Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/9/1979, Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng về phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương

I - Tình hình và phương hướng phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương

1. Thời gian vừa qua, trong hoàn cảnh khó khăn chung của đất nước, nền kinh tế đã thấp kém, lại bị chiến tranh tàn phá, thiên tai dồn dập, công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương trong cả nước đã bước đầu phát triển, đạt được một số thành tích đáng kể, sử dụng gần 2 triệu lao động và sản xuất được một số mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống, sản xuất, chiến đấu và xuất khẩu.

Tuy nhiên, sản xuất còn nhiều nhược điểm và khuyết điểm:

Hàng tiêu dùng thiếu nghiêm trọng, mặt hàng nghèo nàn, chất lượng kém, giá thành cao. Có những mặt hàng thông dụng có khả năng sản xuất nhiều nhưng vẫn thiếu, như hàng sành sứ, thủy tinh, đồ gỗ, mây, tre, chiếu cói, kim khí thông dụng, đồ dùng dạy học, đồ chơi trẻ em, v.v..

Hàng xuất khẩu ít, chưa cân đối được phần nhập nguyên liệu, thiết bị cho bản thân công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương. Chưa tạo được những mặt hàng xuất khẩu chủ lực nhằm phát huy thế mạnh về tài nguyên, đất đai và lao động của ta. Chất lượng nhiều hàng xuất khẩu không theo kịp yêu cầu của thị trường thế giới.

Một số tư liệu sản xuất như công cụ thường và cải tiến, vôi, gạch, ngói, đá, cát, sỏi... công nghiệp địa phương có khả năng giải quyết được nhưng vẫn bị thiếu thốn từ nhiều năm.

Tình trạng trên đây có những nguyên nhân khách quan sâu xa: sau khi giành được độc lập hoàn toàn và thực hiện thống nhất nước nhà, nhân dân ta còn chưa băng bó xong vết thương của hơn ba mươi năm chiến tranh và đang gặp thiên tai liên tiếp thì lại phải chiến đấu chống hai cuộc chiến tranh xâm lược mới ở biên giới tây nam, biên giới phía bắc và những hành động phá hoại thâm độc khác... Nền kinh tế nước ta, trong đó có công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, gặp thêm những khó khăn to lớn mới. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh đến những nguyên nhân chủ quan như đã phân tích trong Nghị quyết của Hội nghị Trung ương về tình hình và nhiệm vụ cấp bách trước mắt.

Các ngành, các cấp nhận thức chưa đúng vị trí của công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, đặc biệt là tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; còn có tư tưởng ỷ lại vào trung ương và trông chờ nhập khẩu hàng tiêu dùng và nguyên liệu sản xuất hàng tiêu dùng.

Tổ chức sản xuất hàng tiêu dùng không thành hệ thống thông suốt từ sản xuất nguyên liệu đến chế biến và tiêu thụ sản phẩm, từ công nghiệp trung ương đến công nghiệp địa phương và cơ sở, chưa kết hợp chặt chẽ giữa công nghiệp với nông nghiệp, giữa công nghiệp nhẹ với công nghiệp nặng, chưa kết hợp cải tạo với xây dựng và tổ chức lại sản xuất.

Nguyên liệu là vấn đề sống còn của công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, nhưng chưa được giải quyết tốt; chưa đầu tư thích đáng, tạo nguồn nguyên liệu vững chắc từ nông nghiệp. Các mặt công tác kế hoạch hoá, xây dựng chính sách cụ thể và tổ chức quản lý có nhiều trì trệ và khuyết điểm, đạt hiệu quả thấp. Chưa tăng cường và phát huy đúng mức kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, mặt khác chưa sử dụng đúng đắn khả năng của kinh tế cá thể, kể cả tư sản dân tộc ở miền Nam. Đội ngũ cán bộ quản lý từ trung ương đến cơ sở còn yếu, cán bộ khoa học kỹ thuật chưa được sử dụng hợp lý.

2. Phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương là một nhiệm vụ rất quan trọng của tất cả các ngành, các cấp, trước mắt cũng như lâu dài, thời bình cũng như thời chiến nhằm thi hành Nghị quyết Đại hội lần thứ IV của Đảng và thực hiện ba nhiệm vụ chung trong tình hình mới là: đẩy mạnh sản xuất và bảo đảm đời sống nhân dân; tăng cường quốc phòng - an ninh, bảo vệ Tổ quốc; xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội.

Công nghiệp hàng tiêu dùng phải góp phần tận dụng lao động xã hội, đẩy mạnh sự phân công lao động mới; thông qua chế biến làm tăng thêm giá trị sử dụng và giá trị của sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp; góp phần tăng năng suất lao động xã hội và tăng nhanh sản phẩm xã hội để bảo đảm nhu cầu đời sống nhân dân, tăng nguồn xuất khẩu và tích luỹ, cùng với nông nghiệp làm cơ sở cho việc phát triển công nghiệp nặng.

Công nghiệp địa phương có vai trò quan trọng là kết hợp ngay từ đầu với nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp thành một cơ cấu, hình thành nòng cốt của kinh tế địa phương, tận dụng mọi nguồn lao động và tài nguyên tại chỗ, mở mang ngành nghề, làm ra nhiều hàng hoá bảo đảm nhu cầu sản xuất và đời sống của địa phương, góp phần phục vụ nhu cầu cả nước và xuất khẩu, cùng với nông nghiệp bảo đảm nhu cầu tại chỗ cho quốc phòng.

3. Phương hướng phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng

Phương hướng phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng phải căn cứ vào chính sách tiêu dùng trong thời gian trước mắt là:

- Tiêu dùng của xã hội phải dựa trên cơ sở sản xuất trong nước, chống tư tưởng ỷ lại vào viện trợ bên ngoài để tiêu dùng.

- Ăn no, mặc ấm, đề cao tinh thần cần kiệm, giản dị.

- Khuyến khích dùng hàng sản xuất trong nước, trong địa phương, dành hàng tốt cho xuất khẩu.

