Nghị quyết số 34-NQ/TW ngày 10/12/1980, Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế và xã hội năm 1981

Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp từ ngày 3 đến ngày 10-12-1980, sau khi nghe báo cáo và thảo luận về tình hình thực hiện kế hoạch Nhà nước năm 1980, về phương hướng, nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 1981, đã xác định những điểm chủ yếu sau đây: 

1. Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng, Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị và các chủ trương, chính sách mới của Đảng và Nhà nước trên lĩnh vực kinh tế được các ngành, các địa phương và cơ sở trong cả nước thực hiện, đã bước đầu tạo ra khí thế mới, tiến bộ mới trong sản xuất và phân phối lưu thông. Nhìn chung cả nước, nông nghiệp đang có chiều hướng phát triển tốt; các tỉnh Nam Bộ tiếp tục được mùa; các tỉnh miền Bắc đã bước đầu phát huy được nhiệt tình lao động của nông dân trong sản xuất và đấu tranh chống thiên tai. Trong công nghiệp, xuất hiện một số điển hình tốt, đạt hiệu quả kinh tế cao. Trong phân phối lưu thông, cả nước, đặc biệt là các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, thu mua được nhiều lương thực và nông sản hơn trước. Cân đối ngân sách và tiền mặt trong mấy tháng cuối năm 1980 bắt đầu có chuyển biến tốt. Đời sống của nhân dân và công nhân, viên chức ở một số tỉnh được chăm lo khá hơn trước. Sự lãnh đạo và quản lý kinh tế của Đảng và Nhà nước ta bước đầu chuyển hướng đúng, đang tạo ra những nhân tố tích cực mới, mở ra triển vọng khai thác các khả năng hiện thực để đưa nền kinh tế quốc dân vượt qua khó khăn, tiến lên vững chắc trong những năm tới. 

Tuy nhiên, những chuyển biến theo chiều hướng tiến bộ vừa qua chưa nhiều và chưa đủ mạnh. Nhiều khuyết điểm trong việc vận dụng đường lối trong việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội, nhất là trong việc bố trí kế hoạch và chỉ đạo về chính sách chậm được sửa chữa. Nhiều chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước năm 1980 đạt thấp. Nền kinh tế quốc dân vẫn còn mất cân đối nghiêm trọng về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng thiết yếu, năng lượng, nguyên liệu, tài chính và tiền tệ, cán cân xuất nhập khẩu và thanh toán quốc tế; người lao động ở các thành phố chưa đủ việc làm; đời sống của công nhân, viên chức và nông dân ở một số vùng bị thiên tai đang có nhiều khó khăn; các hiện tượng tiêu cực trong kinh tế và xã hội chậm được khắc phục. 

Tình hình trên đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân ta, từ Trung ương Đảng, Chính phủ đến các ngành, các cấp và từng cơ sở, phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, nhiệt tình cách mạng, ý chí tự lực tự cường và tính chủ động, sáng tạo, nỗ lực vượt bậc về mọi mặt để phát huy mạnh mẽ những khả năng sẵn có và những nhân tố tích cực, ra sức sửa chữa khuyết điểm, khắc phục khó khăn, quyết tạo ra một bước chuyển biến mới, mạnh mẽ hơn trên các mặt kinh tế và xã hội trong năm 1981 và trong cả thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ ba (1981-1985). 

2. Những nhiệm vụ cơ bản của kế hoạch những năm sắp tới và kế hoạch năm 1981 là: 

- Đẩy mạnh sản xuất, cải tiến công tác phân phối lưu thông để ổn định và phát triển kinh tế, giảm bớt khó khăn, tiến lên từng bước cải thiện đời sống nhân dân. 

- Tăng cường củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị, trật tự và an toàn xã hội, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ Tổ quốc thắng lợi. 

- Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam, củng cố và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. Cải tiến mạnh mẽ quản lý kinh tế. Kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực. 

