Hệ thống
Tư liệu - Văn kiện Đảng
Tư liệu - Văn kiện
Tin mới
Hướng dẫn số 06-HD/BTCTW ngày 11/10/2026 của Ban Tổ chức Trung ương một số nội dung về VTVL CC, VC, bản mô tả công việc, khung năng lực và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan của Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hộiMới Hướng dẫn số 12-HD/BTGTW ngày 30/9/2026 của Ban Tuyên giáo Trung ương tuyên truyền về Năm Đoàn kết Hữu nghị và Gắn kết Việt Nam - Lào 2027Mới Hướng dẫn số 11-HD/BTGTW ngày 30/9/2026 của Ban Tuyên giáo Trung ương tuyên truyền về Năm Hữu nghị cùng phát triển Việt Nam - Campuchia 2027Mới Kế hoạch số 40-KH/BTGTW ngày 30/9/2026 của Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Cuộc thi trực tuyến tìm hiểu về chuyển đổi số quốc giaMới Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIVMới Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 08/10/2026 Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV Hướng dẫn số 10-HD/BTGTW ngày 25/9/2026 của Ban Tuyên giáo Trung ương triển khai thực hiện Chỉ thị số 07-CT/TW của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới” Hướng dẫn số 09-HD/BTGTW ngày 25/9/2026 của Ban Tuyên giáo Trung ương tuyên truyền kỷ niệm 80 năm Ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2026) Ban hành Quy chế phối hợp giữa Đảng uỷ Quốc hội với các đảng uỷ trực thuộc Trung ương, cơ quan đảng ở Trung ương và các tỉnh uỷ, thành uỷ Quy định của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác đối với tổ chức đảng và Nhân dân nơi cư trú Thông báo Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV Quyết định số 488-QĐ/TW ngày 05/10/2026 của Ban Bí thư ban hành Quy chế phối hợp giữa Đảng ủy Quốc hội với các đảng ủy trực thuộc Trung ương, cơ quan đảng ở Trung ương và các tỉnh ủy, thành ủy

Chủ trương, chính sách mới

A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng

(ĐCSVN) - Ngày 17/8/2026, đồng chí Nguyễn Hải Ninh, Ủy viên Trung ương Đảng, Chánh Văn phòng Trung ương Đảng, Phó Trưởng Ban Chỉ đạo chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng ký Quyết định số 23-QĐ/BCĐ ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, phiên bản 1.0. Bộ chỉ số là công cụ đánh giá đồng thời năng lực số của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và mức độ sẵn sàng, kết quả chuyển đổi số của các cơ quan Đảng từ Trung ương đến các tỉnh, thành ủy.

Ảnh minh họa.

Đánh giá thực chất năng lực số và kết quả chuyển đổi số

Theo Bộ chỉ số, năng lực số của cán bộ được đánh giá thông qua nhận thức, kiến thức, kỹ năng và khả năng sử dụng, khai thác công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống và nền tảng số trong thực hiện nhiệm vụ. Đối với cơ quan Đảng, mức độ sẵn sàng chuyển đổi số được phản ánh qua cả các điều kiện bảo đảm và kết quả chuyển đổi số thực tế.

Kết quả đánh giá nhằm tạo cơ sở đánh giá thực chất, khách quan việc thực hiện nhiệm vụ chuyển đổi số hằng năm; đồng thời được sử dụng là một trong những căn cứ để kiểm điểm, đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm đối với cá nhân, tổ chức Đảng theo Quy định số 366-QĐ/TW, theo lộ trình và hướng dẫn của cấp có thẩm quyền.

Bộ chỉ số được áp dụng đối với các cơ quan Đảng và cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong các cơ quan Đảng; không áp dụng đối với những người lao động không trực tiếp sử dụng hệ thống thông tin, nền tảng số để thực hiện nhiệm vụ.