Nói chung, phải phát triển toàn diện tất cả các ngành chủ yếu của công nghiệp hàng tiêu dùng, nhằm tạo nên một cơ cấu hoàn chỉnh, bao gồm chế biến lương thực, thực phẩm, khai thác và chế biến hải sản, chế biến chè và các loại nước uống giải khát, dược phẩm, dệt, da, may mặc, giấy, gỗ, sành sứ, thủy tinh, kim khí tiêu dùng, cao su, nhựa, văn hoá phẩm... Mọi nhu cầu tiêu dùng của nhân dân, kể từ cái nhỏ nhất, mà điều kiện trong nước có thể đáp ứng thì không được để thiếu. Trong vài năm trước mắt, phải tập trung sức phát triển những ngành có nhu cầu cấp bách như chế biến lương thực, thực phẩm, làm hàng tiêu dùng với nguyên liệu trong nước (gỗ, giấy, dệt, da, xà phòng, sành sứ, thủy tinh, mây tre, chiếu cói v.v.) và một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực (cà phê, chè, cao su, tơ tằm, thuốc lá, dứa, tôm mực, hàng gia công dệt may, hàng thủ công mỹ nghệ v.v.).

Phải tận dụng các thành phần kinh tế: quốc doanh, công tư hợp doanh, tập thể, cá thể (kể cả tư sản được kinh doanh hợp pháp); kết hợp quy mô lớn, vừa, nhỏ; kỹ thuật thủ công, nửa cơ giới và cơ giới; kết hợp trung ương, địa phương (tỉnh thành, huyện) và cơ sở.

Tận dụng mọi khả năng về lao động, tài nguyên và năng lực sản xuất của các ngành kinh tế, quốc phòng, văn hoá để sản xuất hàng tiêu dùng.

Phát triển công nghiệp chế biến phải cân đối với nguồn nguyên liệu, trước hết phải gắn chặt với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp trong một quy hoạch thống nhất, khắc phục nhanh những sự chồng chéo, không ăn khớp hiện nay giữa các ngành đó.

Sử dụng tốt cơ sở hiện có, chú trọng đầu tư chiều sâu để trang bị lại và mở rộng các cơ sở ấy. Xây dựng cơ sở mới phải tính đến nguồn vốn, nguyên liệu được cung ứng, và sau khi đã khai thác hết năng lực của cơ sở đã có. Chú trọng cả số lượng và chất lượng, khả năng thực tế cho phép đến đâu thì phải phấn đấu đạt số lượng và chất lượng đến đó, không được làm bừa, làm ẩu, gây lãng phí nguyên liệu và tạo thói xấu trong sản xuất và quản lý.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế bằng các hình thức gia công, nhập thiết bị, nguyên liệu, xuất sản phẩm; tham gia các chương trình phân công hợp tác sản xuất hàng tiêu dùng của Hội đồng Tương trợ kinh tế.

4. Phương hướng phát triển công nghiệp địa phương

Nhiệm vụ cơ bản của công nghiệp địa phương là phục vụ đời sống nhân dân địa phương, phục vụ sản xuất và quốc phòng của địa phương, góp phần phục vụ nhu cầu cả nước và xuất khẩu.

Công nghiệp địa phương, ngay từ đầu, phải gắn chặt với các ngành kinh tế khác của địa phương, nhất là nông nghiệp để hình thành cơ cấu công - nông nghiệp của tỉnh, và cơ cấu nông - công nghiệp của huyện. Mặt khác, trong từng ngành, công nghiệp địa phương phải gắn chặt với công nghiệp trung ương, hình thành các ngành kinh tế - kỹ thuật cả nước.

Sự phát triển của công nghiệp địa phương chủ yếu phải dựa trên cơ sở phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, và sự phân công lao động ở địa phương, trên cơ sở tài nguyên, nguồn vốn tích luỹ của địa phương và vay tín dụng; trung ương chỉ cấp phát cho các địa phương một số vốn ban đầu và giúp đỡ những mặt cần thiết.

Công nghiệp địa phương phải phát triển rộng khắp trong cả nước, nhằm tận dụng lao động và tài nguyên của tất cả các địa phương. Cần chú ý phát triển ở các tỉnh miền Nam, Tây Nguyên và miền núi phía bắc.

Trong việc phát triển kinh tế địa phương nói chung và công nghiệp địa phương nói riêng, phải chống lối "tự túc" khép kín trong từng địa phương; phải mở rộng phân công, hợp tác giữa các địa phương nhằm phát huy thế mạnh của từng địa phương, đạt được hiệu quả kinh tế lớn.

Thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố công nghiệp lớn, có nhiều khả năng kỹ thuật và công nhân lành nghề, phải vươn lên, phát huy khả năng công nghiệp của mình, tích cực giúp đỡ phát triển kinh tế ở các địa phương khác, hình thành những quan hệ phong phú về sản xuất và lưu thông với các tỉnh trong cả nước theo một sự phân công hợp lý, dưới sự chỉ đạo của trung ương. Đồng thời, các tỉnh khác trong cả nước, nhất là các tỉnh lân cận, phải cung ứng nguyên liệu, lương thực, thực phẩm cho hai thành phố theo chỉ tiêu kế hoạch Nhà nước hoặc trên cơ sở hợp tác sản xuất, trao đổi sản phẩm và kỹ thuật.

Về cơ cấu công nghiệp địa phương, tỉnh, thành phố nào cũng cần phát triển các ngành nghề phổ biến sau đây:

- Cơ khí sửa chữa và chế tạo máy và công cụ phụ tùng, phương tiện vận tải đơn giản,

- Chế biến lương thực, thực phẩm và thức ăn gia súc,

- Sản xuất hàng tiêu dùng thông thường, văn hoá phẩm, hàng thủ công, mỹ nghệ,

- Khai thác, chế biến lâm sản, hải sản,

- Sản xuất vật liệu xây dựng phù hợp với điều kiện của tỉnh, thành phố,

- Chế biến dược liệu, dược phẩm, tinh dầu,

- Dịch vụ và sửa chữa.

Ngoài ra tỉnh, thành nào cũng có lực lượng xây dựng, giao thông, vận tải, bưu điện.

Từng địa phương phải nhằm vào ưu thế tài nguyên và lao động của mình mà xác định và phát triển mạnh những ngành nghề thích hợp.

Công nghiệp huyện là một bộ phận hợp thành của kinh tế huyện và của công nghiệp tỉnh, thành phố, cần được phát triển theo quy hoạch chung của công nghiệp tỉnh và gắn chặt với nông nghiệp và các ngành kinh tế khác của huyện để có thể hình thành sớm cơ cấu nông - công nghiệp trên địa bàn huyện.

