Kết luận của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ngày 2/11/1981

Sau ba tuần làm việc khẩn trương với tinh thần trách nhiệm cao, Hội nghị lần thứ 10 của Ban Chấp hành Trung ương đã thu được kết quả tốt. Đây là thắng lợi quan trọng trong quá trình chuẩn bị Đại hội lần thứ V của Đảng. Hội nghị đã thể hiện được sự đoàn kết nhất trí trong Trung ương, giữa tập thể Trung ương với Bộ Chính trị. Hội nghị đã nêu cao tinh thần tự phê bình và phê bình nghiêm túc, thể hiện quyết tâm của Trung ương nhìn thẳng vào khuyết điểm, khó khăn để tìm biện pháp thực hiện một sự chuyển biến thật sự trong công tác lãnh đạo của Đảng và công tác quản lý của Nhà nước, nhằm đưa đất nước vượt khỏi tình trạng không bình thường về kinh tế - xã hội hiện nay và tiến lên thu được thắng lợi mới. 

Kể cả việc trao đổi ở tổ và thảo luận ở hội trường, đã có 127 đồng chí Trung ương phát biểu ý kiến, và hầu hết đã biểu thị nhất trí với nội dung của dự thảo Báo cáo chính trị. Căn cứ vào ý kiến phát biểu của các đồng chí Trung ương, xin trình bày sau đây ý kiến kết luận của Bộ Chính trị. 

I- Đánh giá tình hình, thắng lợi và thành tích, khuyết điểm và sai lầm 

A. Thắng lợi và thành tích 


Năm năm qua đi vào lịch sử dân tộc như một chặng đường thắng lợi rất vẻ vang của cách mạng Việt Nam. Vượt qua những khó khăn to lớn và chồng chất, nhân dân ta đã đưa cách mạng Việt Nam phát triển lên một thế chiến lược mới, vững chắc hơn bất kỳ thời kỳ nào khác trong lịch sử, tạo ra khả năng dồi dào để bảo vệ Tổ quốc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. 

1- Chúng ta đã nhanh chóng thực hiện một loạt chính sách có tác dụng thúc đẩy quá trình thống nhất nước nhà về mọi mặt, tạo ra cuộc sống chung chan hoà của cả dân tộc. 

2- Chúng ta đã thiết lập vững vàng hệ thống chuyên chính vô sản trong cả nước, bước đầu thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội, mở rộng quyền tự do dân chủ của nhân dân, đập tan kế hoạch hậu chiến của Mỹ và những âm mưu gây nội loạn... 

3- Thắng lợi của hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc là thắng lợi có ý nghĩa lịch sử hết sức to lớn. 

4- Chúng ta thu được thắng lợi có tính chiến lược trong việc tăng cường liên minh chiến đấu và thế chiến lược liên hoàn chưa từng có của cách mạng ba nước Đông Dương, trong việc mở rộng hợp tác toàn diện giữa nước ta với Liên Xô (về nội bộ, chúng ta hiểu đây là liên minh chiến lược), và phát triển sự hợp tác giữa nước ta với cộng đồng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta cũng tiếp tục nhận được sự đồng tình và ủng hộ của nhân dân tiến bộ trên thế giới. 

5- Về mặt kinh tế, mặt dầu công tác quản lý của chúng ta có những khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng, và chúng ta phải hết sức nghiêm khắc đối với khuyết điểm, sai lầm đó, song nhân dân lao động cả nước, công nhân, nông dân, cán bộ, các ngành, các địa phương, kể cả lực lượng vũ trang, đã phấn đấu kiên cường, khắc phục vô vàn khó khăn, và đã làm được nhiều việc. 

Những việc đã làm được là: 

- Chúng ta đã khắc phục những hậu quả nặng nề do chiến tranh xâm lược của Mỹ và... cùng bè lũ tay sai gây ra. Những cơ sở nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải ở miền Bắc bị phá hoại trong chiến tranh, đến nay về cơ bản đã được khôi phục. Những vùng nông thôn rộng lớn ở miền Nam bị chiến tranh tàn phá đã được xây dựng lại. 

- Hàng triệu người đã được giúp đỡ về lại quê cũ đoàn tụ với gia đình và tham gia xây dựng đất nước. Cả triệu người thất nghiệp ở vùng mới giải phóng đã được thu xếp công ăn việc làm. Đã phục hồi nhân phẩm cho hàng vạn nạn nhân của lối sống và văn hoá đồi trụy dưới chế độ cũ. 

- Về cải tạo xã hội chủ nghĩa, đã xóa bỏ giai cấp tư sản mại bản ở miền Nam, đã căn bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp ở các tỉnh Khu V cũ; đã bước đầu tổ chức đưa nông dân ở các tỉnh Nam Bộ cũ vào con đường làm ăn tập thể hoá bằng hình thức tập đoàn sản xuất. 

- Năng lực sản xuất của các ngành kinh tế được tăng cường một bước, tuy rằng việc phát huy năng lực này chưa tốt. Nhiều cơ sở kinh tế đang xây dựng chưa xong, sẽ phát huy tác dụng trong thời gian của kế hoạch 1981-1985. 

- Sản xuất tuy chưa đáp ứng được nhu cầu, nhưng một số mặt có phát triển trong thời gian kế hoạch 1976-1980, hoặc so với thời kỳ 1971-1975. 

Nhiều tỉnh trước kia luôn luôn thiếu ăn, lúc mới giải phóng phải nhờ vào sự giúp đỡ của trung ương về lương thực và thực phẩm, nay đã tự đáp ứng được nhu cầu, có tỉnh đã đóng góp được cho trung ương. 

- Về đời sống, chúng ta đã vượt qua được nạn đói uy hiếp nghiêm trọng ở nhiều vùng, có lúc lên đến mấy triệu người. Đời sống của nhân dân ta còn nhiều thiếu thốn. Song ở nhiều nơi, nhất là trong vùng nông thôn, có được cải thiện rõ rệt trên một số mặt. 

Phải thấy hết những khó khăn mà nhân dân ta đã vượt qua để làm được những việc trên đây. Đó là hậu quả rất nặng nề của 30 năm chiến tranh và chủ nghĩa thực dân mới, chỉ riêng trong việc tháo gỡ bom mìn, phục hoá ruộng đất, hàng nghìn đồng bào và chiến sĩ đã anh dũng hy sinh; đó là những đảo lộn to lớn về kinh tế - xã hội sau chiến tranh, những nhiệm vụ hết sức nặng nền về an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội phải giải quyết song song với những nhiệm vụ trên mặt trận kinh tế; đó là thiên tai nặng và liên tiếp; đó là việc... đột ngột cắt viện trợ, rút chuyên gia,... gây ra hai cuộc chiến tranh làm chúng ta thiệt hại về người, về của và khiến cho chi phí quốc phòng tăng đột ngột đến mức rất cao; đó là cuộc chiến tranh phá hoại toàn diện... thường xuyên chống nước ta. Vì vậy, chúng ta đánh giá những việc đã làm được là những thành tựu đáng kể. Nói như thế là đúng mức, là khẳng định sự nỗ lực to lớn, lao động quên mình, thậm chí cả hy sinh xương máu của nhân dân lao động, của đảng viên, nhân viên và cán bộ nhà nước, của các địa phương và các ngành. Chúng ta có những khuyết điểm, sai lầm nghiêm trọng và những khó khăn lớn trên mặt trận kinh tế, do đó, chúng ta không nói thắng lợi to lớn, tuy rằng nói thắng lợi to lớn cũng không có gì gượng ép. Trên một số lĩnh vực và ở khá nhiều địa phương, đúng là có thắng lợi to lớn. Không nên vì khuyết điểm, sai lầm và hiện nay có khó khăn mà phủ nhận thành tựu của nhân dân lao động. 

Chúng ta phải rút bài học về làm ăn có hiệu quả. Hiệu quả là một trong những tiêu chuẩn cao nhất, song không phải là tiêu chuẩn duy nhất để đánh giá thành tựu.Vả lại, những tiêu chuẩn về hiệu quả cũng cần phải được xác định một cách đúng đắn và trong hiệu quả cuối cùng của sản xuất và xây dựng, phải tính đến những yếu tố như thiên tai, địch phá, v.v.. 

Coi những công suất mới được tạo ra trong công nghiệp, nông nghiệp và các ngành kinh tế khác là những thành tựu đáng kể không mâu thuẫn với nhận định rằng công tác đầu tư xây dựng cơ bản có nhiều khuyết điểm, sai lầm. Những khuyết điểm, sai lầm trong đầu tư xây dựng cơ bản về phương hướng và cơ cấu đầu tư chung cũng như về phương hướng và cơ cấu đầu tư trong từng ngành, về kết hợp quy mô lớn, vừa và nhỏ, về kết hợp đầu tư chiều rộng và đầu tư chiều sâu, về bố trí tiến độ xây dựng, dàn mỏng, không tập trung, về lãng phí trong thiết kế và thi công, v.v., cộng với những khuyết điểm, sai lầm trong quản lý kinh tế, trong bố trí kế hoạch kinh tế và điều hành kinh tế làm cho mặc dù đã đầu tư 18 tỷ đồng, tăng được 10,4 tỷ đồng tài sản cố định, nhưng tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân không tăng (sự không tăng này còn do những nguyên nhân khách quan khác nữa). Điều đó không có nghĩa là các công trình đã và đang xây dựng là không có tác dụng mà trái lại, hầu hết các công trình đều đã và sẽ đem lại sản phẩm mới cho nền kinh tế quốc dân, ví dụ: Nhà máy giấy Bãi Bằng đã một phần đi vào sản xuất; các nhà máy ximăng; các nhà máy cọc sợi làm xong sẽ tăng công suất kéo sợi lên gấp đôi, cân đối được năng lực kéo sợi với năng lực dệt; 1,8 triệu ha đất gieo trồng mới đã cho sản phẩm. Nhà máy điện Phả Lại khi xây dựng xong sẽ tăng công suất phát điện của miền Bắc lên ba lần - không làm sớm một nhà máy điện cỡ 10-15 vạn kilôoát để có điện sớm là sai về chủ trương, còn khi Nhà máy điện Phả Lại làm xong thì đó là một thành tựu lớn, v.v.. Tất nhiên, có một số công trình làm ra không có tác dụng hay còn lâu mới phát huy tác dụng, gây lãng phí, nhưng số này chiếm tỷ lệ không lớn lắm. 

6- Về mặt văn hoá, xây dựng nền văn hoá mới, đấu tranh loại trừ văn hoá phản động, đồi truỵ, lạc hậu do chế độ cũ để lại, bên cạnh những khuyết điểm, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu. 

Xin nói thêm một điểm về thắng lợi trên mặt trận đối ngoại. Vì thắng lợi của chúng ta trong chiến tranh giải phóng và chiến tranh bảo vệ Tổ quốc có ý nghĩa thời đại rất to lớn, vì sự nghiệp của chúng ta tiêu biểu cho độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chân chính, cho nên Mỹ,... cùng bọn đế quốc và phản động quốc tế khác tìm mọi cách vu khống, nói xấu ta, hòng bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Hiện nay, chúng đang lấy vấn đề người di tản và vấn đề Campuchia để lên án chúng ta. Chúng đã, đang và còn tìm cách tổ chức người di tản để chống phá ta lâu dài (việc này chúng không chỉ thực hiện đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều nước khác). 