- Tiếp tục xây dựng có trọng điểm cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. 

- Củng cố quan hệ đặc biệt với Lào và Campuchia, đẩy mạnh hợp tác toàn diện với Liên Xô và tăng cường quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa khác trong Hội đồng Tương trợ kinh tế, mở rộng quan hệ kinh tế với các nước khác. 

Để thực hiện những nhiệm vụ cơ bản nói trên, tạo ra một bước chuyển biến mới trong tình hình kinh tế và xã hội của nước ta, cần nắm vững những nội dung cơ bản của kế hoạch Nhà nước năm 1981 là: 

a) Sử dụng tốt nhất mọi khả năng thực tế sẵn có, nhất là tận dụng nguồn vốn quý nhất là lao động, đất đai 
và ngành nghề. Sắp xếp lại và sử dụng tốt lao động trong từng xí nghiệp, từng hợp tác xã, tổ chức lại lao động trên địa bàn từng huyện và phân bố lại lao động trên phạm vi cả nước. Đồng thời bố trí đầu tư hợp lý nhằm sắp xếp lại một bước cơ cấu kinh tế theo hướng: tập trung cao cho mặt trận nông nghiệp, trước hết phục vụ nhiệm vụ sản xuất lương thực, thực phẩm; coi trọng đầu tư cho sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, cho thăm dò và khai thác dầu khí; đồng thời đầu tư thích đáng cho các ngành điện, than, giao thông vận tải, cơ khí, sản xuất phân hoá học và vật liệu xây dựng, nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu của nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. 

b) Nhiệm vụ hàng đầu là đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp ở tất cả các vùng trong nước, nhằm giải quyết lương thực, thực phẩm, cung ứng nguyên liệu cho công nghiệp và tăng nhanh nông sản xuất khẩu. 

Phải vừa ra sức thâm canh, tăng vụ, vừa mở rộng diện tích của lúa, màu, cây thực phẩm (các loại rau, đậu, đậu tương), cây công nghiệp (đặc biệt là mía, thuốc lá, đay, cói, dâu tằm, cà phê, cao su, cây có dầu), cây làm thuốc. Phát triển chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia súc nhỏ và gia cầm; đẩy mạnh nuôi trồng các loại thuỷ sản đi đôi với tổ chức tốt việc khai thác hải sản. Kết hợp chặt chẽ nông nghiệp với lâm nghiệp, làm tốt việc bảo vệ rừng và trồng rừng đi đôi với mở rộng sản xuất nông nghiệp và khai thác lâm sản. 

Phải tập trung lãnh đạo, chỉ đạo và đầu tư đúng mức cho việc khai thác Đồng bằng sông Cửu Long, trọng điểm số một về lương thực. Phát huy cao độ khả năng và truyền thống thâm canh, tăng vụ của vùng Đồng bằng Bắc Bộ. Coi trọng phát triển nông sản xuất khẩu ở Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ. Tất cả các vùng khác phải cố gắng tới mức tối đa để tự giải quyết lương thực, thực phẩm tại chỗ. 

c) Hết sức coi trọng mở rộng tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp và phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng trên địa bàn từng huyện, từng tỉnh, thành phố. Bảo đảm cho được kế hoạch sản xuất điện, than đi đôi với cải tiến việc phân phối, sử dụng; tận dụng năng lực sản xuất và sửa chữa cơ khí; đẩy mạnh sản xuất phân bón, vật liệu xây dựng. 

