Tôi còn nhớ, hậu quả của chế độ bao cấp lâu ngày dẫn đến thiếu động lực phát triển, thiếu hàng hóa, lạm phát tăng lên lên 700%, giá cả tăng lên vùn vụt từng ngày. Khi giữ trọng trách Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí Đỗ Mười đã thực hành chính sách một thị trường, chuyển cơ chế hai giá sang cơ chế một giá, bù giá vào lương, bỏ chế độ tem phiếu và sổ mua hàng, sổ mua lương thực, không phát hành thêm tiền mà nâng lãi suất tiền gửi ngân hàng để thu tiền về. Đồng thời khuyến khích cán bộ, sinh viên công tác và học tập ở nước ngoài mang hàng về nước, miễn thuế, v.v.. Những chính sách và biện pháp đó cùng với việc đẩy mạnh sản xuất, trước hết là lương thực theo Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị, đã góp phần nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân. Ở đây có nhiều vấn đề lý luận khá phong phú, đa dạng mà chúng ta đang nghiên cứu.
Những ai có điều kiện tiếp cận, gặp gỡ, gần gũi với đồng chí Đỗ Mười đều dễ dàng nhận thấy ở đồng chí một cuộc sống thật giản dị, thanh bạch, trong sáng, khiêm tốn, và cả khoan dung độ lượng, một bộ óc sáng suốt, đầy trí tuệ vì Đảng, vì dân, vì nước, luôn luôn say mê vì sự nghiệp của nước, của dân, của Đảng. Đồng chí Đỗ Mười là một người học trò xứng đáng của Bác Hồ, một con người mà tôi vô cùng quý trọng và cảm phục.
_____________________
* Nguyên Phó Viện trưởng Viện Mác - Lênin - Hồ Chí Minh, Nguyên Thường trực Ban chỉ đạo biên soạn Văn kiện Đảng Toàn tập.
KÍNH TRỌNG MỘT NGƯỜI VÔ CÙNG LIÊM KHIẾT Đại tá TRẦN VĂN XUÂN*
Tôi là cán bộ miền Nam ra miền Bắc tập kết năm 1954. Khi làm Phó Thủ tướng, ông Đỗ Mười, đã giao cho tôi nhiệm vụ tổ chức sơ tán hàng hóa ở các nhà ga tuyến đường từ Hà Nội vào Khu 4. Lúc đó, tôi công tác ở Bộ Tổng tham mưu.
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi được trở về công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh, làm Phó ban Tổ chức Thành ủy.
Ông Đỗ Mười khi đó vẫn là Phó Thủ tướng, được cử vào miền Nam làm Trưởng ban Cải tạo Trung ương; ông Mai Chí Thọ, Bí thư Thành ủy làm Phó ban; tôi cũng được cử sang làm Phó ban.
Ông Đỗ Mười hiểu biết sâu sắc các giai cấp bóc lột ở miền Nam. Ông chỉ đạo sát sao, loại trừ Việt gian, phản động để bảo vệ chính quyền cách mạng còn mới mẻ.
Đối với giai cấp tư sản, ông phân thành hai loại: một là, tư sản yêu nước ủng hộ cách mạng; hai là, tư sản phản động nối giáo, làm tay sai cho Mỹ và chính quyền Sài Gòn.
Ông biết rất rõ đời sống của người công nhân và nông dân, có nhiều cách giải quyết ổn định đời sống cho nhân dân. Thời kỳ đầu cán bộ tham gia Ban Cải tạo còn yếu và thiếu. Trong quá trình cải tạo, ông mạnh dạn bổ sung một số cán bộ cốt cán tham gia cải tạo. Cũng có người sau này cho là ông quá cứng rắn, nhưng thực ra tình hình mới giải phóng phức tạp lắm, không mạnh tay thì sẽ rất khó khăn, vì bọn phản động rất ngoan cố, có âm mưu lật đổ chính quyền cách mạng. Tôi là người gần ông, giúp việc trực tiếp cho ông, tôi thấy ông có công.
Ông là con người có tấm lòng nhân đạo, ông góp ý kiến với Thành ủy để giáo dục, giúp đỡ những người lầm đường, lạc lối thành công dân tốt.
Bà Thanh, vợ ông trước đây làm ở Bệnh viện C (nay là Bệnh viện Phụ sản Trung ương - BT) - Hà Nội, sau này do bị bệnh hen nên chuyển vào công tác ở miền Nam. Hai ông bà sống rất hạnh phúc. Ông không coi trọng địa vị mà coi trọng tình nghĩa. Ông có hai người con là cháu Trung và cháu Thủy. Cháu Thủy ở ngoài Hà Nội để chăm ông, còn cháu Trung vào miền Nam ở. Đám cưới cháu Trung tổ chức rất gọn gàng, đơn giản, giống như dân thường. Khi bà Thanh mất, ông trả nhà cho Nhà nước nhờ tôi mua căn hộ trả chậm cho cháu Trung.
Nhiều đêm tôi nằm suy nghĩ, chỉ cần có những cán bộ gương mẫu, liêm khiết như ông Mười thì đất nước ta không đến nỗi.
Tôi cũng đã 85 tuổi, có 60 năm tuổi Đảng. Bây giờ tôi bị thoái hóa cột sống, lại bị điếc nặng nên cũng ít đi lại. Lương hưu của tôi hơn mười triệu đồng một tháng nhưng ốm đau có Thành ủy lo, hằng năm còn được đi an dưỡng, cũng thấy rất vui.
Ông Đỗ Mười rất quan tâm đến tôi. Năm 2000, tôi đi nước ngoài trị bệnh về, ông từ Hà Nội còn vào thăm tôi: Tôi luôn học tập ông Đỗ Mười, phải luôn luôn giữ gìn danh dự cho Đảng. Những vấn đề bức xúc hiện nay báo chí đăng tải thì cũng là những vấn đề ông Đỗ Mười đã nói từ lâu rồi. Nói là một chuyện nhưng rồi phải làm được mới quan trọng hơn.
Ở đời đã là con người ai cũng có khuyết điểm, nhưng có người ưu điểm nhiều mà khuyết điểm rất ít. Tôi phục ông Đỗ Mười chịu khó đọc sách, Điều lệ Cương lĩnh của Đảng ông thuộc làu.
Tôi kính trọng ông Đỗ Mười lắm vì ông là người rất liêm khiết.
Ngày 3-2-2011
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––––
* Nguyên Phó ban Tổ chức Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh
BÁC ĐỖ MƯỜI MỘT TRÁI TIM THÁNH THIỆN HOÀNG THỊ HIỀN*
Cuối năm 1995, tôi vừa đi lao động ở Liên Xô về thì được một người cháu của bác Đỗ Mười là bạn của tôi giới thiệu tôi với Thủy, con gái bác: Thủy cần người giúp việc gia đình để Thủy đi học. Lúc đó tôi đang ở nhà, tôi đồng ý lên giúp Thủy. Công việc Thủy giao cho tôi là chăm sóc các cháu và quản lý thư viện của bác Đỗ Mười vì trước đây, khi ở địa phương tôi cũng đã làm công việc này. Ít lâu sau, tôi được Ban Tài chính - Quản trị Trung ương trưng dụng làm nhân viên phục vụ phòng lễ tân của ban. Năm đó bác Đỗ Mười vẫn chưa nghỉ, bác chỉ về ăn cơm trưa rồi đi làm, tối về ăn cơm xong là lại đi làm việc ngay, nhiều bữa thấy bác ăn cơm cũng vội. Trong những năm gần đây, bác ở nhà thường xuyên hơn và bây giờ là ở hẳn nhà, tôi mới thực sự hiểu và cảm nhận được tình cảm, sự chăm sóc, lo lắng của bác cho tất cả mọi người tôi mới thấy được phẩm chất đáng quý ở một trái tim chứa chan tình thương yêu vô bờ bến. Tôi không bao giờ quên được, hôm đó trời rất rét, bác vẫn ngồi làm việc như mọi ngày. Tôi thì chạy ra chạy vào lúc thì lấy nước cho khách, lúc thì xem bác có cần gì không. Nhác trông thấy tôi, bác gọi tôi lại rồi bảo:
- Trời rét lắm đấy, sao cháu lại mặc phong phanh thế, có đủ ấm không, bảo Thủy đi mua áo ấm mà mặc.
Tôi cảm động lúng túng nói:
- Dạ, con có đủ áo ấm đấy chứ ạ, tại con đi đi lại lại nên không thấy lạnh lắm. Ông đừng lo cho con.
Bác cười hiền lành nói:
- Cũng đừng chủ quan, để lạnh quá, ốm thì khổ.
Hôm ấy tôi cứ suy nghĩ, cảm thấy như mình có lỗi vậy, vô tình đã để bác phải lo lắng. Rồi thời gian trôi đi từng ngày, tôi thấy bác không chỉ chu đáo lo lắng cho gia đình mình mà bác còn lo lắng, quan tâm rất chân thành đến những người xung quanh. Từ các cô, các chú bảo vệ, nhà bếp đến các thư ký, giúp việc cho bác... Một lần cách đây khoảng hai hay ba năm gì đấy, một buổi sáng cũng vào mùa đông giá rét, bác gọi tôi vào và bảo:
- Đây là chú Phạm Thành giúp việc tài liệu cho tôi. Chú ấy là một trí thức lớn nhưng sức khỏe không được tốt, gia đình gặp nhiều khó khăn. Cháu lên tủ quần áo của tôi tìm lấy một chiếc áo rét mang xuống đây để tôi biếu chú ấy và bảo Thủy chuẩn bị cho tôi chiếc phong bì, tôi biếu chú ấy ít tiền.
Hôm sau, bác còn bảo Thủy con gái bác đưa chú Phạm Thành và con chú ấy đến bác sĩ để chữa bệnh thần kinh.
Tôi vô cùng cảm động và nghĩ, tại sao lại có một người lãnh đạo biết thương yêu, quan tâm, chia sẻ nhường ấy nhỉ. Trên đời này đâu có nhiều người như vậy. Mỗi lần đi công tác về, cứ có bất cứ là quà gì, là bác lại gọi mọi người lại chia quà. Có những lần đi công tác xa hai tuần chẳng hạn, khi về, nhìn thấy mọi người, bác nói đùa:
- Các chú ăn uống thế nào, tiết kiệm hay sao mà nhìn các chú thấy gầy đi thế? Thế là bác bảo người nhà lấy quà của bác cho các chú.
Bác Đỗ Mười rất chăm đi thăm hỏi họ hàng, bạn bè ốm đau dù ở nhà hay ở bệnh viện. Bác luôn nhớ đến những ngày sinh hoặc ngày giỗ của bạn bè hoặc đồng nghiệp đã không còn, nếu bác mệt hoặc ốm không đi được thì bác gửi quà đến.
Những lần tôi ốm, bác đến tận nơi hỏi tôi ốm như thế nào, uống thuốc gì chưa và bảo các chú bảo vệ gọi bác sĩ cho tôi. Bác còn hỏi tôi có ăn được gì không và bảo cô nấu bếp nấu cháo cho tôi. Lúc đó tôi chỉ muốn khỏi ốm ngay thôi. Trong thâm tâm tôi thầm nói: "Bố ơi. Đừng lo gì cho con, đã có Thủy và các cháu rồi. Mai con khỏi ngay thôi".
Tất cả những người xung quanh, kể cả con cháu và những người phục vụ đều được bác chân tình yêu thương như cha đối với con.
Nếu ai mắc khuyết điểm bác chỉ nhẹ nhàng phân tích khuyên bảo cặn kẽ và nghiêm khắc dạy bảo đến nơi đến chốn. Vì vậy chúng tôi - những người phục vụ được sống cạnh bác luôn luôn phải rèn luyện sống có trách nhiệm, có văn hóa trong cách cư xử, biết sửa khuyết điểm khi mắc phải.
Bác đọc rất nhiều sách, đọc một cách say sưa, nghiêm túc, gặp câu nào có ý nghĩa quan trọng là bác lấy bút chì gạch dưới. Bác nói: "Sách là quý giá nhất, tài sản của tôi mà tôi muốn giữ gìn để lại cho con cháu chính là sách".
Thư viện nhỏ của bác là cả một kho tàng tri thức khổng lồ, khoảng gần 10 nghìn quyển sách. Rất nhiều người đến thư viện của bác đều lắc đầu, thán phục. Họ nói rằng: "Cụ Đỗ Mười có một trí nhớ tuyệt vời. Đến nay tuy đã 95 tuổi rồi mà cụ vẫn đều đặn đọc sách phân tích, nói chuyện, xử lý các thông tin quả thật quá sức tưởng tượng của chúng tôi". Tôi nghĩ họ nói quá đúng. Vừa rồi có bác tên là Chiến giờ đã nghỉ hưu ở Hải Dương lên thăm bác Đỗ Mười. Bác Chiến nói: "20 năm nay tôi chưa gặp bác, không biết bác có nhận ra tôi không?". Vậy mà khi bác Chiến vừa vào, bác Đỗ Mười giơ tay bắt và nói luôn không kịp để tự giới thiệu:
- Chào chú chú có khỏe không, đã lâu rồi, tôi không gặp chú, trông chú béo hơn trước nhiều.
Mọi người còn nghi hoặc thì bác Đỗ Mười nói luôn:
- Chú Chiến chứ gì?
Lúc đó mọi người lắc đầu: "Chịu cụ rồi".
Có những ngày tôi thấy bác đăm chiêu không vui, ăn không ngon, có khi cả đêm không ngủ, tôi có hỏi lý do thì bác chỉ nói rằng: Tôi gần trăm tuổi rồi, tôi chết cũng không ân hận, không tiếc điều gì. Tôi chỉ thương dân thôi, công nhân, nông dân cũng vậy, họ nghèo và thật thà lắm. Mấy chục năm nữa họ lấy gì mà sống, lấy đất đâu mà trồng trọt, đất nước ta chủ yếu là đất nông nghiệp, vậy mà bây giờ người ta thuê đất rẻ của họ, làm dự án này nọ. Vài chục năm sau họ sống bằng gì. Tôi lo lắm.
Lúc đó tôi không biết nói gì cả, chỉ biết động viên bác rằng:
- Bác ơi tuổi bác đã cao bồi, nay bác được Đảng và Nhà nước cho nghỉ công tác, đáng ra bác phải được sống an nhàn, vui vẻ hưởng tuổi già cùng con cháu chứ, bác hãy gác lại mọi chuyện, đã có các bác ở trên lo rồi mà. Bác chỉ lắc đầu không nói gì cả. Tôi nghĩ thật xót xa. Bác đã cả đời lo cho đất nước thật trọn vẹn. Khi bác gái mất, một mình bác vừa làm việc lo cho đất nước qua giai đoạn khủng hoảng, vừa làm cha, vừa thay mẹ lo cho các con để trong gia đình các con không cảm thấy thiếu vắng mẹ. Bác dồn tất cả tình cảm, tình yêu thương cho các con các cháu và cho đất nước này.
Tôi thấy bác đúng là một người đầy trách nhiệm với cái tâm trong sáng, với trái tim thánh thiện chứa chan tình yêu thương đất nước, con người.
––––––––––––––––––––––
* Nhân viên Cục Quản trị A, Văn phòng Trung ương Đảng.
ĐẦU NĂM BÀN CHỮ DÂN Nhà báo HỮU THỌ*
Sáng mồng một Tết năm nào tôi cũng xuất hành đến chúc Tết các thầy giáo của tôi, những đồng chí gắn bó với nhau trong hai cuộc kháng chiến và những người đã giúp đỡ tôi trong công tác đang sống ơ Hà Nội, thường là hết cả buổi sáng, rồi buổi chiều mới chúc Tết láng giềng trong khu phố.
Với anh Đỗ Mười, lúc đó là Tổng Bí thư nhưng không vì chức vụ đó mà vì anh là người đã từng là thủ trưởng của chúng tôi trong kháng chiến gian khổ ở Khu Tả Ngạn trong cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp xâm lược. Hai gia đình lại thân nhau như người nhà, cho nên sáng mồng một Tết năm nào tôi cũng đến nhà riêng chúc sức khỏe anh và gia đình. Thông thường thì sáng mồng một Tết anh thường ăn mặc chỉnh tề để tiếp khách thân, rồi sau đó cũng đi chúc Tết các nhà, cho nên đến nơi thường anh đã sẵn sàng quần áo chỉnh tề. Biết như vậy cho nên chúng tôi thường chúc Tết, hỏi thăm dăm ba câu chuyện, ăn mấy miếng mứt đầu năm, rồi chia tay để khỏi làm phiền anh. Nhưng tính anh thường gặp chuyện gặp người thì say sưa trao đổi không dứt ra được.
Tết năm 1996, theo thông lệ tôi đến thăm anh, trong không khí vui mừng vì đất nước đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, bước vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đã 8 giờ sáng rồi mà chưa thấy anh ngồi ở phòng khách. Khi thấy chúng tôi đến anh ở trên gác xuống, nhưng đầu năm lại cầm quyển sách dày. Tôi biết tính anh hay đọc sách, thường dậy sớm để đọc sách, nhưng anh mang sách xuống phòng khách để làm gì, tuy vậy tôi cũng không dám hỏi.
Tôi chúc Tết anh và gia đình, anh cảm ơn, nhưng anh lại chuyển sang câu chuyện khác. Anh kể rằng: Sáng hôm qua, ba mươi Tết, anh đến thăm Quốc Tử Giám, thấy một số người đến xin chữ cụ Lê Xuân Hòa, một nhà thư pháp nổi tiếng, anh cũng rẽ vào xin chữ. Anh cũng định xếp hàng theo thứ tự, nhưng mọi người và cụ Lê Xuân Hòa nhận ra anh cho nên nhường cho anh lên trước. Vả lại mọi người cũng tò mò muốn xem Tổng Bí thư đến xin chữ như thế nào và cụ Lê Xuân Hòa cho Tổng Bí thư chữ gì để treo trong nhà đầu năm. Cũng theo thông lệ, cụ Lê Xuân Hòa hỏi anh: "Thưa cụ, mong ước đầu năm của cụ là gì?". Anh nói: "Tôi chỉ muốn dân giàu, nước mạn!". Thế là cụ Lê Xuân Hòa đỡ tay áo, chấm mực, vê bút rồi hạ tay viết. Viết xong cụ kính cẩn nói: "Xin kính cụ mấy chữ: "Quốc phú, dân cường", chúc ước vọng của cụ thành đạt". Đỡ tờ giấy trên tay, anh thưa lại: "Tôi muốn "dân giàu, nước mạnh" sao cụ lại cho chữ "nước giàu, dân mạnh"?". Cụ Hòa lại nói: "Tôi theo ước vọng của người xin chữ nhưng lại cho chữ thánh hiền. Chữ này là chữ của Nguyễn Trãi". Anh cảm ơn cụ cầm tờ giấy tận tay nhưng lòng vẫn thấy thắc mắc. Thì ra đêm giao thừa, anh ngồi đọc sách, và sáng mồng một Tết thấy nhà báo là tôi đến anh cầm cả quyển sách xuống gặp. Anh kể với tôi chuyện sáng ba mươi Tết rồi nói: "Thọ ạ, đúng là chữ của Nguyễn Trãi. Cụ Nguyễn Trãi đặt nước lên trên, nhưng ta lại đặt dân lên trên thế thì có gì khác nhau, Nguyễn Trãi đúng hay ta đúng?". Anh đưa cho tôi cuốn sách gạch chi chít mực đỏ. Tôi làm nghề báo chuyên đi phỏng vấn đầu năm lại bị phỏng vấn bất ngờ. Không trả lời được gì sẽ "xúi" cả năm. Tôi buột miệng thưa với anh: "Thời Nguyễn Trãi dâng kế sách bình Ngô thì phải đặt nước lên trên như trong kháng chiến ta nêu khẩu hiệu: "Tất cả để chiến thắng". Còn bây giờ hòa bình, thống nhất rồi thì phải đặt dân lên trên. Nguyễn Tãi đúng và ta cũng đúng". Tôi nhanh trí trả lời anh như vậy. Tưởng rằng trả lời thanh thoát, nhưng anh vẫn chưa chịu, nói: "Đây là "Quốc phú", tức là nước giàu cơ mà! Mà Nguyễn Trãi viết sau khi đã chiến thắng xâm lược!". Đến đây thì tôi lúng túng, khó mà trả lời gãy gọn, thẳng băng. Anh em lại ngồi bàn luận với nhau.
Đúng là đất nước đã có hòa bình, độc lập, thống nhất, đã thắng "hai đế quốc to" nhưng còn nghèo, quá nghèo. Mà trong thời buổi này, nước nghèo thì chắc rằng dân cũng nghèo. Trong thời buổi hiện nay, nước nghèo thì không thể mạnh được, đi ra nước ngoài giao dịch sẽ bị coi khinh, bị bắt nạt, cho nên mới phải đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước "sánh vai cùng bạn bè năm châu như lòng mong muốn của Bác Hồ.
