Nghị quyết số 247-NQ/TW, ngày 29/9/1975 Hội nghị lần thứ 24 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam về nhiệm vụ của cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới

HOÀN THÀNH THỐNG NHẤT TỔ QUỐC VÀ ĐƯA CẢ NƯỚC TIẾN NHANH, TIẾN MẠNH, TIẾN VỮNG CHẮC LÊN CHỦ NGHĨA XÃ HỘI

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 của quân và dân ta đã giành được thắng lợi vẻ vang, miền Nam nước ta đã được hoàn toàn giải phóng. Toàn bộ nguỵ quân, nguỵ quyền cùng với chế độ thực dân mới mà đế quốc Mỹ ra sức xây dựng trong hai chục năm qua đã bị đập tan.

Thắng lợi mùa Xuân năm 1975 là thắng lợi trọn vẹn và vững chắc của sự nghiệp độc lập dân tộc và thống nhất Tổ quốc, mở ra giai đoạn cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đó là thành quả vĩ đại của 45 năm nhân dân ta đấu tranh cách mạng không ngừng kể từ khi Đảng ta ra đời, là thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, thắng lợi của 30 năm Đảng ta lãnh đạo chính quyền nhân dân, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược.

Thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam góp phần quan trọng vào việc đẩy mạnh ba dòng thác cách mạng và sự nghiệp đấu tranh giữ gìn hoà bình trên thế giới, là thắng lợi có ý nghĩa quốc tế và tính chất thời đại sâu sắc, chứng minh chủ nghĩa Mác-Lênin là vô địch. Nếu thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp với Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 đã mở đầu sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cũ, thì thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ với cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử báo hiệu sự phá sản hoàn toàn không thể tránh khỏi của chủ nghĩa thực dân mới trên thế giới.

Thắng lợi của cách mạng Việt Nam cùng với thắng lợi của cách mạng Lào và cách mạng Campuchia, tạo ra một cục diện mới trên bán đảo Đông Dương: cả ba nước hoàn toàn độc lập, đoàn kết giúp nhau xây dựng đất nước, đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân Đông Dương tiếp tục tiến lên. Thắng lợi cách mạng của nhân dân ba nước Đông Dương tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến cục diện chính trị ở Đông Nam Á, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu của đế quốc Mỹ. Đó cũng là thắng lợi của chủ nghĩa xã hội, của phong trào độc lập dân tộc, dân chủ và hoà bình trên thế giới. 

Đế quốc Mỹ và hệ thống thế giới của chủ nghĩa đế quốc ngày càng suy yếu. Các lực lượng xã hội chủ nghĩa, độc lập dân tộc, dân chủ và hoà bình đang ở thế tiến công chiến lược. Có đường lối cách mạng đúng, có quyết tâm chiến đấu và chiến thắng, biết đoàn kết, động viên mọi lực lượng yêu nước của dân tộc mình và lực lượng dân chủ tiến bộ trên thế giới, biết tổ chức và có phương pháp đấu tranh phù hợp với những điều kiện cụ thể của nước mình, thì nhân dân các nước hoàn toàn có khả năng đẩy lùi từng bước, đánh đổ từng bộ phận chủ nghĩa đế quốc, giành thắng lợi từng bước, đi đến giành thắng lợi hoàn toàn cho cuộc đấu tranh cách mạng của mình.

Nguồn gốc thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám, của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng ta.

Vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin một cách độc lập và sáng tạo vào điều kiện cụ thể nước ta, Đảng ta đã đề ra đường lối và phương pháp cách mạng đúng. Đường lối và phương pháp ấy là giương cao ngọn cờ cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và ngọn cờ cách mạng xã hội chủ nghĩa, vừa đoàn kết và động viên mạnh mẽ toàn dân và toàn quân ta chiến đấu dũng cảm theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: Không có gì quý hơn độc lập, tự do, vừa tranh thủ sự đồng tình ủng hộ và giúp đỡ to lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và của các lực lượng cách mạng và tiến bộ trên toàn thế giới; bồi dưỡng và động viên cao độ sức mạnh của cả nước; phát huy vai trò căn cứ địa cách mạng và tác dụng quyết định nhất của miền Bắc xã hội chủ nghĩa đối với sự nghiệp cách mạng chung của dân tộc; phát huy khả năng cách mạng và tinh thần quật khởi, kiên cường của đồng bào và đồng chí miền Nam; kết hợp sức mạnh của truyền thống dân tộc với sức mạnh hiện tại của toàn dân ta, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế; luôn luôn nắm vững chiến lược tiến công, đồng thời biết giành thắng lợi từng bước để tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn; kết hợp đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và đấu tranh ngoại giao, kết hợp tiến công quân sự với nổi dậy của quần chúng, đánh địch ở cả ba vùng chiến lược (nông thôn đồng bằng, rừng núi và thành thị); tổ chức cả nước thành chiến trường, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, động viên, tổ chức hàng chục triệu nhân dân xông lên giết giặc, cứu nước, vừa chiến đấu vừa sản xuất, xây dựng và bồi dưỡng lực lượng.

Chiến công vẻ vang của 55 ngày tổng tiến công và nổi dậy kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng chứng minh đường lối và phương pháp cách mạng đề ra trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương Đảng và tiếp sau đó, trong những nghị quyết của Bộ Chính trị, là hoàn toàn đúng; sự lãnh đạo và chỉ đạo của Bộ Chính trị rất kiên quyết, kịp thời, sắc bén và chính xác.

Với thắng lợi rực rỡ mùa Xuân năm 1975, cách mạng Việt Nam đã chuyển sang giai đoạn mới: Từ chiến tranh chuyển sang hoà bình, từ một nửa nước bị chủ nghĩa thực dân mới chia cắt và thống trị sang cả nước độc lập và thống nhất, từ hai nhiệm vụ chiến lược, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa, sang một nhiệm vụ chiến lược là làm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước.

Cuộc đấu tranh của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng vì độc lập, thống nhất và chủ nghĩa xã hội gắn chặt với nhau, vừa mang tính chất dân tộc, vừa mang tính chất giai cấp. Từ trước đến nay, trong sự nghiệp cách mạng nước ta, nhân dân ta vẫn có một đảng theo chủ nghĩa Mác - Lênin lãnh đạo cả nước, một quân đội cách mạng của nhân dân cả nước. Thống nhất đất nước vừa là nguyện vọng tha thiết bậc nhất của đồng bào cả nước, vừa là quy luật khách quan của sự phát triển cách mạng Việt Nam, của lịch sử dân tộc Việt Nam. Cách mạng thắng lợi trong cả nước, chế độ thực dân mới do đế quốc Mỹ áp đặt ở miền Nam bị đập tan, nguyên nhân chia cắt đất nước ta hoàn toàn bị thủ tiêu, thì đương nhiên cả nước ta độc lập, thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội. Từ nay, Tổ quốc ta từ Lạng Sơn đến Cà Mau, từ đất liền đến hải đảo, vĩnh viễn độc lập, thống nhất trên cơ sở chủ nghĩa xã hội.

Thống nhất đất nước tạo ra sức mạnh mới, những thuận lợi mới để phát triển kinh tế, văn hoá và củng cố quốc phòng. Thống nhất đất nước càng tăng cường ảnh hưởng của Việt Nam trên trường quốc tế. Vì vậy, thống nhất càng sớm thì càng phát huy nhanh sức mạnh toàn diện của Tổ quốc. Ngay từ bây giờ, Chính phủ Trung ương và từng ngành ở Trung ương phải quản lý công việc của cả nước; tổ chức tốt việc giao lưu kinh tế giữa hai miền; làm kế hoạch khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá và ngân sách năm 1976 và kế hoạch 5 năm phát triển kinh tế và văn  hoá 1976 - 1980 cho cả nước. Chuẩn bị kế hoạch hoàn thành thống nhất nước nhà; chuẩn bị tổng tuyển cử bầu ra Quốc hội chung của cả nước và Quốc hội đó sẽ cử ra Chính phủ Trung ương của nước Việt Nam thống nhất. Từ nay tới đó, phải làm tốt công tác chuẩn bị về tư tưởng, chính trị và tổ chức, phấn đấu ổn định tình hình ở miền Nam. Cuộc bầu cử Quốc hội sẽ là ngày hội của nhân dân trong cả nước, đánh dấu một phong trào cách mạng sôi nổi xây dựng Tổ quốc giàu mạnh.

Bước sang giai đoạn mới, cách mạng ở nước ta phát triển với những đặc điểm lớn dưới đây:

- Cả nước hoà bình, độc lập và thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, có nền chuyên chính vô sản đã được thử thách, có khối liên minh công nông vững chắc làm nền tảng cho Mặt trận Dân tộc thống nhất và cho chính quyền cách mạng của nhân dân.

- Cả nước đang ở trong quá trình tổ chức lại nền sản xuất xã hội, từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa vượt qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa; ba mươi năm chiến tranh để lại những hậu quả trầm trọng về kinh tế và xã hội. Ở miền Bắc, các giai cấp bóc lột đã bị xoá bỏ, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa đã được xác lập, cơ sở bước đầu của sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa và của nền kinh tế độc lập, tự chủ đã được xây dựng. Miền Nam còn giai cấp bóc lột, chủ nghĩa tư bản đã bước đầu phát triển, kinh tế cá thể còn phổ biến, trước đây nền kinh tế hoàn toàn phụ thuộc vào đế quốc và hiện nay vùng mới giải phóng còn tàn tích bóc lột phong kiến. Ở vùng giải phóng cũ, chế độ xã hội có tính chất dân tộc dân chủ nhân dân nhưng kinh tế chưa phát triển và trong chiến tranh bị tàn phá nặng nề.

- Nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội trong tình hình cách mạng Lào và cách mạng Campuchia cũng đã và đang giành được thắng lợi vĩ đại, hệ thống thế giới của chủ nghĩa xã hội và các lực lượng độc lập dân tộc dân chủ và hoà bình trên thế giới ngày càng lớn mạnh, ba dòng thác cách mạng của thời đại ngày càng phát triển, uy tín và vị trí chính trị của nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Chủ nghĩa đế quốc ngày càng khủng hoảng và suy yếu.