Mỗi huyện tuỳ theo đặc điểm tài nguyên, lao động và nhu cầu của mình mà xây dựng một cơ cấu hợp lý. Nói chung, cơ cấu phổ biến của công nghiệp huyện là:

- Các đội máy kéo và các trạm sửa chữa máy nông nghiệp nhỏ và vừa,

- Sản xuất công cụ thường và công cụ cải tiến,

- Các cơ sở chế biến thức ăn gia súc và chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp,

- Các đội xây dựng thủy lợi và các trạm bơm,

- Chế biến màu và thực phẩm,

- Khai thác, chế biến lâm sản, hải sản,

- Sản xuất vật liệu xây dựng phù hợp với điều kiện của huyện,

- Chế biến, chủ yếu là sơ chế, dược liệu, dược phẩm, tinh dầu,

- Sản xuất hàng tiêu dùng thông thường, đồ dùng dạy học, văn hoá phẩm bằng nguyên liệu địa phương; hàng thủ công mỹ nghệ phục vụ xuất khẩu,

- Sửa chữa, dịch vụ.

Ngoài ra, còn có các đội xây dựng, các cơ sở giao thông, vận tải, bưu điện.

Các địa phương phải hết sức coi trọng tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, ra sức duy trì và mở rộng ngành nghề trong phạm vi tỉnh, thành phố, huyện, quận cho đến từng hợp tác xã. Có kế hoạch, chính sách, chế độ thoả đáng về tổ chức sản xuất, cung ứng nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm nhằm khuyến khích phát triển tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp; phân công hợp lý giữa các xí nghiệp quốc doanh và các hợp tác xã hoặc tổ sản xuất; coi trọng và có chính sách thoả đáng đối với thủ công cá thể nhằm sử dụng tốt lực lượng này.

5. Mục tiêu phấn đấu từ nay đến năm 1985 của công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương

Sản xuất hàng tiêu dùng:

- Về ăn, bảo đảm đủ khẩu phần lương thực, trong đó có màu được chế biến tốt, tăng chất đạm thực vật và động vật; đủ nước giải khát.

- Về mặc, bảo đảm tiêu chuẩn vải do Nhà nước quy định, đáp ứng đủ nhu cầu về chiếu, chăn, màn, dép, mũ, nón làm bằng nguyên liệu trong nước.

- Về  và đồ dùng trong nhà, sản xuất đủ vật liệu xây dựng thông thường trong địa phương để giải quyết nhà ở cho nhân dân; bảo đảm cung ứng các đồ dùng thiết yếu làm bằng nguyên liệu trong nước như đồ sành sứ, thủy tinh, đồ gỗ, song, mây, tre. Đáp ứng một phần nhu cầu về quạt điện, đồng hồ bàn, máy thu thanh.

- Về đi lại, tăng thêm phương tiện đi lại công cộng ở các thành phố, khu công nghiệp; đẩy mạnh sản xuất xe đạp, nhất là sản xuất phụ tùng.

- Về văn hoá, giáo dục, bảo đảm giấy viết và các đồ dùng học tập thông thường cho học sinh các cấp, cố gắng trang bị các phương tiện giảng dạy và thí nghiệm cho các trường; đáp ứng một phần quan trọng dụng cụ thể dục, thể thao, đồ chơi trẻ em và các đồ dùng văn hoá khác.

- Về y tế, đẩy mạnh trồng cây thuốc, sản xuất dược liệu, hoá dược và chế biến thuốc, bảo đảm đủ thuốc chữa các chứng bệnh thông thường và một số thuốc bổ cho nhân dân.

Sản xuất tư liệu sản xuất, cố gắng bảo đảm đủ nhu cầu về:

- Công cụ lao động và một số máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải thông thường.

- Vật liệu xây dựng thông thường.

- Sửa chữa máy móc, thiết bị của địa phương.

- Tham gia phục vụ hậu cần tại chỗ cho quân đội.

Xuất khẩu:

Đẩy mạnh sản xuất hàng xuất khẩu để bảo đảm nhập đủ nguyên liệu và thiết bị cần thiết cho công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, bảo đảm một phần nhu cầu nhập khẩu cho nền kinh tế chung.

Trong hai, ba năm trước mắt, phải giải quyết cho được việc chế biến màu, bảo đảm cho được nhu cầu thiết yếu của nhân dân về nước chấm, đồ gỗ, song, mây tre, hàng dệt, da, chiếu, cói, sành sứ, thuỷ tinh, xà phòng, công cụ lao động thông thường, đồ dùng học tập, đồ chơi trẻ em, v.v..

II

Biện pháp và chính sách

1. Nguyên liệu, nhiên liệu và thiết bị

Phải tích cực đẩy mạnh sản xuất nguyên liệu, nhiên liệu trong nước; xuất khẩu để nhập các loại nguyên liệu cần thiết mà ta chưa sản xuất được; sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn nguyên liệu, tận thu, tận dụng các loại phế liệu, phế phẩm.

a) Ngành nông nghiệp phải xây dựng cho được một số vùng cây công nghiệp tập trung, chuyên canh, thâm canh, có năng suất cao, sản lượng  hàng hoá lớn: mía, chè, cà phê, cao su, dừa, thuốc lá, dâu tằm, đay, cói, bông, cây ăn quả (chủ yếu là dứa), cây dược liệu v.v..

Phát động phong trào nhân dân tận dụng đất đai, lao động trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ, trồng bông để tự túc một phần về mặc.

Phát triển mạnh chăn nuôi, sớm đưa chăn nuôi cân đối với trồng trọt, để cung ứng ngày càng nhiều thịt, sữa, trứng và da trâu, bò, lợn cho công nghiệp chế biến.

b) Ngành lâm nghiệp có kế hoạch và biện pháp cụ thể về:

- Trồng rừng cung ứng gỗ cho các nhà máy giấy và sợi viscose.

- Khai thác và trồng sậy hoặc các cây thích hợp khác ở Minh Hải, Đồng Tháp, Long An, dùng làm nguyên liệu cho các nhà máy giấy ở miền Nam.

- Cung ứng đủ gỗ cho nghề cá. Hằng năm dành 30-40 vạn m3 gỗ tròn và tận dụng gỗ cành, ngọn cho ngành sản xuất đồ mộc.

- Cung ứng đủ nhựa thông cho công nghiệp giấy và tananh cho công nghiệp thuộc da.