Trên một số diễn đàn quốc tế, như tại Đại hội đồng Liên hợp quốc vừa qua, số đông các nước bỏ phiếu chống ta trong vấn đề Campuchia. Trong khi xem xét sự việc này, không nên lẫn lộn hiện tượng với bản chất. Hơn nữa, về thái độ của các nước trong những vấn đề nói trên, chúng ta nên phân biệt thái độ của nhân dân và thái độ của các chính phủ. Về thái độ của nhân dân, nếu có một bộ phận nào đó chưa đồng tình với chúng ta, thì ta phải xét đến ảnh hưởng của sự tuyên truyền của địch và những thiếu sót của chúng ta trong công tác tuyên truyền đối ngoại. Về thái độ của các chính phủ, chúng ta nên xem xét dưới nhiều giác độ. 

Chúng ta... giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng, là làm việc chính nghĩa, phù hợp với xu thế của thời đại, phù hợp với những nguyên tắc của chủ nghĩa Mác - Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản. 

Vì vậy, không nên căn cứ vào một số hiện tượng mà kết luận rằng hình ảnh của Việt Nam lu mờ, Việt Nam bị cô lập trên trường quốc tế. Bằng việc làm tốt công cuộc bảo vệ Tổ quốc, đồng thời làm tròn nhiệm vụ giúp đỡ cách mạng Lào và cách mạng Campuchia, bằng việc khắc phục những khuyết điểm, sai lầm của chúng ta trong lãnh đạo và quản lý kinh tế và xã hội để cải thiện tình hình mọi mặt hiện nay, chúng ta nhất định sẽ làm cho hình ảnh của Việt Nam luôn luôn đẹp đẽ trước nhân dân thế giới, và đó cũng là nghĩa vụ quốc tế của chúng ta đối với cả nghìn triệu người trong các nước đang phát triển. 

B. Nguyên nhân của những thắng lợi và thành tựu 

1- Đường lối đúng đắn của Đảng. Hội nghị Trung ương khẳng định đường lối chung của cách mạng xã hội chủ nghĩa và đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa do Đại hội IV của Đảng đề ra là đúng đắn và sáng tạo. Đường lối ấy đã vận dụng đúng đắn chủ nghĩa Mác-Lênin, vận dụng đúng đắn kinh nghiệm của các nước xã hội chủ nghĩa anh em, tổng kết kinh nghiệm 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và 30 năm chiến tranh giải phóng, và dựa trên sự đánh giá chính xác những đặc điểm lớn nhất của tình hình đất nước ta. Ba đặc điểm lớn của giai đoạn cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nước ta do Đại hội IV nêu ra, nay nhìn lại là chính xác đối với lúc bấy giờ, và đối chiếu với tình hình hiện nay, vẫn chính xác. Các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương và các nghị quyết của Bộ Chính trị cụ thể hoá đường lối của đại hội, là đúng đắn, và có những nghị quyết ra rất kịp thời, như Nghị quyết 2, Nghị quyết 4, Nghị quyết 6, Nghị quyết 9… Chính là nhờ chấp hành Nghị quyết Đại hội và Nghị quyết 2 của Trung ương, mà các địa phương, nhất là các tỉnh mới giải phóng ở miền Nam, đã thu được những thành tựu lớn về nông nghiệp. Dưới ánh sáng của Nghị quyết 4 của Trung ương, đã thực hiện được sự chuyển hướng mau lẹ, kiên quyết, kịp thời, do đó đã chiến thắng trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc. 

2- Sự lãnh đạo vững vàng của Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. 

3- Sự anh dũng, kiên cường của nhân dân, quân đội, chiến sĩ công an, sự nỗ lực của đảng viên và cán bộ các ngành, các địa phương, các đơn vị vũ trang. 

4- Sự hợp tác giúp đỡ to lớn kịp thời và có hiệu lực của Liên Xô, sự ủng hộ và hợp tác của nhân dân Lào và Campuchia, sự giúp đỡ và hợp tác của các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác. 

5- Sự đồng tình và ủng hộ của bầu bạn khắp nơi và của nhân dân tiến bộ trên thế giới. 

C. Nguyên nhân của khó khăn, tiêu cực trong đời sống kinh tế và xã hội 

Trước hết, nói về kinh tế. Những khó khăn, tiêu cực về kinh tế có những nguyên nhân khách quan rất quan trọng. Nói nguyên nhân khách quan không phải để giảm nhẹ khuyết điểm, sai lầm chủ quan của chúng ta, mà vì đây là sự thật. Những nguyên nhân khách quan đó là: 

1- Sản xuất nhỏ. 

2- Hậu quả nặng nề của 30 năm chiến tranh ác liệt và chủ nghĩa thực dân cũ và mới; sự đảo lộn lớn về kinh tế, xã hội sau chiến tranh. 

3- Hành động thù địch... tiếp đó là chiến tranh mới... ở biên giới Tây Nam và ở phía Bắc. 

4- Kiểu chiến tranh phá hoại toàn diện... chống nước ta. 

5- Thiên tai liên tiếp. 

6- ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế trên thế giới. 

7- Sự thiếu hiểu biết của chúng ta về kinh tế và quản lý kinh tế (đây là nhân tố chủ quan, nhưng cũng là sản phẩm khách quan của một hoàn cảnh lịch sử). 

Những nhân tố khách quan này là tác nhân rất lớn gây ra những khó khăn của chúng ta về kinh tế. Giả sử chúng ta không phạm những khuyết điểm, sai lầm chủ quan thì tình hình kinh tế hiện nay tuy ít khó khăn hơn, nhưng chắc chắc vẫn còn rất khó khăn, những mất cân đối lớn chưa thể khắc phục được. 

Cần làm rõ nguyên nhân khách quan để chuẩn bị tư tưởng cho toàn Đảng, toàn dân hiểu rõ khó khăn, không có ảo tưởng, đồng thời nêu cao ý chí phấn đấu cách mạng cho mọi người để ai nấy đều nỗ lực cao nhất, góp phần xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. 

Về khuyết điểm, sai lầm chủ quan: Khuyết điểm, sai lầm chủ quan của chúng ta là rất nghiêm trọng; trong những mặt nhất định, đó là nguyên nhân chủ yếu gây ra hoặc làm trầm trọng thêm tình hình khó khăn hiện nay. 

Muốn phân tích chính xác khuyết điểm, sai lầm về kinh tế, cần phải tổng kết kinh tế. Việc đó hiện nay đang làm. Lần này, chúng ta tạm kết luận một số vấn đề. 

Như trên đã nói, chúng ta khẳng định đường lối chung và đường lối kinh tế do Đại hội IV của Đảng đề ra là đúng và sáng tạo. Đường lối ấy cũng là quy luật và những vấn đề có tính quy luật của quá trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Chúng ta khẳng định đường lối ấy có giá trị và cần được thực hiện trong suốt thời kỳ quá độ, bao gồm cả chặng đầu của thời kỳ ấy. Khuyết điểm, sai lầm chính của chúng ta là khuyết điểm, sai lầm về cụ thể hoá đường lối, thi hành các nghị quyết của đại hội và của Ban Chấp hành Trung ương, về quản lý và kế hoạch hoá, và về tổ chức và chỉ đạo thực hiện. Sau đây là những khuyết điểm, sai lầm cụ thể: 

1- Chúng ta có những biểu hiện chủ quan, nóng vội và bảo thủ, trì trệ 

Biểu hiện chủ quan: Đánh giá chưa đúng mức quy mô và tầm cỡ của những khó khăn trong thực trạng kinh tế - xã hội sau chiến tranh: sự đảo lộn về kinh tế và xã hội, hậu quả 30 năm chiến tranh, hậu quả chủ nghĩa thực dân mới; sự mất đi đột ngột của một nguồn viện trợ lớn; những khó khăn của sản xuất nhỏ. Không dự kiến đầy đủ những hậu quả kinh tế mà sự phản bội... gây ra. Không dự kiến hết những diễn biến không thuận lợi của tình hình quốc tế đối với ta. Chưa đánh giá đúng mức những khó khăn trong việc khắc phục sự non kém của chúng ta về quản lý kinh tế, quản lý xã hội. 

Biểu hiện nóng vội: Trong hệ thống chỉ tiêu ban đầu về phát triển kinh tế 5 năm, có nhiều chỉ tiêu cao. Chủ trương xây dựng cơ bản lúc đầu quá lớn, thiên về công trình lớn, dàn đều, nặng về xây dựng mới, nhẹ cải tạo và mở rộng cơ sở cũ. Vay mượn quá nhiều, nhất là của các nước tư bản, để xây dựng và phát triển kinh tế. Nóng vội còn biểu hiện ở một số chủ trương và hành động cụ thể khác: đưa quy mô hợp tác xã lên quá to, xây dựng nhiều công trình không qua chuẩn bị chu đáo, làm việc không qua thí điểm, rút kinh nghiệm trước khi mở rộng ra diện. 

Biểu hiện bảo thủ, trì trệ: không đánh giá hết các thuận lợi, các khả năng đã có cũng như đang tiềm tàng, về lao động, đất đai, rừng, biển, cơ sở vật chất, và không có đầy đủ quyết tâm tìm biện pháp phát huy những khả năng đó. Không chấp hành hoặc chấp hành không nghiêm chỉnh, không kiên quyết nhiều chủ trương lớn của Đảng, ví dụ: xây dựng chế độ làm chủ tập thể về kinh tế, phát triển nông nghiệp, phát triển hàng tiêu dùng, xuất khẩu, phát triển kinh tế địa phương, đẩy mạnh cách mạng khoa học và kỹ thuật, v.v.. 

Duy trì quá lâu cơ chế quản lý bao cấp, các chính sách giá cả không phù hợp, các chế độ phân phối (thí dụ: khoán, chế độ lương) không khuyến khích người lao động, các chế độ, chính sách gò bó địa phương và cơ sở, v.v.. 

Về hai biểu hiện nôn nóng và bảo thủ, trì trệ, thì nôn nóng xuất hiện trên một số mặt và phần lớn vào lúc đầu của kế hoạch 5 năm 1976-1980. Nó đã được thực tế buộc phải uốn nắn. Còn biểu hiện bảo thủ, trì trệ thì xuất hiện một cách phổ biến, cả trên chủ trương lẫn hành động, và hiện nay đang là trở ngại lớn nhất cho sự phát triển kinh tế. 

2- Nếu chủ quan, nóng vội, bảo thủ, trì trệ là những biểu hiện, thì vấn đề có tính bản chất, và là nguyên nhân quan trọng bậc nhất mà chúng ta cần phân tích sâu sắc để rút kinh nghiệm là: 

Chúng ta không nắm vững việc chấp hành, cụ thể hoá đúng đắn đường lối của Đảng, hay nói một cách khác, không vận dụng đúng các quy luật kinh tế của quá trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa thể hiện trong đường lối của Đảng. 

a) Chưa chấp hành tốt đường lối về xây dựng cơ cấu công - nông nghiệp, kết hợp kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, kết hợp kinh tế và quốc phòng, kết hợp giữa phát triển kinh tế trong nước với mở rộng kinh tế đối ngoại. 