Nhiệm vụ chiến lược của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới là: Hoàn thành thống nhất nước nhà, đưa cả nước tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. Miền Bắc phải tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và hoàn thiện quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; miền Nam phải đồng thời tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội là hai mặt khăng khít của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa. "Một mặt, cần phải đẩy mạnh công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm cải tạo những quan hệ sản xuất không xã hội chủ nghĩa thành quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, trong đó mấu chốt là cải biến chế độ sở hữu cá thể và chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất thành các hình thức khác nhau của chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa để giải phóng sức sản xuất, mở đường cho sức sản xuất phát triển. Mặt khác, cần đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhằm phát triển sức sản xuất đã được giải phóng, xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, xoá bỏ tình trạng lạc hậu, cải biến nền sản xuất nhỏ thành nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, không ngừng phát triển và hoàn thiện quan hệ sản xuất mới"1.

Vận dụng đường lối chung của Đại hội lần thứ III của Đảng vào tình hình thực tế hiện nay. Trung ương đề ra nội dung cơ bản của cách mạng xã hội chủ nghĩa và công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trong cả nước là: Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng (cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cách mạng tư tưởng và văn hoá, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt), đẩy mạnh công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa nước nhà, xây dựng nền kinh tế sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, xây dựng chế độ làm chủ tập thể xã hội chủ nghĩa, xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa; xoá bỏ chế độ người bóc lột người, xoá bỏ nghèo nàn và lạc hậu; không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng, củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội; kiên quyết trấn áp bọn phản cách mạng, kịp thời đập tan mọi mưu mô ngóc đầu dậy của chúng; sẵn sàng đánh bại mọi âm mưu, hành động xâm lược và phá hoại của chủ nghĩa đế quốc và bọn tay sai; đoàn kết toàn dân phấn đấu xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, quốc phòng vững mạnh, văn hoá khoa học tiên tiến, có cuộc sống văn minh và hạnh phúc.

Đó cũng là nội dung cơ bản của cuộc đấu tranh giai cấp gay go và phức tạp nhằm giải quyết vấn đề "ai thắng ai" giữa con đường xã hội chủ nghĩa và con đường tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Cuộc đấu tranh đó được tiến hành bằng nhiều hình thức: cải tạo và xây dựng, chính trị và kinh tế, thuyết phục và cưỡng bức, hoà bình và bạo lực. Nó đòi hỏi toàn thể cán bộ, đảng viên ta phải có quyết tâm mới, có năng lực mới, có kiến thức cần thiết và phương pháp công tác đúng đắn trên mọi lĩnh vực, có tinh thần cách mạng tiến công, kiên trì phấn đấu cho sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội. Giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải vươn lên mạnh mẽ, ra sức lao động sản xuất và tiến quân vào khoa học, kỹ thuật với khí thế cách mạng và tinh thần hăng hái như khi đánh giặc, cứu nước.

Phải nắm vững nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, đưa nền kinh tế nước ta tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa.

Đường lối xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa ở nước ta là: Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ, kết hợp đúng đắn công nghiệp và nông nghiệp; xây dựng kinh tế trung ương, đồng thời phát triển kinh tế địa phương; kết hợp kinh tế với quốc phòng; tranh thủ mở rộng quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước khác trên cơ sở giữ vững độc lập chủ quyền và có lợi cho việc xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ; phấn đấu để trong vòng 15 - 20 năm hoàn thành về cơ bản nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

Phải tổ chức lại nền sản xuất xã hội, sử dụng hợp lý nhất lực lượng lao động và ra sức tăng năng suất lao động xã hội; vận dụng các quy luật kinh tế của chủ nghĩa xã hội và có chú ý thích đáng quy luật giá trị vào việc kế hoạch hoá và quản lý nền kinh tế quốc dân; giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tích luỹ và tiêu dùng, có chính sách tiêu dùng hợp lý.

Cần phát triển công tác khoa học, kỹ thuật, chú trọng điều tra cơ bản, tìm kiếm và thăm dò tài nguyên, nghiên cứu các vấn đề khoa học và kỹ thuật nhiệt đới. 

Sức người và sức của trong cả nước, các cơ sở vật chất, các thiết bị máy móc trước đây chủ yếu phục vụ chiến tranh cách mạng, nay phải được kết hợp phục vụ cả kinh tế và quốc phòng và chuyển từng phần sang phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế. Khẩu hiệu "Tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng" được thay thế bằng khẩu hiệu "Tất cả cho sản xuất, tất cả để xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất cả vì Tổ quốc giàu mạnh, vì hạnh phúc của nhân dân".

Nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh trong giai đoạn mới là: Ra sức bảo vệ sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta, bảo vệ Nhà nước chuyên chính vô sản, bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, vùng trời, vùng biển, biên giới và hải đảo của nước Việt Nam thống nhất; luôn luôn nâng cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu, kiên quyết đập tan mọi âm mưu xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và bè lũ tay sai; sẵn sàng đánh  bại mọi hành động xâm phạm lãnh thổ của nước ta. Tiếp tục truy quét tàn quân địch, các lực lượng phản cách mạng hiện hành, sẵn sàng đập tan mọi hành động bạo loạn, phá hoại, chống đối của chúng, giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ chính quyền cách mạng. Các lực lượng vũ trang, kể cả các đơn vị thường trực, phải tích cực tham gia sản xuất, góp phần xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. Thực hiện chế độ nghĩa vụ quân sự đối với tất cả trai tráng và chế độ quân đội tham gia xây dựng kinh tế. Trên cơ sở đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước về mọi mặt, ra sức xây dựng nền quốc phòng toàn dân, xây dựng các khu vực chiến lược quan trọng, xây dựng công nghiệp quốc phòng, bảo đảm cho đất nước có lực lượng ngày càng mạnh, sẵn sàng đánh bại mọi cuộc tiến công của bọn xâm lược. 

Ra sức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng hùng hậu, có lực lượng thường trực mạnh, lực lượng hậu bị to lớn được huấn luyện  tốt; có quân đội nhân dân chính quy, hiện đại, có lực lượng dân quân tự vệ rộng khắp và vững chắc. Xây dựng lực lượng công an nhân dân vững về chính trị, giỏi về nghiệp vụ, có trình độ khoa học, kỹ thuật khá, có tổ chức và kỷ luật chặt chẽ, có lực lượng chuyên trách chính quy và cơ sở quần chúng vững mạnh.

Nhiệm vụ công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta là: Tích cực tranh thủ điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời củng cố quốc phòng và an ninh; phát huy tác dụng của Đảng ta và nước ta trong cuộc đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội. Tăng cường đoàn kết với Lào và Campuchia, tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau, thực hiện hợp tác lâu dài, giúp đỡ lẫn nhau, làm cho ba nước ở Đông Dương trở thành lực lượng vững chắc của cách mạng và hoà bình ở Đông Nam Á. Củng cố và tăng cường quan hệ hợp tác xã hội chủ nghĩa giữa nước ta và các nước xã hội chủ nghĩa anh em. Xây dựng và phát triển quan hệ hữu nghị giữa nước ta và các nước trong thế giới thứ ba cùng các nước khác trên cơ sở năm nguyên tắc chung sống hoà bình.

Tư tưởng cơ bản phải thấu suốt trong lĩnh vực đối ngoại là: Kết hợp nhuần nhuyễn chủ nghĩa yêu nước chân chính với chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữ vững độc lập, tự chủ về chính trị, tiến tới độc lập, tự chủ về kinh tế; tích cực đoàn kết các lực lượng xã hội chủ nghĩa và độc lập dân tộc, chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ. Bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và sự thống nhất của Đảng ta, chống mọi khuynh hướng cơ hội chủ nghĩa và mọi biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc tư sản và tiểu tư sản; ra sức phục vụ sự nghiệp cách mạng trong nước và sự nghiệp cách mạng thế giới.

Trong quan hệ hợp tác kinh tế với các nước, cần tranh thủ vốn và kỹ thuật để tận dụng mọi khả năng tiềm tàng về tài nguyên và sức lao động của nước ta nhằm nhanh chóng đưa nước ta lên trình độ tiên tiến của thế giới. Dành ưu tiên cho việc nhập kỹ thuật hiện đại để xây dựng cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, đồng thời nhập các loại nhiên liệu, nguyên liệu, vật liệu quan trọng mà trong nước chưa có. Để mở rộng quan hệ hợp tác và trao đổi quốc tế, phải phấn đấu tăng nhanh khối lượng hàng xuất khẩu có chất lượng tốt, nhất là nông sản, lâm sản và hàng công nghiệp nhẹ.

II
ĐẨY MẠNH SỰ NGHIỆP XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC

Trải qua 20 năm cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Bắc ngày càng được củng cố về mọi mặt. Chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa, nền văn hoá xã hội chủ nghĩa, sự thống nhất về chính trị và tinh thần đem lại cho xã hội miền Bắc sức sống mãnh liệt. Miền Bắc đã vững vàng vượt qua những thử thách to lớn của chiến tranh, đánh bại hai cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, làm tròn nghĩa vụ đối với cách mạng miền Nam, giúp đỡ cách mạng Lào và cách mạng Campuchia.

Trong chiến tranh, hàng triệu người được động viên ra chiến đấu và phục vụ chiến đấu, nhưng sản xuất vẫn được giữ vững. Giao thông vận tải bị địch đánh phá ác liệt, nhưng vẫn thông suốt.  Công nghiệp và nông nghiệp duy trì được sản xuất và có những mặt tiến bộ. Sự nghiệp văn hóa, giáo dục, y tế không ngừng phát triển. Việc đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật, thăm dò địa chất và nghiên cứu khoa học vẫn tiến hành tích cực. Công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế sau chiến tranh đã và đang đạt được những kết quả quan trọng.

