Lời Nhà xuất bản Nhân dịp kỷ niệm lần thứ 115 ngày sinh cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thực hiện quyết định của Bộ Chính trị, sự chỉ đạo của Hội đồng xuất bản do đồng chí Nguyễn Khoa Điềm, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thứ Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương làm Chủ tịch. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia tổ chức biên soạn và xuất bản cuốn sách Tôn Đức Thắng - Người cộng sản mẫu mực, biểu tượng của đại đoàn kết.
Tham gia viết cuốn sách này là các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các bậc lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu, các nhà văn hoá, các nhà hoạt động thực tiễn, các bạn chiến đấu, các cộng sự, các cán bộ phục vụ và bảo vệ đồng chí Tôn Đức Thắng lúc hoạt động bí mật cũng như lúc công khai. Đó là những nhân chứng lịch sử đã dành những tình cảm sâu sắc, chân thành, kính mến đối với đồng chí Tôn Đức Thắng. Các bài viết đã phản ánh sinh động và chân thành về tài năng, đức độ và cống hiến lớn lao của đồng chí Tôn Đức Thắng đối với tiến trình phát triển của cách mạng Việt Nam.
Với cuộc đời 92 mùa xuân (20-8-1888 – 30-3-1980), đồng chí Tôn Đức Thắng đã dành gần 70 năm hoạt động và cống hiến cho sự nghiệp cách mạng lớn lao của Đảng và dân tộc.
Đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những chiến sĩ lớp đầu của phong trào công nhân và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta. Đồng chí là một trong những công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp; tham gia cuộc nổi dậy của Hải quân Pháp ở Biển Đen, kéo lá cờ đỏ lên một chiến hạm phản đối sự can thiệp vũ trang của bọn đế quốc, ủng hộ nước Nga Xôviết - Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Bằng hoạt động thực tiễn của mình, đồng chí Tôn Đức Thắng là người tổ chức ra công hội đầu tiên ở nước ta và tham gia tích cực vào quá trình vận động thành lập chính Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam.
Trải qua quá trình hoạt động cách mạng lâu dài và đầy gian nan, thử thách, đồng chí đã bị bọn đế quốc bắt giữa lúc đang hoạt động sôi nổi trong Hội Việt Nam Cách mang Thanh niên ở Nam Bộ. Gần 17 năm bị tù đày tại Khám lớn Sài Gòn và “địa ngục trần gian" Côn Đảo, đồng chí luôn nêu cao tinh thần cách mạng kiên cường và niềm tin vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất của người tù khổ sai trong Hầm xay lúa ở ngục tù Côn Đảo mãi mãi là bản anh hùng ca về khí tiết của người cộng sản trước quân thù.
Sau Cách mạng Tháng Tám thành công, từ Côn Đảo trở về, đồng chí đã cùng Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng chính quyền dân chủ nhân dân, tiến hành các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp thống nhất nước nhà… Đồng chí là hình ảnh tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết tủa Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Đồng chí Tôn Đức Thắng từng giữ nhiều cương vị quan trọng ở bất cứ cương vị nào, đồng chí cũng nêu tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tuỵ phấn đấu hy sinh, là một mẫu mực về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính; khiêm tốn, giản dị, mãi mãi để các thế hệ sau noi theo.
Cuộc đời cách mạng của đồng chí Tôn Đức Thắng là tượng trưng những tinh hoa của sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa phẩm chất cách mạng với phong cách của giai cấp công nhân Việt Nam, dân tộc Việt Nam và của những người cộng sản Việt Nam. Trong Thông cáo đặc biệt ngày 30-3-1980 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Chính phủ và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã khẳng định: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một nhà yêu nước vĩ đại, người cộng sản kiên cường mẫu mực, người lãnh đạo kính mến của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc nước ta, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ hết sức trung thành của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đồng chí đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời đồng chí đã suốt đời phấn đấu cho sự phát triển tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị anh em giữa nhân dân ta với nhân dân Liên Xô, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác và phát triển tình hữu nghị với các dân tộc triển thế giới, vì lợi ích của sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội”.
Đồng chí Tôn Đức Thắng là niềm tự hào của Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp công nhân và dân tộc Việt Nam.
Lúc sinh thời, đồng chí Tôn Đức Thắng là người hoạt động không mệt mỏi trong thực tiễn và rất ít nói về mình. Có lẽ vì thế, tư liệu về đồng chí Tôn Đức Thắng không nhiều. Mặc dù những người biên soạn và biên tập đã có nhiều cố gắng nhưng cuốn sách mới chỉ nêu được những nét cơ bản nhất, những phác thảo tổng quát nhất về thân thế, sự nghiệp của cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng trong quá trình cùng Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận vận dụng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh lãnh đạo nhân dân ta giành độc lập tự do, hoàn thành thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước cùng đi lên chủ nghĩa xã hội.
Nhà xuất bản chân thành bày tỏ sự biết ơn Hội đồng xuất bản, các tác giả đã viết bài, Văn phòng Quốc hội, Thành uỷ Thành phố Hồ Chí Minh, Sở Văn hoá - Thông tin Thành phố Hồ Chí Minh, Bảo tàng Tôn Đức Thắng, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang, Ban quản lý khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo, và các cơ quan hữu quan… đã có nhiều đóng góp trong quá trình biên tập và xuất bản cuốn sách.
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách quý với đồng bào, đồng chí.
Tháng 8 năm 2003
NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
Tiểu sử đồng chí Chủ tịch Tôn Đức Thắng Đồng chí Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888 trong một gia đình nông dân nghèo tại làng Mỹ Hoà Hưng, tỉnh Long Xuyên1. Năm 1910, sau mấy năm học nghề ở trường Bách nghệ, đồng chí làm công nhân trong một xưởng máy của thực dân Pháp ở Sài Gòn. Truyền thống quật cường của quê hương đất nước và cuộc sống giai cấp công nhân đã sớm rèn luyện nhiệt tình yêu nước của đồng chí. Năm 1912, đồng chí tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của học sinh Trường Bách nghệ và công nhân Nhà máy sửa chữa tàu thuỷ Ba Son. Bị thực dân Pháp lùng bắt, đồng chí phải trốn sang Pháp làm công nhân trong một công ty hàng hải, rồi làm thợ máy trong hải quân Pháp. Đồng chí đã tham gia các cuộc vận động chính trị của giai cấp công nhân trong hàng ngũ lính thuỷ Pháp. Năm 1919, trong cuộc chiến tranh can thiệp của bọn đế quốc hòng bóp chết nước Cộng hoà Xôviết - Nga mới ra đời, đồng chí bị nhà cầm quyền Pháp điều động tới một đơn vị hải quân được lệnh tiến công Xêvaxtôpôn trên bờ Biển Đen. Đồng chí đã tham gia cuộc binh biến chống cuộc chiến tranh can thiệp và phản cách mạng của bọn đế quốc, góp phần bảo vệ Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới.
Sau đó, đồng chí ra khỏi hải quân, làm thợ máy hãng xe hơi Rơno, gia nhập Tổng Công hội Pháp, tiếp tục hoạt động trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước của kiều bào ta ở Pháp.
Trở về Sài Gòn năm 1920, đồng chí cùng với các bạn chiến đấu của mình xây dựng những cơ sở công hội bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn. Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin qua các sách báo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các tư liệu từ Pháp gửi về, các cơ sở ấy đã lãnh đạo phong trào bãi công sôi nổi của thủy thủ và công nhân Nam Bộ, tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của công nhân ở Ba Son tháng 8 năm 1925.
Năm 1926, đồng chí tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức tiền thân của Đảng ta, và năm 1927 đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ.
Cuối năm 1929, đồng chí bị bọn thực dân Pháp bắt giam ở Khám lớn Sài Gòn, sau đó, bị kết án 20 năm khổ sai, và đến tháng 6 năm 1930, bị đày ra Côn Đảo.
Mùa Thu năm 1945, Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí được chính quyền cách mạng đón về. Bước chân lên đất liền trong lúc thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, đồng chí bắt tay ngay vào cuộc chiến đấu mới của đồng bào Nam Bộ và của nhân dân cả nước.
Hơn hai mươi năm qua, là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng và người lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo Mặt trận Dân tộc thống nhất, đồng chí Tôn Đức Thắng đã góp phần cống hiến xứng đáng của mình vào cuộc đấu tranh vĩ đại của dân tộc vì độc lập tự do của đất nước, vì hạnh phúc của nhân dân. Làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam từ năm 1955 và Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ năm 1960, đồng chí tiêu biểu cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà tại kỳ họp đặc biệt của Quốc hội khoá ba, tháng 9 năm 1969.
Do những cống hiến to lớn của mình đối với Tổ quốc và nhân dân, năm 1958 đồng chí được Quốc hội và Chủ tịch Hồ Chí Minh tặng thưởng Huân chương Sao vàng.
Do những cống hiến của đồng chí trên cương vị Chủ tịch Uỷ ban Bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam đối với phong trào hoà bình thế giới, năm 1955 đồng chí được Uỷ ban Giải thưởng hoà bình quốc tế Lênin tặng Giải thưởng Lênin Vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Năm 1967, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Tháng Mười, đồng chí được Đoàn chủ tịch Xôviết Tối cao Liên Xô tặng thưởng Huân chương Lênin.
Hiến dâng cả đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc và cho lý tưởng cộng sản chủ nghĩa, đồng chí là một hình ảnh trong sáng của tinh thần cách mạng bất khuất và đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn, giản dị.
Trên sáu mươi năm đấu tranh không mệt mỏi cho sự nghiệp cứu nước và giải phóng giai cấp công nhân, đồng chí đã tỏ rõ lòng trung thành tuyệt đối với cách mạng. Trước sự khủng bố tàn bạo của quân thù, đồng chí đã nêu cao khí tiết cộng sản chủ nghĩa. Trong nhiều năm bị giam cầm ở nhà tù Côn Đảo, đồng chí luôn luôn tỏ rõ lòng tin tưởng vững vàng của mình vào thắng lợi của cách mạng nước ta và cách mạng thế giới.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng; suốt đời cần kiệm liêm chính, suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân".
Đồng chí là một người cộng sản tiêu biểu của chúng ta.
_________
1. Nay là xã Mỹ Hoà Hưng, Thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Điếu văn do Đồng chí Trường Chinh, Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy Ban Thường vụ Quốc hội đọc trong Lễ truy điệu đồng chí Chủ tịch Tôn Đức Thắng Thưa các đồng chí và đồng bào!
Đồng chí Tôn Đức Thắng, Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã qua đời ngày 30 tháng 3 năm 1980. hưởng thọ 92 tuổi.
Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vô cùng đau đớn vĩnh biệt đồng chí.
Đồng chí Chủ tịch Tôn Đức Thắng từ trần, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân Việt Nam mất một chiến sĩ cách mạng kiên cường, mẫu mực, một người lãnh đạo kính mến và thân thiết.
Đồng chí là một trong các chiến sĩ lớp đầu của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta, là một trong những người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Từ những năm đầu thế kỷ này, đồng chí Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, và đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ tiên phong.
Đồng chí là một trong những công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp. Đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy của hải quân Pháp ở Biển Đen, kéo lá cờ đỏ trên một chiến hạm Pháp, ủng hộ nước Nga Xôviết, nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, chống sự can thiệp vũ trang của bọn đế quốc đối với Nhà nước Xôviết còn non trẻ.
Cuộc đời hoạt động cách mạng lâu dài của đồng chí đầy gian lao, thử thách. Đồng chí bị bọn đế quốc bắt giam giữa lúc đang hoạt động sôi nổi trong hàng ngũ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Bộ. Gần 17 năm bị tù đày ở Khám lớn Sài Gòn và Côn Đảo, đồng chí luôn luôn nêu cao tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945) thành công, từ Côn Đảo trở về, đồng chí liền hoạt động tích cực, góp phần cùng với Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng Nhà nước dân chủ nhân dân kháng chiến chống thực dân Pháp, chống đế quốc Mỹ... và bè lũ tay sai, vì độc lập thống nhất của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội.
Đồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bất kỳ ở cương vị công tác nào, mặc dù tuổi cao, đồng chí luôn luôn phấn đấu quên mình để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tuỵ; về tinh thần anh dũng, bất khuất; về đức tính khiêm tốn, giản dị.
Toàn thể đồng chí và đồng bào chúng ta rất tự hào về sự nghiệp và đạo đức cách mạng của đồng chí.
Chúng ta quyết mãi mãi noi gương cao cả của đồng chí để khắc phục mọi khó khăn, hoàn thành mọi nhiệm vụ cách mạng.
Thưa các đồng chí và đồng bào,
Vĩnh biệt Bác Tôn kính mến, chúng ta nguyện quyết tâm phấn đấu tiếp tục thực hiện Di chúc thiêng liêng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thực hiện những điều mà Bác Tôn thiết tha mong muốn: tăng cường đoàn kết, ra sức xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa chống mọi âm mưu và hành động xâm lược của bọn đế quốc và bọn phản động quốc tế, tăng cường tình hữu nghị anh em, tình đoàn kết chiến đấu và sự hợp tác toàn diện với Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa khác, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh của nhân dân thế giới vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội.
Chủ tịch Hồ Chí Minh chúc mừng đồng chí Tôn Đức Thắng thọ 70 tuổi Thưa lão đồng chí,
Hôm nay, chúng tôi rất sung sướng chúc mừng đồng chí 70 tuổi.
Thưa các đồng chí,
Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc suốt 70 năm đã không ngừng hoạt động cách mạng. 17 năm bị thực dân Pháp cầm tù, 9 năm tham gia lãnh đạo tháng chiến, 4 năm phấn đấu để gìn giữ hoà bình thế giới và đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà.
Đồng chí Tôn Đức Thắng 70 tuổi nhưng rất trẻ, đối với Đảng, đồng chí là 29 tuổi; đối với nước Việt Nam độc lập, đồng chí là 13 tuổi.
Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười. Đồng chí Tôn Đức Thắng tuy tuổi tác đã cao, nhưng vẫn cố gắng để phụ trách nhiều nhiệm vụ quan trọng:
Trưởng Ban Thường trực Quốc hội;
Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
Uỷ viên Trung ương Đảng Lao động Việt Nam;
Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;
Chủ tịch Hội Việt - Xô hữu nghị;
Chủ tịch danh dự Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế với của Việt Nam;
Uỷ viên Hội đồng hoà bình thế giới.
Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mang: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Vì vậy, hôm nay chẳng những chúng ta ở đây, mà toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam và toàn thể nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình đều vui mừng chúc người lão chiến sĩ cách mạng Tôn Đức Thắng sống lâu, mạnh khoẻ.
Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao vàng là Huân chương cao nhất của Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy.
* Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr. 220-221.
Lời chúc mừng của đồng chí Trường Chinh Ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội* Thưa Chủ tịch Tôn Đức Thắng,
Thưa Phó Chủ tịch Nguyễn Lương Bằng,
Thưa các đồng chí đại biểu Quốc hội,
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến qua đời, trong phiên họp trọng thể này, Quốc hội ta đã nhất trí bầu cụ Tôn Đức Thắng giữ chức Chủ tịch và đồng chí Nguyễn Lương Bằng giữ chức Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Cụ Tôn Đức Thắng và đồng chí Nguyễn Lương Bằng là hai chiến sĩ lão thành của cách mạng Việt Nam, những người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam ta. Hai đồng chí được Quốc hội nhất trí tín nhiệm giao cho trọng trách lãnh đạo Nhà nước ta là rất xứng đáng. Sự tín nhiệm của Quốc hội tức là sự tín nhiệm của toàn dân ta. Điều đó làm cho nhân dân ta ở cả hai miền, các chiến sĩ ngoài mặt trận cũng như đồng bào ở hậu phương và bè bạn ta trên thế giới vui mừng, phấn khởi.
Quốc hội xin nhiệt liệt hoan nghênh đồng chí Chủ tịch và đồng chí Phó Chủ tịch mới của nước ta, và xin kính chúc các đồng chí luôn luôn mạnh khoẻ, thu được nhiều thắng lợi lớn trong công tác lãnh đạo Nhà nước, lãnh đạo nhân dân ta xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội và đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, tiến tới hoà bình thống nhất nước nhà.
* Tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá III, ngày 23-9-1969, nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu giữ chức Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà
Học tập gương sáng của đồng chí Tôn Đức Thắng LÊ DUẨN*
... Đồng chí Tôn Đức Thắng và một người con yêu quý của dân tộc, một đảng viên gương mẫu của Đảng Lao động Việt Nam.
Cuộc đời của đồng chí là một tấm gương phấn đấu không biết mệt mỏi cho sự nghiệp độc lập dân tộc, cho sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản và nhân dân lao động. Xuất thân từ hàng ngũ giai cấp công nhân, từ lúc còn trẻ, đồng chí đã giác ngộ cách mạng và tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam chống đế quốc, phong kiến. Đồng chí đã tham gia cuộc khởi nghĩa Biển Đen, chống sự can thiệp vũ trang của đế quốc để bảo vệ nước Cộng hoà Xôviết trẻ tuổi, nêu cao tinh thần quốc tế cao cả của giai cấp công nhân Việt Nam.
Đế quốc Pháp đã bắt giam, đày đọa đồng chí 17 năm trời ở Khám lớn Sài Gòn và nhà ngục Côn Đảo với chế độ khổ sai, khi thì nhốt vào hầm xay lúa, khi thì nhốt vào hầm tối, tay chân bị xiềng xích, cùm kẹp, khi thì cho ăn lúa sống, hoặc bỏ đói, bỏ khát, nhưng tinh thần cách mạng kiên cường của đồng chí trước sau vẫn không lay chuyển. Trong nhà tù, đồng chí luôn luôn nêu cao lòng yêu nước và chí khí quật cường của người công nhân, luôn luôn tin tưởng ở tương lai tươi sáng của dân tộc và của giai cấp, luôn luôn vui vẻ và không bao giờ sao lãng công tác cách mạng.
Cách mạng Tháng Tám thành công, đồng chí ra khỏi nhà tù. Vừa bước chân lên đất liền thì cuộc kháng chiến bùng nổ, đồng chí lại tham gia ngay vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Mười ba năm nay, ở những cương vị quan trọng trong Đảng, Quốc hội, Mặt trận, mặc dù tuổi cao, đồng chí đã nỗ lực làm đầy đủ nhiệm vụ của mình, cùng Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ và Mặt trận lãnh đạo nhân dân góp phần quan trọng vào thắng lợi vẻ vang của dân tộc.
Sự cống hiến lớn lao của đồng chí cho nền độc lập dân tộc và hoà bình thế giới đã được nhân dân thế giới kính mến. Đồng chí là người Việt Nam đầu tiên được Giải thưởng hoà bình quốc tế Lênin, xứng đáng là một chiến sĩ xuất sắc của phong trào hoà bình thế giới.
Cùng với tinh thần phấn đấu không mệt mỏi, ở đồng chí Tôn Đức Thắng còn nổi bật lên lập trường vững vàng, chí khí cao cả, đức tính khiêm tốn, giản dị, đó là những gương sáng để chúng ta học tập.
* Cố Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Bác Tôn - Nhà cách mạng bất tử PHẠM VĂN ĐỒNG*
... Di sản quý nhất mà đồng chí Tôn Đức Thắng để lại cho nhân dân là chất người Tôn Đức Thắng, sản phẩm tổng hợp của chất hào hiệp Nam Bộ, chất kiên cường và tài năng sáng tạo Việt Nam, chất tiên phong của giai cấp công nhân, chất cách mạng của người yêu nước, người cộng sản, chất nhân đạo của con người.
Tinh tuý của chất ấy là lòng thương nước, yêu dân, niềm ưu ái với đồng bào, đồng chí; niềm tin sắt đá vào thắng lợi của cách mạng mặc dù mọi khó khăn, gian khổ, tinh thần một lòng một dạ phục vụ nhân dân, đức chí công vô tư quên mình, sự khiêm tốn, giản dị hồn nhiên, trong sáng. Đó là chất cách mạng tinh khiết không gì làm phai nhạt được, từ thuở thanh niên đến cuối đời vượt qua muôn trùng thử thách, ngày càng ngời lên vẻ đẹp đẽ và cao quý.
Riêng tôi có nhiều kỷ niệm về Bác Tôn. Tôi biết Bác Tôn lúc tôi hoạt động trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn vào những năm 1927-1929, tuy không có quan hệ trực tiếp với nhau vì hoạt động trong hai tổ chức khác nhau. Sau khi bị bắt vì "vụ án Bacbie", chúng tôi cùng bị giam ở Khám lớn Sài Gòn.
Đây là thời gian tôi tiếp xúc nhiều với Bác và biết rõ Bác hoạt động trong công nhân xưởng Ba Son và các cơ sở khác ở Sài Gòn. Trong tù, Bác Tôn rất mê đánh cờ tướng.
Từ Khám Lớn Sài Gòn, chúng tôi bị đày ra Côn Đảo, Bác Tôn với án khổ sai chung thân, còn tôi với án 10 năm tù cầm cố, nên khi ở Côn Đảo, chúng tôi hầu như bị cách biệt hoàn toàn. Bác Tôn phải làm việc cực nhọc như mọi người tù khổ sai Côn Đảo lúc bấy giờ. Tuy nhiên, bọn cai ngục rất nể Bác Tôn, bởi chúng biết rõ phẩm chất kiên cường của người chiến sĩ cộng sản này. Theo tôi nhớ, lúc đầu chúng đưa Bác Tôn ra làm cặp rằng (caporal) ở Sở Lưới (là người tù phụ trách điều hành công việc của tù khổ sai ở Sở). Đây là nơi tập họp những người tù khổ sai chuyên đi đánh cá trên biển với những chiếc ca nô gắn máy. Bọn chủ ngục ở Côn Đảo tổ chức ra Sở Lưới và dùng một số tù khổ sai đánh cá chủ yếu để có cá biển phục vụ chúng. Tuy nhiên, đôi khi Sở Lưới đánh được nhiều cá, thì cả tù cấm cố chúng tôi cũng được ăn cá biển. Và, vì những người làm bếp ở trại chúng tôi trước đây đã làm nghề nấu ăn, có người còn là đầu bếp của bọn quan Tây hoặc của khách sạn nên đôi khi có cá, lại có đầu bếp lành nghề, chúng tôi cũng được ăn những món thật thú vị.
Bác Tôn chỉ ở Sở Lưới một thời gian ngắn. Bọn chủ ngục sợ rằng ở đó người cách mạng có nhiều cơ hội hoạt động mà chúng không kiểm soát được, nên đã đưa Bác Tôn vào làm cặp rằng ở Hầm xay lúa. Đây là nơi tù khổ sai chuyên xay lúa làm gạo để cung cấp cho tất cả tù Côn Đảo. Tù ở Hầm xay lúa bị nhốt và suốt ngày phải làm việc quần quật trong không khí ồn ào, bụi bặm. Tuy nhiên, làm ở đây cũng có một có lợi: có thể lấy gạo nấu cơm, nấu cháo (với chất đốt là trấu và bí mật tiếp tế cho anh em đau yếu ở trại khác).
Trong 15 năm Bác Tôn ở Côn Đảo có một lần bọn cai ngục chọn một số người đưa đi đày ở Cayen, một nhà tù khủng khiếp ở châu Mỹ, Bác Tôn ở trong diện bị chọn đưa đi. Trước khi đi, những người tù phải qua khám sức khoẻ. Một việc rất lạ đã xảy ra mặc dù sức khoẻ Bác Tôn bình thường, nhưng sau khi khám cho Bác, viên bác sĩ người Pháp đã kết luận Bác Tôn không đủ sức khoẻ để đi Cayen. Chúng tôi rất ngạc nhiên. Về sau mới biết: viên bác sĩ ấy là một người có lương tâm, chắc rằng ông có biết ít nhiều về Bác Tôn, nên đã nhận xét như vậy để cứu Bác khỏi phải đi Cayen.
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), Bác Tôn từ Côn Đảo trở về (tôi về trước, từ năm 1936). Chúng tôi lại gặp nhau ở Hà Nội năm 1946. Tháng 5-1946, Chính phủ ta cử Bác Tôn, đồng chí Trần Danh Tuyên và tôi tham gia vào đoàn đại biểu Quốc hội Việt Nam đi thăm thiện chí nước Pháp. Đúng là đoàn đại biểu đi thăm thiện chí. Có điều là thiện chí chỉ có ở phía ta. Ở Pari, chúng tôi không tiếp xúc với bất cứ cơ quan nào có thẩm quyền của nước Pháp. Trưởng đoàn Việt Nam chỉ gặp Chủ tịch Quốc hội pháp (lúc ấy là Vanhxăng Ôriôn) ít phút trong giờ giải lao ở Quốc hội Pháp.
Từ năm 1946, Bác Tôn có nhiều năm hoạt động và sống gần gũi với Bác Hồ. Giữa hai Bác đã hình thành một tình thân ái, gắn bó sâu sắc. Tình cảm cao quý đó mãi mãi được thể hiện trong bức ảnh rất đẹp ghi lại hình ảnh hai Bác, tay cầm tay đứng bên nhau với nét mặt vui tươi, đôn hậu.
Những năm tháng cuối đời của Bác Tôn để lại những ấn tượng sâu sắc đối với tôi. Bấy giờ Bác Tôn đã đến tuổi 90. Một con người trải qua một cuộc đời đầy sóng gió như Bác Tôn mà thọ đến 90 thì thật hiếm có. Điều đáng quý hơn nữa, mà tôi rất xúc động nhắc lại ở đây là con người bên trong của Bác Tôn, phẩm chất cách mạng kiên cường ở Bác vẫn trong sáng, hồn nhiên như năm nào. Nói chuyện với Bác Tôn lúc ấy, tôi không thấy có gì khác với lúc nói chuyện với con người ấy cách đây mấy chục năm về trước. Chúng ta đang đứng trước một con người mà năm tháng và bão tố có làm thay đổi nhiều về dáng vẻ bên ngoài, nhưng tâm hồn và ý chí cách mạng, tình cảm với đồng bào, đồng chí, sự khiêm tốn giản dị, lòng vị tha quên mình thì không hề thay đổi. Đó vẫn luôn luôn là đức tính của người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng.
Cũng như Bác Hồ, Bác Tôn là một con người đẹp từ việc lớn đến việc nhỏ, lúc ở Côn Đảo cũng như lúc ở Phủ Chủ tịch. Và cũng như Bác Hồ, Bác Tôn rất vui tính, thích bông đùa, nói ít, làm nhiều, suốt đời hiến dâng nghị lực, tài năng và tâm huyết cho sự nghiệp lớn của nước, của dân.
Con người và cuộc sống của Bác Tôn là như vậy. Đây là một tấm gương mà mọi người chúng ta cần noi theo.
___________
* Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, nguyên Thủ tướng Chính phủ.
Những ngày sống với Bác Tôn ở Côn Đảo (1) NGUYỄN VĂN LINH*
Thời gian tôi được gặp Bác Tôn, biết Bác Tôn và sống chung với Bác Tôn nhiều nhất là thời kỳ ở Côn Đảo. Lúc bấy giờ tôi mới 17 tuổi, tôi bị địch bắt ở Hải Phòng và bị đi đày ra Côn Đảo.
Tôi lãnh hai án, trong đó một án 18 tháng tù về tội rải truyền đơn, và một án là phát lưu chung thân do Hội đồng đại hình kết tội. Ra đến Côn Đảo, tôi và hai người bạn nữa còn nhỏ tuổi nên bị giam ở Banh 1, không bị bắt đi làm khổ sai hàng ngày. Ở đó có Bác Tôn, vì cao tuổi nên chúng không bắt Bác đi làm khổ sai. Bác và chúng tôi phải dọn dẹp các sam (chambre), quét sân, nhổ cỏ ở banh 1.
Thấy chúng tôi còn trẻ mà đã giác ngộ cách mạng thì Bác rất thương. Bác bắt đầu giáo dục cho tôi và hai người bạn hiểu thế nào là cách mạng, thế nào là chủ nghĩa cộng sản. Bác rất hiền. Bác không những thương chúng tôi mà còn thương các bạn tù khác, kể cả tù thường phạm. Khi họ đi làm về sau bữa ăn, bị nhốt ở sam thì Bác thường gần gũi họ, giảng giải cho họ những điều sơ đẳng nhất về chủ nghĩa cộng sản, về lòng yêu nước và động viên họ phải can đảm lên, cố chịu đựng rồi khi ra tù sẽ tiếp tục làm cách mạng.
Những người tù thường phạm cũng được Bác giáo dục về chủ nghĩa yêu nước và chỉ cho họ biết, chính vì nước mình không có độc lập, tự do nên họ rơi vào cảnh nghèo khổ và phải làm những nghề bất chính để nuôi sống bản thân và gia đình. Khi bị bắt họ lại bị đày ải và tù tội.
Sau đó ít lâu, ở Sở Lưới có một ca nô bị hỏng, biết Bác Tôn là thợ máy, chúng đưa Bác Tôn ra để sửa máy ca nô. Tôi và một trong hai bạn tù cũng được đưa ra ngoài Sở Lưới. Lúc bấy giờ, tôi được giao việc làm hộp đồi mồi và lược đồi mồi. Viên cai ngục rất kính trọng Bác, nói với Bác cứ ở ngoài, ngủ ở ngoài cho thoáng nhưng Bác nhất định không chịu, Bác vẫn vào trong Sở Lưới ở với anh em, ngủ chung với anh em. Đấy cũng là những điều mà bản thân tôi học tập được ở Bác. Bác luôn thể hiện tình thương đối với những người bạn tù và luôn luôn giáo dục họ để họ hiểu được cách mạng, hiểu con đường cách mạng. Thời kỳ đó tôi chưa vào Đảng, mới giác ngộ cách mạng, mà người đầu tiên tôi được gần gũi và giáo dục tôi nhiều nhất là Bác Tôn.
Năm 1936 tôi được ân xá và trở về đất liền. Năm 1941, tôi lại bị bắt giam trở lại Côn Đảo và tôi đã gặp lại Bác Tôn ở Sở Lưới. Bác vẫn ở suốt trong tù. Gặp lại tôi, Bác rất mừng vì thấy tôi còn trẻ mà tuy được ân xá rồi vẫn tiếp tục hoạt động cách mạng. Khi Bác hỏi tôi về tình hình phong trào cách mạng, tình hình phát triển Đảng ở bên ngoài thì tôi thuật lại cho Bác nghe theo hiểu biết của tôi. Bác rất vui và nói"nhất định cách mạng sẽ thắng!".
Đến khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công ở trong đất liền mà ở ngoài Côn Đảo chúng tôi vẫn còn chưa biết. Chủ tịch Hồ Chí Minh là ai; chúng tôi chỉ biết về Nguyễn Ái Quốc nhưng cũng đoán là Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc.
Đồng chí Tưởng Dân Bảo, trước đây bị đày ra Côn Đảo, là người theo Quốc dân Đảng rồi sau giác ngộ theo Đảng Cộng sản, đã tự thuê thuyền và thuê một chiếc tàu ra đón chúng tôi ở Côn Đảo về. Tôi và các bạn tôi đi bằng thuyền buồm về Sóc Trăng rồi Cần Thơ. Bác Tôn cùng một số đồng chí khác như Phạm Hùng cùng đi về bằng ca nô do chính Bác Tôn tự lái. Sau đó Bác Tôn được điều động ra Hà Nội. Từ đó, tôi ở lại Nam Bộ chiến đấu chống thực dân Pháp rồi tiếp tục chống đế quốc Mỹ.
Lâu lâu, có dịp ra Hà Nội là tôi lại ghé thăm Bác Tôn và gia đình.
Khi đã trở thành vị Phó Chủ tịch nước, sau là Chủ tịch nước, Bác Tôn vẫn giữ tính điềm đạm, chân thành, thương người như khi ở tù Côn Đảo năm xưa mà tôi được cùng sống bên Bác.
Tôi rất kính trọng Bác Tôn cũng như kính trọng Bác Hồ. Bác Tôn là người xuất thân từ công nhân, trước đây học ở trường thợ máy ở Sài Gòn, làm thợ ở Ba Son rồi sang Pháp. Khi Cách mạng Tháng Mười thành công, bọn đế quốc đem quân và tàu chiến câu kết với bọn bạch vệ ở trong nước Nga chống lại Nước Nga Xôviết non trẻ thì Bác Tôn là một trong số những thuỷ thủ đã dũng cảm đấu tranh chống lại. Chính Bác là người đã kéo lá cờ đỏ búa liềm ở trên tàu France. Hành động này cho thấy Bác chẳng những là một người yêu nước mà còn là người có tinh thần quốc tế vô sản.
Những kỷ niệm đó thường hiện lên mỗi lần tôi nhớ tới Bác Tôn và càng nhớ thì càng kính phục Bác, càng thương Bác nhiều.
_______________
(1). Đầu đề là của Ban biên tập.
* Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, nguyên Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Sự giáo dục nghiêm khắc mà ân cần (1) PHẠM TỐNG HOẰNG*
Năm 1950, tôi là đại biểu Tỉnh uỷ Long Châu Hà ra Bắc dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng. Dịp này tôi mới được gặp Bác Tôn, khi Bác Tôn đi thăm đoàn cán bộ miền Nam, Bác có thăm hỏi tôi và là người đồng hương nên Bác hỏi thăm rất tỉ mỉ về tình hình chính trị, xã hội và kháng chiến ở trong tỉnh nhà như thế nào. Tôi kể lại cho Bác Tôn nghe, Bác nghe rất chăm chú.
au Đại hội tôi được cử đi học chính trị Mác-Lênin ở Trung Quốc đến năm 1953 tôi mới về và được phân công ở Ban tổ chức Trung ương Đảng, học tập về cải cách ruộng đất ở Việt Bắc. Tham dự lớp cải cách ruộng đất tôi mới được gặp lại Bác Tôn, tình cảm gặp lại giữa Bác- cháu rất là thân thương với nhau. Bác Tôn thường đem quà từ chiến lợi phẩm như kẹo, bánh, thuốc lá Senior – thứ thuốc lá rất thơm và ngon, vì thế có lúc trong lớp cải cách ruộng đất tôi vì nghiện thuốc mà thuốc đã hết cho nên đến sau lưng Bác mò túi lấy thuốc lá hút.
- Bác Tôn quay lại hỏi: "Này Hoằng, mày làm gì vậy?"
- "Dạ, kiếm thuốc hút".
- "Đi ra ngoài này!".
Mình cũng tưởng đâu ra ngoài thì được Bác cho thuốc hút, không ngờ ra ngoài Bác phê bình cho một trận tơi bời.
Bác nói: "Mày làm sao vậy! Tao có hút thuốc đâu mà mày mà mày mò túi, mày làm cái việc như vậy đó à! Vì nghiện thuốc mà đi mò túi người khác như thế là xấu, vì nghiện thuốc khi không có thuốc hút phải đi gặp đồng chí này, gặp đồng chí khác ngửa tay xin, mày không biết xấu hổ à?"; rồi Bác còn nói thêm: "Nghiêm trọng hơn nữa là mày vì nghiện thuốc cho nên không làm được việc. Trong lúc nghiện ngập như thế mà hết thuốc lá hút thì đầu óc đâu còn minh mẫn để làm việc cho tốt nữa, như thế là mày không làm tròn trách nhịêm của người cán bộ, đảng viên rồi". Sau đó tôi bị Bác nói rằng: "Mày bỏ thuốc lá đi, mày hút thuốc lá chẳng những ảnh hưởng đến thanh danh, ảnh hưởng đến công tác mà bị bệnh rồi thì ảnh hưởng đến bản thân mày nữa”. Sau lần công tác này tôi bị đau bao tử, bác sĩ chữa mãi mà không khỏi, bác sĩ bảo tôi phải giảm bớt thuốc lá để trị mới khỏi được chứ hút thuốc như thế thì không làm sao mà trị nổi. Nhớ lại lời của Bác mà tôi bỏ luôn thuốc lá từ đó đến bây giờ, không hút nữa.
Đến khi giải phóng miền Bắc, cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, các cơ quan Trung ương đã rời về Hà Nội, tôi lại được gặp Bác Tôn. Ở Hà Nội, Trung ương cho phép thành lập Hội đồng hương Long Châu Hà và để anh em cán bộ gặp gỡ giúp đỡ cho nhau trong lúc khó khăn, hay động viên nhau được tốt và giúp đỡ các cháu học hành. Hàng năm như thế tôi có tổ chức hội nghị liên hoan đồng hương ăn Tết. Lúc ấy tôi là Trưởng ban liên lạc đồng hương, đến thăm Bác Tôn và báo cáo cho Bác nghe, đồng thời mời Bác đến dự liên hoan đồng hương. Bác Tôn với cương vị là Phó Chủ tịch nước, công việc rất nhiều nhưng năm nào tôi mời Bác đều đến cả. Năm nào Bác không đến được thì Bác gửi quà biếu, bánh trái để anh em liên hoan. Trong lúc Bác đến Hội đồng hương như thế các chiến sĩ, cán bộ, học sinh đều vây quanh Bác, nghe Bác kể chuyện về tình hình thế giới, về tình hình trong nước rồi Bác hỏi thăm, động viên anh em: "Ráng mà học tập, ráng mà công tác để sau này trở về Nam phục vụ cho quê hương”. Anh em cũng hỏi lại Bác rất nhiều chuyện, Bác cười vui trả lời như một người cha trong một đại gia đình ở Hà Nội.
Nhà tôi và nơi Bác ở gần nhau nên tôi thường đến thăm Bác. Có lần đến thăm nhà thấy cuộc sống gia đình Bác rất là giản dị, Bác Tôn ăn mặc rất bình thường, chỉ có bộ đồ màu nâu vậy thôi. Có khi gặp lúc Bác đang tưới hoa, tưới kiểng, tôi nói: "Bác đưa cho cháu xách nước cho Bác”. Bác nói: "Không được, để Bác tưới, Bác lao động cho khoẻ". Bác không cho tôi làm thay.
Có lần tôi đến gặp lúc Bác đang sửa chiếc xe đạp, tôi hỏi: "chiếc xe đạp của cô, cậu nào không chữa mà Bác phải hì hục thế này?”.
Bác nói: "Ô! Xe này của mình đấy, mình sửa chữa để ngày chủ nhật đi thăm bạn bè cũng sống gần đây thôi”.
Tôi nói: "Trời ơi! sao Bác không đi ô tô mà làm việc khổ như thế!”.
Bác nói: "Ô! Chỉ có một ngày chủ nhật thôi thì để cho anh lái xe nghỉ ngơi, anh ta còn giúp đỡ gia đình, mình bắt anh ta đi lái xe cho mình nữa thì rất tội".
Có một lần, Bác gái ốm nhiều, tôi đến thăm gặp chị Nghiêm - con gái của Bác Tôn kể lại chuyện tôi nghe rất là cảm động: "Mỗi lần ba đi làm việc về là đi thẳng vào giường để thăm má, hỏi đủ điều về má ăn uống như nào, rồi mới thay quần áo. Có nhiều lúc, ba ngồi với má cả tiếng đồng hồ để chăm sóc má, lấy nước đun thuốc cho má uống, đút cháo cho má ăn; nhưng làm đến như thế mà ba còn hỏi: Này! Con xem, ba bận việc quá nên chăm sóc cho má không đầy đủ, vậy ba còn thiếu gì nữa để ba chăm sóc cho má được tốt hơn”.
Đấy là nói lên tình cảm của Bác chẳng những đối với đất nước, đối với cách mạng mà ngay đối với gia đình rất là chí tình, chí nghĩa. Cho nên Bác mất đi để lại niềm xót thương vô hạn trong tôi. Tôi được tổ chức phân công đứng túc trực đáp lễ cho các đoàn đến viếng Bác. Tất cả các bộ, các ngành ở Trung ương cũng như địa phương đều đến viếng Bác rất đông. Trước linh cữu Bác Tôn mọi người đều bùi ngùi, xúc động, thương tiếc Bác. Đến khi đưa tang Bác trên cả một đoạn đường rất dài lên tới Mai Dịch, hai bên đường đều có nhân dân đứng đưa đón, đoàn cán bộ theo xe kéo dài hàng cây số, chật ních không thể chen lấn được.
Có thể nói, Bác Tôn là một người rất vĩ đại được nhân dân cả nước quý mến, thương tiếc và kính trọng.