Chúng ta chưa nắm hết và chưa phát huy tốt khả năng lao động, đất đai, các ngành, nghề, chưa tập trung đúng mức và chưa làm tốt việc phát triển nông nghiệp, sản xuất hàng tiêu dùng, đẩy mạnh xuất khẩu. Chưa sử dụng tốt các cơ sở hiện có và chưa xây dựng mới một cách đúng đắn những ngành công nghiệp nặng theo yêu cầu và nhằm phục vụ trước hết cho nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, đặc biệt là các ngành điện, than, hoá chất, cơ khí, giao thông vận tải. Chưa xây dựng tốt huyện và chưa phát huy khả năng về công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, của mấy thành phố lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, và ở các thành phố này, chưa xây dựng tốt các quận, các phường. Như vậy là xây dựng địa phương chưa tốt mà xây dựng ngành cũng chưa tốt. Quan hệ kinh tế với nước ngoài có nhiều khuyết điểm, sai lầm, nhất là trong vấn đề tạo ra mặt hàng xuất khẩu; tư tưởng ỷ lại nặng, xuất khẩu kém, sử dụng vốn ngoài nước không tốt. 

b) Chưa chấp hành tốt đường lối, cũng tức là chưa vận dụng tốt quy luật trong quản lý kinh tế, đặc biệt là chưa vận dụng tốt quy luật phát triển kinh tế có kế hoạch để thực hiện quyền làm chủ tập thể về mặt kinh tế: 

- Không thực sự làm kế hoạch ba cấp và xây dựng kế hoạch từ cơ sở, như vậy thoát ly quy luật tồn tại của nền kinh tế nước ta là tồn tại từng cơ sở, tồn tại từng địa phương và tồn tại cả nước, do đó không phát huy mọi khả năng đã có và đang tiềm tàng của mỗi cấp nhằm cân đối với các nhu cầu của mỗi cấp, bằng sản xuất để tiêu dùng và bằng xuất - nhập khẩu. Và như vậy cũng tức là không thực hiện làm chủ ở ba cấp, là một nội dung lớn của làm chủ tập thể. 

- Không gắn kế hoạch với hạch toán ở tất cả ba cấp, không khuyến khích và bắt buộc mỗi cơ sở, mỗi địa phương, mỗi ngành làm ăn bù đắp được chi phí và phải có lãi để tái sản xuất mở rộng, khuyết khích lợi ích vật chất cho cá nhân và tăng cường phúc lợi tập thể. Cơ chế bao cấp tràn lan. Các chế độ, chính sách không bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của người lao động, do đó không phát huy hai sức mạnh của chế độ làm chủ tập thể là sức mạnh của cộng đồng và sức mạnh của từng người. Không ngăn chặn được lãng phí, không khuyến khích tiết kiệm và tiêu dùng hợp lý để tích luỹ. 

- Không gắn kế hoạch với kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cách làm ở cả ba cấp là tự cấp, tự túc, "khép kín", không biết buôn bán, xoay trở (theo nghĩa tốt, hoạt bát), mở rộng thị trường trong nước, mở rộng thị trường ra nước ngoài; không linh hoạt, nhanh nhạy, quay vòng đồng vốn rất chậm chạp. 

c) Chưa phát huy được vào kinh tế sức mạnh tổng hợp của việc nắm vững chuyên chính vô sản, đồng thời tiến hành ba cuộc cách mạng, lấy cách mạng khoa học - kỹ thuật làm then chốt, xây dựng chế độ làm chủ tập thể, xây dựng nền kinh tế, nền văn hoá và con người mới. Đặc biệt, không biết phát huy sức mạnh của chế độ làm chủ tập thể (cả nước làm chủ, từng địa phương làm chủ, từng cơ sở làm chủ, từng người lao động làm chủ, kết hợp sức mạnh của cộng đồng và của từng người, kết hợp làm chủ về kinh tế với làm chủ về chính trị, văn hoá, xã hội, thực hiện làm chủ ba cấp, làm chủ bằng cách kết hợp hài hoà ba loại lợi ích). Không kết hợp tốt ba cuộc cách mạng, không làm tốt cách mạng khoa học - kỹ thuật, không phát động được phong trào cách mạng của quần chúng. 

Sai lầm, khuyết điểm về chấp hành đường lối xét cho cùng là không nắm quy luật (thể hiện trong đường lối) và không nắm thực tế. 

3- Một khuyết điểm, sai lầm rất nghiêm trọng là tổ chức và chỉ đạo thực hiện. Nói chung là: quan liêu, không nhạy bén, bảo thủ, trì trệ, thiếu trách nhiệm và buông lỏng quản lý kinh tế, quản lý xã hội. 

Bộ máy cồng kềnh, tổ chức không phù hợp với hoạt động kinh tế, kém hiệu lực. Chế độ làm việc chưa bảo đảm chuẩn bị tốt các quyết định, chưa bảo đảm thực hiện các quyết định có kết quả và đến nơi đến chốn, chưa bảo đảm phát hiện kịp thời và phát huy những sáng kiến tốt của quần chúng và cơ sở. 

Công tác cán bộ chậm chạp, bảo thủ, trì trệ, không theo kịp yêu cầu của nhiệm vụ xây dựng và cải tạo kinh tế. 

Khuyết điểm, sai lầm về các mặt khác: 

1- Công tác tư tưởng, văn hoá thiếu sắc bén, kém tính chiến đấu. Cuộc đấu tranh chống những tàn dư của xã hội cũ, chống chiến tranh phá hoại, chiến tranh tâm lý của địch, chống những tư tưởng phản động thiếu kiên quyết, sâu sắc, thiếu kịp thời và liên tục. Trong các ngành giáo dục, văn hoá, văn nghệ, y tế, thể dục, thể thao, bảo vệ bà mẹ và trẻ em, cũng có nhiều khuyết điểm cụ thể, đặc biệt là về tính chiến đấu và về chất lượng. 

2- Pháp chế xã hội chủ nghĩa chậm được tăng cường, việc thi hành pháp luật bị buông lỏng, cuộc đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực thiếu kiên quyết và liên tục. 

3- Công tác xây dựng Đảng có những trì trệ nghiêm trọng kéo dài trong xây dựng tư tưởng và xây dựng tổ chức. Về mặt tư tưởng, thiếu nhạy bén và kém tính chiến đấu. Về mặt tổ chức, chưa đi kịp tình hình và nhiệm vụ mới: chưa làm cho Đảng thật trong sạch; chưa xây dựng được một cơ cấu tổ chức đồng bộ và mạnh; chưa xây dựng được phong cách và chế độ làm việc cách mạng và khoa học. Đặc biệt, công tác cán bộ có nhiều chậm trễ trên tất cả các khâu đào tạo, đề bạt, sắp xếp, chính sách, chế độ. 

Về trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng. 

Về nguyên tắc, Bộ Chính trị chịu trách nhiệm về những thiếu sót trong việc đánh giá tình hình; về nắm vững đường lối, làm quán triệt đường lối, lãnh đạo để cụ thể hoá đường lối; về những thiếu sót trong các chủ trương, chính sách, biện pháp lớn mà Bộ Chính trị thông qua (chiến lược kinh tế, kế hoạch kinh tế, v.v.). 

Ban Bí thư chịu trách nhiệm về những thiếu sót trong việc đôn đốc và kiểm tra Hội đồng Bộ trưởng thực hiện đường lối, các nghị quyết của Trung ương và Bộ Chính trị và các chủ trương, chính sách của Đảng; về việc không kiện toàn đúng mức các ban của Đảng để giúp Ban Bí thư làm tốt nhiệm vụ ấy; về những thiếu sót trong việc đề nghị bố trí cán bộ thuộc phạm vi trách nhiệm của mình. 

Hội đồng Bộ trưởng, trước hết là Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng, chịu trách nhiệm về những thiếu sót trong tổ chức và chỉ đạo thực hiện các nghị quyết của Đảng về kinh tế, xã hội, trong việc chưa cụ thể hoá hoặc cụ thể hoá chưa tốt, chưa đúng đường lối của đại hội, trong việc chưa kiện toàn đúng mức các bộ, các địa phương và các cơ quan tham mưu của Nhà nước. ở đây, cần vạch rõ trách nhiệm của các cơ quan tham mưu của Đảng và Nhà nước. Các ngành và các cấp địa phương, các cơ sở cũng đều chịu trách nhiệm về thiếu sót, sai lầm trong phạm vi của mình. 

II-Nhiệm vụ cách mạng trong thời gian tới 

A. Nhận định tình hình hiện nay 

Có thể nói tóm tắt là chúng ta ở trong một tình hình hết sức khó khăn 

1- Nước ta đang vừa có hoà bình, vừa phải đối phó với một kiểu chiến tranh phá hoại toàn diện...; đồng thời không loại trừ khả năng xảy ra chiến tranh lớn; điều này còn tuỳ thuộc vào sự phát triển của tình hình quốc tế. Chúng ta phải hết sức cảnh giác theo dõi sát những diễn biến rất phức tạp hiện nay trên thế giới. 

Kiểu chiến tranh phá hoại toàn diện đó là: chiến tranh du kích ở Campuchia; gây sức ép, khiêu khích, lấn chiếm bằng quân sự; kích động bạo loạn, chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp; chia rẽ các dân tộc, chia rẽ nội bộ, phá hoại uy tín của Đảng và Nhà nước ta; phá hoại kinh tế, có thể dùng chiến tranh sâu bọ phá hoại mùa màng; phá rối an ninh, nhen nhóm bọn phản cách mạng; du nhập văn hoá phẩm phản động, đồi truỵ, dụ dỗ, lôi kéo người di tản; tìm cách cô lập và bội nhọ, hạ uy thế của nước ta trên trường quốc tế; thực hiện chính sách cấm vận, bao vây về kinh tế, và nhiều thủ đoạn khác nữa. 

2- Về kinh tế, sản xuất phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh; sản xuất về mặt giá trị chưa bảo đảm được tiêu dùng, một phần tiêu dùng phải dựa vào vay và viện trợ, chưa có tích luỹ từ nội bộ nền kinh tế; thiếu lương thực, vải mặc, than, xăng dầu và các nguyên, vật liệu cần thiết cho sản xuất; ngân sách bội chi lớn, tiền phát hành ngày càng nhiều, giá cả tăng vọt, thị trường không ổn định; xuất không đủ nhập, nợ đến hạn phải trả rất lớn. Sản xuất ở nhiều nơi bị đình đốn, năng suất lao động xã hội giảm, hiệu quả kinh tế thấp; làm ăn thua lỗ. Kỷ cương về kinh tế lỏng lẻo, những hiện tượng tiêu cực nghiêm trọng kéo dài và đang trong chiều hướng phát triển: ăn cắp, đầu cơ, buôn lậu, hối lộ, "móc ngoặc", v.v.. 

3- Về đời sống, có nhiều khó khăn. Khu vực nông thôn ổn định và có cải thiện trên vấn đề ăn và ở, còn thiếu thốn về vải mặc, thuốc chữa bệnh, bảo đảm học hành và các nhu cầu văn hoá...Đời sống của công nhân, cán bộ và bộ đội rất khó khăn, thu nhập thực tế giảm nhiều và đang tiếp tục giảm. Trong khi đó, bọn bóc lột mới, bọn làm ăn phi pháp thì làm giàu và sống xa hoa. Sự tương phản đó gây bất bình trong nhân dân lao động. 

4- Về trật tự và an toàn xã hội, đặc biệt là ở các thành phố, có những diễn biến xấu, làm cho nhân dân lo lắng. Về văn hoá, những nọc độc của văn hoá thực dân mới, những hủ tục, mê tín, dị đoan thì dẹp chỗ này, phát sinh chỗ khác, lúc phê phán thì tạm lùi, hễ lơi đấu tranh lại xuất hiện, nói chung đến nay vẫn chưa ngăn chặn được. 

5- Trong Đảng và cơ quan nhà nước, có một bộ phận không nhỏ đảng viên không đủ tiêu chuẩn, và điều đáng quan tâm là một số cán bộ, kể cả cán bộ cao cấp, giảm sút ý chí chiến đấu, thoái hoá, biến chất, cơ hội về chính trị. 