Trong giai đoạn mới, miền Bắc phải có những cố gắng rất lớn. Ba mươi năm dốc sức vào kháng chiến, hai cuộc chiến tranh phá hoại gây ra nhiều thiệt hại về vật chất đã làm chậm công cuộc xây dựng kinh tế của miền Bắc. Khó khăn lớn nhất hiện nay của miền Bắc là cơ sở vật chất và kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội còn yếu; tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân tăng chậm trong khi dân số tăng nhanh; năng suất lao động và hiệu quả vốn đầu tư quá thấp.

Để tiếp tục phát huy tác dụng tích cực của miền Bắc đối với sự nghiệp phát triển cách mạng trong cả nước, phải ra sức thi hành các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 19, 20, 22 và 23 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Căn cứ vào phương hướng và nhiệm vụ đã được vạch ra, xúc tiến lập kế hoạch 5 năm 1976-1980 của cả nước, xúc tiến công tác quy hoạch các ngành và các vùng kinh tế, phân bố hợp lý và khai thác có hiệu quả các năng lực sản xuất, động viên và tổ chức lực lượng lao động xã hội đi vào sản xuất và xây dựng với khí thế sôi nổi, phát huy những khả năng tiềm tàng của nền kinh tế quốc dân, đẩy mạnh sản xuất và xây dựng, thực hành tiết kiệm, phát triển văn hoá, giáo dục, củng cố quốc phòng, từng bước cải thiện đời sống nhân dân.

Phải nắm vững các khâu công tác quan trọng như sau:

- Chấn chỉnh và cải tiến tổ chức lao động ở các xí nghiệp công nghiệp và giao thông vận tải, công trường, nông trường, nhằm sử dụng hợp lý sức lao động, phát huy công suất của thiết bị và tăng năng suất lao động. Đề cao trách nhiệm quản lý lao động của thủ trưởng ở các cơ sở, xây dựng kỷ luật và tác phong lao động mới. Tích cực chuẩn bị và từng bước thực hiện việc phân công lại lao động trong phạm vi cả nước, đưa một phần quan trọng lao động ở đồng bằng đi xây dựng các vùng kinh tế mới.

- Sử dụng tốt các nguồn tài nguyên, vật tư, thiết bị, tiền vốn. Trong mọi lĩnh vực hoạt động, phấn đấu đạt hiệu quả cao nhất và tiết kiệm nhất, trước hết là tiết kiệm chi phí sản xuất và xây dựng; nghiêm chỉnh hạch toán chi phí, nâng cao hiệu quả của vốn đầu tư. Thực hành tiết kiệm trong mọi khoản chi tiêu của cơ quan nhà nước, của quân đội và của tất cả các tổ chức và cơ quan khác.

- Phấn đấu nâng cao chất lượng sản phẩm. Thúc đẩy hợp lý hoá sản xuất, cải tiến kỹ thuật. Tăng cường chỉ đạo công tác khoa học, kỹ thuật, cung cấp phương tiện kịp thời và thích đáng; động viên và tổ chức tốt lực lượng cán bộ khoa học, kỹ thuật đi sâu vào thực tế để phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, tổ chức lại nền sản xuất xã hội.

- Củng cố và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Quản lý chặt chẽ các đơn vị kinh tế quốc doanh, các cơ quan nhà nước; kiên quyết bài trừ mọi hành động xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa; phát huy quyền làm chủ tập thể của công nhân, viên chức trong công tác quản lý kinh tế. Đối với các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp và thủ công nghiệp, củng cố chế độ sở hữu tập thể, cải tiến công tác quản lý, phát huy quyền làm chủ tập thể của xã viên, tăng cường giáo dục xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền nếp và tác phong lao động tập thể, chống những hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước và của hợp tác xã.

- Ra sức cải tiến quản lý kinh tế, quản lý xã hội, đưa nhanh công tác quản lý nhà nước vào nền nếp. Kiên quyết xoá bỏ lối quản lý "hành chính cung cấp", thực hiện quản lý kinh tế theo phương thức kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Cải tiến giá cả nhằm khuyến khích sản xuất. Chấn chỉnh bộ máy quản lý kinh tế của các ngành và các tỉnh thành. Đặc biệt chú trọng kiện toàn cấp huyện, kiện toàn tổ chức quản lý ở các đơn vị cơ sở. Phát huy chức năng và tác dụng của pháp chế xã hội chủ nghĩa để tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ tập thể của quần chúng, xây dựng chế  độ làm việc và chế độ trách nhiệm nghiêm túc, xoá bỏ lối "quan liêu, giấy tờ", trách nhiệm không rõ ràng, công việc chậm trễ, không sát cơ sở, xa quần chúng.

- Đẩy mạnh công tác xây dựng đảng và nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 23 của Trung ương. Kiên quyết làm đúng công tác cán bộ theo Nghị quyết 225 của Bộ Chính trị.

III

VỀ CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở MIỀN NAM

Nền kinh tế miền Nam, trong hai mươi năm qua, phát triển trong một hoàn cảnh đặc biệt, nhằm phục vụ chiến tranh và chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ. Đó là một nền kinh tế lệ thuộc vào nước ngoài và tuy đã có một số cơ sở sản xuất hiện đại của chủ nghĩa tư bản, song sản xuất nhỏ còn khá phổ biến. Khó khăn lớn là sản xuất phụ thuộc vào nguyên liệu, xăng dầu và thiết bị kỹ thuật bên ngoài.

Số người thất nghiệp rất đông, tiền tệ lạm phát, thị trường hỗn loạn.

Chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ đã tăng cường sự thống trị và lũng đoạn của thế lực tư sản nước ngoài và tạo ra tầng lớp tư sản mại bản mới ở miền Nam nước ta. Bọn chúng nắm giữ hầu hết các cơ sở sản xuất và lưu thông phân phối quan trọng, cấu kết với bọn quân phiệt cầm quyền, làm giàu trong chiến tranh, sống trên xương máu của đồng bào; ngày nay chúng là bọn đầu sỏ đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường, gây tác hại đến đời sống nhân dân. Tư sản dân tộc tuy có phát triển hơn trước, nhưng vẫn là một lực lượng nhỏ bé và bị lép vế. Giai cấp địa chủ cơ bản đã bị xoá bỏ từ hồi kháng chiến chống Pháp; phần lớn ruộng đất của họ đã vào tay nông dân; số địa chủ còn lại ở vùng mới giải phóng không nhiều. Kinh tế nông thôn chủ yếu vẫn chịu ảnh hưởng nặng của chính sách thực dân mới của Mỹ, bị giai cấp tư sản, nhất là tư sản mại bản, thao túng và bóc lột.

Tình hình chính trị và xã hội ở miền Nam hiện nay còn phức tạp; bọn phản động chưa bị quét sạch, vẫn tiếp tục những hoạt động phá hoại. Các tệ nạn xã hội do chế độ cũ để lại rất nặng nề.

Nhưng mặt khác, miền Nam có những thuận lợi rất lớn: đông đảo quần chúng là yêu nước, có truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, có xu hướng tiến bộ, nhạy bén trong việc tiếp thu kỹ thuật mới. Điều kiện thiên nhiên thuận lợi, chính quyền cách mạng tiếp quản được gần nguyên vẹn cơ sở vật chất và kỹ thuật của chế độ cũ. Thực hiện tốt sự kết hợp và hỗ trợ giữa hai miền thì miền Nam có khả năng khắc phục những khó khăn trước mắt, góp phần quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển trong cả nước.

Cuộc đấu tranh giai cấp ở miền Nam diễn ra trong điều kiện một xã hội vốn là thuộc địa kiểu mới tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội, một nền kinh tế mà sản xuất nhỏ còn khá phổ biến tiến lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Cuộc đấu tranh đó rất gay go, phức tạp và lâu dài, kết hợp đấu tranh nhằm quét sạch tàn tích của chủ nghĩa thực dân mới, của chế độ tư sản mại bản quan liêu quân phiệt và tàn tích phong kiến với đấu tranh để giải quyết vấn đề "ai thắng ai" giữa hai con đường xã hội chủ nghĩa và tư bản chủ nghĩa. Trước mắt, cần chĩa mũi nhọn đấu tranh chủ yếu vào thế lực phản cách mạng phá hoại hiện hành và tư sản mại bản. Song phải nắm chắc nhiệm vụ công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa, làm nhiệm vụ lâu dài và quyết định nhất đối với sự toàn thắng của chủ nghĩa xã hội.

Do những đặc điểm cụ thể của tình hình miền Nam và hoàn cảnh mới hiện nay của cả nước, trong khi vận dụng đường lối chung của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội vào miền Nam, cần nắm vững phương hướng chủ yếu sau đây trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Kết hợp chặt chẽ cải tạo và xây dựng trong cả quá trình cách mạng và trên các mặt: chính trị, kinh tế, kỹ thuật, văn hoá, tư tưởng, trong phạm vi toàn xã hội và từng đơn vị.

Việc kết hợp cải tạo và xây dựng phải đưa lại kết quả thiết thực là sản xuất không ngừng phát triển, năng suất lao động xã hội ngày càng tăng, sản phẩm hàng hoá ngày càng nhiều và đời sống xã hội ngày càng lành mạnh, tiến bộ, điều kiện sinh hoạt vật chất và văn hoá của nhân dân không ngừng cải thiện. Trong một thời gian nhất định, ở miền Nam còn nhiều thành phần kinh tế: kinh tế quốc doanh xã hội chủ nghĩa, kinh tế tập thể xã hội chủ nghĩa, kinh tế công tư hợp doanh nửa xã hội chủ nghĩa, kinh tế cá thể, kinh tế tư bản tư doanh; cần ra sức sử dụng mọi khả năng lao động, kỹ thuật, tiền vốn, kinh nghiệm quản lý, để đẩy mạnh sản xuất.