Nhưng xét cho cùng thì "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh" (lúc đó chưa có từ dân chủ) là một thể thống nhất. Nhưng đặt dân lên trên cũng là tư tưởng của Nguyễn Trãi, khi cụ dẫn lại câu nói của người xưa: "Chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân". Cho dù có muốn nước giàu thì dân cũng phải mạnh, giàu. Xem ra bàn luận tới đây tuy đã hiểu thêm ra, nhưng chưa thể hoàn toàn làm hài lòng anh. Nhưng lại có khách tới, tôi phải đứng dậy nhường chỗ. Đến bây giờ, tôi vẫn nhớ mãi ngày đầu năm đó, bàn về chữ dân để thấy sức mạnh to lớn có ý nghĩa quyết định là ở dân.
––––––––––––––––––––
* Nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương.
TÔI RẤT TIN TƯỞNG ÔNG Linh mục PHAN KHẮC TỪ*
Thời kỳ là đại biểu Quốc hội tôi hay được gặp ông Đỗ Mười. Mỗi khi Quốc hội giải lao, ông kéo tôi lại hỏi han, trò chuyện rất gần gũi, tình cảm. Ông hỏi: "Bà con Công giáo sao?". Tôi nói: "Báo cáo anh, Công giáo tham gia đóng góp cho Nhà nước tốt".
Ông tỏ ra rất lắng nghe ý kiến của tôi. Chính vì thái độ gần gũi, chân thành ấy nên tôi rất tin tưởng ông. Tất cả những khó khăn của Công giáo tôi thường giãi bày với ông và được nghe những lời khuyên chí tình. Có nhiều lần bà con có đơn khiếu nại, tôi đưa trực tiếp cho ông Đỗ Mười. ông nói: "Việc này tôi sẽ khẩn trương xem xét ngay".
Điều tôi ấn tượng sâu sắc nhất về ông Đỗ Mười là khi ông làm Tổng Bí thư đã cho ra đời Nghị quyết 25 về Công tác tôn giáo. Nghị quyết này có tính lịch sử quan trọng, một bước ngoặt trong nhận thức về công tác Công giáo. Trong nội dung nghị quyết có nhiều nhận định mới về Công giáo, về tính bác ái, từ bị, giúp đỡ người. Điều này khiển người Công giáo rất mừng. Hơn nữa nghị quyết cũng xác định các tôn giáo là tồn tại lâu dài. Do vậy cần phải lo sống chung với nhau, đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng phát triển tồn tại.
Ở miền Nam, phong trào "Kính Chúa yêu nước" phát triển rất mạnh. Hồi chống Mỹ, cứu nước đồng bào Công giáo cùng với đồng bào các tôn giáo khác xuống đường đấu tranh đòi hòa bình. Đồng bào đã được Mặt trận Dân tộc giải phóng đánh giá cao. Giáo hội toàn cầu đã có nhận định là: sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam sống động hơn các nước tư bản.
Thực ra để thúc đẩy khối đại đoàn kết dân tộc không dễ, nhưng chúng ta cần hòa hợp các thành phần dân tộc. Dân tộc nào thì Công giáo cũng cần hòa hợp với nền văn hóa của dân tộc đó.
Ngày nay, Công giáo Việt Nam rất tích cực tham gia hoạt động xã hội. Nghị quyết 25 là cẩm nang vững chắc cho đời sống tinh thần người Công giáo.
Tháng 12-2010
Diệu Ân ghi
CỤ ĐỖ MƯỜI LÀ NGƯỜI CÓ TÂM ĐẠO, ĐỨC LỚN Thượng tọa THÍCH THANH NHÃ*
Hòa thượng Thích Kim Cương Tử là bậc cao tăng Thạc Đức - người đã tham gia ba khóa đại biểu Quốc hội (VIII, IX, X), ba nhiệm kỳ Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam, là thành viên Hội đồng Hòa bình thế giới thành phố Hà Nội, có công lao lớn giữ mối quan hệ giữa Phật giáo Việt Nam và Nhà nước xã hội chủ nghĩa, có uy tín lớn đối với các vị lãnh đạo Nhà nước Việt Nam. Lúc sinh thời của ngài, Tổng Bí thư Đỗ Mười đối với ngài như là bậc tri ân, rất tình nghĩa... Cụ Tổng Bí thư thường xuyên tới thăm ngài tại Tổ đình Trấn Quốc và đàm đạo về nhiều việc có liên quan tới trị quốc an dân. Hai vị luôn hoan hỷ, tâm đắc với nhau. Những ý kiến của Hòa thượng luôn được Tổng Bí thư tán thưởng, cho đó là những ý kiến sáng suốt và chân tình. Ngày 3-1-1993, cụ Tổng Bí thư đến chùa Trấn Quốc lễ Phật và trồng hai cây bách tán, đến nay đã xum xuê to lớn và tươi tốt. Ngày 8-6-1994, cụ Tổng Bí thư và Hòa thượng cùng các vị chức sắc của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam đón các vị hòa thượng đại diện Phật giáo Hàn Quốc tại Văn phòng Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngày 6-10-1995, cụ Tổng Bí thư và Hòa thượng Thích Kim Cương Tử cùng với phái đoàn của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tham dự kỳ họp của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do cụ Chủ tịch ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Lê Quang Đạo mời...
Khi Hòa thượng Thích Kim Cương Tử viên tịch, cụ Tổng Bí thư Đỗ Mười đã viết vào Sổ lễ tang dòng tưởng niệm rất chân tình, chia sẻ với giáo hội, pháp quyến và gia quyến về sự mất mát không chỉ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam mà còn của pháp quyến và thân quyến, đó cũng là sự mất mát của đất nước, đã mất đi vị cao tăng đáng kính, yêu nước, yêu dân. Đến nay đã 10 năm kể từ ngày viên tịch của Hòa thượng Thích Kim Cương Tử, năm nào tới lễ tưởng niệm Hòa thượng, cụ Đỗ Mười đều có lễ vật hoặc lẵng hoa tưởng nhớ công đức của cố Hòa thượng. Việc làm đó của cụ Đỗ Mười đủ đánh giá về công đức lớn lao của cố Hòa thượng Thích Kim Cương Tử đã đóng góp cho đạo pháp và dân tộc. Đó là tấm gương cho hậu thế noi theo để biểu dương công đức Của ngài - người đã trọn đời cống hiến cho đạo pháp và dân tộc.
Riêng đối với Tổng Bí thư Đỗ Mười, lúc sinh thời Hòa thượng Thích Kim Cương Tử xem là người tri âm, tri kỷ, ngài vẫn nhắc nhở lớp hậu sinh: Đó là một bậc lãnh tụ đáng kính vừa có tâm đạo vừa có đức lớn trong đời. Đó mới là lãnh tụ của thời nay, bởi vì ngài luôn luôn quan tâm tới Phật giáo cả nước, tới vận mệnh của quốc gia, dân tộc…
Xin kính chúc ngài thượng thượng thọ vô cương, tiếp tục làm cột trụ vững chắc cho nhân dân và đất nước trong thời hiện đại.
–––––––––––––––––––––––
* Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Phó ban Trị sự Thành hội Phật giáo Hà Nội, trụ trì chùa Trấn Quốc, đệ tử của Hòa thượng Thích Kim Cương Tử.
GẶP GỠ VỚI CỤ ĐỖ MƯỜI – BỨC TƯỢNG SỐNG CỦA LỊCH SỬ MENU JULIEN (PHẠM QUỐC TRỊNH)*
Năm 2008, từ Pháp về thăm gia đình, thân nhân, quê hương và đất nước, tôi đã hân hạnh được gặp cụ Đỗ Mười do được người nhà giới thiệu.
Ấn tượng đầu tiên của tôi về cụ trong lần đầu gặp mặt là cụ có một phong thái rất bình thản, một phong cách giản dị nhưng không thiếu vẻ nghiêm trang và thân thiện, cởi mở. Sau khi đã chỉ cho tôi chỗ ngồi, cụ hỏi thăm sức khỏe của bà cụ thân sinh ra tôi cùng gia đình. Cụ đặt những câu hỏi về bản thân tôi, một người từ xa trở về và tôi đã trả lời: "Người ta thường nói tới hai từ sinh trưởng nhưng riêng cháu đã sinh và trưởng dưới hai chân trời khác nhau, ra đi từ lúc tuổi còn niên thiếu (năm 1955), kể từ khi đó cháu đã phải nhập vào xã hội Tây phương để mưu sinh. Nay cháu trở về nước không mang theo được những thứ vật chất quý báu, nhưng cháu hiểu mình vẫn gìn giữ được một thứ vô cùng giá trị, đó chính là ngôn ngữ, phong tục, tập quán của người Việt. Từ phương xa trở về, đi khắp mọi miền đất nước từ Đồng Văn đến đất mũi Cà Mau, nhưng cháu không hề bị bỡ ngỡ trước quá nhiều sự thay đổi của đất nước và con người Việt Nam. Cháu thiết nghĩ đó mới chính là những quý vật mà cháu đã dành làm quà tặng cho thân nhân và cho Tổ quốc thân yêu. Cháu mang quốc tịch nước ngoài, là công dân Pháp nhưng tổ tiên của cháu là người Việt Nam, cội nguồn của cháu là đất nước Việt Nam". Thấy tôi nói vậy, cụ gật đầu cảm thông, giống như một sự sẻ chia gần gũi.
Ngày nay, luật pháp Việt Nam đã thực thi những điều khoản hết sức ưu ái đối với quyền lợi của người Việt Nam ở nước ngoài, hay người nước ngoài khi tới Việt Nam đều được hưởng quyền lợi giống như người dân trong nước. Do vậy, tôi vô cùng thuận lợi mỗi khi trở về thăm quê hương và thấy hãnh diện vì mình là một Việt kiều.
Gặp cụ lần đầu tiên nhưng tôi có cảm tưởng như gặp một người đã quen biết từ lâu. Khi được nói chuyện lịch sử với cụ, tôi cam thấy dường như mình đang được sống trong những ngày tháng chiến tranh gian khổ và vô cùng ác liệt đó. Tôi tưởng như trước bắt mình đang diễn ra một cuộc tổng tiến công mà ở đó những người con Đất Việt đang dũng cảm ào ạt tiến lên với khẩu hiệu "Nhằm thẳng quân thù mà bắn!", quyết giành cho kỳ được nền độc lập tự do cho dân tộc.
Là một nhà lãnh đạo xuất thân từ giai cấp bình dân trong thời Pháp thuộc, đã quen với lao động vất vả, được đào tạo trưởng thành qua thực tiễn hoạt động cách mạng và trong nhà tù của đế quốc thực dân, tất cả những điều đó đã hun đúc ở người chiến sĩ cộng sản Đỗ Mười những phẩm chất của một người làm cách mạng, đó chính là lòng yêu nước, thương dân, kiên gan, mưu trí và một tinh thần thép trong chiến đấu. Trong quá trình tham gia kháng chiến trường kỳ và gian khổ, người chiến sĩ ấy đã giữ những trách nhiệm quân sự quan trọng trong vùng địch hậu đầy khó khăn mà sau này ở bên Pháp tôi đã có cơ hội được xem trong tài liệu của quân đội Pháp những báo cáo của Tướng Cogny – Tổng chỉ huy quân đội Pháp ở Bắc Bộ hồi đó: "Chúng ta (quân đội Pháp) thường cho rằng ở miền đồng bằng Bắc Bộ có địa hình, địa vật ích lợi cho chúng ta và bản thân tôi là sĩ quan pháo binh tôi đã dùng hỏa lực tối đa để nghiền nát đối phương nhưng không thu được kết quả đáng kể. Họ luồn như lươn đồng, đã nhiều lần chúng tôi bao vây, khép chặt nhưng họ lại luồn thoát và ngạo nghễ tấn công ngay sau lưng ở những vị trí mà chúng tôi không thể ngờ tới. Chúng tôi quay cuồng, chao đảo nhưng bất lực, họ ẩn hiện như ma trơi, ngày nào tôi chưa nhìn tận mắt những người chiến sĩ của Sư đoàn 320, nhất là Trung đoàn 42 dưới sự chỉ đạo của Đỗ Mười được giam giữ bên trong những hàng rào dây thép gai của trại tù binh của Pháp thì tôi ngủ chưa yên". Những hình ảnh đó trong ảo mộng của vị tướng bốn sao của quân đội Pháp đã trở thành ác mộng trái ngược với hy vọng cua ông. Sau này, khi người ta thấy những đơn vị tinh nhuệ những sĩ quan danh tiếng của quân đội viễn chinh Pháp dưới quyền chỉ huy của Tướng Đờ Cátxtơri (De Castries) đã được tập trung trong những trại giam sau những hàng rào tre của Quân đội nhân dân Việt Nam trên các thung lũng Mường Thanh và Hồng Cúm. Đồng thời ngay trên đồng bằng sông Hồng cũng đã xuất hiện một số khá đông các quân nhân thiện chiến của quân đội Pháp bên cạnh các sĩ quan sừng sỏ bị tạm giam trong các làng chiến đấu. Để có được đại thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” phải kể tới những đóng góp của các trung đoàn đồng bằng đã mở những trận tập kích phi thường vào sân bay Cát Bi hay phòng tuyến đường số 5 - mạch máu hậu cần của Pháp cho Điện Biên Phủ. Những chiến công vang dội ấy được thực hiện dưới sự chỉ huy tài tình của Chính ủy Bộ Tư lệnh Khu Tả Ngạn sông Hồng - cụ Đỗ Mười. Với những kinh nghiệm đã từng có trong thực tiễn, cụ Đỗ Mười đã tham mưu trực tiếp về chiến lược và chiến thuật quân sự cho cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là người có đóng góp quan trọng cho đường ống dẫn nhiên liệu chiến lược Bắc - Nam, con đường huyết mạch cung cấp cho tiền tuyến miền Nam kháng chiến, nhằm kết thúc sớm nhất cuộc chiến tranh, tiết kiệm được nhiều sinh lực.
Đất nước Việt Nam đã kiên cường trải qua hai cuộc kháng chiến tàn khốc và ác liệt nhất để phá bỏ xiềng xích và ách đô hộ của Pháp, Nhật, Mỹ xâm lược. Có những lúc vận mệnh của nước nhà ở trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc", nhưng với sự lãnh đạo sáng suốt tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại Việt Nam đã chiến thắng. Sau khi trở về Pháp, mỗi lần thấy cụ Đỗ Mười trên kênh truyền hình VTV4 trong tôi lại hiện lên hình ảnh của một trong những người đại diện cho một thời đại với nhiều biến chuyển lớn lao, có ảnh hương tới số phận của đất nước trong một thời gian ngắn chưa đầy nửa thế kỷ, chưa từng có trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam nói riêng và của nhân loại nói chung. Chiến tranh đã qua đi nhưng những tổn thất mà nó để lại là quá lớn, khiến cho công cuộc khôi phục và xây dựng trong thời kỳ quá độ gặp vô vàn nhũng khó khăn và thử thách, nhất là sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu lần lượt tan rã. Lại một cuộc chiến nữa mà người dân Việt Nam phải gồng mình đứng lên bằng chính nghị lực phi thường của mình. Đảng và những người đứng đầu Nhà nước như cụ Đỗ Mười đã vạch ra những đường lối đúng đắn đưa đất nước vượt qua khó khăn kiến thiết nước nhà ngày một giàu đẹp.
––––––––––––––––––
* Việt kiều ở Pháp
NGƯỜI BẠN LỚN CỦA VĂN NGHỆ Nhà văn HỌC PHI
Nói đến đồng chí Đỗ Mười, người ta thường chỉ nghĩ đến một đồng chí lãnh đạo có đời sống giản dị, trong sáng, có tác phong sâu sát, lúc nào cũng sôi nổi, gần gũi với mọi người. Nhưng còn một điều mà chỉ có anh em trong giới văn nghệ mới biết là đồng chí rất yêu văn nghệ, rất ưu ái văn nghệ sĩ. Đồng chí thường nói: "Việc làm ăn thì khó đến mấy, mày mò mãi rồi cũng ra, khó nhất là chinh phục lòng người, làm cho lòng người quy về một mối. Để làm việc này thì không thể thiếu vai trò của văn nghệ". Xuất phát từ ý nghĩ ấy, mà sau khi được bầu làm Tổng Bí thư Đảng, đồng chí cho thành lập ngay tổ chức tư vấn về văn hóa để giúp Ban Bí thư Trung ương giải quyết các vấn đề về văn hóa, nghệ thuật. Dù bận trăm công nghìn việc, đồng chí vẫn bố trí thì giờ đến họp với anh em để nắm tình hình và cho ý kiến chỉ đạo. Hồi ấy, tình hình văn nghệ rất phức tạp, nhân Đảng có chủ trương đổi mới, một số người đã đi quá trớn, viết sách, viết báo phủ nhận tất cả. Họ nhìn vào đâu cũng chỉ thấy một màu xám xịt. Họ không tin vào chính sách đổi mới của Đảng mà họ cho là đổi giả. Họ đánh đồng các cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân ta với các cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù. Họ nghi ngờ cả lịch sử, không tin có anh hùng dân tộc. Dựa vào câu nói của một nhà văn Pháp: "Dưới mắt kẻ hầu phòng thì không có ai là anh hùng" để định "hạ bệ" các anh hùng dân tộc.
Trước tình hình ấy, có anh em tỏ vẻ nôn nóng đề nghị đồng chí Đỗ Mười cho xử trí ngay, đồng chí nói: "Chuyện này không có gì là lạ. Ở đâu và bao giờ cũng vậy, mỗi khi đất nước có chuyển biến quan trọng thì thế nào cũng có một số người chao đảo. Các thế lực thù địch thường nhân cơ hội kích động thêm, dẫn họ đến những việc làm thiếu suy nghĩ, ở ta thì như hồi 1956-1957. Sau khi Đảng phát hiện sai lầm về cải cách ruộng đất và đề ra chủ trương sửa sai, cũng có một số người nổi lên đả kích Đảng, phủ nhận hết thành quả cách mạng. Phải kiên trì thuyết phục anh em để họ nhận thấy sai lầm của mình mà sửa. Phải nói thẳng, nói thật, về mặt tư tưởng thì phải dứt khoát không thể khoan nhượng được, nhưng phải nói cho có lý, có tình, đừng đao to búa lớn".
Sắp đến Đại hội lần thứ V của Hội Nhà văn Việt Nam, thông thường thì các đồng chí lãnh đạo chỉ đến nói chuyện với anh em trong thời gian hội nghị, nhưng lần này đồng chí Đỗ Mười đề nghị cho gặp anh em trước khi vào hội nghị để tư tưởng có thông thì họp hành mới có kết quả". Tối hôm ấy, anh em đến dự đông đủ tại trụ sở Văn phòng Trung ương Đảng. Bằng giọng nói sôi nổi, nhưng mộc mạc, thân mật, đồng chí kể hết chuyện này đến chuyện khác như nói chuyện với bạn bè chứ không lý luận dài dòng. Về vị trí của nước ta trên trường quốc tế, đồng chí nói: "Tôi vừa đi thăm mấy nước tư bản về. Chúng ta đều biết tư bản họ rất ghét cộng sản, cho chủ nghĩa cộng sản là quái thai của lịch sử, phải bóp chết từ trong trứng. Vậy mà đi đến đâu tôi cũng được họ tiếp đón long trọng, các anh bảo thế có sướng không?". Đồng chí ngừng một chút rồi nói tiếp: nhưng có được cái vinh dự ấy, chúng ta đã phải đổ bao nhiêu xương máu, phải vượt qua bao nhiêu khó khăn, gian khổ để giữ nước và dựng nước... Hôm nọ, tiếp Thượng nghị sĩ Giôn Kery của Mỹ sang thăm nước ta, tôi cũng nói thẳng với ông ta rằng: "Các ông đã gây ra bao nhiêu đau thương, tang tóc cho nhân dân chúng tôi, nhưng bây giờ chiến tranh đã qua, chúng tôi muốn gác lại quá khứ, hướng tới tương lai, để nhân dân hai nước được sống hòa bình, yên vui. Chúng tôi có trêu chọc gì các ông đâu mà các ông cứ luôn âm mưu lật đổ chúng tôi". Giôn Kery lúng túng, không biết trả lời thế nào".
Cứ vậy, trong suốt hai tiếng rưỡi đồng hồ, đồng chí vừa đi, vừa nói, được anh em luôn luôn vỗ tay tán thưởng. Phải nói là nhờ có sự "khai thông" của đồng chí mà Đại hội V của Hội Nhà văn đã thành công tốt đẹp.
Một điều nữa làm anh em đến bây giờ vẫn còn luôn nhắc đến là đại hội đã bế mạc, đồng chí còn giữ anh em ở lại hai ngày để phổ biến Nghị quyết của Đại hội Đảng và cùng anh em trao đổi về công việc của nhà văn: sáng tác, đi thực tế, xuất bản, nhuận bút v.v… Trước thái độ cởi mở khích lệ của đồng chí, anh em đã nói thẳng, nói thật, bộc bạch hết tâm tư, nguyện vọng cùng những khó khăn, vướng mắc của mình trong công tác cũng như trong đời sống. Đồng chí chú ý lắng nghe và ghi nhận tất cả. Việc gì có thể giải quyết ngay tại chỗ thì đồng chí giải quyết, khiến anh em phấn khởi. Nhiều anh em sau khi về địa phương còn viết thư đến cảm ơn đồng chí và đề nghị đồng chí ứng cử Trung ương một khóa nữa.