6- Về thái độ của các tầng lớp nhân dân lao động đối với tình hình hiện nay và đối với sự lãnh đạo của Đảng: 

Nhân dân lao động ta đã đi theo sự lãnh đạo của Đảng trong hơn nửa thế kỷ đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng cuộc sống mới, xã hội chủ nghĩa. Nhân dân hiểu rất rõ Đảng ta, tin tưởng Đảng ta, và không hoài nghi gì về lý tưởng của Đảng, về quyết tâm của Đảng phấn đấu cho độc lập của Tổ quốc và hạnh phúc của nhân dân. Mặt khác, do tác động của một số nhân tố sau đây: đời sống khó khăn, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội kéo dài và có chiều hướng phát triển, an toàn xã hội nhiều nơi không được bảo đảm, nhiều chính sách, chế độ, nhất là về kinh tế, không còn phù hợp nữa, nhưng không được sửa chữa kịp thời, sự thiếu gương mẫu của một bộ phận đảng viên và cán bộ, nhân viên nhà nước, sự quan liêu, trì trệ, thiếu trách nhiệm của nhiều cơ quan nhà nước trong việc điều hành kinh tế, xã hội, cộng với chiến tranh tâm lý của địch, sự tuyên truyền của những phần tử xấu, bất mãn và sự yếu kém của công tác tuyên truyền, giải thích của ta, cho nên trong nhân dân có tâm trạng lo lắng, lo lắng về tình hình và về khả năng khắc phục những khó khăn và tiêu cực hiện nay trong đời sống kinh tế và xã hội. Có một bộ phận cán bộ và nhân dân giảm sút lòng tin đối với Đảng. Chúng ta cần hết sức cảnh giác trước tình hình này, nhất là vì khó khăn còn nhiều và kẻ địch đang lợi dụng khó khăn để kích động quần chúng. 

Trong một vài năm trước mắt, những khó khăn và tiêu cực trên đây có mặt sẽ giảm bớt hoặc được khắc phục, nhưng cũng có thể có mặt diễn biến nghiêm trọng hơn, đặc biệt là về vấn đề giá cả, thị trường và những ảnh hưởng của giá cả, thị trường đối với tâm lý xã hội. 

Chúng ta cũng có nhiều thuận lợi rất quan trọng. Đó là : 

1- Thuận lợi lớn nhất là Đảng ta thấy rõ ưu điểm và khuyết điểm của mình, có quyết tâm sửa chữa khuyết điểm, sai lầm, nắm đường lối chắc hơn, nắm thực tế của đất nước cụ thể hơn, chính xác hơn, nhất định tìm ra giải pháp đúng đắn và có hiệu lực để chuyển biến tình hình. 

Qua 5 năm này, rõ ràng toàn Đảng ta cũng như đảng bộ các cấp trưởng thành lên một bước. Các đảng bộ ở miền Nam từ chỗ chưa biết hoặc ít biết, nay đã có bước trưởng thành về làm kinh tế. Nhiều đảng bộ ở miền Bắc, trước đây chỉ quen làm kinh tế theo lối hành chính bao cấp, nay đã bắt đầu biết làm kinh tế theo lối hạch toán và kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Đảng ta đã thu được những kinh nghiệm cụ thể mới về nhiều lĩnh vực. 

Tổ chức đảng và chính quyền ở vùng giải phóng đã được xây dựng tại hầu khắp mọi cơ sở, bảo đảm cho sự lãnh đạo của Đảng. 

2- Chế độ ta ưu việt. 

3- Nhân dân ta là một nhân dân tuyệt vời; có ý thức chính trị cao, anh dũng trong chiến đấu, kiên cường trong lao động sản xuất, chống thiên tai, rất thông cảm với những khó khăn của đất nước. 

4- Về phòng thủ đất nước, chúng ta có lực lượng lớn mạnh, thế bố phòng vững chắc và kinh nghiệm đánh địch nhiều hơn trước. 

5- Chúng ta đã bắt đầu có những chuyển biến về quản lý theo hướng đúng, đặc biệt là một số chính sách gần đây, như chế độ khoán mới trong nông nghiệp, chính sách ổn định nghĩa vụ lương thực, v.v.. Những chuyển biến đó đang tạo ra một khí thế mới trong lao động sản xuất, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực ở những nơi chính sách mới được áp dụng đúng đắn. 

6- Chúng ta có những năng lực sản xuất chưa được sử dụng hết, như lao động, đất đai, cơ sở vật chất - kỹ thuật, chúng ta lại có những năng lực sản xuất mới đã và sẽ được tăng lên. Có thể nói những khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế còn rất lớn. Thí dụ: đó là khả năng sử dụng 90-100% công suất máy móc hiện nay mới sử dụng 30-40%, khả năng của việc sử dụng hợp lý và tập trung, đồng bộ những năng lượng, vật tư hiện có, như điện, than, xăng dầu, phân bón và khắc phục lãng phí để đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều; là khả năng thâm canh, tăng vụ, mở rộng diện tích trong nông nghiệp; là khả năng của các vùng khác nhau của đất nước mà hiện nay có điều kiện hơn để phát huy (đồng bằng sông cửu Long, đồng bằng sông Hồng, miền Đông Nam Bộ, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên, trung du và miền núi phía Bắc); là khả năng phát triển cây công nghiệp ngắn ngày như đậu tương, mía, đay, v.v., là triển vọng về dầu và khí ở thềm lục địa miền Nam cũng như ở đồng bằng sông Hồng và vịnh Bắc Bộ, v.v.. 

7- Quan hệ hợp tác toàn diện với Liên Xô, mở rộng hợp tác với các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế. Triển vọng của việc mở rộng hợp tác toàn diện, đặc biệt là hợp tác kinh tế trong liên minh chiến đấu giữa nước ta với Lào và Campuchia. 

B. Về hai nhiệm vụ chiến lược 

Do tình hình vừa có hoà bình, vừa đang có một kiểu chiến tranh phá hoại toàn diện của địch, vừa có thể xẩy ra chiến tranh lớn, cho nên nhân dân ta phải đồng thời làm hai nhiệm vụ chiến lược: 

Một là, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. 

Hai là, tăng cường quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi bảo vệ Tổ quốc. 

ở đây, xin nói lại vấn đề một chiến lược hay hai chiến lược cách mạng. Trước thắng lợi mùa Xuân năm 1975, nước ta là một nước cùng một lúc tiến hành hai chiến lược cách mạng: chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, nhằm hoàn thành sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Sau thắng lợi mùa Xuân 1975, cả nước ta từ chỗ làm hai chiến lược cách mạng, chuyển sang làm một chiến lược duy nhất là chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa, và bây giờ cũng vẫn như thế. Mỗi nước xã hội chủ nghĩa, bất kỳ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội hay trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội phát triển, đều có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, chừng nào còn chủ nghĩa đế quốc thì phải luôn luôn sẵn sàng. Nay, vì chúng ta đang đương đầu với một kiểu chiến tranh phá hoại toàn diện của địch và đứng trước nguy cơ có thể xảy ra chiến tranh lớn, do đó, tuy đất nước ta làm một chiến lược là chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa, nhưng có hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Việc chúng ta thiếu sẵn sàng chiến đấu lúc đầu ở biên giới Tây Nam không phải vì trước đây chúng ta chỉ đề một chiến lược cách mạng xã hội chủ nghĩa duy nhất và chưa đề ra hai nhiệm vụ chiến lược, mà là vì chúng ta có khuyết điểm về đánh giá địch. 

... Chúng ta đã biết khá sớm bản chất phản động và có lường trước sự phản bội của chúng. Chúng ta cũng đã làm một số việc để đề phòng sự phản bội đó.... Nhưng do phải có sách lược đúng đắn để thắng Mỹ và để tranh thủ hoàn cảnh hoà bình cho công cuộc xây dựng lại đất nước sau thắng lợi mùa Xuân năm 1975, cho nên chúng ta không thể ra những văn kiện chính thức của Bộ Chính trị, của Trung ương Đảng, cũng không thể làm công tác tư tưởng để trong Đảng khỏi mơ hồ, cũng như không thể tiến hành sớm hơn khi điều kiện cho phép, những công tác chuẩn bị cần thiết để đề phòng địch đánh ta. 

Mặt khác, chúng ta chậm nhận thấy sự câu kết... để đánh ta. Do vậy, việc bố trí phòng thủ ở biên giới Tây Nam cũng như việc chuẩn bị để đánh trả những cuộc tiến công lấn chiếm của quân Pôn Pốt trong một vài năm đầu đã không làm đầy đủ. 

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất cần nhấn mạnh là sau khi nhận rõ..., thì Bộ Chính trị và Trung ương Đảng ta đã đề ra những chủ trương chiến lược đúng đắn, kiên quyết và kịp thời để ứng phó với tình hình, bảo đảm giành được thắng lợi vững chắc cho cách mạng. Do đó, chúng ta đã làm tất cả mọi việc, về đối nội cũng như đối ngoại, để kịp thời đối phó với mọi tình huống chiến tranh, gấp rút chuẩn bị mọi mặt để đánh thắng địch, phá tan ý đồ của địch bao vây và tiến công ta bằng hai gọng kìm; và trên thực tế, chúng ta đã hành động một cách rất kiên quyết, đánh thắng nhanh và thắng lớn ở cả phía Tây Nam và phía Bắc. 

Bây giờ, xin trở lại nói hai nhiệm vụ chiến lược: 

Chúng ta đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội không những bởi vì chủ nghĩa xã hội là mục đích cao nhất của toàn bộ sự nghiệp của chúng ta mà còn vì chủ nghĩa xã hội, sự vững mạnh của chế độ xã hội chủ nghĩa là sự bảo đảm cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, chúng ta cần thấy rõ tính chất rất nặng nề và phức tạp của nhiệm vụ chống kiểu chiến tranh phá hoại toàn diện... phải làm mọi việc cần thiết để đánh bại cho kỳ được cuộc chiến tranh phá hoại ấy. Đồng thời, chúng ta không được một phút lơ là cảnh giác, phải theo dõi sát mọi âm mưu và hành động của địch, mọi diễn biến và tác động của tình hình thế giới, phải bảo đảm cho đất nước luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và có đủ khả năng chiến đấu thắng lợi trong trường hợp kẻ địch gây chiến tranh xâm lược quy mô lớn. Phải kết hợp tốt kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế, theo những phương hướng cơ bản, lâu dài, đồng thời nhanh chóng điều chỉnh cho phù hợp với những biến động có thể xảy ra. Những vấn đề cụ thể về quốc phòng và an ninh, về kết hợp kinh tế với quốc phòng, về cách thức quân đội tham gia làm kinh tế, cần được nghiên cứu, lập thành các phương án cụ thể để trình các hội nghị Trung ương và hội nghị Bộ Chính trị quyết định, không thể nói nhiều trong Báo cáo chính trị trình đại hội. 

C. Về nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội 

Năm năm này là 5 năm tiếp tục thực hiện đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội do Đại hội IV đề ra. Tình hình đang đòi hỏi phải có sự chuyển biến mạnh về kinh tế, tư tưởng, trật tự và an toàn xã hội, đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực; để làm những việc này, phải có sự chuyển biến mạnh trong cơ chế quản lý, trong tổ chức bộ máy, trong bố trí cán bộ, trong phương pháp điều hành, và quyết định hơn cả là phải có sự chuyển biến rất mạnh về sức chiến đấu và năng lực lãnh đạo của Đảng ta. Chúng ta thực hiện nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh phải dành sức người, sức của rất lớn để đối phó với chiến tranh phá hoại toàn diện ngày càng tăng của địch, trong lúc thời gian của kế hoạch 5 năm 1981 - 1985 sau Đại hội V của Đảng thực tế chỉ còn lại 3 năm rưỡi. Tình hình của năm 1981 có những nhân tố mới nhưng cũng còn nhiều mặt chưa chuyển biến, đặc biệt việc đổi mới của cơ chế quản lý, tạo ra sự chuyển biến thực sự trong tổ chức và trong chỉ đạo thực hiện của chúng ta đòi hỏi phải có thời gian. Vì vậy, chúng ta cần suy nghĩ để xác định những việc cần làm và có thể làm được đến năm 1985. 