Phải phát triển kinh tế quốc doanh, nắm chắc các mạch máu kinh tế, phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh trong nền kinh tế quốc dân.

Phải xoá bỏ tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hoá cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý.

Đối với kinh tế của tư sản dân tộc, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh, bắt đầu từ những cơ sở sản xuất và kinh doanh quan trọng. Cho phép tư sản dân tộc tồn tại và kinh doanh một số ngành nghề nhất định phù hợp với quốc kế dân sinh, với số công nhân hạn chế, dưới sự chỉ đạo của Nhà nước và sự giám sát của công nhân. Cho phép đồn điền trồng cây công nghiệp hoặc cây ăn quả của tư sản dân tộc tiếp tục kinh doanh, đến lúc thích hợp sẽ thực hiện cải tạo bằng hình thức công tư hợp doanh. Nhà nước phải ban hành Luật Lao động, chế độ tiền lương, chế độ bảo hiểm xã hội, quy định mối quan hệ mới giữa chủ và thợ, bảo đảm cho công nhân có một vị trí thích đáng trong xí nghiệp tư nhân.

Đi đôi với việc phát triển mậu dịch quốc doanh, cần khuyến khích tư sản thương nghiệp chuyển sang sản xuất.

Trong công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp và xây dựng nền nông nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa, một mặt phải ra sức xây dựng những nông trường quốc doanh có quy mô lớn, chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong sản xuất, những tổ hợp nông công nghiệp, sản xuất và chế biến một khối lượng lớn nông sản, mặt khác phải thực hiện hợp tác hoá nông nghiệp, làm từng bước, tích cực và vững chắc. Quá trình hợp tác hoá nông nghiệp phải đi liền với quá trình thủy lợi hoá, cơ giới hoá, trang bị kỹ thuật, sử dụng giống mới, dựa trên phương hướng sản xuất được xác định đúng ở các vùng khác nhau mà tổ chức và phân bố lại lao động, thực hiện chuyên canh, thâm canh, tăng năng suất lao động. Phải đoàn kết, giáo dục và tổ chức nông dân lao động, đồng thời tích cực chuẩn bị những điều kiện cần thiết như đào tạo cán bộ quản lý và cán bộ kỹ thuật, củng cố chi bộ và kiện toàn cấp huyện... Trước mắt, cần xây dựng một số hợp tác xã thí điểm để rút kinh nghiệm. Ở những nơi chưa đủ  điều kiện xây dựng hợp tác xã thì ra sức phát triển các tổ đổi công vần công.

Trong khi chưa triển khai cuộc vận động hợp tác hoá nông nghiệp thì Nhà nước phải thiết lập và phát triển quan hệ thị trường với nông dân cá thể, bảo đảm lưu thông, phân phối thông suốt, khuyến khích sản xuất phát triển. Nông trường, hợp tác xã nông nghiệp và kinh tế của nông dân cá thể kết hợp với nhau thành một hệ thống nông nghiệp thống nhất theo sự phân vùng, chuyên canh, thâm canh, sản xuất quy mô lớn, lấy huyện làm địa bàn kết hợp trên cơ sở quy hoạch những vùng lớn và quy hoạch của mỗi tỉnh.

Công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thủ công nghiệp phải theo con đường hợp tác hoá thủ công nghiệp tiến hành từng bước, tích cực và vững chắc. Một mặt phải giáo dục, thuyết phục quần chúng thủ công, mặt khác phải đào tạo cán bộ quản lý và lãnh đạo hợp tác xã cho tốt, bảo đảm tăng năng suất lao động, phát triển sản xuất, góp phần tăng sản phẩm xã hội, tăng tích luỹ cho hợp tác xã và cải thiện đời sống của xã viên.

Trong một thời gian, thành phần kinh tế cá thể (trong nông nghiệp và thủ công nghiệp) còn đóng một vai trò tích cực trong công cuộc khôi phục và phát triển kinh tế, ổn định đời sống nhân dân. Cần giúp đỡ tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp phát triển sản xuất đúng hướng, đáp ứng một phần yêu cầu về hàng tiêu dùng trong nước và xuất khẩu, giải quyết công việc làm cho nhân dân. Nhà nước bán nguyên liệu, máy móc, phụ tùng, giúp đỡ về kỹ thuật và thu mua sản phẩm.

Đối với thương nghiệp nhỏ, cần tích cực cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng cách tổ chức đăng ký kinh doanh, có chính sách thuế và chế độ kiểm kê, kiểm soát, chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất, lựa chọn để sử dụng một số người làm đại lý kinh tiêu.

Để phát huy mặt tích cực và hạn chế đến mức thấp nhất mặt tiêu cực trong một nền kinh tế có nhiều thành phần, sự chỉ đạo và quản lý của Nhà nước phải rất sắc bén, nắm vững kế hoạch hoá, đồng thời khéo vận dụng các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ để thúc đẩy sản xuất phát triển.

NHỮNG NHIỆM VỤ CÔNG TÁC TRƯỚC MẮT

1. Xây dựng chính quyền cách mạng của nhân dân

Xây dựng chính quyền cách mạng vững mạnh của nhân dân ở các cấp là nhiệm vụ có tầm quan trọng hàng đầu. Chính quyền ở mỗi cấp thể hiện sự lãnh đạo của Đảng và quyền làm chủ tập thể của nhân dân, phải đủ sức làm nhiệm vụ cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Chính quyền cách mạng của nhân dân phải ổn định nhanh an ninh chính trị và trật tự xã hội, ổn định đời sống nhân dân, dựa vào quần chúng cách mạng để bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân, trấn áp bọn phá hoại, ngăn chặn những hành động lạm quyền. Xây dựng hệ thống cơ quan pháp chế, lần lượt ban hành các luật lệ cần thiết. Phải thường xuyên kiểm tra và dựa vào quần chúng tích cực để ngăn ngừa và thanh lọc những phần tử địch trà trộn vào tổ chức chính quyền, những phần tử quan liêu, thoái hoá, đối lập với quần chúng. Những hành động lạm quyền, ức hiếp nhân dân, vi phạm pháp luật, vi phạm chính sách, xâm phạm tài sản của Nhà nước và của nhân dân phải được xử trí nghiêm minh, kịp thời.

Nhanh chóng xây dựng bộ máy chính quyền ở các cấp có đủ những cơ quan chuyên môn cần thiết, tổ chức gọn nhẹ, có chế độ và lề lối làm việc đúng, có cán bộ am hiểu chuyên môn, nghiệp vụ. Phải bảo quản và khai thác tốt các tài liệu của chính quyền cũ. Vấn đề quan trọng hiện nay để ổn định tình hình, tranh thủ đông đảo các tầng lớp nhân dân, là phải ban hành hàng loạt chính sách. Các cơ quan có trách nhiệm của Đảng và Nhà nước phải khẩn trương nghiên cứu những chính  sách cụ thể quan trọng và cấp bách, như chính sách ruộng đất, chính sách nhà cửa, chính sách giá cả, chính sách tiền lương, chính sách thuế, chính sách tín dụng, các chính sách cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư bản tư doanh, đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp nhỏ, v.v.. Để nắm chắc tình hình kinh tế và có căn cứ xây dựng các chính sách, cần làm ngay các công tác kiểm kê tài sản, điều tra nông thôn, điều tra công thương nghiệp, nắm hàng tồn kho. Để phục vụ tốt công tác kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân và chuẩn bị tổng tuyển cử, phải khẩn trương điều tra dân số.

2. Công tác trấn áp bọn phản cách mạng phải làm kiên quyết, đúng chính sách và sách lược, không để xẩy ra lệch lạc hữu hoặc "tả"; kết hợp việc phát động phong trào quần chúng với việc chỉ đạo của ngành chuyên môn; kết hợp trấn áp với giáo dục, kết hợp bạo lực với các biện pháp chính trị, kinh tế, văn hoá và tư tưởng. Cô lập bọn phản động, phân hoá chúng đến cao độ. Trong quá trình đấu tranh trấn áp bọn phản cách mạng, đấu tranh cải tạo kinh tế và văn hoá, phải tuyển lựa quần chúng tích cực để xây dựng lực lượng công an nhân dân và lực lượng dân quân, tự vệ vững mạnh.

3. Xoá bỏ giai cấp tư sản mại bản và các tàn dư của giai cấp địa chủ phong kiến

Quốc hữu hoá các cơ sở sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải, dịch vụ, ngân hàng, kinh doanh thương nghiệp và nhà cửa của tư sản mại bản. (Để lại cho họ và gia đình họ một phần nhà ở và phương tiện để sinh sống). Nếu trong những công ty bị quốc hữu hoá có cổ phần của những người không thuộc đối tượng phải tịch thu còn ở lại trong nước, thì Nhà nước hoàn các cổ phần đó cho họ hoặc cho họ hùn vốn theo hình thức công tư hợp doanh. Với những cơ sở quốc hữu hoá, xây dựng và phát triển kinh tế quốc doanh.

Triệt để xoá bỏ các tàn dư của chế độ thực dân và phong kiến về ruộng đất. Quốc hữu hoá đồn điền của tư sản nước ngoài (không bồi thường hoặc có bồi thường tuỳ trường hợp). Tịch thu đồn điền, ruộng đất của tư sản mại bản và của các địa chủ phản quốc, địa chủ đã chạy ra nước ngoài; trưng thu đồn điền, ruộng đất của địa chủ đã bỏ kinh doanh trong nhiều năm. Lấy lại ruộng đất của địa chủ thường bằng cách vận động họ hiến ruộng là chính, trường hợp không chịu hiến thì trưng thu...

Những đồn điền và ruộng đất bị tịch thu hoặc trưng thu có diện tích lớn, liền vùng thì không chia, mà tổ chức thành nông trường quốc doanh.