Đồng chí Đỗ Mười cũng rất quan tâm đến đời sống của anh em văn nghệ. Nhiều văn nghệ sĩ đã được đồng chí đến tận nhà thăm hỏi, đồng chí nào gặp khó khăn đều được giúp đỡ bằng cách này hay cách khác, như thấy anh Nguyễn Đình Thi đi xe máy bị ngã, đồng chí bảo Văn phòng cấp cho anh ấy một chiếc ôtô, hoặc thấy chị Song Kim đã có tuổi, lại bị đau chân, mà vẫn phải hằng ngày lọ mọ xuống dưới nhà đi tiêu, đi tiểu, đồng chí có ý kiến với Bộ Văn hóa làm cho chị một nhà vệ sinh ở ngay trên gác, sát buồng ngủ của chị. Ngoài việc giúp đỡ từng cá nhân ra, đồng chí còn dự định xây dựng một bệnh viện riêng cho văn nghệ sĩ lão thành, nhưng rất tiếc đến nay ý định này chưa thực hiện được.
Sự ưu ái của đồng chí Đỗ Mười đối với anh em văn nghệ sĩ không chỉ thể hiện trong thời gian đồng chí làm Tổng Bí thư, mà còn tiếp tục về sau này nữa, cho đến tận bây giờ. Chỉ tính từ năm 1997 đến nay, đồng chí đã hai lần đề nghị Trung ương trợ cấp cho Hội Nhà văn mỗi lần một tỷ đồng để anh em đi thực tế và giúp các nhà văn lão thành. Đồng chí nói: "Đi lại bây giờ tốn kém, mà anh em văn nghệ sĩ hầu hết đều thu nhập thấp, nếu không có sự hỗ trợ của trên thì sẽ gặp khó khăn trong việc đi thực tế, làm sao mà yên tâm đi và viết được. Nhờ có sự hỗ trợ của Trung ương mà mấy năm gần đây, anh em đi thực tế được nhiều hơn, kết được nhiều hơn có nhiều tác phẩm có giá trị. Trong cuộc thi tiểu thuyết 2 năm 1998-2000 của Hội Nhà văn, có một cuốn đề cập đến những sai lần trong cải cách ruộng đất, anh em không dám quyết định, phải đưa lên xin ý kiến đồng chí. Xem xong, đồng chí nói: "Về cải cách ruộng đất, Đảng đã có kết luận rồi, việc gì phải giấu giếm. Nếu không nói công khai cho mọi người biết thì người ta cũng đã biết, chỉ có cái không biết hết, nên thường suy luận lung tung không lợi". Ý kiến của đồng chí làm anh em yên tâm khi viết về những vấn đề "nhạy cảm".
Cũng phải nói thêm là đồng chí Đỗ Mười rất quý các cháu học sinh, nhất là các cháu học sinh nghèo vượt khó và các cháu khuyết tật. Biết điều này, một nhà công thương lớn của Hàn Quốc đã biếu đồng chí một triệu đôla để đồng chí cho các cháu. Đồng chí cho triệu tập Văn phòng Trung ương cùng với Ban Khoa giáo Trung ương và Bộ Giáo đục họp để bàn chia số tiền này cho các tỉnh. Đến nay, các tỉnh báo cáo về đã xây trường cho các cháu khuyết tật. Ở Hà Nội thì Trường Đại học Sư phạm thành lập một phân hiệu riêng cho các cháu ở trong trường.
Như trên đã nói, đồng chí Đỗ Mười sống rất giản dị. Sau khi được bầu làm Tổng Bí thư, Trung ương định bố trí chỗ ở khác cho đồng chí có đầy đủ tiện nghi hơn rộng rãi hơn, nhưng đồng chí đề nghị cho ở lại nhà cũ, một ngôi nhà giản dị, trong nhà không có đồ gì đắt tiền.. Phòng ngủ của đồng chí chỉ có một chiếc phản gỗ nhỏ. Đêm nào, trước khi đi ngủ, đồng chí cũng ngậm một miếng nghệ để bổ huyết. Sức khỏe đã kém, nhưng đồng chí vẫn làm việc đều để giúp Trung ương hoạch định mọi công việc của đất nước.
ĐỖ MƯỜI, MỘT PHONG CÁCH Nhà văn CHU LAI
Với những yếu nhân của một quốc gia, lâu nay người ta hay đặt cho họ những biệt danh cao quý về tư tưởng hoặc tác phong, nhưng riêng với nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười, tôi được biết nhiều người nhớ đến ông ở góc độ phong cách.
Đó là một phong cách bình dân ấm áp mà ở ông luôn được toát ra đậm nét ở bất cứ chỗ nào. Có lẽ ông là một trong số rất ít người có thể nói vo cả 3 - 4 tiếng đồng hồ, mà lại toàn là những vấn đề lớn lao, vĩ mô. Ông luôn biết biến những điều phức tạp thành ra đơn giản, biết biến cái "trúc trắc" trong chính trị, trong các phạm trù văn hóa, triết học thành những từ dân gian, ông ví Liên Xô sau chính biến năm 1991 như con voi bị bệnh hiểm nghèo.
Ông nói văn nghệ sĩ là hoa của đất, mà đã là hoa thì lúc nào cũng phải tỏa hương thơm. Có cảm giác hết thảy những điều ông nói ra đều xuất phát từ trong trái tim người cộng sản chỉ biết một lòng một dạ vì cuộc sống của nhân dân, vì sự đi lên của xã hội. Có lần ông rủ rỉ: "Tôi biết ngồi đây vẫn có những anh chị chưa hoàn toàn đồng ý với tôi về bản chất của chủ nghĩa xã hội, bản chất của Đảng ta. Vậy tôi xin mời các anh các chị đến phòng tôi, chúng ta uống trà, trao đổi kể cả tranh luận để tìm ra chân lý". Tất nhiên, sau đó những người này có đến, có ngồi cả buổi với ông. Nhưng rồi liệu họ có thấu hiểu mọi điều, mọi nhẽ hơn không, nhưng rõ ràng là họ, vốn dị ứng với quyền lực vô sản chắc cũng thấu hiểu hơn một tấm lòng lãnh tụ.
Lại nhớ trong những trang sử hào hùng chống phong tỏa thủy lôi Mỹ ở khu cảng chiến lược Hải Phòng năm 1972, khi ông là Phó Thủ tướng kiêm đặc trách mặt trận xung yếu này. Người ta kể, có đêm đã khuya lắm rồi, ông vừa bế cháu vừa quát vào điện thoại hỏi xem mật độ thủy lôi Mỹ thả dày đến đâu, ở những cửa biển cửa sông nào, ta có ai hy sinh không và các nhà khoa học, bên hải quân, bên hàng hải đã chế ra thiết bị rà phá được con thủy quái đó chưa?… Tiếng ra lệnh cùng với tiếng trẻ thơ khóc ngằn ngặt trong điện thoại đã vang trên sóng nước chiến tranh một thời và có lẽ còn vang tiếp nhiều thời.
Phó Thủ tướng trong chiến tranh khốc liệt, Thủ tướng trong thời kỳ hậu chiến ngổn ngang và Tổng Bí thư trong giai đoạn bắt đầu đổi mới, dường như số phận dân tộc, lịch sử non sông luôn đặt lên đôi vai ông những trọng trách bản lề mà không phải ai cũng có thể dễ dàng vượt qua. Những năm tháng đó ai cũng hiểu rằng, ông đã bám chắc vào dân, thở hơi thở của nhân dân, vui buồn cùng nỗi niềm với nhân dân nên phải chăng từ chiều sâu nhân văn thăm thẳm đó, cùng với bộ tham mưu dày dạn của đất nước, các phát kiến, đường lối, chủ trương táo bạo nhằm thay đổi cơ bản cục diện kinh tế được ra đời. Lịch sử tạo nên cá nhân và cá nhân cũng làm nên lịch sử có lẽ nằm ở ý nghĩa này.
Là một nhân cách quyết đoán trong những thời khắc quan trọng và nhạy cảm của đất nước, trong đời thường ông lại là một con người duy cảm. Tôi đã đôi lần nhìn thấy ông nghẹn lời khi nói về những mất mát, những nỗi đau da cam, những vấn nạn xã hội đang hoành hành, những hiểm họa thiên tai khắc nghiệt mà người dân ở những vùng bão lũ phải gánh chịu. Như thể ông đang nhận lỗi về tất cả trước quốc dân đồng bào, ông là một nhân cách thủy chung với những con người, với thế hệ cùng thời với mình mà sự đóng góp, công lao của họ với cách mạng không bao giờ ông xao nhãng, bỏ quên. Chiến tranh rồi sẽ thái hòa, nghèo rồi sẽ giàu, đông tàn ắt sẽ sang xuân, mọi sự rồi cũng sẽ qua đi, cái còn lại trường tồn là cái nghĩa cái tình của con người đối xử với nhau.
Ông là một con người tình nghĩa, một phong cách sống chân thành, đằm thắm, hết lòng với con người, với cuộc đời. Vì thế mà hình ảnh ông Đỗ Mười, chắc chắn sẽ còn cháy sáng bền bỉ thật lâu trong tâm khảm nhân dân.
ĐỖ MƯỜI, MỘT TRONG NHỮNG LÃNH TỤ ĐỔI MỚI Ở VIỆT NAM Nhà thơ VĨNH QUANG LÊ
Tổng Bí thư Đỗ Mười là một lãnh tụ của Đảng với những công lao to lớn được khẳng định trong thời kỳ đổi mới. Tên tuổi của ông gắn liền với sự nghiệp biến đường lối đổi mới của Đảng ta thành hiện thực.
Tổng Bí thư Đỗ Mười sinh ngày 2-2-1917, tại xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Ông hoạt động trong phong trào dân chủ từ năm 1936, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương năm 1939, bị Pháp bắt và kết án 10 năm tù giam ở Hỏa Lò - Hà Nội. Tháng 3-1945, ông vượt ngục tham gia giành chính quyền tại tỉnh Hà Đông. Từ năm 1946 đến năm 1955, ông lần lượt giữ các chức vụ: Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Đông, Bí thư Tỉnh ủy kiêm Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Nam Định, Khu ủy viên Liên khu III kiêm Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, phụ trách tỉnh Hòa Bình, Phó Bí thư Liên khu ủy, kiêm Phó Chủ tịch ủy ban kháng chiến hành chính Liên khu III, Chính ủy Bộ Tư lệnh Liên khu III, rồi Bộ trưởng Bộ Nội thương, Bộ trưởng Bộ Xây dựng, Phó Thủ tướng phụ trách xây dựng rồi Thủ tướng và Tổng Bí thư. Ở cương vị nào ông cũng để lại những dấu ấn không phai mờ. Ở tính cách nhiệt tình, cách làm việc với các cộng sự của mình, ông là Tổng Bí thư trưởng thành từ cơ sở.
Những năm 1970, ông xắn quần lội nước cùng với dân, đi vào các khu vực bị úng lụt, xuống đồng cùng bà con khắc phục khó khăn.
Có thể nói, ông Đỗ Mười là người của thực tiễn, dân chủ và công khai, đó là hai phẩm chất quan trọng của ông. Ngày 2-2-1997, ông tròn 80 tuổi, ông vẫn sung sức, trí tuệ minh mẫn. Một số tiến sĩ khoa học và nhiều tổng giám đốc khi nghe Tổng Bí thư Đỗ Mười giảng bài tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (nay là Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) đã thốt lên: "Có lẽ trí tuệ của Tổng Bí thư Đỗ Mười đã thanh xuân hoá. Trong Ghinét chính trị của chúng tôi ông Đỗ Mười là người tiêu biểu nhất ở tuổi 80 vẫn làm việc và làm việc một cách hết mình".
Do những đóng góp to lớn của ông trong thực tiễn, một số nước ở châu Âu và Nam Á có ý định tặng ông bằng Tiến sĩ danh dự. Ông nói với chúng tôi: "Mình học hành từ thực tiễn, người ta tặng bằng Tiến sĩ mà mình nhận thì dân mình cười cho".
Tiếng nói nhẹ nhàng, thân thương của ông nhắc nhở giới khoa học: Hãy đi vào thực tiễn - bởi bằng cấp chỉ xác nhận quá trình tiếp thu kiến thức của mỗi người, còn thực tiễn mới xác nhận năng lực, tài năng của họ.
Tổng Bí thư Đỗ Mười là một nhà cách mạng lớn. Với ông đoàn kết là mục tiêu lớn nhất của đời ông. Ông đã góp phần làm cho Đảng Cộng sản Việt Nam lớn mạnh ở tiêu chí đoàn kết. Ông thuyết phục mọi người đoàn kết bên nhau tiến lên trong cơ chế thị trường.
Vẫn bộ quần áo đại cán giản dị muôn thuở, chỉ những khi tiếp các đoàn khách nước ngoài, ông mới mặc complê. Bộ complê cho ta thấy cương vị nào, trang phục nào cũng phù hợp với ông. Bởi ông là con người phù hợp với mọi hoàn cảnh.
Trong tiến trình đổi mới, Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng là người sáng tạo ra những khẩu hiệu đối ngoại mang đậm bản sắc dân tộc như: "Việt Nam sẵn sàng là bạn với tất cả các nước"...
Người "nhạc trưởng" ấy đã mở ra thời kỳ mới cho đối ngoại Việt Nam, làm cho Việt Nam rực sáng trên trường quốc tế. Mỹ buộc phải xóa bỏ cấm vận Việt Nam chính là bởi sự đổi mới của Đảng ta.
Đối với văn nghệ sĩ và các nhà khoa học trí thức, ông chân tình gặp gỡ họ, tháo gỡ những thắc mắc, khó khăn cho họ như một người anh em chí tình, chí nghĩa... Ông đối thoại với họ, uốn nắn những quanh co, uẩn khúc trong họ, làm cho họ hiểu và yêu thêm đường lối đổi mới của Đảng ta. Tổng Bí thư Đỗ Mười là người rất quan tâm tới khoa học xã hội. Ngoài việc bố trí cán bộ chủ chốt, ông còn dành nhiều thời gian làm việc với các nhà khoa học, lắng nghe ý kiến của họ đóng góp, xây dựng những luận điểm quan trọng những chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ông được giới khoa học nói chung, đặc biệt là khoa học xã hội yêu mến, tin tương và ngưỡng mộ.
Những ngày làm việc với dân, đối thoại với dân ở Hải Dương, Bắc Ninh, Hà Nội ông đã hiểu hết những tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, giải đáp thắc mắc cho họ, đồng thời có những phương sách cụ thể để củng cố chính quyền cơ sở, phường, xã. Hiểu rõ sức mạnh vĩ đại của nhân dân, ông đã thực sự đến với nhân dân, đối thoại với nhân dân. Công việc này không phải ai cũng làm được, bởi vì phải có một trình độ, một lòng yêu mến nhân dân vô bờ mới dám đối thoại cùng nhân dân, cùng nhân dân bàn bạc chính sự.
Tổng Bí thư Đỗ Mười cũng là người đến Quốc Tử Giám thắp nén tâm nhang khẩn cầu cho nền học vấn nước nhà phát triển. Tôn trọng tự do tín ngưỡng của các tôn giáo Việt Nam, ông đã đối thoại cùng các giáo dân tìm ra con đường ngắn nhất kết hợp yêu nước, yêu đời và yêu đạo.
Những tác phẩm của ông được xuất bản trong 10 năm gần đây khẳng định thắng lợi của công cuộc đổi mới khẳng định con đường đi tới tương lai của Việt Nam là đúng đắn, không có một kẻ thù nào có thể đảo ngược được. Các bạn Cuba, Lào, Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên đến khảo sát, học tập những bài học đổi mới của Việt Nam, một lần nữa khẳng định công lao của Tổng Bí thư Đỗ Mười.
Tám mươi năm đã qua, cuộc đời của Tổng Bí thư Đỗ Mười là một trong những nhà đổi mới hàng đầu của nước ta, một nhà cách mạng không ngừng cống hiến cho sự nghiệp của nhân dân Là học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông Đỗ Mười là nhà nhân đạo lớn một người đêm khiết, chí công vô tư mang đầy đủ bản sắc Việt Nam.
Cuộc đời của ông mãi mãi giúp cho chúng ta hiểu sâu sắc hơn những giá trị nhân bản của dân tộc ta, để chúng ta có được những bài học sáng giá cho hôm nay và cho mai sau.
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI – NGƯỜI LÃNH ĐẠO BẢN LĨNH, TẬN TỤY, NĂNG ĐỘNG, HẾT LÒNG VÌ SỰ NGHIỆP CỦA ĐẢNG VÀ NHÂN DÂN Nhà báo NGUYÊN TỬ NÊN*
Cuối năm 1979, tôi được Tổng Giám đốc Thông tấn xã Việt Nam cử làm phóng viên chuyên trách thông tin về hoạt động của Phó Thủ tướng Chính phủ Đỗ Mười, khi đó đang phụ trách các lĩnh vực: công nghiệp, xây dựng cơ bản và phân phối lưu thông; trong đó phân phối lưu thông được coi là mặt trận nóng bỏng lúc bấy giờ. Tôi tháp tùng Phó Thủ tướng Đỗ Mười cho đến khi đồng chí giữ trọng trách Tổng Bí thư của Đảng, tuy có một khoảng thời gian gián đoạn do điều kiện công tác của tôi nhưng nếu tính đủ thì cũng gần 10 năm và là nhà báo có thâm niên đi theo đồng chí lâu nhất. Trong gần 10 năm đó, tôi đã có mặt trong hầu hết các hoạt động của đồng chí và đã hoàn thành nhiệm vụ cơ quan giao, được đồng chí tin yêu và quý mến...
Những năm tháng đi theo đồng chí Đỗ Mười, tôi đã trưởng thành rất nhiều về tư tưởng, đạo đức và tác phong của người làm báo; đồng thời cũng học được ở đồng chí những phẩm chất đáng quý của người cán bộ cách mạng: trung thành, ban lĩnh, tận tụy, năng động, sáng tạo và hết mình vì sự nghiệp của Đảng và nhân dân. Đặc điểm của nước ta trong những năm 80 của thế kỷ XX là vừa ra khỏi chiến tranh, kinh tế - xã hội đang đứng trước những khó khăn và thử thách lớn đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân phải chung sức chung lòng vượt qua để không những đứng vững, mà còn tiếp tục phát triển và đi lên đáp ứng yêu cầu mới của cách mạng và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại bằng chính sức mình và bước đi thích hợp do mình lựa chọn. Cũng như nhiều đồng chí lãnh đạo khác của Đảng và nhà nước, đồng chí Đỗ Mười đã làm việc với tinh thần trách nhiệm cao nhất của người lãnh đạo, người đầy tớ của nhân dân trong việc chỉ đạo, điều hành lĩnh vực mình phụ trách; đồng thời góp phần cùng các đồng chí khác của Đảng và Chính phủ nghiên cứu, xây dựng các chính sách phát triển cho những năm tiếp theo. Đến nay, nhiều chính sách được thai nghén và manh nha từ những năm đó đang phát huy tác dụng trong công cuộc xây dựng và phát triển của đất nước ta trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một đặc điểm nổi bật ở đồng chí Đỗ Mười là trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng bình tĩnh chủ động, kiên trì và sáng tạo từ tư duy đến hành động; đi đôi với thực hiện phương châm sâu sát, cụ thể tôn trọng và lắng nghe ý kiến của các tầng lớp nhân dân", từ đó tạo ra những thuận lợi và thời cơ mới để thực hiện tốt nhiệm vụ tạo niềm tin và sức mạnh cho mình.
Trong những năm 80 của thế kỷ XX, nước ta luôn trong tình trạng "đói" điện, đòi hỏi phải tập trung xây dựng và sớm đưa một số nhà máy điện vào sản xuất. Đồng chí Đỗ Mười, với tư cách là tổng chỉ huy của mặt trận này đã làm việc hầu như không có ngày nghỉ. Đồng chí trực tiếp đi khảo sát địa điểm xây dựng nhà máy, làm việc với các ngành có liên quan, các nhà khoa học để tìm ra các phương án xây dựng tốt nhất. Có thời kỳ sức khỏe đồng chí không được tốt, mất ngủ triền miên, nhiều đêm phải dùng thuốc an thần liều cao nhưng cũng chỉ ngủ được 3, 4 giờ. Tuy vậy, trong tất cả những ngày nghỉ chủ nhật, ngày lễ, ngày tết đồng chí vẫn có mặt trên các công trường xây dựng, từ thủy điện Trị An đến Phả Lại, Uông Bí, Hòa Bình, vùng mỏ Quảng Ninh... Đồng chí Đỗ Mười xuống tận hiện trường xem xét tại chỗ những khó khăn đang ảnh hưởng đến tiến độ thi công, hỏi chuyện công nhân và các chuyên gia rồi đưa ra những ý kiến chỉ đạo cụ thể, sát thực, hiệu quả. Đã không ít năm, đồng chí cùng làm việc và ăn Tết với công nhân các mỏ than ở Quảng Ninh, công nhân trên các giàn khoan dầu của mỏ Bạch Hổ, Vũng Tàu vào đêm giao thừa và ngày mồng một Tết.