Đặc biệt chú trọng phát huy năng lực sản xuất công nghiệp, tiểu công nghiệp, thủ công nghiệp của Thủ đô Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh để phục vụ nông nghiệp, cung cấp hàng tiêu dùng cho cả nước, làm hàng xuất khẩu, giải quyết việc làm cho người lao động. 

d) Mở rộng hoạt động kinh tế đối ngoại, đẩy mạnh xuất - nhập khẩu, trước hết với Liên Xô và các nước khác trong Hội đồng tương trợ kinh tế. Lấy việc đẩy mạnh xuất khẩu để nhập vật tư kỹ thuật cho sản xuất trong nước, trước hết là phân đạm, thuốc trừ sâu cho nông nghiệp. Tổ chức rộng rãi việc sản xuất cho xuất khẩu; bắt đầu hình thành một số vùng cây xuất khẩu (mía - đường, thuốc lá, rau quả, chè, cà phê, cao su, cây có dầu, cây làm thuốc). Phát triển các mặt hàng hải sản, lâm sản, mỹ nghệ, thủ công nghiệp, tiểu công nghiệp xuất khẩu. Mở rộng hoạt động ngoại thương của Trung ương, đồng thời cho phép và khuyến khích Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, các thành phố và các tỉnh khác mở rộng xuất nhập khẩu dưới sự kiểm tra của Nhà nước. 

e) Tiếp tục thực hiện tốt Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị, tạo nên sự chuyển biến mạnh mẽ, đồng bộ trên mặt trận phân phối, lưu thông. Nắm vững chuyên chính vô sản, kết hợp ba loại biện pháp (kinh tế, hành chính, giáo dục), chuyển mạnh hoạt động của thương nghiệp quốc doanh sang kinh doanh là chính, bảo đảm cho Nhà nước quản lý tốt thị trường, nắm hàng, nhất là nắm lương thực, nắm tiền, quản lý chặt chẽ thu chi tiền mặt, ổn định tài chính, tiền tệ, phân phối hợp lý thu nhập của các tầng lớp dân cư, bảo đảm đời sống của những người lao động. Đặc biệt, phải thực hiện cho bằng được kế hoạch huy động lương thực, thực phẩm và các nông sản khác; bảo đảm việc cung cấp hàng hoá thiết yếu theo định lượng cho công nhân, viên chức. Gấp rút nghiên cứu và tạo điều kiện thực hiện sớm việc cải cách giá cả, tiền lương. 

g) Đẩy mạnh cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc. 
Nắm vững mục đích đẩy mạnh sản xuất phát triển, kiên quyết đưa nông dân miền Nam vào con đường hợp tác hoá bằng nhiều hình thức, phương pháp, bước đi thích hợp và tích cực củng cố các hình thức làm ăn tập thể trong nông nghiệp và không ngừng nâng cao trình độ quản lý của các tổ chức ấy. Tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư doanh, làm tốt việc đăng ký kinh doanh, kết hợp các biện pháp, các lực lượng đấu tranh chống đầu cơ, buôn lậu để quản lý và làm chủ thị trường. ở miền Bắc, ra sức cải tiến quản lý hợp tác xã nông nghiệp, kết hợp chặt chẽ xây dựng hợp tác xã với xây dựng huyện. Chấn chỉnh và tăng cường quản lý kinh tế, quản lý xã hội trong nước. Kiên quyết đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực. 

h) Đẩy mạnh hoạt động văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, công tác thương binh, xã hội, v.v. phù hợp với khả năng thực tế của nền kinh tế và nhằm góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Giữ vững và phát triển sự nghiệp giáo dục sát với tình hình từng miền; tích cực chuẩn bị và từng bước thực hiện cải cách giáo dục. Bố trí lại quy mô, tốc độ đào tạo cán bộ khoa học, kỹ thuật và công nhân cho phù hợp với nhịp độ và quy mô phát triển kinh tế trước mắt và chuẩn bị cho những bước phát triển kinh tế về sau. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý kinh tế; nâng cao chất lượng công tác đào tạo. Phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật, y tế, thể dục thể thao. Ra sức khai thác, sản xuất dược liệu để chế biến thuốc và xuất khẩu đổi lấy dược liệu khác; bảo đảm cho được các loại thuốc chữa bệnh thông thường. Tăng cường vận động và có biện pháp thiết thực để thực hiện tốt việc sinh đẻ có kế hoạch. 