___________
(1). Đầu đề là của Ban biên tập (B.T).
* Nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Pháp chế Chính phủ (trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng).
Bác Tôn về thăm Đảng bộ, quân và dân khu Tây Nam Bộ, tỉnh Cần Thơ và tỉnh An Giang Vũ Đình Liệu*
Sau giải phóng miền Nam, Bác Tôn đã về thăm Đảng bộ, quân và dân Khu Tây Nam Bộ, tỉnh Cần Thơ và tỉnh An Giang. Chín giờ sáng ngày 4-12-1975, máy bay chở Bác Tôn đã đáp xuống sân bay Trà Nóc. Các đồng chí trong Khu uỷ chính quyền Khu, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ đã tề tựu đông đủ tại sân bay để chờ đón Bác. Máy bay vừa hạ cánh, đồng chí phụ trách sân bay Trà Nóc, đồng chí lễ tân của Khu cùng lên máy bay để rước Bác xuống. Bác Tôn, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân ta, hiện ra cửa máy bay, tươi cười giơ cao mũ vẫy chào đoàn người ra đón, trước tiếng vỗ tay và hoan hô của mọi người, Bác Tôn cùng đồng chí bảo vệ từ từ xuống thang máy bay. Các đồng chí ra đón cũng ùa tới chân cầu thang máy bay để đón Bác. Khi Bác vừa đặt chân xuống đất, tôi tiến tới và nói: "Cháu Vũ Đình Liệu, Bí thư Khu uỷ Khu Tây Nam Bộ kính chào Bác, chúc Bác khoẻ". Bác Tôn ôm hôn tôi thắm thiết. Tôi giới thiệu với Bác từng đồng chí trong Khu, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ.
Sau đó tôi mời Bác lên xe cùng Đoàn về nhà khách của Khu. Ở đây đã tề tựu đông đủ khoảng 100 đồng chí để đón chào Bác.
Khi Bác bước vào nhà, mọi người vỗ tay hoan nghênh và hô to: “Chúc Bác Tôn khoẻ". Các đồng chí đưa Bác Tôn ngồi lên bục danh dự Ban Tổ chức cuộc họp, giới thiệu với Bác thành phần những người đến đón chào Bác. Ngoài các đồng chí Khu uỷ, chính quyền Khu, Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân, Ban chỉ huy quân sự tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ còn có các ban ngành của Khu, tỉnh Cần Thơ, thành phố Cần Thơ, các giảng viên Trường đại học Cần Thơ. Sau đó, tôi đã thay mặt mọi người phát biểu: "Hôm nay Đảng bộ, quân và dân Khu Tây Nam Bộ, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ rất vui mừng được đón tiếp Bác, vị lãnh tụ kính yêu của nhân dân Việt Nam, người con yêu quý của Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long. Thay mặt cho Đảng bộ và quân, dân Khu Tây Nam Bộ, tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ xin kính chúc Bác dồi dào sức khoẻ, tiếp tục góp sức cùng Trung ương Đảng, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lãnh đạo nhân dân Việt Nam xây dựng chính quyền cách mạng, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội và củng cố an ninh - quốc phòng. Đặc biệt, đối với Khu Tây Nam Bộ, tỉnh Cần Thơ, thành phố Cần Thơ mong Bác có những sự chỉ đạo cụ thể để chúng cháu chấp hành nhằm phát huy những thành quả, khắc phục các thiếu sót. Bao năm ước mong nay Bác đã trở về làm thoả lòng mong ước của quân, dân Nam Bộ, của Đồng bằng Sông Cửu Long, của Khu Tây Nam Bộ, tỉnh Cần Thơ, thành phố Cần Thơ và tỉnh An Giang. Một lần nữa chúng cháu xin kính chúc Bác sức khoẻ, sống lâu”.
Bác Tôn đứng lên tươi cười thân mật như người cha đối với các con, Bác chậm rãi nói: "Giải phóng miền Nam đã lâu, nhưng vì bận công việc, chưa về được, nhưng lòng tôi lúc nào cũng hướng về miền Nam ruột thịt, về Nam Bộ thành đồng. Hôm nay được đến Cần Thơ, trung tâm của Đồng bằng Sông Cửu Long tôi rất vui mừng phấn khởi, được tận mắt thấy chúng ta đã giải phóng và tiếp quản hầu như nguyên vẹn thành phố Sài Gòn, thành phố Cần Thơ và nhiều nơi khác. Nhưng chúng ta nên nhớ rằng, tiến hành chiến tranh để giải phóng đất nước giành chính quyền đã tốn biết bao nhiêu xương máu và chúng ta đã phải chiến đấu trực tiếp với quân thù trong 30 năm, trong điều kiện cực kỳ khó khăn gian khổ. Nhưng giữ gìn và xây dựng chính quyền ấy để đem lại độc lập, tự do, hạnh phúc thật sự cho nhân dân lại càng khó hơn, gian khổ và lâu dài hơn. Tôi chúc các đồng chí đã mưu trí, dũng cảm trong chiến đấu, sẽ mưu trí, dũng cảm hơn trong bảo vệ chính quyền cách mạng và trong xây dựng, chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Cuối cùng, chúc các đồng chí hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao cho". Trước những lời căn dặn rất thân tình, mọi người hết sức xúc động, vỗ tay hoan nghênh từng chập và cuối cùng vỗ tay hoan nghênh kéo dài.
Cuộc họp kết thúc, Ban Tổ chức đã tuyên bố bế mạc, nhưng mọi người vẫn chưa muốn ra về, muốn ở lại để thăm hỏi chuyện trò thân mật với Bác. Nhưng Ban Tổ chức sợ Bác mệt, nên yêu cầu mọi người để Bác về nghỉ.
Ba giờ chiều, theo chương trình, Bác đến thăm Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu 9. Trước khi bước vào nhà khách, Bác được sự tiếp đón và hướng dẫn của đồng chí Thiếu tướng Phạm Ngọc Hưng, Tư lệnh Quân khu đi duyệt đội danh dự. Sau khi Bác đã ngồi xuống, đồng chí Tư lệnh Quân khu giới thiệu các đồng chí trong Đảng uỷ và Bộ Tư lệnh Quân khu, các đại diện cơ quan, binh chủng và thay mặt cán bộ, chiến sĩ nói mấy lời chào mừng Bác. Đặc biệt, lực lượng vũ trang Quân khu 9 rất vinh dự được đón Bác đến thăm. Ở đây, Bác không phát biểu mà như một người cha ân cần hỏi thăm về tình hình bộ đội và đời sống vật chất, tinh thần, về sức khoẻ, ăn uống, học hành, luyện tập, về các chế độ chính sách. Sau khi nghe xong, thấy mọi mặt chế độ chính sách, đời sống vật chất bộ đội tuy còn khó khăn, nhưng được cải thiện hơn trước nhiều, Bác rất vui. Tuy vậy, Bác vẫn ân cần nhắc nhở, nhất là cần quan tâm hơn nữa đối với thương bệnh binh, gia đình thương binh, liệt sĩ; đời sống vật chất và tinh thần của cán bộ chiến sĩ, đặc biệt là phải quan tâm bồi dưỡng, nâng cao trình độ văn hoá để có thể tiếp thu các tiến bộ khoa học - kỹ thuật, đi đào tạo tại các trường và học viện quân sự trong và ngoài nước, để xây dựng quân đội ta thành quân đội chính quy, từng bước hiện đại, không ngừng nâng cao cảnh giác để củng cố an ninh quốc phòng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Những lời tâm tình ân cần của Bác thấm sâu vào trái tim, khối óc của mọi cán bộ, chiến sĩ có mặt. Cuộc trò chuyện với Bác kéo dài tới gần 5 giờ mới kết thúc.
Tám giờ sáng ngày 5-12-1975, Thường vụ Khu uỷ đưa Bác về thăm tỉnh An Giang. 9 giờ 30 phút, chúng tôi đến trụ sở Tỉnh uỷ An Giang. Ở đây các đồng chí Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh, đại diện Mặt trận Tổ quốc và các ban, ngành, đoàn thể đã tề tựu đông đủ để đón Bác. Đồng chí Nguyễn Việt Thắng, Bí thư Tỉnh uỷ, các đồng chí Nguyễn Đáng, Nguyễn Văn Hơn - Phó Bí thư Tỉnh uỷ, nữ đồng chí Thuỳ Nga, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ và nhiều đồng chí đã ra xe chào Bác và đón Bác vào trụ sở Tỉnh uỷ. Bác xuống xe bước vào nhà, Bác rất xúc động, vì sau mấy chục năm xa cách, nay Bác mới trở về quê cha đất tổ trong hoàn cảnh độc lập, tự do, mà khi ra đi Bác còn là người công nhân làm thuê và người dân mất nước.
Sau khi giới thiệu các đồng chí có mặt và lời chào mừng vắn tắt của đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Nguyễn Việt Thắng, Bác đề nghị: cũng như ở Quân khu 9, để Bác hỏi thăm tình hình một số mặt của tỉnh An Giang từ sau giải phóng đến nay. Bác nói: lâu ngày không gặp, chúng ta để chút thì giờ quý báu này cùng nhau trao đổi vừa để nắm tình hình, vừa trao đổi những công việc phải làm sắp tới. Trước hết Bác hỏi về đời sống mọi mặt của nhân dân trong tỉnh bây giờ so với lúc còn chiến tranh có những gì tiến bộ hơn, nhất là đời sống của đồng bào Khmer, đồng bào theo đạo Hoà Hảo. Bác rất mừng, tuy đời sống đồng bào còn khó khăn, nhưng so với lúc còn chiến tranh đã đỡ hơn nhiều vì không còn nạn càn quét bắn phá,vụ Đông Xuân khá; các cháu học sinh đa số đều được cắp sách đến trường; việc sản xuất, làm ăn buôn bán đã bắt đầu khôi phục và phát triển. Bác lại hỏi việc tập hợp quần chúng vào các đoàn thể vào Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; việc hoạt động của Mặt trận và các đoàn thể, Bác rất vui khi nghe báo cáo là Đảng bộ rất quan tâm đẩy mạnh củng cố và phát triển các đoàn thể quần chúng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, khối đoàn kết toàn dân đã có bước được củng cố. Đến đây Bác góp ý: Dân là nền tảng sức mạnh của cách mạng, nên phải không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, tập hợp nhân dân trong các đoàn thể, trong Mặt trận, đẩy mạnh hoạt động của các đoàn thể và Mặt trận. Bác hỏi về tổ chức và hoạt động của Tỉnh uỷ, của các cấp uỷ, huyện, xã, nhất là hoạt động của các chi bộ cơ sở, việc phát triển Đảng trong công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, trong đồng bào dân tộc và các tôn giáo, đặc biệt là phát triển đảng viên ở vùng tạm bị chiếm, như vùng Khmer, vùng Hoà Hảo. Bác rất mừng khi nghe báo cáo các cấp uỷ Đảng từ Tỉnh uỷ đến cơ sở nói chung là hoạt động tốt, đã quan tâm phát triển Đảng trong thanh niên, phụ nữ, trong công nhân, nông dân; Trường Chính trị của Đảng ở tỉnh liên tục mở các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên.
Cuộc trò chuyện giữa Bác và các cán bộ của tỉnh kết thúc vào lúc hơn 11 giờ để Bác nghỉ dùng cơm trưa.
Trong 2 ngày ở An Giang, Thường vụ Tỉnh uỷ phân công nữ đồng chí Thùy Nga, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, chăm lo cho Bác.
Tám giờ sáng ngày 6-12-1975, Tỉnh uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh An Giang và chúng tôi đưa Bác về thăm Cù lao Ông Hổ, nơi Bác sinh ra và lớn lên. Cùng đi xe với Bác có nữ đồng chí Thùy Nga, khi qua cầu Hoàng Diệu, Bác nói với đồng chí Thùy Nga, khi Bác còn đi học, đây là cây cầu sắt lót ván, bây giờ là cây cầu xi măng vĩnh cửu thật tốt quá. Khi xuống tới bến tàu để đi tàu qua Cù lao Ông Hổ, Bác nói: "Bến tàu này trước kia nó hẳm chớ không lài như bây giờ". Khi tàu của Bác và tàu của chúng tôi cập bến ở Cù lao Ông Hổ, bác Tư em ruột của Bác, các con cháu trong gia đình ùa xuống bến tàu để chào mừng Bác. Thật rất xúc động trước cảnh anh em gặp nhau, con cháu gặp lại ông sau mấy chục năm xa cách. Mọi người cứ đứng ở bến tàu trò chuyện, sau đó chúng tôi phải nhắc và mời Bác vô nhà. Ngôi nhà của Bác là nhà sàn, nên phải có cầu thang để lên. Bác bước lên một số bậc, rồi ngồi xuống và nói với nữ đồng chí Thùy Nga và chúng tôi. Hồi còn nhỏ, đi học về tôi thích ngồi ở các bậc này để nghỉ, hít thở không khí trong lành, trước khi bước lên nhà. Tôi còn nhớ, lúc tôi đã đi hoạt động cách mạng, có một lần tôi về nhà lúc gần tối tôi cũng ngồi ở bậc này, không ngờ có một tên chỉ điểm đi ngang nhìn thấy tôi. Tôi vội vàng phải đi ngay, chỉ kịp từ giã vợ tôi rồi đi đến nay mấy chục năm mới trở về để ngồi trên các bậc này một cách công khai. Bác ngồi đã lâu, bác Tư mời Bác và chúng tôi vào nhà. Vào tới nhà Bác tiếp tục hỏi thăm từng cháu đến thăm Bác để biết nó là con ai và kêu Bác bằng gì. Sau đó, Bác kêu bác Tư đốt nhang để Bác ra viếng mộ của ông, bà thân sinh ra Bác xây trên gò đất sau nhà. Trưa đó Bác và chúng tôi cùng gia đình, con cháu ăn bữa cơm gia đình thân mật tại nhà bác Tư.
Đến 3 giờ chiều, Bác và chúng tôi trở về thành phố Long Xuyên. Tám giờ ngày 7-12-1975, chúng tôi đưa bác về Cần Thơ và từ đó Bác chia tay chúng tôi lên máy bay.
Tiễn Bác về, lòng tôi vô cùng lưu luyến. Tôi cứ nuối tiếp mãi: Phải chi Bác Hồ còn sống cùng Bác Tôn về thăm miền Nam thì niềm vui trọn vẹn biết mấy!.
Về Bác Tôn, tôi có những suy nghĩ khi còn là thuỷ thủ trên chiến hạm của Pháp bị điều đến Biển Đen để can thiệp vào cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, hòng bóp chết Chính quyền Xôviết còn non trẻ của bè lũ đế quốc. Bác đã kiên cường, dũng cảm kéo lá cờ phản chiến lên chiến hạm France; khi bị địch bắt, Bác đã kiên trung, bất khuất trước mọi âm mưu, thủ đoạn, mua chuộc thâm độc, những cực hình tra tấn dã man nơi "địa ngục trần gian" trong Hầm xay lúa ở Côn Đảo.
Khi đã trở thành vị lãnh tụ của Đảng và nhân dân ta, Bác vẫn rất khiêm tốn, giản dị, luôn quan tâm lo lắng cho mọi người, nhưng Bác muốn tự mình làm mọi công việc của mình, ít chịu để ai giúp đỡ. Đó là tính cách rất đặc biệt mà tôi học tập ở Bác ngay trong mấy ngày ngắn ngủi được ở gần Bác.
Tôi xin viết lại những kỷ niệm này để tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ Bác.
_______________
* Nguyên Uỷ viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng.
TÔI HỌC ĐƯỢC Ở BÁC TÔN NHIỀU ĐIỀU (1) BẢO ĐỊNH GIANG*
TRÊN BIỂN ĐEN
Nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Xí nghiệp Ba Son có tổ chức cuộc họp mặt truyền thống. Ngoài đông đảo công nhân đến dự hàng ghế trên cùng, tôi thấy có đồng chí Nguyễn Văn Linh, Cố vấn Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Trung tướng Nguyên Thới Bưng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng từ Hà Nội vào và một số các vị khác.
Đối với tôi đây là cuộc vui lớn bởi tính chất đặc biệt của nó.
Nếu kể từ khi thực dân xâm lược Pháp đổ bộ lớn đất Gia Định đến nay đã trải qua 136 năm, từ những ngày tháng ít ỏi được tự do sau Cách mạng Tháng Tám thành công. Từ đó về sau, Nam Bộ và cả nước đã chìm ngập trong ao tù nô lệ mà kẻ gây ra thảm họa ấy đều là các đế quốc sừng sỏ, vừa giàu có, vừa có tiềm lực quân sự mạnh nhất thế giới.
Với tinh thần "Thà chết không hàng" và với đạo lý "Hễ làm người chẳng ở hai lòng, đã vì nước vì nước phải theo một phía", ông cha ta có người tự đứng lên hoặc suy tôn cầm đầu nghĩa quân, ở địa phương này hay địa phương khác đều lần lượt hy sinh giữa trận mạc hoặc bị lên máy chém của quân thù. Trương Định, Nguyễn Hữu Huân, Nguyễn Trung Trực ở Nam bộ; Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám ở miền Trung, miền Bắc trước sau đều sa cơ, thất thế trước các cuộc tấn công như vũ bão và mưu mô xảo quyệt của quân thù.
Chúng ta vui mừng ngày Đại thắng 30 tháng 4 năm 1975, nhưng phải ý thức được với cái giá phải trả là rất đắt: hàng triệu người nằm xuống cho nhân dân ta thoát khỏi gông cùm. "Không có gì quý đơn độc lập, tự do” là lẽ sống, là chân lý, luân thường của mọi tầng lớp nhân dân, buộc chúng ta phải chấp nhận tất cả mọi khổ đau, thách thức. Tên của vị lãnh tụ tối cao, nhà yêu nước vĩ đại Hồ Chí Minh gắn liền với chiến dịch mùa xuân là cả một quyết tâm, một lời thề trước Bác kính yêu, không có sức mạnh nào ngăn cản được. Chúng ta mừng ngày giải phóng miền Nam. Với ngày vui này, cộng thêm nỗi vui trăm năm hy vọng, đợi chờ, với ý nghĩa đó chúng ta đồng thời cũng mừng sau 136 năm đất nước được hoàn toàn giải phóng, non sông liền một dải. Với kỳ tích có một không hai ấy không những chúng ta vô cùng phấn khởi mà nhiều thế hệ đã khuất vắng cũng thoả linh hồn.
Chúng ta đang sống trong cảnh thanh bình, có cơm ăn, áo mặc, con cháu được học hành và nền kinh tế ngày càng phát triển, được năm châu khen ngợi. Và càng được ca ngợi bao nhiêu, chúng ta càng biết ơn những thế hệ đi trước, những người mở đường cho chúng ta tiến lên.
Bác Hồ kính yêu của chúng ta với lòng yêu nước thiết tha, vào năm 1911 đã ra đi từ Bến Nhà Rồng với bao hy sinh, chịu bao cay đắng để tìm đường cứu nước. Cuối cùng, tấm lòng son ấy đã gặp được Luận cương của Lênin như tìm thấy chân lý cách mạng đánh thức cả một dân tộc, làm rung chuyển và sụp đổ cả một chế độ lỗi thời, đưa đất nước của Người, với đôi hài vạn dặm, làm cách mạng tiến lên làm thay đổi hẳn bộ mặt của đất nước.
Từ Nhà máy Ba Son, bọn thống trị đã đưa một người thợ mang tên Tôn Đức Thắng sang Pháp làm cho xưởng Arsénal de Toulon, xưởng chính của Ba Son ở Pháp và sau đó trở thành người lính thợ trên chiến hạm France của Pháp. Chiến hạm này là một chiến hạm lớn chứa gần 1.500 binh sĩ, trang bị đầy đủ súng ống để cùng các nước các bao vây, dìm chết cách mạng Nga. Chuyện về người thợ lính Việt Nam lúc bấy giờ ít ai biết đến tên tuổi, họ Tôn, đã làm mọi người ngạc nhiên. Trên chiến hạm này, con người không ai chú ý ấy đã kéo lá cờ đỏ phản chiến ở Biển Đen, tỏ thái độ kiên quyết ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga - một cuộc cách mạng của người cùng giai cấp. Với trái tim son và ngọn cờ đỏ được kéo lên cao này, không hẹn, Bác Hồ vĩ đại và Bác Tôn kính yêu đã gặp nhau trong một quyết tâm đi đến với Lênin tới cùng, bất chấp những hậu quả xảy đến cho bản thân.
Tại cuộc mít tinh ở Nhà máy Ba Son kỷ niệm ngày chiến thắng 30 tháng 4 và ngày Lao động Quốc tế 1-5, tôi xúc động được nghe kể chuyện và lần đầu tiên được nhìn tận mắt chiếc chiến hạm France.
Khi ra về tôi còn nhớ lời nói chí tình, chí nghĩa của đồng chí Nguyễn Văn Linh về Bác Tôn và thấy hình ảnh chiếc chiến hạm nơi Bác Tôi đã kéo ngọn cờ đỏ phản chiến ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga hiện lên trong ký ức.
NHỮNG BÀI HỌC
Do yêu cầu hoàn thành sớm tác phẩm nên nhà văn Đoàn Giỏi lui tới nhà Bác Tôn nhiều lần hơn tôi. Nhà văn Đoàn Giỏi đến hàng tuần vào ngày chủ nhật, còn tôi mỗi tháng, có khi hai, ba tháng đến một lần. Chúng tôi đến nhà vị Phó Chủ tịch và sau đó là Chủ tịch nước như về nhà cha mẹ. Có những lần Bác Tôn bận tiếp khách thì chúng tôi nói chuyện với Bác Tôn gái trong không khí đầm ấm và rất tự nhiên. Chính Bác Tôn gái là người kể cho chúng tôi nghe những điều rất hay, rất cảm động về Bác Tôn mà Bác Tôn không nói khi Đoàn Giỏi hỏi, bởi Bác không thích nói về mình. Qua các lời kể về Bác Tôn những năm bị lưu đày ở Côn Đảo, và những đồng chí khác, cùng bị đế quốc giam giữ trước hoặc sau Bác Tôn như đồng chí Hoàng Văn Lợi (nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao) đã cung cấp cho chúng tôi những mẩu chuyện quý về Bác Tôn. Để thẩm định về những mẩu chuyện này, chúng tôi có hỏi lại Bác Tôn cho rõ nhưng Bác Tôn chỉ trả lời một câu ngắn ngủi: "Tình hình của đất nước buộc mình phải vậy, chớ còn cách nào".
Qua những lần tiếp xúc, bài học đầu tiên mà chúng tôi nhận được ở Bác Tôn là đức tính rất mực khiêm tốn. Tinh thần dũng cảm vô song, đi đôi với đức tính khiêm tốn một cách khác thường mà ai cũng rõ, khiến mọi lời nói của Bác Tôn trở thành những lời nói có giá trị to lớn.
Bình dị, thân mật rất dễ gần gũi và đôi khi hay nói đùa với con, cháu cũng là một đặc tính của Bác Tôn. Khi đoàn nhà văn thuộc Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam ra thăm miền Bắc, tôi có đưa các anh Phan Tứ, Trần Đình Vân đến thăm Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khi ấy Bác Tôn là Chủ tịch nước. Ngoài việc hỏi thăm tình hình hoạt động của giới văn nghệ, sức khoẻ của anh chị em lên chiến trường đầy gian khổ v.v.., trước khi tiễn anh em ra về, Bác Tôn hỏi đùa: "Các cháu ra ngoài này có lãnh phiếu gạo chưa? Bác hàng tháng cũng lãnh phiếu gạo. Cái cần có ưu tiên là phiếu gạo. Không như ở Nam Bộ đâu. Bác còn nhớ ngày xưa ở Nam Bộ, có người quanh năm chỉ sống bằng "nghề" đi ăn giỗ. Anh ta đến đám giỗ trong làng làm bất cứ việc gì, bổ củi, dọn bàn đều lăn xả vào làm và sau giỗ anh ta còn ở lại cả ngày giúp chủ nhà dọn dẹp. Do đón, khi có đám giỗ, nhà nào cũng muốn anh ta đến cho vui...".
Bác Tôn nói như thế, chớ Bác thừa biết ở K.5 của Ban Thống nhất các đồng chí ở đấy lo rất chu đáo mỗi khi cán bộ miền Nam ra Hà Nội thăm viếng hoặc dưỡng bệnh.
Khoảng năm 1973, Đoàn Ca múa nhạc Quân giải phóng miền Nam ra Hà Nội để chuẩn bị đi thăm và biểu diễn ở nhiều nước. Bác đón đoàn tại Phủ Chủ tịch, đồng chí Lê Quang Đạo và Trần Văn Phác cũng được mời đến dự. Sau khi chúc sức khoẻ Bác Tôn, nhạc sĩ Xuân Hồng, Trưởng đoàn hứa với Bác Tôn, trong thời gian đoàn còn lưu lại Hà Nội, đoàn quyết tâm tập luyện tốt để Đoàn Ca múa nhạc Quân giải phóng hoàn thành tốt nhiệm vụ vẻ vang về chuyến đi lịch sử này. Bác Tôn ôn tồn nói với đoàn: "Việc quân dân miền Nam đánh giặc Mỹ từng bước thắng lợi, chiến công vang dội năm châu. Dù tốn bao nhiêu xương máu, nhưng thắng lợi cuối cùng chắc chắn thuộc về ta như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói trước khi Người qua đời. Các cháu là văn nghệ sĩ lớn lên từ chiến trường, lớn lên từ quân đội với danh nghĩa Đoàn Ca múa nhạc Quân giải phóng, các cháu phải nỗ lực gấp bội để xứng danh là đoàn ca múa đội mũ tai bèo, không những đem lại lời ca, điệu múa hay đến các nước bạn mà còn phải khiêm tốn học hỏi những điều bổ ích ở bạn bè các nơi đoàn đến. Dù đoàn biểu diễn tốt tới đâu, nhưng phải thấy trình độ chuyên môn mình có hạn. Có khi người ta quý mình, trước hết bởi cái nón của mình đang đội, bởi bộ quân phục mà mình đang mặc. Do vậy, sau một lần biểu diễn phải rút kinh nghiệm cái gì được, cái gì không được; về sinh hoạt cũng vậy phải giữ kỷ luật chặt chẽ, ăn ở đàng hoàng không để điều gì đáng tiếc xảy ra ...".
Đoàn Ca múa nhạc Quân giải phóng rất cảm động về cuộc tiếp đón và những lời dặn dò ân cần của Bác Tôn. Chúng tôi coi những lời Bác Tôn là những lời của một người cha dạy bảo con cháu, quyết không phụ lòng Bác Tôn mong đợi. Và đúng như dự kiến, đoàn đã hoạt động ở nhiều nước và mang về nước những thành quả vượt ngoài ý nghĩ của mọi người.
Tôi thấy cần thuật lại cuộc tiếp xúc giữa phóng viên Thông tấn xã Liên Xô với Bác Tôn gái ở Sầm Sơn. Phụ trách công tác tuyên huấn trong Ban đón tiếp, một buổi sáng trong khi chuyến tàu Ba Lan đưa Bác Tôn gái lên bến, tôi hướng dẫn đồng chí phóng viên này đến thăm Bác Tôn gái. Với dáng dấp một người phụ nữ trông như một nông dân ở Đồng bằng Sông Cửu Long, vẻ mặt rất chất phác, trung hậu, suốt một tiếng đồng hồ trong cuộc gặp gỡ này Bác Tôn gái đã trả lời những câu hỏi của phóng viên Thông tấn xã Liên xô thật sự ấn tượng, nhất là câu hỏi và câu trả lời sau đây: "Bà từ khi lấy chồng, thời gian ăn ở với nhau được bao nhiêu năm, tháng?". Bác Tôn gái đáp: "Tôi không nhớ kỹ là bao nhiêu năm, tháng, nhưng không mấy khi ông nhà tôi sống lâu bên cạnh tôi. Ông hay đi hoạt động, mỗi lần ông bị bắt, tôi đến khám giam thăm ông mới gặp mặt được ông. Tôi mừng được gặp ông, nhưng rất buồn vì ông bị "tù tội".
Trước khi tạm biệt nơi ở của Bác Tôn gái, phóng viên Thông tấn xã Liên Xô và tôi ra về, anh ta nói với tôi: "Nước Việt Nam của các anh có những người phụ nữ như bà Tôn Đức Thắng luôn luôn đặt sự nghiệp của chồng lên trên hết, và có tấm lòng sắt son, chung thuỷ với chồng, không làm vướng bận chồng trên đường hoạt động cách mạng. Và cũng trên mảnh đất anh hùng này, đã sản sinh ra những con người kiên cường, bất khuất chống đế quốc tới cùng, không sợ đầu rơi, máu chảy như đồng chí Tôn Đức Thắng thì việc giành được độc lập, tự do cho xứ sở mình là điều cầm chắc, không nghi ngờ gì nữa".
Tại cuộc míttinh ở Xí nghiệp Liên hiệp Ba Son kỷ niệm ngày chiến thắng 30 tháng 4 lần thứ 20 và ngày Lao động Quốc tế 1 - 5, tôi xúc động được nghe kể chuyện và lần đầu tiên được nhìn tận mắt chiếc chiến hạm France, do đồng chí Tổng Giám đốc Ngô Minh Long, sưu tầm ở kho lưu trữ của Pháp mang về.
Vì bận, đồng chí Nguyễn Văn Linh, nguyên Tổng Bí thư Trung ương Đảng cáo lỗi ra về sau khi phát biểu một số ý kiến ngắn trước phút tạm biệt.
Đồng chí Nguyễn Văn Linh nói đại ý: "Trong nhà tù Côn Đảo mà Bác Tôn bị giam cầm nhiều năm, lúc ấy tôi cũng bị thực dân Pháp đày ải ra đó khi mới 16, 17 tuổi. Nhiều lần làm phu sai, tạp dịch bên cạnh Bác Tôn, tôi học được ở Bác Tôn nhiều điều. Chính Bác Tôn đã nâng đỡ tinh thần tôi, củng cố quyết tâm của tôi đối với cách mạng. Các gương sáng về lòng kiên trung, chung thuỷ; đặc tính kiên cường và dũng cảm của Bác Tôn khiến tôi và các đồng chí khác đều kính phục. Tất cả điều tôi học được ấy vẫn sống mãi trong tôi cho đến ngày nay. Xí nghiệp Liên hiệp Ba Son rất vinh sự và tự hào về Bác Tôn của chúng ta. Chúng ta đã gặt hái trong những năm qua được nhiều kết quả mà ai cũng biết. Với đà này và với truyền thống cao cả này, gia tài tinh thần quý báu mà Bác Tôn đã để lại cho đất nước, nhân dân nói chung, Xí nghiệp Liên hiệp Ba Son nói riêng, bằng sức lao động chân tay và trí óc của mình, với các trang thiết bị ngày càng đổi mới, các đồng chí sẽ gặt hái kết quả ngày càng lớn hơn nữa trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xứng đáng với công lao, sự nghiệp mà Bác Tôn đã để lại cho chúng ta".
Lịch sử sẽ không lặp lại sự kiện khác thường năm ấy của các thuỷ thủ chiến hạm France ở Biển Đen, nhưng là những con cháu hiếu, trung của Bác Hồ và Bác Tôn trong thời kỳ đổi mới, chúng ta quyết tâm thực hiện lời của Bác trước khi Người đi xa. Việt Nam ta chắc chắn sẽ xuất hiện những hành động cao quý từ những con người cao quý. Và không nghi ngờ gì nữa họ sẽ là những người tiếp tục sự nghiệp vẻ vang đang noi theo những gương sáng của những người đi trước để lại.
Tôi nhìn về tương lai đất nước với đôi mắt đầy tin tưởng.
BÀI HỌC THỦY CHUNG
Cần lao như bác thợ già
Chí mươi hai, và thiết tha việc đời.
Mênh mông như biển như trời
Một câu Bác gửi, một lời Bác trao.
Ra đi buổi ấy năm nào
Tóc xanh như thở bạc đầu, Bác đây!
Quây quần con cháu vui vầy
Bác về xưởng cũ cầm tay từng người.
Lòng xưa bổi hổi, bồi hồi
Cù lao nho nhỏ khoảng trời rộng thênh.
Nhớ ngày bèo nước tênh đênh
Xóm thôn tăm tối, gập ghềnh lối đi.
Dẫu còn mái lá, kèo tre
Bác Tôn về đến làng quê sáng trời.
Bác ơi! khôn xiết ngậm ngùi
Tin... vang đầu ngõ rụng rời tay chân.
Mong ngày Bác lại về thăm
Vườn xoài quả chín, dâu tằm lá xanh.
Là ông, là bác, là anh
Cho đời tất cả, cho mình bao nhiêu.
Miền Nam thương nhớ Bác nhiều
Bác đi để lại gương treo giữa đời.
Gian truân mắt Bác vẫn cười
Đường xa gánh nặng vì người mai sau.
Chúng con rõ hướng về đâu
Ơn xưa ai dắt qua cầu mãi ghi...
Kẻ thù ngăn trở vẫn đi
Bên kia cá mập, sói bầy chớ mong.
Chúng con nguyện giữ một lòng
Noi theo bài học kiên trung của Người.
Ngay 1-4-1980
__________
1. Đầu đề do Ban biên tập chọn đặt (B.T).
2. Nhà thơ, nguyên Phó Chủ tịch Uỷ ban toàn quốc các Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam.
Tôn Đức Thắng – Từ người công nhân yêu nước trở thành chiến sĩ cộng sản NGUYỄN THỊ CHINH*
Sinh ra và lớn lên ở vùng sông nước An Giang giàu truyền thống yêu nước và cách mạng. Những tấm gương bất khuất của biết bao nhà yêu nước trước đó như Trương Định, Nguyễn Trung Trực, thủ khoa Huân, Thiên Hộ Dương... cùng với những cuộc chiến đấu ngoan cường chống Pháp của các nghĩa quân trên khắp mọi miền đất nước từ Nam đến Bắc, từ miền xuôi tới miền ngược đã sớm hun đúc, bồi đắp lòng yêu nước, thương dân trong tâm trí của người thanh niên Tôn Đức Thắng. Bằng lòng yêu nước, thương dân, Tôn Đức Thắng suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng không biết mệt mỏi và Người đã sớm gia nhập hàng ngũ của giai cấp công nhân. Bước chuyển biến lịch sử đó là một trong những đảm bảo để sau đó, từ một công nhân yêu nước, Tôn Đức Thắng trở thành chiến sĩ cộng sản kiên cường.
Chính những năm tháng đầu tiên khi rời gia đình lên Sài Gòn học nghề thợ máy, Tôn Đức Thắng đã sớm tiếp cận với giai cấp công nhân. Tuy chỉ là thợ học việc nhưng trước sự bất công của bọn chủ, Tôn Đức Thắng đã vận động anh em bỏ học (1909). Năm 1910, đồng chí vào làm ở xưởng Kroff, thuộc Sở kiến trúc cầu đường và nhà ở Sài Gòn. Tại đây, một lần nữa, đồng chí đã tổ chức công nhân đấu tranh chống lại chủ cúp lương, đánh đập thợ vô lý. Sau đó, đồng chí vào học Trường cơ khí châu Á ở Sài Gòn - trường duy nhất đào tạo thợ máy tàu thủy của Pháp ở Đông Dương. Sau khi học xong, đồng chí Tôn Đức Thắng vào làm việc tại xưởng Ba Son. Đây là một xưởng tàu của Hải quân Pháp, nơi tập trung nhiều công nhân và cũng là nơi có nhiều công nhân trình độ kỹ thuật cao. Năm 1912, đồng chí tham gia lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son và vận động học sinh Trường Bách nghệ Sài Gòn bãi khoá. Những cuộc đấu tranh đó của giai cấp công nhân đã giành được thắng lợi ở chừng mực nhất định và quan trọng hơn, qua thực tiễn đấu tranh, những người thợ ý thức rõ hơn sức mạnh của mình với tư cách là một đoàn thể, một giai cấp cần lao... Là một trong số những người tổ chức những cuộc bãi công của công nhân, đồng chí nhận thức sâu sắc rằng: bãi công dạy cho công nhân biết đoàn kết với nhau, nó chỉ cho công nhân thấy rằng chỉ có cùng nhau chung sức lại mới có thể cùng nhau chống bọn tư bản thực dân được.
Bấy giờ, thực dân Pháp điên cuồng dùng nhiều biện pháp để dập tắt phong trào đấu tranh yêu nước và truy lùng những người lãnh đạo cuộc bãi công. Để tránh sự truy lùng của thực dân Pháp, cuối năm 1912, đồng chí Tôn Đức Thắng tìm đường ra nước ngoài. Sau này, đồng chí kể lại, lúc đó đã phải cải trang và thay đổi họ tên, trốn lên tàu thủy La Coóc đi qua một số nước rồi đến Pháp.
Ở Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng vào làm thợ máy tại Toulon - quân cảng ở miền Nam nước Pháp. Được sống, làm việc với những người lao động Pháp, gần gũi với nhiều người thuộc các tầng lớp trong xã hội, thuộc các dân tộc, cùng cảnh ngộ mất nước phải làm thuê nơi "đất khách quê người" đồng chí càng nhận rõ bản chất xâm lược, bóc lột của chủ nghĩa tư bản và càng nung nấu ý chí quyết tâm đấu tranh cách mạng.
Cùng với việc tham gia vận động thủy thủ Pháp đấu tranh chống tệ phân biệt chủng tộc, phân biệt giữa binh lính và sĩ quan Pháp, đồng chí còn thường xuyên liên lạc với công nhân Pháp qua các tổ chức đoàn thể để hoạt động. Đồng chí là một trong những công dân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào của giai cấp công nhân Pháp và học hỏi được nhiều kinh nghiệm quý báu từ đó.
Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Là người thợ máy có tay nghề cao, ngày 9-10-1916, Tôn Đức Thắng bị động viên phục vụ chiến hạm France, thuộc hạm đội hải quân Pháp. Tôn Đức Thắng là người Việt Nam duy nhất ở trên chiến hạm này. Ngày 16-4-1919, mặc dù chiến tranh thế giới đã kết thúc, chính quyền Pháp vẫn điều động 5 chiến hạm tiến vào Biển Đen tấn công Xêvatxtôpôn. Đây là hành động trong khuôn khổ cuộc can thiệp của 14 nước đế quốc hòng bóp chết Nhà nước Xô viết, nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới. Ngày 20-4-1919, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng anh em binh lính trong chiến hạm France dũng cảm đứng lên phản chiến. Đồng chí được giao nhiệm vụ kéo lá cờ đỏ lên nóc chiếm hạm France. Bằng hành động đó, đồng chí Tôn Đức Thắng là người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga. Đồng chí đã mang lại vinh dự cho giai cấp công nhân Việt Nam, cho dân tộc Việt Nam một tinh thần quốc tế cao cả. Nhưng theo đồng chí, bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân, được tham gia trong những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen thì chắc chắn cũng hành động như vậy, bởi yêu Tổ quốc mình và căm thù đế quốc đang giày xéo quê hương mình cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại cuộc cách mạng đó.
Sau cuộc binh biến, anh em binh lính tham gia phản chiến bị Chính phủ Pháp bắt. Đồng chí Tôn Đức Thắng buộc phải rời nước Pháp về Sài Gòn (1920). Là người trực tiếp tham gia phong trào bãi công và phản chiến của công nhân Pháp và chịu ảnh hưởng của phong trào đó đang phát triển từ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, biết rõ những thủ đoạn của bọn thực dân, đồng chí không chịu trở lại làm việc tại Trường Bách nghệ theo yêu cầu của giới chủ Pháp. Để tránh khỏi vòng kiểm soát gắt gao của thực dân và để tiện liên lạc với các xí nghiệp, nhà máy trong thành phố, đồng chí đã cùng một số cộng sự lập ra một cơ sở chữa xe hơi Phú Nhuận.
Lúc này, thực dân Pháp đang tiến hành chương trình khai thác thuộc địa lần thứ hai. Nhiều nhà máy được mở rộng và xây dựng mới nên đội ngũ công nhân thành phố đông đảo thêm lên. Một vấn đề đặt ra với phong trào công nhân Sài Gòn lúc bấy giờ là cần phải có tổ chức của chính giai cấp mình. "Qua từng bước đấu tranh, người công nhân thành phố nhận thức được rằng phải có tổ chức thì mới có sức mạnh. Đồng chí Tôn Đức Thắng người công nhân có uy tín ở thành phố đã đứng ra làm việc đó"1.