Về kinh tế xã hội, rút kinh nghiệm 5 năm vừa qua, chúng ta thấy cần thiết phải xác định một chiến lược dài hạn. Công cuộc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta nhất định phải qua nhiều chặng đường. Muốn xác định các chặng đường, phải nghiên cứu công phu, đồng thời cũng phải chờ thực tiễn. Tuy vậy, chúng ta cũng cố gắng xác định chiến lược kinh tế - xã hội cho chặng đường đầu tiên hiện nay. Đây là một công trình khoa học mà rồi đây sẽ phải được tổ chức nghiên cứu một cách chu đáo. Trong Đại hội này, chúng ta căn cứ vào đường lối của Đại hội IV và thực tiễn của những năm qua để xác định một số vấn đề có tính nguyên tắc chỉ đạo việc nghiên cứu chiến lược kinh tế - xã hội dài hạn; đó cũng là những vấn đề có tính nguyên tắc chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch 5 năm 1981 - 1985. 

Trung ương đã nhất trí tán thành tinh thần của những vấn đề đã được nêu lên trong dự thảo Báo cáo chính trị, tức là: bốn mục tiêu kinh tế - xã hội, và một số chính sách phát triển, cùng một số biện pháp lớn. 

Trong tư tưởng chỉ đạo việc xây dựng chiến lược kinh tế - xã hội dài hạn và xây dựng kế hoạch 5 năm 1981 - 1985, xin nhấn mạnh mấy vấn đề sau đây: 

1- Nắm vững quan hệ giữa hai mục tiêu bảo đảm đời sống và bảo đảm nhu cầu quốc phòng, an ninh với hai mục tiêu xây dựng và cải tạo kinh tế. Bảo đảm và từng bước không ngừng cải thiện đời sống là mục tiêu cao nhất của chúng ta. Đó cũng là yêu cầu cấp bách, vì đời sống hiện nay rất khó khăn. Đồng thời, nhu cầu quốc phòng - ngoài phần có thể nhờ Liên Xô viên trợ - cũng là một yêu cầu không thể không đáp ứng đúng mức. Nhưng, muốn bảo đảm những nhu cầu ấy thì ngay trước mắt, và nhất là về lâu dài, phải dựa trên cơ sở xây dựng và cải tạo kinh tế, đặc biệt là xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, không thể đơn thuần nói đến nhu cầu đời sống, mà xem nhẹ yêu cầu xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật. Nếu ngày nay thu hẹp tích luỹ để mở rộng tiêu dùng thì chắc chắn một số năm sau tiêu dùng sẽ bị thực tế khách quan đánh tụt xuống. Ngược lại, nếu ngày nay biết duy trì tiêu dùng ở mức hợp lý, biết tự giác chịu đựng khó khăn về đời sống để có tích luỹ thích đáng thì một số năm sau sẽ có điều kiện mở rộng không ngừng tiêu dùng. Vấn đề là xác định tỷ lệ đúng đắn giữa tích luỹ và tiêu dùng cho phù hợp với hoàn cảnh từng lúc. 

Về đời sống, chúng ta phải làm cho mọi người, mọi ngành, mọi cấp hiểu rõ là phải sống bằng sức mình, bằng kết quả lao động của mình, không thể sống quá mức mà lao động mình làm ra cho phép. Phải sớm chấm dứt việc sống dựa vào viện trợ bên ngoài. Làm chẳng những để đủ sống, mà phải có dư để tích luỹ. Vốn vay mượn của nước ngoài phải dùng vào tích luỹ. Nếu về những mặt hàng nào đó làm ra chưa đủ để bảo đảm nhu cầu và phải nhập, thì phải có hàng khác để xuất có giá trị tương đương với số hàng phải nhập. Nguyên tắc này phải được áp dụng đối với từng người, từng cơ sở, từng địa phương, từng ngành và cả nước. 

2- Vấn đề cơ cấu công - nông nghiệp: chúng ta chủ trương đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, lấy việc đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa làm tiêu điểm để xây dựng cơ cấu công - nông nghiệp hợp lý, kết hợp đúng đắn nông nghiệp, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp nặng. Đó là cách thức tiến hành công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, cụ thể hoá đường lối "ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ" trong chặng đường hiện nay. Nói cụ thể hơn, những năm tới đây, chúng ta phải tập trung cao độ cho nông nghiệp, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ra sức phát triển hàng tiêu dùng, kể cả công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu. Đối với công nghiệp nặng, thì trước hết tạo các điều kiện cần thiết để phát huy năng lực hiện có, mặt khác xây dựng mới có trọng điểm và tuỳ theo khả năng, nhằm chủ yếu phục vụ cho nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng. Những ngành công nghiệp nặng đã có và có thể xây dựng mới như thế bao gồm: điện, than, dầu và khí, hoá chất phục vụ nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng (kể cả thuốc chữa bệnh), cơ khí sản xuất phụ tùng, máy móc phục vụ nông nghiệp, chế biến nông sản và phục vụ công nghiệp hàng tiêu dùng, luyện kim. Đồng thời, phải xây dựng cơ sở vật chất, tăng cường phương tiện để giải quyết một bước quan trọng vấn đề bảo đảm giao thông vận tải. 

Việc xây dựng hệ thống công nghiệp nặng tương đối phát triển là nhiệm vụ của chặng đường tiếp theo. Song, ngay trong chặng đường hiện nay cũng phải có sự chuẩn bị rất tích cực và phải ra sức tranh thủ thời cơ để nếu có khả năng thì bắt đầu xây dựng một số công trình mấu chốt càng sớm càng tốt. 

Về nội dung của việc đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, ở đây chỉ nói đưa một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, phù hợp với yêu cầu và khả năng trong khoảng mươi năm tới. 

Nội dung ấy là: 

a) Nông nghiệp của cả nước, nghĩa là bất cứ ở đâu, cũng phải sản xuất và phân phối sản phẩm theo kế hoạch thống nhất của cả nước (tức là theo chế độ ba cấp làm kế hoạch). Sản xuất và phân phối bố trí theo kế hoạch cả nước không còn là sản xuất tự cấp, tự túc trong phạm vi nhỏ hẹp, mà đã mang tính chất của sản xuất lớn, cung ứng nhiều hàng hoá cho xã hội. Theo kế hoạch của cả nước, nông nghiệp phải làm được ba nhiệm vụ: bảo đảm lương thực cho toàn xã hội, cung ứng nguyên liệu nông sản cho công nghiệp hàng tiêu dùng và tạo ra nguồn xuất khẩu quan trọng. Muốn thế, theo kế hoạch của cả nước, nông nghiệp phải đi vào chuyên canh và thâm canh, phải phân công lao động hợp lý để phát triển cả trồng trọt, chăn nuôi và các ngành, nghề. 

Để phát huy tiềm năng của nông nghiệp nhiệt đới, và trong điều kiện diện tích canh tác bình quân rất thấp, chúng ta nhấn mạnh vấn đề thâm canh, tăng vụ (bao gồm cả xen canh, gối vụ) đối với tất cả các loại đất đang sử dụng. Đồng thời chúng ta chú trọng đúng mức vấn đề mở thêm diện tích đi đôi với phân bố lại lao động trong phạm vi cả nước. Về việc khai thác cho được 10 triệu ha đất nông nghiệp và 15 triệu ha đất rừng (theo hướng nông - lâm kết hợp ), chúng ta nêu ra với tinh thần tích cực, còn thời gian cụ thể thì không đóng khung trong 10 năm, mà còn tuỳ thuộc vào sự tiến bộ của chúng ta về phân bố lại lao động trong cả nước để khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới trong một số năm sắp tới. Về vấn đề này, chúng ta phải áp dụng chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm. 

b) Đẩy mạnh cách mạng khoa học kỹ thuật, hiện đại hoá một bước nông nghiệp bằng ứng dụng khoa học - kỹ thuật, thực hiện thủy lợi hoá, cơ khí hoá, hoá học hoá, điện khí hoá nông nghiệp tùy theo khả năng. ở đây, cũng nhấn mạnh chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm. Về thuỷ lợi, phải bảo đảm cho thâm canh, tăng vụ, trên đất thuộc cũng như trên đất mới, phù hợp với yêu cầu tưới, tiêu của từng loại cây trồng. Phải mở rộng sản xuất phân lân. Để có thêm phân đạm và thuốc trừ sâu cần thiết cho nông nghiệp, nhất định phải qua xuất mà nhập trong khi ta chưa sản xuất đủ. Về cơ khí hoá nông nghiệp, phải tiến hành từng bước; cơ khí hoá là rất cần thiết để tăng vụ và làm kịp thời vụ, đặc biệt trong điều kiện nhiều vùng thiếu trâu, bò cày. Phải tích cực chế tạo phụ tùng, máy móc trong nước, phần chưa sản xuất được thì phải thông qua xuất để nhập. Vì vậy, việc đẩy mạnh xuất nông sản là rất quan trọng, trước hết để nhập vật tư kỹ thuật, bảo đảm đủ nhu cầu của sản xuất nông nghiệp, đồng thời bảo đảm những nhu cầu cần thiết cho các ngành khác. Việc ứng dụng thành tựu của cách mạng xanh là rất quan trọng. Tất cả quá trình hiện đại hoá trên đây phải đi đôi với việc phát triển chế biến, bảo quản tốt, vận chuyển kịp thời v.v.., và muốn thế, phải có những cơ sở vật chất - kỹ thuật tương ứng. 

c) Phải xây dựng huyện. Hai nội dung nói trên chỉ có thể thực hiện tốt bằng cách lấy huyện làm địa bàn. Trên địa bàn huyện, ngoài sản xuất, còn phải phát triển văn hoá, xây dựng nông thôn mới. Huyện là một cơ cấu kinh tế, trong đó có phân công lao động, có chuyên canh, có ngành, nghề. Trong huyện có các hợp tác xã, mỗi hợp tác xã là một đơn vị sản xuất; vì vậy hợp tác hoá nông nghiệp là một nội dung quan trọng của việc đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Kinh tế phụ gia đình và kinh tế trên đất 5% của xã viên cũng rất quan trọng, cần được hướng dẫn và kết hợp với kinh tế tập thể, với kinh tế quốc doanh trong huyện theo một kế hoạch thống nhất. 

Như thế, sản xuất lớn không hoàn toàn đồng nghĩa với quy mô lớn của đơn vị sản xuất. Kinh tế gia đình, kinh tế cá thể kết hợp với kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể theo một kế hoạch thống nhất, cũng là bộ phận cấu thành của sản xuất lớn. Về quy mô hợp tác xã, theo kinh nghiệm, nên ổn định ở quy mô vừa phải, không nên làm quy mô lớn và quá lớn. Đối với đồng bằng sông Cửu long, trong 5 năm này, hình thức phổ biến sẽ là tập đoàn sản xuất. Các tập đoàn sản xuất được phân công sản xuất, kết hợp với nhau, và kết hợp với kinh tế quốc doanh và kinh tế gia đình trên địa bàn huyện theo kế hoạch chung, cũng là bộ phận cấu thành của sản xuất lớn. 