Những chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch Nhà nước năm 1981 là yêu cầu tối thiểu đối với tình hình kinh tế và đời sống trước mắt. Đảng, Nhà nước và nhân dân ta phải nỗ lực phấn đấu, tận dụng và phát huy mọi khả năng hiện thực, để thực hiện vượt mức những chỉ tiêu chủ yếu ấy. 

3. Những biện pháp lớn cần tập trung thực hiện: 

a) Để tận dụng lao động, đất đai và sử dụng có hiệu quả cao nhất các cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có, 
cần phải: 

- Tổ chức lại sản xuất, bố trí lại lao động, tăng cường cải tiến quản lý kinh tế trong từng cơ sở sản xuất, trên địa bàn từng huyện và phân bố lại lao động trên phạm vi cả nước để sử dụng hợp lý đất đai. Phải chú trọng giữ một tỷ lệ lao động trẻ, khoẻ, có kiến thức, có kinh nghiệm sản xuất và quản lý kinh tế cho mặt trận nông nghiệp. Tận dụng được lao động gia đình của xã viên. Tích cực giảm biên chế, đưa trở về nông thôn những người thừa trong biên chế nhà nước có điều kiện sản xuất và sinh sống ở nông thôn. Giảm bớt số dân phi nông nghiệp cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế hiện nay của nước ta và để tăng cường lực lượng lao động cho nông nghiệp. Bố trí một lực lượng quan trọng quân đội tham gia xây dựng kinh tế và sử dụng tốt lực lượng ấy để thực sự đưa lại hiệu quả thiết thực cho nền kinh tế quốc dân, đồng thời bảo đảm được nhiệm vụ của quân đội sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu thắng lợi. Kết hợp chặt chẽ lao động cơ giới với lao động thủ công; phải sử dụng tốt công suất máy móc, thiết bị hiện có, đồng thời phải tổ chức, sử dụng tốt lao động thủ công, không trông chờ, ỷ lại vào cơ giới. Nhà nước cần ban hành sớm Luật về lao động và Luật về đất đaiđể quản lý chặt chẽ và sử dụng hợp lý nhất hai nguồn vốn quý đó. 

- Kết hợp các công trình thuỷ lợi lớn, vừa và nhỏ, nhanh chóng hoàn thành các công trình dở dang, đẩy mạnh cải tạo đồng ruộng, mở rộng diện tích tưới nước và tiêu nước; sản xuất và sử dụng rộng rãi các giống cây trồng và gia súc có năng suất cao; tăng nhanh nguồn phân hữu cơ tại chỗ và sử dụng hợp lý phân hoá học; tích cực đưa tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất để tăng nhanh sản lượng trong nông nghiệp. 

- Thực hành mọi biện pháp sử dụng tốt năng lực sản xuất của các xí nghiệp công nghiệp, đặc biệt là các cơ sở chế biến nguyên liệu trong nước và năng lực vận tải, trước hết là các phương tiện vận tải không dùng hoặc dùng ít xăng, dầu; ban hành chính sách khuyến khích các xí nghiệp, ngoài phần bảo đảm kế hoạch sản xuất mà Nhà nước giao tương ứng với số vật tư được cung ứng, cố gắng tạo thêm nguồn nguyên liệu, vật liệu để tận dụng năng lực sản xuất còn dư và phát triển sản xuất các mặt hàng phụ. 

- Trong xây dựng cơ bản, phải kiên quyết đình hoãn những công trình chưa có khả năng xây dựng và chưa thật cần thiết, để đầu tư tập trung và đồng bộ, hoàn thành nhanh các công trình trọng điểm. Chú trọng đầu tư theo chiều sâu, ưu tiên đầu tư cho những công trình đòi hỏi ít vốn nhưng đưa lại hiệu quả nhanh. Làm tốt công tác chuẩn bị ban đầu, công tác thiết kế và thi công, tập trung dứt điểm trong xây dựng mới. Tăng cường công tác quản lý, chấm dứt tình trạng xây dựng phân tán và kéo dài; khắc phục tình trạng ăn cắp, lãng phí và vô trách nhiệm trong xây dựng. 