- Cung ứng mây, tre, nứa, lá để chế biến hàng tiêu dùng và làm hàng xuất khẩu bằng cách tự tổ chức khai thác hoặc hướng dẫn các cơ sở tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp khai thác.

c) Các ngành công nghiệp nặng phải khai thác, sản xuất, cung ứng các loại nguyên liệu khoáng sản, kim loại cho công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương. Cần khẩn trương xây dựng và phát triển công nghiệp sợi hoá học và có kế hoạch sản xuất các loại hoá chất thay cho nguyên liệu nhập; khẩn trương giải quyết nguyên liệu hoá chất cho bột giặt.

d) Các địa phương và cơ sở sản xuất phải tìm mọi cách khai thác, sử dụng các loại nguyên liệu sẵn có trong địa phương, các loại vật tư ứ đọng; tận thu, tận dụng đến mức cao nhất các loại phế liệu, phế phẩm, tuyệt đối không được để ứ đọng hoặc hủy hoại. Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố và giám đốc xí nghiệp phải được giao đủ trách nhiệm và quyền hạn để giải quyết tốt vấn đề này.

e) Các ngành, các địa phương và cơ sở sản xuất cần nhập nguyên liệu thì phải lo xuất để nhập; Nhà nước phải dành một phần ngoại tệ để nhập các loại nguyên liệu, phụ liệu rất cần thiết mà trong nước chưa sản xuất được. Phải mạnh dạn nhập nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tạo việc làm cho người lao động và có thêm ngoại tệ. Mở rộng hình thức gia công sản xuất cho nước ngoài để khắc phục một phần khó khăn về nguyên liệu. Tiến tới ký hợp đồng dài hạn nhập nguyên liệu với các nước có điều kiện.

g) Cải tiến và tăng cường công tác quản lý vật tư, nguyên liệu: vận chuyển và bảo quản tốt vật tư, tránh hư hỏng, hao hụt; quản lý chặt chẽ vật tư theo định mức; cải tiến thiết kế sản phẩm, áp dụng công nghệ tiến bộ để tiết kiệm vật tư trong một đơn vị sản phẩm, lợi dụng tổng hợp nguyên liệu và không để nguyên liệu ứ đọng.

h) Bộ Điện than phải cung ứng đủ than cho công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương. Ngoài việc đẩy mạnh sản xuất ở các mỏ than lớn, cần tận dụng than nhiệt lượng thấp, khai thác các mỏ than nhỏ, sử dụng than bùn ở một số địa phương. Tận dụng các loại gỗ cành, ngọn không thể dùng sản xuất đồ mộc để làm nhiên liệu sản xuất đồ sành sứ, thủy tinh.

i) Để giải quyết vấn đề thiết bị, các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương phải có một lực lượng cơ khí tương đối mạnh, bao gồm các tổ hoặc phân xưởng cơ khí của các xí nghiệp, các xí nghiệp cơ khí của các liên hiệp xí nghiệp và các địa phương, nhằm bảo đảm sản xuất được các loại phụ tùng và khuôn mẫu cần thiết, sửa chữa và cải tiến thiết bị hiện có, chế tạo các loại thiết bị chuyên dùng, thiết bị lẻ và một số thiết bị toàn bộ cỡ nhỏ và vừa, như các nhà máy xay xát, nhà máy đường, nhà máy chè, nhà máy gạch v.v.. Bộ Cơ khí luyện kim có trách nhiệm sản xuất và cung ứng các thiết bị thông dụng và các thiết bị, phụ tùng cỡ lớn hoặc yêu cầu kỹ thuật cao mà lực lượng cơ khí chuyên dùng của các ngành, các địa phương không làm được.

Trước mắt phải tận dụng tốt thiết bị hiện có, chú ý huy động sử dụng số thiết bị tịch thu của tư sản mại bản và tư sản công thương hiện còn để trong kho.

k) Kết hợp đúng đắn giữa đầu tư chiều sâu với đầu tư chiều rộng và trước mắt coi trọng đầu tư chiều sâu, để đồng bộ hoá và cân đối các dây chuyền sản xuất nhằm tận dụng công suất thiết bị hiện có. Phải cải tiến các thủ tục cho vay, giảm bớt phiền hà cho cơ sở để thực hiện rộng rãi việc đầu tư qua tín dụng.

2. Tổ chức sản xuất

Phải tùy từng ngành nghề, từng mặt hàng và xuất phát từ hiệu quả kinh tế mà vận dụng linh hoạt các hình thức tổ chức sản xuất thích hợp, quốc doanh, tập thể hoặc cá thể. Cái gì hợp tác xã đã làm tốt thì không vội thay thế bằng quốc doanh; cái gì địa phương làm có hiệu quả thì cứ giao cho địa phương làm. Đối với cá thể, kể cả sản xuất, sửa chữa và dịch vụ, xét sản phẩm nào, công việc nào cá thể hiện đang làm tốt, phục vụ tốt thì giúp đỡ cá thể tiếp tục làm; Nhà nước quản lý bằng chính sách. Một số mặt hàng hiện đang do quốc doanh phụ trách sản xuất, nhưng nay nếu xét thấy để cho tiểu, thủ công nghiệp và tư bản tư nhân sản xuất có điều kiện phát triển sản xuất thuận lợi hơn, thì cũng cần mạnh dạn giao lại cho tiểu, thủ công nghiệp và tư nhân làm. Hình thức tổ chức sản xuất không nên cố định, mà có thể thay đổi tuỳ theo đặc điểm ngành, nghề và trình độ phát triển của kinh tế, kỹ thuật nhằm mục đích có lợi nhất cho sản xuất.

Tổ chức sản xuất phải theo hướng từng bước thực hiện tập trung hoá, chuyên môn hoá, hiệp tác hoá và liên hiệp hoá nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao. Trước mắt, tập trung sức củng cố tốt cơ sở (hợp tác xã, xí nghiệp, xí nghiệp liên hợp), bảo đảm quyền chủ động sản xuất kinh doanh  quyền tự chủ về tài chính của cơ sở. Xúc tiến thành lập một số tổ chức liên hiệp sản xuất - kinh doanh đã có điều kiện chín muồi, dưới hình thức liên hiệp xí nghiệp công - nông nghiệp để kết hợp khâu chế biến công nghiệp với khâu sản xuất nguyên liệu nông sản, hoặc công ty chuyên doanh hàng xuất khẩu trực thuộc bộ sản xuất, để thống nhất quản lý từ khâu sản xuất đến xuất khẩu. Các liên hiệp xí nghiệp phải hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh tế. Việc tổ chức liên hiệp các xí nghiệp phải được tiến hành chu đáo, vững chắc, đạt hiệu quả kinh tế thiết thực, không để trở thành cấp trung gian hình thức.

