Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam theo tinh thần Đại hội lần thứ XI của Đảng GS.TS Chu Văn Cấp - Nguyên Viện trưởng Viện KTCT, Học viện CT- HCQG Hồ Chí Minh

Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 1-2011) đã ghi: Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu dựa theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả.

Bài viết này tập trung làm rõ những căn cứ lý luận và thực tiễn, những nội dung cơ bản định hướng đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ 2011-2020, theo tinh thần nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng.

1. Quá trình nhận thức về mặt lý luận và thực tiễn tăng trưởng kinh tế - cơ sở cho sự đổi mới mô hình tăng trưởng.

1.1. Vài nét về lý luận tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế đó là sự gia tăng thu nhập hay sản lượng thực tế được tính cho toàn bộ nền kinh tế (của một quốc gia, một vùng hay một ngành) trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.

Tăng trưởng kinh tế, xét ở đầu vào là do 3 yếu tố: Số lượng vốn đầu tư, số lượng lao động và năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) mà chủ yếu là: Tiến bộ công nghệ, kỹ thuật, hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào là lao động, vốn đầu tư. Tăng trưởng kinh tế dựa vào 2 yếu tố đầu là sự tăng trưởng theo bề rộng (tăng trưởng về số lượng), còn dựa vào yếu tố thứ 3 đó là tăng trưởng về chất lượng (phát triển theo chiều sâu). Do đó, tăng trưởng kinh tế được xem xét dưới 2 góc độ: Số lượng và chất lượng.

Trong nền kinh tế thị trường, tăng trưởng kinh tế về mặt lượng được đánh giá chủ yếu thông qua các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia (SNA) bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO), tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc dân (GNP), tổng thu nhập quốc dân (GNI), trong đó, GDP thường là chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ biến nhất.

Tăng trưởng kinh tế về mặt chất lượng, đó là sự biến đổi về quy mô, cơ cấu, chất lượng của nền kinh tế gắn với việc đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường ... Đây cũng là 3 nhóm chỉ tiêu trụ cột của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Chất lượng tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện trên các mặt sau: (1) Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài, (2) Nền kinh tế phát triển có hiệu quả thể hiện ở năng suất lao động cao, hiệu quả sử dụng vốn cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế cao, (3) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hiện đại; (4) Tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái…

Ngày nay nhiều quốc gia trên thế giới đã lựa chọn mô hình tăng trưởng chú trọng cả lượng và chất của quá trình tăng trưởng.

1.2. Thực tiễn các mô hình tăng trưởng kinh tế trên thế giới và Việt Nam.

1.2.1. Trên thế giới

Trên thực tế, một số quốc gia muốn tăng trưởng kinh tế quá nhanh, chọn cách phát triển thiển cận miễn sao tăng thu nhập hiện tại, mà không chú ý đến hậu quả lâu dài của cách phát triển đó đến môi trường sinh thái, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên, đến tình trạng gia tăng khoảng cách giàu nghèo, bất công xã hội, và mất ổn định chính trị - xã hội.

Thực tế cho thấy, loài người đã và đang trả giá cho sự tăng trưởng nhanh, phiến diện, tăng trưởng không đi liền với phát triển bền vững. Nhiều quốc gia tăng trưởng kinh tế nhưng dân chúng vẫn ở trong cảnh tồi tệ, xét ở các góc độ như: trình độ học vấn, sức khỏe, tuổi thọ, việc làm và thu nhập, thất nghiệp, điều kiện sống trước mắt và lâu dài của dân cư. Năm 1996, Chương trình phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đã khuyến cáo 5 loại tăng trưởng xấu, bao gồm: (1) Tăng trưởng không việc làm, đó là tăng trưởng không đi liền với mở rộng cơ hội tạo việc làm ...; (2) Tăng trưởng không lương tâm, tức là thành quả của nó đem lại lợi ích chủ yếu cho người giàu, còn người nghèo được hưởng ít, khoảng cách giàu nghèo ngày càng gia tăng; (3) Tăng trưởng không có tiếng nói, tức là tăng trưởng kinh tế không kèm theo việc mở rộng dân chủ hay là việc trao quyền lực cho dân, hạn chế những đòi hỏi được tham dự nhiều hơn vào đời sống xã hội của người dân; (4) Tăng trưởng gốc rễ, là sự tăng trưởng không khiến cho đời sống văn hóa của con người trở nên khô héo; và (5) Tăng trưởng không tương lai, tức tăng trưởng trong đó thế hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến, trong đó phải đặc biệt kể đến là môi trường và tài nguyên thiên nhiên.