- Trong sản xuất cũng như trong xây dựng, phải kiên quyết khắc phục cho được tình trạng trông chờ vào nguồn cung cấp từ bên ngoài, tình trạng ỷ lại vào Trung ương, vào Nhà nước. 

Mọi ngành mọi cấp, mọi cơ sở phải quán triệt sâu sắc và thực hiện cho được khẩu hiệu hành động trong kinh tế hiện nay là: "Với phương tiện vật tư do Nhà nước cung ứng bằng hoặc ít hơn trước, phải sản xuất tốt hơn, làm ra nhiều của cải vật chất hơn". 

b) Đẩy mạnh hơn nữa cải tiến quản lý kinh tế theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng, Nghị quyết số 26 và Nghị quyết về công tác tổ chức của Bộ Chính trị. 

Phương hướng chung của việc cải tiến quản lý kinh tế là xoá bỏ chế độ quản lý theo lối hành chính bao cấp, chuyển mạnh sang phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa, lấy kế hoạch làm trung tâm, vận dụng đúng đắn các quan hệ hàng hoá - tiền tệ, thực hiện hạch toán kinh tế, coi trọng hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm sự kết hợp đúng đắn ba lợi ích (lợi ích của Nhà nước, của tập thể và của người lao động), khuyến khích hơn nữa lợi ích của người lao động và của cơ sở sản xuất. Mở rộng trận địa kinh tế xã hội chủ nghĩa trong cả nước, đồng thời sử dụng thích đáng các thành phần kinh tế khác để đẩy mạnh sản xuất và giao lưu hàng hoá, dưới sự hướng dẫn, quản lý của Nhà nước. 

- Đổi mới công tác kế hoạch hoá, bảo đảm kế hoạch quán triệt đường lối của Đảng. Cân đối kế hoạch trên ba khâu cơ bản: cả nước, địa phương và cơ sở. Đặc biệt chú ý xây dựng kế hoạch từ cấp huyện nhằm thực hiện việc kết hợp lao động với đất đai và kết hợp nông - công nghiệp trên địa bàn huyện. 

Làm kế hoạch từ cơ sở, mở rộng quyền tự chủ tài chính của cơ sở, quyền chủ động của các ngành, các địa phương. Kết hợp kế hoạch hoá việc vận dụng quan hệ thị trường, gắn liền kế hoạch với các chính sách đòn bẩy kinh tế. 

Tăng cường căn cứ khoa học, bảo đảm kế hoạch cân đối hiện thực, khai thác được các khả năng và đáp ứng được các nhu cầu hợp lý. 

- Thật sự coi trọng vai trò của các biện pháp và chính sách kinh tế, cải tiến mạnh các đòn bẩy kinh tế, kiên quyết xoá bỏ tính chất bao cấp tràn lan trong các chính sách kinh tế, tài chính. 

Mọi chính sách, chế độ quản lý hiện hành cản trở việc khai thác các khả năng, trói buộc các cơ sở và địa phương, gây vướng mắc giữa các ngành, giữa ngành và địa phương đều phải được sửa chữa ngay. 

Giải quyết sớm vấn đề phân cấp quản lý giữa Trung ương và địa phương, định rõ quyền chủ động của các địa phương và các cơ sở kinh tế quan trọng trong công tác xuất nhập khẩu. 