Cũng trong những năm 80 của thế kỷ XX, miền Bắc thiếu lương thực gay gắt, trong đó Thủ đô Hà Nội có thời kỳ dự trữ gạo không được quá một tuần. Đồng chí Đỗ Mười luôn day dứt trước một thực tế là nước ta là nước nông nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long rộng lớn là vựa lúa của cả nước, nhưng Việt Nam lại luôn ở trong tình trạng thiếu đói. Từ những suy tư, những day dứt không nguôi đó, đồng chí Đỗ Mười tập trung công sức, trí tuệ chỉ đạo thực hiện tốt chỉ tiêu nhập khẩu lương thực đã được Nhà nước cho phép và tổ chức việc thu mua, xay xát và vận chuyển lương thực từ miền Nam ra miền Bắc. Đồng chí và một số cán bộ giúp việc vào miền Nam và làm việc không mệt mỏi tại hầu khắp các tỉnh trồng lúa ở đồng bằng sông Cửu Long thâm chí "nằm vùng" tại một số tỉnh huyện và xã trọng điểm để nghiên cứu tình hình sản xuất nông nghiệp những thuận lợi và khó khăn về mua lúa, những vấn đề đặt ra về kho bãi chứa lúa, về tổ chức xay xát và vận chuyển lúa gạo và cả nhu cầu mua sắm của nông dân sau khi có tiền bán lúa trong đó vấn đề nổi cộm là giá mua lúa chưa hợp lý, chưa bảo đảm hài hòa được lợi ích giữa nông dân và Nhà nước. Từ những thực tế này, đồng chí trực tiếp đối thoại với nông dân, bàn với chính quyền, các ngành ở địa phương lần lượt tháo gỡ, qua đó tạo ra những thuận lợi mới để nông dân yên tâm bán lúa cho Nhà nước. Kết quả là nhiều năm liên tục, miền Bắc đã vượt qua nạn đói lương thực và từng bước có dự trữ. Cũng qua thực tế chỉ đạo thu mua và vận chuyển lương thực, đồng chí Đỗ Mười đã chỉ đạo bãi bỏ các trạm kiểm soát có tính chất "ngăn sông, cấm chợ", từng bước tạo điều kiện cho việc mở rộng thông thương hàng hóa nông sản.
Với bản lĩnh của người lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo và điều hành sản xuất một số ngành kinh tế trọng điểm, đồng chí Đỗ Mười sâu sát với thực tế sản xuất và đời sống, làm việc không biết mệt mỏi, chân thành lắng nghe ý kiến của người lao động, từ đó tạo sức mạnh mới đủ sức vượt qua những khó khăn, thử thách đang đặt ra của sản xuất và đời sống; đồng thời tạo ra những nhân tố mới để phát triển. Đó là những năm cuối thập kỷ 80 của thể kỷ XX, với cương vị là Thủ tướng Chính phủ, đồng chí đã quyết định dành trọn 20 triệu USD từ nguồn vốn vay ODA của Chính phủ Italia cho ngành dâu tằm tơ, mà không chia nhỏ cho một số ngành như đề nghị của bộ chủ quản. Với nguồn vốn này, Tổng Công ty Dâu tằm tơ Việt Nam đã đầu tư khai hoang, trồng dâu, mua thiết bị ươm tơ, dệt lụa hiện đại, mở ra hướng đi mới cho ngành dâu tằm tơ theo con đường công nghiệp hóa. Đồng chí Đỗ Mười cũng chỉ đạo hai ngành công nghiệp và nông nghiệp nghiên cứu và sớm hình thành các vùng trồng cây bông vải tập trung ở Nam Trung Bộ nhằm tự túc một phần bông xơ đang phải nhập của nước ngoài…
Đồng chí Đỗ Mười là người sống giản dị, tiết kiệm và chan hòa với mọi người. Đồng chí từ chối việc cung cấp điều hòa, đệm mút của Văn phòng, từ chối cả việc đổi chiếc ô tô đồng chí sử dụng khi vào miền Nam công tác lấy chiếc xe mới hiện đại hơn. Bộ Chính trị quyết định cho đồng chí sử dụng máy bay theo chế độ chuyên cơ như các đồng chí lãnh đạo cao nhất của Đảng, Nhà nước trong những lần đồng chí ra vào miền Nam huy động lương thực, nhưng đồng chí yêu cầu các đồng chí Hàng không Việt Nam xếp khách đủ số ghế còn lại của chuyến bay đó để không lãng phí phương tiện của Nhà nước. Và gần như thành nếp trước mỗi chuyến bay, đồng chí đều kiểm tra và chỉ cho phép cất cánh khi không còn một ghế trống. Những người giúp việc như anh em chúng tôi hầu hết đều có gia đình ở Hà Nội và khẩu phần lương thực những năm đó đều theo chế độ tem phiếu. Tuy vậy, mỗi chuyến từ miền Nam ra, đồng chí chỉ cho phép mỗi người được mua 10 kg gạo mang theo và không phải chuyến nào cũng được phép mua; trong khi đó đồng chí lại nhắc bác sĩ Viện Quân y 103 đi theo mua hộ cho các thầy thuốc ở viện này một ít gạo. Tôi còn nhớ một kỷ niệm có liên quan đến việc mua gạo trong chuyến đi làm việc tại Tây Nguyên. Lần ấy, các đồng chí ở Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai có mua hộ anh em trong đoàn mỗi người 10 kg gạo vì biết Hà Nội đang thiếu gạo. Biết việc này, đồng chí Đỗ Mười phê bình gay gắt, đồng chí nói: nhà nước phải mua và vận chuyển mấy trăm cây số mới đưa được vài chục tấn gạo lên cho đồng bào, thế mà các anh lại mua gạo ở đây mang về... Đồng bào sẽ nghĩ như thế nào về tôi và các anh". Chúng tôi coi đây là một bài học bổ ích đối với mỗi người. Đồng chí Đỗ Mười luôn nhắc nhở cán bộ giúp việc là những người đi theo tránh làm phiền hà cho các cơ sở khi đến làm việc, không được nhận quà biếu dưới bất cứ hình thức nào và đồng chí thường xuyên kiểm tra việc này. Khi đi làm việc với các địa phương và cơ sở ở miền Bắc, xong việc dù muộn đồng chí cũng về, chứ không ở lại gây phiền hà và tốn kém cho cấp dưới. Yêu cầu này đã được thực hiện đối với cả những lần đi công tác ở miền Nam.
Với tôi, đồng chí Đỗ Mười còn là một tấm gương sáng về học tập. Học tập để nâng cao trình độ, có thêm kiến thức đối với đồng chí vừa là nhu cầu, vừa là công việc tự nhiên trong đời sống hằng ngày. Cùng với việc đúc kết kinh nghiệm qua thực tiễn, đồng chí dành thời gian cho việc đọc các sách kinh điển của Mác, Ăngghen và Lênin về kinh tế và quản lý kinh tế. Những cuốn sách này, đồng chí luôn mang theo và đã tranh thủ đọc khi có thời gian rảnh rỗi dù chỉ là rất ít khi ngồi trên máy bay, lúc ô tô lưu thông lên đường… Cách đọc ấy và những cuốn sách ấy đã giúp cho đồng chí có điều kiện bù lại những kiến thức mình còn thiếu trong quá trình thực hiện nhiệm vụ.
Sẽ là một thiếu sót nếu không nói đôi điều về sự quan tâm của đồng chí Đỗ Mười đối với báo chí. Tôi thật sự biết ơn đồng chí về những điều đồng chí chỉ bảo đối với công tác thông tin ngay từ những ngày đầu tôi đi theo để thực hiện nhiệm vụ mà cơ quan giao. Đồng chí luôn nhắc tôi phải từ góc độ của cơ quan thông tin chính thống của Nhà nước mà xác định nội dung cần thông tin, mức độ cần thông tin và đối tượng được hưởng thụ những thông tin để từ đó đưa thông tin cho trung thực, chính xác và kịp thời. Đồng chí cũng nhắc không phải thông tin về hoạt động của đồng chí ở cơ sở mà là thông tin về những điều họ quan tâm đã được người thay mặt Chính phủ giải đáp như thế nào từ những phát biểu của chuyến đi đó. Đồng chí Đỗ Mười có nếp quen là trực tiếp xem tin do phóng viên viết chứ không giao cho trợ lý và những người giúp việc khác. Đồng chí cũng yêu cầu phóng viên phải viết và đưa tin cho đồng chí xem trong thời gian sớm nhất. Đồng chí đã nhiều lần để chậm bữa ăn trưa và ăn tối vì ngồi lại xem tin cho phóng viên kịp phát về các báo. Qua xem tin, những chỗ nào thấy chưa đạt yêu cầu, đồng chí cùng phóng viên trao đổi và sửa chữa ngay nhằm bảo đảm chất lượng các bản tin. Đã không ít lần đồng chí yêu cầu người lái xe của mình xuống tận nhà báo cho tôi ngày hôm sau có mặt ở nhà đồng chí để đi công tác ở miền Nam (do chiều hôm trước chưa báo kịp) hoặc yêu cầu Văn phòng bố trí xe đón riêng tôi để kịp đoàn trong một chuyến đi thăm miền Trung bị bão lụt…
Từ năm 1992, tôi không được tháp tùng đồng chí Đỗ Mười nữa, nhưng những gì thuộc về phẩm chất của người cán bộ cách mạng cùng những chỉ bảo của đồng chí về nghiệp vụ báo chí mãi có giá trị đối với những năm tháng sau.
––––––––––––––––––
* Phóng viên Thông tấn xã Việt Nam
ĐỒNG CHÍ ĐỖ MƯỜI VỚI TIẾN TRÌNH CỔ PHẦN HÓA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC Nhà báo THU THÀNH*
Chiều muộn ngày 3-10-2000, tôi đi làm về, thấy mảnh giấy của con trai đặt lên bàn làm việc, ghi: Có bác tên là Kính điện thoại nhắn đầu giờ sáng mai 4-10, có mặt tại cổng Bộ Nông nghiệp ở dốc Ngọc Hà để gặp đồng chí Đỗ Mười.
Sáng hôm sau trời mưa to, đường trơn trượt, tôi có mặt tại cổng Bộ Nông nghiệp, một người chờ sẵn ở cổng dẫn tôi lên hội trường. Ở đó, bốn hàng ghế kê theo hình chữ nhật mọi người đã ngồi kín chỗ. Cố vấn Đỗ Mười ngồi giữa hàng ghế phía đầu hội trường, tay cầm tờ báo Nhân dân đang trao đổi ý kiến với Bộ trưởng Lê Huy Ngọ.
Hơn 8 giờ, cố vấn Đỗ Mười đứng dậy hỏi: "Nhà báo Thu Thành có mặt chưa?". Tôi đứng dậy thưa: "Em đây!".
Thế là liền một mạch cố vấn say sưa giới thiệu về công tác cổ phần hóa doanh nghiệp trong đó dành khá nhiều thời gian đọc những đoạn viết trong bài báo của tôi nhan đề "Về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước - thực trạng, kiến nghị và giải pháp" đăng trên trang nhất báo Nhân dân, ngày 30-9-2000. Chính nhờ bài báo này mà đồng chí cố vấn biết và triệu tập tôi đến cuộc họp. Thật sung sướng, cảm động và kính phục: Một đồng chí nguyên Tổng Bí thư, là Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng tâm huyết với công việc cổ phần hóa đọc kỹ từng bài báo đến thế!
Ngay sau cuộc họp đó, đồng chí Đỗ Mười đề nghị tôi báo cáo với cơ quan để tham gia vào tổ giúp việc Cố vấn ở 11 Phạm Đình Hổ. Thế là gần 8 năm liền tôi được tháp tùng đồng chí Đỗ Mười đi khắp mọi miền đất nước nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, đề xuất, kiến nghị, viết bài cho báo Đảng về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thời kỳ 2000-2007. Đồng chí luôn dặn chúng tôi: Phải nắm chắc các nghị quyết của Đảng về kinh tế. Phải hiểu thật sâu sắc mục tiêu của cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là huy động thêm vốn, đổi mới phương thức quản lý để tạo hiệu quả kinh tế, động lực phát triển; xác định quyền làm chủ thật sự của người lao động và vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sơ. Cổ phần hóa không phải là tư nhân hóa. Trong quá trình tiến hành cổ phần hóa không nên sao chép, rập khuôn cái đã có ở nước này, nước khác mà cần chắt lọc cái hay, cái tích cực của nước người, cộng với cái ưu việt của ta để tạo ra mô hình cổ phần hóa Việt Nam theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng chí ví quá trình thực hiện cổ phần hóa của ta giống như người chống gậy lội nước, vừa đi vừa dò đường, để cuối cùng tìm ra con đường tốt nhất.
Tôi không bao giờ quên hình ảnh đồng chí Đỗ Mười tuổi ngoài tám mươi, dò từng bước trên các cây cầu khỉ để đến với bà con nông dân đồng bằng sông Cửu Long; giữa đời đông rét buốt, đứng trên những cánh đồng mía bạt ngàn ở miền tây tỉnh Thanh Hóa để nghiên cứu mô hình Công ty cổ phần mía đường Lam Sơn; mùa hè nóng bức, nhễ nhại mồ hôi vào từng phân xưởng thăm hỏi đời số của của từng người lao động sau cổ phần hóa, v.v..
Trong nhiều buổi làm việc với các tỉnh ủy, thành ủy: Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng; Nam Định, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Hậu Giang (cũ), Bạc Liêu, Tây Ninh,...; với các bộ: Xây dựng, Tài chính, Công thương, Nông nghiệp,...; với các ban: Đổi mới quản lý doanh nghiệp của Chính phủ, Ban Kinh tế Trung ương, … chúng tôi nhận thấy đồng chí Đỗ Mười rất quan tâm đến các vấn đề về xác định giá trị doanh nghiệp, tỷ lệ vốn nhà nước, quyền làm chủ của người lao động, vai trò lãnh đạo của Đảng trong các công ty cổ phần.
Về định giá tài sản doanh nghiệp nhà nước, theo đồng chí, phải tính đúng, tính đủ. Đây là nguồn của cải vô cùng quý giá do nhiều thế hệ người Việt Nam đổ xương máu, mồ hôi tạo dựng nên. Không nên định giá theo kiểu khép kín, bỏ qua hoặc xem nhẹ giá trị quyền sử dụng đất, lợi thế địa lý, thương hiệu sản phẩm. Thật là bất hợp lý khi các doanh nghiệp, nhất là các cơ sở thương mại, nhà hàng, khách sạn có tên tuổi một thời, nằm giữa trung tâm đô thị sầm uất mà chỉ có giá trị vài tỷ đồng. Không thể chấp nhận có không ít doanh nghiệp nhà nước vừa tiến hành cổ phần hóa xong, đưa cổ phiếu lên sàn chứng khoán đã có giá cao gấp 5 - 7 lần giá trị ban đầu. Cần kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ, đưa những yếu tố nói trên vào giá trị doanh nghiệp và thực hiện bán đấu giá khi tiến hành cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.
Theo đề án cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thời điểm năm 1999 - 2000 quy định: Tỷ lệ vốn nhà nước trong các công ty cổ phần phải đạt mức bình quân 30% vốn điều lệ, nhưng trên thực tế con số này đạt thấp hơn nhiều và có nguy cơ ngày càng giảm sút. Đồng chí Đỗ Mười rất trăn trở, bức xúc trước thực trạng này. Trong nhiều buổi làm việc với các cấp, các ngành, đồng chí nhấn mạnh vai trò của sở hữu vốn nhà nước trong các công ty cổ phần, nhất là trong các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả cao, đóng góp nhiều vào ngân sách nhà nước; các doanh nghiệp sản xuất thiết yếu, quan trọng phục vụ dân sinh an ninh, quốc phòng; các doanh nghiệp có vị trí quan trọng về kinh tế - xã hội của các địa bàn dân cư, v.v.. Ở những doanh nghiệp này nhất thiết Nhà nước phải chiếm tỷ lệ vốn lớn hoặc là cổ đông đặc biệt. Có doanh nghiệp Nhà nước nắm 100% vốn, có doanh nghiệp nắm trên 50%, có doanh nghiệp nắm dưới 50% vốn. Chỉ có làm như vậy thành phần kinh tế quốc doanh mới giữ được vai trò chủ đạo, dẫn dắt các thành phần kinh tế khác đi theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đồng chí Đỗ Mười đặc biệt quan tâm đến quyền làm chủ, đời sống, việc làm của người lao động trong quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Qua khảo sát hàng trăm doanh nghiệp nhà nước tiến hành cổ phần hóa, đồng chí thấy số đông công nhân, viên chức được mua cổ phần ưu đãi nhưng không đủ tiền mua hoặc chỉ mua một phần. Một số mua hết tiêu chuẩn nhưng sau đó do hoàn cảnh kinh tế khó khăn lại bán đi. Một số không ít người lao động bán cổ phần theo kiểu "bán lúa non". Những công nhân, viên chức mới tuyển vào công ty thì không được mua vì cổ phần bán theo tiêu chuẩn số năm làm việc tại doanh nghiệp. Trong khi đó, một số ít người nhiều tiền ra sức mua gom cổ phiếu, trở thành cổ đông lớn, nắm quyền điều hành doanh nghiệp, dần dần biến doanh nghiệp nhà nước thành doanh nghiệp của số ít người nhiều tiền. Đại đa số người lao động do không sở hữu cổ phiếu trở thành người làm thuê, triệt tiêu quyền làm chủ thực sự của người lao động - động lực phát triển công ty cổ phần. Để bảo vệ quyền làm chủ của người lao động, đồng chí Đỗ Mười nêu ra nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp rất khả quan hợp tình hợp lý là trích một phần lợi nhuận doanh nghiệp (lúc đó gọi là vốn tự có) mua hết cổ phiếu ưu đãi cho người lao động. Số cổ phiếu này giao cho Công đoàn của doanh nghiệp giữ, không được bán, người lao động hằng năm chỉ được nhận cổ tức.
Việc dành một phần lợi nhuận chia cho người lao động đã được Bác Hồ nói đến trong một sắc lệnh được ban hành ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công. Hoặc là dùng quỹ phúc lợi, bán chịu cổ phiếu cho người lao động, kèm theo đó là những quy định rằng buộc người lao động không được bán cổ phiếu, v v…
Khi làm việc với các đồng chí trong đảng ủy, chi ủy tại các doanh nghiệp cổ phần hóa về vai trò lãnh đạo của tổ chức đảng ở cơ sở tất cả đều chung câu trả lời: Nhiều đồng chí lãnh đạo tổ chức cơ sở đảng ở doanh nghiệp không có tiền mua hết số cổ phiếu ưu đãi, hoặc cố gắng thu xếp, vay mượn người thân cũng chỉ mua được một số lượng cổ phiếu khiêm tốn, không thấm tháp gì so với vốn điều lệ doanh nghiệp. Trong khi đó điều lệ các công ty cổ phần lại quy định, người tham gia Hội đồng điều lệ phải có cơ số cổ phiếu tối thiểu từ 1 - 4% vốn điều lệ, có nơi quy định đến 10%. Với quy định này, đương nhiên đảng ủy viên, đảng viên nghèo, khó có thể tham gia Hội đồng quản trị mà mọi quyền quyết định sự hoạt động của doanh nghiệp lại đều nằm trong tay các thành viên Hội đồng quản trị và đại hội cổ đông (biểu quyết theo vốn góp). Đồng chí Đỗ Mười nói vấn đề này phải báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các ban chức năng của Đảng để tìm ra các giải pháp tháo gỡ. Ý kiến riêng của đồng chí là vai trò lãnh đao của Đảng, quyền làm chủ của người lao động chỉ có thể được thực hiện khi phần vốn nhà nước trong các công ty cổ phần chiếm tỷ lệ chi phối, hoặc người đại diện vốn nhà nước tại doanh nghiệp là cổ đông đặc biệt. Cổ phần của người lao động không được bán, do doanh nghiệp trích từ lợi nhuận, quỹ phúc lợi mua được coi như sở hữu nhà nước tại doanh nghiệp quản lý.
Gần 8 năm theo đồng chí Đỗ Mười, những ý kiến, tư tưởng chỉ đạo của đồng chí về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã ngấm vào khối óc, trái tim tôi. Nó tạo nên những tác phẩm báo chí mang sức sống mãnh liệt từ cuộc sống và góp phần bổ sung đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước ta. Bốn năm liền tôi đoạt giải báo chí quốc gia, một giải Nhất và ba giải Nhì. Xin cảm ơn đồng chí và mãi mãi ghi nhớ những kỷ niệm đã qua – những năm đầu của tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở nước ta.
––––––––––––––––––
* Nguyên Phó Tổng Biên tập Báo Nhân dân
BÁC ĐỖ MƯỜI VỚI QUÊ TÔI Nhà văn - Nhà báo MINH CHUYÊN*
Bác Đỗ Mười là một trong những người có nhiều tri kỷ, tri âm với mảnh đất Thái Bình quê tôi. Khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đã lan rộng khốc liệt ở các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, bác Đỗ Mười đã về hoạt động ở vùng Quỳnh Côi - Thái Bình. Đó là những năm 195l – 1953. Những người dân được sống gần bác kể: Bác Đỗ Mười rất mưu trí và làm việc hết mình Bác đã từng đóng vai người nông dân qua hết làng này sang làng khác hoạt động để che mắt địch. Ông Nguyễn Lộc xã Quỳnh Sơn là một gia đình cơ sở của bác nói: "Hồi đó đi ra khỏi làng, bác Đỗ Mười thường gánh hai bó rọ cá rô để che mắt bọn mật thám. Hôm thì bác vác các đòn càn, có đeo cái hái, đầu đội nón lá, trông như một lão nông tri điền". Bà Phấn ở xã Quỳnh Nguyên là một gia đình cơ sở cưu mang bác Đỗ Mười trong nhiều năm. Khi bác Đỗ Mười về thăm, và hỏi: "Bác còn nhớ mùa hè năm 1952 không? Hồi đó bác bị ốm nặng mà vẫn cứ làm việc. Sau ốm nặng hơn không đi được, chú Khâm, chú Chiến cần vụ phải cõng bác mà bác vẫn không chịu nghỉ".