Trên thế giới có thể thấy Hàn Quốc - Braxin là hai quốc gia điển hình trong việc phát triển ngược nhau. Hàn Quốc gắn tăng trưởng, phát triển kinh tế với giải quyết các vấn đề xã hội cơ bản, thực hiện công bằng xã hội ... nên là quốc gia có sự bất bình đẳng ít nhất và giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong thời gian dài. Trái lại, Braxin, tập trung phát triển công nghiệp nặng với những doanh nghiệp quy mô lớn, sử dụng nhiều vốn ... ít quan tâm đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân, các chính sách xã hội, ít quan tâm đến người nghèo. Chính vì vậy, dù tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm, nhưng lại không giải quyết được tình trạng bất bình đẳng xã hội, phân hóa giàu nghèo gia tăng và chính điều này lại là nguyên nhân kìm hãm sự tăng trưởng, thậm chí có nguy cơ khủng hoảng chính trị, xã hội.

12.2. Mô hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong 25 năm qua: những vấn đề bức xúc, bất lợi.

* Tăng trưởng kinh tế ở nước ta có tầm quan trọng hàng đầu không chỉ do nước ta có điểm xuất phát thấp (kinh tế - kỹ thuật, xã hội ...) đi lên CNXH, phải tăng trưởng nhanh để sớm thoát khỏi tình trạng kém phát triển, rút ngắn khoảng cách tụt hậu về kinh tế, khoa học – công nghệ so với các nước trong khu vực và thế giới, mà chỉ có tăng trưởng nhanh mới có thể thực hiện được các mục tiêu phát triển xã hội như, tạo việc làm, tăng thu nhập của dân cư, xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục - đào tạo, y tế, văn hóa ... thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

* Trong gần 25 năm qua (1986-2011)nền kinh tế Việt Nam đã có số tăng trưởng liên tục, tốc độ cao, khá ấn tượng và rất đáng tự hào. Thể hiện thời kỳ Chiến lược 1991-2000 đạt 7,4%/năm và thời kỳ 10 năm 2001-2010 đạt 7,2%/năm. Tính từ năm 1976 đến nay, thời gian tăng trưởng liên tục của nền kinh tế Việt Nam là gần 30 năm, vượt kỷ lục 23 năm của Hàn Quốc.

Nhờ có sự tăng trưởng liên tục và cao trong nhiều năm:

+ Quy mô của nền kinh tế đã lớn lên đáng kể. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2010 theo giá so sánh gấp 2 lần so với năm 2000, theo giá thực tế gấp 3,4 lần. Kim ngạch xuất khẩu tăng hơn 4 lần/năm 2000. Năm 2010, GDP/người/năm đạt 1.200 USD (năm 1990 là gần 100 USD).

+ Tăng trưởng kinh tế ngay sau khi đổi mới đã đưa Việt Nam thoát khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài nhiều năm sau ngày đất nước hòa bình, thống nhất đã đưa Việt Nam thoát khỏi tình trạng nước kém phát triển và bước vào nhóm nước đang phát triển có nhu nhập trung bình thấp theo xếp hạng của WB.

+ Tăng trưởng kinh tế đã góp phần giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc: Lao động, việc làm, thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống, xóa  đói giảm nghèo, thực hiện an sinh xã hội, tiến bộ và công bằng xã hội từng bước được thực hiện ...

+ Nền kinh tế Việt Nam từng bước hội nhập sâu, đầy đủ vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, thế và lực của nước ta vững mạnh thêm nhiều, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao ...

* Tuy nhiên, nhìn nhận một các khách quan có thể thấy rằng tốc độ phát triển kinh tế chưa thật tương xứng với tiềm năng và cơ hội mà đất nước đã có được. Tăng trưởng kinh tế trong những năm qua vẫn chủ yếu theo bề rộng, chưa chú trọng phát triển theo chiều sâu, chất lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả của tăng trưởng hạn chế, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm hàng hóa còn thấp kém... Cụ thể:

(1) Tăng trưởng kinh tế của nước ta chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên, tăng vốn đầu tư và lao động rẻ. Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư, các ngành tăng trưởng thuần túy dựa vào khai thác, sử dụng tài nguyên như các ngành nông, lâm, thủy sản, khai thác... luôn luôn chiếm tỷ trọng lớn khoảng 30% GDP trong giai đoạn 1991-2009. Động lực của tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế là các ngành công nghiệp gia công, lắp ráp có tỷ lệ chi phí trung gian cao, phụ thuộc vào nhập khẩu tiêu tốn ngoại tệ, thường gây ô nhiễm môi trường và khu vực dịch vụ chưa có tăng trưởng rõ rệt. Kim ngạch xuất khẩu gia tăng nhanh, nhưng cơ cấu xuất khẩu thay đổi chậm, chủ yếu là xuất hàng thô, sơ chế, khoáng sản, năng lực cạnh tranh của hàng xuất khẩu thấp.

(2) Hiệu quả và chất lượng đầu tư thấp (chất lượng tăng trưởng thấp)

+ Tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, vùng kinh tế ngày càng dựa nhiều và vốn FDI, nhưng nguồn vốn này phân bổ không đều, chất lượng chưa cao và cũng chưa đóng góp nhiều vào chất lượng tăng trưởng.

+ Đầu tư dàn trải, cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư thấp, nhất là nguồn vốn đầu tư của nhà nước. Hiệu quả đầu tư thể hiện ở chỉ số ICOR (tỷ lệ vốn đầu tư/GDP) có xu hướng tăng cao trong thời kỳ 1991-2009. Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục thống kê, giai đoạn (1991-1995), bình quân là 3,5; giai đoạn (1996-2000) là 4,8; giai đoạn (2001- 2005): 5,1; trong hai năm 2008, 2009 là 8,0. Chỉ số ICOR cao đồng nghĩa với hiệu quả đầu tư thấp và sụt giảm, năng lực cạnh tranh giảm. Theo khuyến cáo của WB hệ số ICOR 3,0 là hệ số phản ánh đầu tư có hiệu quả và nền kinh tế phát triển theo hướng bền vững đối với các nước đang phát triển. Điều muốn nói là ở khu vực đầu tư công, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước hệ số ICOR rất cao, năm 2009 có thể lên đến 12,0, trong khi đó ICOR chung của nền kinh tế là 8,0.

(3) Những nền tảng cơ bản của tăng trưởng (ổn định kinh tế vĩ mô, thể chế kinh tế - xã hội, giáo dục và y tế cơ bản, cơ sở hạ tầng) còn nhiều bất cập, năng lực cạnh tranh chậm được cải thiện. Các yếu tố đóng góp vào việc gia tăng chất lượng tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (chất lượng nguồn nhân lực, hiệu quả các thị trường nhân tố sản xuất: lao động, đất đai, công nghệ; năng lực đổi mới, sáng tạo công nghệ) còn thiếu và yếu.

Theo Báo cáo của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) khi khảo sát 133 vùng lãnh thổ và quốc gia thì Việt Nam có chỉ số rất thấp về chất lượng cơ sở hạ tầng (111/133), chất lượng đường sá (120/133), chất lượng cung cấp điện (103/133), chi phí cho giáo dục cơ sở (103/133), chất lượng các trường đào tạo và quản lý (11/133).

Theo Báo cáo của WEF về năng lực cạnh tranh toàn cầu, năng lực cạnh tranh của Việt Nam từ 2001 đến nay hầu như không được cải thiện, thậm chí Việt Nam còn bị tụt hạng về năng lực cạnh tranh trong năm 2008, 2009. Năm 2009 xếp thứ 75/133 nước tham gia xếp hạng; năm 2008: 70/134 nước. Như vậy năm 2009 năng lực cạnh tranh bị tụt 5 hạng so với năm 2008.

(4) Trên thực tế, việc gắn kết giữa tăng trưởng với tiến bộ, công bằng xã hội còn chưa chặt chẽ. Tăng trưởng kinh tế cao, nhưng chưa bền vững, tăng trưởng chưa gắn chặt với giảm nghèo, tăng trưởng cũng làm phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc: việc làm cho người lao động, phân hóa giàu nghèo gia tăng, sự chênh lệch về trình độ phát triển, về thu nhập... giữa các vùng, miền ngày càng lớn, môi trường bị ô nhiễm và suy thoái nghiêm trọng, tệ nạn xã hội vẫn diễn biến phức tạp và có xu hướng gia tăng, đặc biệt là tệ nạn ma túy, mại dâm ...