4. Khôi phục và phát triển sản xuất, giải quyết nạn thất nghiệp do chế độ cũ để lại

Cố gắng bảo đảm nhiên liệu và các tư liệu sản xuất cần thiết khác, đồng thời coi trọng việc nắm tình hình, kiểm kê, kiểm soát, nghiên cứu và ban hành chính sách, làm cho guồng máy sản xuất của xã hội nhanh chóng trở lại hoạt động bình thường, nền kinh tế được khôi phục nhanh và phát triển  đúng hướng. Ra sức phục hoá, khai hoang, bảo đảm lưu thông thông suốt, mở rộng tiêu thụ, giao lưu hàng hoá trên địa bàn cả nước và xuất khẩu. Giữ vững và không ngừng nâng cao năng suất lao động, các định mức tiên tiến và chất lượng sản phẩm hiện nay.

Phải ra sức phát huy ưu thế về điều kiện thiên nhiên của nông nghiệp miền Nam để sử dụng hợp lý đất đai và lao động cả nước trên cơ sở quy hoạch chung, tích cực áp dụng những thành tựu mới của "cách mạng xanh" để tạo ra năng suất cao, nhanh chóng biến nông nghiệp thành cơ sở vững chắc để phát triển công nghiệp; thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ mà Hội nghị lần thứ 19 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã vạch ra. Nhanh chóng khôi phục và mở rộng sản xuất ở những đồn điền đã quốc hữu hoá hoặc do Nhà nước tạm thời quản lý, đồng thời đẩy mạnh việc khảo sát, quy hoạch, thiết kế những cơ sở mới có quy mô lớn; sử dụng phương tiện cơ giới kết hợp với lao động thủ công, chú trọng giải quyết vấn đề thuỷ lợi và khâu chế biến sản phẩm. Có kế hoạch đầu tư và huy động một số lớn lao động, bao gồm những người không có việc làm ở các thành phố, một số đông nguỵ quân, nhân viên nguỵ quyền cũ, một bộ phận lao động miền Bắc, để thực hiện từng bước sự phân công lại lao động trong phạm vi cả nước.

Rừng là một ưu thế của kinh tế miền Nam. Cần tổ chức ngay việc bảo vệ rừng, quản lý việc khai thác, cấm chặt phá rừng tuỳ tiện. Tích cực xây dựng những khu lâm nghiệp quốc doanh lớn có nhiệm vụ trồng rừng, khai thác gỗ và các lâm sản khác, cưa xẻ và chế biến một phần gỗ; kết hợp nghề rừng với trồng trọt và chăn nuôi. Vận động nhân dân trồng rừng ở đồng bằng Nam Bộ và ven biển. Điều tra và chuẩn bị kế hoạch trồng rừng và cây công nghiệp trên quy mô lớn ở các vùng đồi núi. 

Về nghề cá, cố gắng đáp ứng những nhu cầu về thuyền, lưới, xăng dầu, máy đẩy, xây dựng thêm cơ sở hậu cần, phát huy khả năng hiện có và mở rộng hơn nữa khả năng đánh bắt ngoài khơi. Cần tổ chức tốt việc thu mua, mở rộng mạng lưới chế biến, ướp đông. Tích cực xây dựng các cơ sở quốc doanh đánh cá. Phát triển mạnh nghề nuôi tôm, cá nước lợ, cá đồng và hồ ao. Việc hợp tác hóa nghề cá phải làm từng bước, có chuẩn bị tốt; hạn chế và tiến tới xoá bỏ những quan hệ bóc lột trong nghề cá, đồng thời bảo đảm duy trì và phát triển sản xuất, đưa nhanh nghề cá đi vào sản xuất lớn hiện đại bằng các biện pháp tổ chức quản lý, cung cấp vật tư kỹ thuật và thu mua sản phẩm.

Phải phát huy đến mức cao nhất năng lực sẵn có của công nghiệp nhẹ, công nghiệp thực phẩm, tiểu công nghiệp và thủ công nghiệp ở miền Nam; giữ vững và nâng cao chất lượng sản phẩm và sự phong phú về mặt hàng, đồng thời xây dựng một số cơ sở công nghiệp nặng theo sự phân công trong kế hoạch và quy hoạch chung của cả nước. Khôi phục và mở rộng thuỷ điện Đa Nhim, mở rộng các nhà máy nhiệt điện. Tiếp tục tìm kiếm và thăm dò để sớm khai thác dầu mỏ ở thềm lục địa, cùng với khả năng dầu mỏ ở miền Bắc, nhanh chóng hình thành công nghiệp dầu mỏ của cả nước. Tiến hành các công tác chuẩn bị để xây dựng những nhà máy lọc dầu, hoá dầu, phân đạm, xút, các hoá chất cơ bản. Phát triển sản xuất mặt hàng cao su, khai thác và chế biến phân lân. Sớm đưa công nghiệp cơ khí của hai miền vào một quy hoạch thống nhất, phân công, hiệp tác rộng rãi trên phạm vi cả nước. Xây dựng thêm những cơ sở mới để hoàn chỉnh hệ thống cơ khí. Đẩy mạnh sản xuất phụ tùng, mở mang cơ khí tiêu dùng, điện tử dân dụng. Khai thác hết công suất của những cơ sở sản xuất thép, đồng từ sắt và đồng vụn; cải tạo và mở rộng cơ sở sản xuất dây đồng. Phát triển công tác thăm dò địa chất nhằm nghiên cứu những điều kiện để xây dựng cơ sở gang thép ở miền Nam, tìm kiếm các kim loại quý và các kim loại hiếm.

Về xây dựng cơ bản. Tận dụng công suất của các cơ sở đã có, tích cực xây dựng thêm những cơ sở mới để nhanh chóng sản xuất được nhiều loại vật liệu xây dựng với chất lượng cao, giá thành hạ. Sử dụng tốt lực lượng xây dựng ở miền Nam. Duy trì, trong một thời gian cần thiết, chế độ chủ thầu tư nhân với sự kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước, bảo đảm quyền lợi của công nhân xây dựng và của người thuê xây dựng. Phát triển mạnh ngành xây dựng quốc doanh để đáp ứng nhu cầu xây dựng ngày càng lớn của cả nước.

Về giao thông vận tải. Chuyển phần lớn phương tiện giao thông vận tải trước đây phục vụ chiến tranh sang phục vụ kinh tế. Phát triển lực lượng vận tải quốc doanh làm cho Nhà nước nắm hoàn toàn đường sắt, đường biển, một phần lớn vận tải hàng hoá bằng ôtô và một phần vận tải hàng hoá bằng đường sông, xây dựng và phát triển ngành hàng không dân dụng. Nhanh chóng thống nhất quản lý ngành giao thông vận tải trong cả nước và trên từng vùng. Mạnh dạn sử dụng năng lực vận tải tư nhân, từng bước cải tạo và tổ chức lại cho hợp lý. Để phục vụ tốt sản xuất và đời sống xã hội, cần bố trí lại và xây dựng thêm những tuyến cần thiết theo hướng phát triển vận tải đường biển, đường sắt để bảo đảm giao lưu Nam - Bắc và với nước ngoài, phát triển vận tải đường sông và đường bộ trong từng địa phương và trên các tuyến ngắn. Cố gắng thông suốt càng sớm càng tốt đường xe lửa Hà Nội - Sài Gòn; khảo sát và nghiên cứu việc xây dựng tuyến đường sắt dọc Tây Nguyên.

Vấn đề lao động. Chuẩn bị để nắm chắc lao động, từng bước vững chắc điều chỉnh việc phân công lại lao động, giải quyết công việc làm cho nhân dân. Giảm bớt dân số các thành thị, đưa hàng triệu người về nông thôn sản xuất nông nghiệp, sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp. Bổ sung lao động cho những vùng nông nghiệp cũ có ruộng đất còn hoang hoá; tổ chức lao động đi xây dựng những vùng kinh tế mới. Nhà nước có kế hoạch đầu tư thích đáng, cung cấp giống và công cụ, giúp đỡ những người về nông thôn sản xuất có nhà ở, có lương ăn, có công cụ lao động... Phải chỉ đạo tập trung, thường xuyên kiểm tra đôn đốc, có tổ chức chuyên lo gồm những cán bộ có năng lực. Sử dụng mạnh dạn và đúng chỗ số người có kỹ thuật, có chuyên môn đã làm việc dưới chế độ cũ. Mở rộng trường dạy nghề cho thanh niên.

5. Giải quyết tốt các vấn đề lưu thông, tín dụng, tài chính, ngân hàng, tiền tệ

Để ổn định và phát triển sản xuất, phải khôi phục các hoạt động thương nghiệp, bảo đảm cung ứng nguyên liệu, xăng dầu và tiêu thụ sản phẩm. Nhập khẩu những nguyên liệu cần thiết bằng cách mở ngay các cơ quan thương nghiệp với nước ngoài; những thứ có sẵn thì đưa ngay vào sản xuất. Phát triển thương nghiệp quốc doanh với nhiệm vụ phục vụ sản xuất và dân sinh, tích cực nắm nguồn hàng, quản lý thị trường, đấu tranh chống đầu cơ tích trữ. Nhà nước phải nắm độc quyền ngoại thương, độc quyền phát hành giấy bạc, độc quyền ký kết các hiệp định kinh tế với nước ngoài. Tiến tới việc Nhà nước nắm hoàn toàn khâu bán buôn. Đối với khâu bán lẻ thì nắm một phần và phải chi phối việc bán lẻ phần lớn các mặt hàng quan trọng đối với đời sống nhân dân, còn các mặt hàng khác thì để cho các nhà sản xuất quan hệ trực tiếp với thị trường hoặc để cho thương nghiệp tư nhân kinh doanh dưới sự kiểm soát của Nhà nước.

Thực hiện tốt chủ trương đổi tiền và giành thắng lợi vững chắc trong cuộc đấu tranh chống bọn tư sản mại bản đầu cơ tích trữ, phá rối thị trường. Trên cơ sở phát triển sản xuất và cải tạo hệ thống lưu thông, phân phối, tiến tới ổn định giá cả kết hợp với việc giải quyết tốt tiền lương, bảo đảm nhu cầu thiết yếu về ăn, mặc, ở, học, chữa bệnh, đi lại để ổn định đời sống nhân dân.