Với lòng nhiệt tình cách mạng, năm 1920, đồng chí đã dần đoàn kết được lực lượng đông đảo công nhân ở Sài Gòn hoạt động trong Công hội bí mật do chính đồng chí tổ chức ra. Đây là tổ chức công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Ra đời trong hoàn cảnh chưa có Đảng của giai cấp công nhân lãnh đạo nên dễ hiểu vì sao Công hội bí mật chưa có đường lối và điều lệ rõ ràng. Nhiệm vụ chủ yếu của tổ chức này lúc bấy giờ là đoàn kết giai cấp công nhân, đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân và nhân dân lao động, chống áp bức, bóc lột, chống bất công. Dù chưa thật sự là một tổ chức cách mạng và quy mô quả thật còn nhỏ bé, nhưng đối với phong trào cách mạng Việt Nam, sự ra đời của Công hội bí mật có ý nghĩa chính trị đặc biệt quan trọng. Nó đánh dấu thời kỳ mới, thời kỳ mà giai cấp công nhân Việt Nam có ý thức về sức mạnh của giai cấp mình; tập hợp được lực lượng cách mạng chủ yếu của thời đại, từng bước đưa giai cấp công nhân bước lên vũ đài chính trị.
Trên thực tế, nhờ những hoạt động không biết mệt mỏi của Tôn Đức Thắng và nhóm trung kiên, từ năm 1920 đến 1925, Công hội bí mật đã phát triển được 300 hội viên, khắp Sài Gòn - Chợ Lớn đều có cơ sở của Công hội. Sự hoạt động của Công hội bí mật là sự đảm bảo cho phong trào đấu tranh của công nhân, thợ thủ công Sài Gòn - Chợ Lớn phát triển mà tiêu biểu là cuộc bãi công của những người thợ Nhà máy Ba Son năm 1925. Nhằm kéo dài thời gian sửa chữa tàu chiến của hạm đội Pháp đưa sang đàn áp phong trào cách mạng Trung Quốc, Công hội chủ động tìm mọi cách ngăn cản kế hoạch sửa chữa tàu. Ngày 4-8-1925, đúng vào ngày lĩnh lương, công nhân đóng máy, biểu tình phản đối bọn chủ phải giữ nguyên thời gian nghỉ sớm 30 phút để họ lĩnh lương. Khi bọn chủ đuổi một số công nhân ra khỏi xưởng, toàn thể công nhân bãi công nêu yêu sách: Đòi tăng lương đồng loạt 20%; đưa những người bị sa thải trở lại làm việc; giữ nguyên lệ cũ nghỉ từ 5 giờ chiều ngày lĩnh lương.
Công hội đã vận động công nhân, viên chức các công sở và các xưởng ở Sài Gòn, Chợ Lớn hưởng ứng cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son. Sự ủng hộ đó đã tiếp thêm sức mạnh, cổ vũ tinh thần đấu tranh của những người thợ Ba Son. Mặc dù bị giới chủ và nhà cầm quyền đe dọa, nhưng những người thợ Ba Son không hề nao núng mà còn đưa thêm yêu sách. Trước tinh thần đấu tranh kiên quyết của anh em công nhân, bị dư luận phản đối kịch liệt nên chúng phải nhượng bộ, chấp thuận những yêu sách của công nhân trong đó phải chịu tăng 10% lương. Từ mục tiêu kinh tế, cuộc bãi công đã nhằm tới mục tiêu chính trị là đoàn kết giai cấp vô sản trong nước, đồng thời là đoàn kết quốc tế. Và mãi 3 tháng sau con tàu mới xuất xưởng được. Cuộc bãi công đã có tiếng vang lớn trên diễn đàn quốc tế. Tại Đại hội Quốc tế cộng sản lần thứ VI (1928), đại biểu của Đông Dương phát biểu: Công nhân Ba Son không chịu sửa chữa tàu Michelet mà bọn đế quốc Pháp dùng để tàn sát nhân dân Trung Quốc. Như vậy, cuộc đấu tranh ở Ba Son là một biểu hiện cụ thể về trình độ giác ngộ chính trị, trình độ tổ chức, tinh thần quốc tế vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam cho đến thời điểm đó. Nó cũng cho thấy uy tín của Công hội và vai trò của người công nhân đầu đàn Tôn Đức Thắng trong việc đưa phong trào công nhân Việt Nam bước vào giai đoạn đấu tranh có tổ chức, giai đoạn phong trào công nhân đi dần lên trình độ tự giác...
Giữa những năm 20 của thế kỷ XX, tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thật sự lôi cuốn công nhân Việt Nam vào cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp. Cuối năm 1926, để thực hiện sứ mệnh "gieo mầm cộng sản" trong quần chúng nhân dân lao động và sẵn có tình cảm với giai cấp công nhân Việt Nam, sau khi kết thúc lớp huấn luyện đầu tiên ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc đã cử Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi về Sài Gòn hoạt động. Đầu năm 1927, nhóm này bắt liên lạc được với đồng chí Tôn Đức Thắng. Các đồng chí trong tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên nhận thấy Tôn Đức Thắng là người tiêu biểu cho giai cấp công nhân ở một nước thuộc địa có ý thức giai cấp đồng thời có ý thức dân tộc sâu rộng, có quyết tâm đấu tranh và kinh nghiệm vận động công nhân, có uy tín và ảnh hưởng trong quần chúng. Vốn có cảm tình sâu sắc với Cách mạng Tháng Mười, lại được rèn luyện trong phong trào công nhân, Tôn Đức Thắng hoàn toàn tán thành đường lối của Việt Nam Cách mạng Thanh niên- một tổ chức do Nguyên Ái Quốc sáng lập, có đường lối cách mạng mà Công hội và đồng chí đang cần. Việc tình nguyện gia nhập tổ chức Việt Nam Cách mạng Thanh niên là mốc đánh dấu bước chuyển biến về tư tưởng của Tôn Đức Thắng: từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản.
Hơn nữa, với những hoạt động tích cực của đồng chí, nhiều hội viên của Công hội được kết nạp vào Việt Nam Cách mạng Thanh niên và được gửi đến Quảng Châu học các lớp chính trị của Nguyễn Ái Quốc. Sau khi học xong, các đồng chí đó trở về Nam Kỳ hoạt động. Có thể nói rằng, vào thời kỳ đầu hình thành tổ chức cách mạng theo khuynh hướng vô sản tại Sài Gòn, những học trò của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã dựa vào Công hội của Tôn Đức Thắng để gây dựng và phát triển tổ chức của mình. Nói cách khác, Công hội Sài Gòn (những năm 1926-1927) thực sự là cơ sở của sự hình thành và phát triển tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, chẳng những tại Sài Gòn mà còn trên toàn xứ Nam Kỳ. Chính vì thế, đến năm 1927, Kỳ Bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên được thành lập.
Buổi đầu tham gia Kỳ Bộ gồm các đồng chí: Phan Trọng Bình, Nguyễn Văn Lợi, Tôn Đức Thắng, Ngô Thiêm, Nguyễn Văn Pháp,... Sau khi Kỳ Bộ Nam Kỳ ra đời, nhiều cơ sở lần lượt ra mắt. Tại Sài Gòn, Thành bộ cũng được thành lập do đồng chí Tôn Đức Thắng làm Bí thư. Đến năm 1929, toàn Nam Kỳ đã thành lập được 19 cơ sở chi bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Phong trào công nhân ngày càng phát triển, gắn liền với việc cơ sở Việt Nam cách mạng thanh niên tăng về số lượng (cả tổ chức và thành viên) trong giai cấp công nhân. Quá trình này gắn liền với công lao của đồng chí Tôn Đức Thắng, nhờ vậy mà chỉ trong một thời gian ngắn, Việt Nam Cách mạng Thanh niên kết nạp được một số công nhân ưu tú ở Sài Gòn uy tín và công sức của đồng chí Tôn Đức Thắng rõ ràng đã là một đảm bảo cho tổ chức này từ chỗ chỉ có giới học sinh, sinh viên, tiểu tư sản, trí thức tham gia đã có thêm thành phần công nhân.
Từ năm 1927, Kỳ Bộ Nam Kỳ bắt đầu nhận được báo Thanh niên và một số tài liệu khác như cuốn Đường Cách mệnh, cuốn ABC về chủ nghĩa cộng sản... Những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc và các tài liệu trên được dùng để bồi dưỡng chính trị cho các lớp hội viên mới kết nạp. Để tuyên truyền sâu rộng cho tổ chức của mình, Kỳ Bộ Nam Kỳ đã xuất bản Tạp chí Bônsêvích và báo Công nông binh, do Phạm Văn Đồng và Nguyễn Kim Cương phụ trách. Đầu năm 1929, để thực hiện chủ trương vô sản hoá, biến tư tưởng cách mạng mới thành một khuynh hướng chủ đạo, đẩy nhanh phong trào công nhân ở đây tiến lên những bước mới, Kỳ Bộ đã đưa những hội viên của mình vào hoạt động bí mật trong các nhà máy, xí nghiệp như các đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ngô Gia Tự, Phan Trọng Quảng... Từ đấu tranh cho các mục tiêu kinh tế, từ nay, giai cấp công nhân Việt Nam đã tiến lên đấu tranh nhằm các nục tiêu chính trị, và chính điều này đã là một trong những nhân tố đảm bảo cho giai cấp công nhân dần trở thành một lực lượng chính trị độc lập trong phong trào giải phóng dân tộc.
Dưới sự lãnh đạo của Kỳ Bộ Việt Nam Cách mạng Thanh niên, trong đó có sự đóng góp to lớn của đồng chí Tôn Đức Thắng, phong trào công nhân Nam Kỳ phát triển mạnh mẽ. Ngày 3-2-1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trên cơ sở hợp nhất 3 tổ chức cộng sản. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam là kết quả của quá trình hoạt động không mệt mỏi của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và những cộng sự của mình trong việc tiếp cận cũng như kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân ở Sài Gòn, quá trình đó diễn ra đầy thuận lợi là nhờ những hoạt động tích cực của Tôn Đức Thắng; Công hội là tổ chức đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong lịch sử phát triển của phong trào công nhân.
Cuối năm 1929, Tôn Đức Thắng và các đồng chí lãnh đạo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị thực dân Pháp bắt ở Sài Gòn và giam gần một năm ở Khám Lớn Sài Gòn. Tại đây với phẩm chất cao quý của người cộng sản, Tôn Đức Thắng, Phạm Văn Đồng cùng nhiều đồng chí khác được kết nạp vào An Nam Cộng sản Đảng. Đồng chí Tôn Đức Thắng là lớp công nhân công nghiệp đầu tiên của nước ta và cũng là lớp công nhân đầu tiên giác ngộ chủ nghĩa cộng sản. Đồng chí là một trong những người tích cực quyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin, tham gia cuộc vận động thành lập chính đảng của giai cấp công nhân ở Việt Nam. Trọn cuộc đời, người cộng sản Tôn Đức Thắng đã cống hiến toàn bộ tâm lực cho sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Đồng chí mãi mãi là một tấm gương sáng cho một thế hệ người Việt Nam yêu nước noi theo.
____________
* Tạp chí Lịch sử Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1. Sự truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin và các tổ chức cộng sản đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1980, tr.20-22.
Bác đi làm cách mạng vì thương người nghèo vì muốn giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ CÙ HUY CHỬ*
Tôi được gặp Bác Tôn vào cuối tháng 10 năm 1967. Đồng chí Phan Mỹ khi ấy là Bộ trưởng Phủ Thủ tướng và đồng chí Nguyễn Đình Khanh là Thứ trưởng Phủ Thủ tướng đến thăm Bác Tôn và các đồng chí gọi tôi đi cùng. Lúc đó tôi cũng đang công tác tại Phủ Thủ tưởng. Nói là đến thăm, nhưng thực ra là đồng chí Phan Mỹ và đồng chí Nguyễn Đình Khanh đến để chuẩn bị cho Bác Tôn dự lễ kỷ niệm 50 năm Cách mạng Tháng Mười Nga. Trong buổi lễ ấy, Bác Tôn sẽ đọc diễn văn khai mạc và nhân dịp kỷ niệm Cách mạng Tháng Mười, Bác có viết một bài đăng lên báo Nhân dân kể về sự kiện lịch sử Bác tham gia binh biến ở hạm đội của Pháp tại Biển Đen năm 1919.
Bác đã đón tiếp chúng tôi rất ân cần. Sau khi đã làm việc rất kỹ với Bác về những công việc trên, đồng chí Phan Mỹ và đồng chí Nguyễn Đình Khanh thân mật hỏi Bác về cuộc đời hoạt động cách mạng và đã được Bác trả lời một cách chân tình, giản dị. Bác nói vắn tắt như sau:
"Quê Bác ở Long Xuyên, ở Cù lao ông Hổ. Khi Bác sinh ra thì thực dân Pháp đã xâm chiếm Nam Bộ hơn hai mươi năm. Những năm tuổi ấu thơ Bác sống ở quê và sau đó sang nhà một người họ hàng ở Long Xuyên để học trường tỉnh. Học xong bậc tiểu học, Bác lên Sài Gòn để học nghề. Năm đó là năm 1906. Bác nhờ người quen xin cho Bác vào học nghề cơ khí điện lực ở Trường cách nghệ. Trường này có tên Pháp là: "Trường cơ khí Á châu Sài Gòn". Sau bốn năm học nghề, Bác tốt nghiệp và theo đúng sự giao kết với trường, Bác đến làm việc ở xưởng máy Ba Son. Xưởng Ba Son nằm trên bờ sông Sài Gòn gần vàm Thị Nghè. Nghe nói thời Gia Long nơi đây là đồn lính thuỷ và xưởng đóng thuyền đi biển. Thực dân Pháp xâm chiếm Sài Gòn, chúng đã mở rộng cơ sở này thành một công xưởng lớn đặt dưới sự kiểm soát của Hải quân Pháp. Tên gọi của nó là Arsénal Saigon, một chi nhánh ở thuộc địa của hàng Arsénal Toulon bên Pháp chuyên sửa chữa tàu bè. Năm hai mươi bốn tuổi, tức năm 1912, Bác đã tổ chức và cùng một số đồng chí khác lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son và bãi khoá của Trường Bách nghệ. Sau sự việc đó, Bác bị mật thám Pháp theo dõi lùng bắt nên Bác phải đổi họ án và đi sang Pháp, rồi làm thợ máy trong một công ty hàng hải của Hải quân Pháp. Năm 1916, Bác làm công nhân quân giới trong quân cảng Toulon và bị điều động làm thợ máy trên một chiến hạm của Pháp, lâu ngày quá Bác không nhớ tên chiến hạm ấy nữa. Tại đây, Bác đã tham gia cuộc binh biến ở Biển Đen. Sau khi tham gia cuộc binh biến ấy, Bác cũng được đọc một số bài viết của Nguyễn Ái Quốc đăng trên báo Dân chúng và những truyền đơn gửi cho thợ thuyền Việt kiều mà Người đứng tên, năm 1919, càng hiểu sâu hơn tội ác và mọi thủ đoạn của bọn thực dân Cách mạng Tháng Mười Nga nhằm giải phóng cho giai cấp công nhân và nhân dân dân lao động, các dân tộc thuộc địa thoát khỏi sự bóc lột của bọn tư bản, đế quốc. Bác nhớ hôm đó là ngày 20 tháng 4 năm 1919, trên chiến hạm của Pháp tại Biển Đen đã thành lập một Uỷ ban Cách mạng. Dưới sự chỉ huy của Uỷ ban Cách mạng, Bác đã kéo lá cờ đỏ để ủng hộ cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga, cũng là một lời chào các chiến sĩ của cuộc cách mạng Nga trên đất liền. Vì sự việc đó Bác bị sa thải khỏi Hải quân Pháp và bị trục xuất ra khỏi nước Pháp. Thế là Bác trở về nước. Sau khi về nước, Bác làm việc ở Nhà đèn Chợ Quán - Sài Gòn, là thợ cơ khí. Những năm này, Bác tìm lại những đồng chí cũ ở Trường Bách nghệ, ở xưởng Ba Son, ở Nhà đèn để lập hội tương trợ thợ thuyền. Năm 1920, Bác đã cùng các đồng chí lập Công hội đỏ. Anh em đã cử Bác làm hội trưởng. Một sự việc mà Bác không thể quên là thời gian đó để ủng hộ cuộc đấu tranh của công nhân và nhân dân Trung Quốc, anh em công nhân của ta đã tìm cách lãn công, bãi công đòi tăng lương để trì hoãn việc sửa chữa chiếc tàu của Pháp chuẩn bị sang đàn áp cách mạng Trung Quốc. Công hội đỏ đã lãnh đạo hơn một ngàn công nhân bãi công vào tháng 8 năm 1925.
Sau này có tổ chức cách mạng mới là Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Bác tham gia vào tổ chức đó và cùng các đồng chí hoạt động rất sôi nổi. Vì thế, Bác bị thực dân Pháp bắt và kết án 20 năm tù khổ sai đày ra Côn Đảo. Nhà tù đã trở thành nơi rèn luyện cách mạng cho Bác cũng như các đồng chí khác. Bác bị tù ở Côn Đảo cho đến khi Cách mạng Tháng Tám thành công và được Đảng, nhân dân đón về để tiếp tục hoạt động. Bác không kịp về thăm gia đình, mặc dù đã sau gần hai mươi năm xa cách.
Khi đồng chí Phan Mỹ và đồng chí Nguyễn Đình Khanh hỏi Bác: Vì sao Bác lại đi làm nghề thợ? Bác cho biết: Hồi Bác mới lớn lên, ở Sài Gòn - Chợ Lớn và các đô thị ở Nam Kỳ, lớp trẻ có học chút ít có quan niệm đi làm thợ, đã làm công nghệ là tiến bộ là biết hướng theo cái mới. Vì vậy, Bác không đi làm ông thông, ông ký, có thể lương thưởng cao hơn. Đó cũng là một sự thay đổi trong quan niệm của thanh niên hồi đó, có thể là một sự chuyển hướng của lớp trẻ sau khi nhà nước thực dân bỏ thi bằng cấp chữ Hán và chuyển sang hệ thống giáo dục Pháp - Việt. Hơn nữa có những người đã từng thành danh về Hán học như đã đậu tú tài, cử nhân mà cuối cùng cũng đi học chữ quốc ngữ và tiếng Pháp để làm cái nghề thuộc về ngành kỹ nghệ. Bác nhớ trong những người cùng làm việc với Bác ở hãng Ba Son hồi đó có những người như thế.
Khi đồng chí Phan Mỹ hỏi Bác: Kính thưa Bác, theo chúng tôi biết thì Bác sinh ra trong một gia đình khi đó là vào bậc khá giả, sao Bác lại chọn con đường làm công nhân?
Bác cười hồn nhiên và nói: Bây giờ thì chưa thống nhất nước nhà, cho nên Bác cũng không hiểu các em của Bác và các cháu của Bác trong đó sống thế nào. Không hiểu nhà cửa của ông bà nội và của ba má Bác có còn giữ gìn được không. Nhưng nhớ lại hồi Bác bắt đầu dời nhà sang Long Xuyên để đi học, rồi sau đó làm công nhân, thoát ly đi hoạt động cách mạng thì có lẽ nhà Bác là thuộc loại khá gì nhất nhì ở Cù lao Ông Hổ. Vào thời ấy ba má Bác có một cái nhà sàn lợp ngói khá rộng dựng lên trong một khu vườn cũng rất rộng đầy hoa trái, kể là khá lắm đấy. Chính nhờ điều kiện gia đình như vậy, Bác được ba má cho sang ở nhà một người họ hàng ở Long Xuyên theo học hết sơ học yếu lược.
Nhưng nói vậy thôi, Bác nhìn thấy chung quanh bà con nhiều người nghèo khổ. Cùng thời thơ ấu của Bác, số trẻ ở Cù lao ông Hổ cùng lứa với Bác hầu như không có mấy ai được đi học. Như trên đã nói vì phong trào mới, Bác đã đi làm thợ. Giới thợ thuyền càng nghèo khổ. Đời sống ở Sài Gòn phơi bày rõ ràng sự bất công của chế độ thực dân và sự nhục nhã của người dân nô lệ. Bác cứ nhắc mãi một chuyện. Hồi đó trước nhà Bác ở có một chủ tây ngày vào cũng đi xe tay. Nhưng rất nhiều hôm hắn ta không trả tiền cho người phu kéo xe. Một hôm thấy cảnh đó Bác đã gọi người phu kéo xe ấy đến và đưa cho anh ta một trăm đồng bạc Đông Dương (khi đó là gần hết lương tháng của Bác). Bác nói với người phu kéo xe ấy: nên chọn nghề khác mà làm. Từ đó Bác không thấy anh ta đến kéo xe cho người chủ tây nữa. Thân phận của người dân nô lệ không chỉ nghèo mà còn nhục nhã. Nhưng chỉ có người hiểu biết, nhất là người hiểu biết trong giới thợ thuyền mới dám đấu tranh quyết liệt với bọn thực dân và biết đoàn kết dân tộc để đấu tranh giải phóng.
Bác hiểu rằng người nghèo nhiều khi vì cùng khổ quá mà lâm vào cảnh tù tội. Vì thế nên khi phải làm cặp rằng trong nhà tù Côn Đảo, Bác đã khuyên răn họ, cùng chia sẻ với nỗi khổ của họ nên họ cũng đối xử tốt với Bác và họ kính trọng những người tù cộng sản như Bác. Như Bác đã từng nói với các cháu thanh niên, đi tìm được lý tưởng cách mạng để mà theo đuổi là rất khó. Nhưng rất quý giá, vì lý tưởng cách mạng làm cho mình biết sống tốt và muốn mọi người được sống tốt đẹp, hạnh phúc. Chính vì lý tưởng cao quý như thế mà các đồng chí của ta đã anh dũng đấu tranh không nề hà. Nhiều đồng chí đã dũng cảm hy sinh khi tuổi đời còn rất trẻ.
Tôi may mắn và hạnh phúc được gặp Bác Tôn một vài lần. Nhưng lần gặp ấy để lại trong tôi ấn tượng sâu sắc nhất, đẹp đẽ nhất về hình ảnh của một lãnh tụ, người bạn rất thân thiết, rất tin cậy của Bác Hồ kính yêu. Từ trước, cũng như mọi người, tôi hiểu Bác Tôn rất nhân từ. Nhưng qua lời kể giản dị của Bác, tôi nhận thức sâu sắc hơn một chân lý lớn: Con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam rất anh hùng bởi trong sâu thẳm tâm hồn Việt Nam rất nhân văn, rất ưu ái con người. Chính tình thương con người đã tạo ra sức mạnh để dân tộc Việt Nam tồn tại để cho những người cộng sản chân chính có khả năng vượt lên mọi khó khăn để làm nên sự nghiệp.
Bác Tôn Đức Thắng của chúng ta tràn đầy tình thương người và lòng nhân từ, vì vậy Bác đã sống trọn vẹn một cuộc đời người chiến sĩ cách mạng rất gang thép, rất chung thuỷ với nhân dân. Ngôi nhà 35 đường Trần Phú, Hà Nội, nơi Bác Tôn đã từng sống cho đến những năm tận cuối đời đối với tôi mãi mãi in sâu trong tâm khảm về hạnh phúc một lần được gặp Bác tại ngôi nhà ấy.
_________
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Phân viện Thành phố Hồ Chí Minh.
Đồng chí Tôn Đức Thắng với mặt trận dân tộc thống nhất NGUYỄN THỊ KIM DUNG*
Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời, là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta. Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội. Từ đây, nhân dân ta được sống trong độc lập tự do, trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình.
Đồng chí Tôn Đức Thắng từ ngục tù Côn Đảo trở về Sài Gòn đúng vào lúc nổ ra cuộc kháng chiến chống Pháp của đồng bào Nam Bộ (23-9-1945), đồng chí được bổ sung ngay vào Xứ uỷ Nam Bộ và được Xứ uỷ phân công phụ trách Uỷ ban kháng chiến kiêm chỉ huy các lực lượng vũ trang Nam Bộ. Cùng với tập thể Xứ uỷ, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đề ra những phương hướng chỉ đạo và những nhiệm vụ cấp bách cho cuộc chiến đấu của nhân dân Nam Bộ như: xây dựng phong trào, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng cơ sở vũ trang, thành lập những khu du kích, v.v.. đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Nam Bộ vượt qua những khó khăn, thử thách. Với những công lao đó, đồng chí đã được nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn bầu làm đại biểu của mình trong Quốc hội khoá I của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đầu năm 1946, đồng chí Tôn Đức Thắng được điều ra Hà Nội công tác bên cạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh và Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Để mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố khối đoàn kết toàn dân làm hậu thuẫn cho chính quyền mới; trước khi lên đường sang thăm nước Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao nhiệm vụ cho đồng chí Tôn Đức Thắng là cần xây dựng một tổ chức đoàn kết rộng rãi hơn nữa nhằm đoàn kết tất cả các tầng lớp nhân dân Việt Nam, vì điều kiện nào đó mà không tham gia được vào Mặt trận Việt Minh.
Thực hiện nhiệm vụ Bác giao, đồng chí Tôn Đức Thắng đã khẩn trương chuẩn bị về mọi mặt cho sự ra đời của một tổ chức mặt trận mới. Ngày 29-5-1946, tại Nhà hát thành phố Hà Nội đã diễn ra Hội nghị thành lập Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt), với mục đích là: "đoàn kết tất cả các đảng phái yêu nước, và các đồng bào yêu nước vô đảng vô phái, không phân biệt giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị, chủng tộc, để làm cho nước Việt Nam: độc lập - thống nhất - dân chủ - phú cường!"1. Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Namkhông phải chỉ liên hiệp trong Chính phủ mà còn liên hiệp quảng đại quần chúng nhân dân thành một khối thống nhất, bởi bí quyết của mọi sự thành công là ở tinh thần đoàn kết. Sự ra đời của Hội Liên Việt có một ý nghĩa rất lớn, nó "sẽ mang lại tự do chắc chắn cho dân tộc và có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của các thế hệ Việt Nam sau này"2.
Hội nghị đã nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự của Hội Liên Việt, đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu là Phó Chủ tịch Hội3. Từ đây hoạt động của đồng chí Tôn Đức Thắng gắn bó với chính sách đoàn kết toàn dân, với Mặt trận dân tộc thống nhất.
Trong thời gian Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm nước Pháp, mọi công việc chính quyền đều do cụ Huỳnh Thúc Kháng - Quyền Chủ tịch nước đảm nhiệm. Công việc vô cùng bề bộn nên cụ Huỳnh ít có điều kiện hoạt động trong Hội Liên Việt. Vì thế mà mọi công tác của Hội đều do đồng chí Tôn Đức Thắng đảm nhiệm. Với cương vị là người lãnh đạo Mặt trận, đồng chí Tôn Đức Thắng đã hoạt động hết sức mình vì sự nghiệp đoàn kết toàn dân, góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Để quán triệt chương trình hoạt động của Hội Liên Việt tới các thành viên, đồng chí Tôn Đức Thắng đã có nhiều cuộc tiếp xúc với nhiều vị nhân sĩ, trí thức, đối thoại với một số người thuộc các đảng phái, các giai cấp, các dân tộc, các tôn giáo khác nhau, nhằm làm cho một người thấy rõ sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân chống thực dân Pháp xâm lược. Đồng chí thường xuyên nhắc nhở các thành viên trong Hội Liên Việt phải tôn trọng tự do tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện đời sống mới, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân, bảo trợ người già yếu, tàn tật, phụ nữ và trẻ em; phát triển nền văn hoá dân tộc đồng thời tiếp thu có chọn lọc văn hoá phương Đông và phương Tây để bổ sung cho nên văn hoá nước nhà.
Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cùng Trung ương Đảng và Chính phủ dời lên Chiến khu Việt Bắc để bảo toàn lực lượng, lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Ngoài cương vị lãnh đạo mặt trận, đồng chí còn kiêm nhiệm nhiều chức vụ quan trọng như: Tổng thanh tra Chính phủ, Quyền Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Quyền Trưởng ban thường trực Quốc hội, Chủ tịch danh dự Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam... Công việc tuy nhiều, nhưng với tinh thần của một người cộng sản đã được tôi luyện trong lò lửa của cuộc chiến tranh cách mạng, đồng chí bao giờ cũng làm việc tận tụy, hăng say dù việc lớn việc nhỏ, nhất thiết tuân thủ quyết định của tổ chức, của tập thể, kiên quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cơ hội, đầu hàng, phản bội. Đồng chí là một kiểu mẫu hoàn chỉnh về nhân sinh quan cách mạng, là gương sáng của đạo đức cách mạng.
Tháng 1-1948, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị mở rộng, đã đề ra phương hướng và biện pháp còn kịp cho cuộc kháng chiến. Về chính trị, Nghị quyết Hội nghị nêu rõ:" "Muốn củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất chống Pháp, phải phát triển Liên Việt và củng cố Việt Minh"4. Để hoàn thành những nhiệm vụ mà Nghị quyết Hội nghị đề ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị cần phát động một phong trào thi đua yêu nước. Thực hiện đề nghị của Người, Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã phát động phong trào Thi đua ái quốc và chỉ định đồng chí Tôn Đức Thắng làm Trưởng ban Trung ương vận động Thi đua ái quốc.
Phong trào Thi đua yêu nước là đòn bẩy diệu kỳ, đã huy động được sức mạnh của toàn dân tộc vào cuộc kháng chiến kiến quốc. Trên đà thắng lợi của phong trào Thi đua yêu nước, Tổng bộ Việt Minh đã họp Hội nghị khoáng đại (mở rộng), nhằm đẩy mạnh hơn nữa công cuộc kháng chiến đến quốc. Mặc dù tuổi cao, sức khỏe không được tốt, song đồng chí Tôn Đức Thắng vẫn cố gắng đến dự tất cả các buổi họp và đóng góp nhiều ý kiến quan trọng nhằm củng cố và mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc. Trong phiên họp ngày 24-4-1948, đồng chí đã ghi vào sổ cảm tưởng của Hội nghị những dòng đầy xúc động: "Với hai bàn tay trắng, với ốc rau, mặt trận đã lập nên sự nghiệp vĩ đại trong cuộc Cách mạng Tháng Tám, cũng như với một vài khẩu súng kíp, gậy gộc, dao găm đã đi đến một đội quân hùng hậu, đã làm cho giặc bị ngả nghiêng. Tôi tin rằng Mặt trận sẽ đi đến vinh quang. Chỉ mong rằng, cuộc Hội nghị này lượm được một kết quả thật khoa học, làm cho mọi người nỗ lực, mỗi ngày mỗi nỗ lực, nỗ lực mãi mãi; mỗi người một tin tưởng, mỗi ngày một tin tưởng mạnh hơn"5.
Sau chiến thắng Biên giới (1950), căn cứ địa Việt Bắc ngày càng được mở rộng và củng cố vững chắc. Đảng ta quyết định triệu tập Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II (2-1951) tại tỉnh Tuyên Quang. Với tư cách là đại biểu chính thức của Đảng đoàn Hội Liên Việt, đồng chí Tôn Đức Thắng đã đóng góp nhiều ý kiến về vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận dân tộc thống nhất, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân. Trong diễn văn bế mạc Đại hội, đồng chí Tôn Đức Thắng đã khẳng định: "Chính sách mặt trận của ta là chính sách liên minh giai cấp để kháng chiến. Không phải liên minh giai cấp suông, mà liên minh giai cấp để kháng chiến. Đã là liên minh giai cấp để kháng chiến thì những mâu thuẫn quyền lợi giữa các giai cấp phải được diễn giải hợp lý. Nhưng bao giờ chúng ta cũng đặc biệt chú trọng đến quyền lợi của quần chúng cần lao và đông đảo vì họ là nền tảng của Mặt trận dân tộc thống nhất, là lực lượng chủ yếu của kháng chiến"6. Đại hội đã bầu đồng chí Tôn Đức Thắng là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng, tiếp tục kiện toàn và củng cố Mặt trận dân tộc thống nhất, đồng chí Tôn Đức Thắng đã ra sức chuẩn bị về mọi mặt cho Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt. Đồng chí đã xúc tiến việc lấy ý kiến của các cơ quan, đoàn thể, quân, dân, chính, đảng, các vị nhân sĩ, trí thức; các đồng chí phụ trách các bộ các ngành; gửi thư trưng cầu ý kiến tới hàng chục cơ quan, đơn vị và hàng trăm cá nhân... Điều này chứng tỏ tính chất dân tộc rộng rãi của Mặt trận. Ngày 3-3-1951, tại Việt Bắc, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh - Liên Việt đã khai mạc. Đồng chí Tôn Đức Thắng, Quyền Hội trưởng Hội Liên Việt, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Liên Việt và Tổng bộ Việt Minh đọc Báo cáo chính trị nêu bật tầm quan trọng của việc thống nhất Việt Minh và Liên Việt - cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân, cùng nhau đấu tranh cho mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Đại hội đã thông qua nhiều nghị quyết quan trọng như: Thống nhất hai Mặt trận Việt Minh và Liên Việt thành Mặt trận Liên Việt; Thông qua chính cương, điều lệ, Tuyên ngôn của Mặt trận; Tán thành việc xây dựng và bảo vệ khối đoàn kết giữa nhân dân ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia để chống kẻ thù chung. Đại hội đã nhất trí bầu Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự, đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt.
Thành công của Đại hội là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta về chính trị, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: "Hôm nay, trông thấy rừng cây đại đoàn kết ấy đã nở hoa, kết trái và gốc rễ nó đang ăn sâu lan rộng khắp toàn dân, và nó có một cái tương lai "trường xuân bất lão"7. Trong thắng lợi chính trị to lớn đó, có phần đóng góp rất quan trọng của đồng chí Tôn Đức Thắng.
Sau Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt, theo đề nghị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Tổng Bí thư Trường Chinh, đồng chí Tôn Đức Thắng đã cùng một số đồng chí lãnh đạo khác bắt tay vào tổ chức Ban Mặt trận của Trung ương Đảng. Nhiệm vụ của Ban Mặt trận là theo dõi, nghiên cứu giúp Trung ương Đảng đôn đốc việc thực hiện chính sách Mặt trận của Đảng trong cả nước.
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp càng gần đến ngày thắng lợi, Đảng và Nhà nước ta thấy rằng càng cần phải huy động tổng lực nhiều mặt, sự nhất trí về tinh thần trong toàn dân càng cần thiết hơn bao giờ hết. Công tác của mặt trận lúc này ngoài động viên toàn dân dốc sức cho kháng chiến còn cần phải động viên toàn dân đẩy mạnh việc thực hiện chính sách ruộng đất của Đảng. Nhận thức được tầm quan trọng đó, đồng chí Tôn Đức Thắng đã liên tiếp triệu tập và chủ trì nhiều Hội nghị quan trọng:
- Hội nghị liên tịch giữa Ban Thường trực Quốc hội và Uỷ ban Liên Việt toàn quốc (2-1953), nhằm thực hiện tốt chính sách ruộng đất của Đảng, trên cơ sở đó mà củng cố khối liên minh công nông, củng cố mặt trận Liên Việt.
- Hội nghị uỷ ban Liên Việt toàn quốc mở rộng (11-1953), nêu lên tầm quan trọng của công tác mặt trận trong giai đoạn này là động viên toàn dân đẩy mạnh kháng chiến, thực hiện mục tiêu chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, đánh đổ nguỵ quyền giải phóng dân tộc, thực hiện chính sách cải cách ruộng đất trên cơ sở tán thành Cương lĩnh ruộng đất của Đảng; kêu gọi các chính đảng, đoàn thể và quốc dân đồng bào hãy ra sức ủng hộ Cương lĩnh ruộng đất của Đảng, ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân, góp phần vào sự nghiệp kháng chiến kiến quốc.
- Hội nghị đại biểu Mặt trận Liên Việt toàn quốc (l-1955), nhằm kiểm điểm việc thực hiện chính sách kháng chiến, kiến quốc; củng cố và mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc thống nhất trong tình hình mới như: tiến hành cải cách ruộng đất, chống đế quốc Mỹ và bọn phản động dụ dỗ, cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam, chuẩn bị những điều kiện để đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tám khoá II (tháng 8-1955), đồng chí Tôn Đức Thắng đã trình bày trước Hội nghị những ý kiến về công tác Mặt trận và đồng chí đề nghị mở Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất. Đề nghị của đồng chí đã được Hội nghị chấp thuận. Tháng 9-1955, tại Hà Nội, đã diễn ra Đại hội Mặt trận thống nhất toàn quốc. Trong diễn văn khai mạc, đồng chí kêu gọi toàn dân hãy ta sức thực hiện chính sách đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ Chí Minh bởi "Chúng ta cùng chung một Tổ quốc, cùng chung hàng ngàn năm lịch sử, đau khổ có nhau, vinh quang có nhau. Điều đó đã gắn liền đồng bào toàn quốc, gắn liền các đại biểu chúng ta làm một khối"8. Đại hội đã quyết định lấy tên mới của Mặt trận là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, và bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Việc thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã thể hiện rất rõ nét chính sách đại đoàn kết toàn dân. Trong khối đại đoàn kết đó, hình ảnh đồng chí Tôn Đức Thắng nổi lên như vì sao sáng.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã góp phần rất quan trọng vào việc đoàn kết toàn dân, đồng thời tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ rộng rãi của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới, không những trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, mà cả trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước.
Tháng 8-1958, nhân dịp đồng chí Tôn Đức Thắng tròn 70 tuổi, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội và Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà đã quyết định tặng đồng chí Huân chương Sao Vàng - Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta vì đồng chí đã có nhiều đóng góp trong 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong buổi lễ trao tặng Huân chương, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy"9. Trước vinh dự lớn lao đó, đồng chí Tôn Đức Thắng đã nói: "Tôi không biết nói gì hơn là hứa lấy cố gắng của tôi để đền đáp công ơn của Đảng, công ơn của Hồ Chủ tịch, Người sáng lập và xây dựng Đảng, đã đưa tôi vào con đường vẻ vang và để đền đáp sự tín nhiệm của nhân dân và Chính phủ"10. Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9-1960), đồng chí Tôn Đức Thắng được bầu là Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
Trên cương vị người lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ thực hiện có hiệu quả những công việc mà Đảng giao cho, động viên toàn dân đoàn kết thành một khối thống nhất, ra sức thi đua lao động sản xuất, chiến đấu, mà còn luôn luôn chăm lo đến tình đoàn kết quốc tế, góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa nhân dân ta và bầu bạn trên thế giới.
Đồng chí Tôn Đức Thắng luôn dành những tình cảm sâu sắc đối với đồng bào đồng chí miền Nam, bởi "máu chảy ruột mềm, là dân một nước, là con một nhà". Đồng chí nói: "Từng giờ từng phút, tôi luôn luôn nghĩ đến miền Nam nơi chôn rau cắt rốn đang bị đế quốc và bọn tay sai tàn phá. Tôi muốn được sát cánh với đồng bào trong cuộc đấu tranh, cùng đồng bào chia sẻ những gian khổ hy sinh để giải phóng quê hương yêu dấu". Tháng 12-1960, Mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời, đồng chí Tôn Đức Thắng vui mừng khôn xiết và đã gửi thư chúc mừng đến Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ, sau đó đồng chí đã chỉ đạo Uỷ ban Trung ương Mặt trận cử nhiều cán bộ vào miền Nam tham gia công tác mặt trận.
Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (1969), Quốc hội đã nhất trí bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà.
Sau thắng lợi của Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam (1973), để động viên toàn quân, toàn dân thừa thắng xông lên, hoàn thành trọn vẹn nhiệm vụ thiêng liêng là giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đồng chí Tôn Đức Thắng đã triệu tập Hội nghị bất thường Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Trong diễn văn khai mạc, đồng chí đã nêu bật ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi, mà một trong những nguyên nhân quan trọng đó là "thắng lợi của sức mạnh đoàn kết vô địch của nhân dân hai miền Bắc - Nam của truyền thống yêu nước nồng nàn và tinh thần đấu tranh kiên cường bất khuất của dân tộc Việt Nam ta"11.