Bà cảm động nói tiếp: "Sau vận ốm đó, tóc bác trùm gáy, mẹ em (bà Hựu) đi tìm chú Mộc là đảng viên trung kiên đến cắt tóc cho bác. Bác Thảo một người bạn của bác đến thăm, bác Thảo vừa gội đầu cho bác vừa nói mãi bác mới chịu nghỉ ít ngày".
Sự tận tình làm việc đến quên mình của bác Đỗ Mười khi ấy làm nhiều người dân Quỳnh Nguyên cảm động, kính nể. Một con người từng gắn bó máu thịt với mảnh đất này và mảnh đất này cũng bao dung, đùm bọc coi bác như ruột thịt của quê hương... Khi là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng, chỉ trong hai năm bác Đỗ Mười đã về thăm và làm việc với Đảng bộ và nhân dân tỉnh Thái Bình hai lần. Lần thứ nhất vào ngày 17-2-1994, lần thứ hai vào ngày 14-2-1996. Vẫn đức tính làm việc hết mình như hơn 40 năm trước. Ở tuổi ngoài 70, nhưng sức làm việc của bác thật phi thường. Về Thái Bình có ngày tới mười mấy cuộc tiếp xúc, thăm hỏi, nói chuyện, ngày làm việc tới 12 giờ. Nghe bác nói, nhìn phong độ say sưa, tận tình, nhìn nỗi lo âu, trăn trở trên gương mặt, nhiều người bảo bác Đỗ Mười làm việc bằng tâm mình, bằng trách nhiệm lớn với dân, với Đảng nên mới có nghị lực phi thường như thế. Cả hai lần về Thái Bình bác đều biểu dương và khẳng định: Đảng bộ và nhân dân Thái Bình có truyền thống đấu tranh cách mạng, có nhiều cố gắng trong công cuộc xây dụng, bảo vệ, phát triển kinh tế. Nhưng bác cũng không quên nhắc nhở cán bộ đảng viên phải cố gắng nâng mức ăn, mức sinh hoạt của nhân dân lên. Trách nhiệm, tình thương và sức làm việc đã để lại những dư âm sâu nặng nghĩa tình sau mỗi lần bác Đỗ Mười về thăm quê tôi.
Không chỉ quan tâm tới đời sống của người nông dân, mà với những văn nghệ sĩ, bác Đỗ Mười cũng hết lòng chân tình. Với tôi một nhà văn, có lẽ suốt đời làm nghề cũng không thể nào quên được một lần được bác quan tâm đến. Lần ấy, tôi viết bút ký Thủ tục làm người còn sống đăng trên báo Văn nghệ và báo Thái Bình tháng 3-1988. Ngay sau đó bao nhiêu sóng gió dồn dập đến với tôi. Khi đó bác Đỗ Mười là Thường trực Ban Bí thư, đã đọc bài ký này và trực tiếp gửi hai bức điện cho Tổng cục Chính trị (Bộ Quốc phòng) và Thường trực Tỉnh ủy Thái Bình. Nội dung bức điện: "… Đề nghị các đồng chí xác minh rõ bản chất nội dung sự việc nêu trong bài ký Thủ tục làm người còn sống và báo cáo về Ban Bí thư…". Thế là công việc xem xét bài ký được diễn ra rất khẩn trương. Chỉ trong hai tháng các cuộc điều tra xác minh được tiến hành và sau bảy cuộc họp, trao đổi qua lại sự việc bài ký đã kết thúc. Tôi cứ ngỡ cuộc đời cầm bút của mình chấm hết từ đây. Không ngờ, sóng gió đã qua. Tôi được coi là người có công phát hiện.
Đến nay tác phẩm này đã được Nhà xuất bản Hội Nhà văn in lại lần thứ hai trong tập Người không cô đơn của tôi. Tháng 2-1996, trong một chuyến bác Đỗ Mười về Thái Bình làm việc, tôi được đi theo đoàn của bác để làm báo. Tôi đã nhờ anh Phạm Tầm (Vụ trưởng Vụ Địa phương của Văn phòng Trung ương cùng đi giới thiệu với bác và trân trọng tặng bác tập truyện Người không cô đơn, trong đó có tác phẩm Thủ tục làm người còn sống. Sau khi nhắc tới bức điện của bác đề cập bài ký tôi cảm kích thưa với bác Đỗ Mười: "Nhờ sự công minh sáng suốt của Đảng và sự quan tâm sâu sát của bác ngày ấy, cháu mới được gặp bác ngày hôm nay, mới có được cuốn sách này ra đời. Cháu ơn chân thành cảm ơn bác".
Bác Đỗ Mười đỡ cuốn sách, mỉm cười. Một nụ cười bao dung và nhân từ mà tôi còn nhớ mãi.
NHỚ MỘT LÂN BÁC ĐỖ MƯỜI VỀ THĂM HỢP TÁC XÃ DUY SƠN II PHẠM VĂN DU*
Dưới sự chỉ đạo của Đảng, cùng với phong trào hợp tác hóa nông nghiệp đang phát triển rầm rộ trên toàn tỉnh, Hợp tác xã nông nghiệp Duy Sơn II được thành lập vào tháng 10-1978, là hợp tác xã nông nghiệp thuộc vùng miền núi của huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng (cũ). Qua những năm tháng đầu đi vào làm ăn tập thể, đội ngũ cán bộ, xã viên hợp tác xã đã từng bước vượt qua những bỡ ngỡ, tháo gỡ khó khăn phát huy hết lợi thế ngay trên vùng đất bán sơn địa hoang vu, khô cằn và còn nhiều bom mìn của cuộc chiến tranh chống đế quốc Mỹ để lại.
Đồng chí Lưu Ban, Chủ nhiệm đầu tiên của hợp tác xã cùng Ban Quản trị và những người dân am hiểu từng mảnh đất, khe suối nơi đây đã tiến hành nhiều cuộc họp thảo luận việc có nên làm thủy điện hay không? Cuối cùng, hợp tác đã đi đến quyết định táo bạo là phải làm thủy điện.
Bên cạnh sự đồng tình ủng hộ hết mình của bà con xã viên và nhân dân trong địa bàn, Khoa Điện - Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng đã giúp địa phương đo đạc, khảo sát địa hình, lưu lượng dòng chảy... và thiết kế trạm thủy điện có công suất 400kW. Ngày 3-2-1982, hợp tác xã tiến hành khởi công xây dựng công trình thủy điện Duy Sơn II, đây là mốc son mở ra thời kỳ phát triển mới của hợp tác xã. Trong những tháng năm ấy, Duy Sơn II đã được đón nhận nhiều tình cảm cao quý và thân thương của nhiều đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, trong đó đặc biệt nhất là tình cảm của bác Đỗ Mười đã khắc sâu trong ký ức của cán bộ, nhân dân và xã viên hợp tác xã.
Tháng 5-1983, khi công trình thủy điện đã khởi công và xây dựng hơn một năm, nhân chuyến thăm và làm việc tại tỉnh Quang Nam - Đà Nẵng, bác Đỗ Mười, khi đó là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, cùng lãnh đạo của tỉnh đã về thăm hợp tác xã, thăm công trình thủy điện Duy Sơn II. Là người đã trực tiếp chỉ đạo nhiều công trình thủy điện lớn của đất nước, nhưng khi nghe tin Duy Sơn II là hợp tác xã đầu tiên dám làm thủy điện, bác Đỗ Mười khoát tay nói với mọi người là muốn trực tiếp vào thăm hiện trường thi công công trình thủy điện Duy Sơn II. Đứng trên công trường còn ngổn ngang, bề bộn, bác Đỗ Mười luôn chăm chú lắng nghe lãnh đạo huyện, xã và hợp tác xã báo cáo về những kết quả và khó khăn, vướng mắc trong việc thi công công trình thủy điện. Bác Đỗ Mười rất vui và cảm phục tinh thần dám nghĩ, dám làm của hợp tác xã. Bác tìm hiểu tỉ mỉ từng khâu công việc, động viên đội ngũ công nhân tích cực hăng say lao động. Với cương vị của một người lãnh đạo đứng đầu Chính phủ, bác Đỗ Mười đề nghị thực hiện cơ chế cho hợp tác xã được tiếp cận nguồn vốn vay của ngân hàng. Đây là lần đầu tiên ở nước ta, có cơ chế cho hợp tác xã vay vốn tín dụng ưu đãi để làm thủy điện. Bác còn chỉ đạo các bộ, ngành của Trung ương kịp thời giải quyết cho hợp tác xã 15 tấn dây điện AC50 và trên 30 tấn xi măng, sắt thép, bảo đảm việc thi công thủy điện Duy Sơn II.
Sau khi có ý kiến chỉ đạo cụ thể và sát sao của bác Đỗ Mười, đồng chí Nguyễn Xuân Phúc (lúc bấy giờ là Phó Chánh Văn phòng ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng, nay là Phó Thủ tướng Chính phủ), đã hết sức quan tâm chỉ đạo và hướng dẫn hợp tác xã làm các thủ tục cần thiết, giúp hợp tác xã sớm được nhận nguồn vốn vay từ ngân hàng để phục vụ kịp thời việc thi công công trình thủy điện, cũng như lập hồ sơ trình các bộ, ngành Trung ương cho tiếp nhận vật tư thiết bị, là quà tặng của Bác Đỗ Mười dành cho Duy Sơn II. Chính nhờ những tình cảm ưu ái và kịp thời nói trên, không bao lâu sau lần về thăm của bác Đỗ Mười, vào ngày 22-12-1983, ngọn điện thể hiện ý chí con người chinh phục thiên nhiên đã bừng sáng lên đỉnh đồi núi Chóp Xôi, Ba Ao lịch sử. Đúng ngày 1-1-1984, công trình thủy điện Duy Sơn II chính thức được khánh thành và đưa vào vận hành thời gian thi công rút ngắn được gần 1 năm.
Phát huy thành quả ban đầu đạt được, hợp tác xã đã nhanh chóng đầu tư hệ thống đường dây, trạm biến áp, đưa điện về khắp các thôn xóm trên địa bàn toàn xã Duy Sơn và các địa phương lân cận như các xã Duy Tính, Duy Trung. Nhờ có nguồn điện ổn định, người dân Duy Sơn phát triển thêm các ngành nghề mới như dệt vải, may mặc, mây xe..., giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động dôi dư, đồng thời, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ thuần nông sang công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn theo chủ trương, đường lối của Đảng đề ra. Không dừng lại ở đó, hợp tác xã tiếp tục đầu tư lắp đặt thêm hai tổ máy 800kW và l.000kW, nâng công suất trạm thủy điện lên 2.200kW. Dòng điện Duy Sơn II cũng được hòa chung vào lưới điện quốc gia, đưa về nhiều địa phương khác vào ngày 2-9-1990.
Với những thành tích xuất sắc trong xây dựng và phát triển, năm 1985, đồng chí Lưu Ban, Chủ nhiệm hợp tác xã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Hợp tác xã Duy Sơn II được nhận Huy chương Vàng về làm thủy điện vừa và nhỏ. Tính đến nay, hợp tác xã đã vinh dự được đón nhận nhiều phần thưởng cao quý như: Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2001), Huân chương Độc lập hạng Ba (2005), Huân chương Độc lập hạng Nhì (2011), cùng nhiều huân, huy chương, cờ thi đua xuất sắc của Nhà nước, Chính phủ và các bộ, ngành Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam, huyện Duy Xuyên …
Nhớ lời căn dặn của bác Đỗ Mười, cũng như các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Chính phủ, như nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, nguyên Chủ tịch nước Võ Chí Công, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang... khi về thăm hợp tác xã, Duy Sơn II luôn phát huy truyền thống đã đạt được, ngày càng làm thay đổi rõ nét bộ mặt nông thôn miền núi, xứng đáng với niềm tin yêu của cả tỉnh, cả nước dành cho.
Cứ mỗi lần có dịp về thăm hợp tác xã, Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc luôn nhắc nhở lãnh đạo hợp tác xã về mong muốn của bác Đỗ Mười, là làm sao phát huy hết tiềm năng hiện có, phát huy hiệu quả công trình thủy điện, mang lại cho xã viên đời sống ngày thêm giàu có. Qua Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, bác Đỗ Mười cũng ân cần gửi lời thăm hỏi, động viên cán bộ, xã viên hợp tác xã giữ gìn truyền thống, vươn lên đạt nhiều thành tích lớn hơn nữa.
Duy Sơn II luôn khắc sâu ấn tượng về chuyến thăm của bác Đỗ Mười và hứa sẽ luôn là chỗ dựa vững chắc đối với xã viên, công nhân lao động trong toàn hợp tác xã.
––––––––––––––––––
* Chủ nhiệm Hợp tác xa Duy Sơn II, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.
BÁC ĐỖ MƯỜI VỚI PHONG TRÀO HỢP TÁC XÃ NGUYỄN THỊ NGHĨA*
Vào năm 2000, chúng tôi được thông báo bác Đỗ Mười, nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đến thăm siêu thị Co.op Mart và Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh. Vào thời điểm đó, Liên hiệp chúng tôi mới có 4 siêu thị Co.op Mart với quy mô còn nhỏ bé đang trong thời gian thử nghiệm. Chúng tôi vừa mừng vừa lo, nhưng mừng là chính vì chúng tôi hiểu bác Đỗ Mười luôn dành cho hợp tác xã những tình cảm tốt đẹp từ lâu rồi, nhất là vào thời điểm mà phong trào hợp tác xã chưa thật sự phục hồi sau thời kỳ khủng hoảng.
Bác Đỗ Mười đến thăm siêu thị Co.op Mart Cống Quỳnh, siêu thị đầu tiên của Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh và cũng là niềm tự hào của các hợp tác xã mua bán Thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi đón tiếp bác trong một không gian chật hẹp, chưa đến 40m2, mọi người nửa đứng nửa ngồi tại văn phòng siêu thị, nhưng thật ấm áp, thân tình. Bác đi xem khu tự chọn, hỏi han tỉ mỉ về nguồn hàng, hỏi xem siêu thị có mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất hay mua từ chợ bán buôn. Bác tỏ ra thích thú khi biết những hàng bán trong siêu thị Co.op Mart có một phần quan trọng mua từ các nhà sản xuất đạt tiêu chuẩn "Hàng Việt Nam chất lượng cao". Bác hỏi thăm các nhân viên siêu thị về công việc, về thu nhập và nhắc phải quan tâm phục vụ tốt khách hàng. Anh em nhân viên ai cũng muốn gặp và chụp ảnh lưu niệm với bác nhưng chúng tôi phải sắp xếp để bác đến văn phòng Liên hiệp gặp gỡ với các cán bộ quản lý chúng tôi. Thật lòng chúng tôi cũng muốn "khoe" với bác cơ ngơi khá khang trang của chúng tôi. Trong không khí thật vui vẻ, ấm áp, chúng tôi sôi nổi trả lời những câu hỏi bác nêu mà không chút e dè. Bác hỏi:
- Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh có phải là một tổ chức hợp tác xã không?
Tôi mạnh dạn thưa rằng Liên hiệp đúng là hợp tác xã vì nó hoạt động theo Luật hợp tác xã.
Bác Đỗ Mười cười vui vẻ và nói rằng:
- Sau khi Nhà nước ban hành Luật hợp tác xã thì có rất nhiều tổ chức hợp tác xã được thành lập, nhưng tôi nhận thấy nó chưa thật sự là hợp tác xã. Vậy chị cho tôi biết Liên hiệp của chị nó khác gì với những tổ chức ấy?
Tôi thưa rằng:
- Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh từ khi thành lập đến nay đã xây dựng được quỹ tích lũy không chia, là nguồn vốn quỹ quan trọng nhất để kinh doanh và tái đầu tư mở rộng. Hằng năm, căn cứ vào lợi nhuận, Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh đều dành phần lớn để xây dựng quỹ tích lũy không chia, phần chia cho các hợp tác xã trên vốn góp, mặc dù vẫn cao hơn so với lãi suất ngân hàng nhưng chiếm tỷ trọng không lớn. Cháu hiểu rằng một tổ chức kinh tế có phải là hợp tác xã không thì cần xem hợp tác xã đó có xây dựng quỹ tích lũy không chia không.
Sau khi nghe tôi trình bày, đôi mắt bác Đỗ Mười sáng lên, giọng bác sang sảng, rõ ràng:
- Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh đúng là một tổ chức hợp tác xã, sự khác nhau giữa hợp tác xã và không phải hợp tác xã là ở quỹ không chia.
Bác Đỗ Mười giải thích thêm:
- Quỹ không chia là thể hiện bản chất xã hội của hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể của hợp tác xã. Quỹ không chia ngoài việc sử dụng để kinh doanh và tái đầu tư còn để phục vụ cho các nhiệm vụ xã hội nhằm giúp đỡ các hợp tác xã khác và thực hiện các hoạt động đem lại lợi ích cho người dân, cho cộng đồng, góp phần xây dựng xã hội ngày càng văn minh, giàu đẹp. Đảng chủ trương xây dựng và phát triển hợp tác xã nhằm giúp cho nông dân, cho người lao động có một tổ chức để liên kết hợp tác, giúp nhau cùng làm ăn sinh sống có lợi hơn là làm ăn, riêng lẻ hoặc làm thuê. Các đồng chí cần phải nhớ điều này: nếu hợp tác xã không quan tâm đến lợi ích người lao động, lợi ích xã viên thì hợp tác xã không thể tồn tại, nhưng để làm được điều này thì hợp tác xã phải kinh doanh có lãi. Liên hiệp của các đồng chí làm rất tốt, cần phải củng cố vững chắc để ngày càng lớn mạnh, có khả năng giúp các hợp tác xã nhỏ vươn lên góp phần làm cho phong trào hợp tác xã Thành phố Hồ Chí Minh ngày càng vững mạnh, đóng góp cho sự phát triển của nền kinh tế thành phố và đất nước.
Đã 10 năm qua, nhưng chúng tôi không quên được những lời chỉ bảo của bác Đỗ Mười khi bác đến thăm Liênn hiệp chúng tôi và những lần chúng tôi đến thăm bác khi bác vào Thành phố. Có một lần bác Đỗ Mười hỏi thăm chúng tôi có khó khăn lắm không khi các tập đoàn bán lẻ nước ngoài vào Việt Nam. Chúng tôi thành thật báo cáo bác Đỗ Mười về những mặt còn yếu kém của hệ thống siêu thị Co.op Mart so với siêu thị nước ngoài. Bác động viên chúng tôi hãy tự tin và cố gắng thực hiện tốt việc phục vụ khách hàng, phục vụ người lao động. Nếu quan tâm đến nhu cầu và lợi ích của khách hàng thì khách hàng sẽ không bỏ ta. Chúng tôi luôn ghi nhớ và nhắc nhở đội ngũ cán bộ, công nhân viên quan tâm điều này.
Hiện nay, hệ thống siêu thị Co.op Mart sắp đạt kế hoạch có 50 siêu thị Co.op Mart ở hầu hết các tỉnh, thành phố miền Nam và tại Thủ đô Hà Nội. Không chỉ là con số 50 so với 4 siêu thị ngày nào bác Đỗ Mười đến thăm, mà còn là sự trưởng thành về mọi mặt của một hệ thống siêu thị Việt Nam, được người tiêu dùng tin tưởng, mến yêu về phong cách phục vụ ân cần, niềm nở, về sự quan tâm đến chất lượng hàng hóa như đã cam kết nhất là về sự phát triển và trưởng thành của đội ngũ cán bộ quản lý ngày càng trẻ trung, năng động, chuyên nghiệp hơn nhưng vẫn giữ được tâm huyết và trách nhiệm với hợp tác xã. Đội ngũ nhân viên với gần 9.000 người sẵn sàng có mặt phục vụ khách hàng.
Không những thế, Liên hiệp chúng tôi đang nung nấu ước vọng có mặt khắp các tỉnh thành để mang siêu thị hợp tác xã đến gần người dân hơn, thực hiện nhiệm vụ bình ổn giá, giúp người lao động có được những hàng hóa chất lượng, phù hợp khả năng mua sắm trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và Việt Nam đang gặp nhiều biến động.
Sự phát triển của Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hố Chí Minh - Saigon Co.op luôn nồng ấm sự tin yêu và ủng hộ của các đồng chí lãnh đạo của Đảng ở Trung ương và địa phương, đặc biệt là đồng chí Đỗ Mười và đồng chí Võ Văn Kiệt.