Mở rộng việc thực hiện và hoàn thiện các hình thức khoán sản phẩm trong nông nghiệp, trên nguyên tắc bảo đảm sản xuất phát triển, bảo đảm sử dụng và tiếp tục xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho nông nghiệp, củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa bảo đảm làm tốt nghĩa vụ đối với Nhà nước. Ra sức phát triển kinh tế tập thể đồng thời giúp đỡ kinh tế gia đình xã viên phát triển đúng hướng. Mở rộng việc trả lương theo sản phẩm, lương khoán và cải tiến chế độ tiền thưởng trong các xí nghiệp quốc doanh. 

Đẩy mạnh việc xây dựng pháp luật kinh tế của Nhà nước trong các ngành, các cấp. Coi trọng việc tuyên truyền, giáo dục pháp luật kinh tế gắn liền với việc cải tiến chính sách kinh tế và chế độ quản lý kinh tế, đấu tranh chống các hiện tượng tiêu cực. 

c) Đẩy mạnh việc áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật để khai thác các khả năng hiện thực và khả năng tiềm tàng của nền kinh tế. 

Cải tiến chính sách và quản lý để đưa nhanh những thành tựu của khoa học, kỹ thuật vào sản xuất. Từng ngành phấn đấu nắm vững khoa học, kỹ thuật của ngành, đưa các cơ sở đi vào sản xuất có định mức kinh tế - kỹ thuật ngày càng tiến bộ. Các cơ quan nghiên cứu khoa học - kỹ thuật phải kết hợp chặt chẽ với các ngành, các cơ sở bằng những hợp đồng cụ thể để ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất đối với từng sản phẩm. Tìm tòi và áp dụng những biện pháp khoa học, kỹ thuật cho phép sử dụng có hiệu quả hơn cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện có, tiết kiệm nguyên liệu, vật liệu, năng lượng, phương tiện, thiết bị, nâng cao năng suất cây trồng và gia súc; khai thác, chế biến các tài nguyên trong nước thay thế nguyên liệu nhập khẩu, tăng mặt hàng và chất lượng hàng xuất khẩu. Bổ sung và xây dựng mới các tiêu chuẩn chất lượng, các chỉ tiêu kinh tế - kỹ thuật. 

Sớm ban hành những chính sách cụ thể nhằm động viên, khuyến khích đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật, kể cả cán bộ khoa học kỹ thuật đã được đào tạo dưới chế độ cũ ở miền Nam và trí thức Việt kiều nghiên cứu và thực hiện hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ thuật, cải tiến quản lý kinh tế và sáng chế, phát minh. 

d) Thực hiện nghiêm ngặt chế độ tiết kiệm trong sản xuất, xây dựng và tiêu dùng, cả trong các lực lượng vũ trang, nhất là tiết kiệm lao động, vật tư (đặc biệt là xăng dầu, than, điện, sắt thép, lương thực) và các phương tiện vật chất khác. 

Đặt việc tiết kiệm thành một mục tiêu phấn đấu cụ thể của từng ngành, từng cấp, từng cơ sở, từng đơn vị. Đặc biệt, phải hết sức tiết kiệm sử dụng xăng dầu trong sản xuất, chuyển mạnh sang sử dụng phương tiện thủ công, nửa cơ giới; hạn chế gắt gao việc tiêu dùng xăng dầu cho sinh hoạt. Có tổ chức, chính sách, chế độ thu nhặt, sử dụng phế liệu, phế phẩm, phục hồi phụ tùng, v.v.. Khen thưởng thích đáng những thành tích tiết kiệm và xử phạt nghiêm khắc những khuyết điểm về lãng phí, tham ô. 

đ) Phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, phát động phong trào cách mạng sôi nổi, liên tục của quần chúng nhân dân trên mọi mặt. 

Coi trọng việc phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng ở các đơn vị kinh tế cơ sở, đặc biệt là trong việc xây dựng kế hoạch, trong việc kết hợp đúng đắn ba lợi ích. Phát động quần chúng xây dựng và thực hiện các quy chế quản lý và hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sở. Phấn đấu tổ chức tốt đời sống vật chất và văn hoá của quần chúng. 