3. Kế hoạch hoá

Thực hiện nghiêm chỉnh chế độ kế hoạch hoá ba cấp, làm kế hoạch từ cơ sở và xuất phát chủ yếu từ lao động, đất, rừng, biển và thiết bị kỹ thuật hiện có. Trung ương nắm một số cân đối cơ bản, một số chỉ tiêu chủ yếu của nền kinh tế. Trên cơ sở nắm vững quyền tập trung ấy, phải giao cho các địa phương, dựa vào lao động và tài nguyên của mình, chủ động tạo cân đối để sản xuất những mặt hàng thông thường, đáp ứng nhu cầu nhiều vẻ của đời sống; đồng thời tạo điều kiện cho các cơ sở phát huy hết năng lực sản xuất, chủ động được trong sản xuất và kinh doanh.

Kết hợp kế hoạch hoá với sử dụng quan hệ thị trường; vừa xây dựng thị trường thống nhất cả nước, vừa mở rộng thị trường địa phương; kết hợp thị trường có kế hoạch với thị trường ngoài kế hoạch.

Hội đồng Chính phủ ban hành ngay quyết định phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương về các loại vật tư, nguyên liệu, hàng hoá; về sản xuất, lưu thông và tiêu thụ sản phẩm.

4. Chính sách kinh tế

Mạnh dạn sửa đổi và cải tiến các chính sách hiện hành, nhất là về lưu thông, phân phối, nhằm làm cho sản xuất bung ra đúng hướng.

Việc sửa đổi và cải tiến các chính sách phải nhằm khuyến khích sản xuất, mở rộng quyền chủ động của cơ sở, của địa phương và ngành; tận dụng và hướng dẫn tất cả các thành phần kinh tế; kết hợp đúng đắn lợi ích toàn xã hội, lợi ích tập thể và lợi ích cá nhân người sản xuất, chú ý thích đáng đến lợi ích của người sản xuất nguyên liệu.

Phải giải quyết tốt bốn loại chính sách quan trọng sau đây:

a) Chính sách nguyên liệu:

Nhà nước phải đầu tư thích đáng và đồng bộ cho các vùng cây công nghiệp tập trung để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật, trước hết là hệ thống thủy lợi và giống cây trồng, phân bón, bảo đảm cho diện tích được ổn định và năng suất cây trồng tăng nhanh. Bảo đảm cung cấp lương thực cho người trồng cây công nghiệp ở vùng tập trung chuyên canh theo hợp đồng kinh tế hai chiều. ở một số vùng cây công nghiệp tập trung chuyên cung cấp nguyên liệu nông sản cho những xí nghiệp chế biến nhất định, thì giao cho các xí nghiệp đó trực tiếp ký hợp đồng hai chiều với các hợp tác xã nông nghiệp về cung ứng lương thực, phân bón, thuốc trừ sâu, hàng công nghiệp, và thu mua nguyên liệu nông sản.

Thực hiện chính sách thu mua thích hợp đối với từng loại sản phẩm. ổn định mức bán nguyên liệu nông sản cho Nhà nước theo hợp đồng kinh tế hai chiều; phần còn lại Nhà nước mua thêm theo giá thoả thuận và hợp tác xã có thể trao đổi ở thị trường. Phải phân phối lợi nhuận một cách hợp lý giữa đơn vị sản xuất nguyên liệu và đơn vị chế biến công nghiệp, giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương bằng nhiều hình thức như: tăng giá thu mua nông sản một cách thoả đáng, bảo đảm cho người sản xuất bù được chi phí sản xuất và có lãi; bán lại cho địa phương và người trồng nguyên liệu một tỷ lệ sản phẩm công nghiệp chế biến để tiêu dùng rộng hơn tiêu chuẩn chung; địa phương nào sản xuất giỏi hơn, giao nộp nguyên liệu nông sản khá hơn thì được hưởng mức tiêu dùng cao hơn địa phương khác; trung ương phân cho ngân sách địa phương một khoản khuyến khích giao nộp nguyên liệu nông sản cho Nhà nước, trích theo một tỷ lệ % thích đáng trên số thuế nông sản thu được.

Chính sách đối với phế liệu, phế phẩm và sản phẩm làm từ phế liệu, phế phẩm, phải hết sức linh hoạt, rộng rãi: mua bán trực tiếp, giá cả thoả thuận, miễn thuế, giảm thuế; cơ sở sản xuất được hưởng toàn bộ hoặc phần lớn lợi nhuận để đưa vào quỹ xí nghiệp.

Khen thưởng thích đáng, kịp thời về tiết kiệm nguyên liệu và dùng nguyên liệu thay thế; đồng thời xử phạt đúng mức bằng biện pháp kinh tế và kỷ luật hành chính những hành động ăn cắp hoặc lãng phí nguyên liệu.

b) Chính sách khuyến khích xuất khẩu:

- Giá thu mua hàng xuất khẩu phải theo hệ thống giá chung trong nước, có thu quốc doanh. Đối với những mặt hàng xuất khẩu đòi hỏi chất lượng cao hoặc có thể thu được nhiều ngoại tệ (nhất là ngoại tệ mạnh), thì thu mua với giá cao hơn để khuyến khích người sản xuất.

- Định mức lợi nhuận xí nghiệp đối với hàng xuất khẩu cao hơn hàng bán trong nước.

- Thực hiện từng bước chính sách lấy xuất bù nhập. Trước mắt, các ngành, các địa phương và cơ sở được sử dụng khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu trong kế hoạch và khoảng 50% kim ngạch xuất khẩu vượt kế hoạch để nhập nguyên liệu, vật tư cần thiết.

- Có chính sách sử dụng một số tư nhân ở miền Nam trước đây đã có quan hệ buôn bán với các công ty tư bản nước ngoài để làm một số mặt hàng xuất khẩu cần thiết dưới sự quản lý của Nhà nước.