_____________
*Nguyên Chủ tịch Hội đồng quản trị - Tổng Giám đốc Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nguyên Chủ tích Hội đồng quản trị - Tổng Giám đốc Liên hiệp Hợp tác xã thương mại Thành phố Hồ Chí Minh
NHỮNG CẢM XÚC VỀ MỘT NHÀ LÃNH ĐẠO TÀI BA Dược sư NGUYỄN VĂN TÂM - PHI LONG*
Những ngày này cả nước rộn ràng kỷ niệm 36 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, chúng ta không quên công lao của biết bao anh hùng, chiến sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Chúng ta cũng không quên công lao của những cán bộ lãnh đạo tài trí đã lăn lộn để đưa đất nước vượt qua những tháng năm khó khăn. Một trong những cán bộ lãnh đạo để lại ấn tượng sâu sắc là Nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười. Qua nhiều sách mà tôi từng đọc, qua thông tin và nhiều câu chuyện kể... tôi được biết thêm nhiều về ông, một nhân cách lớn, một cán bộ lão thành, kiên định, đầy năng lực của Đảng ta.
Cả cuộc đời ông là một quá trình chiến đấu kiên cường, lao động không mệt mỏi vì nền độc lập, tự do chủ nghĩa xã hội của dân tộc. Tham gia cách mạng từ khi còn rất tre, năm 24 tuổi, ông đã sớm nếm mùi lao khổ khi bị giặc Pháp bát và bị kết án 10 năm tù. Chính nhà tù là nơi giúp ông nuôi dưỡng ý chí rèn luyện thêm lý luận cách mạng.
Ông đã đảm trách nhiều nhiệm vụ rất đa dạng: Từ những hoạt động khẩn trương trong cuộc vận động Tổng khởi nghĩa, làm Bí thư nhiều tỉnh thời kháng chiến, phụ trách quân sự và chính trị ở quân khu…
Trong chiến tranh ông từng là Tư lệnh và Chính ủy các quân khu vùng đồng bằng Bắc Bộ, ông đã chỉ huy đập tan các cuộc càn quét lớn của thực dân Pháp vào những năm 1949 - 1953. Là một cán bộ tài trí, mưu lược, trong bối cảnh giặc Mỹ thả bom khốc liệt tại miền Bắc, ông đã đề ra những giải pháp tối ưu nhằm bảo đảm nhu cầu cung ứng cho chiến trường miền Nam, góp phần đưa cuộc chiến đến thắng lợi vẻ vang.
Trong công tác chính quyền, ông từng đảm nhận chức vụ từ Thứ Trưởng, Bộ trưởng, Trưởng ban Thanh tra Chính phủ, Trưởng ban Vật giá Chính phủ, Phó Thủ tướng, Thủ tướng Chính phủ. Công việc nào được phân công, ông đều ngày đêm lăn lộn, nỗ lực hoàn thành tốt. Ông là con người làm việc hết sức mình, không quản ngày đêm, giờ giấc. Ở nơi nào nóng bỏng nhất, công việc nào khó khăn nhất là ông đều có mặt...
Năm 1991, Liên bang Xô viết tan rã. Một thời điểm cực kỳ khó khăn của Đảng ta nói riêng và phong trào cộng sản thế giới nói chung. Với trách nhiệm của một Tổng Bí thư ông đã khẳng định năng lực chèo lái con thuyền của Đảng ta qua cơn sóng dữ. Trước những thử thách của thời cuộc ông đã biết tập hợp lực lượng của toàn Đảng, toàn dân. Thống nhất được tư tưởng, hành động, kiên định con đường đổi mới song toàn Đảng, toàn dân.
Ông là người có công lớn đối với những thành tựu trong công cuộc đổi mới cơ chế kinh tế và kiện toàn hệ thống chính trị, đưa nền kinh tế Việt Nam hội nhập với khu vực và thế giới.
Đối với những thành tựu trên mặt trận ngoại giao ông là người góp phần không nhỏ, ông có những câu nói nổi tiếng: "Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy với tất cả các nước trên thế giới"; "xóa bỏ hận thù, khép lại quá khứ, nhìn về tương lai"... ông có công nối lại quan hệ hữu hảo với Trung Quốc, bình thường hóa quan hệ với Mỹ và quyết định gia nhập ASEAN. Từ những đường lối cởi mở ông đã làm bộ mặt đất nước khởi sắc.
Thương dân, gần dân, luôn lấy dân làm gốc là quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của ông.
Ông luôn quan tâm đến những hoàn cảnh khó khăn, những khúc mắc, khiếu nại của đồng bào đồng chí ông dành thời gian để lắng nghe, tiếp xúc, đối thoại và tập trung giải quyết đúng nguyên tắc, có lý, có tình. Những năm ông làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, ông thể hiện năng lực của một cán bộ quyết đoán, có vốn kiến thức kinh tế sâu sắc, phong phú, nhạy bén và đã thành công trên mặt trận chống lạm phát năm 1989 ông chủ trương xóa bỏ chế độ tập trung quan liêu bao cấp, nạn ngăn sông cấm chợ. ..
Ông coi trọng sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo và xem đây là động lực quan trọng thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước là điều kiện để phát triển nguồn nhân lực - yếu tố cơ bản để phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững.
Rất ham học, ham đọc là đức tính của ông. Thông minh, tự học với một sự cố gắng không mệt mỏi đã giúp ông đạt tới một trình độ hiểu biết cao và toàn diện. Với nguồn kiến thức ấy, ông đã biết định hướng, lựa chọn những giải pháp khả thi, đặt nền móng cho sự phát triển ngành công nghiệp dầu khí theo hướng hiện đại hóa với tinh thần "phát huy nội lực" thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam tiến lên.
Ông không bao giờ thỏa mãn, bao giờ cũng muốn làm hơn những gì mình đã làm được.
Trong Đảng, ông như một cây đại thụ vững vàng trong mọi phong ba, bão táp. Luôn kiến định trong định hướng mục tiêu đưa đất nước tiến lên chủ nghĩa xã hội ông là người lãnh đạo có tính chiến đấu cao, có lý lẽ thuyết phục, có tấm lòng, niềm tin và luôn để lại ấn tượng sâu sắc đối với các đồng chí, các cán bộ xung quanh.
Ông nêu cao trách nhiệm của người đảng viên. Luôn quan tâm đến việc chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ của Đảng. Ông đặc biệt chú ý đến thế hệ trẻ, tin tưởng các cán bộ trẻ, luôn quan tâm phát hiện tài năng và chú trọng việc bồi dưỡng họ. Chính vì thế, những ai đã từng gần gũi, làm việc với ông đều hết lòng kính trọng và yêu mến ông.
Trong đời thường, ông luôn thể hiện tấm gương của một cán bộ lãnh đạo sống giản dị, liêm khiết, cần kiệm, ông là người thẳng thắn, khoan dung độ lượng. Luôn gần gũi, yêu mến và săn sóc anh em đồng chí và cán bộ xung quanh mình.
Cho tới nay đã bước vào tuổi 95, ông vẫn thiết tha quan tâm tới những vấn đề của đất nước, của Đảng vẫn đóng góp ý kiến của mình với Bộ Chính trị với các vị lãnh đạo Đảng, Nhà nước.
Cuộc đời của Tổng Bí thư Đỗ Mười là biểu tượng của một người cộng sản chân chính, một sự cống hiến tận tụy không ngừng cho sự nghiệp của Đảng và nhân dân ông xứng đáng là người học trò xuất sắc của Bác Hồ. Cuộc đời ông là tấm gương đáng trân trọng cho chúng ta hôm nay và các thế hệ mai sau.
––––––––––––––––––––
* Tổng Giám đốc Công ty bào chế đông nam dược Phi Long
BÁC ĐỖ MƯỜI DÀNH TÌNH THƯƠNG CHO NHỮNG NGƯỜI BẤT HẠNH HUỲNH TIỂU HƯƠNG*
Trung tâm nhân đạo Quê Hương hoạt động từ thiện, đối với bản thân tôi thấy mình được làm việc này là may mắn lắm rồi, chưa bao giờ nghĩ rằng bác Đỗ Mười, một lãnh tụ, sẽ đến thăm các cháu mồ côi, tàn tật, đó là ngoài sự mơ ước. Những cháu mồ côi khuyết tật, cũng như tôi trước đây phải lo kiếm sống hằng ngày và chịu những trận đòn roi. Khi chứng kiến những cảnh bụi đời xung quanh mình, tôi đã cố gắng vươn lên để giúp đỡ họ, quy tụ họ về một mái nhà chung.
Tôi đã được các ban, ngành, các bác lãnh đạo từ Trung ương đến địa phương luôn quan tâm, hỗ trợ để tiếp tục con đường hoạt động xã hội, từ thiện.
Khi được gặp bác Đỗ Mười, tôi thực sự rất xúc động, không ngờ rằng bác già rồi, địa vị rất cao trong xã hội nhưng bác đã dành trái tim yêu thương thật giản dị, gần gũi với cộng đồng. Bác đã dành nhưng lời nói, tình yêu thương, sự quan tâm, an ủi động viên cho tôi cùng tất cả mọi người, đặc biệt là những người kém may mắn. Bác kêu gọi những doanh nghiệp cũng như các ban, ngành của các địa phương làm công tác xã hội, đặc biệt quan tâm giúp đỡ Trung tâm nhân đạo Quê Hương.
Tôi không biết dùng lời nói nào để diễn đạt được cái hôm được gặp bác, bác nói rằng bác sẽ đến trực tiếp thăm Trung tâm nhân đạo Quê Hương, nhưng sau đó chú Phan Trọng Kính gọi điện nói: "Bác đến thăm tỉnh Bình Dương, Tiểu Hương qua bên Thành ủy đón bác". Tôi nghe mà không biết có phải mình nghe lộn không, bởi nghĩ bản thân tôi làm sao vô được Tỉnh ủy tỉnh Bình Dương để đón bác. Vì nghĩ thế nên tôi và hàng ngàn người khuyết tật rất buồn, cho là bác sẽ không đến. Nhưng khoảng một tiếng sau thấy một đoàn ô tô, có cả công an dẫn đường, đã đi vô Trung tâm. Bác Đỗ Mười đã xuất hiện trong sự reo hò của những người bất hạnh. Tôi cùng các con chạy ra đón bác. Bác bắt tay tôi, bác cười rất hiền. Tôi đưa bác cùng các vị đại biểu đi thăm Trung tâm.
Bác đến thăm các lớp học của các cháu khiếm thị, thăm phòng vi tính, phòng học cắt may, phòng sản xuất hạt cườm của các cháu bị nhiễm chất độc da cam.
Khi đến thăm phòng nuôi các cháu mồ côi, tôi đã chuyền cho bác một cháu và bác đã bế cháu hết sức âu yếm, các cô bảo mẫu vây quanh bác xin chụp ảnh lưu niệm.
Bác đã lắng nghe tôi trình bày những khó khăn của Trung tâm, tôi nói:
Đối với Trung tâm nhân đạo chúng con thực sự khó khăn. Trong gia đình nuôi một đứa trẻ đã khó khăn, chúng con phải nuôi hàng trăm đứa trẻ, còn cưu mang hàng ngàn người tàn tật, cô đơn, không nhà không cửa. Chúng con thấy thực sự khó khăn vì nuôi dưỡng đã khó, giáo dục còn khó hơn. Đa số trẻ em ở đây là trẻ em bị bỏ rơi ở gốc cây, bụi cỏ, chào đời không mảnh vải che thân, có em bị kiến ăn, có em vừa đón vào trung tâm đã qua đời, có em vừa đưa đến cổng bệnh viện là qua đời, khoảng 70% các em bị mắc bệnh phổi, có em nhập viện hàng mấy tháng trời... Đối với những người khuyết tật cụt chân, cụt tay, người không có mắt, mỗi người một hoàn cảnh, đều rất khó khăn. Bản thân con cố gắng cùng với anh chị em ở Trung tâm và các nhà tài trợ, sự giúp đỡ của Hội Chữ thập đỏ Việt Nam đã thành lập được Trung tâm. Ngôi nhà của Trung tâm còn chật chội, có phòng phải ở hai, ba chục em, nhưng dù gì cũng sướng hơn không có mái nhà che thân, còn sướng hơn vì có chén cơm ăn, không phải đi nhặt, phải ăn cơm thừa, canh cặn. Hiện nay Trung tâm đã có hơn 300 em, các cháu đều có cơm ăn, áo mặc, được học hành.
Qua lời trình bày của tôi, bác Đỗ Mười rất thông cảm, bác đã có lời nói động viên. Lời nói của bác đã khích lệ tôi chiến thắng bệnh tật, tiếp tục cống hiến cho xã hội. Bác còn nói công việc của tôi không phải ai cũng làm được, tôi làm được vì đã từng trải qua cuộc đời đau khổ nên đã có sự đồng cảm sâu sắc với người nghèo. Việc làm của tôi rất thiết thực đã nói là làm, cần được nêu gương, v.v..
Sau đó, chú Phan Trọng Kính trao cho Trung tâm một món quà rất ý nghĩa, đó là chiếc tivi để Trung tâm xem chung.
Trước khi đoàn ra về, bác Đỗ Mười còn ngồi lại để ghi vào cuốn sổ vàng những lời khen ngợi và lời dặn dò thân thiết.
Qua lời nói động viên của bác, tôi thấy cần cố gắng hơn nữa. Mỗi khi tôi gặp khó khăn cực nhục, những lời nói và hình ảnh của bác lại hiện về, giúp cho tôi có sức mạnh.
Tôi không thể quên một sự kiện, chuyện dài lắm, nhưng có thể nói thế này: Hồi đó tôi sang Mỹ trị bệnh, tôi cũng có những hoạt động từ thiện ở Mỹ, lúc đầu kết quả rất tốt, nhiều Việt kiều, cả người Mỹ đã về thăm Trung tâm ở Việt Nam. Nhưng không hiểu sao, sau đó có hai tờ báo ở Mỹ tố cáo tôi là con của cộng sản, Trung tâm tôi nuôi gái mại dâm. Bản thân tôi sang Mỹ là bị xua đuổi, tẩy chay. Tôi quyết định phải thuê luật sư người Mỹ đi kiện hai tờ báo. Lúc đó tôi xác định dù đổi hết tài sản, dù phải chết cũng phải đòi lại danh dự cho phụ nữ và trẻ em Việt Nam. Cuộc tranh tụng kéo dài hai năm, cuối cùng hai tờ báo đã phải có lời cải chính xin lỗi.
Sau khi thắng kiện, tôi cầm tờ giấy xin lỗi của báo chí tại Mỹ về gặp bác Đỗ Mười. Bác đã có sự yêu thương chia sẻ với tôi, động viên, khen ngợi ý chí lòng dũng cảm của tôi.
Tới giờ phút này, tôi không biết phải dành lời nói nào để mà cảm tạ bác và cảm ơn toàn xã hội. Chỉ biết rằng tôi cùng trẻ em khuyết tật kém may mắn biết công ơn sâu sắc của bác, nhớ đến tình cảm yêu thương của bác, đặc biệt trái tim của bác đã dành cho tất cả chúng con. Chúng con kính chúc bác luôn luôn vui khỏe.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 8-2010
Diệu Ân ghi
–––––––––––––––––––––––
* Giám đốc Trung tâm nhân đạo Quê Hương.
ÔNG LÀ TẤM GƯƠNG CHO TUỔI TRẺ PHẠM THỊ HỒNG HUẾ*
Vào năm 2007, khi tôi đang học đại học năm thứ ba, trong một bài báo viết về tuổi trẻ, tôi đã đọc được những lời nhắn nhủ hết sức sâu sắc của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười (tôi xin phép được gọi là ông) tới tuổi trẻ mà tôi không thể nào quên đại ý là: "Bác Hồ nói: "Thanh niên là rường cột của nước nhà". Đảng ta luôn coi thanh niên có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngoài sự quan tâm, chăm lo, giáo dục, bồi dưỡng của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, thế hệ trẻ rèn luyện, phấn đấu nâng cao nội lực, lấy sức ta giải quyết cho ta, không ỷ lại bên ngoài, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, thực hiện tốt vai trò "rường cột" trong thời kỳ mới".
Ông mong thế hệ trẻ nước ta ra sức học tập, rèn luyện, tu dưỡng theo lời dạy của Bác Hồ, trở thành con người phát triển toàn diện, có đạo đức, có trí tuệ, có sức khỏe, góp phần tích cực nhất cho tương lai sáng lạn của đất nước, thực hiện thắng lợi mục tiêu lý tưởng cao đẹp là độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Ông mong thế hệ trẻ kế tục xứng đáng với thế hệ cha anh, với đất nước và dân tộc anh hùng mấy ngàn năm văn hiến. Muốn vậy, mỗi người hãy tôi luyện đủ đức, tài biết sống đẹp và cống hiến hết mình cho nhân dân, cho Tổ quốc.
Ông cũng mong thế hệ trẻ hôm nay luôn hiếu thảo với ông bà, cha mẹ, thân thiết và giúp đỡ bạn bè, dìu dắt đàn em thân yêu, dang tay đoàn kết với thế hệ trẻ các nước, phấn đấu cho một thế giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác, phát triển và một môi trường sống lành mạnh.
Đó là những lời dạy hết sức tâm huyết và có sức giáo dục sâu sắc, trong thời kỳ mà thông tin trên mạng cũng như thông tin xã hội rất nhiều chiều. Tôi có thể nói rằng, những lời dạy của ông khiến tôi nhớ mãi, đó là hành trang của tuổi trẻ giúp tôi tự tin và vững bước vào cuộc sống hiện tại. Nó cũng chính là động lực để tôi hoàn thiện bản thân toàn diện hơn để kế tục xứng đáng với thế hệ cha anh, với đất nước và dân tộc như lời ông đã dạy.
Thật tình cờ, cuộc sống đã cho tôi cơ hội - một cơ hội tôi chưa bao giờ ngờ tới, đó là được làm việc cùng cơ quan con gái ông, nên có dịp đến thăm nhà ông, được gặp gỡ với vị nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười - một con người bằng xương bằng thịt chứ không phải là qua sách báo, qua những lời kể của những người đương thời. Tôi còn nhớ một lần đầu tiên tôi gặp ông là vào sinh nhật lần thứ 93 của ông. Ông rất khác với sự tưởng tượng của tôi, vẫn bộ quần áo kaki đã sờn bạc, vẫn lối sống giản dị trước kia. Tuy đã ở cái tuổi "xưa nay hiếm" nhưng ở ông vẫn toát lên phong thái ung dung tự tại - cái cốt cách của một nhà lãnh đạo và đặc biệt là đôi mắt sáng trìu mến nổi bật trên khuôn mặt phúc hậu. Tôi được tiếp xúc, trò chuyện cùng ông để hiểu thêm hơn về một con người tài năng, uyên bác mà rất mực giản dị giữa đời thường. Ông kể cho tôi nghe về quá khứ lịch sử, về những trận đánh huyền thoại, về những con người bất tử... Không đơn giản chỉ là kể mà dường như tôi cảm nhận được từng giây từng phút một người ông đang sống lại quãng thời gian xưa - cái thời tuổi trẻ hào hùng một đi không trở lại. Trong lời kể của ông là tất cả sự tự hào nhưng cũng có những phút nghẹn lòng lắng lại. Đó là nỗi đau của sự mất mát hy sinh, là tấm lòng của một con người tình nghĩa, yêu thương hết mực với cuộc đời, với con người. Tôi đã từng đọc những trang vàng ngợi ca, khâm phục những con người viết nên lịch sử bằng máu và nước mắt ấy... Nhưng cho đến hôm nay, tôi mới biết là chưa đủ. Sẽ không có một ngôn ngữ nào tuyệt vời hơn để có thể diễn tả hết, diễn tả đầy đủ cái giây phút con người từ bỏ sự sống, hiến mình cho dân tộc, cho đất nước. Những anh bộ đội Cụ Hồ ấy, trong đó có ông mãi là tấm gương sáng soi đường cho tuổi trẻ, là niềm tự hào của non sông đất nước.
Nối tiếp câu chuyện, ông kể về cuộc sống hôm nay. Tuy đã thôi nhiệm lâu rồi nhưng ông vẫn giữ thói quen nếp sinh hoạt cũ, vẫn sáng sáng dậy sớm tập thể dục, vẫn làm việc đọc sách đến quên cả thời gian. Vì vậy mà trên bàn làm việc của ông tôi thấy lúc nào cũng có một cuốn sách đang đọc dở. Ông tâm sự: "Tôi vẫn đọc, đọc để làm việc. Hiện tôi vẫn tham gia đóng góp, làm được thì cố gắng làm. Được làm việc và làm việc được là một hạnh phúc lớn".
Cuộc sống của ông vô cùng giản dị: nhà của ông không to rộng, nội thất trong nhà đều đã cũ (có từ thời bao cấp). Căn nhà chỉ vừa đủ không gian để sinh hoạt và để lưu giữ những kỷ niệm đã từng gắn bó với ông suốt một thời. Ông còn cặn kẽ tỉ mỉ hỏi tôi về khó khăn trong công việc cũng như trong cuộc sống mà một sinh viên mới ra trường như tôi gặp phải. Tôi kể với ông về môi trường nơi tôi làm việc, về sự quan tâm giúp đỡ của mọi người dành cho tôi, rằng tôi cảm thấy mình may mắn và hạnh phúc như thế nào khi ở đó. Tôi vốn là người nhút nhát, rất ít khi thể hiện cảm xúc của thình, vậy mà lần đầu tiên gặp ông tôi đã nói hết những cảm nhận, cảm xúc chân thật của mình bởi chỉ vì một điều thật đơn giản: Vì ông là tấm gương của tôi!