Phải bồi dưỡng cho nhân dân lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, làm cho các tầng lớp nhân dân nhận rõ tình hình và nhiệm vụ trước mắt,... hiểu rõ nội dung cuộc đấu tranh giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa, nâng cao ý chí chiến đấu, lấy đó làm động lực mạnh mẽ để đánh bại mọi kẻ thù, vượt mọi khó khăn, giành thắng lợi trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Kết hợp tốt các loại biện pháp kinh tế, giáo dục, hành chính và lãnh đạo chặt chẽ phong trào thi đua xã hội chủ nghĩa để phát động sâu rộng phong trào cách mạng sôi nổi của quần chúng, nhằm đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống các hiện tượng tiêu cực, khắc phục khó khăn, thực hiện vượt mức các chỉ tiêu kinh tế. 

Củng cố và tăng cường hoạt động của Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, là những thành viên của hệ thống chuyên chính vô sản, là người đại diện cho quyền làm chủ tập thể của quần chúng, là người cộng tác đắc lực với Nhà nước trong việc quản lý kinh tế, quản lý xã hội. 

e) Chuyển biến sâu sắc về công tác tổ chức - cán bộ và tích cực sửa đổi lề lối làm việc để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cải tiến công tác quản lý của Nhà nước, theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IV) và Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác tổ chức. 

Trong năm 1981, phải làm được những việc sau đây: 

- Gấp rút củng cố các ban, bộ kinh tế; thành lập một số ban, bộ mới. 

Sắp xếp lại cán bộ ở những cương vị chủ chốt trong hệ thống kinh tế quốc dân, kiện toàn các ban của Đảng, các cơ quan quản lý tổng hợp, các bộ quản lý ngành kinh tế - kỹ thuật, nhất là hệ thống các ngành có liên quan đến mặt trận nông nghiệp, mặt trận phân phối, lưu thông. 

Lựa chọn, bố trí đúng những cán bộ chủ chốt cho các xí nghiệp, các cơ sở trọng điểm về sản xuất, xây dựng và giao thông vận tải như: các nhà máy cơ khí, điện, các mỏ than, các xí nghiệp công nghiệp thực phẩm và công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng quan trọng, các cảng, các công trường, nông trường lớn, các huyện trọng điểm. 

Phải có sự đổi mới mạnh mẽ trong công tác cán bộ. Mạnh dạn đề bạt và sử dụng những cán bộ thực sự có năng lực, trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của nhân dân, để kịp thời kiện toàn các cơ quan lãnh đạo, chỉ đạo và quản lý kinh tế cần thiết ở các cấp. 

- Chỉ đạo chặt chẽ việc củng cố tổ chức cơ sở Đảng, nhất là ở nông thôn, xí nghiệp, trước mắt gắn liền với việc hoàn thành công tác phát thẻ đảng viên vào cuối năm 1981. Kiện toàn các tỉnh uỷ, huyện uỷ còn yếu, nhất là các huyện trọng điểm về lúa và cây công nghiệp. 

- Tăng cường công tác chính trị và tư tưởng, nâng cao ý chí chiến đấu và tinh thần trách nhiệm, nâng cao ý thức tổ chức và kỷ luật; làm cho mỗi cán bộ, đảng viên nhận rõ khả năng hiện thực và phương hướng cụ thể trong việc đưa kinh tế tiến lên, nhận rõ những nhân tố mới để quyết tâm tạo ra những chuyển biến mới, đồng thời nhận thấy đầy đủ và sâu sắc những khó khăn trước mắt, những mặt mất cân đối nghiêm trọng để kiên cường phấn đấu khắc phục khó khăn, bảo đảm thực hiện thông suốt chủ trương của Đảng và Nhà nước. 