Bộ chỉ số được thiết kế theo hai nhóm đánh giá: đánh giá tổ chức và đánh giá cá nhân. Đối với tổ chức, Bộ chỉ số gồm 9 chỉ số chính, 27 chỉ số thành phần, tổng điểm 1.000. Trong đó, 400 điểm dành cho các điều kiện sẵn sàng chuyển đổi số, gồm: nhận thức số và trách nhiệm của người đứng đầu, thể chế số, hạ tầng số và nền tảng dùng chung, nhân lực số, an ninh mạng, bảo vệ bí mật nhà nước và dữ liệu.

600 điểm còn lại đánh giá kết quả hoạt động chuyển đổi số, tập trung vào xử lý công việc toàn trình trên môi trường số; hiệu quả về thời gian, chi phí; dữ liệu phục vụ lãnh đạo, chỉ đạo; đổi mới quy trình, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và các sáng kiến, giải pháp về chuyển đổi số.

Đối với cá nhân, Bộ chỉ số đánh giá hai nhóm năng lực là kiến thức số cơ bản và kỹ năng số cơ bản. Nội dung kỹ năng bao gồm khai thác thông tin, dữ liệu số; giao tiếp, hợp tác trên môi trường số; sáng tạo nội dung số; bảo vệ bí mật nhà nước, an ninh mạng, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư; giải quyết vấn đề nhờ công nghệ số và sử dụng, khai thác các ứng dụng dùng chung.

Chú trọng ứng dụng AI, dữ liệu và an toàn số

Bộ chỉ số đặt yêu cầu tương đối toàn diện đối với năng lực số, không chỉ dừng ở khả năng sử dụng các phần mềm, hệ thống số mà hướng tới khả năng khai thác dữ liệu, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và đổi mới phương thức làm việc.

Đối với tổ chức, việc ứng dụng AI, công cụ tự động hóa trong các quy trình nghiệp vụ được đưa thành một chỉ số đánh giá. Việc ứng dụng phải có mục tiêu rõ ràng, tuân thủ yêu cầu bảo mật, có kiểm soát của con người và có kết quả thực tế có thể đánh giá.

Đối với cá nhân, cán bộ được yêu cầu có kiến thức cơ bản về AI, biết sử dụng AI hỗ trợ công việc, đồng thời nhận thức được các vấn đề đạo đức, pháp lý và yêu cầu sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm. Bộ chỉ số cũng yêu cầu cán bộ biết kiểm chứng thông tin do AI tạo ra và không sử dụng kết quả AI làm căn cứ duy nhất để xác định tính xác thực của thông tin.

Bộ chỉ số ưu tiên khai thác dữ liệu tự động từ các hệ thống thông tin dùng chung để phục vụ chấm điểm, qua đó hạn chế việc đánh giá chỉ dựa trên báo cáo thủ công. Đối với tổ chức, cơ quan tự đánh giá, người đứng đầu ký xác nhận và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của kết quả.

Các cơ quan Đảng sẽ thực hiện đánh giá định kỳ 6 tháng nhằm theo dõi tiến độ, cảnh báo hạn chế, xác định điểm nghẽn và đôn đốc khắc phục; kết quả trong giai đoạn này phục vụ công tác quản trị và chưa sử dụng để xếp hạng chính thức. Kỳ đánh giá đầu tiên được thực hiện theo phương thức thí điểm để kiểm chứng tính phù hợp của chỉ số, nguồn dữ liệu, phương pháp tính và điều kiện tổ chức thực hiện.

Đối với các kỳ đánh giá chính thức, việc đánh giá được thực hiện hằng năm trên cơ sở dữ liệu của cả năm, kết hợp giữa tự đánh giá, dữ liệu hệ thống, thẩm định, kiểm tra sau công bố và giải trình qua phần mềm.

Việc ban hành Bộ chỉ số phiên bản 1.0 tạo ra một khung đánh giá tương đối thống nhất đối với cả “năng lực số của con người” và “mức độ chuyển đổi số của tổ chức” trong các cơ quan Đảng. Qua đó, các cơ quan có thể nhận diện rõ điểm mạnh, điểm yếu, những điểm nghẽn cần khắc phục và theo dõi tiến độ chuyển đổi số qua từng kỳ đánh giá./.


Thương Huyền

Các tin khác

Chủ trương, chính sách mới

Hồ sơ - Sự kiện - Nhân chứng