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội X và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm (2001-2010) Đảng ta đã rút ra bài học kinh nghiệm: ... Phải thực sự coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng, hiệu quả nền kinh tế, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô ...

2. Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững

2.1. Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là xu hướng phát triển hiện đại bảo đảm sự hài hòa giữa kinh tế - xã hội- môi trường, giữa các ngành, lĩnh vực, các vùng lãnh thổ, giữa trước mắt và lâu dài và giữa các thế hệ... Tại Hội nghị Thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội, họp tại Côphahaghen, Đan Mạch (tháng 3-1995), các nguyên thủ quốc gia đã đưa ra mục tiêu phát triển không chỉ là phát triển kinh tế đơn thuần mà phải phát triển xã hội, phát triển con người trong sự cân đối hài hòa giữa đời sống vật chất và phát triển con người vừa an toàn, vừa bền vững.

Phát triển bền vững ngày càng trở nên cấp thiết mang tính toàn cầu, trở thành xu thế khách quan của thế giới ngày nay, và cũng là thách thức lớn đối với các quốc gia trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế.

Việc lựa chọn con đường, biện pháp và thể chế, chính sách đảm bảo sự phát triển bền vững luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của mọi quốc gia (trong đó có Việt Nam) trên con đưòng phát triển.

Ở nước ta, từ Đại hội lần thứ VIII của Đảng đến Đại hội lần thứ XI đều đã nhất quán đường lối phát triển bền vững. Trong đường lối phát triển của Việt Nam, khái niệm ''định hướng XHCN” chỉ có ý nghĩa thực tiễn khi mang ''nội hàm'' phát triển bền vững, vì sự tiến bộ xã hội, sự phát triển tự do và toàn diện của mỗi cá nhân. Đảng và nhà nước ta đã đưa ra định hướng Chiến lược phát triển bền vững, với mục tiêu cơ bản... đảm bảo sự hài hòa giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hòa 3 mặt: Phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Với nguyên tắc: Con người là trung tâm của sự phát triển bền vững và bảo vệ môi trường là sự nghiệp của toàn dân. Đại hội lần thứ XI của Đảng đã nêu ra quan điểm phát triển có tính hàng đầu là phát triển nhanh gắn liền với phát triển bền vững, phát triển bền vững là yêu cầu xuyên suốt trong Chiến lược.

2.2. Đổi mới mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển bền vững, tức là thúc đẩy tăng trưởng nhanh để tránh tụt hậu và chú trọng chất lượng tăng trưởng để phát triển bền vững.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, phát triển kinh tế tri thức và trong điều kiện nước ta đã hội nhập sâu, đầy đủ vào nền kinh tế thế giới thì tư duy phát triển phải có sự thay đổi một cách cơ bản là: Chủ yếu dựa và tri thức, công nghệ mới, lấy tri thức làm cơ sở, dựa vào hội nhập quốc tế để phát triển và kết hợp hài hòa giữa yêu cầu ''theo tiếp thời đại'' với yêu cầu giữ vững định hướng XHCN trong quá trình phát triển.

Đại hội lần thứ XI của Đảng đã chỉ rõ: ''Đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả''.

Có thể hiểu và cụ thể hóa như sau:

(1) Bảo đảm sự hài hòa giữa tốc độ và chất lượng tăng trưởng.

- Phấn đấu ổn định kinh tế vĩ mô, giữ tốc độ tăng GDP hợp lý, cao và ổn định trong dài hạn.

- Chú trọng đến chất lượng tăng trưởng.

+ Nâng cao hiệu quả các nguồn vốn đầu tư: Giảm chỉ số ICOR, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nâng cao năng suất lao động xã hội, tăng mức đóng góp của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp (TFP)...

+ Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, doanh nghiệp và sản phẩm.

+ Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Đây là một nội dung của chất lượng tăng trưởng. Phát triển giáo dục - đào tạo và y tế - Hai lĩnh vực thể hiện rõ tiến bộ xã hội. Đồng thời tạo điều kiện cơ hội đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người tiếp cận giáo dục - đào tạo và y tế ...

(2) Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp phụ trợ.