Với cuộc tổng tấn công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đã giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, non sông thu về một mối. Tại buổi lễ mừng chiến thắng được tổ chức ở thành phố Hồ Chí Minh (5-1975), trong Diễn văn chào mừng, đồng chí Tôn Đức Thắng đã nêu rõ ý nghĩa và nguyên nhân thắng lợi của nhân dân ta là "kết quả của cuộc chiến đấu suốt 30 năm qua của đồng bào và chiến sĩ cả nước ta. Đó là thắng lợi của đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ, thắng lợi của sức mạnh đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế, của tinh thần "Không có gì quý hơn độc lập tự do", thắng lợi của truyền thống yêu nước nồng nàn, đấu tranh kiên cường, bất khuất trong bốn nghìn năm lịch sử của dân tộc"12. Đồng chí đã kêu gọi các đoàn thể, tôn giáo và toàn dân hãy đoàn kết chặt chẽ hơn nữa, hăng hái chiến đấu và sản xuất để tiến công vào thời kỳ mới. Năm 1976, đồng chí Tôn Đức Thắng lại được bầu làm Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong cuộc đời hoạt động cách mạng trên 60 năm của đồng chí Tôn Đức Thắng, thì 30 năm đồng chí giữ cương vị lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất (1946-1977). Đồng chí đã phấn đấu không mệt mỏi, cống hiến toàn bộ sức lực, trí tuệ của mình vào sự nghiệp đoàn kết toàn dân. Đồng chí là một tấm gương sáng mẫu mực về đạo đức cách mạng, suốt đời cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, yêu thương đồng chí, quý trọng đồng bào. Đảng ta khẳng định: "Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tuỵ; về tinh thần anh dũng, bất khuất; về đức tính khiêm tốn, giản dị. Toàn thể đồng chí và đồng bào chúng ta rất tự hào về sự nghiệp và đạo đức cách mạng của đồng chí"13.
Đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ là một nhà yêu nước vĩ đại, người cộng sản tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, mà còn là một chiến sĩ cộng sản quốc tế, suốt đời phấn đấu cho sự củng cố và phát triển tình đoàn kết hữu nghị, chiến đấu theo tinh thần quốc tế xã hội chủ nghĩa. Chính vì vậy, đồng chí đã nhận được nhiều Huân chương cao quý của các nước anh em và các tổ chức quốc tế như Giải thưởng Lênin (12-1955) của Uỷ ban giải thưởng Hoà bình quốc tế Lênin của Liên Xô tặng; Huân chương Lênin (11-1967) của Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô tặng... Đây không chỉ là vinh dự dành riêng cho đồng chí Tôn Đức Thắng, mà còn là vinh dự chung của nhân dân Việt Nam.
Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam khẳng định: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một nhà yêu nước vĩ đại, người cộng sản kiên cường mẫu mực, người lãnh đạo kính mến của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc nước ta, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người chiến sĩ hết sức trung thành của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Đồng chí đã cống hiến cả đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đồng chí đã suốt đời phấn đấu cho sự phát triển tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị anh em giữa nhân dân ta với nhân dân Liên Xô, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác và phát triển tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới vì lợi ích của sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội"14.
____________
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
1, 2. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập (1945- 1947), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.8, tr.69, 71.
3. Chủ tịch Hồ Chí Minh là Chủ tịch danh dự. Cụ Huỳnh Thúc Kháng, Phó Chủ tịch nước là Chủ tịch Hội Liên Việt, Tổng Thư ký là Cù Huy Cận, các uỷ viên là Trần Huy Liệu, Phạm Ngọc Thạch, Ngô Tử Hạ, Nguyễn Tường Long.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.9, tr.29.
5. Bác Tôn - Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1988, tr.157.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12. tr.487, 488.
7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia. Hà Nội, 2000, t.6. tr.181.
8. Sở Văn hoá và Thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), An Giang, 1988, tr.216.
9. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.9, tr.221
10. Đồng chí Tôn Đức Thắng - Người chiến sĩ cộng sản kiên cường mẫu mực, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1982, tr.35.
11. Sở Văn hoá và Thông tin An Giang: Chủ tịch Tôn Đức Thắng (1888-1980), An Giang, 1988, tr. 312.
12. Sđd, tr.317-318.
13. Điếu văn do đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đọc trong Lễ truy điệu Chủ tịch Tôn Đức Thắng, ngày 3-4-1980. Báo Nhân dân, ngày 4-4-1980.
14. Thông báo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hội đồng Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (ngày 80-3-1980).
Cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng vào quá trình tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam NGUYỄN THỊ GIANG1
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng lâu dài và anh dũng của dân tộc ta, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đào tạo nên nhiều lớp cán bộ trung kiên. Các đồng chí ấy đã hiến dâng trọn đời mình cho Đảng, cho dân tộc đã và sẽ được các thế hệ mai sau mãi mãi tôn vinh. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người như thế.
Ca ngợi công lao và cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng đối với đất nước, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã khẳng định: "Đồng chí là một trong các chiến sĩ lớp đầu của phong trào công nhân và phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta, là một trong những người bạn chiến đấu thân thiết lâu năm của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.
Từ những năm đầu thế kỷ này, đồng chí Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã tham gia lãnh đạo phong trào yêu nước của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam và đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ tiên phong"1.
Nghiên cứu về cuộc đời, sự nghiệp và công lao của đồng chí Tôn Đức Thắng là cả một đề tài khoa học lớn. Bài viết này chỉ khắc họa đôi nét về những hoạt động và cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng đối với quá trình vận động tiến tới thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam trong nửa cuối những năm 20 của thế kỷ XX.
1. Cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng trong việc tạo tiền đề cho sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin vào phong trào công nhân Việt Nam.
Những trang biên niên sử hoạt động của đồng chí Tôn Đức Thắng trong những năm đầu thế kỷ XX cho chúng ta biết một số sự kiện vô cùng quý giá về đồng chí.
Ngày 7-9-1916, khi còn đang học tại Trường Bách nghệ (Sài Gòn), đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong số 400 học sinh bị động viên làm lính thợ sang Pháp phục vụ cho cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất. Tháng 10 năm đó, tại Mácxây, mang số lính 418, đồng chí làm việc trong công xưởng Arsénal (Toulon), sau đó được điều động sang làm thợ máy trên tuần dương hạm France của Hải quân Pháp.
Tháng 4-1919, chiến hạm France đến hải cảng Ôđétxa, sau đó tới vùng biển Xêvatxtôpôn để tham gia cuộc can thiệp vũ trang nhằm lật đổ chính quyền Xôviết.
Trong các ngày từ 17 đến 20-4-1919 cùng các thủy thủ trên chiến hạm France, đồng chí đã tham gia cuộc binh biến, phản đối hành động can thiệp chống nước Nga Xôviết của giới cầm quyền nước Pháp lúc đó. Họ giương cao các biểu ngữ "Không bắn vào những người anh em Nga của chúng tôi”, "Không làm công cụ cho các thế lực phản động Cờlêmăngxô”2. Lá cờ đỏ phản chiến đã được Tôn Đức Thắng kéo lên cột cờ của chiến hạm. Với sự kiện này, chúng ta có thể khẳng định: cùng với Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, ủng hộ chính quyền Xôviết với tinh thần quốc tế vô sản trong sáng.
Khi tham gia vào cuộc binh biến trên chiến hạm France, đồng chí Tôn Đức Thắng đã sớm ý thức được tính chất phản động của hành động can thiệp chống lại nước Nga Xôviết. Sau này, khi đã trở thành một trong những nhà lãnh đạo của cách mạng Việt Nam, đồng chí đã nói rõ: "... Bất cứ người Việt Nam yêu nước nào có mặt trong giây phút lịch sử đó ở Biển Đen cũng không thể hành động khác như tôi đã làm. Bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù bọn đế quốc - trước hết, đó là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ đã chống lại nó"3.
Cùng với các thủy thủ tham gia cuộc binh biến trên Biển Đen, đồng chí Tôn Đức Thắng bị loại bỏ quân ngũ và trở lại cuộc đời người thợ. Cuối năm 1919, đồng chí vào làm thuê tại hãng ô tô Renault. Trong thời gian này, tên tuổi và ảnh hưởng của những hoạt động cách mạng của Nguyễn Ái Quốc đã thúc giục đồng chí Tôn Đức Thắng tìm cách gặp gỡ với Nguyễn Ái Quốc và những người Việt Nam yêu nước cùng chí hướng. Nhưng ý định đó đã không thành. Đồng chí Tôn Đức Thắng kể lại: "Với lòng yêu quê hương tha thiết và với nguyện vọng học tập để sau này trở về đấu tranh mạnh mẽ hơn, nhiều lần tôi cố gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) song tôi không gặp được đồng chí"4.
Tháng 8-1920, Tôn Đức Thắng bỏ việc và tìm đường trở về Tổ quốc. Đồng chí đã vào làm tại hãng Kroff ở Phú Nhuận - Sài Gòn, một hãng tư nhân của người Đức. Đồng chí là một thợ giỏi nên được chủ hãng cử đi sửa chữa nhiều nơi trong đó có công xưởng Ba Son và Trường Bách nghệ.
Sớm giác ngộ ý thức giai cấp công nhân, Tôn Đức Thắng đã cùng các đồng chí của mình thành lập Công hội bí mật. Tới năm 1925, Công hội bí mật có tới hơn 300 hội viên và được tổ chức tại nhiều cơ sở ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Đồng chí Tôn Đức Thắng được cử làm Hội trưởng.
Sự ra đời của Công hội bí mật đã có ý nghĩa chính trị cực kỳ quan trọng thể hiện bước phát triển mới của phong trào công nhân Việt Nam. Dù mới hình thành, nhưng Công hội bí mật đã chứng tỏ là một tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân ra đời sớm nhất ở ta khi đó. Công hội đã tập hợp được đông đảo công nhân - lực lượng cách mạng nhất, nhân tố đại diện cho xu hướng mới của thời đại.
Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin và lý luận cách mạng vô sản từ sách báo cách mạng do Nguyễn Ái Quốc gửi về trong nước, Công hội bí mậtcủa đồng chí Tôn Đức Thắng càng tích cực mở rộng hoạt động, đặc biệt là đã sớm biết vận động hình thức bãi công chính trị có tính chất quần chúng rộng rãi. Đó là cuộc bãi công của hơn 1.000 công nhân công xưởng Ba Son vào tháng 8-1925. Từ những yêu sách kinh tế như đòi tăng lương 20%, đòi những công nhân bị sa thải được trở lại làm việc, đòi giữ lệ được nghỉ trước 30 phút trong những ngày lĩnh lương, v.v, cuộc bãi công đã có mục tiêu chính trị, đó là thể hiện tình đoàn kết với giai cấp công nhân và nhân dân Trung Quốc bằng cách làm chậm lại việc sửa chữa để kìm chân chiến hạm Michelet của Pháp đang được gửi sang đàn áp phong trào cách mạng Trung Quốc. Phải ba tháng sau - tháng 11- 1925, chiến hạm này mới được xuất xưởng.
Đây là sự kiện lần thứ ba cùng với cuộc binh biến trên Biển Đen (1919) và việc thành lập Công hội bí mật (1920), đánh dấu những hoạt động yêu nước và cách mạng của đồng chí Tôn Đức Thắng trên cơ sở giác ngộ ý thức chính trị của giai cấp công nhân.
Điều gì đã khiến đồng chí Tôn Đức Thắng từ một nông dân trở thành một người công nhân cách mạng, sớm hoà mình vào giai cấp giữ vai trò trung tâm của thời đại? Ngoài lòng yêu nước và ý chí giải phóng dân tộc đã thôi thúc đồng chí song điều quan trọng hơn còn là do ý thức giác ngộ giai cấp và trình độ kỹ thuật ở người thợ máy Tôn Đức Thắng. Đó là những điều kiện thuận lợi để đồng chí nhận thức được xu hướng mới của thời đại để nhanh chóng hoà nhập vào trào lưu tiến bộ nhất lịch sử, góp phần từng bước đưa cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam đi theo con đường cách mạng vô sản.
Sự ra đời Công hội bí mật của đồng chí Tôn Đức Thắng và cuộc bãi công của công nhân Ba Son do Công hội lãnh đạo là những sự kiện tiêu biểu đánh dấu bước phát triển mới của phong trào công nhân Việt Nam. Những sự kiện đó đã khẳng định sự giác ngộ chính trị và trình độ tổ chức, tinh thần quốc tế vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam đã được nâng lên một bước mới, từ tự phát đã tiến lên tự giác. Sự ra đời của Công hội bí mật do đồng chí Tôn Đức Thắng tham gia sáng lập, cùng với sự phát triển về số lượng và chất lượng của giai cấp công nhân Việt Nam đã tạo ra những tiền đề thuận lợi cho sự tiếp nhận chủ nghĩa Mác-Lênin ở Việt Nam. Cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng trong việc tạo tiền đề này là rất to lớn. Đúng như vị lão thành cách mạng - GS Trần Văn Giàu đã khẳng định: "Giai cấp công nhân đã hiện diện trên chính trường mà lạ thay và đẹp thay, không một đảng quốc gia tiểu tư sản hay tư sản nào lôi kéo được, ở Bắc, ở Nam và nhất là ở Sài Gòn, các cuộc đấu tranh hồi 1924-1925, được ảnh hưởng trực tiếp của những người công nhân Việt Nam đã từng ở Pháp, chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, của phong trào công nhân và công đoàn Pháp, tiêu biểu nhất là anh thợ máy Tôn Đức Thắng - người đã từng tham gia binh biến Biển Đen năm 1919"5.
2. Cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng trong việc xây dựng tổ chức, tiến tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sài Gòn và cả Nam Bộ trong những năm 1925-1926 rất sôi động bởi phong trào đấu tranh đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và để tang Phan Chu Trinh. Phong trào càng sôi nổi và có chiều sâu hơn khi các học trò của Nguyên Ái Quốc - cán bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ Quảng Châu trở về hoạt động, xây dựng tổ chức ở trong nước. Tháng 10-1926, các đồng chí Phan Trọng Bình, Nguyễn Văn Lợi được Nguyễn Ái Quốc cử về Nam Bộ xây dựng tổ chức đã có mặt tại Sài Gòn. Đầu năm 1927, các đồng chí đã liên lạc được với đồng chí Tôn Đức Thắng và các đồng chí lãnh đạo Công hội bí mật. Đồng chí Tôn Đức Thắng cùng nhiều cán bộ hội viên của Công hội ở Sài Gòn, Mỹ Tho và nhiều nơi khác ở Nam Bộ đã gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Sự tham gia của Tôn Đức Thắng và các hội viên Công hội bí mật đã làm cho tỷ lệ thành phần công nhân trong Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tăng lên một cách đáng kể. Một số học viên dự lớp huấn luyện khoá 3 ở Quảng Châu được cử về Nam Bộ hoạt động như các đồng chí Phạm Văn Đồng, Phan Trọng Quảng, Nguyễn Ngọc Ba. v.v., đã tăng cường thêm cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Hội. Giữa năm 1927, Kỳ Bộ Nam Kỳ của Hội được thành lập do đồng chí Phan Trọng Bình làm Bí thư, đồng chí Tôn Đức Thắng đã được cử làm Uỷ viên Ban Chấp hành Kỳ Bộ.
Khoảng giữa năm 1929, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị phân liệt trước yêu cầu đòi hỏi phải nhanh chóng thành lập một Đảng Cộng sản ở Việt Nam. Sự phân liệt càng mạnh mẽ hơn khi Đông Dương Cộng sản Đảng được thành lập ở Bắc Kỳ (6-1929) và cử cán bộ vào Nam Kỳ xây dựng tổ chức Đảng. Tại đây các đồng chí lãnh đạo Kỳ Bộ Nam Kỳ cũng đang tích cực hoạt động cho việc thành lập Đảng.
Giữa lúc công việc chuẩn bị đang tiến hành khẩn trương thì ngày 23-7-1929, đồng chí Tôn Đức Thắng và một số đồng chí lãnh đạo Kỳ Bộ Nam Kỳ bị địch bắt. Ngày 29-71929, đồng chí Phạm Văn Đồng - Uỷ viên Ban Chấp hành Tổng Bộ, Bí thư Kỳ Bộ Nam Kỳ bị địch đón bắt ở ga xe lửa Sài Gòn khi vừa từ miền Trung trở vào. Việc chuẩn bị thành lập Đảng ở Nam Kỳ đã được các đồng chí Châu Văn Liêm, Nguyễn Thiệu và một số đồng chí khác tiếp tục bàn thảo với các đồng chí Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Sơn... khi đó còn đang hoạt động ở nước ngoài.
Sau khi việc thương thảo với đại diện của Đông Dương Cộng sản Đảng về việc thành lập một Đảng Cộng sản duy nhất ở Việt Nam không thành, cuối tháng 8-1929, đồng chí Châu Văn Liêm và một số đồng chí khác quyết định chọn những hội viên ưu tú của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên để tổ chức ra An Nam Cộng sản Đảng. Tháng 11-1929, Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của An Nam Cộng sản Đảng do đồng chí Châu Văn Liêm làm Bí thư đã được cử ra.
An Nam Cộng sản Đảng được thành lập khi các đồng chí Phạm Văn Đồng, Tôn Đức Thắng, v.v., đã bị bắt và đang bị giam tại Khám Lớn Sài Gòn. Rất tin tưởng vào lòng trung kiên của các đồng chí, Đảng đã thông báo việc công nhận các đồng chí là đảng viên của An Nam Cộng sản Đảng6.
Có thể nói, đồng chí Tôn Đức Thắng không chỉ là một trong những chiến sĩ tiên phong của phong trào công nhân, một trong những người sáng lập tổ chức công đoàn có giai cấp công nhân Việt Nam; đồng chí còn là một trong những đảng viên lớp tiền bối của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Sau nhiều ngày xét xử cùng với các cán bộ hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị bắt ở Nam Kỳ trong năm 1929, toà án thực dân đã kết án đồng chí Tôn Đức Thắng 20 năm tù giam vì tội danh "đã tham gia với tư cách phụ trách và là thành viên của hội kín, hoạt động phá rối an ninh công cộng, gây rối loạn chính trị nghiêm trọng, gây hận thù, chống Chính phủ Pháp và Chính phủ bảo hộ,... đã đồng loã và âm mưu chống lại an ninh của Nhà nước"7.
Đêm 2-7-1930, con tàu Ácmăng Rútxô của thực dân Pháp lặng lẽ rời bến cảng Sài Gòn đưa đồng chí Tôn Đức Thắng cùng một số cán bộ, đảng viên và quần chúng yêu nước ra đày tại địa ngục Côn Đảo.
Vượt qua thử thách lớn nhất trong cuộc đời cách mạng, qua gần 17 năm bị thực dân Pháp giam cầm tại Khám Lớn Sài Gòn và địa ngục Côn Đảo, đồng chí Tôn Đức Thắng đã thể hiện rõ lòng trung thành vô hạn đối với Đảng, với Tổ quốc, rất tin tưởng vào sự thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp cách mạng.
Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đồng chí được Đảng và cách mạng đón về đất liền. Đồng chí đã được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách và đã có nhiều cống hiến trong 30 năm chiến tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Ca ngợi công lao và cống hiến của đồng chí Tôn Đức Thắng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng phục vụ nhân dân"8.
Nhớ về Chủ tịch Tôn Đức Thắng, mỗi người Việt Nam chúng ta càng tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp, công lao, cống hiến của đồng chí - một trong những nhà lãnh đạo ưu tú của Đảng và Nhà nước ta, người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một tấm gương về lý tưởng và đạo đức cách mạng trong sáng.
_________
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
1. Điếu văn do đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đọc trong lễ truy điệu Chủ tịch Tôn Đức Thắng, ngày 3-4-1980, Báo Nhân dân, ngày 4-4-1980.
2. Theo Lê Kim: Cờ đỏ trên Biển Đen, Báo Quân đội nhân dân, số 9486, ngày 23-10-1987.
3. Xem: Chủ tịch Tôn Đức Thắng - Chiến sĩ cộng sản ưu tú, tấm gương đạo đức cách mạng sáng ngời. Báo Quân đội nhân dân, số 13386, ngày 17-8-1998.
4. Tôn Đức Thắng: Tôi đã tham gia cuộc khởi nghĩa trên Biển Đen, Báo Người thủy thủ Xôviết, số 24-1957. Dẫn theo sách Côn Đảo - Hồi ký + Tư liệu, Nxb. Sự thật, Hà Nội, tr.196.
5. Trần Văn Giàu: Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám, tr.111. Thành công của chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997, tr.53.
6. Xem Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang: Bác Tôn (1888-1980) - Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1988, tr. 83.
7. Hồ sơ vụ án số 200-1 (tiếng Pháp) lưu trữ tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia II, ký hiệu lưu trữ 11A-45/263 (6).
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.9.tr. 221.
Chuyến vượt biển của Bác Tôn cùng đồng đội từ Côn Đảo trở về đất liền năm 1945 PHƯƠNG HẠNH*
... Đêm ấy (19-9-1945), Côn Đảo không ngủ. Bác Tôn và các đồng chí Lê Duẩn, Phạm Hùng, Võ Sỹ, Lê Văn Lương, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hữu Lầu... thức trắng đêm để theo dõi, nắm tình hình, dự kiến diễn biến, định ra phương án cho từng tình huống, sau khi anh em trong "Đội phòng thủ Côn Đảo" phát hiện có một đoàn tàu ghe lạ vừa mới tới địa phận Côn Đảo.
Tin tức được báo cáo về Đảng uỷ Đảo. Đảng ủy chỉ thị cho tất cả các đội trong tư thế sẵn sàng chiến đấu.
Thời gian này, ngoài Côn Đảo, ta đã giành được chính quyền tự quản 18. "Đội phòng thủ Côn Đảo" vẫn thường xuyên phân công nhau "cảnh giới" suốt ngày đêm.
Ở các "banh" cũng xôn xao bàn tán. Mỗi người một ý, nhưng tất cả đều hạ quyết tâm "Nếu là địch thì đây là trận quyết tử!".
Trinh sát của ta tiếp tục được phái đi xem xét. Sau khi nghe báo cáo tỷ mỷ các đồng chí trong Đảng uỷ Đảo khẳng định đó là đoàn tàu, ghe của cách mạng từ đất liền ra. Còn hầu hết anh em ta và cả Com Mi Trà1, viên chức, mã tà, lính bảo an đều bán tín, bán nghi chưa ai biết chắc được là đoàn tàu, ghe của Việt Minh hay ngược lại?
Sáng hôm sau, được sự phân công của Đảng uỷ Đảo, Bác Tôn và đồng chí Lã Vĩnh Lợi sang Cỏ Ống.
Đồng chí Lã Vĩnh Lợi kể: Bác Tôn lái chiếc canô vừa sửa chữa xong. Khi tôi ra tới cùng thì Bác Tôn đã chuẩn bị mọi việc chu đáo. Chỉ đợi tôi đến là nổ máy.
Chẳng hiểu sao, Com Mi Trà cũng "đi" một canô riêng theo chúng tôi sang Cỏ Ống. Là để lập công chăng? Là của Việt Minh thì cũng "đẹp mặt". Mà nếu đoàn tàu ghe của địch thì... cũng "tiện" bàn giao luôn chúng tôi tại chỗ?
... Đi một lát, canô của chúng tôi tới Cỏ Ống.
Thấy chiếc tàu nhỏ đậu sát bờ bên dãy vách đá lởm chởm, tôi nói với Bác Tôn: "Chắc là hoa tiêu và người lái không thạo luồng lạch không rõ bến ở đâu nên "tắp" vô đây".
... Tôi đề nghị Bác Tôn lái thẳng canô đến chiếc tàu, bên hông đề hai chữ "Phú Quốc".
... Vẫn không thấy động tĩnh gì cả...
Mọi người đều ngủ say như chết.
- "Này sao anh lại nằm đây?"
Một anh dụi mắt nhìn tôi, tự giới thiệu:
- "Tôi là Tưởng Dân Bảo2 được chỉ thị của Chính phủ ra đón các anh ngoài Côn Đảo về. Trên đường từ đất liền ra đoàn tàu ghe gặp một cơn giông lớn kéo dài gần 2 tiếng đồng hồ, anh em phải chống chọi quyết liệt với chúng, nên mãi tới đêm mới tới đây. Đành cứ "tắp" đại vô, sáng ra rồi tính".
- "Chúng tôi là đại biểu anh em tù đây. Nghe tin sang đón các anh! Cùng đi với tôi có cả anh Hai Thắng".
Nghe nói tới anh Hai, mắt anh Bảo sáng lên, xúc động, sung sướng...
... Sau đó anh Bảo, tôi cùng Bác Tôn đi một canô. Trà và những người hùng đi vẫn đi canô riêng của họ. Hai chiếc canô chạy trước, tàu Phú Quốc chạy sau, vòng quanh đảo về cầu tàu.
Có lẽ là từ sáng sớm, anh em mình đã nắm được tin chính xác "Ta" rồi, nên vừa đến nơi, chúng tôi thấy đông nghịt người tù - tù chính trị, tù thường, cả viên chức và vợ con họ... đem theo cờ đỏ sao vàng, "panô", biểu ngữ ra đón. Tiếng hoan hô vang trời động đất, tưởng như có thể là sập hết, đổ hết các banh, các khám...
Những anh quen biết anh Bảo chạy ra, ghì chặt anh vào đôi cánh tay gầy guộc trơ xương của mình. "Mày! Thằng Bảo! Thế mà tụi tao cứ ngỡ là địch! Cả đêm qua anh em lo phòng thủ...".
Anh Bảo khóc. Mắt anh nhoè lệ. Trong chúng tôi, nhiều người cũng khóc. Đã hàng hơn chục năm nay chúng tôi có biết khóc là gì đâu? Sao hôm nay lại khóc?..."
* *
*
Ngày 21-9-1945, Côn Đảo vui như Tết.
Một cuộc míttinh lớn được tổ chức tại đây.
Giữa biển trời Côn Đảo bao la, lá cờ Đảng, cờ Tổ quốc vút cao tung bay trước gió. Bài Quốc tế ca âm vang trong không trung, sau tiếng hô "nghiêm" kéo dài. Vào lúc này, ai cũng muốn mở căng lồng ngực để hát, để "hét", để "gào" thật to cho thỏa chí sau nhiều năm tháng bị đế quốc cầm tù - nay được thấy tự do - dù cho ai đó có hát sai cả nhạc, dù mới đây thôi trong mình nhiều người còn đầy thương tật, đầy vết thương đau lở lói do quân thù hành hạ.
Trong cuộc míttinh hôm ấy, đồng chí Tưởng Dân Bảo thay mặt cho "phái đoàn", báo cáo tình hình khởi nghĩa trên phạm vi cả nước ở trong đất liền, về việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Trung ương và Uỷ ban hành chính Nam Bộ... Đồng chí cũng báo cáo về chủ trương cử "phái đoàn" ra đón anh em tù chính trị ngoài Côn Đảo về đất liền. Rồi sau đó công bố: ngoài các chính trị phạm, một số viên chức và tù thường phạm cũng sẽ được giải quyết về đất liền với thời gian nhanh nhất. Nếu trong đợt 1 đó chưa hết (vì lý do thiếu phương tiện) thì sẽ đón về đợt 2...
Phát biểu của đồng chí Tưởng Dân Bảo vừa dứt, những tiếng hô khẩu hiệu vang lên như sấm:
- Nhiệt liệt hoan hô Chính quyền cách mạng!
- Tuyệt đối tin tưởng vào Chính phủ Cách mạng lâm thời Trung ương!
- Sẵn sàng cống hiến tất cả cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng đất nước, bảo vệ Tổ quốc!
- Tiêu diệt bọn phát xít Nhật, thực dân Pháp!
- Mặt trận Việt Minh chiến thắng!
- Đảng Cộng sản Đông Dương muôn năm! muôn năm!
Đại diện anh em "tù chính bị" lên phát biểu, biểu thị lòng biết ơn sâu sắc của anh em "tù chính trị" cũng như "tù thường phạm" với Chính phủ và hứa sẽ chấp hành nghiêm túc mọi mệnh lệnh của cấp từ giao cho.
Sau giờ phút ấy cả Côn Đảo bừng lên một sức sống mới. Theo sự phân công của Đảng uỷ Đảo, ai vào việc nấy, chuẩn bị cho cuộc vượt biển khơi về đất liền lịch sử này.
* *
*
Ngày tiễn đưa đoàn 1 về mắt ai cũng nhoà lệ...
Không chỉ những đồng chí tù cộng sản tiễn đưa nhau mà còn rất đông các viên chức, mã tà, "gácdan", gia đình vợ con, cha mẹ họ cũng ra cầu tàu chào các anh em mình.
Có tiếng ai đó chúc trời yên, biển nặng đưa các chiến sĩ Côn Đảo vượt biển an toàn về đất liền.
Lại có tiếng người gửi lời chào Chính phủ, chào bà con trong đất liền, cảm ơn Việt Minh đã đổi đời cho dân tộc, cho gia đình họ.
Lúc này, ngoài chiếc tàu mang tên "Phủ Quốc" và 23 ghe đi biển3 từ đất liền ra, trong đoàn quân bữa đó có cả một chiếc canô. Chiếc canô này nguyên là của Nhật, bị máy bay Mỹ bắn hỏng. Chúng chưa kịp sử dụng thì đã đầu hàng Đồng Minh. Ngày ta làm chủ Côn Đảo, Bác Tôn cùng hai anh em ruột là đồng chí Nguyễn Hùng Minh, Nguyễn Hùng Phước mày mò sửa chữa và đã chạy tốt. Đây cũng chính là chiếc canô Bác Tôn và đồng chí Lã Vĩnh Lợi đã dùng hôm sang Cỏ Ống tìm gặp được đồng chí Tưởng Dân Bảo từ đất liền ra.
Trước ngày xuất phát, chiến canô đã được kẻ thêm hai chữ "Giải phóng", đây sẽ là canô chỉ huy chở 13 chiến sĩ cách mạng, gồm Bác Tôn (tức người "Chiến sĩ Biển Đen", khi ấy đã 57 tuổi - là người cao tuổi nhất - nhưng lại có rất nhiều kinh nghiệm đi biển) và các đồng chí Phạm Hùng, Phan Trọng Tuệ, Nguyễn Văn Vịnh, Trần Văn Sớm, Lã Vĩnh Lợi, Đào Văn Trường, Nguyễn Văn Trọng (Bé), Trần Diệp (tức Khuê), Nguyễn Hùng Minh, Nguyễn Hùng Phước, Sâm (Cai Lậy).
Tàu Phú Quốc có sức chứa lớn nhất. Khoảng trên dưới 200 người đi trên tàu này. Ngoài các đồng chí cao tuổi hoặc đang đau yếu bệnh tật, còn có đồng chí Lê Duẩn, Lê Văn Lương, Võ Sỹ, Nguyễn Văn Linh, Phạm Hữu Lầu, Mai Chí Thọ, Nguyễn Văn Tiếp, Trần Trung Tam, Ngô Tám, Ngô Học Hải, Nguyễn Đức Thuận (tức Tư móm), Đặng Văn Quang, Phan Văn Nhung, Nguyễn Xuân Hoàng, Lê Hữu Quán, Vũ Thiện Tấn, Trần Văn Trảng, Nguyễn Hữu Mai, v.v. cùng tất cả anh em "tù chính trị" người nước ngoài đều đi trên tàu Phú Quốc.
Các đội trưởng và chính trị viên 18 "Đội phòng thủ Côn Đảo" thì chia nhau cùng các đồng chí khác đi trên những ghe biển. Ghe biển có nhiều loại, có chiếc chở hàng trăm người, có chiếc chỉ chở được 30-40 người.
Ngày 23-9-1945, cả Đoàn rời bến với đội ngũ rất chỉnh tề, hăng hái...
Canô "Giải phóng” phấp phới cờ đỏ sao vàng rẽ sóng, "dẫn mũi" cho cả một đoàn tàu, ghe lồng lộng cờ Tổ quốc tung bay về đất liền ...
Từ các ghe và tàu Phú Quốc vút lên nhiều bài ca, tiếng nhạc.
Ca mới, ca cổ..
Nhạc "đàn gáo", "đàn ống bơ sữa bò", nhị, sáo... rất "xôm".
Lại cả đọc thơ, ngâm thơ nữa.
Từ ghe nào đó, anh em đồng ca:
"... Lòng yêu nước quyết chiến đấu cho nòi giống ta,
Dấy lên mau, hỡi ai dân tộc Việt Nam
Thù nước mất ta quyết trả xong bằng xương máu,
Thề cùng nhau quốc dân đồng tâm thống nhất.
Đánh cho chết, giết cho đau, đuổi cho mau quân phátxít Nhật, Pháp đi
Cầm tay nhau cùng xông lên, cùng giương cờ đỏ phấp phới sao vàng
Cờ Việt Minh phất bay cao. Việt Minh chiến đấu hy sinh.
Xông pha diệt quân thù chung".
Nhóm "ca sĩ nghiệp dư" này ắt hẳn thuộc những anh em tù ở Hoả Lò (Hà Nội) hoặc Sơn La? Bài hát này
của Vương Giả Khương (quê Đà Nẵng) sáng tác ở nhà pha Hoả Lò (Hà Nội), năm 1941, tên bài là "Cờ Việt Minh".
Lại ở một ghe khác, có giọng của ai đó hứng chí đứng lên giữa ghe, giọng khàn khàn ngâm thật to mấy câu thơ của Đặng Châu Tuệ sáng tác ngoài Côn Đảo năm xưa:
Để trời đó chỉ nắng rồi mưa
Hỡi bạn đời ơi đã hiểu chưa?
Đời không cách mạng đời vô nghĩa
Sống mấy mươi năm, sống vẫn thừa
Đúng! Đúng! " Đời không cách mạng đời vô nghĩa"
- Sống có... nửa ngày vẫn ư ư ư... sống thừa ... - một người "đế" theo. Không phải là ngâm mà cả cải lương, xuống "xề” khá "ngọt".
Cả ghe cười bò...
Đi được một lúc khá lâu, cuộc hành trình đang ngon trớn, bỗng nhiên trời nổi một cơn mưa giông gió rất to.
Anh Nguyễn Hùng Minh - người cùng Bác Tôn và em ruột mình là Nguyễn Hùng Phước - thay nhau điều khiển canô "Giải phóng" thuật lại:
- "Giông to quá, sóng to quá, nước to cứ vào lòng canô. Anh em nào còn cố gượng được vội vàng thi nhau tát nước, tát thật nhanh".
Lúc này, trên canô, trong tàu, ở các ghe nhiều anh em đã say sóng. Mặc sóng to gió cả, nhóm "cứu thương" vẫn tích cực hoạt động, đưa từng ly nước đường pha sẵn đến cho anh em chống ói.
Gió vẫn thổi mạnh. Chiến canô như ngựa bất kham không còn theo sự điều khiển của Bác Tôn nữa. Tôi nhớ chính xác - anh Minh nói - lúc khó khăn nguy hiểm này, Bác Tôn bảo tôi và Phước để Bác lái còn anh em tôi phụ lái. Giông to gió lớn, sóng biển ào cả tới, chiếc la bàn trên canô bị sóng đánh văng rớt xuống biển. Mất phương hướng. Có lúc hình như canô muốn lạc sang Philíppin hay Malaixia...
Tất cả anh em đi trên canô ai cũng bình tĩnh nhưng rất khó xác định được hướng đi tiếp. Bỗng nhiên Bác Tôn reo lên.
- "A! còn".
Bác nhanh tay rút ra chiếc bút máy "hàng xén" ở túi áo ngực, trên nắp bút có chiếc la bàn nhỏ xíu.
Bác bảo:
- "Tao còn la bàn đây, tụi bây ơi!".
Phước và tôi mừng rơn như người sắp chết đuối vớ được cọc.
Chiếc la bàn gắn trên nắp bút của Bác Tôn vẫn chạy tốt. Với vật xinh xinh nhưng hữu hiệu ấy, Bác Tôn bẻ lái hướng dẫn được canô chạy về phía đất liền.
Thật hú vía! Cơn bão đã qua.
Lúc này trời đã chạng vạng về chiều.
Vẫn mênh mang là biển cả.
Phước và tôi (tức đồng chí Nguyễn Hùng Minh) thay nhau lái để Bác Tôn nghỉ một lát.
Bác dặn chúng tôi:
- "Bọn bây nhìn nước biển, nhìn chim bay trên trời nghe! Thấy nước biển trong là còn xa bờ, nếu thấy đục thì đã gần bờ rồi đó. Khi nào thấy chim nhạn mỏ cắp lá là còn xa bờ, nếu mỏ không cắp lá là sắp tới đất liền rồi đấy!".
"Người chiến sĩ Biển Đen" quả là dầy dạn kinh nghiệm vượt biển.
Chiều tà, nhìn xuống biển thấy nước đục ngòm. Trần Diệp - người nhỏ tuổi nhất lên chiếc canô "Giải phóng"
- tinh mắt nhìn về phía xa xa, rồi bỗng hét lên:
- "Đã nhìn thấy đã liền rồi! Bác ơi, các anh ơi?"
Nghe nói vậy, anh nào, anh nấy như khoẻ ra.
Chừng một tiếng sau đã hiện lên nước mắt mọi người những lùm cây, bãi cát... Và, người...
Trời ơi! Cơ man nào là người...
Canô càng vào gần, càng nhìn rõ hơn. Người! Đúng rồi, đông đặc người! Lại nhìn thấy cả cờ nữa! Nhưng sao có những lá cờ "lạ hoắc" thế kia? Bên cạnh những lá cờ Tổ quốc mà anh em đã biết, sao lại có những lá cờ nền vàng, sao đỏ? Sao lại có những lá cờ màu già và cả cờ trắng có thập ác nữa?!4.
Tiếng một anh nào đó nói rất to:
- Đất ta hay đất người!Cảnh giác! Anh em chuẩn bị lên đạn, đề phòng bất trắc!
Canô đã tiến sát bờ. Tự nhiên máy ngừng nổ.
Phước kiểm tra thấy cạn không còn một giọt nhớt!
Từ lên bờ vang lên những tiếng hô:
- Hoan hô chính trị phạm!
- Hoan hô Việt Minh!
- Hoan hô chính trị phạm! Hoan hô Việt Minh!
Lại thấy những nhóm người lội ào ào xuống biển tiến sát canô, miệng vẫn hét lên:
- Hoan hô chính trị phạm! Hoan hô Việt Minh!
Đúng là đất ta rồi! Nhưng đây là đâu?
Lúc chúng tôi lên bờ, bà con cô bác to tới hỏi thăm:
- Các anh mạnh chứ. Hoan hô các anh! Chúng tôi đợi đón các anh suốt từ trưa đến giờ.
Có má ôm lấy chúng tôi khóc nức nở, tay vuốt vuốt đầu tóc lởm chởm và thân hình gây gộc của anh em chúng tôi...
Có những thanh niên giơ cao cánh tay, bàn tay nắm chặt lại như nắm đấm chào chúng tôi. Có anh giơ tay lên ngang vai, xoè bàn tay ba hành hình chữ V5.
Chẳng hiểu ra sao cả. Nhưng yên trí lớn! Đúng là Mình cả rồi? Ta cả rồi.
Hỏi ra mới biết đây là cửa biển Mỹ Thanh thuộc huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.
Tàu Phú Quốc và đoàn ghe không cập bến này, mà cái trước, cái sau tất cả đã cập bến Đại Ngãi (cùng huyện Long Phú) trong ngày 23-9-1945.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã chuẩn bị đón rước các đồng chí ở Côn Đảo về rất long trọng, chu đáo.
Xin được nói thêm: Đoàn 2 cũng đã cập bến Ninh Kiều thuộc Thị xã Cần Thơ (nay thuộc Thành phố Cần Thơ) sau đó 7 ngày (tức ngày 30-9-1945) trong niềm hân hoan của cán bộ và nhân dân nơi đây.