Phát triển mạnh công tác tín dụng để thúc đẩy các hoạt động sản xuất, lưu thông. Cải tạo gấp hệ thống ngân hàng, mở mang hoạt động của Ngân hàng Nhà nước và các ngân hàng chuyên nghiệp phục vụ sản xuất và kinh doanh, xoá bỏ ngân hàng tư nhân. Mở rộng quan hệ của ngân hàng với các đơn vị kinh doanh (quốc doanh, hợp tác xã, tư doanh... ), phát huy vai trò và tác dụng của ngân hàng trong việc thúc đẩy và phục vụ các đơn vị kinh tế, trong việc thực hiện sự kiểm soát của Nhà nước đối với sản xuất và phân phối sản phẩm xã hội.

Cần xây dựng ngân sách, xây dựng chế độ thu chi, thuế khoá thống nhất; cố gắng bảo đảm các yêu cầu về khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế, văn hoá, công tác xã hội. Thực hiện kiểm kê tài sản, thống nhất quản lý tài sản nhà nước, kể cả tài sản chung do quân đội quản lý.

Ra sức thực hành tiết kiệm, tăng cường kiểm tra và thanh tra tài chính, kiên quyết chống tham ô, lãng phí, nghiêm khắc xử trí những trường hợp vi phạm các chế độ tài chính của Nhà nước.

Nhà cửa ở các thành phố cũng quan trọng như xí nghiệp và ruộng đất, phải do Nhà nước thống nhất quản lý. Kiểm kê toàn bộ nhà cửa của các cơ quan đang sử dụng (kể cả nhà ở), thực hiện việc điều chỉnh cần thiết nhằm sử dụng nhà cửa cho hợp lý và đúng chế độ. Trên cơ sở điều chỉnh nhà cửa kết hợp với xây dựng mới mà cải thiện chỗ ở cho nhân dân lao động không có nhà ở hoặc ở quá chật. Nắm ngay tình hình nhà cho thuê, nghiên cứu chính sách về vấn đề nhà cửa; đề phòng và xử lý đúng đắn những trường hợp phân tán nhà.

6. Áp dụng các biện pháp quản lý kinh tế thích hợp

Để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế cấp bách và chuẩn bị phát triển kinh tế trên quy mô lớn, cần áp dụng các biện pháp tổ chức và quản lý kinh tế thích hợp, nhằm bảo đảm cho sản xuất phát triển, lưu thông thông suốt, các sinh hoạt kinh tế xã hội đi vào nền nếp. Trong một nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội có nhiều thành phần kinh tế thì phương thức quản lý kinh tế phải dựa trên cơ sở phát huy vai trò chủ đạo và hướng dẫn của kinh tế quốc doanh, của kế hoạch nhà nước, coi trọng việc vận dụng linh hoạt các mối quan hệ hàng hóa và tiền tệ, vận dụng đồng bộ các đòn bẩy tín dụng, giá cả, tiền lương, tiền thưởng, lợi nhuận, v.v. để kích thích tăng năng suất lao động, hạ giá thành, nâng cao chất lượng sản phẩm, làm cho mặt hàng ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu muôn màu muôn vẻ của nhân dân. Chế độ quản lý phải khéo kết hợp ba loại biện pháp: kinh tế, hành chính và giáo dục tư tưởng; bỏ lối "hành chính cung cấp", chống bao cấp tràn lan, không có khuyến khích vật chất và không tính toán hiệu quả kinh tế, chống lối quan liêu, mệnh lệnh, không sát cơ sở, không phục vụ tốt sản xuất và kinh doanh. Phải bảo đảm sự lãnh đạo và chỉ đạo tập trung trên những cân đối cơ bản, trên những sản phẩm có giá trị chiến lược, đồng thời giành chủ động thích đáng cho các địa phương các vùng và cơ sở. Phải thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo lãnh thổ. Khâu then chốt trong quản lý là tổ chức và quản lý tốt các cơ sở sản xuất và kinh doanh; tất cả các cấp trên đều phải hướng vào cơ sở, tạo mọi điều kiện cho cơ sở quản lý tốt. Đối với các xí nghiệp tư nhân đã quốc hữu hoá hoặc đã chuyển thành công tư hợp doanh, cần duy trì những mặt tích cực trong cách tổ chức và quản lý cũ, đồng thời phát huy những kinh nghiệm tốt của chế độ quản lý xã hội chủ nghĩa, làm cho năng suất lao động và chất lượng sản phẩm ngày càng tiến bộ.

7. Công tác văn hoá, giáo dục, y tế, xã hội

Chủ nghĩa thực dân cũ của Pháp, chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ và ba mươi năm chiến tranh đã để lại hậu quả rất tai hại về văn hoá, tư tưởng và xã hội. Đế quốc Mỹ đã thực hiện nhiều biện pháp thâm độc hòng phá hoại và lung lạc tinh thần yêu nước của nhân dân ta, truyền bá tư tưởng quốc gia tư sản phản động, gieo rắc những nọc độc của nền văn hoá đồi truỵ. Nhân dân ta đã chống lại sự lung lạc về mặt văn hoá của chủ nghĩa thực dân mới, giữ vững truyền thống yêu nước, đoàn kết chống ngoại xâm. Tuy nhiên, những nọc độc của chủ nghĩa thực dân mới đã gieo rắc trong nhiều năm đã nhiễm khá sâu vào từng bộ phận nhân dân ở vùng trước đây bị địch chiếm đóng. Đấu tranh để xoá bỏ hậu quả ấy, xây dựng nền văn hoá mới, hệ tư tưởng mới là một bộ phận rất quan trọng của công cuộc cải tạo xã hội, cải tạo con người, xây dựng chế độ mới và con người mới. Mặt trận văn hoá và tư tưởng là trận địa đấu tranh giai cấp phức tạp và lâu dài, phải có phương pháp đấu tranh đúng đắn, huy động tổng hợp các vũ khí: thông tin, tuyên truyền, huấn luyện, văn hoá, nghệ thuật, điện ảnh, vô tuyến truyền hình, khoa học, giáo dục, y tế, thể dục thể thao; kết hợp chỉ đạo đấu tranh tập trung thành từng đợt với công tác giáo dục thường xuyên.

Phương hướng chính của công tác văn hoá và tư tưởng là giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, phát huy tinh thần tự hào dân tộc, tinh thần tự lực tự cường, vạch trần chủ nghĩa quốc gia giả hiệu, chống hệ tư tưởng chính trị phản động và tư tưởng đồi truỵ; chống mê tín dị đoan, hủ tục. Tích cực tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa yêu nước xã hội chủ nghĩa và chủ nghĩa quốc tế vô sản, bằng những biện pháp và phương thức thích hợp làm cho công tác văn hoá và tư tưởng có sức thuyết phục ngày càng cao, đi sâu vào lương tri và tâm hồn của nhân dân, kể cả đồng bào các tôn giáo và các dân tộc thiểu số. Giáo dục ý thức làm chủ tập thể, tinh thần lao động xã hội chủ nghĩa, ý thức tôn trọng của công, xây dựng nếp sống mới; đấu tranh chống ảnh hưởng của văn hoá tư sản, thực dân mới, quét sạch các tệ nạn của xã hội cũ (đĩ điếm, híppi, xì ke, ma tuý...). Nâng cao chất lượng truyền thanh, truyền hình, báo chí và tuyên truyền miệng. Phát triển văn nghệ, dùng văn nghệ để đưa văn hoá mới và tư tưởng mới vào quần chúng; khuyến khích văn nghệ dân tộc và văn nghệ quần chúng phát triển. Giúp đỡ văn nghệ sĩ sáng tác; khôi phục hoạt động của các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp với nội dung mới.

Phát triển giáo dục, khoa học, y tế, thể dục thể thao, theo hướng kết hợp chặt chẽ tính dân tộc và tính xã hội chủ nghĩa. Gắn liền các mặt hoạt động trên đây với nội dung xây dựng xã hội mới, góp phần quan trọng vào cuộc sống hạnh phúc của con người mới xã hội chủ nghĩa. Đưa văn hoá, y tế xuống tận quần chúng công nông, đến khắp nông thôn đồng bằng và miền núi, biên giới và hải đảo.

Khôi phục và phát triển nhanh giáo dục phổ thông, chú trọng thích đáng những vùng căn cứ kháng chiến cũ và những vùng nông nghiệp mới. Cải tạo ngành giáo dục đại học theo quy hoạch chung của cả nước, hướng các trường đại học tích cực góp phần vào các hoạt động cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới; chấn chỉnh và tăng cường các cơ sở nghiên cứu, thí nghiệm của các trường đại học. Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước đảm nhiệm; cải tạo trường tư thành trường công. Tổ chức phong trào bình dân học vụ rộng khắp nhằm xoá bỏ nhanh nạn mù chữ.

Xây dựng và phát triển y tế theo phương châm phòng bệnh là chính, kết hợp đông y và tây y. Phổ biến kiến thức và phương pháp phòng bệnh trong nhân dân; tổ chức hệ thống phòng bệnh và chữa bệnh đến tận cơ sở. Phát triển các cơ sở quốc doanh sản xuất dược phẩm và mạng lưới phân phối dược phẩm rộng rãi. Trên cơ sở phát triển mạnh y tế của Nhà nước, có chính sách để thu hẹp, tiến tới xoá bỏ chế độ bệnh viện tư, chế độ sản xuất và bán thuốc tư. 

Phát triển nhà trẻ, lớp mẫu giáo, công tác bảo vệ bà mẹ và trẻ em, công tác tuyên truyền sinh đẻ có kế hoạch.

Xây dựng hệ thống tổ chức phụ trách công tác thương binh và xã hội; khôi phục những cơ sở vật chất đã có, xây dựng thêm những cơ sở mới cần thiết để phục vụ công tác thương binh và xã hội. Thi hành đầy đủ các chính sách, chế độ đối với thương binh, gia đình liệt sĩ; làm tốt công tác cứu tế - xã hội.

