
Khung quản trị, quản lý dữ liệu xác định mục tiêu hoàn thiện chính sách về dữ liệu để dữ liệu trở thành tài sản có giá trị; bảo đảm chất lượng, tính sẵn sàng, tính toàn vẹn, an toàn trong suốt vòng đời dữ liệu và khả năng chia sẻ dữ liệu số; bảo vệ quyền riêng tư, dữ liệu cá nhân và bảo đảm an toàn, bảo mật dữ liệu trong toàn bộ vòng đời dữ liệu; thúc đẩy kết nối, chia sẻ, điều phối dữ liệu giữa các hệ thống; bảo đảm liên thông, kết nối với hệ thống dữ liệu quốc gia; đồng thời hình thành văn hóa dữ liệu, đạo đức dữ liệu và quản trị dữ liệu có trách nhiệm trong các cơ quan đảng, đặc biệt khi ứng dụng các công nghệ tiên tiến.
Về phạm vi áp dụng, Khung quản trị, quản lý dữ liệu được áp dụng thống nhất trong hoạt động quản lý dữ liệu đối với dữ liệu có chủ sở hữu, chủ quản dữ liệu là các cơ quan Đảng ở Trung ương. Phạm vi quản trị, quản lý bao trùm toàn bộ vòng đời dữ liệu số, từ thu thập, tạo lập, cập nhật, phân loại, gắn nhãn, lưu trữ, bảo vệ, xử lý, chia sẻ, khai thác đến điều phối và hủy dữ liệu. Đối với dữ liệu do các cơ quan Đảng cấp tỉnh, phường, xã, đặc khu là chủ sở hữu, chủ quản dữ liệu, các cơ quan này tổ chức triển khai hoạt động quản trị, quản lý dữ liệu phù hợp với đặc thù của từng cấp.
Khung quản trị, quản lý dữ liệu trong các cơ quan đảng (phiên bản 1.0) cũng quy định các nguyên tắc quản trị, quản lý dữ liệu, trong đó yêu cầu dữ liệu thuộc phạm vi quản lý của Đảng phải được quản lý chặt chẽ, nhất quán và có trách nhiệm trong toàn bộ vòng đời. Việc quản lý dữ liệu phải tuân thủ quy định của pháp luật, quy định của Đảng và phù hợp với thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Đảm bảo đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung, đảm bảo chất lượng dữ liệu, tính toàn vẹn, và độ tin cậy dữ liệu; đảm bảo an ninh mạng và an toàn dữ liệu.
Đảm bảo xác định rõ vai trò, trách nhiệm của các bên liên quan; các quy trình quản lý dữ liệu phải công khai, rõ ràng, dễ hiểu và được ghi chép đầy đủ. Chất lượng dữ liệu phải được theo dõi, giám sát thường xuyên nhằm phát hiện kịp thời các vấn đề và thực hiện biện pháp xử lý phù hợp. Siêu dữ liệu được xây dựng, cập nhật đầy đủ, thống nhất, thường xuyên, kịp thời để phục vụ tra cứu, kiểm soát và khai thác dữ liệu hiệu quả. Dữ liệu được phân loại theo quy định của pháp luật về dữ liệu và mức độ bí mật.
Bên cạnh đó, việc thu thập, lưu trữ và vận hành dữ liệu được thực hiện có kiểm soát, đảm bảo tính toàn vẹn, an toàn, hiệu năng và khả năng phục hồi; thu thập dữ liệu một lần, sử dụng nhiều lần; bảo đảm một nguồn dữ liệu gốc duy nhất; ưu tiên kết nối, chia sẻ dữ liệu qua các nền tảng dùng chung; tuân thủ các nguyên tắc của Khung quản trị, quản lý dữ liệu quốc gia, đồng thời ưu tiên áp dụng quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ bí mật nhà nước đối với dữ liệu mật, dữ liệu nội bộ đặc thù.
Đáng chú ý, Khung quản trị, quản lý dữ liệu trong các cơ quan đảng được cấu thành bởi bốn lớp có quan hệ tầng bậc và bổ trợ lẫn nhau, gồm:
(1) Lớp điều hành quản trị dữ liệu đảm nhận chức năng quyết định chiến lược, phê duyệt chính sách và giám sát toàn hệ thống.
(2) Lớp quản trị dữ liệu chuyển hóa các quyết định đó thành cấu trúc tổ chức, phân công trách nhiệm và bộ quy định cụ thể.
(3) Lớp quản lý dữ liệu triển khai các chính sách thành các quy trình nghiệp vụ trong toàn bộ vòng đời dữ liệu.
(4) Lớp vận hành dữ liệu đóng vai trò nền tảng thực thi, chịu trách nhiệm chuyển hóa các quy định từ các lớp trên thành hoạt động kỹ thuật cụ thể, bao gồm vận hành vòng đời dữ liệu và hạ tầng kỹ thuật quản trị dữ liệu.
Xem toàn văn Quyết định số 20-QĐ/BCĐ tại đây