Các chiến sĩ Côn Đảo đã được các cấp ủy đảng, chính quyền, các cơ quan, đoàn thể xã hội, các má, các chị ... của hai tỉnh Sóc Trăng, Cần Thơ đã dốc hết sức lực, tình cảm và vật chất có được để chăm sóc cho anh em. Vì thế nhiều người phục hồi sức khoẻ rất nhanh.
Nói sao cho hết ân tình của đồng chí, đồng bào Sóc Trăng, Cần Thơ; của đồng chí đồng bào Nam Bộ.
Hầu hết các đồng chí - chẳng kể quê ở miền Bắc, miền Trung, miền Nam - đều tự nguyện ở lại tiếp tục "chia lửa" với đồng bào, đồng chí nơi đây trong cuộc kháng chiến thống thực dân Pháp, sau khi đã dự học lớp "Chính sách mới của Việt Minh", tổ chức tại Đình Tân An (Thị xã Cần Thơ).
Nhiều đồng chí sau này đã giữ trọng trách lớn của đất nước, trong đó có Bác Tôn kính yêu của chúng ta.
____________
* Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Chi nhánh Thành phố Cần Thơ.
1. Com Mi Trà: tức Tham tá (commi) Lê Văn Trà - nguyên là viên chức cũ của Pháp ngoài đảo; sau ngày Nhật hất cẳng Pháp, được Nhật đưa lên làm chúa Đảo.
2. Đồng chí Tưởng Dân Bảo tham gia Quốc dân đảng của Nguyễn Thái Học từ trước những năm 1930. Đồng chí bị bắt và bị đày đi Côn Đảo. Sau này đồng chí được giác ngộ chủ nghĩa cộng sản và gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương (T.G).
3. Có nhiều tư liệu nói về số thuyền biển ra đón chính trị phạm Côn Đảo: 25, 27, 30, 31, v.v. chiếc. Nhưng trong quá trình hoàn thành cuốn Đại bàng tung cánh chúng tôi đã xác minh số thuyền biển là 27 chiếc, nhưng từ đất liền ra Côn Đảo do gặp bão lớn, nên lạc mất 4 chiếc sang Thái Lan, chỉ còn lại 23 chiếc (T.G).
4. Cờ nền vàng sao đỏ là của lực lượng Thanh niên Tiền phong. Cờ màu già là của lực lượng giáo phái Hoà Hảo. Cờ có dấu thập là cờ của tổ chức Chữ thập đỏ. (T.G).
5. Cách chào của Thanh niên Tiền phong Nam Bộ; được ra đời đầu tiên từ Đoàn Rồng (S.E.T - Slection d' excusion et de tourieme) trường Bưởi - Hà Nội. Chữ V: Việt - giơ tay ngang vai tạo thành chữ N; có nghĩa là Việt Nam (T.G).
Bác Tôn với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân TRỊNH VƯƠNG HỒNG*
Bác Tôn Đức Thắng sinh năm 1888, đúng vào năm nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu qua đời. Bác lớn lên ở một vùng quê Nam Bộ vào lúc thực dân Pháp đang từng bước đánh chiếm nước ta, mặc cho triều đình phong kiến yếu hèn từng bước hàng giặc, ngọn lửa yêu nước và chí khí quật cường của dân tộc được dấy lên khắp nơi.
Cù lao ông Hổ thuộc thị xã Long Xuyên (nay là thành phố Long Xuyên) quê hương của Tôn Đức Thắng ở vào giữa một khu vực có phong trào chống thực dân Pháp sôi nổi nhất. Phía Đông có Trương Định dựng cờ ở Tân Anh, Gò Công, phía Tây có Nguyễn Trung Trực với câu nói bất hủ: "Khi nào nước Nam hết cỏ, thì mới hết người Nam đánh Tây"; phía Bắc có Trần Văn Thành nổi lên ở An Giang; phía Nam có Đỗ Thừa Long ở Hậu Giang, Thủ Khoa Huân ở Giao Hoà, Chợ Gạo.
Sinh ra trong một gia đình nông dân Nam Bộ khá giả, từ nhỏ Tôn Đức Thắng đã được đi học, người thầy đầu tiên lại là một nhà Nho yêu nước trong tổ chức "Đông Kinh nghĩa thục", vì vậy ngoài việc học chữ Thánh hiền, học làm người, anh đã sớm tiếp thu truyền thống yêu nước của dân tộc.
Hết bậc tiểu học, Tôn Đức Thắng tròn 18 tuổi được gia đình cho lên Sài Gòn ăn học, đó là năm 1906.
Sài Gòn vào thời điểm nhưng năm đầu thế kỷ XX, khi thực dân Pháp tăng cường khai thác thuộc địa, mở mang công nghiệp, đường xá, nhiều nhà máy mọc lên, thành phố được mở rộng, giai cấp công nhân tăng lên khá nhanh, mọi bất công xã hội ở xứ thuộc địa được phơi bày. Anh thanh niên Tôn Đức Thắng đã không chọn con đường làm công chức, mà lại thi vào Trường Bách nghệ để làm thợ. Đây là một bước ngoặt quan trọng hợp thời đại của anh.
Trong nhà Bảo tàng Tôn Đức Thắng ở thành phố Hồ Chí Minh có trưng bày một bản danh sách học sinh tốt nghiệp Trường Bách nghệ Sài Gòn môn khoá 1915-1917, Tôn Đức Thắng được đỗ ở vòng đầu tiên. Lúc này, Chiến tranh thế giới lần thứ nhất đang diễn ra khốc liệt. Thực dân Pháp đã huy động sức người, sức của ở các thuộc địa cho chiến tranh, nhiều người Việt Nam phải đi lính sang Pháp1. Tôn Đức Thắng cùng một số người thợ Việt Nam được đưa sang làm lính thợ ở Quân cảng Tolo. Vậy là Tôn Đức Thắng cũng từng là người lính trong Hải quân Pháp với số lính là 418, lúc đầu làm việc ở quân cảng, sau đó được xuống làm thợ máy cho Chiến hạm France. Cũng chính trên chiến hạm này, ngày 20-4-1919, người lính thợ Tôn Đức Thắng đã được anh em binh lính khởi nghĩa giao cho trọng trách kéo lá cờ đỏ trên cột cờ chiến tạm France để tỏ rõ thái độ ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga, góp phần làm thất bại chính sách hiến chiến của thực dân Pháp và các nước đế quốc muốn bóp nghẹt nước Nga Xôviết non trẻ.
Sau này, trong bài viết: Tôi đã tham gia cuộc binh biến ở Hắc Hải, Tôn Đức Thắng viết: "Tôi tin rằng, bất cứ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân, được tham gia vào nhưng giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen, không thể hành động khác tôi, bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười”2.
Những năm đầu của thế kỷ XX, nước Việt Nam còn chìm đắm trong đêm trường nô lệ. Tháng 6 năm 1911, Bác Hồ (lúc đó là tên là Văn Ba) xuống tàu đi Pháp để tìm đường cứu nước. 9 năm sau, vào tháng 7- 1920, khi đọc Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lênin, Người tin theo con đường Cách mạng Tháng Mười của Lênin và khẳng định rằng, "Đây là con đường giải phóng chúng ta”. Bác Hồ và Bác Tôn đến với Cách mạng Tháng Mười bằng hai con đường khác nhau. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng viết: "Tôn Đức Thắng không phải là nhà lý luận, nhà tư tưởng, nhà sáng tác, Tôn Đức Thắng là con người hành động, hành động tiên phong”3.
Trong khi Bác Hồ làm Chủ tịch nước, thì Bác Tôn làm Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, sau là Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Bác Tôn đã trở thành ngọn cờ tập hợp sức mạnh toàn dân tộc trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, “ là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh”4.
Những người được sống gần hai Bác nói bằng, Bác Tôn rất giống Bác Hồ ở nhiều điểm. Bác Tôn nói: "Bác chỉ bằng Bác Hồ về mặt lao động thôi. Về chính bị cũng như văn học, Bác không sánh được. Bác Hồ là bậc thầy"5.
Đối với cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang nhân dân thì cả Bác Hồ và Bác Tôn đều thương yêu, chăm sóc dìu dắt, động viên trên từng chặng đường chiến đấu và xây dựng.
Trong Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II Đảng Lao động Việt Nam, (ngày 19-2-1951), Bác Tôn khẳng định: “muốn kháng chiến thắng lợi thì trước hết, đấu tranh quân sự phải thắng lợi. Cho nên Đảng phải trực tiếp lãnh đạo kháng chiến, lãnh đạo đấu tranh nhân dân. Đảng phải ném thêm cán bộ khá vào quân đội và cán bộ các cấp của Đảng phải học quân sự, hiểu quân sự, làm quân sự”6. Thời kỳ đó nhiều tỉnh uỷ viên, huyện uỷ viên và đảng viên ưu tú được điều vào quân đội.
Khi làm Chủ tịch đoàn Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bác Tôn chủ trương để Mặt trận đứng ra đỡ đầu cho Sư đoàn 308 - sư đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta, mở đầu một phong trào kết nghĩa, đỡ đầu giúp đỡ và động viên các lực lượng vũ trang trong toàn quốc.
Ngày 22 tháng 12 năm 1969, với cương vị Chủ tịch nước, Bác Tôn đã thăm hỏi ân cần các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội và các gia đình có công với cách mạng, Bác tuyên dương quân đội: "Hai mươi lăm năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng ta và Hồ Chủ tịch kính mến, được nhân dân cả nước thương yêu, đùm bọc, quân đội ta đã phát triển từ nhỏ đến lớn, từ yếu đến mạnh, liên tục đánh thắng phát xít Nhật, thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, luôn luôn làm tròn nghĩa vụ đối với dân tộc và nghĩa vụ quốc tế”.
Năm 1972, trong trận "Điện Biên Phủ trên không" tại Hà Nội, sau khi ngớt tiếng bom, cùng với các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và quân đội, Chủ tịch Tôn Đức Thắng lúc đó đã tròn 84 tuổi vẫn tới trận địa phòng không Hà Nội, để khen ngợi, động viên cán bộ, chiến sĩ tự vệ đã bắn rơi tại chỗ một máy bay F.111 là loại hiện đại và đắt tiền nhất lúc đó, sau đó đi thăm đồng bào và chiến sĩ ở khu phố Khâm Thiên, nơi bị bom Mỹ huỷ diệt.
Thời đánh Mỹ, các đoàn cán bộ, chiến sĩ Quân giải phóng, đoàn chiến sĩ thi đua và dũng sĩ miền Nam ra Bắc, thường được Bác Tôn tiếp, thăm hỏi và động viên thân tình như tình cảm cha con.
Năm 1972, cháu Nguyễn Thanh Bình, con của chị Tôn Thị Ngọc Quang (là con gái nuôi của Bác Tôn) đi bộ đội. Trong lá thư gửi cho các cháu, Bác Tôn viết: “Ông ước mong cháu sẽ luôn luôn khoẻ mạnh, bền bỉ tiếp tục thực hiện chí khí quang vinh đó cho đến bước cuối cùng của con đường mà cháu đã bắt đầu. Chúc cháu vui vẻ và tự hào, ông hôn cháu!”.
Đối với lực lượng công an nhân dân vũ trang, nhất là đoàn Tân Trào – đơn vị có nhiệm vụ bảo vệ Trung ương, Bác Tôn coi như con cháu trong nhà, thường xuyên xem xét nơi ăn, chốn ở, chỗ làm việc và động viên chiến sĩ kịp thời.
Ngày 15-5-1975, trong Lễ mừng chiến thắng ở Sài Gòn, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nói: “Trong giờ phút lịch sử trọng đại này, tôi thay mặt Đảng Lao động Việt Nam, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà, Mặt trận Tổ quốc Việt nam và nhân danh cá nhân tôi… xin gửi các gia đình liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng, anh chị em thương binh, bệnh binh lời thăm hỏi ân cần và lòng biết ơn sâu sắc nhất”.
Hoà bình lập lại, hàng năm đến ngày 27-7, Bác Tôn thường có thư gửi thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và bộ đội. Người còn có Thư khen cán bộ và nhân viên quân y: “Suốt 30 năm qua ngành quân y đã luôn luôn dũng cảm, tận tuỵ chăm nom sức khoẻ bộ đội, cứu chữa thương binh, bệnh binh, tham gia cứu chữa và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đào tạo, bồi dưỡng được nhiều cán bộ, nhân viên, tích cực học tập nâng cao trình độ khoa học, chuyên môn, góp phần xứng đáng và thắng lợi vĩ đại của dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, góp phần xứng đáng xây dựng nền y học quân sự Việt Nam”7.
Bác Tôn Đức Thắng thật xứng đáng với tấm Huân chương Sao vàng cao quý và lời tôn vinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Lễ trao huân chương cho Người (tháng 8-1958): “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạnh: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạnh, phục vụ nhân dân”8.
Các thế hệ cán bộ, chiến sĩ trong các lực lượng vũ trang Việt Nam kính yêu Bác Tôn, nhà cách mạng, người Chủ tịch nước, người Bác luôn chăm lo từng bước trưởng thành của các lực lượng vũ trang, luôn yêu thương, chăm sóc cán bộ, chiến sĩ; học tập ở Bác một phẩm chất mẫu mực của người công nhân tiêu biểu, tấm gương lớn về đạo đức cách mạng, một con người có chí khí cao cả, khiêm nhường, giản dị, suốt đời phấn đấu không mệt mỏi vì hạnh phúc của đồng bào và chiến sĩ, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa độc lập, thống nhất, hoà bình và phồn vinh.
________________
* Viện Lịch sử quân sự Việt Nam
1. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, Pháp đã huy động 90.000 người Đông Dương, trong đó có 51. 000 lính thuộc địa sang Pháp.
2. Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Sở Văn hoá Thông tin An Giang, 1988. tr.229-230.
3. Một con người bình thường – vĩ đại, Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang, 1988, tr.31.
4. Điếu văn do đồng chí Trường Chinh, Uỷ viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng, Chủ tịch Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đọc trong Lễ truy điệu Chủ tịch Tôn Đức Thắng, ngày 3-4-1980. Báo Nhân dân, ngày 4-4-1980.
5. Đặng Hoà: “Những ghi chép nhỏ về hai tâm hồn lớn”, trong cuốn: Những mẩu chuyện về Bác Tôn, Sở Văn hoá thông tin An Giang, 1988. tr.52-53.
6. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, t.12, tr.489.
7. Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Sở Văn hoá Thông tin An Giang, 1988, tr,328.
8. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.9, tr.221.
Kỷ niệm 3 lần gặp Bác Tôn TRẦN VĂN KHÊ*
Đầu năm 1946, tôi đến chợ Thiên Hộ để gặp bạn tôi, anh Huỳnh Văn Tiểng, lúc kỷ giữ chức Phó Chủ tịch Uỷ ban kháng chiến Nam Bộ, và nhận nhiệm vụ thay đổi các điệu kèn báo thức, chào cờ cho quân đội và thành lập một dàn quân nhạc.
Một buổi chiều, anh Tiểng cho biết hôm đó sẽ có hai người khách quý là anh Hoàng Quốc Việt, và đặc biệt là anh Tôn Đức Thắng, mới từ Côn Đảo trở về, vừa tới Chiến khu. Tôi mừng quá nói với anh Tiểng rằng: “Anh Hoàng Quốc Việt thì tôi gặp đây là lần đầu, còn anh Tôn Đức Thắng thì tôi đã biết từ lâu. Vì tại làng Vĩnh Kim, trong chỗ bà con thân thuộc của tôi, có chị Hai Oanh và con gái tên Hạnh, mỗi lần chị Hai đi chợ Giữa thường ghé thăm cô Ba tôi (bà Trần Ngọc Viện). Cô Ba cho ba anh em tôi (tôi và Trần Văn Trạch, Trần Ngọc Sương) biết chị Hai Oanh là vợ của anh Tôn Đức Thắng, một nhà cách mạng, đang bị tù Côn Đảo. Theo “vai vế” thì các con kêu bằng “anh Hai Thắng”, và nên nhớ rằng anh Hai Thắng cũng như những nhà cách mạng mà các con đã có dịp gặp tại nhà mình như chú Nguyễn An Ninh, chú Toàn, chú Thử, v.v..”.
Tôi và hai em tôi chỉ nghe và biết như vậy, chớ chưa bao giờ gặp mặt anh Hai Thắng.
Bữa cơm chiều hôm kỷ tại chợ Thiên Hộ, chủ khách ăn cùng nhau. Anh Huỳnh Văn Tiểng giới thiệu mọi người trong bàn ăn. Tôi xúc động quá khi thấy nhà cách mạng lão thành “da mặt sạm vì phải giãi gió dầm sương”, cổ đang quấn một cuộn băng trắng sau cuộc giải phẫu nhẹ, tươi cười đến bắt tay, vỗ vai tôi rồi nói: “Nói vậy em là Khê, con chú Bảy Triều đờn kìm rất hay, và thím Bảy trước kia là Bí thư Chi bộ Vĩnh Kim. Phải không? Tôi trả lời: “Dạ phải”. Tôi hỏi lại “Thưa anh Hai” có phải anh Hai là chồng của chị Hai Oanh ở phía cầu sắt gần nhà chú Tám Dung không? Anh Hai Thắng vui vẻ trả lời: “Phải”.
Sau một lúc nhìn nhau cảm động không nói lên lời, anh Hai Thắng hỏi thăm tôi về tin tức bà con ở Vĩnh Kim. Tôi cho biết cô Ba tôi đã qua đời hơn hai năm nay, cô Năm, cô Sáu tôi còn sống, đang ở Sài Gòn, cô Tư tôi cũng vừa mất. Và sau đó tôi lần lượt kể qua gia cảnh của tôi. Hôm sau, tôi phải từ giã anh Hai Thắng để đi về vùng Hậu Giang. Anh Hai vui vẻ nói: “Anh em mình đều ở trong Chiến khu, ắt có ngày còn gặp lại nhau”.
Khoảng đầu tháng 3 năm 1946, tại vùng Cái Nước (Cà Mau), vào một buổi chiều, tôi hết sức ngạc nhiên khi có người đến cho tôi hay rằng có Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước tìm tôi. Phước ở Vị Thanh, đã từ lâu tôi không có tin tức của bạn. Hôm nay tình cờ gặp nhau tại một nơi mà người Việt gọi là nơi “khỉ ho cò gáy”.
Gặp tôi, Phước mừng quá, nhưng sau vài câu thăm hỏi, Phước nói nhỏ: “Tôi muốn nói chuyện riêng với Khê một chút”. Tôi dẫn Phước ra phía sân trước nhà tôi đang ở trọi. Phước rỉ tai: “Tôi đến hôm qua. Có nhà cách mạng lão thành Tôn Đức Thắng cùng đi”. Tôi nghe nói mừng quá, liền hỏi làm sao cho tôi đi thăm người mà trong tình thân họ hàng tôi vẫn gọi là “anh Hai Thắng”. Phước nói: “Tối nay Khê có thể gặp, nhưng bây giờ mình phải bàn gấp với Khê một việc là mình đang tổ chức chuyến đi ra Bắc bằng ghe bầu. Có nhhiều người trong đoàn, nhưng đồng chí Tôn Đức Thắng và mình đề nghị Khê nên cùng đi”. Tôi hỏi “Bao giờ đi?” Phước nói “Khi nào có gió thuận là phải đi ngay”. Tôi nói “Tôi vừa nhận đươc tin giao liên cho biết vợ tôi bị “đàng Thổ” (tiếng của dân trong vùng Kháng chiến gọi người Khmer “đi theo Tây” thời đó) đòi mổ bụng vì là “vợ của Việt Minh”, vì vậy, nhà tôi đã dời Sóc Trăng “chạy” xuống vùng này để tìm tôi. Người giao liên cũng cho tôi biết thêm là vợ tôi đã sanh con trai (thứ nam Trần Quang Minh) và hiện ba mẹ con đang trên đường xuống Bạc Liêu. Tôi đang chờ và sắp đặt cuộc sống cho “mấy mẹ con nó”, mới có thể đi với Phước và anh “Hai Thắng” ra miền Bắc”.
Đêm đó tôi gặp lại anh Hai Thắng tại một căn cứ bí mật, chỉ có Phước, anh Hai Thắng và tôi. Anh chỉ nói sơ qua về chuyến đi: “Anh Hai giao trọn quyền tổ chức chuyến đi ra Bắc cho anh Lưu Hữu Phước. Anh Hai rất mong trong chuyến này có em cùng đi”. Tôi thuật lại hoàn cảnh của tôi như đã nói với Phước ban chiều… Nghe xong, anh Hai nói với Lưu Hữu Phước: “Mình chờ thêm một vài hôm. Chừng nào Khê giải quyết xong vấn đề gia đình, ta sẽ cùng đi”.
Hai ngày qua, tôi vẫn chưa có tin tức gì của gia đình, mà ngay hôm đó đã có gió thuận. Phước cho người đón tôi đến nơi hẹn (một căn cứ bí mật khác). Phước nói rằng: “Đoàn phải đi ngay hôm nay, và hy vọng sẽ còn những chuyến đi khác. Phước bảo tôi trong thời gian ở lại thường xuyên liên lạc với Uỷ ban Kháng chiến vùng, để có tin tức. Trong lúc đó anh Hai Thắng đứng ngó tôi, rồi mỉm cười nói: “Em ở lại để lo sắp đặt cho vợ con em có nơi ăn chốn ở yên ổn rồi em đi sau. Anh em mình hẹn gặp nhau tại Hà Nội”. Rồi hai anh em ôm nhau nghẹn ngào không ai nói được lời nào!...
Lời hẹn với nhau từ năm 1946, mãi 30 năm sau là vào năm 1976 mới thực hiện được. Vào lúc nước nhà vừa thống nhất Bắc Nam. Nhạc sĩ Đỗ Nhuận, Tổng Thư ký Hội Nhạc sĩ Việt Nam được phép lãnh đạo cho mời tôi về Hà Nội để gặp gỡ các bạn trong giới âm nhạc. Năm đó anh Đỗ Nhuận giới thiệu lần đầu với công chúng, đại nhạc kịch “A Sao” của anh viết the loại Opéra với phong cách phương Tây. Anh nói với tôi: “Tối nay tôi mời anh xem nhạc kịch “A Sao” của tôi, và tôi sẽ ngồi bên anh để nói thêm cho anh biết vì sao tôi viết đoạn nào theo thể điệu nào. Nhân đây tôi cũng “tiết lộ” với anh tối nay có Bác Tôn đến dự. Nghe nói anh có họ hàng với Bác, tôi sẽ sắp đặt để anh đến chào Bác”.
Tôi rất vui và mong giờ phút gặp lại người anh bà con, mà anh em tôi quen gọi bằng "Anh Hai Thắng" ngày xưa, hôm ấy đang là Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, toàn dân đều gọi bằng "Bác Tôn".
Sau buổi trình diễn, khán giả ra về. Anh Đỗ Nhuận dắt tôi đến gặp anh công an trưởng giữ trật tự và nói: "Anh Trần Văn Khê là họ hàng với Bác Tôn. Xin cho anh ấy đứng đây để chào Bác”.
Hai hàng công an giữ trật tự an ninh chặn không cho ai được lảng vảng gần ngõ ra phía Tây Nhà hát Lớn.
Bỗng anh Đỗ Nhuận nói. "Kìa, Bác sắp đến". Tiếp theo anh nói to: "Báo cáo Bác, có anh Trần Văn Khê muốn chào Bác". Bác Tôn dừng bước nhìn qua phía tay mặt của Bác, nheo đôi mắt, vừa thấy tôi, mỉm cười và hỏi: "Em về đây bao giờ?". Tôi nói: "Kính thưa Chủ tịch, em về nước đã gần một tháng nay, làm công việc sưu tầm nghiên cứu âm nhạc truyền thống với anh Đỗ Nhuận". Bác Tôn cười dặn: "Gặp anh Hai, em cứ gọi là anh Hai, chớ đừng gọi Chủ tịch, nghe xa lạ quá. Em hiện đang ở đâu?". Tôi đáp: "Dạ, em đang ở Khách sạn Dân Chủ, phố Tràng Tiền. Bác Tôn vui vẻ nói: "Để anh Hai sắp đặt mời em ăn lót lòng với anh Hai, sau đó anh em mình sẽ hàn huyên lâu hơn". Tôi đáp: "Dạ em rất mong sớm gặp lại… Chủ tịch". Bác Tôn cười, lắc đầu nhè nhẹ và đưa tay chào tạm biệt.
Tôi trở về Khách sạn Dân Chủ, vừa tắm xong, đang ghi lại trong tập Du ký, những sự việc đã xảy ra hôm nay, thì có điện thoại: "Có phải anh Trần Văn Khê ở đầu dây không? Tôi là nhân viên trong Phủ Chủ tịch. Bác Tôn bảo tôi nói lại với anh rằng ngày mai, lúc 6 giờ rưỡi sáng, sẽ có xe đón anh vào Phủ Chủ tịch để gặp và cùng ăn sáng với Bác". Tôi trả lời: "Cám ơn anh. Tôi sẽ sẵn sàng trước 6 giờ 30 phút sáng mai”.
Sáng hôm sau, đúng 6 giờ 30 phút, mộc chiếc "xe con" màu đen đến đón tôi vào Phủ Chủ tịch. Tôi như đang sống trong giấc mơ.
Xe vào cổng phía sau Phủ Chủ tịch, và dừng lại gần dãy nhà nhỏ sau dinh Bắc Bộ Phủ. Nghe tiếng xe, Bác Tôn đi ra tới cửa, tươi cười mở rộng vòng tay, ôm siết chặt tôi rồi nói: "Anh Hai hôm nay đón em là bà con người nhà chớ không phải đón khách quốc tế, cho nên không mở cửa chính, chỉ mở cửa sau. Anh Hai lại không thích nhà cao cửa rộng, nên anh ít ở "nhà trên" mà thường ở "nhà dưới". (Người trong Nam thường dùng từ ngữ "nhà trên" để chỉ nơi thờ ông bà và tiếp khách lạ. Còn "nhà dưới" gần nhà bếp, là nơi ăn uống hằng ngày). Tôi cảm động nói: "Em xin cảm ơn… Chủ tịch (Bác Tôn lại cười và dơ tay ra dấu không cho dùng từ Chủ tịch). Tôi ấp úng nói: "Dạ, Cảm ơn… Anh Hai. Em rất mừng hôm nay được gặp lại Anh Hai sau 30 năm chia tay nhau tại Chiến khu Cái Nước”.
Tôi nhìn thấy Bác Tôn vẫn còn mặc bộ đồ pyzama màu hơi xám, ân cần hỏi thăm tôi về tin tức bà con ở Vĩnh Kim, hỏi về cô Ba tôi, chú Tám Dung, anh Năm Lưu, anh Ba Giảnh, và một số bạn bè có cảm tình với cách mạng dưới thời Pháp thuộc. Tôi lần lượt thưa qua mọi việc.
Rồi Bác Tôn nói: "Hôm nay, chị Hai của em về trong Nam có việc. Nhưng có cháu Hạnh ở đây, em còn nhớ Hạnh không? Cháu Hạnh nay đã có cháu ngoại rồi đó". Liền theo đó, cháu Hạnh ra chào tôi. Tuy theo vai vế tôi gọi Hạnh là cháu chớ tuổi tác của hai “cậu cháu” gần ngang nhau. Thú thật, nếu không nói người ra chào tôi là cháu Hạnh, tôi không thể nào nhìn ra. Xưa kia, tôi biết cháu tại Vĩnh Kim, lúc đó cháu là một cô bé tóc vừa chấm ngang vai, nay đã thành "bà ngoại". Hạnh tươi cười nói: "Thưa cậu Hai! Lâu quá rồi cháu không gập cậu. Nhưng cháu nhìn ra cậu ngay. Cháu ngoại của cháu đây. Khoanh tay thưa… ông Cậu đi con". Bác Tôn vừa cười vừa đưa tay ngăn, nói: "ông Cậu sao được. "Nó" kêu Ba bằng ông Cố, thì cũng phải kêu Cậu Hai của bây bằng ông Cố Hai chớ! (Trong Nam thường dùng tiếng "kêu” chớ không dùng tiếng "gọi"). Và trong buổi sáng hôm đó, tôi có dịp nghe Bác Tôn thuật lại một số sự việc đã xảy ra từ lúc "anh em" chia tay nhau. Bác khuyên tôi nên tiếp tục công việc sưu tầm, nghiên cứu để giữ gìn vốn cổ. Và hẹn có ngày "hai anh em" sẽ gặp lại.
Tôi xin phép chụp với Bác một tấm hình kỷ niệm, Bác bằng lòng và nói: "Anh Hai khỏi cần thay quần áo khác làm gì. Tiếp em út trong nhà chớ phải khách quốc tế đâu mà phải "xiêm áo chỉnh tề”, anh Hai mặc áo bà ba chụp với em một tấm hình kỷ niệm".
Tấm hình chụp hôm đó, tôi đã cho in trong tập Hồi ký số 4 (do Nhà xuất bản Phương Nam ấn hành năm 2000). Tấm hình đó là một kỷ vật rất quý đối với tôi.
Rồi từ hôm ấy cho đến ngày Bác Tôn vĩnh viễn ra đi!... Tôi không còn dịp gặp lại Bác. Nhưng tôi vẫn giữ trong lòng hình ảnh một nhà cách mạng can đảm trong công tác, giản dị trong nếp sống và nồng nàn nhưng kín đáo trong tình cảm.
______________
* Giáo sư, Tiến sĩ, Việt kiều tại Pháp
Bác Tôn với phong trào cách mạng ở Sài Gòn cuối những năm 20 của thế kỷ XX ĐINH XUÂN LÂM – PHẠM XANH**
Tốt nghiệp trường Thợ máy châu Á ở Sài Gòn, Tôn Đức Thắng làm việc ở xưởng Ba Son. Trong thời gian Chiến tranh thế giới thứ nhất, anh bị động viên đang Pháp làm công nhân cho xưởng đóng tàu Toulo (Arsénal de Toulon). Chiến tranh kết thúc trong cuộc can thiệp của 14 nước đế quốc vào nước Nga Xôviết nhằm bóp chết nhà nước vô sản đầu tiên trên thế giới còn non trẻ. Anh thợ máy Tôn Đức Thắng bị điều động theo hạm đội đi Biển Đen tiến đánh Xêvaxtôpôn. Anh đã cùng thuỷ thủ Pháp trên chiến hạm dũng cảm đứng lên phản chiến. Sau sự kiện đó, các thuỷ thủ phản chiến Pháp bị phạt tù, còn Tôn Đức Thắng bị buộc xa dời khỏi nước Pháp.
Tôn Đức Thắng trở lại Sài Gòn đúng vào thời kỳ thực dân Pháp đang tiến hành khai thác thuộc địa lần thứ hai. Ở Sài Gòn, nhiều nhà máy cũ được mở rộng về quy mô, nhiều nhà máy mới được xây dựng. Đội ngũ công nhân thành phố vì vậy đông đảo thêm lên. Phong trào đấu tranh của công nhân cũng trở nên thường xuyên hơn, không còn là một hiện tượng hiếm như thời kỳ trước nữa. Điển hình là cuộc đấu tranh của hơn 600 thợ nhuộm Chợ Lớn (11-1922). Cuộc đấu tranh này có tiếng vang lớn. Từ bên Pháp, Nguyễn Ái Quốc đã ca ngợi: "Đây là lần đầu tiên, một phong trào như thế nhóm lên ở thuộc địa. Chúng ta hãy ghi lấy dấu hiệu đó của thời đại”1. Nhưng cũng phải thấy các cuộc đấu tranh của công nhân Sài Gòn lúc đó vẫn nằm trong phạm trù "tự phát”, mang nặng tính chất kinh tế hơn là tính chất chính trị. Một vấn đề được đặt ra với phong trào công nhân Sài Gòn là cần phải có tổ chức. Đồng chí Tôn Đức Thắng, người công nhân ưu tú vừa mới bị trục xuất từ Pháp về, đã đảm nhiệm trọng trách đó. Là người chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga và học tập được ít nhiều kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp, năm 1920 Tôn Đức Trắng đã vận động thành lập Công hội bí mật đầu tiên tại thành phố. Đây cũng là tổ chức Công hội đầu tiên ở Việt Nam. Hội không có văn bản, điều lệ. Mục đích của Hội chỉ để công nhân giúp đỡ lẫn nhau và đấu tranh bênh vực quyền lợi của người thợ, chống đế quốc tư bản. Đến năm 1925, số hội viên đã phát triển dần lên tới 300 người, Ban Chấp hành Hội gồm có:
1- Tôn Đức Thắng (thợ máy hãng KROFF), hội trưởng.
2- Nguyễn Văn Cầm (thợ nguội hãng FACI), phó hội xưởng.
3- N. Mạnh (thợ vẽ nhà đèn), thư ký.
4- Đặng Văn Sâm (thợ tiện nhà đèn), thủ quỹ.
5- …(chưa biết tên), kiểm soát viên2.
Trong những năm tồn tại và hoạt động, Công hội đứng đầu là đồng chí Tôn Đức Thắng đã lãnh đạo cuộc đấu tranh có tính chất cắm mốc thời đại (8-1925) của công nhân Ba Son. Xưởng Ba Son là một nhà máy lớn nhất của thực dân Pháp ở Đông Dương lúc đó, có hơn 1.000 công nhân làm nhiệm vụ sửa chữa tàu chiến và tàu buôn. Thực chất, xưởng Ba Son là một công binh xưởng đặt dưới sự chỉ huy của Hải quân Pháp. Ở đây công nhân được hưởng một sự ưu đãi, lương cao hơn những nơi khác, ngày làm việc 8 giờ, nghỉ trước 30 phút vàngày lĩnh lương đầu tháng. Nhưng đồng thời đế quốc Pháp cũng ràng buộc công nhân bằng những kỷ luật nghiêm ngặt, như Luật chống bãi công…
Công hội, khi biết tin công nhân Ba Son phải sửa chữa gấp chiếc tàu chiến Michilet để đưa sang đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân Trung Quốc, đã lãnh đạo công nhân ở đây tìm mọi cách ngăn cản, hoặc ít ra cũng làm chậm lại ngày nhổ neo của chiếc tàu chiến đó. Vấn đề là tìm được cớ, trước hết là cớ kinh tế cho cuộc bãi công. Ở Ba Son vốn có lệ là được nghỉ sớm 30 phút vào ngày lĩnh lương, nhưng từ khi kỹ sư Cuôchian (Courtial) từ Pháp mới sang lệ ấy bị rút xuống 15 phút. Thế là đã có cớ. Vào ngày 4-8-1925 là ngày lĩnh lương, công nhân đã đóng máy, biểu tình phản đối lên giám đốc và quyết định vẫn chỉ trước 30 phút. Trước sự việc này, viên kỹ sư đã đuổi một số công nhân ra khỏi xưởng. Ngòi nổ đã được châm lửa, thế là toàn thể công nhân bãi công đòi giám đốc giải quyết các yêusách:
1. Tăng lương đồng loạt 20%.
2- Đưa những người bị sa thải trở lại làm việc.
3- Giữ ngay lệ cũ nghỉ từ 5 giờ chiều ngày lĩnh lương.
Trong khi đó, Công hội vận động công nhân, viên chức các công sở và các xưởng máy ở Sài Gòn - Chợ Lớn hưởng ứng cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son bằng việc quyên góp tiền, gạo ủng hộ anh em. Sự ủng hộ đó đã tiếp thêm sức và cổ vũ mạnh mẽ tinh thần tranh đấu của những người bãi công Ba Son. Vì thế, mặc dù Thống đốc Nam Kỳ và Tư lệnh Hải quân đe doạ sẽ đóng xưởng và sa thải toàn bộ nhưng công nhân Ba Son vẫn không hề nao núng. Trước tinh thần đấu tranh kiên quyết của anh em công nhân và áp lực của quần chúng, giới chủ phải nhượng bộ, chấp nhận các yêu sách của anh em, chịu tăng 10% lương. Dưới sự lãnh đạo của Công hội, anh chị em công nhân đã đi làm, nhưng lãn công đã kéo dài thời gian sửa chữa tàu. Mãi đến ngày 28-11-1925 chiến hạm Michelet mới được xuất xưởng. Khi đó phong trào đấu tranh của công nhân và thuỷ thủ Trung Quốc đã kết thúc thắng lợi.
Cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son có ý nghĩa chính trị to lớn. Nó thể hiện ý thức đoàn kết giai cấp đoàn kết quốc tế vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam. Cuộc bãi công này còn đánh dấu một bước tiến bộ mới của phong trào cách mạng Việt Nam, mở đầu thời kỳ đấu tranh có tổ chức, có ý thức chính trị rõ ràng. Với cuộc bãi công này, giai cấp công nhân Việt Nam bắt đầu bước lên con đường đấu tranh tự giác. Rõ ràng, trên một ý nghĩa nào đó, cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son đã vượt ra khỏi khuôn khổ lãnh đạo của một tổ chức công hội mà chức năng chủ yếu là đấu tranh cho quyền lợi thiết thực hàng ngày của công nhân. Qua cuộc đấu tranh này thấy rõ công nhân dâng muốn vươn tới một tổ chức cách mạng cao hơn. Đó là một đòi hỏi thực tế mà phong trào công nhân Sài Gòn đặt ra lúc bấy giờ. Chính Bác Tôn, người sáng lập và lãnh đạo Công hội lúc đó, sau này đã thừa nhận: "Anh em công nhân hồi ấy mong muốn có một tổ chức đấu tranh rộng rãi, lôi kéo được đông đảo quần chúng làm cách mạng"3.
Một sự trùng hợp ngẫu nhiên trong lịch sử Việt Nam là cùng trong khoảng thời gian đó, Nguyễn Ái Quốc đã thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên4 tại Quảng Châu (Trung Quốc). Người cần có một lực lượng có tinh thần cách mạng để thực hiện sứ mạng "gieo mầm cộng sản" trong quần chúng nhân dân lao động. Vì thế, một trong những công việc quan trọng đầu tiên mà Người tiến hành là huấn luyện những chiến sĩ cách mạng trẻ tuổi, rồi phải về nước tổ chức nhiều chi bộ theo nguyên tắc "mỗi hội viên mới được kết nạp vào Hội phải trở thành một phần tử mới của một chi bộ mới”5.
Sẵn có tình cảm tốt đẹp với phong trào công nhân Sài Gòn, cho nên sau khi kết thúc lớp huấn luyện đầu tiên cho thanh niên yêu nước từ trong nước ra học, Nguyễn Ái Quốc đã cử Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi về Sài Gòn hoạt động vào cuối năm 1926. Trong sự nhìn nhận của Nguyễn Ái Quốc, Sài Gòn sẽ là một trung tâm lớn để truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản trong nước. Hai đồng chí Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi đã nhanh chóng bắt mối được với những giới có tâm huyết thông qua quan hệ bạn bè. Đầu năm 1927, qua nhóm Nguyễn An Ninh và những người như Mai Văn Ngọc từ Pháp về, Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi đã liên lạc được với Tôn Đức Thắng. Tổ chức cách mạng mà Nguyễn Ái Quốc sáng lập đang cần lực lượng đã gắn được với tổ chức Công hội Sài Gòn, một tổ chức nghiệp đoàn, một lực lượng xã hội chủ yếu để tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin.
Nhiều hội viên của Công hội đã được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (từ đây xin gọi tắt là Thanh niên), trong đó có Tôn Đức Thắng và Đặng Văn Sâm. Đến lượt mình, Tôn Đức Thắng đã giáo dục, giác ngộ hội viên Công hội của mình và kết nạp một loạt vào Thanh niên tại sân Võ Ca, đình Bình Đông, Sài Gòn6. Đồng thời Tôn Đức Thắng cùng với Phan Trọng Bình lựa chọn người đi Quảng Châu dự các lớp huấn luyện của Nguyễn Ái Quốc. Trong chuyến đi thứ hai từ Sài Gòn sang Quảng Châu có 9 người, trong đó 5 người là hội viên Công hội: Trần Ngọc Giải (tức Thuận Hoà) quê ở Mỹ Tho; Trần Trương (tức Sáu Trương) quê ở Mỹ Tho; Đặng Văn Sâm (tức Nhuận) quê ởPhú Nhuận, Sài Gòn; Bùi Văn Thêm (tức Định) quê ở Tân Định, Sài Gòn; Trần Văn Hoa (tức Hoè) quê ở Mỹ Tho7. Sau khi học xong, những đồng chí đó đều trở lại Nam Bộ hoạt động. Có thể nói, vào thời kỳ đầu hình thành tổ chức cách mạng theo khuynh hướng vô sản từ Sài Gòn, những học trò của Nguyễn Ái Quốc đã dựa vào Công hội của Tôn Đức Thắng để gây dựng và phát triển tổ chức của mình. Nói cách khác, Công hội Sài Gòn là cơ sở cho việc hình thành và phát triển của Thanh niên ở đây và cả Nam Bộ. Đến giữa năm 1927, khi số lượng hội viên của Thanh niên đã tương đối đông8 thì Kỳ Bộ Thanh niên Nam Kỳ được thành lập do đồng chí Phan Trọng Bình làm Bí thư. Sau đó các tỉnh bộ Thanh niên như Tỉnh bộ Thanh niên Sài Gòn - Chợ Lớn cũng được thành lập. Đến năm 1929 toàn Nam Kỳ đã có 49 chi bộ Thanh niên.
