
Quy định số 224-QĐ/TW quy định về chủ trương, nguyên tắc, giới hạn, quyền, trách nhiệm và kiểm soát xung đột lợi ích đối với đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh.
Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh theo Quy định này và quy định của pháp luật; tuân thủ những điều đảng viên không được làm; gương mẫu thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm với Nhà nước, xã hội, môi trường, người lao động, người tiêu dùng; giữ gìn đạo đức kinh doanh, xây dựng văn hoá kinh doanh lành mạnh, thực hành kinh doanh có trách nhiệm.
Quyền sở hữu, quyền tài sản và quyền, lợi ích hợp pháp của đảng viên được bảo vệ theo quy định của pháp luật. Cấp uỷ, tổ chức đảng không đặt thêm điều kiện, thủ tục hạn chế quyền đầu tư kinh doanh hợp pháp của đảng viên ngoài những điều kiện, thủ tục quy định tại Quy định này và hướng dẫn của Ban Bí thư.
Quyền, giới hạn và thực hiện kiểm soát xung đột lợi ích áp dụng theo chức danh, vị trí công tác, chức trách, nhiệm vụ được giao. Đảng viên giữ nhiều chức danh, thực hiện nhiều nhiệm vụ hoặc thuộc nhiều nhóm đối tượng phải tuân thủ giới hạn tương ứng với từng chức danh, nhiệm vụ, nhóm đối tượng, bảo đảm yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích, bảo vệ bí mật nhà nước, bí mật công tác theo quy định.
Quy định yêu cầu đảng viên trong khu vực công không được sử dụng trái quy định tài sản nhà nước, thông tin, dữ liệu, nhân lực, kết quả nghiên cứu và các nguồn lực công khác để phục vụ hoạt động đầu tư kinh doanh của bản thân, người có liên quan hoặc nhóm lợi ích; không được đầu tư kinh doanh vào tổ chức kinh tế, lĩnh vực mà mình trực tiếp quyết định, quản lý; không được để hoạt động đầu tư kinh doanh ảnh hưởng đến việc hoàn thành chức trách, nhiệm vụ được giao.
Việc chấp thuận đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh do cấp có thẩm quyền quyết định theo phân cấp quản lý cán bộ. Chấp thuận theo Quy định này là yêu cầu trong nội bộ Đảng, không thay thế điều kiện, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.
Quyền và giới hạn đầu tư kinh doanh theo từng nhóm đảng viên
Để xác định quyền và giới hạn tham gia của đảng viên, các hoạt động đầu tư kinh doanh trong Quy định này được phân loại theo 4 nhóm: Hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; Đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành; Đầu tư kinh doanh có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành; Đầu tư kinh doanh có tham gia quản lý, điều hành, kể cả trường hợp có đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối.
Đối với đảng viên ngoài khu vực công, Quy định cho phép thực hiện tất cả các hoạt động đầu tư kinh doanh nêu trên và các hoạt động khác mà pháp luật không cấm, không phải xin chấp thuận của tổ chức đảng. Trường hợp phát sinh xung đột lợi ích phải thực hiện báo cáo, kiểm soát theo quy định.
Đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý được làm và không phải xin chấp thuận đối với hoạt động chuyên môn và khai thác tài sản tạo thu nhập; đầu tư kinh doanh nhưng không đầu tư thành lập tổ chức kinh tế và không chi phối, quản lý, điều hành. Ngoài ra, không được thực hiện các hoạt động đầu tư kinh doanh có thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối, quản lý, điều hành theo quy định; không được duy trì khoản đầu tư kinh doanh có xung đột lợi ích chưa được kiểm soát.
Đối với đảng viên là cán bộ, công chức không thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, Quy định xác định cụ thể các hoạt động được thực hiện không phải xin chấp thuận, được thực hiện sau khi được chấp thuận và các hoạt động không được thực hiện. Trong đó, cán bộ, công chức không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được đầu tư thành lập tổ chức kinh tế hoặc có chi phối nhưng không quản lý, điều hành sau khi được chấp thuận; không được tham gia quản lý, điều hành hoạt động đầu tư kinh doanh.
Đối với đảng viên là viên chức, Quy định cho phép viên chức không giữ chức vụ quản lý, không ở vị trí, lĩnh vực có nguy cơ cao phát sinh xung đột lợi ích được tham gia quản lý, điều hành hoạt động đầu tư kinh doanh sau khi được cấp có thẩm quyền chấp thuận. Viên chức không giữ chức vụ quản lý cũng được tạm thời rời vị trí công tác trong thời hạn nhất định để đầu tư thành lập, chi phối, quản lý, điều hành tổ chức kinh tế theo điều kiện và hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.
Quy định cũng xác định cụ thể quyền, giới hạn hoạt động đầu tư kinh doanh đối với đảng viên đang công tác, phục vụ trong Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; đảng viên là người quản lý doanh nghiệp nhà nước, người đại diện phần vốn nhà nước và đảng viên trong khu vực công sau khi thôi giữ chức vụ, thôi công tác, nghỉ hưu.
Quy định số 224-QĐ/TW có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký, thay thế Quy định số 15-QĐ/TW ngày 28/8/2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về đảng viên làm kinh tế tư nhân. Đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh hợp pháp trước ngày Quy định có hiệu lực được tiếp tục thực hiện cho đến khi pháp luật có quy định khác; đảng viên tham gia hoạt động đầu tư kinh doanh sau ngày Quy định có hiệu lực phải thực hiện theo Quy định này.
Xem toàn văn Quy định số 224-QĐ/TW tại đây