8. Đẩy mạnh phong trào cách mạng trong quần chúng

Yêu cầu cơ bản của công tác quần chúng ở miền Nam hiện nay là tạo cho được sự chuyển biến cách mạng trong nhân dân lao động, từ vị trí làm thuê sang vị trí làm chủ tập thể, hăng hái thực hiện khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thông qua phát động quần chúng mà xây dựng các tổ chức quần chúng từ thành, tỉnh đến cơ sở. Tổ chức Công đoànĐoàn Thanh niên, Nông hội, Hội Phụ nữ, Mặt trận phải rộng rãi, nhằm thu hút đông đảo quần chúng vào sinh hoạt tập thể. Công tác công đoàn, nông hội, thanh niên và phụ nữ phải làm tập trung và mạnh mẽ. Cần có nhiều hình thức thích hợp để thu hút quần chúng rộng rãi theo từng lứa tuổi, từng lĩnh vực hoạt động; không nên thu hẹp các hình thức tổ chức quần chúng vào một số đoàn thể chính trị. Chú trọng sử dụng các tổ chức và hoạt động văn hoá, xã hội để vận động quần chúng.

Trong giai đoạn mới của cách mạng, lấy việc cải tạo và phát triển kinh tế và văn hoá làm nhiệm vụ trọng tâm thì trí thức ngày càng có vai trò quan trọng. Cần nghiên cứu hình thức và phương pháp vận động trí thức. Chú trọng giáo dục tư tưởng và bồi dưỡng lập trường, quan điểm cách mạng cho trí thức, giúp họ dần dần trở thành trí thức xã hội chủ nghĩa. Tăng cường công tác chính trị  trong các trường đại học, động viên tinh thần độc lập dân tộc và giáo dục về chủ nghĩa xã hội. Đoàn kết cán bộ khoa học kỹ thuật được chế độ xã hội chủ nghĩa đào tạo với cán bộ khoa học kỹ thuật đã làm việc dưới chế độ cũ. Động viên những Việt kiều làm công tác khoa học kỹ thuật ở nước ngoài trở về phục vụ sự nghiệp xây dựng Tổ quốc.

Ở miền Nam, các dân tộc thiểu số sống trong các vùng chiến lược quan trọng đã từng tham gia đấu tranh cách mạng lâu đời, nhưng đời sống vật chất và văn hoá còn thấp kém. Phải có những chủ trương, chính sách đi đôi với nhiều biện pháp tích cực để chăm sóc sức khoẻ, cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của đồng bào các dân tộc. Giữ vững trật tự trị an, kiên quyết bảo vệ đồng bào, trấn áp bọn phản động, bọn thổ phỉ phá hoại và gây rối. Ra sức đoàn kết và thực hiện đầy đủ quyền bình đẳng giữa các dân tộc.

Đối với tôn giáo, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, đối xử bình đẳng giữa các tôn giáo, mọi công dân theo đạo hoặc không theo đạo nào, đều được hưởng quyền lợi và phải làm nghĩa vụ công dân, đều phải tuân theo luật pháp của Nhà nước. Cần chăm lo cải thiện đời sống vật chất và văn hoá của nhân dân các vùng tôn giáo tập trung. Kiên quyết trừng trị bọn phản cách mạng, đấu tranh chống việc lợi dụng tôn giáo để hoạt động phản cách mạng; nghiêm cấm việc tuyên truyền chống cộng sản.

Ngoại kiều phải tuân theo luật pháp của Nhà nước Việt Nam, được làm ăn, sinh sống, hưởng những quyền lợi theo đúng quy chế ngoại kiều. Những người làm ăn lương thiện, chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp Việt Nam và quy chế ngoại kiều, góp phần vào công cuộc xây dựng nước Việt Nam thì được chính quyền bảo hộ và giúp đỡ. Mọi tổ chức và hoạt động của ngoại kiều trái với luật pháp Việt Nam và quy chế ngoại kiều đều bị nghiêm cấm. Người nước ngoài được phép nhập quốc tịch Việt Nam thì có nghĩa vụ và được hưởng quyền lợi như công dân Việt Nam.

9. Tăng cường công tác xây dựng đảng

Các Đảng bộ miền Nam phải nghiên cứu để vận dụng đúng Nghị quyết Hội nghị lần thứ 23 của Trung ương Đảng để xây dựng những Đảng bộ mạnh bảo đảm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ cách mạng trong giai đoạn mới. Trước hết, phải nâng cao năng lực lãnh đạo thực hiện đường lối, chính sách, đưa năng lực tổ chức thực hiện của các Đảng bộ lên kịp yêu cầu của nhiệm vụ chính trị. Năng lực lãnh đạo của Đảng phải được thể hiện ở khả năng xây dựng chính quyền, lãnh đạo chính quyền quản lý kinh tế, quản lý xã hội, trấn áp bọn phản cách mạng và vận động quần chúng thi hành chính sách và tôn trọng pháp luật.

Cần xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh ở khắp nơi nhất là vùng mới giải phóng và ở mọi ngành. Kết hợp việc củng cố những tổ chức đã có với việc phát triển Đảng một cách vững chắc. Ở những nơi chưa có cơ sở đảng, nhất là ở các thành phố, thị xã, những cơ sở kinh tế văn hoá quan trọng, những vùng tôn giáo tập trung, cần điều động một số cán bộ,  đảng viên tốt đến làm nòng cốt lãnh đạo và xây dựng tổ chức đảng, đồng thời tuyển lựa, đào tạo, dìu dắt những quần chúng tích cực, hình thành đội ngũ cốt cán vững mạnh có tín nhiệm với nhân dân. 

Việc phát triển Đảng phải được chỉ đạo chặt chẽ, phải qua phong trào quần chúng sôi nổi mà phát hiện những người ưu tú, tích cực cách mạng; giáo dục, bồi dưỡng để kết nạp vào Đảng những người thật sự giác ngộ lý tưởng của Đảng, có lao động, không bóc lột, liên hệ chặt chẽ với quần chúng. Trước hết phải nhằm vào những người ưu tú trong giai cấp công nhân, nhất là công nhân công nghiệp, đồng thời lựa chọn những người ưu tú trong nông dân lao động, những cán bộ, chiến sĩ ưu tú trong các lực lượng vũ trang nhân dân, những người trí thức đã được rèn luyện, thử thách trong phong trào cách mạng. Tránh khuynh hướng hẹp hòi, nhưng cần tỉnh táo đề phòng những phần tử cơ hội muốn vào Đảng để có thế, có chức, có quyền. Đặc biệt đề phòng những thủ đoạn của bọn phản động và bọn CIA tìm cách chui vào Đảng. Việc kết nạp đảng viên nhất thiết phải theo đúng tiêu chuẩn, đúng thủ tục, có kiểm tra, lấy chất lượng làm chính, chống thiên hướng chạy theo số lượng.

Ở miền Nam, chưa tiến hành việc đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng theo Chỉ thị 192 của Ban Bí thư1), nhưng phải tích cực kiểm tra hàng ngũ để loại trừ bọn nội gián, bọn vào Đảng để lợi dụng, mưu lợi ích riêng.

Một mặt, tích cực bồi dưỡng và cất nhắc cán bộ ở địa phương; mặt khác, đưa cán bộ từ trung ương vào tăng cường cho miền Nam. Việc sắp xếp cán bộ phải dựa trên tiêu chuẩn, hết sức tránh phiến diện và cục bộ, địa phương chủ nghĩa. Tích cực bồi dưỡng cán bộ về chính trị, văn hoá, kỹ thuật và nghiệp vụ. Kiên quyết điều động đi học dài hạn để đào tạo một loạt cán bộ tương đối trẻ, bảo đảm tiêu chuẩn, có triển vọng, xuất thân từ những tầng lớp cơ bản và gia đình cách mạng.

Đoàn kết cán bộ từ các nguồn hợp lại, phát huy những mặt mạnh của mỗi loại cán bộ, giáo dục cho cán bộ tinh thần học tập lẫn nhau và giúp nhau cùng tiến bộ. Số đông cán bộ khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ đã làm việc dưới chế độ cũ mong muốn được phục vụ Tổ quốc, quen sử dụng thiết bị kỹ thuật, có năng lực thực hành và quản lý. Phải chăm lo bồi dưỡng và giúp đỡ họ khắc phục những khuyết điểm, sai lầm, để có thể phát huy khả năng phục vụ cách mạng.

Các cấp uỷ đảng phải tăng cường lãnh đạo công tác tư tưởng cả về nội dung và phương pháp, không ngừng nâng cao tính đảng, tính chiến đấu và tính khoa học trong công tác tư tưởng. Phương hướng công tác tư tưởng trong các Đảng bộ ở miền Nam là phải thấu suốt các Nghị quyết Hội nghị lần thứ 23 và Hội nghị lần thứ 24 của Trung ương, bồi dưỡng tư tưởng cách mạng của giai cấp công nhân, chống tư tưởng tiểu tư sản, ảnh hưởng của tư tưởng tư sản và tàn tích của tư tưởng phong kiến. Toàn thể đảng viên phải chuyển biến về tư tưởng theo hướng: tất cả cho lao động, cho sản xuất, tiến quân mạnh mẽ vào khoa học, kỹ thuật, bồi dưỡng tinh thần cách mạng triệt để, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong sản xuất và xây dựng; nâng cao cảnh giác cách mạng đối với những âm mưu ngóc đầu dậy của bọn phản động; nâng cao tinh thần đoàn kết, thương yêu đồng chí, gần gũi đồng bào; nâng cao tinh thần tự phê bình và phê bình, ý thức tổ chức và kỷ luật; chống những biểu hiện bè phái, cục bộ, địa phương, công thần, suy tị về địa vị và hưởng thụ; ngăn ngừa và tẩy trừ đầu óc đặc quyền đặc lợi, chống tham ô, lãng phí, hưởng lạc; chống mọi hành động xâm phạm tài sản của Nhà nước và của nhân dân; chống quan liêu, độc đoán, chuyên quyền. Nâng cao tinh thần ham học, trau dồi những kiến thức mới; chống thói lười học tập, lười suy nghĩ. Hết sức tự hào là đảng viên Đảng Lao động Việt Nam, đồng thời khiêm tốn, giản dị, thấm nhuần sâu sắc tinh thần quốc tế vô sản.