Từ năm 1927, Kỳ Bộ Thanh niên Nam kỳ đã nhận được báo Thanh niên, cuốn Đường cách mệnh, cuốn A B C chủ nghĩa cộng sản và nhiều tài liệu mácxít khác bằng tiếng Pháp. Đầu năm 1928, dựa vào những bài giảng của Nguyễn Ái Quốc và các tài liệu mác xít khác, Kỳ Bộ Thanh niên Nam Kỳ và một vài Tỉnh bộ đã mở các lớp huấn luyện ngắn ngày, bồi dưỡng chính trị cho những hội viên mới. Kỳ Bộ đã xuất bản Tạp chí Bônsêvich và báo Công Nông Binh do Phạm Văn Đồng và Nguyễn Kim Cương phụ trách làm cơ quan ngôn luận và phương tiện tuyên truyền cho tổ chức cách mạng của mình. Vào những năm 1928-1929, thực hiện chủ trương "vô sản hoá"; Thanh niên đã đưa những hội viên của mình vào nhiều xí nghiệp, nhà máy, như đưa Ngô Gia Tự vào đến Cảng, Lê Văn Lương, Hoàng Quốc Việt vào xưởng F.A.G.I, Phan Trọng Quảng làm công nhân kéo xe, v. v. Với những hoạt động tích cực đó, Kỳ Bộ Thanh niên Nam Kỳ đã biến tư tưởng cách mạng mới thành một khuynh hướng chủ đạo đối lập với hệ tư tưởng thực dân phong kiến trong đời sống chính trị, tư tưởng của nhân dân Sài Gòn và Nam Bộ, đẩy nhanh phong trào công nhân Sài Gòn tiến lên những bước mới. Trong tổng số các cuộc đấu tranh của công nhân cả nước từ 1926 đến 1928, phần lớn là của công nhân Sài Gòn, và các vùng phụ cận. Tiêu biểu nhất là những cuộc đấu tranh của công nhân Bưu điện Sài Gòn (1-1926), Trung ương Ấn quán (1-1926), đềpô Dĩ An (4-1926), đồn điền Phú Riềng (8 và 9-1927), Nhà máy Nước đá Larue (2-1928), Nhà máy Xay gạo Chợ Lớn (2-1928), nhà in Portail Sài Gòn (5-1928), đồn điền cao su Cam Tiên (9-1928), hãng dầu Nhà Bè (11-1928)... Từ đấu tranh cho các mục tiêu kinh tế đã tiến lên các mục tiêu chính trị, phong trào công nhân dần dần trở thành một lực lượng chính trị độc lập trong phong trào giải phóng dân tộc ở nước ta.
Không nghi ngờ gì nữa, ở Sài Gòn truyền thống đấu tranh quật cường của công nhân đã được xác lập. Do vậy mà các tổ chức tiền thân qua Đảng như Thanh niên và Tân Việt đã lấy nơi này làm địa bàn chủ yếu để từ đó toả đi khắp đồng bằng Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Và không đâu như Sài Gòn có mặt đông đủ các tổ chức cộng sản trước ngày hợp nhất, từ An Nam Cộng sản Đảng, Đông Dương Cộng sản Đảng đến Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.
Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930, đội tiền phong chiến dấu của giai cấp công nhân nước ta khẳng định hoạt động tích cực của Nguyễn Ái Quốc và những học trò của Người trong việc kết hợp chủ nghĩa Mác- Lênin với phong trào công nhân. Tại Sài Gòn, quá trình kết hợp đó đã diễn ra thuận lợi do có sự hoạt động tích cực của Tôn Đức Thắng và Công hội. Trên một ý nghĩa nào đó, Công hội do Tôn Đức Thắng sáng lập từ Sài Gòn đã bắc nhịp cầu đưa chủ nghĩa Mác – Lênin đến với công nhân. Vai trò của Công hội mà Tôn Đức Thắng là người sáng lập và là Hội trưởng thật sự quan trọng trong lịch sử phong trào công nhân Việt Nam vào những năm đầu trên truyền bá tư tưởng cách mạng vô sản ở Sài Gòn.
_____________
*, **. Đại học Quốc gia Hà Nội
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.2, tr.114.
2. Xem: Sự truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, 1980, tr.22-24.
3. Một số vấn đề lịch sử giai cấp công nhân Việt Nam, Nxb Lao động, Hà Nội, 1974, tr. 228.
4. Trong "Tuyên ngôn của Đại hội toàn quốc 1ần thứ nhất của Hội V. N.K.M.T.N" (1929) ghi rõ tên hội là "Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên". Sau đó lại có tên là: "Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội" (Theo: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, t. 1. tr 83.
5. Góp vào lịch sử các phong trào chính trị ở Đông Pháp, tiếng Pháp, 1983, tập IV, tr. 48.
6. Tài liệu của Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh.
7. Xem: Sự truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin và các tổ chức cộng sản đầu tiên ở Thành phố Hồ Chí Minh, Sđd, tr.25.
8. Năm 1927, số hội viên Thanh niên ở một số địa phương như sau: Hà Nội: 40; Nam Định: 40; Nghệ Tĩnh: 30; Sài Gòn: 30; Thái Bình: 20; Quảng Nam: 15, Hà Bắc: 10; Hải Phòng: 10 (theo Nguyễn Thành, Phạm Xanh, Đặng Hoà, Đào Phiếu: Việt Nam Thanh niên Cách mạng đồng chí Hội, Nxb. Thông tin lý luận, Hà Nội, 1986, tr.167).
Bác Tôn – Linh hồn của khối đại đoàn kết toàn Đảng, toàn dân NGUYỄN THỊ BẠCH MAI*
… Tôi xin phép được nhắc lại một kỷ niệm sâu sắc trong đời mình để nói lên ở đây một ý quan trọng tôi muốn nói hôm nay là: Với thanh thiếu niên chúng tôi - nếu một lần đã được gặp Bác Tôn - chúng tôi đều thấy ở Bác một tình cảm thắm thiết với thế hệ trẻ.
Được gặp Bác, chúng tôi thường không nghĩ Bác là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, là Trưởng ban Thường trực Quốc hội, là Chủ tịch nước. Mà chỉ thấy ở Bác một người ông thân thiết hết lòng thương yêu, chăm sóc đàn cháu nhỏ. Ngày mới theo ba má tôi tập kết ra miền Bắc sinh hoạt ở Cung thiếu nhi Hà Nội, tôi đã nhiều lần được đón Bác, Bác cũng quàng khăn đỏ như chúng tôi, cũng vui hát với chúng tôi. Có nhiều đứa trong chúng tôi còn “nhõng nhẽo" nhào vào lòng Bác, ôm hôn Bác.
Bác Tôn có sức hấp dẫn kỳ diệu với tuổi tre, với thanh thiếu niên.
Bác Tôn là niềm tin vô hạn với chúng tôi, mặc dù nhiều bạn cùng thế hệ với tôi lúc đó chưa hiểu nhiều về Bác.
Tôi biếi có thể có ý kiến phê phán bọn trẻ chúng tôi đã sống theo kiểu "tình cảm chủ nghĩa”, chưa hiểu sâu mà đã vội quý, vội trọng. Nhưng hôm nay, đã là cán bộ rồi, đã đứng tuổi rồi tôi lại nghĩ: Với một đồng chí lãnh đạo - càng cao bao nhiêu - thì cái thái độ chân thành - chan hoà cởi mở với tuổi trẻ, với cấp dưới. chính là “cái cửa mở" để di vào lòng người. Để tuổi trẻ, để cấp dưới tự giác đoàn kết và làm việc hết mình, xung quanh người lãnh đạo của mình. Bác Tôn là con người như vậy.
…Rất nhiều người cùng lứa tuổi như tôi, nếu như đến hôm nay, vẫn sống trong sạch, vẫn sống hết mình vì lý tưởng của chế độ; thì một trong những nguyên nhân quan trọng bậc nhất là họ đã tiếp thu được những tấm gương sáng đẹp tuyệt vời từ Bác Hồ và Bác Tôn truyền cho.
Tôi quan niệm “đoàn kết" với các nghĩa kỷ, với các hiệu quả tích cực kỷ, chứ không chỉ ở số lượng con người nghe theo, vâng theo một ai đó, mà hiệu quả của nó lại không có lợi cho sự nghiệp của Đảng. Với nội dung của thuật ngữ "đoàn kết" như tôi đã hiểu thì Bác Tôn chính là người đã đoàn kết được thế hệ trẻ và thúc đẩy họ nối tiếp sự nghiệp cách mạng của Bác Hồ, và của nhiều vịk lãnh tụ tiền bối của Đảng ta.
Ôn lại tiểu sử là sự nghiệp của Bác Tôn, ai cũng đã biết: mới từ Cô Đảo trở về đất liền vào một ngày cuối tháng 9-1945, Bác Tôn đã lại hăng hái đi nhận ngay nhiệm vụ mới của Đảng giao cho. Trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, Bác là một trong những cán bộ của Đảng đã có công xây dựng chính quyền, xây dựng lực lượng vũ trang chống Pháp ở các địa phương phía Nam. Sau đó Bác Tôn được điều động ra miền Bắc vào giữa năm 1946 để cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Trung ương Đảng lãnh đạo kháng chiến, kiến quốc. Năm 1947, Bác Tôn được cử làm Tổng thanh tra của Chính phủ và quyền Bộ trưởng Bộ Nội Vụ. Đến năm 1948, Bác Tôn đã gánh vác một trách nhiệm nặng nề do Bác Hồ và Trung ương Đảng giao phó cho: Trưởng Ban thi đua ái quốc.
Trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, gian khổ thủa ấy (ăn đói, mặc rách, bom đạn giặc Pháp tơi bời, cơ quan nay đóng nơi này, mai dời đến nơi khác v.v.). làm sao mà thi đua ái quốc được nếu không có ngọn lửa yêu nước nồng cháy trong tâm hồn mình?
Thực tiễn cuộc sống đã chứng minh rõ: Có những cán bộ đảng viên và quần chúng đã có tác dụng làm cho "ngọn lửa" ấy bùng cháy, tạo nên sức mạnh vật chất và tinh thần, góp phần đẩy mạnh sự nghiệp của Đảng tiến tới. Ngược lại, cũng có những người lại đã làm tàn lụi “ngọn lửa” kỷ trong quần chúng và cả đảng viên dưới quyền mình.
Muốn "thổi" cao "ngọn lửa" thi đua ái quốc sáng chói lên, muốn “người người thi đua, nhà nhà thi đua" thì một yếu tố quyết định phả đoàn kết cùng nhau yêu nước, cùng nhau suy nghĩ để làm được nhiều việc ích nước, lợi dân. Không có đoàn kết thì dứt khoát không có thi đua (với cái nghĩa chân chính của nó).
Phong trào thi đua ái quốc trong cả nước dưới sự lãnh đạo của Bác Tôn đã được Đảng, Nhà nước ta và Bác Hồ trân trọng đánh giá cao.
Tôi muốn nói cái ý thứ hai rằng: Chính nhờ Bác Tôn đã đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân, nông dân, công nhân, trí thức, người tiểu thương, thợ thủ công, các chiến sĩ trong lực lượng vũ trang, người già, người trẻ,v.v. nên chúng ta mới có được phong trào thi đua sâu rộng, vững mạnh, tốt đẹp như đã có.
Năm 1951, Bác Tôn là Chủ tịch Mặt trận Liên Việt. Năm 1955, Bác là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Từ tháng 9-1969 đến ngày Bác mất (6 giờ 35 phút ngày 30 tháng 3 năm 1980) Bác là Chủ tịch nước.
Trên cương vị công tác kỷ, Bác Tôn từng làm việc với rất nhiều người, đại diện cho nhiều giai cấp, tầng lớp, đoàn thể khác nhau như: Công đoàn, phụ nữ, thanh niên, nông hội… Đảng Xã hội, Đảng Dân chủ, thân sĩ, trí thức; lại có những vị trước đã làm quan to trong triều đình nhà Nguyễn hoặc dưới thời Trần Trọng Kim hay trong bộ máy của chính quyền thực dân Pháp, Nhật.
Vậy mà tất cả đều kính trọng Bác, tin tưởng Bác, đoàn kết xung quanh Bác.
Tôi nghĩ, không phải dễ gì mà một vị khâm sai đại thần, một vị thượng thư trong triều đình nhà Nguyễn cũ lại kính nể, làm theo lời Bác.
Cũng không dễ gì mà một nhà đại trí thức, từng du học ở Pháp, là một trạng sư nổi tiếng trong cả nước, một vị Giám mục, Linh mục hay một Đại đức, Hoà thượng lại coi một người xuất thân là công nhân bình thường, tài học không cao (là Bác Tôn) - như một người cố vấn tin cậy của mình, là người lãnh đạo đáng kính, đáng trọng của mình.
Sức hấp dẫn của Bác Tôn, chất keo đoàn kết của Bác Tôn thật là kỳ diệu.
Từ hiện thực hôm nay, nhớ lại Bác Tôn ta càng thấy sáng chói lên tầm vóc vĩ đại của Bác, công lao to lớn "đoàn kết - đại đoàn kết” của Bác Hồ, Bác Tôn.
Đã có dịp làm việc với tác giả tập sách Đại bàng tung cánh viết về các chiến sĩ cách mạng từ Côn Đảo trở về - tôi rất xúc động khi được đọc nhiều hồi ức của các bạn tù Côn Đảo của Bác viết về Bác.
Tôi xúc động vô ngần khi được biết, để giết Bác mà máu không vấy tay, giặc Pháp đã bắt Bác làm "cặp rằng" ở Hầm xay lúa. Bọn chúng tin rằng vào "Hầm xay lúa”, nhất định Bác sẽ là những người tù ở đây - vốn rất căm thù chế độ nhà tù ở Côn Đảo, lại bị đầy đoạ quá ác độc, nên rất hung hăng - sẽ trút căm thù và giết chết như họ đã từng đập bể sọ “cặp rằng" Bảy Tốt trước đây.
Nhưng không, chẳng những họ không giết Bác mà còn quý Bác, nghe theo Bác. Chính Bác là người đầu tiên đã tổ chức Hội cứu tế tù nhân trong "Hầm xay lúa”. Bằng thái độ cộng sản của mình, Bác đã giáo dục, cải tạo nhiều người tù trong "Hầm xay lúa”. Bác đã đoàn kết họ lại, thương yêu nhau, nhường nhịn nhau. Cuộc sống trong "Hầm xay lúa” khác hơn trước. Có người đau ốm, họ tìm cách lấy gạo nấu cháo, nấu cơm thêm để bạn mình mau hồi sức. Họ cạo gió, xoa bóp cho nhau. Dưới sự lãnh đạo của Bác, Hội cứu tế tù nhân trong "Hầm xay lúa” còn tổ chức dạy văn hoá, nói chuyện truyền thống yêu nước, giáo dục tư tưởng tiến bộ cho tù thường.
Bác Tôn chẳng những đã đoàn kết được những người tù trong “Hầm xay lúa" mà còn cải tạo, và trả lại tính người cho nhiều người dân bị giặc Pháp biến thành những con người mất hết tình thương và niềm tin, không còn tính người. Cũng có nói ngược lại, vì Bác Tôn cải tạo được nhiều người mất hết tính người, nên số người đoàn kết xung quanh Bác - ngay trong Hầm xay lúa – ngày càng nhiều hơn, đông hơn.
Cái tuyệt vời của Bác Tôn là điểm sáng đẹp ấy. Cảm phục Bác quá, nhớ Bác quá, hôm nay.
*
* *
Bác Tôn, vị Chủ tịch đầu tiên của Hội Hữu nghị Việt – Xô, Bác cũng là người Việt Nam duy nhất và đầu tiên trực tiếp tham gia cuộc khởi nghĩa của binh sĩ Pháp trên chiến hạm France nhằm bảo vệ thành quả của Cách mạng Tháng Mười Nga.
Khi tôi theo học ở Liên Xô, đã nhiều lần tôi được nghe các giáo sư và bạn bè Liên Xô và từ nhiều nước khắp Á, Phi, Âu, Mỹ, đến đây học tập nhắc lại sự kiện lịch sử quan trọng ấy với thái độ rất trân trọng, khiến tôi là nữ sinh miền Nam, quê ngoại An Giang, các thầy và bạn càng thương tôi.
Tôi hiểu, sở dĩ mình có được cái hạnh phúc ấy trước tiên vì mình là người Việt Nam, là người Nam Bộ, là con cháu của Bác Hồ, Bác Tôn.
Tôi vô cùng biết ơn Tổ quốc, biết ơn Đảng, biết ơn cô bác miền Nam, biết ơn Bác Hồ, Bác Tôn.
Với những cống hiến của Bác đối với hoà bình và cách mạng thế giới, với Liên Xô, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạng Tháng Mười Nga (1917-1967), Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô đã tặng Bác Huân chương Lênin. Bác Tôn là người Việt Nam đầu tiên vinh dự được nhận Huân chương cao quý này.
Bác Tôn không chỉ là linh hồn của khối đại đoàn kết toàn Đảng, toàn dân mà hơn thế, Bác còn là cái gạch nối – được viết bằng chữ vàng -giữa Việt Nam và Liên Xô.
Xin được phép nhắc là ở đây một đoạn văn trong Thông cáo đặc biệt của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng san Việt Nam, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, Hội đồng Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam nói về Bác - ngày Bác mất.
“Đồng chí (tức là Bác Tôn vô cùng kính yêu của chúng ta - TG) đã suốt đời phấn đấu cho sự phát triển tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị anh em giữa nhân dân ta với nhân dân Liên Xô, nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa anh em khác và phát triển tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới vì lợi ích của sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội".
Hơn bao giờ hết, bài học "đoàn kết, đại đoàn kết" mà Bác Hồ đã dạy toàn Đảng, toàn dân ta, mà Bác Tôn là một biểu tượng sinh động, cụ thể, đầy sức thuyết phục cần được ôn lại, nhắc lại và làm theo trong lúc tình hình đất nước ta gặp trăm nghìn khó khăn như hôm nay.
Cứ làm theo lời Bác Hồ dậy, sống theo gương sáng sủa Bác Tôn thì nhất định đất nước ta sẽ vượt qua được những giông tố, bão táp hôm nay - tôi có sở dĩ lạc quan cách mạng.
_______________
* Công ty Du lịch cung ứng tàu biển Hậu Giang
Tôi đi tìm “Dấu tích” người thợ máy LÊ MINH *
Trong tưởng tượng của tôi, một ngày nào in xong sách, tôi sẽ xin đến thăm Bác, và rụt rè đưa Bác. Nheo mắt đọc tên sách truyện Người thợ máy Tôn Đức Thắng, chắc Bác sẽ hỏi tôi giọng âu yếm và độ lượng:
- Sao làm việc này mà cháu không hỏi Bác?
Tôi thật có lỗi.
Song vì những mẩu chuyện chắp nối về Bác Tôn bấy lâu được biết đã thôi thúc tôi mạnh dạn "ít người được như thế. Bác Tôn thật là công nhân". Nhận xét của đồng chí Nguyễn Lương Bằng càng khích lệ tôi. Tôi tìm gặp những người bình thường quanh nơi Bác ở. Bằng cặp mắt công minh và trong sáng của trẻ thơ, các cháu con các đồng chí công tác tại cơ quan Bác đã đặt tên riêng cho Bác "Ông kỹ sư trưởng".
Tôi càng quyết tâm đi tìm những dấu tích của "Ông kỹ sư trưởng",
"Ông kỹ sư trưởng" có đủ một bộ đồ mộc và đồ nguội, tự tay mua trong chuyến đi công tác đầu tiên ra nước ngoài. Cả xóm cùng dùng. Ông thường sửa chữa các vật dụng không phiền đến thợ ngoài. Chị Liễu phục vụ trong cơ quan khoe với tôi:
- Ông hàn vẫn khéo tay lắm. Cái chậu này lẽ ra đã vứt đi lâu rồi.
"Ông kỹ sư trưởng" thích bày cho các cháu cách sử dụng đồ nghề và cách sửa chữa. Cầm cưa thế nào? Đặt một vật cần giũa lên êtô thế nào? Tay cầm giũa, cách đưa giũa…"- Ông vặn khoẻ tay lắm nhá. Nhờ Ông giúp". Ông vẫn thường hướng dẫn các cháu công việc của người thế như thế trong những giờ nghỉ ngơi sau làm việc. “- Đi sang mượn Ông”. Cả xóm dùng đồ thợ của ông. Chỉ cần tuân đủ một nội quy: đi dùng cứ về lấy, dùng xong lau chùi cẩn thận, treo đúng chỗ.
- Sao? vẫn chưa tìm ra chỗ hỏng. Khéo phải nhờ Ông.
Ông! Vị Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vẫn là người "Ông", vẫn là người thợ, sau khi rời phòng làm việc.
Khi Ông ngoài 70 tuổi, sáng sáng ông có thói quen theo bộ đội cùng chạy tập xuống Bạch Mai hoặc vòng quanh Cột Cờ, đủ số kilômét tự mình quy định. 80 tuổi, Ông chuyển sang rèn thân thể bằng đi xe đạp đường dài. Chiếc xe riêng Ông mua theo giá ngoài, thường dùng để đi thăm bạn bè cùng ngồi tù ngày trước. 4 giờ sáng, Ông dắt xe ra cổng đạp vòng đường Nhổn quành về. 5 giờ sáng, Ông vào phòng tắm nước lạnh. Mùa đông, Ông cũng tắm nước lạnh. Các đồng chí cản Ông, Ông giải thích: "Xối nước thử vào cánh tay, không thấy ớn là mình chịu được. Tắm không sao cả, quen đi”.
Ông Hồ một lần can ngăn Ông:
- Cụ không nên đi chơi bằng xe đạp, lỡ gặp tai nạn.
Ông cười ngượng nghịu.
- Chắc là anh em họ báo cáo sai với Cụ.
Các đồng chí bảo vệ đành phải nhiều lần chọc lốp cho xì hơi để Ông thôi đi xe đạp. Nhưng giờ nghỉ, Ông vác xe ra chữa. Ông phàn nàn:
- Quái, cái xe đạp của mình nó thế nào mà hay hỏng quá nhỉ.
Thường Ông đi dép cao su, còn khi đi tập, có đôi giày vải. Giày vải, Ông khoét một lỗ ở chỗ đốt xương ngón cái trồi ra để đi khỏi đau chân, ông quét một lớp sơn xám cho giày được bền. Đi ra đi vào tập, bộ đội gác giơ tay chào, ông ngại. Về sau ông đi vòng trong sân cơ quan. Mỗi ngày đủ hai kilômét. Ông phân bua để các đồng chí ủng hộ Ông, vì Ông đã 90 tuổi rồi:
- Có vận động trong người mới khoẻ và chống được bệnh tật.
Ông từ chối chế độ xoa bóp của thầy thuốc khi Ông đau khớp chân và sống lưng:
- Làm thế đâm quen, rồi thành tật, cứ phải có người xoa cho mới chịu được. Cái gì mình còn tự làm lấy được, để mình làm. Rồi sau này, chắc cũng có lúc mình cần, nhưng bây giờ, chưa đâu.
Trong những động tác tập, Ông thích uốn sống lưng cho mềm mại. Bác sĩ lo ngại:
- Thưa Bác, bây giờ Bác cao tuổi rồi. Bác đừng làm thế.
Ông quay nhìn đồng chí bác sĩ, Ông làm luôn một động tác.
- Chết! Bác đừng đùa.
Ông cười:
- Cứ để mình làm. Ngày nào trước khi tắm, mình chẳng vận động thế có sao đâu.
Ông nói để bác sĩ yên lòng:
- Mình biết mình hơn ông thầy thuốc chớ. Giữ gìn nhiều quá càng hay ốm. Mình theo gương Bác Hồ.
Bác Hồ yêu thiên nhiên và nắng gió. Có thì giờ Bác Hồ thích lên chơi trên đồi cây ở Ba Vì nhìn xuống bên dưới, con sông Đà dữ dội chảy quanh. Bác Hồ thích hoa, thương giống vật. Trong vườn quanh nhà Bác Hồ trồng nhài, dạ lan hương, hồng. Con đường đi vào Chủ tịch Phủ trồng cây hoa giấy là theo ý Bác Hồ. Bác Hồ dặn, cạnh một cây cổ thụ trong vườn, trồng ngay một cây non để sau thay thế. Tự Bác Hồ kiểm tra việc trồng cây ấy.
Một cây Bụt mọc vẫn bờ ao bị sâu, các đồng chí định chặt. Bác Hồ hỏi: "Thế với người, nếu có khuyết điểm là các chú chặt luôn". Về sau theo ý kiến Bác Hồ, trám những chỗ sâu bằng xi măng, quả nhiên cây lên mầm mới rất khoẻ. Có con chim dài đuôi lâu ngày không thấy đến ăn ở bờ ao, Bác Hồ nhắc. Cho cá ăn buổi chiều, mấy ngày liền không thấy con trắm đỏ, Bác Hồ băn khoăn.
Bác Tôn cũng vậy. Mỗi khi lên commăngca đi công tác, Bác Tôn có thói quen mở hết cửa chắn gió. Bác khoan khoái.
- Gió dễ chịu lắm, như ở biển. Xe nẩy như cách mình được tập thể dục vậy.
Bác Tôn nói đùa để các đồng chí vui lòng cho Bác sử dụng loại xe Bác thích:
- Đi commăngca để mọi người khỏi nghĩ mình là Ông lớn mà.
Đến Đồ Sơn mấy lần, qua chỗ mỏm đá trồi ra biển. Bác Tôn đã ngỏ ý muốn leo ra, nhưng các đồng chí bảo vệ không cho, vì sợ Bác vấp ngã. Một hôm Bác đi thẳng luôn. Một Bác quay lại, Bác cứ di. Đồng chí thư ký của Bác bị bệnh tim mạch đã phải dừng nghỉ vì mệt. Bác ngoái nhìn hỏi:
- Ông Lập rút lui rồi nhá.
Hôm sau Bác nói thật với anh Lập:
- Tôi đã tính ra chỗ mỏm ấy mấy hôm nay rồi.
Năm 80 tuổi, Bác lại ra biển chơi. Nào ngờ Bác bơi và lặn luôn. Các đồng chí bảo vệ theo không kịp. Ngoi lên mặt nước, Bác động viên anh em:
- Không sao mà, lúc trẻ ở đại dương, quăng lưới bảo vệ chống cá mập, mình vẫn bơi thế.
Bác đã định làm gì là làm thật. Bác công bố với tất cả con cháu trong nhà:
- Tao bỏ thuốc lá.
Khách đến đưa thuốc mời, Bác từ chối
Hồi làm Phó Chủ tịch nước (1960), rồi Chủ tịch nước (tháng 9 năm 1969 sau khi Bác Hồ mất), nhiều lần Bác xin rút với lý do sức khỏe không còn bằng trước. Nhưng Bộ Chính trị đã quyết, Bác cố gắng làm việc. Việc cần đi, Bác đi. Dù xa, dù vất vả. Việc cần nghe, cần viết, Bác chăm chú cặm cụi. Tối tối Bác ngồi trước cuốn sổ tay làm việc, suy nghĩ, ghi chép. Nhiều lần đồng chí thư ký có ý lo lắng sức khoẻ của Bác, Bác nói để đồng chí an lòng:
- Bây giờ mình không xốc vác được nhiều như trước, nên càng phải để thì giờ làm cho tốt.
*
* *
Trong những năm Bác Hồ khoẻ mạnh, mỗi tháng một lần vào chiều thứ bảy, Bác Hồ hẹn Bác Tôn đến ăn cơm chung.
Đúng năm giờ chiều, Bác Hồ ra gốc cây chỗ cửa nhà con, sát bờ ao, đón bạn. Đây là căn nhà người coi ngựa của Toàn quyền Đông Dương ngày xưa. Dạo kháng chiến chống Pháp thắng lợi, mới về Thủ đô, Bác Hồ vẫn ở căn nhà này. Nhà một tầng có hai phòng nhỏ, một phòng đủ kê một giường nhỡ để ngủ và một phòng đủ kê bàn làm việc. Bác Hồ ở đây cả những ngày chống máy bay giặc Mỹ, trong phòng có hố cá nhân để trú ẩn. Những gốc cây trước nhà, Bác ghép phong lan. Phong lan nở từng hùm hoa toả hương ngây ngất.
Bác Tôn xuống xe từ ngoài gốc cây xoan tây, chỗ rẽ. Bác Hồ chắp tay chào trước:
- Chào Cụ!
Bác Tôn chắp tay đáp lễ.
- Chào Cụ!
Bác Hồ kém Bác Tôn hai tuổi. Hai Bác đi ven bờ ao, dưới hàng cây bụt mọc, qua vòm cổng tết bằng cây dâm bụt, bước vào nhà sàn.
Những năm sau này, khi Bác Hồ đã yếu, mỗi lần ra trước đồng bào, Bác Hồ thường dặn Bác Tôn:
- Để tôi nắm tay Cụ đi cho đồng bào khỏi thấy.
Từ bảy mươi tuổi, Bác Tôn đã tự biết sức mình, Bác thu xếp trước việc gia đình, Bác bảo hai người con gái kiếm nhà ra ngoài phố ở.
- Để sau khi ba mất, Nhà nước có thể sử dụng được ngay ngôi nhà này.
Những căn gác bỏ không, Bác nói anh em trong cơ quan dọn vào ở. Gia đình các con Bác ra những căn nhà ngoài phố, hướng Tây chật hẹp. Nếu so với tiêu chuẩn cán bộ các anh chị được sắp xếp, lẽ ra nhà cửa tốt hơn nhiều. Những tặng phẩm riêng của Chủ tịch nước, Bác cũng gửi biếu các đồng chí hoặc gửi sang Phủ Chủ tịch. Bác không có của riêng, mặc dù Bác cũng có một gia đình.
Vẫn giữ nếp cũ, Bác chỉ mặc bộ quần áo vải. Bác thích màu vải bộ đội. Các đồng chí may cho Bác bộ quần áo lụa, nhưng Bác ít mặc. Khăn mặt dùng, Bác thích thứ ráp để kỳ được cả lưng. Áo len cũ lắm, Bác không cho con gái đan cái mới. Bác dặn con:
- Thứ gì bảo đảm cái sống là được rồi.
Trong gia đình, Bác gái là đồng chí của Bác và cũng là người bạn cùng tính nết. Năm 1946 khi Bác Tôn đi ra Bắc, thì bác gái xuống Đồng Tháp Mười công tác. Bác gái phụ trách một trại trẻ nuôi các cháu mồ côi. Bác gái được vào Đảng. Năm 1954 lúc sắp hoà bình, Đảng mới đưa bác gái ra Bắc. Từ đó hai bác được đoàn tụ. Mười bảy năm xa cách, gặp nhau được vài tiếng đồng hồ, sau cướp chính quyền Tháng Tám, lại xa nhau tiếp chín năm. Trên sáu mươi tuổi, hai Bác mới được về ở cùng. Nhưng cả hai Bác đều vẫn trung thành chờ đợi nhau.
Bác gái giản dị như xưa, làm mọi việc trong nhà như ngày nào. Bác trai còn ở tù Côn Đảo. Đến năm Bác gái 73 tuổi, mới chịu để việc giặt giũ, quét dọn nơi ở cho các đồng chí trẻ. Bác trai thích giúp Bác gái làm các công việc riêng hàng ngày. Bác trai khen:
- Ngày xưa có hồi bà đi ở cho nhà người ta, những việc thu dọn trong gia đình bà làm vẫn khéo lắm.
Năm 78 tuổi, Bác gái bị xuất huyết não nhiều lần rồi liệt. Bác Hồ đến thăm. Tự tay Bác Hồ cầm đến một trách cá trê kho tiêu:
- Chị, chị ăn đi, ngon lắm! Chính tay tôi kho cho chị đây!
Bác gái thích ăn cá trê. Đau ốm chỉ ăn cá trê. Bác trai vẫn gọi đùa Bác gái là "Bà già cá trê". Trong những ngày Bác gái lâm bệnh nặng, đêm đêm sau những giờ làm việc, Bác trai thức giấc bên giường. Bác theo dõi từng tiếng thở, từng lúc cựa mình của Bác gái. Bác muốn được chính tay Bác giúp đỡ Bác gái trong mọi việc. Phút cuối cùng phải lìa nhau, ngày 25- 5-1971, Bác trai cúi hôn khắp mặt Bác gái, người vợ thương yêu, người bạn đường, mà cũng là người đồng chí suốt đời thuỷ chung với Bác, vì Bác. Bác hỏi các con:
- Ba cám ơn má con, mấy chục năm ba ở tù rồi công tác xa, má con ở vậy nuôi các con khôn lớn. Các con xem hộ ba, ba đối với má con đã tròn nhiệm vụ chưa?
Năm 1975 giải phóng miền Nam, trước khi về thăm những vùng hoạt động cũ và khi trở ra Bắc, Bác đến trước mộ Bác gái. Bác đứng lặng.
Lần kỷ, Bác Tôn đi thăm một nữ đồng chí cũ đang ốm. Đến nhà, Bác thật ngạc nhiên. Chị đương lụt hụi trong bếp tráng bánh xèo. Còn trên nhà, "đức ông chồng" đương cùng mấy ông "tri kỷ" nhậu nhẹt. Bác giận quá, trở về Bác dặn đồng chí thư ký:
- Anh này đã lăng nhăng nhiều chuyện trai gái không tốt. Vợ ốm cũng còn bắt vợ làm. Những người coi vợ như tôi đòi, chồng là chúa, vợ là tôi, xấu lắm. Lần sau anh ấy có đến, tôi không ra đâu. Tôi đã nói cho anh ấy biết.
Mùa Xuân năm 1978, Bác về thăm quê hương lần thứ hai sau ngày giải phóng. Tôi được đồng chí Xuân Thuỷ, Bí thư Trung ương Đảng cho đi cùng đoàn. Đồng chí đã biết, trong mấy năm nay tôi đang đi tìm các tư liệu để viết truyện Bác Tôn. Chuyến đi thật nhiều may mắn. Tôi được đến quê hương Bác, đến những nơi Bác đã từng sinh sống, làm thợ, với những cuộc đấu tranh đã nổ ra xưa kia. Buổi xưa hôm ấy, tôi đang ngồi chơi quanh bàn với mấy đồng chí bảo vệ, Bác đến ngồi bàn. Bác vạch tay xuống bàn:
- Từ nhà mình đi sang nhà thầy học chỉ qua chỗ có lùm tre là rẽ.
Hôm sau, cả đoàn sẽ đi về quê Bác, chắc Bác muốn dặn trước các đồng chí bảo vệ. Quê hương, nơi con người được tiếp nhận đầu tiên những kiến thức của nhân loại, mãi mãi là niềm yêu thương và tự hào, không thể nào quên. Ngày ngày tôi lặng lẽ ngắm nhìn Bác, "đọc" những tâm tư tình cảm của Bác, "tìm" những câu giải đáp về cuộc đời Bác. Chỉ tiếc, vì bảo vệ sức khoẻ của Bác, các đồng chí lãnh đạo không đồng ý để Bác ra Côn Đảo như ý muốn của Bác. Vì thế cho đến hôm nay, tuy trong truyện có nhiều Chương viết về Côn Đảo, nhưng tôi vẫn chưa được đến một lần. Dù sau khi sách được xuất bản (1981) rồi tái bản (1987), tôi nhận được thư và gặp nhiều đồng chí, ai cũng nói: "Cứ tưởng người viết là một anh đã ở tù Côn Đảo nên mới tả được như thế. Chúng mình đọc thấy hiển hiện lên tất cả. Xúc động lắm".
Tôi thật biết ơn đồng chí Xuân Thuỷ. Là nhà thơ, anh hiểu nghề văn của tôi và đã tạo cho tôi một chuyến đi đầy ý nghĩa, dù tôi không hề được biết để đề nghị với cấp lãnh đạo.
Trở về Hà Nội tôi mới thật rõ hơn. Trong chuyến đi, Bác đã mang theo một số tiền lớn, gần hai ngàn đồng, gồm cả đồng và hào lẻ. Đó là tất cả tiền Bác dành dụm được sau chuyến đi thứ nhất. Lần ấy, Bác cũng đã cầm theo tất cả tiền dành dụm từ lâu. Trước khi để con gái Bác -Chị Hai Hạnh băn khoăn hỏi Bác:
- Sợ không đủ, ba ạ!.
Khi về, tiền đem theo hết sạch thật. Lúc này tôi mới nhớ ra, có lần đồng chí thư ký của Bác rủ tôi cùng vào nhà một người để đưa hai trăm đồng bạc. Đồng chí có ý muốn để một người thứ hai chứng kiến cho đúng nguyên tắc chuyện đưa tiền. Người nhận tiền là con một đồng chí cũ đang ở trong hoàn cảnh khó khăn. Người ấy chỉ là một trong những người đã nhận số tiền dành dụm của Bác.
Cuối năm 1979, nhân tôi đến chơi nhà, chị Hai Hạnh bảo tôi:
- Hôm qua ông Cụ vừa đưa tôi cái này. Ông cụ bảo: "Bây giờ mắt ba kém rồi, ba cho con giữ mà dùng".
Một cái đê. Đê khâu của Bác. Bằng mẩu vải gấu áo nâu cũ cắt ra, quấn tròn. Bác đính thành cái đê khâu thật khéo. Tôi đeo cái đê vào ngón tay giữa. Đúng là cái đê của Người tù Côn Đảo...
Ngày 30 tháng 3 năm 1980, nghe tin Bác mất hồi 6 giờ 35 phút, tôi bàng hoàng. Không bao giờ tôi dám nghĩ ngày ấy có thể đến. Vì những cuộc đời như Bác Hồ, Bác Tôn thì đã hoá thân trong cuộc đời của đất nước từ lâu rồi.
Nhớ đến lời đồng chí Nguyễn Ái Quốc căn dặn những đồng chí về nước gây cơ sở đầu tiên cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ: - "Phải chú ý gây cơ sở trong công nhân. Cố tìm cho được anh thợ máy Tôn Đức Thắng". Tôi đã đặt tên cuốn sách: Người thợ máy Tôn Đức Thắng.
Đến tận tháng 1-1981, tức là gần một năm sau, Nhà xuất bản Thanh Niên mới in xong và tôi cầm cuốn sách lên nhà Bác. Bước vào sân, thật nhớ lần đầu được đến nhà Bác, khi ấy các anh phụ trách văn phòng chỉ dám thưa với Bác "Người đồng chí trẻ tuổi mà chiều lên Bác vừa hỏi, đã đi cùng với Bác trong chuyến cano từ Côn Đảo về đất liền ngày khởi nghĩa Tháng Tám, hôm nay đến thăm Bác. Người em gái của đồng chí ấy cũng đến”.