Phát triển mạnh công nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh, tạo nền tảng cho một nước công nghiệp theo hướng; Tăng hàm lượng khoa học - công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm; ưu tiên, chọn lọc phát triển các ngành công nghiệp dựa trên công nghệ cao để đến năm 2015, tỷ trọng giá trị sản phẩm công nghệ cao đạt khoảng 35% trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp, và các sản phẩm công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, có khả năng tham gia vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Chú trọng phát triển công nghiệp phụ trợ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, từng bước phát triển công nghiệp sinh học và công nghiệp môi trường…

(3) Đẩy mạnh công nghiệp hóa nông thôn, và phát triển mạnh các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao và hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật.

- Đẩy mạnh CNH nông nghiệp, phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả, bền vững.

+ Khai thác lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới để phát triển sản xuất hàng hóa lớn với năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao.

+ Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi theo phương thức công nghiệp, bán công nghiệp, đảm bảo chất lượng và an toàn dịch bệnh.

+ Phát triển lâm nghiệp bền vững. Khai thác có hiệu quả và bền vững các nguồn lợi hải sản gắn với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường biển.

- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ có lợi thế cạnh tranh, có hàm lượng khoa học - công nghệ và giá trị gia tăng như: du lịch, hàng hải, hàng không, tài chính - ngân hàng (kể cả bảo hiểm), các dịch vụ kinh doanh khác (Maketing, dịch vụ pháp lý, tư vấn đào tạo, các dịch vụ phần mềm máy tính ...).

- Phát triển nhanh, hoàn thiện kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật đồng bộ với một số công trình hiện đại, trước hết là hệ thống giao thông (nhất là giao thông đô thị), cung cấp năng lượng (điện), thủy lợi đảm bảo sử dụng tiết kiệm các nguồn lực và hiệu quả kinh tế, bảo vệ môi trường.

(4) Phát triển và khai thác tối đa thị trường trong nước, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu.

+ Đẩy mạnh phân công lao động xã hội; phát triển nhu cầu nâng cao thu nhập, đời sống nhân dân; tiếp tục thực hiện chủ trương ''người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”. Phát triển đồng bộ và quản lý vận hành có hiệu quả các thị trường cơ bản (hàng hóa và dịch vụ, thị trường tài chính, thị trường bất động sản, thị trường khoa học và công nghệ, thị trường dịch vụ kinh doanh).

+ Tiếp tục hình thành phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ lực, mũi nhọn trong cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam, đồng thời lựa chọn mặt hàng xuất khẩu trọng điểm, phát huy lợi thế so sánh động. Cải thiện chất lượng hàng hóa xuất khẩu... Củng cố thị trường nước ngoài đã được thiết lập, nhất là thị trường lớn, giàu tiềm năng, đồng thời mở các thị trường mới có triển vọng phát triển ...

(5) Gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường.

Phát triển kinh tế với tốc độ tăng trưởng cao là tiền đề, điều kiện vật chất để giải quyết các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường. Ngược lại, giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường là động lực, nhân tố đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, bền vững.

Tăng trưởng kinh tế tự nó không thể giải quyết được tất cả các vấn đề xã hội và không tự nó dẫn đến tiến bộ xã hội, mà phải có sự điều tiết của xã hội thông qua Nhà nước đề phân phối và phân phối lại kết quả sản xuất theo hướng đảm bảo công bằng xã hội. Vì thế, phải gắn phát triển nhanh và bền vững trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội, thể hiện như sau:

- Gắn kết, tăng trưởng với xóa đói giảm nghèo bền vững, tức là tiếp tục thực hiện Chiến lược toàn diện về tăng trưởng và xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững do Đại hội lần thứ IX của Đảng đề ra và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt năm 2002.

- Tăng trưởng kinh tế với giải quyết việc làm, tạo nhiều việc làm cho người lao động, tăng thu nhập, cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng có nhiều khó khăn, vùng bị thu hồi đất để phát triển đô thị, công nghiệp và dịch vụ ...

- Chiến lược phát triển của Việt Nam luôn luôn xuất phát từ con người, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển; Do đó, tăng trưởng kinh tế phải đưa đến kết quả là nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI).

- Tăng trưởng kinh tế phải gắn với mục tiêu phát triển hài hòa, bền vững giữa các vùng trong nước và bảo vệ, cải thiện chất lượng môi trường.

+ Điều chỉnh mô hình đô thị hóa đảm bảo đô thị hóa trải rộng trên phạm vi cả nước, gắn phát triển kinh tế đô thị với xây dựng nông thôn mới.

