
Chương trình cải cách hành chính trong các cơ quan đảng giai đoạn 2026 - 2030 (Chương trình) xác định cải cách hành chính trong các cơ quan đảng là nội dung quan trọng của đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; gắn với tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, chuyển mạnh trọng tâm từ sắp xếp tổ chức bộ máy sang nâng cao chất lượng vận hành, phối hợp và tổ chức thực hiện.
Cải cách hành chính trong các cơ quan đảng phải gắn với đổi mới tư duy, lề lối làm việc, phương thức quản trị hiện đại trên cơ sở đẩy mạnh chuyển đổi số; phòng, chống lãng phí, kiên quyết chống bệnh hình thức. Cải cách hành chính giữ vai trò dẫn dắt, công nghệ số là phương tiện; các nhiệm vụ về hạ tầng, nền tảng, kỹ thuật số được thực hiện thống nhất với Đề án Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng, không trùng lặp nhiệm vụ và nguồn lực.
Cải cách hành chính trong các cơ quan đảng phải bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách; tiến hành đồng bộ, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với thực tiễn; lấy chất lượng tham mưu, kết quả thực hiện nhiệm vụ, hiệu quả phối hợp, tiến độ xử lý công việc, mức giảm gánh nặng hành chính và sự hài lòng của tổ chức đảng, đảng viên, người dân làm thước đo.
Đến năm 2030, cơ bản hình thành mô hình quản trị số trong các cơ quan đảng
Chương trình đặt mục tiêu xây dựng nền hành chính trong các cơ quan đảng hiện đại, chuyên nghiệp, tinh gọn, kỷ luật, kỷ cương, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; vận hành thống nhất, thông suốt từ Trung ương đến cơ sở.
Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm; nâng cao chất lượng phối hợp và quản lý công việc theo mục tiêu, tiến độ, kết quả, chất lượng sản phẩm; sử dụng dữ liệu tin cậy phục vụ tham mưu, quyết định; đề cao trách nhiệm giải trình của cơ quan, đơn vị và người đứng đầu. Bảo đảm tuyệt đối an toàn, an ninh thông tin mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bí mật của Đảng.
Theo lộ trình, giai đoạn 2026-2027, tập trung hoàn thiện thể chế, quy định, quy chế và cơ chế phối hợp; rà soát, đơn giản hóa, chuẩn hóa quy trình, thủ tục, chế độ thông tin, báo cáo và dữ liệu; xây dựng bộ chỉ số đánh giá kết quả cải cách hành chính trong các cơ quan đảng và xác lập số liệu kỳ gốc; đạt các chỉ tiêu cơ bản tại các cơ quan đảng ở Trung ương và cấp tỉnh; thiết lập đồng bộ các điều kiện nền tảng; thí điểm ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ hoạt động công vụ.
Giai đoạn 2028-2029, mở rộng đồng bộ đến cấp xã các nghiệp vụ, ứng dụng trên cơ sở hạ tầng, điều kiện nền tảng đã hình thành; mở rộng xử lý công việc, thông tin, báo cáo, chỉ đạo, điều hành, kiểm tra, giám sát trên môi trường số; tăng cường kết nối, chia sẻ, tái sử dụng dữ liệu; ứng dụng trí tuệ nhân tạo có kiểm soát vào các nhóm công việc ưu tiên, bảo đảm an toàn, hiệu quả, cắt giảm gánh nặng hành chính.
Đến năm 2030, cơ bản hình thành mô hình quản trị số trong các cơ quan đảng; hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, tham mưu, tổng hợp, kiểm tra, giám sát được thực hiện chủ yếu trên môi trường số, bảo đảm đo lường được kết quả và xác định rõ trách nhiệm; từng bước hình thành văn hóa làm việc số.
Tập trung thực hiện 8 nội dung trọng tâm
Chương trình tập trung vào 08 nội dung trọng tâm: Đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành; hoàn thiện thể chế; cải cách tổ chức bộ máy; đổi mới quản lý, đánh giá cán bộ, công chức và nâng cao năng lực số; cải cách thủ tục hành chính trong Đảng; xây dựng nền hành chính số; đổi mới quản lý tài chính, tài sản của Đảng; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, đổi mới công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá kết quả.