Tôi là "người em gái của đồng chí". Buổi gặp như thế tự nhiên. Không đi vì tôi hy vọng Bác sẽ kể cho tôi nghe về cuộc đời Bác, - điều này Bác không làm vì bất cứ ai, ngay cả các con trong nhà - Ai hỏi về những chuyện cũ đã nhiều người biết, thì Bác cũng chỉ một câu trả lời duy nhất: "quên rồi". Bác thường bảo các con: "có gì mà kể". Chính vì vậy, các con trong nhà cũng tuân theo lời Bác. Tôi đành đi tìm gặp những đồng chí đã có thời hoạt động cùng với Bác. Biết rằng những điều tôi tìm hiểu được không đáng là bao so với cuộc đời Bác đã trải qua, nhưng từ tấm lòng kính yêu Bác, tôi mạnh dạn. Nhiều đồng chí chỉ bảo cho tôi cặn kẽ. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương và Thành phố Hồ Chí Minh giúp tôi tìm hiểu một số tư liệu lịch sử. Các đồng chí phụ trách Văn phòng Bác nhiệt tình, hết lòng giúp đỡ. Vì tất cả chúng tôi cùng chung một ý nghĩ: Bác là người cộng sản chân chính, người công nhân tiêu biểu. Cuộc đời Bác là một tấm gương giải đáp cho thế hệ hôm nay nhiều điều tưởng như khó nói.
Từ cổng, chúng tôi qua sân, vào nhà. Bác đã đứng đợi ở hàng hiên. Bác nhìn đăm đăm "đồng chí thanh niên" ngày ấy. Vóc dáng Bác vạm vỡ, hai tay buông về phía trước, cái lưng hơi gù. Dáng đứng quen thuộc kỷ, tôi đã gặp nhiều lần ở những người dân chài ven biển, nheo mắt nhìn xa khơi ước lượng nước trời, khi thuyền cá bắt đầu rời bến. Chúng tôi vội đi để Bác khỏi đợi. Chúng tôi cùng chào Bác thật to:
- Cháu chào Bác ạ.
Như những đứa con nít chạy về với ông. Còn Bác thì đã đưa cao cả hai bàn tay, chắp vào nhau tỏ ý vui mừng về cuộc gặp. Bác bắt tay chúng tôi. Bàn tay thô và chắc. Bàn tay chỉ có ở những người đã cầm kìm, búa, hoặc đã xiết những sợi chão kéo thuyền.
Bác mộc mạc, giản dị. Nước da tắm nhiều nắng và gió biển, vẫn giữ nguyên mầu nâu đỏ au, khoẻ mạnh. Những nét gồ ghề trên gương mặt đã giúp Bác giấu được nỗi niềm xúc động đương dâng lên trong lòng, khi "người đồng chí trẻ tuổi” ôn kỷ niệm với Bác:
- … Chỉ còn có Bác với cháu là không say sóng. Các đồng chí khác lần lượt nằm hết cả mà sóng vẫn dồi lên, thụp xuống. Một con sóng nhào tới, cuốn theo luôn chiếc địa bàn của Bác. Không còn biết phương hướng nào nữa, xung quanh mịt mù trời biển trắng xoá. Nhưng Bác vẫn bình tĩnh. Bác bảo việc cho cháu giúp Bác. Lát sau, Bác chỉ cho cháu thấy nước biển đã chuyển sang màu bã trầu kìa. Dấu hiệu của đất liền rồi…
Lúc này cháu đã nhận ra trên bờ biển có nhiều bóng người chạy đi chạy lại, lúc mỗi rõ, vẻ nháo nhác. Bác bảo cháu:
- Kéo cờ lên.
Cờ đỏ sao vàng bay phần phật. Tức thì trên bờ biển, bóng người sừng lại. Cano đã vào gần, đã nhìn rõ người rất đông, nhẩy tưng tưng, tay giơ cao.
- Chắc chắn nhân dân đã được phổ biến, đoàn tù Côn Đảo đã được giải thoát trở về.
Quả vậy, sớm tốt thì cano áp bờ. Nhân dân lội ào xuống đón tù, dìu những đồng chí bị say sóng.
- Hai chân cháu tê cứng, mãi mới bước được trong sình, Bác ạ. Còn các má, ôm cháu khóc.
Bác lặng lẽ, lát sau nói:
- Cano chúng mình vào cửa Mỹ Thanh, thuộc Sóc Trăng. Còn đoàn ghe ra đón, đã về được Đại Ngãi.
- Vâng, cháu còn nhớ, đây là xóm chài nghèo. Đang ăn cơm thì nghe loa báo tin: Quân Pháp đã gây hấn ở Sài Gòn và kêu gọi đồng bào chuẩn bị chiến đấu. Đó là đêm 23-9-1945. Sáng hôm sau, Bác và chúng cháu lại lên cano đi Đại Ngãi. Tới nơi thì biết các ông về bằng ghe đã đi hết, thế là cano lại đi tiếp lên Sóc Trăng và gặp lại nhau. Hai hôm sau, tất cả đi Cần Thơ, gặp Xứ ủy và nhận công tác. Lúc này được phát quần áo dân thường và trút bỏ quần áo tù. Số tù của Bác: 5289-20TF (20 năm khổ sai - travaux forcés). Cháu được phân công về Mỹ Tho. Đến đây lại gặp anh Ba Duẩn từ Côn Đảo về bằng ghe, lúc này anh là Xứ uỷ triệu tập họp ở Chợ Cũ và tuyên bố thành lập Tỉnh uỷ Mỹ Tho. Anh Trọng cũng về bằng ghe làm Bí thư, cháu phụ trách công tác thanh niên, trong Tỉnh uỷ còn có chị Ba Kim Chi và thị Mười Thập.
Bác vẫn ngồi lặng.
- Bác ạ, chiếc canô Bác lái về đến Cần Thơ, sau cháu nghe là được giao cho công an sử dụng. Có thể sau này khi mặt trận lan rộng, nó được cất giấu ở đâu đó. Chiếc canô này là canô cứu sinh của tàu chiến Nhật bị đánh đấm, dạt vào Côn Đảo, và anh em cùng vào sửa chữu. Làm sao tìm vớt được nó đưa vào bảo tàng. Vì đó là chiếc canô Bác lái lần cuối dùng trong đời Người thợ máy.
Năm tháng dường như sống lại trong ký ức. Bác chăm chú. Bác mỉm cười. Trời, biển, sóng và gió. Mênh mông là cuộc sống tuổi trẻ của Bác. Bác nheo mắt hỏi:
“- Khi ấy đồng chí Khuê bao nhiêu tuổi nhỉ?1
- Dạ, thưa Bác, năm ấy cháu hai mươi.
Bác im lặng. Còn đồng chí "thanh niên" vẫn kể tiếp:
- Sở lưới của Bác thì gần Sở thuộc da chúng cháu rồi. Thỉnh thoảng cháu qua chỗ Bác, Bác vẫn gọi cho lọ mắm. Bác chắt chiu chứ không như tuổi thanh niên chúng cháu. Bác nhặt từng con cá giắt trong lưới đem làm mắm, rồi gửi cho anh em trong "banh" đau ốm. Bác bảo cháu xách đi.
Bác mỉm cười:
- Tuổi trẻ nhớ nhiều. Nhớ tỉ mỉ.
Đồng chí Lập, thư ký của Bác, có lẽ ngại chúng tôi hiểu chưa hết ý Bác cho là Bác đã đến tuổi hay quên. Anh đỡ lời Bác:
- Bác chỉ không kể những chuyện đã qua thôi, còn việc hôm nay, Bác không quên bất cứ việc gì. Tinh thần làm việc cũng như đạo đức của Bác đã là bài học cho chúng tôi hàng ngày phải cố gắng. Bác giữ sức khoẻ rất tốt. Mấy năm trước ra biển, Bác vẫn lặn. Các đồng chí bảo vệ có khi theo Bác không kịp. Chúng tôi có ý ngăn Bác, thì Bác cười: "Ngày trước mình vẫn bơi ở giữa đại dương mà, có sao đâu”. Sang đến năm nay, bác chín mươi tuổi rồi, Bác vẫn thích đi bộ xa, hàng ngày Bác vẫn đi bộ vài kilômét để rèn luyện thân thể. Chúng tôi đề nghị những khi đi bộ Bác nên cầm theo cái gậy. Chúng tôi nói mà Bác mới chịu.
Bác nhìn tôi, như người cha nhìn đứa con gái nhỏ. Bác giải thích:
- Vì rằng người già thì ai cũng phải chống gậy. Mình không dùng gậy, mình bị kỷ luật.
Chúng tôi cùng cười thật to, khác nào đương quây quần quanh cha, quanh ông mà cùng nhau vui đùa vậy.
- Mình là người lao động, mình quen tự làm lấy mọi việc rồi. Mình cũng thích làm nữa.
Đồng chí Lập để thêm:
- Bác Hồ cũng vậy. Bác Hồ không chịu để ai làm hộ việc gì mà Bác có thể làm lấy được. Tôi được công tác cạnh Bác Hồ hơn mười năm, tôi thấy hai Bác rất giống nhau ở điểm này.
Bác Tôi nhìn chúng tôi:
- Mình với Bác Hồ có giống nhau cũng vì cùng là người thợ. Nhưng mình chỉ bằng Bác Hồ về mặt lao động thôi. Về chính trị cũng như văn học, mình không sánh được. Bác Hồ là bậc thầy.
Bác Hồ! Trong đời đã một lần tôi được ăn cơm với Bác Hồ. Bác xếp chân bằng tròn, ngồi trên chiếu trải xuống đất, trong căn nhà lán ở từng. Chúng tôi quây quanh mâm cơm cùng với Bác. Vừa ăn, Bác vừa hỏi chuyện chúng tôi như giữa cha con. Ăn xong, bên đống lửa sưởi, Bác bảo mọi người hát cho vui. Bác chỉ tôi, trẻ tuổi nhất.
- Cô có biết quay tơ không?
Tôi vừa hát xong bài "Cô gái quay tơ, dệt áo cho người chiến sĩ”. Bác cười:
- Làm cán bộ, nói cái gì, phải làm được cái ấy.
Tờ mờ sáng hôm sau, sương buông còn trắng đục mảng rừng, Bác Hồ đã xuất hiện trước cửa lán chúng tôi:
- Hôm nay Bác bắt quả tang cô dậy muộn.
Như giữa cha và con, tôi không chút sợ sệt mà còn kể lể:
- Dạ thưa Bác, hôm nay về nhà cháu mới được ngủ. Hơn một tháng nay rồi, đêm nào chúng cháu cũng đi trên đường. Ngày gặp địch, đêm gặp địch…
- Trăm nghe không bằng một thấy. Giờ này Bác thấy cô mới gấp màn. Nào, có muốn chụp ảnh với Bác thì ra đây.
Tôi reo lên:
- Có ạ.
Ngồi trước Bác Tôn hôm nay, sao tôi nhớ Bác Hồ. Đầm ấm, mộc mạc. Chân thực tự nhiên, không chút ồn ào. Bác Tôn cũng rất vui. Người được gặp Bác Hồ, Bác Tôn một lần, đã thấy như mình là con cháu. Đúng như Bác Tôn nói, hai Bác đều là thợ. Người thợ có những dáng nét riêng đặc biệt. Nhờ có những năm tháng hoạt động cách mạng với những người thợ và trong nhà máy, đã cho tôi những trải nghiệm để nhận biết.
Chính vì vậy, hôm nay tôi được ngồi trước một người, ngườl ấy vẫn đúng là “anh thợ máy". Anh thợ máy đầy nhiệt tình và nhân hậu như tôi đã được nghe nhiều đồng chí nhắc đến. Anh thợ máy, ngay khi còn là tuổi học trò, đã mang trong mình ý thức rõ rệt, chống đối mọi bất công.
Từ khi mới là học sinh tiểu học, anh đã biết tổ chức cả lớp nhất bỏ học một ngày để phản đối việc tên đốc học Tây bắt hai học sinh phải quỳ phơi nắng một ngày vì một tội không rõ ràng gì.
Học Trường Bách nghệ (1906) rồi làm thợ xưởng Ba Son (1910), ở tuổi 20, anh đã dám đứng ra tổ chức một cuộc đình công lớn chống bọn chủ áp bức bóc lột, biết liên kết, nên được sự ủng hộ hết lòng của lớp lớp nông dân quanh vùng và giới trí thức, báo chí Sài Gòn lên tiếng - Cuộc đình công thắng lợi, tạo tiếng vang rung chuyển trong giới cầm quyền người Phá. Lúc ấy, anh Hai Thắng không hề biết, trước đó nửa năm, có một thanh niên tên là Ba, xuống tàu Latouche Tréville cập bến Nhà Rồng (Sài Gòn), cũng cùng một ý chí như anh.
Khi trúng tuyển trong cuộc thi tuyển lính thợ cho cùng hãng Arsénal (ở bên Pháp), anh đã đi tìm những bạn thợ bên chính quốc. Tại Toulon anh đã gặp, anh đã được biết đến tổ chức cách mạng của họ. Anh được đọc các tài liệu bí mật, trong đó có cả những bài báo của Nguyễn Ái Quốc đăng trong tờ Nhân Dân của Đảng Xã hội Pháp.
Lần đầu tiên, người thợ máy Tôn Đức Thắng biết đến tên Nguyễn Ái Quốc, nghe nói đến Đảng Bônsêvích do Lênin lãnh đạo ở nước Nga. Rồi dồn dập các tình hình nung nấu một cuộc chiến tranh lớn sắp nổ ra. Anh bị điều động xuống chiến hạm France… ngày 20-4-1919 chiến hạm France phản chiến, anh Hai Thắng kéo cờ đỏ…
Một lần nữa tôi lại “tìm” thấy tính cách thợ trong Bác Tôn Đức Thắng. Và "tìm" thấy mối liên hệ như là rất “tự nhiên” giữa Bác Hồ và Bác Tôn, tuy thời ấy cả hai Bác đều chưa hề gặp mặt nhau.
Tôi còn hiểu thêm vì sao Bác Tôn đã rất nhạy cảm, dám lãnh đạo thợ Ba Son bãi công ngày 4-8-1925 để giam chiến hạm Michelet trong xưởng sửa chữa, nhằm ủng hộ Công xã Quảng Châu (Trung Quốc).
Tính cách thợ trong Bác Tôn còn thể hiện sau này khi Bác ở tù Côn Đảo, bị đày vào Hầm xay lúa làm cạp rằng mà không bị ám hại, ngược lại, Bác giác ngộ được cả tù “anh chị", giúp họ biết chữ, biết đoàn kết thương yêu nhau.
Chuyện về Bác Tôn, càng "tìm" thấy, càng dẫn dắt tôi đi, và hình ảnh Bác ngày một rõ nét. Một chiến sĩ ngoan cường, thông minh, luôn tỉnh táo, đã biết tổ chức đấu tranh chống bất công đến thắng lợi, luôn quên mình và không tránh né, vụ lợi. Bác đã không thể ngủ được suốt đêm khi nhận Quyết nghị vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng, vì lo mình không cáng đáng nổi.
Tháng 12 năm 1955, Bác được Ủy ban giải thưởng hoà bình Quốc tế Lênin tặng giải thưởng Lênin Vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc. Bác nói trước nhân dân Thủ đô Hà Nội, mà cũng là với đồng bào cả nước:
- Giải thưởng này tặng cho tôi, nhưng cũng là tặng đồng bào toàn quốc, trong dó có đồng bào miền Bắc, đồng bào miền Nam. Số tiền thưởng 10 vạn rúp, tôi xin hiến lại nhân dân để dùng vào công tác xã hội, có ích lợi chung... Tôi xin hứa với đồng bào, mặc dù trong hoàn cảnh nào, tôi cũng đem hết tinh thần và khả năng phụng sự cho hoà bình và thống nhất của Tổ quốc, cho tình hữu nghị các dân tộc...
Ngày 20 tháng 8 năm 1958, kỷ niệm ngày sinh thứ 70 của Bác, Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Bác Huân chương Sao vàng. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc lời mừng tại buổi lễ trao tặng:
“Hôm nay, chúng tôi rất sung sướng chúc mừng đồng chí 70 tuổi…
Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc, suốt 50 năm đã không ngừng hoạt động cách mạng, 17 năm bị thực dân Pháp cầm tù, chín năm tham gia lãnh đạo kháng chiến, bốn năm phấn đấu để giữ gìn hoà bình thế giới và đấu tranh cho sự nghiệp thống nhất nước nhà.
Đồng chí Tôn Đức Thắng 70 tuổi nhưng rất trẻ đối với Đảng, đồng chí 29 tuổi; đối với nước Việt Nam độc lập, đồng chí 13 tuổi.
Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười vĩ đại.
Đồng chí Tôn Đức Thắng tuy tuổi tác đã cao, nhưng vẫn cố gắng để phụ trách nhiều nhiệm vụ quan trọng…
Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Vì vậy, hôm nay chẳng những chúng ta ở đây, mà toàn thể đồng bào ta từ Bắc đến Nam và toàn thể nhân dân thế giới yêu chuộng hoà bình đều vui mừng chúc người lão chiến sĩ cách mạng Tôn Đức Thắng sống lâu, mạnh khoẻ.
Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao vàng là Huân chương cao quý nhất của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy…”2.
Bác Tôn xúc động đáp từ:
“- … Lời Hồ Chủ tịch nói hôm nay sẽ mãi mãi khuyến khích tôi trung thành đến phút cuối cùng trong cuộc đấu tranh cho hoà bình và thống nhất của đất nước thân yêu, cho chủ nghĩa xã hội, cho hạnh phúc yên vui của toàn thể nhân loại...”.
Năm 1967, nhân kỷ niệm lần thứ 50 Cách mạnh Tháng Mười vĩ đại, Đoàn chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô đã trao tặng Bác Tôn Huân chương Lênin.
Tình yêu quê hương gia đình và đồng chí, luôn luôn ở trong Bác Tôn Đức Thắng. Dường như hồn thiêng đất nước đã ban cho dân tộc Việt Nam ở những năm 20 của thế kỷ XX hai con người không hề biết nhau, mà cùng chí khí, cùng con đường. Họ cùng đến đất Pháp, cùng biết đến tên nhau và cho đến Hội nghị Phôngtennơblô (1946) họ mới được cầm tay nhau và cùng trở lại nước Pháp ở những cương vị mới.
“Phải tìm cho được anh thợ máy Tôn Đức Thắng”.
Tôi vâng theo lời Bác Hồ năm xưa, trong nhiều năm liền, đi 'tìm" bằng được "Anh thợ máy". Sưu tầm sự kiện, khảo sát, xác minh tư liệu, nắm bắt "hồn" các nhân vật lịch sử - từ những lời xa xưa mình chưa sinh ra đời - quyết vượt mọi khó khăn và đã viết được cuốn truyện dài Người thợ máy Tôn Đức Thắng. Đây chính là những bài học lịch sử rất có giá trị cho thời đại hôm nay mà bất cứ ai cũng có thể soi mình, là nỗi lòng tôi kính yêu những người cộng sản đã mở đường cho thế hệ chúng tôi được sống và biết sống.
Năm nay nhân dịp kỷ niệm 115 năm ngày sinh Bác Tôn Đức Thắng (20-8-1988 - 20-8-2003), cũng là 23 năm cuốn huyện Người thợ máy Tôn Đức Thắng hoàn thành (1980-2003), tôi ngồi lặng trước tấm ảnh Bác in trên bìa sách. Một đời người phụ nữ bình thường như tôi, biết đứng trong hàng ngũ những người đấu tranh chống mọi bất công, biết cầm bút, viết được sách và có bạn đọc - đó là nhờ từ khi sinh ra trên đời nay tôi đã có Bác Hồ Chí Minh, Bác Tôn Đức Thắng.
______________
* Nhà văn
1. Nay là đồng chí Trần Diệp
2. Hồ Chí Minh: toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.9, tr.220-221.
Ba Son – Nhà máy Bác Tôn không chỉ tồn tại và phát triển tại cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, mà mãi mãi còn là “Di tích lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng” NGÔ LONG MINH *
1. “Bác Tôn là thợ Ba Son"
Điều đó, tôi được biết ngay từ ngày đầu nghe nói về Bác.
Đến đầu năm 1953 tại Việt Bắc, tôi được vinh dự gặp Bác Hồ cùng với Bác Tôn, và được trực tiếp nghe Bác Tôn tự giới thiệu mình là: “Thợ Ba Son” và trước khi chia tay, Bác Tôn còn dặn dò chúng tôi: "Các cháu từ Nam Bộ ra đây, phải cố gắng học tập. Đến khi nước nhà độc lập, Bác cháu ta cùng về làm việc tại Sở Ba Son”!.
Đến ngày 19 tháng 11 năm 1975, Bác Tôn về thăm lại Ba Son, Bác Tôn đã viết vào sổ vàng của Ba Son và nói với cán bộ, công nhân Ba Son rằng:
“Sau nửa thế kỷ xa cách, hôm nay có dịp về thăm xưởng Ba Son, nơi trước đây làm thợ và hoạt động cách mạng, tôi rất sung sướng và cảm thấy như mình trẻ lại!”.
Ai mà không biết, Bác Tôn ít nói về mình. Khi phải nói về mình thì Bác nói mình là thợ Ba Son. Và cán bộ, công nhân Ba Son đều khắc sâu lời nói của Bác Tôn: "Sung sướng nhất đời tôi làm thợ Ba Son và hoạt động cách mạng!".
Có thể nói, ai mà không biết sự thật lịch sử: “Bác Tôn là thợ Ba Son”.
Nhưng được biết có ý kiến khi coi hồ sơ của Trường Thợ máy Á châu Sài Gòn thấy có tên Người trong sổ điểm danh học sinh khoá học 1915-1917, thì cho Người học tại đây, ở khoá đó. Vả lại cũng từ hồ sơ đó, mà trích dẫn từ: “Moyenne générale des notes de l’examen: 16,44 (machines…) thành ra là: Moyenne générale de l’examen: 16,44 (machines…), từ đó coi điểm: 16,44 chỉ là điểm thi của một môn mà thôi, và môn đó là môn máy nổ, vì họ dịch "machines" nghĩa là “máy nổ”, và rằng học Trường Bách nghệ mà mới có điểm thi của một môn, có nghĩa “còn các môn khác…thì chưa hoàn tất”, tức là Người “đang còn học dở dang” thì “bị động viên sang Pháp”.
Theo đó, thì Bác Tôn không có một ngày nào làm thợ ở Ba Son, vì Bác Tôn chưa học xong, đã sang Pháp rồi, cũng có nghĩa là: “Bác Tônkhông phải là thợ Ba Son”.
Song sự thật vẫn là sự thật:
Sở dĩ có tên Người trong sổ điểm danh nằm trong hồ sơ của khoá học 1915-1917 của Trường Bách nghệ Sài Gòn là vì lúc bấy giờ bọn thực dân Pháp làm cái việc là đưa Người (đã là thợ giỏi qua Ba Son) cùng những người thợ khác về đây để tổ chức thi tuyển chọn thợ giỏi theo đối tượng "bị động viên sang Pháp”, và tiến hành mọi công việc chuẩn bị, trước khi đưa họ đi họ đã là những người thợ (không phải là học sinh làm lính thợ ở Pháp (tháng 9-1916) trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, mà danh sách của họ trong sổ điểm danh nằm trong hồ sơ đã được nói đến có tên Người, lúc bấy giờ Người đã 27 tuổi, có tên trong danh sách những người “bị động viên sang Pháp”, chứ không phải là danh sách học sinh chỉ gồm những người từ 17-20 tuổi là độ tuổi nhà trường thu nhận, theo điều kiện tuyển học sinh của mình.
Còn sau “khi từ Pháp trở về (Tôn Đức Thắng) có đến trình diện tại trường, xin học bổ túc lấy bằng... với lời hứa làm tài xế cho nhà trường...” thì đó chỉ là việc xin học để, ngoài cái bằng tốt nghiệp đã có, với số điểm bình quân của các môn: 16,44 (Nom et prénon: Tôn Đức Thắng… Moyenne générale des notes de l’examen:16,44 (Machines…), Người lấy thêm một bằng nữa, đó là bằng lái xe để “làm tài xế cho nhà trường” (nhưng "đột nhiên (Tôn Đức Thắng) rời khỏi trường”) chứ không phải Người xin tiếp tục học, vì trước đó học dở dang, dễ được lấy bằng tốt nghiệp, vì Người đã có bằng tốt nghiệp vào năm 20 tuổi, mà sau đó Người đà vào làm thợ Ba Son.
2. Ba Son - Nhà máy Bác Tôn, chính là một trong những cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam!
Lịch sử từng viết: Thực dân Pháp xâm lược Việt Nam, ra sức vơ vét của cải của ta, biến nước ta thành một thị trường tiêu thụ hàng hoá của chúng, cho đến cuối thế kỷ XX chúng chưa có điều kiện tiến hành những kế hoạch khai thác lớn ở Việt Nam,v.v…”.
Nhưng không có nghĩa là đến lúc bấy giờ, giai cấp công nhân Việt Nam cũng chưa ra đời.
Nếu nói "là sản phẩm trực tiếp của chính sách khai thác thuộc địa của tư bản thực dân”, thì cũng cần nói: “Giai cấp công nhân Việt Nam xuất hiện khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản Pháp vào Việt Nam”1, mà trước hét là từ cơ sở công nghiệp ra đời sớm nhất, mà ngay từ đầu chúng đầu tư trực tiếp phục vụ cho chiến tranh xâm lược cai trị nước ta.
Quả vậy, xâm lược nước ta, thực dân Pháp phải bắt đầu và sớm tiến hành cuộc chiến tranh trên sông biển bằng phương tiện chiến tranh lợi hại nhất lúc bấy giờ là chiến thuyền, pháo hạm, là tàu, là thuyền.
Ngày 1 tháng 9 năm 1858, tàu chiến Pháp nổ súng tiến công vào cửa biển Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta qua đường biển, bằng chiến thuyền và pháo hạm. Sau đó, chúng chuyển đại quân vào đánh chiếm Gia Định cũng bằng đường biển, đường sông với phương tiện chiến tranh lúc bấy giờ, cũng là chiến thuyền và pháo hạm.
Nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống pháp, không tách rời với chiến thuật đánh phá của địch. Khi De Genouilly đưa 2.000 quân với 8 tàu chiến tiến vào Gia Định, “nhân dân Bến Nghé đã dũng cảm đứng lên chống giặc xâm lược. Họ đã đóng cọc trên sông, kết thuyền lại, dùng chiến thuật hoả công ngăn chặn quân giặc” (Nguyễn Đình Đầu). Nhưng lịch sử thì không ghi được một trận đánh nào của quân thủy triều đình nhà Nguyễn chống trả quân Pháp ngay trên sông, biển của mình, vì bấy giờ những chiến thuyền "không sẵn sàng chiến đấu còn đang nằm sửa chữa xong ụ của Thuỷ xưởng ("8 chiến thuyền còn nằm trong xưởng đóng tàu”), và có hơn 100 chiến thuyền gỗ nằm bất động trên sông Thị Nghè, và trong cái cảnh "trong thành có hơn 2.000 quân với 200 đại bác, nhưng pháo của ta trên thành bắn xuống tàu địch không hiệu quả" để thành Gia Định bị địch hạ, và Thuỷ xưởng rơi vào tay địch.
Thuỷ xưởng (được lập ra từ năm 1790 dưới thời Nguyễn Ánh tại khu vực: dọc sông Tân Bình (Sài Gòn), quanh sông Bình Trị (Rạch Thị Nghè), tức tại Ba Son bây giờ trên mảnh đất Gia Định – Sài Gòn) là mục tiêu, mà trước đó người Pháp đã nhòm ngó, ngay từ khi họ giúp Nguyễn Ánh xây thành Gia Định, và lập Thuỷ xưởng giúp Nguyễn Ánh đánh Tây Sơn.
Năm 1859, tàu chiến Pháp do Genouilly chỉ huy, tấn công, chiếm thành Gia Định, thì đồng thời chúng cũng nhằm “Phía trước các mặt thành Sài Gòn (thành Gia Định) là những khoảng rộng 457m với một xưởng đóng tàu hoàn chỉnh3 tiến hành “dàn trận trước thành Gia Định”, và đối mặt trước thuỷ xưởng, và “cho hai tùa vào Rạch Thị Nghè” lúc tấn công và đánh chiếm thành Gia Định.
Sau khi bị đánh chiếm, thành Gia Định bị giặc Pháp phá huỷ, còn Thuỷ xưởng thì chúng chiếm lấy.
Năm 1960, quân Pháp rút hết quân và tàu chiến ở Đà Nẵng vào Gia Định.
Nam 1861, quân Pháp dùng 70 tàu chiến, 470 đại bác, trên 3 ngàn quân tấn công Sài Gòn.
Cũng năm này, Nguyễn Trung Trực chỉ huy nghĩa quân đánh địch trên sông Nhật Tảo đốt cháy tàu Espérance giết hầu hết bọn địch trên tàu này.
Năm 1862, Trương Định không tuân lệnh bãi binh của triểu đình, tiếp tục đánh Pháp, tấn công 2 tàu Lorcha tại Bến Lức, tấn công pháo thuyền Alarmer và trận địa pháo địch ở rạch Gò Công, đồn địch Rạch Kiến, đốt tàu Lorcha số 10…
Rồi Trương Định “Bình Tây đại nguyên .soái” hoạt dộng ở Gò Công, vùng Tân An, Sài Gòn, Đồng Tháp Mười, hai bên nhánh sông Vàm Cỏ, từ biển Đông đến biên giới Campuchia, đã từng đánh úp nhiều chiến thuyền giặc, nhiều căn cứ địch, cũng như cắt đứt nhiều đường giao thông thuỷ của chúng.
Và quân Nguyễn Trung Trực, sau khi đánh chiếm đồn Rạch Giá, thì rút về Hòn Chông, rồi ra Đảo Phú Quốc. Sau đó giặc Pháp dùng tàu thuyền ra Đảo Phú Quốc, vây đánh Nguyễn Trung Trực.
Rõ ràng, xâm lược nước ta, thực dân Pháp phải bắt đầu và không thể không tiến hành cuộc chiến tranh trên sông biển, và chúng phải đối đầu cuộc kháng chiến, mà nổi lên lúc bấy giờ là chiến thuật, tài nghệ đánh phá chiến thuyền, pháo thuyền địch của nhân dân ta, mà chúng không thể không tiến hành chiến tranh với điều kiện sông nước. Vấn đề sống còn của chúng lúc bấy giờ là vấn đề tàu thuyền, pháo hạm, gắn liền với cơ sở sửa chữa tàu thuyền, vì “Thời ấy, cuộc chuyển vận đều do đường thuỷ”4.
Cho nên, chúng vừa mới đánh chiếm thành Gia Định, chưa tấn công được đại đồn Chí Hoà, thì “Năm 1860 khi mới xâm chiếm…, quân đội Pháp liền lập ngay bên bờ sông Sài Gòn (địa điểm Thuỷ xưởng; Ba Son hiện nay) vài trại xưởng đơn sơ bằng sườn cây mái lá để chữa cấp bách các chiến hạm đang tác chiến…” (xem Lý lịch được lập ngày 18-2-1974) của Đơn vị Hải Quân Công xưởng, tức Ba Son, lưu tại Ba Son), “để các thứ tàu chiến, tàu buôn, khỏi đem về Pháp quốc”
Để có thể "chữa cấp bách các chiến hạm”, Phép đã phải xây ngay tại Thuỷ xưởng cái ụ tàu để sửa chữa.
Năm 1861, khi đang còn trong khói lửa chiến tranh, quân Pháp đã bắt tay lập ngay từ Thuỷ xưởng cái ụ tàu và xuất ra trên bảy triệu quan thời kỷ để lấp đất xây ụ tàu, đủ biết tầm quan trọng của nó đối với xưởng sửa chữa, đóng tàu Ba Son. Đó là cái "Giúp họ nắm vận mạng xứ này trong tay”5 cũng như giúp chúng thực hiện âm mưu biến Sài Gòn thành bàn đạp, để xâm lược toàn bộ nước ta, thôn tính toàn bộ miền Nam và bán đảo Đông Dương.
Lúc bấy giờ, tại đây ngoài cái vũng nước mà quân Pháp đào lớp đất làm thành cái ụ tàu mà chúng gọi "Bassin de radoub”, còn những vũng nước khác chúng ghi trên bản đồ là: "Bassin No1", “Bassin No2", "Bassin No3", v.v., nhưng rồi người mình cũng không gọi là "Bassin", mà vẫn gọi là "Ba Son" tên gọi đã có trước đó quen thuộc của mình, sao mà nó gần gũi như những cái tên Bà Chiểu, Bà Điềm, Bà Hòm, Bà Quẹo, Bà Rịa, và cả cái tên Ba Sông (tức xưởng Ba Son tại ngã ba sông). Lúc này, thực dân Pháp chưa bắt đầu xây dựng thành phố Sài Gòn kiểu châu Âu theo dự án của chúng (theo bản đồ Sài Gòn do đại uý công binh Côphanh (Coffyn) vẽ đã được công bố ngày 13 tháng 5 năm 1862, mà chúng còn tiến hành bán đấu giá 84 lô đất, và ngày 2-11-1863, chúng lại bán lô đất cho Hãng vận tải đường biển (Messageries Maritimes) để xây dựng cảng Nhà Rồng.
Nhưng trước đó, ngay từ năm 1861 thực dân Pháp đã bắt đầu xây cái ụ tàu “Bassin de radoub" đầu tiên, rồi cái ụ ấy được xây lại vào năm 1863, (theo thiết kế của kỹ sư Antoine người Pháp), cùng với việc chúng tiếp tục đầu tư, mở rộng, trang bị mới kỹ thuật, một cơ sở sửa chữa, đóng thuyền vốn có từ Thuỷ trưởng, trở thành xí nghiệp công nghiệp đầu tiên: xí nghiệp sửa chữa, đóng tàu Ba Son, đánh dấu một bước ngoặt lịch sử.
Trong cảnh nước mất nhà tan, Sài Gòn đang bị dày xéo dưới gót giày quân xâm lược Pháp, một trang sử mới của Sài Gòn được mở ra ngoài ý muốn của chúng, mà trong đó Ba Son - có cội nguồn từ Thuỷ xưởng lập từ năm 1790, bị chúng xâm chiếm nhằm thực hiện âm mưu xâm lược và chính sách thực dân, đã trở thành xí nghiệp công nghiệp đầu tiên ra đời ở nước ta. Cùng với nó, lớp người vô sản công nghiệp đầu tiên, trước hết là thợ sửa chữa, đóng tàu thuyền dần dần hình thành. Vì vậy, lúc bấy giờ hễ nói đến lớp vô sản, là người ta nói vô sản thợ thuyền, hoặc thợ thuyền. Ba Son nằm giữa Sài Gòn - thành phố Hồ Chí Minh chính là cái nôi sớm nhất của giai cấp công nhân Việt Nam! và lịch sử cũng ghi nhận, khi đó chưa xuất hiện giai cấp tư sản bản xứ.
Trong điều kiện lịch sử đó, Ba Son tồn tại và ngày càng phát triển, trở thành cơ sở lớn nhất của công nghiệp tàu thuỷ trên cả nước, đồng thời là trung tâm cơ khí cho cả Đông Dương. Tại đây, hàng ngũ những người thợ làm công việc tàu thuyền, mà từ buổi đầu còn ít ỏi và được gọi là: “vô sản thợ thuyền” hoặc “thợ thuyền” ngày càng lớn mạnh lên về số lượng lẫn chất lượng.
Ba Son không chỉ là nhà máy tồn tại và phát triển từ nơi nó ra đời, mà còn là "di tích lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng” mãi mãi!
Người ta đã nói thế giới sẽ có nhiều thay đổi, đang đổi mới từng ngày do bước vào thời đại phát triển cao về khoa học - công nghệ, song có một điều không bao giờ đổi thay, đó là Ba Son - một trong những cái nôi của giai cấp công nhân Việt Nam, nơi có người thợ máy Tôn Đức Thắng đã đi vào lịch sử là Nhà máy Bác Tôn.
Đó là sự lựa chọn của lịch sử.
Ba Son vừa là một điểm son lịch sử và văn hoá, cũng vừa là "di tích lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng" đã được Nhà nước công nhận. Nơi đây vừa là một cơ sở công nghiệp đầu tiên của nước ta, ra đời và phát triển thành trung tâm cơ khí lớn nhất của Việt Nam và của cả Đông Dương ngay thời Pháp thuộc, là biểu tượng của quá trình phát triển công nghiệp cơ khí tàu thuỷ Việt Nam, mà lịch sử phát triển của nó đã xuyên qua 3 thế kỷ.
Ngày nay, Ba Son hoàn toàn khác với Ba Son cách đây 140 năm. Nó đã được đầu tư và phát triển trong thời gian qua, với tiềm năng vốn to lớn chưa từng có, chính ngay trên mảnh đất xưa kia nhưng đã được cải tạo, hoặc xây dựng các công trình mới, trang bị kỹ thuật mới, trong đó có những thiết bị, máy móc hiện đại, công nghệ cao mà ngành đóng tàu trong cả nước chưa ở đâu đó. v.v .
Song, nó không chỉ dừng lại trên mảnh đất mà nó đã ra đời.
Ba Son đã trở thành Xí nghiệp Liên hợp sửa chữa và đóng tàu, đã và đang thực hiện Quyết định của Bộ Chính trị: "Ổn định lâu dài Ba Son tại vị trí hiện nay, đầu tư chiều sâu… Lấy Ba Son làm trung tâm đóng tàu (tàu quân sự)”. Ba Son phấn đấu đầu tư mọi mặt, kể cả trí thứchoá đội ngũ công nhân, để làm ra những con tàu là sản phẩm tổng hợp, hiện đại, hàm lượng trí tuệ cao, kéo theo sự phát triển các chuyên ngành khác, vì rằng: "Lịch sử cho thấy, những nhà lập kế hoạch công nghiệp (quốc gia có biển) đều tính đến việc mở mang việc sửa chữa và đóng tàu là kỹ thuật quan trọng, là kỹ thuật toàn cầu. Nó mang lại sự phát triển lớn mạnh của ngành khác và công nghiệp hoá phát triển”.
Ba Son là như thế đó, Nhà máy Bác Tôn là như thế đó, ngày nay, Ba Son đang: “Bảo đảm tốt các yêu cầu hoạt động, chiến đấu và xây dựng Hải quân ta, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” theo lời dạy của Bác Tôn, mang lại lợi ích sống còn vô giá cho đất nước; đồng thời, góp phần thực hiện sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tăng cường tiềm lực quốc phòng, phát triển kinh tế, xã hội, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Trong tương lai, khi nói đến sửa chữa, đóng tàu không còn chỉ là nó đến vấn đề kỹ thuật, mà phải kể đến sự ứng dụng và quản lý phần mềm. Với vị tr đứng đầu, chức năng trung tâm của Xí nghiệp Liên hợp mà quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện nhiệm vụ sửa chữa, đóng tàu, nhất là tàu quân sự, tàu chiến.
Trong tương lai sẽ có người ngạc nhiên bởi Ba Son hiện nay không còn thấy ánh lửa hàn của người thợ hàn bằng tay, hoặc không nghe tiếng búa gò tôn thép vỏ tàu, mà nó đã trở thành cơ quan đứng đầu của Xí nghiệp Liên hợp Ba Son, và là trung tâm của khoa học - công nghệ sửa chữa, đóng tàu, đặc biệt là tàu Hải quân.
Như vậy, thành phố Hồ Chí Minh không thể vắng bóng Ba Son, với trung tâm của nó nằm chính ngay trên mảnh đất lịch sử, là nơi "chôn nhau cắt rốn" của nó nhưng đã được đầu tư phát triển phù hợp, hài hoà với quy hoạch chung, một quy hoạch mà theo đó, những gì đã và sẽ trở thành hiện thực, hoặc được cải tạo và xây dựng sẽ không phá vỡ cảnh quan, "kết hợp cả về kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế”, “đảm bảo tính hợp lý trong cấu trúc đô thị”, làm đẹp thêm thành phố mang tên Bác Hồ. Giữ gìn Ba Son là chúng ta giữ gìn được cả di sản vật thể của quá khứ, hiện tại của giai cấp công nhân Việt Nam; do đó, đòi hỏi Ba Son phải viết tiếp những trang sử hào hùng để các thế hệ sau không chỉ biết đến một Ba Son trong lịch sử, mà còn được tận mắt nhìn thấy Ba Son phát triển cùng với con người Ba Son, con cháu của Bác Hồ, Bác Tôn nối tiếp nhau.