+ Gắn mục tiêu bảo vệ môi trường với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội; Thực hiện nghiêm ngặt lộ trình xử lý các cơ sở gây ô nhiễm môi trường ... Chú trọng phát triển kinh tế xanh, thân thiện với môi trường. Thực hiện sản xuất và tiêu dùng bền vững; Thực hiện có hiệu quả các giải pháp chống thiên tai và Chương trình quốc gia về ứng phó với biến đổi khí hậu nhất là nước biển dâng.

* Để thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế, cơ cấu lại nền kinh tế thời kỳ 2011-2020, cần có những điều kiện sau đây:

Một là, huy động các nguồn vốn cho tăng trưởng kinh tế, thông qua: thị trường chứng khoán, hoạt động huy động vốn của các trung gian tài chính, phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI và ODA). Đồng thời nâng cao hiệu quả đầu tư, nhất là vốn đầu tư nhà nước, nguồn vào của các doanh nghiệp nhà nước.

Hai là, phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước, với biện pháp hàng đầu là phát triển giáo dục - đào tạo, nhất là giáo dục, đào tạo đại học và sau đại học và phát triển mạnh khoa học và công nghệ (nhất là công nghệ cao) làm động lực then chốt của phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

Ba là, cải cách hành chính và cải thiện môi trường thể chế kinh tế xã hội. Đẩy mạnh cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả, ngăn chặn và xoá bỏ sự chi phối của lợi ích nhóm, sự cố kết bất minh giữa nhà kinh doanh với những người có vai trò quyết định chính sách trong việc sử dụng “vận động hành lang” (Loppy) dưới nhiều hình thức khác nhau méo mó, gây trở ngại cho lợi ích của cộng đồng, làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước và làm suy giảm lòng tin của dân đối với nhà nước.

Bốn là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước. Mở rộng và phát huy dân chủ trong xã hội. Tạo sự đồng thuận trong xã hội. Đổi mới và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức chính trị - xã hội, các đoàn thể nhân dân.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

Các tin khác

4 nhóm đảng viên được miễn giới thiệu về tổ chức đảng nơi cư trú

(ĐCSVN) - Ban Tổ chức Trung ương hướng dẫn một số nội dung liên quan đến đảng viên đang công tác, học tập trong điều kiện đặc thù, trong đó có 4 nhóm đảng viên được miễn giới thiệu về tổ chức đảng nơi cư trú.

7 chính sách đối với công chức, viên chức có hiệu lực từ tháng 11/2020

(ĐCSVN) – Từ tháng 11/2020, nhiều chính sách đối với cán bộ, viên chức có hiệu lực như: Giảng viên trường cao đẳng sư phạm làm việc 44 tuần/năm, các phòng cấp sở có tối thiểu 5 biên chế công chức, bình quân mỗi phòng chuyên môn thuộc UBND huyện có 02 phó phòng…

Chỉ thị của Bộ Chính trị về lãnh đạo cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV

(ĐCSVN) - Để cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XV và bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 dự kiến sẽ được tiến hành vào ngày Chủ nhật, 23/5/202 đạt kết quả cao, Bộ Chính trị có Chỉ thị về...

Xử lý sai phạm trong công tác tuyển dụng cán bộ, công chức, viên chức

(ĐCSVN) - Ban Bí thư yêu cầu các cấp ủy, tổ chức đảng, lãnh đạo các cơ quan, đơn vị có liên quan tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và phòng, chống tiêu cực trong công tác cán bộ nói chung, công tác tuyển dụng cán...

Bộ Chính trị quy định tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ

(ĐCSVN) - Cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý phải có tinh thần yêu nước nồng nàn, sâu sắc; luôn đặt lợi ích của Đảng, quốc gia - dân tộc, nhân dân lên trên lợi ích của ngành, địa phương, cơ quan và cá nhân; sẵn sàng hy sinh vì sự nghiệp cách mạng của Đảng, vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.

Bầu cử trong Đảng: Đề cử người không đủ tiêu chuẩn sẽ bị xử lý

(ĐCSVN) – Hướng dẫn nêu rõ: người đề cử nhân sự tham gia cấp uỷ phải chịu trách nhiệm trước đại hội về tiêu chuẩn, điều kiện tham gia cấp uỷ của người mà mình đề cử. Sau đại hội, nếu xác minh người được đề cử không đủ tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định thì tuỳ theo mức độ vi phạm, người đề cử sẽ bị xem xét xử lý theo quy định của Đảng.

Liên kết website