Xin kính chúc ông dồi dào sức khỏe, sống lâu trăm tuổi với "một trái tim không thể nào già".
–––––––––––––––––––––––––
* Giảng viên Bộ môn Y Vật lý, Trường Đại học Y Hà Nội
MỘT TRÁI TIM KHÔNG THỂ NÀO GIÀ Kính tặng đồng chí Đỗ Mười
PHẠM TIẾN DUẬT
Bấy nhiêu năm chưa một ngày ngừng nghỉ
Đến hôm nay bác đã tám mươi rồi
Tôi nhìn bác, người anh, người đồng chí,
Hiền từ như đồng đất quê tôi.
Ấy trái tim không già, ấy trái tim trung thực
Suốt một đời chỉ đập vì dân
Nhịp tim của người nghèo, nhịp tim người chiến sĩ
Vì cả chặng đường xa, vì cả chặng đường gần.
Trái tim ấy đã đau những nỗi đau trần thế
Biết bao nắng mưa thay đổi giữa đời này
Người bạn ấy đi xa, đi xa và người ấy...
Biết bao nhiêu ký thác gửi hôm nay.
Đã có tuổi thì già chứ làm sao khác được
Nhưng trái tim không thể già trước cuộc sống nhân dân.
Khi người còn ác với người, cái ác còn chỗ chứa
Thì trái tim ta đâu có thể an nhàn.
Trái tim của người nghèo vẫn trái tim giàu có
Giàu có cuộc đời giàu có nhân gian
Đường dân tộc ta càng đi càng sáng.
Ấy là của kho quý giá vô vàn.
Một thế kỷ đang qua với biết bao nhiêu biến động
Mặc thế lực nơi đâu đang mưu tính cuộc cờ
Hạnh phúc của nhân dân - ấy trái tim cộng sản
Nhịp đập này dương thế hoá thành thơ.
LÒNG CỦA NGƯỜI ANH Kính tặng anh Đỗ Mười
PHẠM THÀNH
Tôi tưởng về hưu sẽ hết thời
Nào ngờ anh lại vẫn tìm tôi,
Hết lòng khơi dậy sức còn lại
Đọng ở trong tôi suốt một đời.
Tôi biết người anh thật chí thân
Giúp tôi không chỉ ở tinh thần
Mà còn thấu rõ tôi đau khổ
Trong cảnh riêng tôi quá nhọc nhằn.
Những lời khuyên bảo của người anh
Đem đến cho tôi một mối tình
Lời quý ngàn vàng đâu sánh kịp
Tôi luôn giữ ở trái tim mình.
Có gì cao quá tận bên trong...
Anh đã cho tôi một tấm lòng
Không chỉ riêng tôi mà tất cả
Những ai sống trọn với non sông.
Ngẫu nhiên đâu phải chữ nhân từ?...
Cả cuộc đời anh đầy ước mơ
Những cảnh chua cay từng nếm trải
Lòng như công đến tự bao giờ.
Làm người cộng sản phải lo toan
Mọi việc mong sao được vẹn toàn
Anh đã là người như vậy đó
Gương anh sau trước thật vuông tròn.
Hà Nội, 23-10-2000
MỘT TẤM LÒNG SON Kính tặng anh Đỗ Mười
nhân ngày sinh lần thứ 70 của anh
LÊ MINH PHƯỚC
Con đường cách mạng mấy gian truân
Vẫn chắc niềm tin, vững tinh thần.
Ngục tù đế quốc không sờn chí
Danh vọng, giàu sang chẳng quẩn chân.
Một trái tim hồng dâng cho Đảng
Một tấm lòng son hiến trọn dân
Mừng anh thêm tuổi càng thêm khỏe
Thơm mãi vườn hoa bảy mươi xuân.
Ngày 2-2-1987
MẠCH NƯỚC NGUYÊN TRONG Kính tặng anh Ngạn1 và các đồng chí,
đồng bào đã sống và chiến đấu ở Khu Tả Ngạn
NẮNG HỒNG
"Hãy kiểm tra và giám sát chúng tôi!..."
Ôi giọng nói thân quen
Từng phen quyết liệt
Mà sao da diết tình đời
Nay lại âm vang thiết tha, tha thiết!
Nhớ dáng cao cao, nhớ mái tóc dày
Sống giữa lòng dân, xuống nam lên bắc
Chiếc nón đội đầu, khăn mặt vắt vai
Đồn bốt ken dày, bốn bên là giặc...
Nhớ chặng giao liên, quán trơ nhà cháy
Qua những làng Bương2 đường trắng khăn tang
Đêm vượt sông, rét đầu mùa tím tái
Quả cam chia, cơn sốt nhọc nhằn...
Giặc treo giá đầu anh một vạn tiền Đông Dương.
Đáp lại chúng, Đảng, dân càng gắn bó
Chiến tranh nhân dân
Khuốc, Nguyễn3 đi tiên phong
Đánh hiểm, đánh sâu
Cát Bi chìm trong biển lửa!
Giương cao cờ nghĩa hợp pháp đấu tranh
Đoàn kết đồng bào ngoài này, trong ấy4
Buộc giặc mở hầu bao chữa cống Trà Linh
Giữ nước ngọt cho dân mình cày cấy.
Đêm lại đêm, pháo sáng vút liên hồi
Thóc vẫn sang sông, súng về hậu cứ
Chiến tranh nhân dân, lưới đã chăng rồi
Thế trận mê cung một vùng châu thổ!
Căn cứ Tiên Duyên Hưng5 sôi động ngày đêm
Lúa lại rờn xanh trên cánh đồng Bảng nhãn6
Mía re Hưng Nhân kéo mật làng đường
Tiếng trống chèo khuya nhịp rung uốn lượn.
Đêm trích đoạn cải lương vùng giải phóng
Lửa bập bùng: Hạng Võ biệt Ngu Cơ
Mái tóc cải trang chập chờn giấc mộng
Sóng Hoàng Nông7 dập dờn tiếng địch sông Ô!
Ôi! Hành cung Long Hưng!
Thẫn thờ ta đứng lặng
Đâu nơi giam Ô Mã Nhi làm lễ Hiến Phù8?
Những tượng đá triều Trần dãi dầu mưa nắng
Ta đánh trận này
Đâu dám thẹn tổ tiên xưa!
Chiến tranh nhân dân! Chiến tranh nhân dân!
Cỗ xe lớn lướt trên đường cao tốc
Sư đoàn chủ lực thâm nhập đồng bằng
Rung chuyển những Êlidê9, Bạch Ốc!
Lúc gian khổ, bước đầu tiên chập choạng
Khi có anh, sải bước vững thêm chân
Thuở châu thổ ánh bình minh ló rạng
Mây hồng xa, mây tía đã bay gần!
Từ Việt Bắc, Khu Ba rồi địch hậu
Như mũi lao phóng thẳng vút ngang tầm
Hỏi: Bí quyết có điều chi kỳ diệu?
- Túi gấm Bác Hồ
Chìa khoá nhân dân!
II
"Hãy kiểm tra và giám sát chúng tôi!"
Tôi biết lòng anh chân thành cởi mở
Làm người cộng sản không thể đơn sai
Hạnh phúc cuộc đời: quyền dân thực sự!
Khi giặc treo giá đầu anh bạc vạn
Chính là anh đã chấp nhận hy sinh
Khi đồng đội chèn bên anh chắn đạn
Chính là dân bảo vệ cán bộ mình!
Mỉa mai thay!
Những kẻ năm xưa ôm mộng ngông cuồng
Nay lại tung hoả mù: Đa nguyên chính trị (!)
Cái mà chúng đã thua trên trực diện chiến trường
Chúng muốn giành lại
Bằng thế trận hoà bình mưu ma chước quỷ!
Chúng rất muốn Đảng với dân ngày càng cách biệt
Như cá bơi trên cạn, cây mọc khô chồi
Quy luật ngàn đời: Tiền tài, sắc đẹp
Đục ruỗng lương tâm, hư hỏng con người!
"...Hãy kiểm tra…"
Tôi biết trong anh nhiều điều trăn trở
Cơ chế mới ra đời mang nặng đẻ đau
Đội ngũ lại một lần thử lửa
Để cho vàng không lẫn lộn đồng thau.
Có người trước súng gươm không hề run sợ
Mà bỗng hôm nay bó giáo quy hàng?
Cái bả phù hoa một lần hai lỡ
Thêm một chiến binh gục ngã bên đường!
Có kẻ nhân danh tiên phong cách mạng
Quan liêu mệnh lệnh, xa lánh dân tình
Quên thuở sắn khoai dân đùm bọc Đảng
Dưới hầm sâu nghe rộn bước giày đinh…
Có kẻ lập lờ thò lò sáu mặt
Mánh lới gian ngoan, dối dưới lừa trên
Cổ "cánh", ô dù, còn đâu có đất
Trọng dụng hiền tài cho dân nước mạnh giàu lên?
Khi tham nhũng đã thành ung nhọt
Phá chính từ trong cơ thể phá ra
Thầy thuốc giỏi không chùn tay khoét gọt
Cứu sống mạng người, liền thịt lành da...
Kiểm soát, kiểm tra cho nghiêm cho ngặt
Lẽ sống còn của Đảng, của dân không thể xuê xoa
Thời đại mới vẫn cần những Bao Công
Đâu thiếu người trung thực ở quanh ta!
Dân chủ đề cao, giữ nghiêm phép nước
Nhịp dòng thời đại, giữ nét riêng ta
Trống giục bình minh, những đàn chim Lạc
Ngậm đoá sen hồng bay bổng, bay xa...
Hoa rộ xuân đời những gương cao đẹp
Tất cả do dân, tất cả vì dân!
Đội ngũ ta vẫn trùng trùng điệp điệp
Lại lên đường khúc giao hưởng hành quân!
Đảng đổi mới dân càng tin yêu Đảng
Như buổi đầu nguồn, mạch nước nguyên trong
Nơi xa ấy Bác Hồ trong tĩnh lặng
Hẳn Bác vui và Bác thật yên lòng…
Năm 1990
––––––––––––––––––––
1. Bí danh của đồng chí Đỗ Mười khi làm Bí thư Khu ủy Khu Tả Ngạn
2. Bương Thượng và Bương Hạ là hai làng sát bốt Quỳnh Lang, huyện Quỳnh Côi, tỉnh Thái Bình.
3. Khuốc, Nguyễn: Tên nôm của hai làng Cổ Khúc và Nguyên Xá, nay thuộc huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình, vốn là những làng chèo "gốc".
4. Ngoài, trong: chỉ vùng căn cứ du kích và vùng địch tạm chiếm.
5. Tiên Duyên Hưng: Tên căn cứ du kích và vùng địch tạm chiếm
6. Bảng nhãn: Chỉ nhà bác học Lê Quý Đôn đậu Bảng nhãn quê ở huyện Duyên Hà.
7. Hoàng Nông: khúc sông chảy qua huyện lỵ Thần Khê thuộc phủ Tiên Hưng kiêm lý, nay thuộc huyện Đông Hưng
8. Hiến Phù: Cuộc lễ đưa tù binh bắt được kính cáo tiên tổ nhà Trần
9. Êlidê: Cung điện nước Pháp, hiện là nơi làm việc của Tổng thống Pháp
CHÚC ANH, CHÚC ĐẢNG MÃI MÙA XUÂN Mừng anh Mười 80 tuổi
PHAN TRỌNG KÍNH
Trải tám mươi năm đời tuyệt đẹp
Trái tim anh trẻ mãi không già
Nối gót Bác Hồ anh bước tiếp
Chèo lái con thuyền ra khơi xa.
Anh biết ngoài kia lắm bão giông
Đường lên hạnh phúc chẳng thong dong
Tin dân, tin Đảng anh đi tới
Tại một ngày mai nắng rực hồng.
Chúc anh sống mãi với non sông
Để xem trang sách nở đầy bông
Để nghe tiếng nhạc rung nhà máy
Để thấy vàng reo mọi cánh đồng.
Chúc anh, chúc Đảng mãi không già
Anh là hình Đảng, Đảng trong ta
Ta đi theo Đảng từ ngày ấy
Son sắt niềm tin vẫn chói lòa.
Xuân - 1997
KIÊN CƯỜNG DIỆU ÂN
Những câu chuyện vô cùng xúc động
Phác họa chân dung một con người
Chín mươi lăm năm đã quá xa xôi
Vẫn thắm thiết từng đường tơ kẽ tóc
Những lời nói đâu phải là gió thoảng
Lắng đọng sâu xa trong tâm thức mỗi người
Giản dị vô cùng mà xao xuyến lòng tôi.
Người cầm bút ghi những gì đây nhỉ:
Nồng nhiệt, chân thành hay lãnh đạm thờ ơ?
Trong cuộc đời như thực như mơ
Có những chuyện bây giờ mới kể
Ghi lại hôm nay cho thế hệ mai sau.
Tôi lắng nghe ghi lại từng câu
Tạc tượng đài chân dung bằng chữ.
Bắc nhịp cầu tương lai và quá khứ
Trong dòng đời cuồn cuộn hôm nay.
Như cơ duyên, như rồng gặp mây
Những con chữ reo lên từng nốt nhạc
Tự hào thay nét đẹp một con người.
"Sống giữa lòng dân" trong sạch thảnh thơi.
Con người đó - bác Đỗ Mười gần gũi.
Thành phố Hồ Chí Minh,
1h đêm ngày 1-6-2010
DỰNG CƠ ĐỒ Mừng sinh nhật lần thứ 95 bác Đỗ Mười
NGUYỄN TRỌNG THỂ
Tuổi hạc trời ban thọ đáo gia
Cuộc đời nếm trải lắm phong ba
Vun trồng cây đức thiên niên thịnh
Xây đắp nền nhân muôn vạn nhà
Dẫn dắt nhân dân xây sự nghiệp
Noi gương tiên liệt dựng cơ đồ
Tình nhà nghĩa nước đều tròn vẹn
Tạo hóa tặng trao phúc lộc đa
Ngày 2-2-2011
ÔNG ỐM NGUYỄN THỊ AN KHANH
Ông ốm đã mấy hôm
Phải vào nằm bệnh viện
Cả nhà rất lo lắng
Buồn và thương ông nhiều.
Cháu nghe bác sĩ nói
Ông phải làm phẫu thuật
Trời ơi! sao lại thế?
Tuổi ông đã nhiều rồi.
Hãy kiên cường ông nhé
Ông luôn như thế mà
Ông là Phật sống đấy
Chẳng có chuyện gì đâu.
Bởi vì xung quanh ông
Mọi người luôn cầu mong
Cho ông thêm sức khỏe
Sống lâu trên trăm tuổi.
Điều đó tất nhiên rồi
Vì tất cả mọi người
Đều mong ông luôn khoẻ
Sum vầy cùng cháu con.
Ngày 14-6-2011
QUÊ HƯƠNG NGHĨA TRỌNG TÌNH SÂU* Không khí đầu xuân còn se lạnh nhưng trong căn phòng của Huyện ủy huyện Thanh Trì vẫn ấm áp tình cảm của những người cộng sản trẻ tuổi dành sự ngưỡng mộ, kính trọng đối với những lớp người đi trước.
Chị Lê Thị Thu Thủy, Phó Bí thư Huyện ủy hết sức chân thành, đầy tự hào về quê hương Thanh Trì "địa linh nhân kiệt" của mình nói: Chúng tôi tự hào về quê hương mình. Đây là mảnh đất phía nam của Thủ đô, một vùng đất giàu truyền thống cách mạng, được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000.
Bác Đỗ Mười luôn luôn nghĩ đến quê hương. Hằng năm Tết đến, bác không quản ngại mưa gió, vẫn thường về quê thăm hỏi lãnh đạo và nhân dân trong huyện. Mỗi lần được đón bác về thăm, chúng tôi rất mừng, tuyệt đối tin tưởng lắng nghe những lời căn dặn của bác. Tập thể Thường vụ, Ủy ban chúng tôi bàn bạc thực hiện bằng được những lời căn dặn đó. Mới đây, khi chúng tôi tổ chức Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII (nhiệm kỳ 2010 - 2015) lên mời bác, bác nói ngay là bác phải về. Tất cả chúng tôi nhìn thấy bác trong lòng rưng rưng cảm động, tự hào về người cộng sản đã có trên 70 năm tuổi Đảng. Chúng tôi tự hứa phải sống và làm việc được như những điều bác đã dạy chúng tôi.
Anh Trần Văn Huy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện cũng là người ở xã Đông Mỹ nên có khá nhiều kỷ niệm với bác Đỗ Mười. Anh Huy nói trong niềm xúc động: Bác Mười là người con sinh ra ở Thanh Trì, đã làm rạng rỡ cho mảnh đất, con người quê hương chúng tôi. Bác luôn trăn trở, quan tâm tới quê hương. Mỗi khi về quê, bác đều ghé thăm Huyện ủy và Ủy ban nhân dân.
Bác căn dặn, nhắc nhở chúng tôi nhiều lần: "Thanh Trì phải sản xuất ra gạo thơm, rau sạch cho Thủ đô". Từ ý tưởng chỉ đạo của bác, lãnh đạo huyện quyết tâm thực hiện.
Huyện mạnh dạn đưa giống lúa mới vào để có gạo thơm, cố gắng xây dựng vùng rau an toàn, xây dựng hệ thống giao thông, thủy lợi cốt lõi.
Bác còn mong muốn chúng tôi phải phấn đấu trở thành huyện Anh hùng thời kỳ đổi mới.
Bác Mười rất quan tâm đến vấn đề khuyến học, khuyến tài. Bác là người đầu tiên tặng cho xã Đông Mỹ 15 máy vi tính. Đến nay, hầu như các trường học trong các xã của Thanh Trì đều có phòng vi tính. Đồng thời bác đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục truyền thống văn hóa, cách mạng cho thế hệ trẻ, mỗi lần bác về thăm huyện, bác đều đến thăm Phòng Truyền thống của huyện. Năm 2007, bác đã tặng cho Phòng Truyền thống của huyện một tủ sách, trong đó có sách Văn kiện Đảng Toàn tập, V.I.Lênin Toàn tập, C.Mác và Ph.Ăngghen Toàn tập để giáo dục truyền thống cách mạng cho thanh thiếu niên, học sinh... Hằng năm, vào ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (ngày 3-2), chúng tôi lại lên thăm và báo cáo với bác những công việc chúng tôi đã làm được. Bác tỏ ra rất hài lòng.
Anh Long - Chủ tịch Hội Nông dân của huyện, nguyên là Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã Đông Mỹ nói: Tôi là người sinh ra ở đất Đông Mỹ, tôi công tác ở xã đã 27 năm nên nhiều lần được tiếp xúc với bác Đỗ Mười. Khi tôi làm Phó Chủ tịch, Trưởng Công an xã tôi được chứng kiến hai lần đón đoàn đại biểu Nhà nước đi cùng bác Đỗ Mười về thăm quê hương. Lúc đó tôi thấy vô cùng phấn khởi, tự hào vì quê mình có một người làm lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước.
Tôi còn nhớ qua cuốn sách về lịch sử Đảng bộ xã, năm 1930, quê tôi có chi bộ Đảng đầu tiên ở làng Đông Phù, chính là nơi sinh ra bác Đỗ Mười - chi bộ này có 6 đồng chí, do đồng chí Phạm Gia làm Bí thư. Đến cuối năm 1939, chi bộ đã kết nạp đồng chí Nguyễn Thọ Chân và đồng chí Nguyễn Duy Cống (tức đồng chí Đỗ Mười). Như vậy, tính đến năm 2009, đồng chí Đỗ Mười vừa tròn 70 năm tuổi Đảng.
Bác Đỗ Mười giữ rất nhiều chức vụ quan trọng, làm Tổng Bí thư hơn một khóa, dù bận những việc lớn lao nhưng bác luôn quan tâm, trăn trở với quê hương. Tôi còn nhớ khi làm Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, bác về thăm quê thấy bà con trong xã bị mất mùa, có nhiều hộ gia đình chính sách vẫn còn nghèo đói, con cái học hành dang dở, bác rất buồn.
Bác gọi lãnh đạo xã lên để báo cáo tình hình, cùng tìm cách tháo gỡ khó khăn. Chúng tôi báo cáo với bác là do ruộng ít, thiên tai khắc nghiệt, thường xuyên mất mùa, dân không có việc làm, bà con rất nghèo khổ.
Bác nói "Các chú cố gắng lo cho dân, không được để cho dân đói, dân thất học. Tôi sẽ nói với Công ty Dệt may Hà Nội xem họ có cách gì giúp xã ta không? Nhưng trước mắt, các chú phải tự lo cho dân về đời sống trước đã. Các chú phải bàn bạc với bà con để cùng tìm ra hướng giải quyết công ăn việc làm cho mọi người". Chúng tôi nghe bác nói như vậy rất thấm thía. Sau đó một thời gian, Công ty Dệt may Hà Nội đã về xã Đông Mỹ nghiên cứu, khảo sát và đồng ý đưa về xã một nhà máy may thêu, để giải quyết công việc cho bà con trong xã.
Nhớ lời bác Mười dặn, lãnh đạo xã Đông Mỹ quyết tâm không để cho dân đói, thất học.