Phải nhạy bén, linh hoạt và có nhiều hình thức thích hợp trong công tác tư tưởng để giải đáp đúng và kịp thời những thắc mắc của cán bộ và nhân dân, đồng thời kiên quyết đập tan mọi luận điệu chiến tranh tâm lý của địch. Phải coi công tác tư tưởng là một động lực quan trọng để thúc đẩy sản xuất, thực hành tiết kiệm, chống các hiện tượng tiêu cực và ổn định đời sống. 

Sửa đổi lề lối làm việc của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Hội đồng Chính phủ và của các ngành, các cấp từ Trung ương đến cơ sở. 

Chấn chỉnh công tác thông tin kinh tế; xây dựng nền nếp chuẩn bị và thông qua các quyết định theo một trình tự khoa học, tập trung được trí tuệ của cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, kỹ thuật để có thể chọn được những phương án tốt nhất về kinh tế - kỹ thuật và giải quyết nhanh chóng, kịp thời những vấn đề về chính sách kinh tế tài chính và tổ chức quản lý kinh tế. Sửa chữa khuyết điểm trong việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện các quyết định. Chú trọng đề cao chế độ trách nhiệm và tăng cường kỷ luật. Tăng cường và làm tốt công tác kiểm tra, nhất là có chế độ kiểm tra chặt chẽ việc thực hiện các nghị quyết của Đảng. Nhanh chóng kết luận các sáng kiến và nhân tố mới nảy sinh để kịp thời phát huy ưu điểm, khắc phục khuyết điểm và lệch lạc. 

Ban Chấp hành Trung ương Đảng tin tưởng rằng: dưới ánh sáng các nghị quyết của Trung ương Đảng, với sức mạnh đoàn kết, nhất trí của toàn Đảng, với truyền thống chiến đấu dũng cảm và lao động cần cù của nhân dân ta, với những kiến thức và kinh nghiệm về chỉ đạo và quản lý kinh tế đã tích luỹ được, chúng ta nhất định phát huy được những khả năng hiện thực và những nhân tố tích cực mới, thực hiện thắng lợi kế hoạch Nhà nước năm 1981, tạo ra một cục diện mới về kinh tế - xã hội để chào mừng việc ban hành Hiến pháp mới của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, chào mừng Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng. 

T/M Ban chấp hành trung ương
Tổng Bí thư
Lê Duẩn
Lưu tại Kho Lưu trữ
Trung ương Đảng.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

Danh mục chức danh lãnh đạo chủ chốt trong hệ thống chính trị

(ĐCSVN) - Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng tiếp tục rà soát, sắp xếp chức danh, chức vụ theo phân cấp quản lý, có kế thừa, ổn định; chỉ điều chỉnh những vị trí bất hợp lý hoặc chưa được sắp xếp; một người đảm nhiệm...

Xây dựng Thủ đô Hà Nội là Thành phố "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại"

(ĐCSVN) - Đến năm 2030, xây dựng Thủ đô Hà Nội là Thành phố "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại"; trở thành trung tâm, động lực thúc đẩy phát triển vùng đồng bằng Sông Hồng, vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ và cả nước; phấn đấu phát triển ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực.

Không để xảy ra tiêu cực trong công tác cán bộ

(ĐCSVN) - Bộ Chính trị yêu cầu tạo điều kiện cho cán bộ trong quy hoạch có môi trường để rèn luyện, am hiểu thực tiễn, phát triển toàn diện; công tác luân chuyển cán bộ phải bảo đảm chặt chẽ, dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, công bằng; không để xảy ra tiêu cực trong công tác cán bộ…

Bộ Chính trị ban hành Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030

(ĐCSVN) - Ngày 18/4, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng đã ký ban hành Kết luận số 34 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đến năm 2030.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực

(ĐCSVN) - Bộ Chính trị yêu cầu cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu các cấp phải nêu cao tinh thần trách nhiệm, quyết liệt, đi đầu, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; đảng viên phải gương mẫu...

Liên kết website