Hệ thống
Tư liệu - Văn kiện Đảng
Tư liệu - Văn kiện
Tin mới
Ban hành Quy chế phối hợp giữa Đảng uỷ Quốc hội với các đảng uỷ trực thuộc Trung ương, cơ quan đảng ở Trung ương và các tỉnh uỷ, thành uỷMới Quy định của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác đối với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trúMới Thông báo Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIVMới Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIVMới Phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khai mạc Hội nghị Trung ương lần thứ tư khóa XIV Ban Bí thư ban hành Khung Kiến trúc số của các cơ quan đảng, phiên bản 1.0 Kết luận của Bộ Chính trị về khai thác, quản trị và bảo vệ không gian tầm thấp phục vụ phát triển đất nước trong tình hình mới Thông báo kết luận của Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng tại Phiên họp lần thứ 5 Tôn vinh, trọng dụng và bảo vệ cán bộ dám đổi mới, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung Chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của đảng ủy cơ sở ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật trong tình hình mới Quy định mới về chế độ báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư, lãnh đạo chủ chốt

Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nghị quyết Hội nghị cán bộ lần thứ V về công tác dân vận và công tác mặt trận thống nhất dân tộc

I- Toàn thể Hội nghị tán thành các nhiệm vụ về công tác vận động các giới đã đề ra trong phần thứ nhất của bản báo cáo.

II- Hội nghị nhận thấy một nguyên nhân chính làm cho công tác dân vận của Đảng sút kém và lỏng lẻo, là vì Đảng ta chưa đúc được các kinh nghiệm vận động ở các địa phương, làm thành những nguyên tắc cǎn bản cho công tác hàng ngày, do đó chưa định rõ được chính sách và phương châm vận động mỗi giới.

Hội nghị đề ra 10 nguyên tắc sau này, mà Hội nghị cho là những nguyên tắc cốt yếu có thể cǎn cứ vào đấy để quyết định chính sách và phương châm vận động các giới:

1. Chính sách và phương châm vận động mỗi giới phải thích hợp với quyền lợi và nguyện vọng của giới ấy;

2. Chính sách và phương châm vận động mỗi giới lại phải thích hợp với đặc tính (ưu và nhược điểm) của giới ấy;

3. Hiện nay, bất kỳ giới nào ngoài quyền lợi riêng của giới mình, cũng đều có một nghĩa vụ chung đối với Tổ quốc: tích cực tham gia kháng chiến giành thống nhất và độc lập hoàn toàn. Mỗi quyền lợi riêng rẽ của giới đều phải phụ thuộc vào quyền lợi chung ấy của dân tộc;

4. Muốn động viên mỗi giới, phải có một vài khẩu hiệu chính, cốt yếu để cổ động, tập hợp quần chúng trong giới, ngoài ra, lại có những khẩu hiệu khác phụ thuộc vào khẩu hiệu chính, thích hợp với mỗi hạng người để có thể lôi kéo tất cả mọi người vào trong phong trào;

5. Phải có những hình thức tranh đấu thích hợp, để mưu quyền lợi cho giới ấy, để thực hiện các khẩu hiệu chung và lẻ tẻ đã đề ra.

6. Phải có những hình thức tổ chức cho thích hợp với trình độ quần chúng có thể tập hợp được số đông đảo quần chúng, dẫn họ ra trường tranh đấu;

7. Mỗi phong trào phải có những người cầm đầu được quần chúng tín nhiệm thì mọi lực lượng động viên mới mau lẹ và náo nhiệt, nếu chưa có những người lãnh tụ như thế thì phải chú ý đào tạo;

8. Đã chọn được khẩu hiệu, hình thức tranh đấu và tổ chức rồi, phải có phương châm vận động, nghĩa là tìm thuật động viên vừa thích hợp quyền lợi, vừa thích hợp với đặc tính và những sự ham thích của quần chúng;

9. Mỗi tổ chức lại phải có một chương trình hành động để đạt những mục tiêu nhằm đó mà thực hiện từng thời kỳ một;

10. Sau cùng phải định rõ phương thức lãnh đạo của đảng; cách Đảng thu phục quần chúng theo chủ trương mình như thế nào, thái độ đoàn kết với người ngoài Đảng, với những kẻ chống Đảng, v.v..

Các cấp đảng bộ, đặc biệt là các đồng chí trực tiếp phụ trách các ngành dân vận, cần áp dụng 10 nguyên tắc ấy vào

công tác của mình, mà ra những cuộc hội nghị trao đổi nhận xét, chủ trương để cung cấp ý kiến cho Trung ương làm các đề án về chính sách và phương châm vận động các giới để Đại hội sắp tới nghiên cứu và quyết định.

III- Về vấn đề thống nhất VM vào LV, và kế hoạch chuẩn bị việc thống nhất ấy, về vấn đề chấn chỉnh các tổ chức quần chúng, Hội nghị đã đồng ý với các chủ trương đề ra trong bản báo cáo.

IV- Về vấn đề TNCQ1, và ĐTNVN2, FNCQ3 và LHPNVN4, Hội nghị đồng ý với ý kiến trong bản báo cáo.

V- Tuổi ấn định cho vào Thanh niên cho nam giới là từ 18 đến 29 tuổi, cho nữ giới là từ 18 đến 25 tuổi.

VI- Trong bộ đội, các phần tử thanh niên không tổ chức riêng, nhưng vẫn giữ chân trong đoàn thể cũ của mình, và nếu hoàn cảnh thuận tiện, vẫn được đi tham dự các cuộc hội họp của đoàn thể, tham gia các công cuộc vận động của thanh niên.


1. TNCQ: Thanh niên cứu quốc (B.T).

2. ĐTNVN: Đoàn Thanh niên Việt Nam (B.T).

3. FNCQ: Phụ nữ cứu quốc (B.T).

4. LHPNVN: Liên hiệp phụ nữ Việt Nam (B.T).


tulieuvankien.dangcongsan.vn

Các tin khác

Chủ trương, chính sách mới

Hồ sơ - Sự kiện - Nhân chứng