Phong trào xây dựng nông thôn mới ở Đông Mỹ đã nhận được sự ủng hộ của bà con. Chúng tôi quy hoạch lại ruộng đồng, xây dựng lại đường làng ngõ xóm khang trang, sạch đẹp. Hàng năm, chúng tôi lên báo cáo những đổi mới của xã, bác Đỗ Mười mừng lắm. Bác thường xuyên gọi xã lên cho sách. Có lần bác gọi tôi vào thư viện nói rất thân tình: "Tôi có cái này nhờ mang về cho các cháu đọc". Bác nói thật mộc mạc nhưng tôi nhớ mãi. Tài sản bác cho chúng tôi chỉ có sách. Chúng tôi trân trọng tấm lòng của bác và nhắc nhở nhau phải luôn luôn đọc sách.
Chị Phạm Thị Liên, Bí thư Đảng ủy xã Đông Mỹ hồ hởi kể: Bác Đỗ Mười là một người con suốt đời cống hiến cho cách mạng, cho quê hương. Bác trải qua rất nhiều chức vụ quan trọng, nhưng tôi cảm nhận rõ bác là người rất liêm khiết. Tôi xin kể lại một câu chuyện mà chắc ở đây nhiều các anh các chị biết. Tôi còn nhớ vào năm 1996 khi còn là Tổng Bí thư, bác có về thăm xã. Nhân dân và lãnh đạo xã vui mừng đón bác. Bà con quây quần nghe Bác nói chuyện.
Sau khi bác nói chuyện xong thì bà cô ruột của bác, tên là bà Tam phát biểu. Bà nói: "Anh hiện nay là Tổng Bí thư tại sao không quan tâm đến con đường về quê, bà con đi lại rất khổ sở, xe chở cát từ sông Hồng về Hà Nội cày nát cả đường làng, dân đi lại rất khó khăn".
Bác Đỗ Mười thưa chuyện ngay: "Thưa cô, cháu là Tổng Bí thư của cả nước chứ không phải là Tổng Bí thư của Đông Mỹ. Việc làm đường vào xã là công việc của chính quyền huyện Thanh Trì và Hà Nội phải lo cho nhân dân. Trong đoàn cán bộ về thăm xã lần này, các anh ấy sẽ có trách nhiệm lắng nghe ý kiến của xã để bàn với huyện lo việc này. Cô cứ an tâm".
Câu chuyện hôm đó tưởng như là câu chuyện làm quà, lãnh đạo hứa để dân an lòng, nhưng người dân Đông Mỹ thấy đề nghị trên đã được đáp ứng. Một thời gian sau con đường ô tô chở cát về Hà Nội đã được rải nhựa.
Tôi còn nhớ một kỷ niệm nữa là khi xã đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân vào năm 2000, bác có về dự.
Trong lời phát biểu của bác có nhắc: "Xã cần phải tự mình mà vươn lên đi, phải lo đến đời sống, y tế, điện, đường, trường, trạm cho dân. Tôi còn sống muốn về xã để dự lễ đón nhận anh hùng một lần nữa là Anh hùng thời kỳ đổi mới".
Điều bác nói đã trở thành động lực thúc đẩy các phong trào của quê hương, mỗi cán bộ phải biết dựa vào dân động viên toàn dân thực hiện lời dặn của đồng chí Tổng Bí thư. Nhân dân rất phấn khởi ủng hộ các chủ trương của xã. Chúng tôi khẩn trương tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng, "dồn điền đổi thửa", chuyển đất trồng lúa năng suất thấp sang đào ao nuôi trồng thủy sản. Dần dần đã chuyển từ một làng quê thuần nông sang nhiều ngành nghề khác Đã có nhiều hộ nông dân giàu lên.
Quê hương thay da, đổi thịt, ai cũng vui mừng. Nhờ có chủ trương xã hội hóa công tác văn hóa, đình chùa đã được nâng cấp, tôn tạo khang trang, đẹp đẽ.
Năm 2009, chùa Hưng Long đã vận động toàn dân đóng góp được tên 40 tỷ đồng để trùng tu, nâng cấp lại khang trang, đáp ứng tín ngưỡng của nhân dân trong vùng.
Đúng 8 năm sau (tháng 10-2008), xã chúng tôi đã thực hiện lời dặn của bác Đỗ Mười. Xã được đón danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới. Xã có 11 năm liên tục là Đảng bộ trong sạch, vững mạnh (từ năm 1999 đến năm 2010).
Đồng chí Nguyễn Thị Kim Thư, Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã Đông Mỹ sôi nổi nói về một kỷ niệm, khi bác Đỗ Mười về thăm xã năm 2007. Chị kể: Thấy tôi còn trẻ bác hỏi tôi:
- Cô làm gì ở địa phương?
- Thưa bác, cháu làm Phó Bí thư Thường trực Đảng ủy xã ạ!
- Trẻ như vậy phải cố gắng nhiều mới hoàn thành nhiệm vụ cháu nhé.
Có nhiều lần chúng tôi lên nhà thăm bác, đồng thời báo cáo công việc của xã. Năm nay, khi đến thăm và mừng thọ bác 95 tuổi, bác vẫn hỏi:
- Trọng tâm công tác của xã Đông Mỹ năm nay là vấn đề gì?
Nghe bác hỏi mà tôi vô cùng cảm động, thấy bác vẫn luôn luôn nghĩ đến dân, luôn dành tình cảm và niềm tin yêu của mình cho lớp cán bộ trẻ như tôi...
Đồng chí Triệu Đình Phúc, Bí thư Huyện ủy bày tỏ ấn tượng, cảm xúc trong những lần thăm và báo cáo với bác Đỗ Mười về tình hình kinh tế, xã hội của huyện Thanh Trì. Đồng chí nói: Ấn tượng sâu sắc nhất là khoảng giữa năm 2008, tôi được thành phố điều động về làm Bí thư Huyện ủy, khi đến thăm bác Đỗ Mười, bác có nói: "Tôi rất băn khoăn về hiệu quả sử dụng đất đai, hiện nay có tình trạng núi đồi thì cấy lúa, đồng bằng thì làm sân gôn, đất tốt thì làm khu công nghiệp". Tiếp thu ý kiến của Bác, ngay lập tức tôi đã cho rà soát báo cáo thành phố và được thành phố trình với Chính phủ chấp thuận cho ngừng triển khai xây dựng hai sân gôn tại huyện Thanh Trì, diện tích khoảng 700 ha đất. Những vùng đất đó bây giờ đang là vùng sản xuất nông nghiệp tập trung chất lượng cao của huyện, là vùng rau an toàn của thành phố, là vàng ngọc của một huyện sinh thái ven đô, thật là ý nghĩa biết bao.
Hà Nội, ngày 18-2-2011
Diệu Ân ghi
––––––––––––––––––––––––
* Lược ghi kỷ niệm của những người dân quê hương về đồng chí Đỗ Mười.
NHỮNG BÀI HỌC NHỎ THỂ HIỆN NHÂN CÁCH LỚN NGUYỄN DUY TOÀN*
Cuộc đời và sự nghiệp của nguyên Tổng Bí thư Đỗ Mười là những trang dài đầy nhiệt huyết và vẻ vang, một tấm gương sáng về lòng dũng cảm, ý chí cách mạng kiên định và triệt để, tinh thần yêu nước nồng nàn và một trí tuệ sắc bén. Những người từng làm việc hay tiếp xúc với anh Đỗ Mười đều ít nhiều nhận ra những điều đáng quý đó. Đối với riêng cá nhân tôi, ngoài sự ngưỡng mộ tài và đức của một người từng nắm giữ những cương vị trọng yếu của Đảng và Nhà nước, tôi còn nể trọng anh với tư cách một người con có hiếu của dòng họ, một con người đầy nghĩa tình với làng xóm, quê hương.
Tôi sinh ra và lớn lên ở làng Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội. Ông nội tôi và ông nội anh Mười là hai anh em ruột. Chính vì vậy, mặc dù cách xa nhau về tuổi tác và địa vị, tôi vẫn gọi nguyên Tổng Bí thư là anh Mười và anh vẫn gọi tôi là em một cách thân tình.
Anh Mười sinh ra trong một gia đình rất nghèo. Thuở nhỏ, anh đã được gửi gắm cho ông nội tôi nuôi và dạy học ở Ninh Bình. Anh ít nói, nhưng rất cần cù và chăm chỉ, lớn lên anh đi làm thợ, rồi tham gia cách mạng, trải qua nhiều gian khó hy sinh mới có một Đỗ Mười như ngày nay. Khi sự nghiệp đã vẻ vang, anh vẫn thường nói với tôi, ơn nuôi dưỡng giáo dục ngày đó của ông nội tôi, anh không bao giờ quên. Tuy việc nước bộn bề, chưa bao giờ anh quên ngày giỗ Tổ, hay sao nhãng việc về tận nhà thắp nhang tưởng nhở mỗi ngày giỗ ông nội tôi. Đối với chúng tôi là hàng em út, anh cư xử thân tình, ân cần, khiến mọi người nhiều khi quên đi khoảng cách với một vị chức cao vọng trọng. Anh có hiếu với bề trên, trọng người tài, quý người thực thà dũng cảm, mến những người vui vẻ hài hước. Những đức tính đó của anh khiến kẻ hậu sinh như tôi không khỏi khâm phục, lấy làm tấm gương cho con cháu noi theo.
Là Trưởng ban liên lạc của chi họ, tôi có nhiều dịp được gặp gỡ, tiếp xúc và được sự góp ý, chỉ bảo của anh Mười. Mỗi dịp tiếp kiến anh, xen giữa những câu chuyện, tôi thu được nhiều bài học sâu sắc từ một nhân cách lớn.
Anh dặn dò chúng tôi về việc giữ gìn phép nước, đạo nhà. Anh nhiều lần tâm sự là khi còn công tác với bộn bề công việc, nên anh không thể quan tâm nhiều đến họ hàng làng xóm. Tuy vậy, anh luôn ý thức sâu sắc rằng gia đình hạnh phúc, dòng họ đoàn kết, làng xã yên vui thì đất nước mới bình yên, giàu mạnh. Do vậy, giữ gìn truyền thống ngay từ gia đình, dòng họ là điều anh luôn canh cánh trong lòng. Tôi rất thấm thía lời dặn dò của anh.
Anh Đỗ Mười luôn được gia đình chúng tôi nhắc đến như một tấm gương học tập bền bỉ "học, học nữa, học mãi". Thuở nhỏ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, nhưng anh rất chăm chỉ học tập và luôn được ông nội tôi khen ngợi. Quá trình tham gia cách mạng, rồi lên tới vị trí người đứng đầu của Đảng là quá trình anh học tập miệt mài và vận dụng những kiến thức đã học được vào phục vụ đất nước. Đến nay khi đã tuổi cao, đã nghỉ công tác nhưng mỗi lần tôi ra thăm anh, hỏi ý kiến anh, vẫn thấy anh đọc sách. Anh vẫn tham gia bàn bạc với các vị lãnh đạo, giúp giải quyết rất nhiều việc cho quốc gia, sáng suốt và minh mẫn. Việc này tôi rất khâm phục anh.
Anh Mười sống rất giản dị trong một ngôi nhà vừa vặn, xinh xắn. Sinh hoạt hằng ngày của anh khá đạm bạc, tiết kiệm tối đa từ điện nước đến đồ ăn, thức uống. Món ăn anh và gia đình ưa thích nhất, thật bất ngờ lại chỉ là dưa cà và su hào muối. Anh bảo tôi lên nhà anh chơi đừng mang quà cáp hay đồ cao lương mỹ vị, anh đi nhiều trải nhiều, nhưng chỉ thích su hào muối. Món ăn đậm đà giản dị như chính tấm lòng của một người luôn hướng tới dân, sống hòa mình cùng đời sống của nhân dân.
Người xưa có câu "một người làm quan, cả họ được nhờ", nhưng với anh, điều đó không hoàn toàn đúng. Anh chăm nom và lo cho họ hàng thân quyến hết sức có thể, nhưng anh dạy con cháu đi lên bằng năng lực và sự không ngừng phấn đấu. Anh hướng cho con cháu con đường đi chứ không cho một vị trí để dựa dẫm vào đó. Mỗi người, dù là họ hàng thân thuộc, cũng phải cống hiến và đi lên bằng khả năng của chính mình.
Do lối sống giản dị, liêm khiết, tiết kiệm, anh được các vị tiền bối dân làng rất quý trọng. Đặc biệt nhân dịp tôn tạo nhà thờ họ Nguyễn Duy chúng tôi, Giáo sư - Anh hùng Lao động Vũ Khiêu, học giả nghiên cứu về văn hóa Việt Nam, đích thân tặng anh đôi câu đối để treo ở nhà thờ, ca ngợi đạo đức của anh, mong con cháu sau này noi theo tấm gương đó:
Hai chữ hiếu trung tròn đạo nghĩa
Bốn mùa hương khói nhớ công ơn.
––––––––––––––––––––––––––
* Trưởng ban liên lạc chi giáp dòng họ Nguyễn Duy làng Đông Phù, xã Đông Mỹ, huyện Thanh Trì, Hà Nội.
ÔNG NGOẠI NGUYỄN THỊ AN KHANH*
Năm nay ông ngoại cháu đã 95 tuổi rồi, tuy nhiều tuổi nhưng ông vẫn rất minh mẫn, sức làm việc của ông thì khó có ai theo kịp. Sáng sớm, khi cả nhà còn ngon giấc thì ông đã dậy rồi. Ông nghe đài, đọc tài liệu, tập thể dục, ông đạp xe đạp trong nhà và ông vẫn tự mình làm mọi việc. 7 giờ rưỡi ông ăn sáng, sau đó ông làm việc đến tận trưa. Bữa ăn của ông rất đạm bạc: bữa nào cũng có đậu phụ, vừng, lạc. Do ăn uống và sống thanh bạch, sinh hoạt điều độ nên trông ông khỏe mạnh và trẻ hơn tuổi rất nhiều. Ông có ba cháu nội thì ở Thành phố Hồ Chí Minh và ba cháu ngoại, đó là anh Nghĩa, chị Phương Anh và cháu, cả hai anh chị cháu đều đi du học. Chỉ còn một mình cháu ở nhà. Cháu rất may mắn khi sinh ra đã có ông bên cạnh. Bà ngoại thì đã mất từ lâu nên hình như ông càng thương cháu hơn thì phải. Những lúc nghỉ làm việc, ông luôn hỏi: "Mít đâu?" (Mít là tên ở nhà của cháu). Bây giờ cháu đã 11 tuổi rồi, nhưng ông vẫn coi cháu như một em bé. Khi ăn cơm ông để ý thấy cháu không gắp thức ăn là ông lại gắp thức ăn cho cháu. Có lần vội quá, cháu không kịp ăn hoa quả, ông cầm đĩa hoa quả đó mang lên gác cho cháu ăn. Nhiều khi đang làm việc, thấy cháu đang đánh đàn, ông cũng tạm gác công việc lên ngồi nghe cháu đánh đàn để động viên cháu. Bố mẹ cháu đi làm cả ngày, ở nhà chỉ có hai ông cháu ăn cơm. Ông không nói ra nhưng cứ thấy cách ông chăm sóc cháu là biết ông thương các cháu lắm, ông thương cả bà nữa. Ông ngoại ơi, cháu thương ông lắm!
Ngày nào cũng vậy, đi học về người đầu tiên cháu tìm là ông đấy, vào chào ông và xem ông thế nào. Ông biết không, cháu đến nhà bạn chơi thấy bạn có cả ông cả bà, nhìn bà bạn ấy chăm sóc ông bạn ấy, cháu thấy thương ông nhiều lắm. Cháu nghe người lớn nói: "Con chăm cha không bằng bà chăm ông", cháu chưa hiểu hết ý nghĩa của câu nói đó, nhưng cháu thấy cũng đúng, người lớn đi làm cả ngày, chỉ có ông bà về hưu thì ở nhà chăm sóc lẫn nhau thôi! Mặc dù xung quanh còn có rất nhiều người như bố mẹ cháu, cháu, các cô, các bác, các chú, nhưng nhiều lúc cháu thấy ông cứ cặm cụi một mình, cháu biết phải làm sao? Những lúc trái gió trở trời, ông đau, cả nhà lo lắng. Còn cháu chỉ biết chắp tay cầu trời, khấn Phật và mong bà ngoại phù hộ cho ông chóng khỏi bệnh và khỏe mạnh. Những lúc như vậy, cháu ước mình lớn thật nhanh, học thật giỏi để làm bác sĩ giỏi chữa bệnh cho ông và mọi người. Ông ơi! Ông có biết vì sao cháu mê đọc sách không? Cháu được thừa hưởng từ ông đấy. Cháu sẽ cố gắng nhiều hơn để giữ gìn thư viện sách của ông. Nhiều lúc ông ngồi nói chuyện với ba anh em cháu, ông bảo: "Các cháu muốn học giỏi gì thì học nhưng vẫn phải thuộc lịch sử nước nhà, cả đời ông cha ta cho đến tận bây giờ vẫn phải tôn trọng và giữ gìn lịch sử, mình là người Việt Nam, phải thuộc lịch sử Việt Nam, các cháu còn nhỏ vẫn cần phải nhớ lắm đấy!".
Cháu còn nhỏ nên chưa hiểu hết công việc của ông, nhưng các bác đến nhà ai cũng nói: "Cụ là Phật sống đấy, cụ thật thông minh, trí tuệ, tận tụy, thương dân, yêu nước... Người như cụ thật là ít, cụ sống đơn giản quá, chân tình quá".
Cháu tự hào lắm, cháu thật vinh dự khi được làm cháu của ông. Ông ơi, chúng cháu hứa với ông sẽ học tập và nhớ những điều ông từng dạy chúng cháu, chúng cháu sẽ trở thành những người có ích cho xã hội, góp phần nhỏ bé của mình để xây dựng đất nước bởi vì ông muốn thế mà!
Cháu cầu mong ông sống lâu, khỏe mạnh, là chỗ dựa tinh thần cho chúng cháu! Cháu cảm ơn ông trời đã cho cháu làm cháu của ông!
Hà Nội, ngày 18 - 4 - 2011
––––––––––––––––––––––––––––-
* Cháu ngoại đồng chí Đỗ Mười
PHỤ LỤC | BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG VĂN PHÒNG Số: 294-CV/VPTƯ
| ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
Hà Nội, ngày 18-3-1997
|
| Kính gửi: | - Ban Khoa giáo Trung ương - Bộ Giáo dục và Đào tạo - Hội Khuyến học Việt Nam - Tổng cục Bưu điện - Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng |
Được biết Tổng Bí thư Đỗ Mười rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục và đào tạo, vừa qua Tập đoàn LG của Hàn Quốc và Công ty Nomura của Nhật Bản đã gửi biếu Tổng Bí thư Đỗ Mười 1,1 triệu USD để dùng khuyến khích hoạt động giáo dục, đào tạo, trong đó Tập đoàn LG 1 triệu USD và Công ty Nomura 100.000 USD.
Để sử dụng số tiền đó có ý nghĩa và có hiệu quả, đồng chí Tổng Bí thư đã có ý kiến như sau:
1. Số tiền 1 triệu USD (tương đương trên 11 tỷ đồng) của Tập đoàn LG mà hiện nay Tổng cục Bưu điện đang giữ sẽ được chia đều làm 11 phần:
- Chín phần chia cho 9 tỉnh của 3 vùng Trung, Nam, Bắc để xây dựng 9 trường học tật học (Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Khoa giáo Trung ương xác định cụ thể 9 tỉnh nói trên).
- Một phần góp vào Quỹ khen thưởng dành cho học sinh nghèo học giỏi.
- Một phần để xây dựng một trung tâm đào tạo giáo viên tật học tại Đại học Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà Nội.
2. Số tiền 100.000 USD của Công ty Nomura mà hiện nay Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng đang giữ sẽ chuyển cho Tổng cục Bưu điện quản lý và nhập vào Quỹ khen thưởng dành cho học sinh nghèo học giỏi. Như vậy, quỹ này có hơn 190.000 USD (tương đương trên 2 tỷ đồng Việt Nam). Ủy nhiệm cho Tổng cục Bưu điện quản lý số tiền trên của Quỹ dùng sẽ tiền đó gửi vào quỹ tiết kiệm hoặc đóng cổ phần doanh nghiệp để hằng năm lấy lãi dùng cho việc khen thưởng học sinh nghèo học giỏi
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì cùng với Ban Khoa giáo Trung ương, Tổng cục Bưu điện và Hội Khuyến học Việt Nam bàn việc phân phối sử dụng và quản lý những số tiền nói trên theo ý kiến của đồng chí Tổng Bí thư và báo cáo cho đồng chí Tổng Bí thư biết kết quả thực hiện.
4. Ban Khoa giáo Trung ương phụ trách việc công bố trên báo chí vào thời điểm thích hợp để nhân dân được biết việc sử dụng khoản tiền 1,1 triệu USD mà Tập đoàn LG và Công ty Nomura tặng Tổng Bí thư Đỗ Mười.
Xin thông báo các cơ quan có liên quan biết để thực hiện.
CHÁNH VĂN PHÒNG
PHAN DIỄN
Trụ sở: 1A Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội
Email:congdcsvn@vptw.dcs.vn