Việc xây dựng huyện phải từ cơ sở hiện có mà đi lên. Những vấn đề quan trọng nhất cần làm là: xác định phương hướng sản xuất để thực hiện thâm canh, chuyên canh, sử dụng lao động để phát triển trồng trọt, chăn nuôi, mở mang ngành, nghề. Kế hoạch sản xuất của huyện phải nhằm vào những nhu cầu đời sống nhân dân trong huyện, xuất - nhập khẩu và đóng góp cho cả nước. Về lao động, phải phân công lao động để ngoài sản xuất, còn xây dựng thêm cơ sở vật chất - kỹ thuật trong huyện, xây dựng các công trình phúc lợi công cộng. Công nghiệp của huyện chủ yếu là thủ công nghiệp gia đình, hợp tác xã thủ công nghiệp, làm hàng tiêu dùng, hàng xuất khẩu, chế biến nông sản, sản xuất và sửa chữa công cụ; tùy theo điều kiện, có thể có một số xí nghiệp, tiểu công nghiệp chế biến nông sản, làm thức ăn gia súc, sản xuất vật liệu xây dựng, v.v., do các hợp tác xã nông nghiệp trưởng thành lên, liên doanh với nhau mà xây dựng và quản lý. Ngoài ra, có những trạm máy móc nông nghiệp, các trạm, trại giống hoặc thực nghiệm khoa học - kỹ thuật, được xây dựng với sự giúp đỡ của Nhà nước, hoặc do Nhà nước và nhân dân cùng làm. Trên đây là nói các huyện trong các vùng nông nghiệp, còn đối với các huyện ở các vùng lâm nghiệp, vùng chuyên canh cây công nghiệp, vùng biển, thì cũng theo tinh thần trên đây mà xây dựng cơ cấu kinh tế cho phù hợp. 

Muốn làm được những việc ấy, phải tăng cường cán bộ cho huyện, nhất là cán bộ có năng lực, có trình độ. Bộ máy của cấp huyện phải gọn, nhẹ, hợp lý và tinh, không bày ra hàng chục ban, phòng. Theo tinh thần đó, có thể xây dựng cả 400 huyện, với sức của bản thân huyện là chính, có sự tăng cường cán bộ của trung ương và của tỉnh cho huyện. Tùy theo sức của mình, trung ương phải tập trung giúp đỡ xây dựng những huyện trọng điểm, có tiềm năng lớn và có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm hàng hoá. 

3- Kết hợp đúng đắn xây dựng kinh tế trung ương và phát triển mạnh kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất 

Đây là một vấn đề chiến lược mà 5 năm qua chúng ta thực hiện chưa được tốt. Chúng ta xây dựng ngành cũng chưa tốt mà xây dựng địa phương cũng chưa tốt. Nhưng vấn đề cần nhấn mạnh là chúng ta chưa thấy rõ vị trí quan trọng của kinh tế địa phương trong quá trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, trong chế độ làm chủ tập thể ba cấp. Vấn đề kinh tế địa phương không chỉ và chủ yếu không phải là vấn đề phân cấp quản lý, mà là vấn đề xây dựng cơ cấu kinh tế. Sắp tới, cần tổ chức nghiên cứu để cụ thể hoá đường lối của Đảng trên vấn đề này, lập các phương án để xây dựng kinh tế các địa phương. 

Đặc biệt, phải ra sức xây dựng Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Cần dựa vào các thế mạnh của hai thành phố về đội ngũ lao động có kỹ thuật và có văn hoá, về tiềm lực khoa học - kỹ thuật, về cơ sở vật chất - kỹ thuật đã có, mà ra sức phát triển công nghiệp, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, sản xuất nhiều mặt hàng tiêu dùng, và những tư liệu sản xuất nhất định nhằm đáp ứng nhu cầu của cả nước, trước hết là của đồng bằng sông Hồng đối với Hà Nội và đồng bằng sông Cửu Long đối với thành phố Hồ Chí Minh, và mở rộng xuất khẩu. Cũng cần ra sức chú ý đến thành phố Hải Phòng và các thành phố khác. 

Phải có kế hoạch phát triển kinh tế và văn hoá ở các tỉnh miền núi, phát huy các thế mạnh của miền núi, nhằm nâng cao đời sống nhân dân các dân tộc, củng cố quốc phòng và an ninh, mở rộng trao đổi với các tỉnh miền xuôi và mở rộng xuất - nhập khẩu. 

4- Mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, ra sức đẩy mạnh xuất khẩu 

Đây là vấn đề có tính quy luật của quá trình tiến từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cũng như 5 năm qua, từ nay về sau, hợp tác toàn diện trước hết với Liên Xô là vấn đề nguyên tắc, đồng thời phát triển hợp tác toàn diện với Lào và Campuchia, với các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế, cũng là vấn đề nguyên tắc. 

Hiện nay, chúng ta đang nhờ Liên Xô giúp ta lập sơ đồ tổng thể về phát triển kinh tế quốc dân cho đến năm 2000. Sơ đồ được xây dựng xong sẽ là căn cứ hết sức quan trọng để chúng ta mở rộng phân công, hợp tác về kinh tế với Liên Xô, với các nước khác trong Hội đồng tương trợ kinh tế, cũng như để Liên Xô giúp đỡ có hiệu quả hơn cho chúng ta xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Chúng ta cũng đang tích cực chuẩn bị cho hội nghị các Tổng Bí thư và Bí thư thứ nhất bàn về phối hợp chính sách kinh tế giữa các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế. Từ trước đến nay và trong nhiều năm sau này, sự hợp tác kinh tế giữa nước ta với Liên Xô và các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế chủ yếu còn là sự giúp đỡ một chiều. Song, chúng ta phải quyết tâm phấn đấu sớm làm cho sự hợp tác đó mang tính chất cùng có lợi. Muốn vậy, phải triệt để chống tư tưởng ỷ lại. Chúng ta cũng cần mở rộng quan hệ kinh tế với các nước ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa, trên nguyên tắc giữ vững chủ quyền dân tộc, không can thiệp vào nội bộ của nhau và hai bên cùng có lợi. Điều này phù hợp với quy luật của thế giới ngày nay, là cả thế giới vẫn còn là một thị trường. 

Trong việc mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài, vấn đề đẩy mạnh xuất khẩu là vấn đề có tính chất chiến lược. Xuất khẩu trong chặng đường đầu tiên hiện nay là nông sản, lâm sản, hải sản, hàng tiêu dùng, một số sản phẩm công nghiệp nặng và một số khoáng sản. Về nông sản, theo hiểu biết của chúng ta, phải ra sức tạo mấy mặt hàng xuất khẩu lớn sau đây: đậu tương, đường, thuốc lá, chè, càphê, caosu, đay, rau quả, một số tinh dầu, cây thuốc, sản phẩm chăn nuôi. Đối với từng mặt hàng xuất khẩu, phải xây dựng phương án kinh tế - kỹ thuật, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch, từ sản xuất đến chế biến, bao bì đóng gói, vận chuyển, v.v.. Đối với các mặt hàng xuất khẩu khác, cũng phải làm như vậy. 

Chủ trương của chúng ta là Nhà nước độc quyền ngoại thương và trung ương thống nhất quản lý công tác ngoại thương. Phù hợp với nguyên tắc đó, mỗi ngành, mỗi địa phương, mỗi cơ sở phải tự cân đối nhu cầu sản xuất và đời sống trong phạm vi mình bằng tự lực sản xuất và thông qua xuất - nhập khẩu. Phải chấm dứt tình trạng ngồi chờ cấp trên một cách thụ động. Phải đẩy mạnh xuất khẩu để nhập khẩu những thiết bị, vật tư kỹ thuật và những thứ hàng khác cần thiết cho mình. Nói chung, đơn vị nào cũng phải xuất khẩu. Phải tiến tới tổ chức cho từng gia đình người lao động tham gia làm hàng xuất khẩu. Nhà nước cần có những quy chế thích hợp để quản lý công tác xuất - nhập khẩu, mở rộng xuất - nhập khẩu theo hướng này. 

5- Chế độ quản lý và kế hoạch hoá 

Phù hợp với chế độ làm chủ tập thể ba cấp, thống nhất ba lợi ích, trước hết phải thực hiện ba cấp làm kế hoạch, xây dựng kế hoạch từ cơ sở. Kế hoạch mỗi cấp, trước hết là kế hoạch cơ sở, phải ra sức phát huy khả năng sẵn có và tiềm tàng nhằm đáp ứng nhu cầu của đơn vị, đóng góp cho cả nước, đẩy mạnh xuất - nhập khẩu. 

Mỗi cấp phải làm chủ bằng kế hoạch và chỉ có làm kế hoạch tốt thì mới thực sự làm chủ. 

Kế hoạch phải thấm nhuần quan điểm hạch toán kinh tế, thực chất là vận dụng quy luật giá trị trong xã hội xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch của mỗi đơn vị phải xây dựng trên tinh thần bù đắp được chi phí sản xuất và phải có lợi nhuận để tái sản xuất mở rộng, khuyến khích vật chất cho cá nhân người lao động và tăng cường phúc lợi tập thể. Phải loại trừ cơ chế bao cấp tràn lan. Thực hiện hạch toán kinh tế, loại trừ bao cấp, thực chất cũng là thực hiện quyền làm chủ, là phát huy tinh thần tự lực , tự cường, tự chịu trách nhiệm về sản xuất và đời sống trong phạm vi mình. Trong xã hội xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong quá trình từ sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, tập thể là sức mạnh rất quan trọng, là ưu thế của chế độ, đồng thời cá nhân cũng là một sức mạnh rất quan trọng. Do đó, chế độ phân phối của chúng ta, các chính sách của chúng ta về phân phối, lưu thông phải kết hợp hài hoà ba lợi ích. Chế độ khoán mới trong nông nghiệp đã đem lại những kết quả tích cực. Chúng ta có khuyết điểm là chậm thấy vấn đề này. Cần tiếp tục hoàn thiện chế độ khoán ấy và chăm chú theo dõi để uốn nắn các lệch lạc, nhất là đừng để xảy ra tình trạng khoán trắng. Trong công nghiệp, cũng phải áp dụng những hình thức trả công thích đáng, để phát huy tính tích cực và tinh thần sáng tạo của người công nhân, vừa làm lợi cho cá nhân, vừa làm lợi cho xí nghiệp và Nhà nước. Nếu chúng ta làm tốt việc phát huy sức mạnh của tập thể đi đôi với phát huy sức mạnh của cá nhân, thì với những vốn vật chất như hiện nay, có thể tạo ra tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân cao hơn nhiều. 

Giá cả hiện nay đang có nhiều biến động. Chúng ta phải nghiên cứu, giải quyết thích đáng, để từng bước vững chắc nhưng càng sớm càng tốt, tiến đến ổn định giá cả. 

Những vấn đề tiền lương, tài chính, ngân hàng cũng phải được đặc biệt quan tâm và cải tiến. Trong bất cứ tình hình nào, cũng phải bảo đảm đời sống cho những người lao động ở khu vực ăn lương. 

Đối với thị trường, phải trên cơ sở ra sức đẩy mạnh sản xuất, đặc biệt là sản xuất lương thực, thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng (kể cả vật liệu xây dựng) và nhà nước các cấp nắm nguồn hàng, mà quản lý chặt chẽ thị trường, đấu tranh chống đầu cơ, buôn lậu, xác lập ưu thế của thị trường xã hội chủ nghĩa, quản lý và sử dụng tốt thị trường tự do. 

Kế hoạch phải thấm nhuần quan điểm kinh doanh xã hội chủ nghĩa, kinh doanh trong nước và kinh doanh ngoài nước. Kinh doanh cũng là làm chủ. Phải rất linh hoạt, nhạy bén. Phải nghiên cứu để sớm cải tiến chế độ cung ứng vật tư, chế độ tiêu thụ sản phẩm, phát triển các mối liên kết kinh tế ngang và dọc giữa các ngành với địa phương, giữa các địa phương với nhau, giữa các ngành với nhau, giữa các cơ sở với nhau, giữa huyện này và huyện khác, giữa thành phố và nông thôn. Đồng thời, như trên đã nói, cấp nào cũng phải kinh doanh xuất - nhập khẩu. 