IV

 TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Trong giai đoạn mới, yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo của Trung ương Đảng đối với cả nước trở nên cấp bách. Với việc tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền Nam và triển khai công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội trên quy mô lớn trong cả nước, Trung ương Đảng phải nghiên cứu và quyết định kịp thời, chính xác hàng loạt vấn đề về đường lối, chính sách và các chủ trương lớn của Đảng phải được thực hiện thông suốt đến cơ sở trong cả nước. Phải bảo đảm nguyên tắc lãnh đạo tập trung, thống nhất, phát huy dân chủ, tập thể, đồng thời đề cao trách nhiệm cá nhân. Xây dựng chế độ làm việc bảo đảm cho cơ quan lãnh đạo có đầy đủ căn cứ để quyết định chính xác, kịp thời, thể hiện tinh thần cách mạng và tính khoa học.

Chú trọng xây dựng các ngành, nhất là các ngành kinh tế, kỹ thuật, từ trung ương đến địa phương và cơ sở đồng thời có quan hệ gắn bó hợp lý với địa phương. Các bộ quản lý  kinh tế phải thực hiện sớm chế độ quản lý theo ngành, kết hợp với quản lý theo lãnh thổ. Thực hiện đúng những quy định của Nhà nước về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của các bộ và nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương. Tập trung chỉ đạo việc nghiên cứu kế hoạch và quy hoạch kinh tế, bố trí cơ cấu nền kinh tế quốc dân, nghiên cứu và thực hiện cải tiến quản lý kinh tế và xây dựng chế độ quản lý kinh tế mới. Nhanh chóng ổn định bộ máy các cấp ở miền Nam, bảo đảm thấu suốt và thực hiện đúng đắn đường lối, chính sách của Trung ương đến tận cơ sở.

Để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo nhạy bén sự nghiệp cách mạng trong cả nước, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Trung ương, cần hết sức chú trọng cải tiến tổ chức và chế độ làm việc ở Trung ương, trước hết cải tiến chế độ làm việc của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Thường vụ Hội đồng Chính phủ, cải tiến chế độ làm việc trong từng cơ quan; phân công, phân nhiệm rành mạch; nâng cao chất lượng hội nghị, họp có chuẩn bị chu đáo, có kết luận chính xác, có biện pháp cụ thể để chỉ đạo hoạt động thực tiễn, có phương án tổ chức thực hiện và kiểm tra chặt chẽ những công tác quan trọng. Tăng cường tổ chức và cải tiến chế độ làm việc của các ngành và các địa phương.

Tình hình mới đang đề ra nhiều vấn đề mới. Cần tăng cường các cơ quan nghiên cứu của Đảng và Nhà nước ở Trung ương, chỉ đạo chặt chẽ về nội dung và phương pháp nghiên cứu, kịp thời đáp ứng những nhu cầu về kế hoạch và quy hoạch, về chính sách, chế độ quản lý, về tổ chức... Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo; đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng đúng các loại chuyên viên. Có kế hoạch tập hợp và sử dụng tốt số chuyên viên giỏi đã làm việc dưới chế độ cũ ở miền Nam.

Chấn chỉnh và tăng cường hệ thống thông tin của Đảng và của Nhà nước từ trung ương đến cơ sở. Quy định nghiêm ngặt chế độ trách nhiệm ở từng ngành, từng cấp về báo cáo và xin chỉ thị, về điều tra, nghiên cứu tình hình thực tế. Kiện toàn tổ chức và nâng cao chất lượng công tác của các cơ quan làm nhiệm vụ thu thập, phân tích, tổng hợp tình hình; trước hết, tổ chức tốt hệ thống công tác thống kê, tăng cường các bộ phận tổng hợp tình hình và thông báo tình hình của Văn phòng Trung ương Đảng và Văn phòng Chính phủ. Tăng cường phương tiện liên lạc giữa hai miền.

Trong cả nước, thực hiện chế độ quản lý hành chính theo bốn cấp: Trung ương, tỉnh và thành phố trực thuộc Trung ương, huyện và xã. Để bảo đảm thống nhất lãnh đạo và sát với tình hình thực tế ở miền Nam, các bộ, uỷ ban, tổng cục, các ban ở Trung ương phải nắm chắc tình hình của ngành mình, cùng với chính quyền địa phương xây dựng, củng cố tổ chức và bồi dưỡng năng lực quản lý cho các cơ quan chuyên môn ở địa phương, thực hiện thông suốt chức năng chỉ đạo thực hiện và quản lý ngành, nêu cao tinh thần và tác phong hợp tác xã hội chủ nghĩa, báo cáo và xin chỉ thị một cách nghiêm túc đối với Trung ương Đảng và Chính phủ. Giải thể Trung ương Cục miền Nam, giải thể các Khu uỷ ở cả hai miền, đồng thời, thành lập Ban đại diện Trung ương Đảng và Chính phủ ở miền Nam, một hình thức tổ chức làm việc để thực hiện sự chỉ đạo tại chỗ của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và Chính phủ. Tổ chức đó phải gọn, nhẹ, chỉ tồn tại một thời gian và không phải là một cấp trung gian giữa Trung ương và tỉnh, không cản trở mối quan hệ dọc giữa bộ, tổng cục ở Trung ương với cơ quan chuyên môn cấp thành, tỉnh.

Hợp nhất các tỉnh thành những đơn vị hành chính - kinh tế với quy mô cần thiết. Tăng cường cán bộ cho cấp tỉnh, thành phố, huyện và xã. Đặc biệt chú trọng tăng cường  chất lượng cơ quan lãnh đạo và các cơ quan chuyên môn của Thủ đô Hà Nội và của thành phố Sài Gòn. Bố trí cơ cấu các cơ quan lãnh đạo cấp tỉnh, thành và huyện vừa có phẩm chất cách mạng, vừa có kiến thức và năng lực, đủ sức chỉ đạo việc cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Để hoàn thành những nhiệm vụ mới mẻ và phức tạp của cách mạng nước ta trong giai đoạn mới, vấn đề quyết định là cán bộ. Điều động và phân phối lại cán bộ theo tình hình mới nhằm bảo đảm lợi ích chung của cách mạng cả nước. Bồi dưỡng kiến thức kinh tế cho cán bộ quân đội, chuyển một số cán bộ quân đội ra làm kinh tế. Tăng cường đoàn kết cán bộ trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng, đề cao tính tổ chức và kỷ luật, chống các biểu hiện bè phái, địa phương chủ nghĩa, hẹp hòi đối với cán bộ ngoài Đảng; chống các biểu hiện thoái hoá về phẩm chất chính trị và đạo đức cách mạng.

Xây dựng một đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước đoàn kết nhất trí, đứng vững trên lập trường của giai cấp công nhân, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với chủ nghĩa xã hội, có năng lực thực hiện các nhiệm vụ chính trị của Đảng, bảo đảm tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng và phát huy sức mạnh của Nhà nước chuyên chính vô sản.

*
*    *

Nhân dân Việt Nam ta bước vào kỷ nguyên xán lạn nhất của 4.000 năm lịch sử dân tộc. Đảng ta có một sứ mệnh vô cùng trọng đại là lãnh đạo giai cấp công nhân và toàn dân tăng cường đoàn kết, quyết tâm xây dựng nước ta thành một nước xã hội chủ nghĩa thống nhất có công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, quốc phòng vững mạnh, văn hoá và khoa học tiên tiến, có cuộc sống văn minh và hạnh phúc, có vị trí xứng đáng trên thế giới.

Đảng ta và nhân dân ta quyết tâm kế tục trung thành sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, luôn luôn nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ và đoàn kết quốc tế, giương cao ngọn cờ của chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa xã hội, đấu tranh cho sự toàn thắng của chủ nghĩa Mác - Lênin ở nước ta và trên thế giới.

Đảng ta đã lãnh đạo chính quyền trong cả nước. Thắng lợi cách mạng đã giành được vô cùng vẻ vang. Toàn thể cán bộ và đảng viên ta càng phải nghiêm chỉnh tuân theo lời dạy của Hồ Chủ tịch: "Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân".

T/M BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

BÍ THƯ THỨ NHẤT

LÊ DUẨN

Lưu tại Kho Lưu trữ

Trung ương Đảng.

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi

6 trường hợp miễn nhiệm, 4 trường hợp xem xét từ chức đối với cán bộ

(ĐCSVN) - Ngày 3/11, thay mặt Bộ Chính trị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã ký ban hành Quy định số 41-QĐ/TW về việc miễn nhiệm, từ chức đối với cán bộ.

Một số chính sách mới có hiệu lực từ tháng 11/2021

(ĐCSVN) - Giảm thuế giá trị gia tăng đối với nhiều hàng hóa, dịch vụ; Hướng dẫn về thuế thu nhập doanh nghiệp với cơ sở thực hiện xã hội hóa chưa truy thu; Bảo vệ việc làm cho người lao động là người tố cáo … là những chính sách mới sẽ có hiệu lực từ tháng 11/2021.

Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị

(ĐCSVN) - Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký ban hành Kết luận Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị.

19 điều đảng viên không được làm

(ĐCSVN) - Thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa ký quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm.

Quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư

(ĐCSVN) - Thay mặt Bộ Chính trị, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng vừa ký Quyết định số 35-QÐ/TƯ ngày 15/10/2021 ban hành Quy trình giải quyết khiếu nại kỷ luật Đảng của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư .

Liên kết website