Liên hiệp các xí nghiệp hoặc công ty chuyên doanh sản xuất được trực tiếp quan hệ với thị trường quốc tế, được giao dịch buôn bán với các công ty nước ngoài, dưới sự hướng dẫn và chỉ đạo về chính sách và pháp luật của Bộ Ngoại thương.

c) Chính sách đối với sản xuất công nghiệp địa phương, và tiểu, thủ công nghiệp:

Trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng và kế hoạch của Nhà nước, các địa phương được lựa chọn, quyết định các phương án kinh tế - kỹ thuật, sử dụng các biện pháp cần thiết để phát triển công nghiệp địa phương. Đối với sản phẩm do trung ương quản lý hoặc có chỉ tiêu điều động một phần thì địa phương phải chấp hành nghiêm chỉnh. Đối với những sản phẩm không thuộc diện trung ương thống nhất quản lý, các địa phương được quyền quyết định sản xuất, quyết định giá và tiêu dùng trong địa phương hoặc trao đổi với các địa phương khác. 

Đối với tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, đi đôi với việc phát huy tinh thần tự lực, tự cường của các hợp tác xã và của những người lao động thủ công, Nhà nước cần có chính sách thoả đáng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp phát triển. Nhà nước dùng tín dụng ngân hàng là chính và đầu tư qua ngân sách một phần, để xây dựng một số cơ sở vật chất - kỹ thuật cần thiết mà các hợp tác xã không đủ sức làm. Bán cho các hợp tác xã một số thiết bị sản xuất, phương tiện vận tải và vật tư kỹ thuật mà hợp tác xã không thể có được. Thu hẹp những mặt hàng do thương nghiệp gia công, cải tiến chế độ gia công đặt hàng; mở rộng việc bán nguyên liệu, mua sản phẩm nhằm phát huy tinh thần chủ động, sáng tạo của các hợp tác xã. Bỏ thuế lợi tức vượt cấp, thực hiện thuế luỹ tiến từng phần trên thực lãi. Ban hành sớm điều lệ giá thành và chế độ quản lý giá đối với tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, điều chỉnh giá gia công và thu mua đối với một số mặt hàng cần khuyến khích sản xuất. Cung ứng lương thực, thực phẩm, dụng cụ phòng hộ lao động và một số nhu yếu phẩm nhằm bảo đảm đời sống của thợ thủ công và gia đình họ. Xây dựng điều lệ hợp tác xã tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp, quy định thống nhất chế độ phân phối trong hợp tác xã, bảo đảm tỷ lệ hợp lý giữa các quỹ không chia và phần thu nhập thực tế của xã viên, chú ý thích đáng việc xây dựng quỹ bảo hiểm xã hội của hợp tác xã.

Khuyến khích phát triển mạnh thủ công nghiệp trong hợp tác xã nông nghiệp, nhưng không tách thành đơn vị sản xuất riêng mà phải gắn với hợp tác xã nông nghiệp để bảo đảm tốt việc quản lý lao động và thu nhập, phân phối trong hợp tác xã nông nghiệp. 

d) Chính sách phân phối và tiêu thụ:

- Cải tiến chế độ lợi nhuận xí nghiệp, nhằm khuyến khích xí nghiệp đặt kế hoạch tích cực và phấn đấu hoàn thành vượt mức kế hoạch Nhà nước.

- Các xí nghiệp trung ương đóng tại địa phương phải đóng góp vào ngân sách địa phương một phần thu quốc doanh và quỹ phúc lợi nhằm gắn bó lợi ích của địa phương với xí nghiệp trung ương.

- Phân cấp rộng rãi cho các bộ và địa phương quản lý giá để xét duyệt được kịp thời. Giá mặt hàng mới do cơ sở định, khi nào đưa vào kế hoạch sản xuất chính thức mới do cấp trên định.

- Cải tiến phương thức lưu thông vật tư, hàng hoá theo hướng gắn sản xuất với thị trường. Các cơ sở sản xuất được trực tiếp quan hệ với nguồn cung ứng vật tư, kể cả vật tư nhập khẩu.

- Về tiêu thụ hàng hoá, nói chung, phải qua thương nghiệp, nhưng cần giảm trung gian để cho hàng hoá đi từ nơi sản xuất đến nơi tiêu dùng bằng con đường ngắn nhất. Ngoài ra, các cơ sở sản xuất có quyền lập cửa hàng để giới thiệu và bán thử hàng mẫu. Về hàng hoá làm ngoài kế hoạch, trước hết cũng bán cho thương nghiệp theo giá thoả thuận, nếu thương nghiệp không mua thì các cơ sở sản xuất (xí nghiệp, hợp tác xã, tổ sản xuất, thợ thủ công cá thể) có quyền tự tiêu thụ số hàng hoá đó.

5. Cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam

Tiếp tục tiến hành tốt cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công nghiệp, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp. Phải quán triệt mục đích cải tạo là để đẩy mạnh sản xuất; nắm vững phương châm kết hợp cải tạo với xây dựng và tổ chức lại sản xuất, không làm ồ ạt nóng vội, mệnh lệnh. 

 miền Nam, trong công nghiệp, nhất là trong công nghiệp nhẹ, vẫn còn năm thành phần kinh tế: quốc doanh, công tư hợp doanh, tập thể, lao động cá thể và tư bản tư nhân, cho nên cần có những chủ trương, chính sách đúng đối với từng thành phần kinh tế.

Đối với các cơ sở công nghiệp và vận tải đã thành xí nghiệp quốc doanh và công tư hợp doanh, phải tiếp tục củng cố và tổ chức lại sản xuất, bổ sung cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý có năng lực, tăng cường giáo dục về chủ nghĩa xã hội cho giai cấp công nhân; sử dụng đúng mức những người tư sản đã tham gia cải tạo xã hội chủ nghĩa. Đối với những cơ sở đã đưa vào công tư hợp doanh một cách gượng ép thì phải cân nhắc tình hình cụ thể, xuất phát từ lợi ích sản xuất mà có biện pháp uốn nắn thích hợp nhằm củng cố công tư hợp doanh đã lập ra, hoặc trường hợp cần thiết thì mạnh dạn sửa lại cho đúng chính sách. 

Đối với tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp, phải nắm vững ba nguyên tắc: tự nguyện, cùng có lợi và quản lý dân chủ khi tiến hành hợp tác hoá. Phải xuất phát từ yêu cầu sản xuất, kỹ thuật mà vận dụng các hình thức tổ chức thích hợp: hợp tác xã, tổ sản xuất, thủ công cá thể, nghề phụ gia đình, nhằm bảo đảm sản xuất phát triển, mặt hàng phong phú, đáp ứng được nhu cầu của nhân dân.