Phải kết hợp chặt chẽ xây dựng kế hoạch với điều hành thực hiện kế hoạch. Kế hoạch không bao giờ có thể chính xác hoàn toàn và dự đoán được hết mọi thứ yếu tố; cho nên phải qua điều hành mà điều chỉnh kịp thời những chỗ không phù hợp của kế hoạch. 

6- Phải tạo ra lực lượng tổng hợp để phát triển kinh tế. Phải tiến hành ba cuộc cách mạng, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, xây dựng chế độ làm chủ tập thể trong kinh tế kết hợp với xây dựng chế độ làm chủ tập thể về các mặt khác. Chế độ làm chủ tập thể trong kinh tế cần chú ý phát huy làm chủ của cả nước, làm chủ của từng địa phương, làm chủ của từng ngành, làm chủ của từng cơ sở, làm chủ của từng người lao động. Phải nghiên cứu những cơ chế quản lý thích hợp, những chế độ, chính sách thích hợp về phân phối, lưu thông, do phát huy cho được sức mạnh của chế độ làm chủ tập thể. Phải làm chủ bằng việc kết hợp hài hoà ba lợi ích. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, với sự quản lý đúng đắn của Nhà nước, phải phát động cho kỳ được phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng. 

Về nhiệm vụ kinh tế 5 năm 1981- 1985. 
Lẽ ra chúng ta đề ra nhiệm vụ kinh tế sau khi đã có phương hướng và nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm. Hiện nay kế hoạch 5 năm đang trong quá trình xây dựng; vì vậy, lần này chúng ta chỉ đề ra một số vấn đề có tính nguyên tắc để làm cơ sở cho việc xây dựng phương hướng, nhiệm vụ của kế hoạch 5 năm. Sau đây là những nhiệm vụ chủ yếu: 

1- Giải quyết những vấn đề cấp bách nhất để ổn định và cải thiện một bước đời sống của nhân dân. Trước hết bảo đảm đủ lương thực cho xã hội. Cung ứng cho công nhân, viên chức, bộ đội đủ lương thực, thực phẩm đã được Nhà nước quy định. 

Giải quyết vải mặc ở mức cần thiết tối thiểu. Có đủ giấy viết, giấy in sách giáo khoa, giấy in báo. Bảo đảm đủ những loại thuốc thiết yếu cho nhu cầu chữa bệnh của nhân dân. Cung ứng khá hơn các đồ dùng gia đình và đồ dùng cá nhân thông thường. Tăng thêm phương tiện đi lại của nhân dân. Xây dựng thêm nhà ở và cải thiện điều kiện ở, nhất là về cung ứng nước, điện, vệ sinh của nhân dân thành phố; hướng dẫn và giúp đỡ nông dân xây dựng nhà ở. Tổ chức tốt hơn đời sống văn hoá và tinh thần của nhân dân. 

2- Sắp xếp lại sản xuất, ra sức khai thác mọi khả năng sẵn có và tiềm tàng, nhằm tạo ra thế cân đối mới theo hướng sau đây: tập trung cao độ lực lượng cả nước cho mặt trận nông nghiệp; đẩy mạnh sự phát triển của lâm nghiệp và thủy sản; ra sức phát triển sản xuất hàng tiêu dùng. Tăng sản xuất và giải quyết tốt hơn việc cung ứng một cách tập trung và theo thứ tự ưu tiên cho nền kinh tế: điện, than, các sản phẩm cơ khí, hoá chất, kim loại, nguyên liệu. Tăng cường giao thông vận tải. Đẩy mạnh thăm dò và khai thác dầu khí. Phát triển kinh tế địa phương, trong cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất; tích cực xây dựng huyện. Làm tốt việc ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào sản xuất và đời sống. Đẩy mạnh thi đua xã hội chủ nghĩa. 

3- Thiết lập trật tự mới trên mặt trận phân phối lưu thông, nhất là phấn đấu kiên quyết ổn định giá cả, thị trường. Bố trí lại tiêu dùng cho phù hợp với khả năng của nền kinh tế. Thực hành tiết kiệm nghiêm ngặt trên mọi lĩnh vực, kiên quyết giảm chi về hành chính và xây dựng cơ bản. Tích cực phân bố lao động trong cả nước, tinh giản biên chế trong bộ máy hành chính, chuyển công nhân ở những xí nghiệp và công trường không có điều kiện hoạt động sang các nơi khác. 

4- Bố trí lại xây dựng cơ bản: Cải tạo, mở rộng và nâng cao các cơ sở cũ sẵn có; kiên quyết đình, hoãn một số công trình xét ra chưa có điều kiện xây dựng hoặc chưa thật cấp bách; tiếp tục xây dựng công trình dở dang xét ra có điều kiện và có nhu cầu cấp bách; xây dựng mới có trọng điểm và theo khả năng một số công trình bức thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của kế hoạch 5 năm 1981- 1985 và những năm sau. Nâng cao hiệu quả vốn đầu tư xây dựng cơ bản. 

5- Đẩy mạnh công tác cải tạo xã hội chủ nghĩa ở các tỉnh miền Nam, hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong cả nước về các mặt chế độ sở hữu, chế độ quản lý, chế độ phân phối. 

6- Mở rộng hợp tác kinh tế với Liên Xô và các nước trong Hội đồng tương trợ kinh tế. Đặc biệt tạo cho được một sự chuyển biến lớn về xuất khẩu để nhập khẩu, giảm dần chênh lệch giữa xuất và nhập, tiến tới cân bằng xuất và nhập. 

7- Đổi mới hệ thống quản lý kinh tế. Thực hiện kế hoạch ba cấp và xây dựng kế hoạch từ cơ sở. Xoá bỏ tận gốc cơ chế quan liêu bao cấp, khắc phục bằng được tình trạng trì trệ, bảo thủ, vô trách nhiệm, vô kỷ luật, thực hiện hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa, nâng cao tính năng động, sáng tạo, tinh thần trách nhiệm và kỷ luật, bảo đảm năng suất, chất lượng, hiệu quả. 

8- Tăng cường quản lý xã hội, giữ vững trật tự xã hội, kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực; kiên quyết chống những hoạt động phá hoại kinh tế, chiến tranh gián điệp của địch; xây dựng nếp sống xã hội chủ nghĩa, lành mạnh, yên vui. 

9- Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh, bảo vệ đất nước. 

Tất cả những nhiệm vụ này đều nhằm trước hết là ổn định đời sống và cố gắng có cải thiện phần nào trên một số mặt, làm cho nền kinh tế thoát khỏi tình hình không bình thường hiện nay, cố gắng từng bước tạo ra thế cân đối mới, giảm bớt khó khăn, chặn đứng và đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực. Đây là những nhiệm vụ tối thiểu phải làm, tập trung sức của các ngành, các địa phương làm cho kỳ được. Phải đổi mới hệ thống quản lý và kế hoạch hoá. Phải tạo ra một bước chuyển biến quan trọng về tổ chức và điều hành, từ Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng và Hội đồng Bộ trưởng, đến các bộ, các địa phương, đặc biệt là các cơ sở và các huyện. 

Tinh thần chung là nhằm vào những vấn đề cấp bách nhất của đời sống kinh tế hiện nay, và đề ra mức độ hiện thực, có thể thực hiện được. Chúng ta đề ra mục tiêu khiêm tốn, nhưng nếu làm đúng thì có những việc trước đây mấy chục năm ta không làm được, nay trong 5 - 3 năm có thể làm xong. Như vấn đề nguyên liệu cho mặc, mấy chục năm vừa qua chúng ta không làm được gì, nay chúng ta đề ra chủ trương phát triển trồng đay, trồng dâu nuôi tằm, trồng bông gòn, trồng cây dứa dại, trồng bông sợi dài, trồng bông địa phương, v.v.. Nếu chúng ta có biện pháp đúng, có chính sách đúng, có tổ chức chỉ đạo đúng, thì chúng ta tin rằng trong một số năm sẽ có biến chuyển. Kinh nghiệm giải quyết lương thực của một số tỉnh Khu V cũ đã chứng tỏ điều đó. Tinh thần chúng ta là: tích cực nhưng vững chắc, vững chắc trên tinh thần cách mạng tiến công, tìm mọi cách để sớm chuyển biến được tình hình. 

Về văn hoá, hiện nay một trong khía cạnh quan trọng của chiến tranh phá hoại của địch là chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp, nhất là về mặt văn hoá, và đối tượng chính của địch là thanh niên. Vì vậy, chúng ta phải rất coi trọng việc chống chiến tranh tâm lý, chiến tranh gián điệp của địch trên mặt trận văn hoá. Phải phấn đấu kiên quyết, liên tục, triệt để, quét sạch những tàn dư tư tưởng, văn hoá phản động, lạc hậu, sản phẩm của xã hội cũ, chống và thường xuyên ngăn ngừa mọi ảnh hưởng của tư tưởng và văn hoá tư sản phản động, đồi truỵ của chủ nghĩa đế quốc và phản động quốc tế thâm nhập từ ngoài vào. Đồng thời, chúng ta nhận rõ công cuộc cải tạo và xây dựng trên mặt trận tư tưởng, văn hoá có quan hệ rất mật thiết với công cuộc cải tạo và xây dựng kinh tế. 

Việc chống văn hoá phản động và lạc hậu phải đi đôi với việc xây dựng nền văn hoá mới, xây dựng con người mới. Đại hội lần thứ IV của Đảng đã chỉ rõ nền văn hoá mới là nền văn hoá có nội dung xã hội chủ nghĩa và tính chất dân tộc và cũng đã chỉ rõ cái cơ bản nhất của nội dung xã hội chủ nghĩa là làm chủ tập thể. Lần này, chúng ta nêu ra cái cơ bản của tính chất dân tộc là thương nước, thương nhà, thương người, thương mình và tinh thần dân chủ, bình đẳng trong quan hệ giữa người với người. 

Cuộc đấu tranh chống tư tưởng, văn hoá phản động, xây dựng nền văn hoá mới, con người mới phải xem thanh niên và thiếu niên là đối tượng quan trọng nhất. Tất cả các ngành, các lực lượng trong mặt trận văn hoá phải được huy động hướng vào mục tiêu cải tạo và xây dựng này. Phải đặc biệt chú ý nâng cao chất lượng. Để cho việc phát triển văn hoá đáp ứng được nhu cầu của nhân dân, của sự nghiệp cách mạng và phù hợp với khả năng của nền kinh tế, cần thực hiện chủ trương Nhà nước và nhân dân cùng làm. 

Trên mặt trận văn hoá và tư tưởng, phải hết sức chủ động, sắc bén, giành thắng lợi từng giờ, từng phút. 

Vấn đề tăng cường cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý là một vấn đề hết sức quan trọng. Nhưng đây cũng là vấn đề rất mới mẻ đối với chế độ xã hội chủ nghĩa. Trong các hội nghị của Bộ Chính trị và của Trung ương bàn về Hiến pháp mới, chúng ta có tiến một bước trong vấn đề này, đã thể chế hoá chế độ làm chủ tập thể trong Hiến pháp mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong Đại hội V này, chúng ta chưa có điều kiện để nói gì hơn. Bởi vì cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý, phải được cụ thể hoá thành các quy tắc, thể chế, nền nếp hoạt động để giải quyết đúng đắn các vấn đề cụ thể trong mỗi quan hệ giữa các tổ chức đảng và cơ quan nhà nước, giữa Nhà nước với nhân dân. Đây là vấn đề rất rộng lớn, đòi hỏi sự nghiên cứu kỹ lưỡng về lý luận và thực tiễn. Sau đại hội, chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu để làm rõ hơn để cụ thể hoá cơ chế Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý. 