Trong đó, phấn đấu hằng năm tinh giản tối thiểu 10% số lượng hội nghị, 15% số lượng văn bản hành chính so với năm trước. ; hội nghị trực tiếp không quá 40%, trực tuyến không ít hơn 60%.
Đến hết năm 2027, phấn đấu tối thiểu 95% nhiệm vụ trong các chương trình, kế hoạch công tác hoàn thành đúng hạn; tối thiểu 90% biểu mẫu báo cáo được rà soát, điện tử hóa; tối thiểu 90% nhiệm vụ được theo dõi, giám sát, đo lường và đánh giá gắn với bộ chỉ số đánh giá kết quả. Đến hết năm 2028, tối thiểu 95% nhiệm vụ trong các chương trình, kế hoạch công tác hoàn thành đúng hạn; tối thiểu 95% biểu mẫu báo cáo được rà soát, điện tử hóa.
Đến năm 2030, vận hành đồng bộ các hệ thống thông tin phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành dựa trên dữ liệu; tăng cường công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình; giảm tối đa việc sử dụng giấy tờ.
Về hoàn thiện thể chế, Chương trình xác định đến hết năm 2027, 80% văn bản hết hiệu lực, hết thời hạn, trùng lặp, chồng chéo, không còn phù hợp được xử lý dứt điểm theo thẩm quyền; 80% văn bản còn hiệu lực được định danh thống nhất, số hóa, cập nhật vào cơ sở dữ liệu dùng chung. Đến hết năm 2028, các chỉ tiêu trên đạt 100%; đến hết năm 2029, hoàn thiện cơ sở dữ liệu Văn kiện của Đảng, cập nhật thường xuyên. Đến hết năm 2030, hệ thống quy định của Đảng được hoàn thiện đồng bộ, vận hành hiệu quả từ Trung ương đến cơ sở.
Chương trình đồng thời yêu cầu xây dựng môi trường làm việc số thống nhất, liên thông, an toàn trên cơ sở Khung kiến trúc số của các cơ quan đảng, phù hợp với Khung kiến trúc tổng thể quốc gia số; bảo đảm liên thông giữa các cơ quan Đảng với các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội từ Trung ương đến cơ sở; lấy dữ liệu làm nền tảng quản trị, nền tảng số dùng chung làm phương thức vận hành, trí tuệ nhân tạo làm công cụ hỗ trợ; dữ liệu bảo đảm “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.
Đề cao trách nhiệm người đứng đầu, tăng cường kiểm tra, giám sát
Chương trình yêu cầu phát huy trách nhiệm, vai trò nêu gương của người đứng đầu trong trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo cải cách hành chính; đưa mục tiêu, nhiệm vụ cải cách hành chính vào chương trình, kế hoạch công tác hằng năm, gắn với đánh giá trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, đơn vị; chuẩn hóa cơ chế giao việc theo phương châm “6 rõ”; theo dõi, giám sát tiến độ, kết quả thực hiện nhiệm vụ trên môi trường số.
Về tăng cường kỷ luật, kỷ cương, Chương trình xác định yêu cầu đổi mới phương pháp kiểm tra, giám sát, chuyển trọng tâm sang phòng ngừa, cảnh báo vi phạm; chuyển từ thụ động sang chủ động, giám sát thường xuyên, giám sát trên dữ liệu.
Kết quả cải cách hành chính, chuyển đổi số là căn cứ quan trọng để đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và để đánh giá, quy hoạch, bố trí, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ; người đứng đầu chịu trách nhiệm toàn diện về hiệu quả vận hành của bộ máy thuộc phạm vi quản lý; xử lý tình trạng trì trệ, né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.
Quyết định giao Ban Chỉ đạo Chuyển đổi số trong các cơ quan đảng chỉ đạo thống nhất việc thực hiện Chương trình. Văn phòng Trung ương Đảng là Cơ quan Thường trực của Chương trình, có nhiệm vụ tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, tổng hợp và báo cáo việc triển khai thực hiện Chương trình.
Quyết định số 495-QĐ/TW có hiệu lực kể từ ngày ký.
Xem toàn văn Quyết định số 495-QĐ/TW tại đây