Việc cải tạo nghề cá và chế biến nước mắm của ngư dân phải trên cơ sở tự nguyện, tự giác, vận động họ vào các hình thức tổ chức sản xuất thích hợp từ thấp đến cao: tổ đoàn kết sản xuất, tổ hợp tác và hợp tác xã nghề cá, và phải làm từng bước vững chắc nhằm mục đích phát triển sản xuất.

6. Khoa học kỹ thuật

Tăng cường công tác nghiên cứu ứng dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất nhằm tạo nguồn nguyên liệu mới từ trong nước, sử dụng hợp lý, tiết kiệm nguyên liệu, phế liệu, phế phẩm; cải tiến mặt hàng, chế tạo mặt hàng mới và nâng cao chất lượng sản phẩm; trang bị lại và sử dụng tốt năng lực thiết bị hiện có, kết hợp thô sơ với hiện đại, cơ giới với thủ công.

Tăng cường quản lý kỹ thuật từ bộ đến cơ sở, nhất là ở cơ sở, chú ý các mặt quản lý thiết bị, vật tư, công nghệ và chất lượng sản phẩm. Phải coi việc áp dụng đúng các quy trình công nghệ, quy phạm kỹ thuật, các định mức, tiêu chuẩn là một kỷ luật lao động để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm và bảo đảm an toàn lao động. Đẩy mạnh phong trào phát huy sáng kiến hợp lý hoá sản xuất và cải tiến kỹ thuật.

Củng cố các cơ quan nghiên cứu và quản lý khoa học kỹ thuật, tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho công tác nghiên cứu; sử dụng hợp lý cán bộ khoa học kỹ thuật.

7. Tổ chức quản lý

Các bộ, tổng cục, ngoài việc quản lý trực tiếp các đơn vị cơ sở trực thuộc, phải thống nhất quản lý hành chính - kinh tế, đối với tất cả các cơ sở thuộc ngành kinh tế - kỹ thuật từ công nghiệp trung ương đến công nghiệp địa phương, từ quốc doanh, tập thể đến cá thể về các mặt: xây dựng quy hoạch, kế hoạch dài hạn, tổ chức việc phân công, hợp tác sản xuất, hướng dẫn, chỉ đạo khoa học kỹ thuật, quy trình công nghệ, quản lý định mức kinh tế kỹ thuật, đào tạo cán bộ, công nhân kỹ thuật, xây dựng chính sách, chế độ quản lý ngành, kiểm tra hoạt động của toàn ngành. 

Uỷ ban nhân dân các tỉnh và thành phố, ngoài việc quản lý trực tiếp các cơ sở công nghiệp địa phương, phải quản lý các xí nghiệp trung ương nằm trên lãnh thổ về các mặt: góp ý kiến xây dựng quy hoạch, kế hoạch; bảo đảm một phần hậu cần cho sản xuất do Nhà nước quy định; chăm lo đời sống của công nhân, cán bộ; giữ gìn an ninh trật tự để bảo đảm an toàn cho xí nghiệp; kiểm tra việc thực hiện kế hoạch và các chính sách, chế độ, luật pháp của Nhà nước.

Việc phân cấp quản lý xí nghiệp giữa trung ương và địa phương phải xuất phát từ đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của từng xí nghiệp và khả năng quản lý của từng cấp để có lợi nhất về mặt kinh tế, thoả mãn được nhu cầu và sử dụng tốt lao động của địa phương.

Bộ máy quản lý công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương phải được cải tiến theo hướng gọn, nhẹ, giảm trung gian, tăng hiệu lực, tạo điều kiện đưa cán bộ về tăng cường cho địa phương và cơ sở.

 huyện, phải có tổ chức để giúp uỷ ban nhân dân huyện quản lý tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp và một số xí nghiệp quốc doanh của huyện.

 tỉnh và thành phố, chỉ tổ chức một ty, sở công nghiệp để trực tiếp quản lý các xí nghiệp trực thuộc ty, sở và giúp uỷ ban nhân dân tỉnh chỉ đạo toàn bộ công nghiệp địa phương, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp trong tỉnh, kể cả các cơ sở trực thuộc các ty, sở khác.

 trung ương, các ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp thực phẩm tổ chức theo hai loại: có ngành thì hai cấp (bộ - xí nghiệp và xí nghiệp liên hợp), có ngành thì ba cấp (bộ - liên hiệp xí nghiệp - xí nghiệp). Bộ và tổng cục làm tốt chức năng quản lý hành chính - kinh tế, đối với toàn ngành trong cả nước; các công ty, liên hiệp xí nghiệp và xí nghiệp chịu trách nhiệm trực tiếp quản lý sản xuất - kinh doanh.

Đối với công nghiệp địa phương, không giao cho bộ nào chủ quản mà tất cả các bộ hữu quan đều phải quản lý tốt phần công nghiệp thuộc ngành mình ở địa phương. Văn phòng Phủ Thủ tướng có một bộ phận theo dõi để giúp Thủ tướng Chính phủ giải quyết các vấn đề có liên quan đến nhiều ngành, nhiều địa phương.

Kiện toàn Liên hiệp hợp tác xã tiểu công nghiệp, thủ công  nghiệp trung ương và các cấp để làm tốt chức năng là tổ chức của kinh tế tập thể và những người lao động thủ công. Liên hiệp xã các cấp có nhiệm vụ: tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới trong khu vực tiểu, thủ công nghiệp; hướng dẫn công tác quản lý kinh tế hợp tác xã; kiến nghị với Đảng và Nhà nước về những chính sách, chế độ đối với tiểu, thủ công nghiệp và kiểm tra việc thực hiện; đào tạo cán bộ và thợ lành nghề cho các hợp tác xã; tham gia với các bộ và tổng cục trong việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch của tiểu, thủ công nghiệp; được Nhà nước uỷ nhiệm làm nhiệm vụ quản lý ngành đối với một số ngành nghề và mặt hàng xét thấy cần thiết mà chưa có ngành kinh tế - kỹ thuật nào quản lý.

8. Cán bộ, công nhân

Làm nhanh quy hoạch và kế hoạch đào tạo các loại cán bộ, công nhân lành nghề cho các ngành công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm và công nghiệp địa phương. Tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật cho các trường.

Về cán bộ, phải đào tạo đồng bộ cán bộ quản lý kinh tế, cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ nghiệp vụ, hình thành những kíp cán bộ giỏi, những nhóm chuyên gia có kinh nghiệm. Trước mắt, có kế hoạch đào tạo gấp đội ngũ cán bộ quản lý xí nghiệp và liên hiệp xí nghiệp.