Trong việc tăng cường Nhà nước, vấn đề bảo đảm an ninh chính trị và tăng cường trật tự, an toàn xã hội là rất quan trọng. Cùng với việc làm thất bại chiến tranh phá hoại của địch, chúng ta cần ra sức phấn đấu chống các hành động của các phần tử xấu xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, làm thiệt hại đến tính mạng và tài sản của nhân dân, bảo đảm cho được trật tự và an toàn xã hội, việc này đòi hỏi các lực lượng công an nhân dân phải phát huy tinh thần chiến đấu, làm tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời cần phát động phong trào quần chúng mạnh mẽ, làm cho lực lượng và khí thế lành mạnh áp đảo những lực lượng và hiện tượng xấu. 

III- Về xây dựng đảng và công tác lãnh đạo của trung ương 

Trong Hội nghị Trung ương lần này, tất cả các đồng chí Trung ương đều nhất trí là phải tạo ra cho kỳ được sự chuyển biến thật sự của Đảng, kiên quyết khắc phục các hiện tượng tiêu cực trong Đảng, làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, có sức chiến đấu, có năng lực lãnh đạo hoàn thành nhiệm vụ mới, giữ vững được lòng tin của nhân dân đối với Đảng. Đó là sự đòi hỏi bức thiết của cách mạng hiện nay. 

Đảng ta là một đảng cách mạng kiên cường, có truyền thống đoàn kết, có uy tín lớn với nhân dân ta và có uy tín lớn trong phong trào cộng sản quốc tế. Bước vào cuộc chiến đấu mới, đại đa số cán bộ, đảng viên đã giữ vững phẩm chất cách mạng, tiến bộ về trình độ và năng lực công tác, làm tròn nhiệm vụ trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn. Đó là mặt cơ bản, là chỗ mạnh của Đảng ta. Song gần đây, có tình hình đáng lo ngại là một bộ phận đảng viên, trong đó có cả một số cán bộ cao cấp và trung cấp, sa sút về ý chí chiến đấu, về tinh thần trách nhiệm, về phẩm chất cách mạng; các nguyên tắc về sinh hoạt đảng không được tôn trọng và chấp hành đầy đủ; nhiều nghị quyết, chỉ thị của Đảng không được tổ chức thực hiện tốt và đạt kết quả thấp; những điều đó đã ảnh hưởng không tốt đến lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng trong công tác quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Đó là tình hình nghiêm trọng, cần phải có những biện pháp giải quyết nhanh và có hiệu quả, đồng thời phải tổng kết những vấn đề mới về xây dựng Đảng trong điều kiện Đảng cầm quyền. 

Hội nghị Trung ương lần này khẳng định nhiệm vụ then chốt trong công tác xây dựng Đảng hiện nay là nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng một cách toàn diện đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc, trước hết là trên mặt trận xây dựng và quản lý kinh tế, đồng thời đổi mới công tác tư tưởng, công tác tổ chức, bảo đảm cho Đảng trong sạch và vững mạnh. 

Phải có những biện pháp kiên quyết về tư tưởng và tổ chức để giữ vững phẩm chất cách mạng của cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên từ các đồng chí Trung ương cho đến các đảng viên thường ở cơ sở phải là những chiến sĩ tiền phong, gương mẫu về mọi mặt để tập hợp được quần chúng, động viên được quần chúng thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. 

Phải tiến hành thực sự một cuộc thanh lọc đảng viên, đưa ngay ra khỏi Đảng tất cả những phần tử xấu, hư hỏng, thoái hoá biến chất, tê liệt ý chí cách mạng, không còn tín nhiệm với quần chúng. Nếu cần thiết phải đưa vài chục vạn người không đủ tiêu chuẩn là đảng viên ra khỏi Đảng, chúng ta cũng kiên quyết làm, không do dự. Làm như vậy, chắc chắn Đảng sẽ mạnh lên, công tác lãnh đạo sẽ tốt hơn. Tuy nhiên, việc thanh lọc đảng viên phải có sự chỉ đạo chặt chẽ, có sự hướng dẫn và kiểm tra chu đáo để tránh những lệch lạc. 

Phải gấp rút củng cố cơ sở đảng, nhất là củng cố chi bộ đảng. Nội dung và kế hoạch củng cố chi bộ phải phù hợp với từng loại chi bộ ở các ngành khác nhau và các vùng khác nhau. Phải sửa đổi nội dung sinh hoạt chi bộ cho đúng với vai trò và trách nhiệm lãnh đạo chính trị của Đảng, để chi bộ thực sự là nơi giáo dục, rèn luyện đảng viên về ý chí chiến đấu cách mạng, về năng lực lãnh đạo, chứ không được hạ thấp sinh hoạt chi bộ đảng như sinh hoạt của tổ chức quần chúng hoặc tổ chức sản xuất. 

Về công tác tư tưởng, cần kiên quyết đấu tranh chống tư tưởng cá nhân chủ nghĩa, tư tưởng cơ hội, tư tưởng tự do vô kỷ luật. Phải vừa phát huy dân chủ, vừa đề cao kỷ luật, thực hiện nghiêm túc tự phê bình và phê bình từ Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đến các cấp uỷ đảng, các đảng bộ cơ sở. Kết hợp công tác giáo dục tư tưởng trong Đảng với cuộc đấu tranh chống tiêu cực toàn diện trong các cơ quan nhà nước, trong toàn xã hội. 

Ngay sau Đại hội V, cần tổ chức một cuộc giáo dục chính trị trong toàn Đảng, lấy việc nghiên cứu các văn kiện của Đại hội Đảng làm cơ sở để giáo dục cán bộ, đảng viên về đường lối chính sách của Đảng, về nhiệm vụ và trách nhiệm của đảng viên, phê phán những tư tưởng sai lầm, bồi dưỡng ý chí cách mạng của người đảng viên cộng sản. 

... 

Trong công tác xây dựng đảng, phải làm thật tốt việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ cán bộ, đảng viên về mọi mặt, nhất là nâng cao trình độ về công tác kinh tế. Ngay sau Đại hội V của Đảng, phải tổ chức và thực hiện nay chế độ bắt buộc các cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý học tập về lý luận kinh tế, chính sách kinh tế, tổ chức và quản lý kinh tế. 

Vấn đề quyết định nhất trong công tác xây dựng đảng là vấn đề cán bộ. Kiên quyết và khẩn trương bố trí, sắp xếp lại cán bộ, trước hết là cán bộ lãnh đạo chủ chốt của các cấp uỷ đảng, các ban của Đảng và các cơ quan quản lý của Nhà nước, đưa những người thực sự có tinh thần trách nhiệm và có năng lực lên làm việc. Phải kết hợp cho đúng ba loại cán bộ: cán bộ chính trị, cán bộ quản lý, cán bộ kỹ thuật. Đào tạo và bồi dưỡng nhanh đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế. 

Về cách làm việc của Trung ương, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cần có cải tiến, sửa đổi. 

Cần có quy chế làm việc của các Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương để mỗi đồng chí Trung ương phát huy được trách nhiệm và khả năng của mình trong sự lãnh đạo tập thể. Các đồng chí Trung ương cần được thông tin đầy đủ, nhất là về những việc quan trọng, để có thể tham gia có hiệu quả vào công tác lãnh đạo của Trung ương. Đồng thời, mỗi đồng chí Trung ương cũng phải chủ động phát huy khả năng và điều kiện của mình đóng góp vào sự lãnh đạo chung. 

Cần có sự phân công hợp lý để các đồng chí trong Bộ Chính trị có điều kiện làm nhiều hơn, làm sâu hơn việc nghiên cứu, cụ thể hoá đường lối, bàn bạc và quyết định các chính sách quan trọng về kinh tế, xã hội. 

Phải tăng cường Ban Bí thư để thực sự chỉ đạo được tất cả các cấp, các ngành thực hiện nghiêm chỉnh và có kết quả các nghị quyết của Trung ương, của Bộ Chính trị, kiểm tra được công việc của Chính phủ, của các đoàn thể. 

Phải kiện toàn nhanh Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng để bảo đảm điều hành công việc của Chính phủ một cách nhanh nhạy, sắc bén. Mạnh dạn đưa các đồng chí còn trẻ và có năng lực quản lý tham gia Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng. 

Cần đổi mới cách làm việc của Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Có quy trình làm việc chặt chẽ và khoa học để quyết định đúng và tổ chức thực hiện đúng các vấn đề về đường lối chính sách, chủ trương quan trọng. Các vấn đề đưa ra Bộ Chính trị thảo luận và quyết định phải được chuẩn bị chu đáo, có những tiểu ban của Trung ương xem xét kỹ trước. Để thực sự tăng cường công tác nghiên cứu các vấn đề về đường lối chính sách, về cải tiến quản lý kinh tế, quản lý xã hội, về cải tiến lãnh đạo và về xây dựng đảng, phải đổi mới, kiện toàn về tổ chức, cán bộ, về phương pháp công tác của các ban giúp việc Bộ Chính trị, Ban Bí thư cũng như các cơ quan nghiên cứu của Nhà nước. 

Trên đây là kết luận của Bộ Chính trị về những ý kiến lớn mà các đồng chí Trung ương đã phát biểu. Nếu có những vấn đề gì trong bản kết luận này mà các đồng chí Trung ương muốn thảo luận thêm thì tuỳ Trung ương quyết định. 

Sau khi Trung ương thông qua bản kết luận này, Bộ Chính trị sẽ căn cứ vào đây và những ý kiến khác của các đồng chí Trung ương liên quan đến một số vấn đề chi tiết trong dự thảo Báo cáo chính trị để sửa sang lại bản dự thảo báo cáo. Bản dự thảo báo cáo sẽ được thảo luận tại đại hội các tỉnh, thành phố, các đảng bộ trực thuộc Trung ương. Còn tài liệu đưa ra thảo luận tại các đại hội cấp dưới, thì sẽ là một bản đề cương tóm tắt. 

Lưu tại Kho Lưu trữ
Trung ương Đảng.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”

(ĐCSVN) - Ngày 11/10, Phó Thủ tướng Chính phủ Vũ Đức Đam đã ký Nghị quyết số 128/NQ-CP của Chính phủ ban hành Quy định tạm thời “Thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”.

Hướng dẫn mới về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng

(ĐCSVN) – Thay mặt Ban Bí thư, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Hướng dẫn 01-HD/TW ngày 28/9/2021 về một số vấn đề cụ thể thi hành Điều lệ Đảng.

Chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2021

(ĐCSVN) - Người lao động, người sử dụng lao động bị ảnh hưởng bởi COVID-19 được hỗ trợ từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp; Đăng kiểm ô tô có nhiều quy định mới; Sinh viên đại học được học trước chương trình thạc sĩ,… là những chính sách mới có hiệu lực từ tháng 10/2021.

Khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo

(ĐCSVN) – Ngày 22/9/2021, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành Kết luận số 14-KL/TW về chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.

Một số nội dung mới trong Quy định thi hành Điều lệ Đảng

(ĐCSVN) - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã thông qua Báo cáo tổng kết công tác xây dựng Đảng và thi hành Điều lệ Đảng của Ban Chấp Trung ương khoá XII. Đại hội đã đồng ý không sửa đổi, bổ sung Điều lệ...

Một số điểm mới về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng

Ngày 28/7/2021, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Quy định số 22-QĐ/TW về công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật của Đảng (gọi tắt là Quy định 22), trong đó, bổ sung, sửa đổi nhiều nội dung quan trọng để cụ thể hoá Nghị quyết...

Liên kết website