Hết sức coi trọng đào tạo công nhân kỹ thuật để sớm có một đội ngũ công nhân lành nghề cho các ngành công nghiệp nhẹ. Có chính sách đãi ngộ thoả đáng đối với những công nhân giỏi. Ngoài công nhân công nghệ, cần chú ý đào tạo công nhân cơ điện. Đặc biệt chú ý đào tạo đốc công, tổ trưởng sản xuất, công nhân đầu nghề và thợ thủ công giỏi.

Đổi mới việc lựa chọn, sắp xếp, bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, không câu nệ vào tuổi tác và lương bậc, chức vụ trong quá khứ, mà căn cứ chủ yếu vào phẩm chất và năng lực thực tế hiện nay. Trước mắt chú ý tăng cường cán bộ cho công nghiệp địa phương, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp; lựa chọn ngay một số cán bộ có năng lực, có triển vọng, biết quản lý kinh doanh, phụ trách các công ty, các liên hiệp xí nghiệp sản xuất các mặt hàng quan trọng.

III


Tăng cường sự lãnh đạo của đảng, vai trò quản lý của nhà nước và phát huy quyền làm chủ tập thể của công nhân và lao động
.

1. Các cấp ủy Đảng từ trung ương đến cơ sở phải làm cho cán bộ các cấp, các ngành thấu suốt đường lối, chính sách của Đảng và Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, về quan hệ giữa kinh tế trung ương và kinh tế địa phương, giữa nông nghiệp và công nghiệp, về vai trò của công nghiệp địa phương, của tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp.

Đặc biệt coi trọng lãnh đạo chính sách và cải tiến quản lý. Chống quan liêu, bảo thủ, mạnh dạn đổi mới để có tác dụng rõ rệt.

Bổ sung cán bộ có phẩm chất và năng lực cho công nghiệp địa phương, cho Liên hiệp xã các cấp. Coi trọng công tác xây dựng Đảng, xây dựng  Công đoàn, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh trong các cơ sở  công nghiệp.

Các tỉnh, thành có nhiều cơ sở công nghiệp (công nghiệp trung ương và công nghiệp địa phương), cần tổ chức ban công nghiệp để giúp tỉnh uỷ, thành uỷ lãnh đạo, kiểm tra sản xuất và quản lý công nghiệp.

2. Hội đồng Chính phủ chỉ đạo các bộ, tổng cục và uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố khẩn trương biến phương hướng, nhiệm vụ phát triển công nghiệp hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương nêu trong Nghị quyết này thành những phương án kinh tế - kỹ thuật, quy hoạch và kế hoạch cụ thể; thành những chính sách, chế độ và pháp luật của Nhà nước; nhanh chóng thực hiện các quyết định về cải tiến tổ chức quản lý và kiện toàn bộ máy quản lý, trước hết cải tiến công tác kế hoạch hoá, kiện toàn bộ máy các liên hiệp xí nghiệp, các công ty chuyên doanh, các xí nghiệp liên hợp và liên hiệp hợp tác xã tiểu, thủ công nghiệp các cấp.

Tất cả các ngành, các cấp phải căn cứ vào vị trí và chức năng của mình, có kế hoạch hành động cụ thể nhằm thi hành Nghị quyết này của Trung ương, tập trung trước hết vào những công việc then chốt và cấp bách nhất, làm dứt điểm, đến nơi đến chốn, tránh dây dưa kéo dài; kết hợp chặt chẽ các ngành với nhau, trung ương với địa phương, cấp trên với cơ sở, để giải quyết đồng bộ các vấn đề. Đề cao trách nhiệm của cá nhân và của tổ chức; việc nào cũng cần có người và tổ chức chuyên lo với những quyền hạn và trách nhiệm cụ thể từ đầu đến cuối: kết quả công việc tốt hoặc xấu phải được đánh giá rõ ràng, kết luận dứt khoát, thưởng, phạt phân minh.

3. Để phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng, toàn bộ các công việc tổ chức sản xuất, kế hoạch hoá, chấn chỉnh tổ chức quản lý, xây dựng và cải tiến các chính sách, chế độ quản lý phải thấu suốt tinh thần mở rộng quyền hạn và tăng trách nhiệm của cơ sở và địa phương trong sản xuất, lưu thông và tiêu thụ, phát huy vai trò chủ động và sức sáng tạo của người lao động, gắn chặt nghĩa vụ với quyền lợi.

Các đoàn thể quần chúng, nhất là Công đoàn và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, có trách nhiệm giáo dục, động viên quần chúng, đề cao tinh thần tự lực, tự cường, phát huy thuận lợi, khắc phục khó khăn, dấy lên một phong trào thi đua sản xuất hàng tiêu dùng và phát triển công nghiệp địa phương, nhằm biến Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Trung ương thành hiện thực sinh động.

*

*     *

Phát triển sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương là một nhiệm vụ cực kỳ quan trọng và cấp bách, tuy đang có nhiều khó khăn, nhưng khả năng phát triển rất lớn. Các ngành, các cấp phải phấn đấu tạo ra một chuyển biến mạnh mẽ, đẩy mạnh sản xuất hàng tiêu dùng và công nghiệp địa phương, đáp ứng nhu cầu đời sống và xuất khẩu, tăng cường năng lực chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, góp phần tích cực vào sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội.

 

T/M ban chấp hành trung ương

Tổng Bí thư

                                 Lê Duẩn

Lưu tại Kho Lưu trữ

Trung ương Đảng.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

6 trường hợp miễn nhiệm, 4 trường hợp xem xét từ chức đối với cán bộ

(ĐCSVN) - Ngày 3/11, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ.

Một số chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2021

(ĐCSVN) - Giảm thuế giá trị gia tăng đối với nhiều hàng hóa, dịch vụ; Hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp với cơ sở thực hiện xã hội hóa chưa truy thu; Bảo vệ việc làm cho người lao động là người tố cáo … là những chính sách mới sẽ có hiệu lực từ tháng 11/2021.

Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị

(ĐCSVN) - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

19 điều đảng viên không được làm

(ĐCSVN) - Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm.

Quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

(ĐCSVN) - Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa ký Quyết định số 35-QÐ/TƯ ngày 15/10/2021 ban hành Quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư .

Liên kết website