Không những hôm nay, mà cả mai sau Ba Son luôn là tài sản vô giá. Nếu Ba Son tồn tại và phát triển theo mục tiêu mà Bộ Chính trị đã vạch ra, như đã nêu trên, thì tài sản nói trên sẽ luôn được bảo tồn và phát triển không ngừng.
_____________
* Đại tá, nguyên Tổng Giám đốc Xí nghiệp Liên hợp Ba Son.
1. Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương: Lịch sử Đảng Cảng sản Việt Nam, Nxb. Sự thật, 1983, t.1, tr. 38.
2. Xem Nguyễn Phan Quang: Góp thêm tư liệu Sài Gòn – Gia Định từ 1859-1945, Nxb trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
3,4. Vương Hồng Sến: Sài Gòn năm xưa, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr.110.
5. Sđd, tr.110.
Tôn Đức Thắng - Con người cống hiến toàn vẹn cuộc đời cho lý tưởng độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội BÙI ĐÌNH PHONG*
Tôn Đức Thắng sinh ngày 20-8-1888 trong một gia đình nông dân nghèo tại Mỹ Hoà Hưng, tỉnh Long Xuyên (nay thuộc tỉnh An Giang). Truyền thống yêu nước và nhân ái của quê hương và đất nước đã sớm hun đúc lòng căm thù giặc, hoài bão đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương đất nước ở người thanh niên Tôn Đức Thắng. Tuổi thanh niên, Tôn Đức Thắng sống, học tập và từng bước trưởng thành ở quê nhà trong tình cảm yêu thương của những người thân trong gia đình, làng xóm; trong phong trào chống Pháp bất khuất, kiên cường của người dân Long Xuyên, Nam Bộ.
Năm 1906, sau khi tốt nghiệp tiểu học, Tôn Đức Thắng rời quê nhà lên Sài Gòn học tại Trường Bách nghệ. Đây đó thể coi như một bước ngoặt đầu tiên của cuộc đời, một kết quả hợp lôgic, phù hợp với sự phát triển ý chí quyết tâm của người thanh niên sớm giác ngộ tinh thần yêu nước và có hoài bão giải phóng đồng bào, giải phóng quê hương từ nhỏ của Người. Và cũng từ đó, Tôn Đức Thắng đến với giai cấp công nhân Việt Nam.
Sau khi học nghề và tốt nghiệp với kết quả cao, năm 1910 Tôn Đức Thắng vào làm việc cho một xưởng máy sửa chữa và đóng tàu của Hải quân Pháp ở Sài Gòn – xưởng Ba Son. Theo tác giả Trần Văn Giàu, "xưởng sửa chữa và đóng tàu Ba Son - xưởng đầu tiên của Sài Gòn là một xưởng cơ khí. Ở đó ngay từ đầu, trong những trại gỗ, lá có trại đúc, trại nguội, trại hàn, trại mộc, trại đánh dây, ụ nổi…, dùng nhân công người Việt và người Hoa kiều, dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của một đại đội thuỷ binh Pháp. Xưởng này cũng đóng những tàu nhỏ đi sông".
Làm việc ở xưởng Ba Son, chính thức sống cuộc đời một người thợ, nhưng Tôn Đức Thắng vẫn có mối liên hệ chặt chẽ với học sinh của Trường Bách nghệ. Năm 1912, tuổi 24, không chấp nhận ách áp bức đè nén của bọn Pháp, Tôn Đức Thắng đã lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân xưởng Ba Son và cuộc đấu tranh của học sinh Trường Bách nghệ. Sau sự kiện này, bị thực dân Pháp theo dõi, truy lùng, Tôn Đức Thắng trốn sang Pháp làm công nhân trong một công ty hàng hải ở Toulon để chờ cơ hội tiếp tục thực hiện ý định cứu dân cứu nước của mình.
Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ, Chính phủ Pháp vơ vét nhân lực ở các thuộc địa sung vào quân đội, đưa sang chiến trường châu Âu. Trong tình hình đó, Tôn Đức Thắng bị điều động làm thợ máy trên chiến hạm France, phục vụ cho Hải quân Pháp và sau đó tham gia vào cuộc binh biến ở Biển Đen.
Năm 1917 Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và thắng lợi. Trước và sau thời gian này, Tôn Đức Thắng đã chăm chú theo dõi tình hình cách mạng thế giới cũng như các phong trào đấu tranh của nhân dân Việt Nam. Anh hiểu rằng thắng lợi của Cách mạng Nga không chỉ riêng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Nga, mà đó là thắng lợi chung của giai cấp vô sản thế giới luồng gió mát từ nước Nga thợ thuyền sẽ giải độc cho nhân dân các dân tộc thuộc địa.
Sự ra đời của nhà nước xã xội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới làm chuyển động địa cầu. Ở Pháp lúc bấy giờ, bộ máy tuyên truyền tư sản tiến hành một chiến dịch vu khống điên cuồng chống lại nước Nga Xôviết, tìm mọi cách xuyên tạc bản chất của những sự kiện đang diễn ra ở đó. Trên tường các toà nhà ở Pari treo đầu những áp phích vu khống, lăng mạ. Cuối năm 1918, Chính phủ Pháp chuyển từ việc tuyên truyền thù địch sang việc trực tiếp can thiệp vũ trang chống nước Cộng hoà Xôviết trẻ tuổi. Chiến hạm liên quân Pháp – An tiến vào Biển Đen và vùng biển Xêvaxtôpôn, Ôđétxa, chúng đổ bộ chiếm Khécxơn, Nicôlaiép và tấn công xa hơn về phía Bắc.
Để chống lại sự can thiệp ấy và bảo vệ nước Cộng hoà Xôviết trẻ tuổi, giai cấp công nhân Pháp đã tổ chức nhiều cuộc biểu tình quần chúng. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc đã có nhiều hoạt động có ý nghĩa như phân phát truyền đơn của Đảng xã hội Pháp kêu gọi nhân dân lao động chống lại sự can thiệp vào nước Nga. Đây cũng là thời kỳ như Tôn Đức Thắng đã kể lại trong hồi ký của mình rằng, “đã bao lần tôi đi tìm đồng chí Nguyễn Ái Quốc nhưng không gặp”. Theo E.Côbêlép trong cuốn Đồng chí Hồ Chí Minh, tháng 401919, nhiều cuộc biểu tình cách mạng đã nổ ra trong các đơn vị Pháp đóng ở Ôđétxa và trên nhiều tàu đậu ở Xêvaxtôpôn và Ôđétxa. Binh lính và thuỷ thủ Pháp kết nghĩa anh em với công nhân Nga, cùng nhau hát Quốc tế ca. Họ hô vang những khẩu hiệu: “Hãy về Toulon”, “Đả đảo cuộc chiến tranh chống lại nước Nga”. Trên các hạm tàu đã thành lập các Uỷ ban cách mạng của thuỷ thủ… Những người Angiêri, Marốc, Việt Nam trong trung đoàn hỗn hợp Phi châu đóng ở Ôđétxa cũng không chịu đi đánh nhau vì quyền lợi của bọn tư bản Pháp và chuyển sang phía Hồng quân”1.
Nhưng Chính phủ Pháp Clêmăngxô vẫn tiếp tục thổi bùng ngọn lửa chiến tranh. Các hạm đội Pháp vẫn tiến vào vị trí, quay súng vào thành phố cảng Ôđétxa. Trong năm chiến hạm có chiến hạm France của Tôn Đức Thắng. Toàn bộ thuỷ thuỷ hạm đội phản kháng. Trong âm vang của bài Quốc tế ca và tiếng phản đối chiến tranh, một lá cờ đỏ từ từ được kéo lên trên chiến hạm France. Đó chính là lá cờ do Tôn Đức Thắng kéo lên để phản đối cuộc binh biến ở Biển Đen và ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga.
Hồi ký của Tôn Đức Thắng kể lại những giây phút cảm động đó:
“Trời đã tối, tàu đã sắp qua Đácđanen. Không khí trên tàu càng sôi sục. Một số anh em vận động thuỷ thủ họp míttinh để đấu tranh với bọn chỉ huy. Anh em bảo tôi: “ Trước khi míttinh mày ra kéo cờ đỏ nhé! Kéo để cho chiến hạm Hồng quân biết chúng ta là bạn, không phải là thù”. Tôi rất thích được tự tay mình làm việc đó. Lúc đó quảng gần sáng, chiến hạm đã lọt vào Biển Đen. Tiếng kèn tập hợp vừa nổi lên (cũng là tiếng kèn tập hợp thường ngày của thuỷ quân nhưng lần này không phải của bọn chỉ huy), thì ngọn cờ đỏ cũng đã được kéo lên cột cờ Đô đốc”. Các bạn Nga ơi, tầu của chúng tôi còn xa bến các bạn, các bạn còn chưa thấy lá cờ này. Nhưng ngọn cờ này giữa Hắc Hải, chúng tôi chào các bạn. Tôi mong ước với lá cờ đỏ này, chiến hạm sẽ chạy vào hải cảng các bạn và tôi sẽ đổ bộ để may ra được tham gia cách mạng và được học hỏi để về nước làm cách mạng”2.
Dĩ nhiên là Tôn Đức Thắng không thể độ bộ lên nước Nga được, vì ngày 28-4, khi Hồng quân Liên Xô tiến vào chiếm lại thành phố thì hạm đội Pháp được lệnh quay về Pháp. Và mặc dầu chỉ huy quân đội Pháp hạ lệnh cho thuỷ thủ hạ lá cờ đỏ xuống, nhưng cờ đỏ vẫn tung bay trên chiến hạm.
Qua báo chí Pháp, tin tức về cuộc nổi dậy đó ở Biển Đen đã được rất nhanh. Quốc tế Cộng sản, Đảng Xã hội Pháp, Nguyễn Ái Quốc, Lênin đều theo dõi cuộc nổi dậy đó. Theo tài liệu của tác giả Đỗ Quang Hưng thì Lênin đã viết về sự kiện đó như sau: “Tên tuổi những người thuỷ thủ ở Biển Đen liên quan đến hồi ức trên cả nước Pháp và Cách mạng Nga. Những người công nhân Pháp biết rằng, chính những người hiện giờ đang bị giam trong nhà tù khổ sai ở Pháp đã kéo cờ khởi nghĩa ở Biển Đen vì họ không muốn làm những tên đao phủ của công nhân và nông dân Nga”3.
Về sau, Tôn Đức Thắng đã viết lại trong nhật ký của mình: "Tôi tin rằng, bất cứ một người Việt Nam yêu nước nào, đặc biệt là công nhân, có mặt trong những giờ phút lịch sử đó trên Biển Đen cũng để hành động như tôi. Bởi vì, yêu Tổ quốc, căm thù bọn đế quốc, thì trước hết có nghĩa là phải yêu mến Cách mạng Tháng Mười và căm thù kẻ nào chống lại cuộc cách mạng ấy”4.
Rõ ràng, với hành động yêu nước và cách mạng đó, Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười và xây đắp tình cảm giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân thế giới, vun trồng tình hữu nghị Việt – Xô; đồng thời biểu thị tình cảm và quyết tâm của nhân dân Việt Nam với con đường Cách mạng Tháng Mười Nga, với lãnh tụ Lênin vĩ đại.
Sau sự kiện ngày 20-4-1919, Tôn Đức Thắng rời khỏi Hải quan Pháp và trở về Việt Nam, tiếp tục hoạt động cách mạng ở Sài Gòn. Do có mối quan hệ cũ ở Trường Bánh nghệ, xưởng Ba Son và là một thợ giỏi, nên Tôn Đức Thắng được nhận vào làm thợ cơ khí cho nhà đèn Chợ Quán. Cũng cần nhắc lại rằng, từ những ngày đầu vào học ở trường Bách nghệ và sau đó vào làm việc ở xưởng Ba Son, đó là dấu hiệu chứng tỏ Tôn Đức Thắng muốn tiếp xúc với công nhân, muốn xây dựng và tổ chức phong trào cách mạng trong lực lượng tiên tiến nhất của xã hội là giai cấp công nhân.
Những gì Tôn Đức Thắng làm cho phong trào công nhân, cho Công hội đỏ Việt Nam thực sự đã bắt đầu từ đó. Chính vì vậy, ngay khi về tới Sài Gòn, vừa làm việc với tư cách một công nhân thợ cơ khí, Tôn Đức Thắng vừa tổ chức, vận động những người thợ yêu nước tham gia vào một tổ chức thích hợp của giai cấp công nhân. Kết quả của những cuộc vận động ấy dẫn tới những cuộc bãi công đấu tranh của nhân dân và công nhân quyên góp tiền bạc, lương thực. Những tổ chức tương tế ái hữu ra đời, mà lúc đó có người gọi là Ủy ban tổ chức bữa cháo cộng sản. Trên cơ sở đó Công hội đầu tiên ở Việt Nam xuất hiện ở Sài Gòn năm 1921. Theo giáo sư Trần Văn Giàu, đây không phải là một hội tương tế ái hữu thông thường nữa, vì ngoài mục đích tương trợ, hội còn có mục đích chống đế quốc, làm chính trị. Vì đó chính là Công hội Ba Son do Tôn Đức Thắng thành lập. Đây chính là thành quả của một quá trình hoạt động trong phong trào công nhân và đặc biệt học được kinh nghiệm của Công đoàn Pháp khi Tôn Đức Thắng trực tiếp tham gia vào tổ chức ấy ở Toulon.
Gọi là Công hội Ba Son nhưng hội viên bao gồm nhiều cơ sở lân cận trong thành phố. Số lượng hội viên Công hội Ba Son trong những năm đầu (từ năm 1921 đến giữa năm 1925) khoảng 300 người, Hội trưởng Tôn Đức Thắng (thợ máy hãng KROFF). Với tính chất là một tổ chức bí mật, bất hợp pháp, dưới sự lãnh đạo của Tôn Đức Thắng, Công hội Ba Son tuy còn nhỏ bé nhưng đã có nhiều hoạt động tích cực, có ý nghĩa và tác dụng to lớn. Hội là nơi để anh em công nhân học hỏi lẫn nhau, nâng cao trình độ hiểu biết. Đó là một loại hình "sinh hoạt thợ thuyền" như trên một tờ báo của Tổng Công hội Pháp. Nó đem lại nhiều điều bổ ích cho giai cấp công nhân: xây dựng cả tình cảm và lý tưởng, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Đặc biệt, Công hội đã tổ chức được nhiều cuộc đấu tranh, trong đó đáng chú ý là cuộc bãi công nổi tiếng giam chân tàu chiến Pháp, chiến hạm Michelet, hơn ba tháng ủng hộ Cách mạng Trung Quốc, như một dấu son đánh dấugiai cấp công nhân Việt Nam đã trưởng thành chuyển qua thời kỳ hoạt động mang tính "tự giác”, để từ đó tính "tự giác” ngày càng tăng và tính "tự phát" ngày càng giảm dần để đến năm 1930, giai cấp công nhân Việt Nam hoàn toàn bước sang trình độ "tự giác”. Cuộc bãi công Ba Son tháng 8-1925 có ảnh hưởng to lớn, vượt ra ngoài biên giới. Đây không chỉ là cuộc bãi công đông về số lượng công nhân tham gia (hơn 1.000 công nhân), được sự ủng hộ của hàng vạn công nhân Sài Gòn – Chợ Lớn, kéo dài thời gian (từ ngày 4-8-1925 đến tận ngày 28-11-1925 bọn chủ đã nhượng bộ) mà đặc biệt đây là sự kiện ghi nhận tinh thầm quốc tế vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam. Cần phải khẳng định thêm rằng, cuộc bãi công nổ ra khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời, nhưng trình độ tổ chức, ý thức đoàn kết, kỷ luật, sự phối hợp đấu tranh thực hiện cả mục tiêu kinh tế và chính trị là khá vững chắc. Công lao này thuộc về Tôn Đức Thắng.
Cuối năm 1926 đầu năm 1927, những phái viên của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ Quảng Châu bí mật về Sài Gòn hoạt động như Phan Trọng Bình, Nguyễn Văn Lợi. Trong thời gian này, Tôn Đức Thắng và nhiều đồng chí khác trong Công hội Ba Son đã gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tôn Đức Thắng tích cực hoạt động trong tổ chức mới và trở thành một trong những người lãnh đạo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vùng Sài Gòn – Chợ Lớn. Đồng thời, Công hội của Tôn Đức Thắng trở thành một cơ sở quan trọng cho sự phát triển cả bề rộng lẫn chiều sâu của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Sài Gòn. Ngược lại, chính nhờ ánh sáng cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh thông qua hội viên và Tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên mà Công hội Sài Gòn mới dần có nội dung và định hướng xã hội chủ nghĩa rõ nét.
Tuy nhiên, Công hội Sài Gòn của Tôn Đức Thông chưa kịp phát huy những thành quả đã đạt được, tạo bước phát triển mới thì vụ án đường Bácbiê (Barbier) Sài Còn và cuộc khủng bố của chính quyền thực dân đối với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã làm cho Công hội Sài Gòn gặp muôn vàn khó khăn. Liên quan đến vụ án này, Ngô Thiêm - một trong những lãnh đạo Kỳ bộ bị tử hình. Phạm Văn Đồng, Bí thư Kỳ bộ Nam Kỳ bị đày ra Côn Đảo. Tôn Đức Thắng bị kết án 20 năm tù khổ sai. Tháng 6-1930, Ông bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo. Ông là một trong những chiến sĩ cộng sản đầu tiên bọ tù ở hòn đảo này.
Tổ chức và đấu tranh là vũ khí sắc bén của người cộng sản. Ở nhà ngục Côn Đảo, nhiều vấn đề mới nảy sinh, nhiều cuộc tranh luận nổ ra trong nội bộ những người cộng sản hoặc giữa những người cộng sản với đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng. Một trong những vấn đề đầu tiên được thảo luận sôi nổi là ở Côn Đảo có tổ chức chi bộ Đảng được không? Cuộc thảo luận cuối cùng đã đi đến kết thúc bằng kết quả chi bộ đầu tiên ở Nhà tù Côn Đảo ra đời vào khoảng đầu năm 1932 tại khám Chỉ Tồn, Banh I là nơi Tôn Đức Thắng bị giam trên cơ sở nhóm hạt nhân được hình thành cuối năm 1931. Chi bộ lúc đầu có chừng 20 đảng viên do Nguyễn Hới làm bí thư. Tôn Đức Thắng là một trong những chi uỷ viên. Chi bộ xác định những nhiệm vụ chủ yếu:
- Lãnh đạo đấu tranh trong tù.
- Giáo dục bồi dưỡng lý luận cho nhau.
- Tuyên truyền, giác ngộ binh lính, giám thị.
- Liên hệ với Đảng ở đất liền và tổ chức vượt ngục khi có điều kiện.
Chi bộ đặt lên hàng đầu lòng trung thành tuyệt đối với Đảng là tiêu chí quan trọng nhất của đảng viên.
Tôn Đức Thắng được chi bộ phân công là một trong những người chỉ đạo tổ chức tương tế trong tù để giúp đỡ lẫn nhau.
Một trong những vấn đề mà chi bộ cũng rất quan tâm là đảm bảo mạch máu thông tin liên lạc, giữ vững mối liên hệ giữa các khám trong Banh và giữa Banh I và Banh II. Tôn Đức Thắng đã tích cực góp phần đảm bảo mạch máu giao thông của chi bộ.
Trong thời gian này chi bộ Côn Đảo cho ra tờ báo Ý kiến chung nhằm tuyên truyền, giác ngộ, giáo dục, tổ chức quần chúng và các đảng viên cộng sản, tạo thành một khối thống nhất, thực hiện tốt nhữug nhiệm vụ của chi bộ. Ban Biên tập của báo được đặt tại Khám 9, BanhI, nơi Tôn Đức Thắng bị giam giữ. Tôn Đức Thắng có vai trò to lớn trong việc cho ra đời tờ báo, viết nhiều bài cho báo và đồng thời tìm mọi cách bảo vệ, duy trì tờ báo hoạt động bí mật, mở dường dây liên lạc quan hệ với các Banh khác, tạo điều kiện phát hành tờ báo đến tận các cơ sở được an toàn. Báo Ý kiến chung đã phản ánh được nguyện vọng chung của tù nhân ở Côn Đảo và xứng đáng là diễn đàn chung của những người tù ở Côn Đảo.
Khoảng năm 1955, bọn gác ngục phát hiện được Tôn Đức Thắng liên hệ với tù chính trị Banh II. Chúng phạt giam ông vào Hầm xay lúa.Hầm xay lúa là một hình thức khổ sai để tận dụng lao động của tù nhân, vừa được cấu tạo một cách đặc biệt để đày đoạ người tù. Sau một vài vụ xô xát làm chết người ở Hầm xay lúa, Tôn Đức Thắng được cử ra giúp việc bọn cai tù (cặp rằng). Đây là một ý đồ thâm độc của bọn coi tù nhằm "lấy tù trị tù”. Hiểu được thủ đoạn nham hiểm này, một số đồng chí cộng sản cũng bị đày ở Hầm xay lúa bàn với Tôn Đức Thắng nên nhân dịp này nắm lấy quyền lực để cải cách chế độ ở Hầm xay lúa. Tôn Đức Thắng đã đảm trách công việc này góp phần ổn định, giáo dục, tổ chức lại những công việc ở Hầm xay lúa. Những hình thức cứu tế tù nhân lại tiếp tục được phát huy. Một không khí thân ái, đoàn kết, học tập, chia sẻ lẫn nhau đang dần thay thế cho sự thù hằn, chia rẽ giữa các tù nhân trước đây. Đây là một trong những thành công trong quá trình từng bước cải tạo địa ngục Côn Đảo mà công lao thuộc về những người tù cộng sản, trong đó có Tôn Đức Thắng.
Cùng với hoạt động báo chí và nhiều hình thức đấu tranh phong phú khác, nhà tù Côn Đảo đã biến thành trường học chủ nghĩa cộng sản. Ở Banh I từ những năm 1931-1932, Tôn Đức Thắng cùng các đồng chí khác như Nguyễn Hới, Tống Văn Trân đã huấn luyện cho anh em những vấn đề về tổ chức Đảng, về Công hội đỏ, Nông hội, Đoàn thanh niên phản đế, về cách tập hợp quần chúng, tổ chức biểu tình,…
Bị đày ải trên một hòn đảo giữa biển khơi, cách đất liền hàng trăm cây số, nhưng ý chí vượt đảo về đất liền tiếp tục hoạt động cách mạng vẫn là ý nghĩ thường trực của những người tù chính trị. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ của người đảng viên mà nghị quyết chi bộ đã nêu ra. Chi bộ đã lập Quỹ giải phóng để quyên góp tiền ủng hộ các cuộc vượt ngục và lựa chọn những đồng chí có năng lực lãnh đạo đưa về tăng cường cán bộ cho Đảng. Những đồng chí án nặng từ chung thân khổ sai đến 20 năm khổ sai được chú ý chọn trước. Trong khoảng một năm từ tháng 4-1934 đến tháng 4-1935, sau mấy chuyến vượt ngục không thành, chi bộ đã tổ chức được hai chuyến vượt đảo thành công. Các đồng chí ở Côn Đảo trở về đã báo cáo cụ thể với Xứ ủy Nam Kỳ về sự ra đời và hoạt động của chi bộ cộng sản ở nhà tù Côn Đảo. Trên tinh thần đó, Đại hội lần thứ nhất Đảng Cộng sản Đông Dương họp ở Ma Cao (3-1935) đã công nhận chi bộ cộng sản ở nhà tù Côn Đảo là một chi bộ đầu tiên dưới sự chỉ đạo của Xứ ủy Nam Kỳ. Tin này đã đem đến cho các đảng viên niềm phấn khởi và tin tưởng lớn lao. Dưới sự lãnh đạo của chi bộ, cuộc đấu tranh ở Côn Đảo đã có những bước phát triển mới. Chi bộ đặc biệt tiếp tục được củng cố. Chi uỷ được chuyển sang khám 8-9, đồng chí Tôn Đức Thắng phụ trách bí thư5. Chi bộ đặc biệt quyết định tổ chức học tập lý luận một cách tương đối có hệ thống cho cán bộ, đảng viên. Các vấn đề lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin như đảng kiểu mới của Lênin chuyên chính vô sản chiến lược và chiến thuật cách mạng, vấn đề dân tộc và cách mạng… đã lần lượt được nghiên cứu, trao đổi, giải đáp. Đặc biệt lý luận đó đã được liên hệ chặt chẽ với thực tiễn cách mạng, với cuộc sống cuộc đấu tranh của anh chị em ở trong tù.
Dưới sự lãnh đạo của chi bộ đặc biệt mà đứng đầu là Tôn Đức Thắng, vai trò của báo chí như tờ Ý kiến chung, Tiến lên đã góp phần tích cực vận động cho các cuộc đấu tranh. Chi bộ đã khéo tận dụng và phát huy ảnh hưởng của các sự kiện quốc tế để phục vụ cho cuộc đấu tranh của những người tù Côn Đảo. Được tin Mặt trận nhân dân Pháp giành thắng lợi lớn trong cuộc bầu cử Quốc hội Pháp ngày 3-5-1936, Chi uỷ Chi bộ đặc biệt đã thảo yêu sách gửi Thống đốc Nam Kỳ, Bộ trưởng Bộ thuộc địa và Thủ tướng Pháp đòi ân xá tù chính trị. Tiếp đó,sau khi có những thông tin về những vấn đề cơ bản của Đại hội lần thứ VII Quốc tế cộng sản, đêm 14-7-1936, Chi bộ đặc biệt đã phổ biến ngay nội dung Nghị quyết Đại hội lần thứ VII Quốc tế cộng sản đến khám tù chính trị chuẩn bị được ân xá.
Rõ ràng Chi bộ đặc biệt do Tôn Đức Thắng phụ trách bí mật đã đóng một vai trò quan trọng trong nhiều hoạt động ở nhà tù Côn Đảo. Đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Biến cái rủi thành cái may, các đồng chí ta đã lợi dụng những ngày tháng ở tù để hội họp và học tập lý lưận. Một lần nữa, việc đó lại chứng tỏ rằng chính sách khủng bộ cực kỳ dã man của kẻ thù chẳng những không ngăn trở được bước tiến của cách mạng, mà trái lại nó đã trở nên một thứ lửa thử vàng, nó rèn luyện cho người cách mạng càng đêm cứng rắn. Mà kết quả là cách mạng đã thắng, đế quốc đã thua”6.
Từ sau thắng lợi của phong trào Mặt trận bình dân Pháp và phong trào Mặt trận dân chủ Đông Dương, số lượng tù chính trị ở Côn Đảo đã giảm hẳn. Chi bộ đặc biệt được củng cố lại. Tôn Đức Tháng được cử làm chủ tịch hội tù nhân, đấu tranh bảo vệ quyền lợi thiết thực của người tù.
Từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra, và đặc biệt sau khi cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ (23-11-1940) bị đàn áp đẫm máu, số lượng tù nhân Côn Đảo lại tăng vọt lên. Cuộc đấu tranh trong nhà tù Côn Đảo lại trở nên quyết liệt. Nhiệm vụ vượt ngục trở về đất liền hoạt động vẫn được đặt ra thường xuyên. Giữa tháng 4- 1945, Đảng uỷ Côn Đảo bố trí cho các đồng chí Tôn Đức Thắng, Phạm Hùng và một số đồng chí có năng lực vượt ngục về tham gia lãnh đạo cướp chính quyền. Nhưng công việc không thành, Tôn Đức Thắng tiếp tục ở lại cùng anh em tích cực hoạt động góp phần vào thắng lợi chung của cách mạng đang tới gần.
Những ngày đầu tiên sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945, Tôn Đức Thắng, bằng tài nghệ chuyên môn của người thợ đã sửa được chiếc rađiô và nghe tin tức từ đất liền. Tiếp đến ngày 17-9-1945, Tôn Đức Thắng cùng đoàn đại biểu của Đảng đi Côn Đảo đi cũng sang bãi Cỏ Ống đón đoàn thuyền và phái đoàn của Chính phủ cách mạng lâm thời nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về cầu tàu. Một cuộc mittinh diễn ra ngay tại chỗ, nhiệt liệt chào mừng đoàn đại biểu của Chính phủ. Từ ngày hôm đó, Côn Đảo trở thành mảnh đất hoàn toàn tự do và độc lập.
Mấy ngày sau, mờ sáng ngày 23-9-1945, Tôn Đức Thắng lái chiếc canô mang tên Giải phóng đưa một số đồng chí trong ban lãnh đạo cùng tàu Phú Quốc và 25 chiếc ghe đưa khoảng 2.000 tù chính trị trở về đất liền. Chiều tối hôm đó vừa về tới đất liền, những chiến sĩ cộng sản chứng kiến ngay hành động tráo trở tái chiếm Sài Gòn của thực dân Pháp. Cùng một số đồng chí khác, Tôn Đức Thắng cùng hai người thợ máy đi ngay canô về Cần Thơ trong đêm hôm đó nhận nhiệm vụ mới, mà không kịp ghé thăm gia đình lúc ấy đang ở cách Cần Thơ vài chục cây số.
Bước vào cuộc kháng chiến thần thánh chống thực dân Pháp xâm lược, ngay từ cuộc Tổng tuyển cử Khoá I (6-1-1946) Tôn Đức Thắng đã được bầu làm đại biểu Quốc hội, đồng thời được bầu làm Phó Hội trưởng Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam. Tại Đại hội II Đảng Lao động Việt Nam, đồng chí được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam, lãnh đạo Mặt trận dân tộc thống nhất. Tại Đại hội thống nhất Việt Minh - Liên Việt được triệu tập từ ngày 3 dến ngày 7 tháng 3 năm 1951, Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Mặt trận Liên Việt (sau đổi tên thành Mặt trận Tổ quốc Việt Nam). Từ năm 1955, Tôn Đức Thắng là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 7- 1955 là Trưởng ban Thường trực Quốc hội. Tháng 7-1960 là Phó Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chủ tịch nước (1969- 1980). Đồng chí còn là Hội trưởng Hội hữu nghị Việt - Xô… Bất kỳ ở cương vị nào, Tôn Đức Thắng đều tỏ ra là một cán bộ gương mẫu về đạo đức cách mạng, cống hiến toàn bộ trí tuệ, sức lực với tất cả nhiệt huyết vì sự nghiệp giành độc lập tự do và xây dựng chủ nghĩa xã hội, vì hạnh phúc của nhân dân.
Do những cống hiến to lớn đó, đồng chí đã được tặng thưởng Huân chương Sao vàng (1958) và nhiều huân chương cao quý khác. Năm 1955, đồng chí được giải thường Vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc do Uỷ ban giải thưởng hoà bình quốc tế Lênin tặng. Năm 1967, đồng chí được Đoàn Chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô tặng Huân chương Lênin.
______________
* Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
1. E.Côbêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội – Nxb. Tiến bộ, Matxcơva, 1985, tr.57.
2. Dẫn theo: Đỗ Quang Hưng: Công hội đỏ Việt Nam, Nxb. Lao động, Hà Nội, 1989, tr.87.
3. Sđd, tr.88,89.
4. E.Côbêlép: Đồng chí Hồ Chí Minh, Nxb. Thanh niên, Hà Nội – Nxb. Tiến bộ, Matxcơva, 1985, tr.57.
5. Ban nghiên cứu lịch sử Đảng đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo, Nhà tù Côn Đảo (1862-1945), Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1987, tr.127.
6. Hồ chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, hà Nội, 1996, t.10, tr.3-4.
Bác Tôn – Người chiến sĩ lớp đầu của phong trào công nhân Việt Nam VĂN TẠO *
Năm 1988, nhân kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Bác, tôi đã phát biểu tại lễ Kỷ niệm ở An Giang: “Bác Tôn với dân tộc và thời đại”. Nay sang thế kỷ XXI, tôi lại tâm đắc một điều mới mẻ: Bác Tôn - người chiến sĩ lãnh đạo của phong trào công nhân Việt Nam.
Đối với giai cấp công nhân ta, nếu ở đầu thế kỷ XX vai trò của công nhân trí thức (Intellectuel labour - mà một trong những người tiêu biểu ở Việt Nam là Tôn Đức Thắng) là lực lượng chính trong phát triển sản xuất và đấu tranh xã hội, thì sang đầu thế kỷ XXI lớp công nhân trí thức (Knowledge labour) lại là những người kế thừa và phát huy vai trò đó một cách đắc lực.
Thực tế là hiện nay công nhân trí thức (Knowledge labour) đã ra đời và phát triển mạnh trong công nghệ thông tin và các ngành công nghệ cao khác, là những người kế thừa và phát huy vai trò của công nhân trí thức (Intellectuei labou) thế kỷ XX trong việc đưa khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, khiến lực lượng sản xuất xã hội phát triển lên một giai đoạn mới chưa từng có. Đồng thời, họ cũng sẽ là người có sứ mệnh lịch sử và có khả năng vận dụng một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào hoàn cảnh mới ở Việt Nam để đẩy mạnh tiến bộ xã hội trong thời đại mới. Cuộc sống và chiến đấu của công nhân trí thức Tôn Đức Thắng đã để lại cho công nhân trí thức hiện nay những bài học bổ ích.
I
Đồng chí Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888, lúc mà mây đen xâm lược đã che phủ bầu trời dân tộc. Chủ lực của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc lúc này còn là nông dân và trí thức, nho sĩ yêu nước. Đầu thế kỷ XX, cuộc đấu tranh cách mạng đã có lực lượng mới là công nhân và trí thức tân học mà công nhân trí thức là người đi tiên phong.
Lúc này, do nhu cầu của cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp, một số đông nông dân bị bần cùng hoá đã trở thành công nhân trong các hầm mỏ, đồn điền, nhà máy của thực dân và tư sản. Đó là những công nhân áo nâu, xuất hiện ngày càng đông đảo. Đồng thời lại có một số công nhân cũng từ nông dân mà ra, nhưng qua con đường trở thành trí thức rồi mới trở thành công nhân có kỹ thuật tức công nhân trí thức - công nhân áo xanh. Đó là trường hợp của công nhân Tôn Đức Thắng và một số đồng chí khác từ trí thức trở thành công nhân qua con đường di vô sản hoá.
Đồng chí Tôn Đức Thắng không thuộc diện trí thức đi vô sản hoá. Xuất thân từ một gia đình nông dân yêu nước ở Đồng bằng Sông Cửu Long, nơi cư tụ của những người nông dân dũng cảm, phóng khoáng; nơi kinh tế hàng hoá sớm phát triển, giao lưu dân tộc và quốc tế có phần rộng mở nên người thanh niên nông dân Tôn Đức Thắng sớm có cách nhìn rộng, thoáng để từ người trí thức nông dân yêu nước trở thành người công nhân kỹ thuật - (thợ máy - mécanicien) - người công nhân trí thức cách mạng. Mặc dù còn là người sản xuất trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa thực dân, nhưng chính lao động kỹ thuật này đã tạo nên chất mới cho người công nhân cách mạng Tôn Đức Thắng trong lao động, sinh hoạt và cách mạng.
Trong phong trào vô sản thời kỳ đó đã từng có sự nhận thức khác nhau về khả năng cách mạng của công nhân áo nâu (lao động chân tay bình thường) và công nhân áo xanh (công nhân trí thức, lao động cơ khí, lao động khoa học và kỹ thuật). Có người cho rằng, ai khổ cực nhất, lao động nặng nhọc nhất, bị áp bức bóc lột nhất là có tinh thần cách mạng cao hơn, tức công nhân áo nâu cách mạng hơn công nhân áo xanh. Điều này đã được Đảng chỉ rõ: dưới ách đế quốc phong kiến, cả giai cấp công nhân ta đều bị áp bức, bóc lột nặng nề nên đều có tinh thần cách mạng. Nhưng khả năng cách mạng không chỉ ở chỗ bị áp bức bóc lột nhiều mà chủ yếu là ở ý thức giác ngộ giai cấp, có tinh thần đấu tranh dũng cảm, có phương pháp đấu tranh thông minh, sáng tạo và có khả năng xây dựng được xã hội mới cao hơn xã hội tư bản chủ nghĩa. Vì vậy công nhân áo nâu hay áo xanh đều phải "Học, học nữa, học mãi”, có tri thức để đấu tranh giành thắng lợi. Trong thực tế các công nhân trở thành lãnh tụ giai cấp đều trưởng thành trong một quá trình trở thành công nhân trí thức như vậy. Ngày nay, đại đa số công nhân trí thức (Knowledge labour) đã có điều kiện tương tự như thanh niên Tôn Đức Thắng trước kia, sớm được trở thành trí thức để gia nhập hàng ngũ công nhân cách mạng Việt Nam, phục vụ tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
II
Đầu thế kỷ XXI, người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng, nhờ có tư chất khoa học và cách mạng của “công nhân trí thức" đã sớm đi từ chủ nghĩa yêu nước đến cách mạng xã hội chủ nghĩa với những hoạt động kiệt xuất:
Một là, ngày 20 tháng 4 năm 1919, người thợ máy Tôn Đức Thắng đã cùng binh lính thuỷ thủ trong chiến hạm France của Pháp trên Biển Đen phản chiến, đòi chấm dứt chiến tranh can thiệp vào nước Nga và được phân công kéo cờ đỏ trên chiến hạm để tỏ thái độ ủng hộ Cách mạng Nga và Chính quyền Xôviết. Đây là một hành động tuyệt vời trong việc thực hiện khẩu hiệu của Các Mác: "Vô sản tất cả các nước, đoàn kết lại!” và khẩu hiệu của V.I. Lênin "Vô sản toàn thế giới và các dân tộc bị áp bức, đoàn kết lại!”. Tuyệt vời ở chỗ: Người thuỷ thủ - thợ máy này tuy chưa được qua lớp huấn luyện nào về lý luận cách mạng vô sản nhưng từ thực tiễn đấu tranh đã thể hiện chân lý đó một cách sáng ngời là: Vô sản Việt Nam bắt tay với vô sản Pháp ủng hộ và bảo vệ Cuộc cách mạng Tháng Mười Nga - một cuộc cách mạng vô sản đầu tiên trên thế giới lật đổ chế độ quân chủ chuyên chế Nga hoàng, chống lại chính quyền tư sản Kêrenxki, lập nên Nhà nước Xôviết đầu tiên trên trái đất. Như sau này đồng chí Tôn Đức Thắng đã nói:
“... Yêu Tổ quốc và căm thù bọn đế quốc; trước hết, đó là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ đã chống lại nó"1.
Hai là, năm 1920, khi người công nhân Tôn Đức Thắng trở về làm thợ máy bình thường trên quê hương yêu quý, đã đem tri thức học tập được từ thực tiễn đấu tranh trong nước và thế giới, đoàn kết, tổ chức công nhân, xây dựng nên Công hội bí mật (1920 – 1925) mà đồng chí là Hội trưởng. Hội viên lên tới 300 người hoạt động trong nhiều cơ sở ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Tháng 8 năm 1925 đồng chí đã tổ chức và lãnh đạo cuộc bãi công của công nhân Ba Son đi tới thắng lợi, buộc bọn chủ phải tăng lương 10%. Tiếp theo là tổ chức lãn công trong 3 tháng đạt được mục tiêu chính trị về đoàn kết quốc tế vô sản: làm chậm việc sửa chữa chiến hạm Michelet của Hải quân Pháp đang lên đường đi đàn áp cách mạng Trung Quốc.
Cái kiệt xuất ở đây là nếu "Thực tiễn là tiêu chuẩn của chân lý” thì thực tiễn hoạt động của Công hội bí mật do Tôn Đức Thắng sáng lập và lãnh đạo đã khách quan chứng minh cho chân lý về cách thức tổ chức Công hội mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã đúc kết được từ các phong trào công nhân thế giới (Trung Quốc, Nhật Bản,..) trong tác phẩm Đường Cách mệnh của mình2. Công hội đã trở thành một vườn ươm để đến khi tư tưởng cách mạng của Nguyễn Ái Quốc từ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên gieo về đã nhanh chóng sinh hoa kết trái.
Ba là, cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, nhưng sự nghiệp đó không tách rời khỏi sự đóng góp không thể thiếu được của các nhà cách mạng kiệt xuất. Trong cách mạng Việt Nam không chỉ thời kỳ đấu tranh giành độc lập trước năm 1945 mà cả thời kỳ đấu tranh giành hoàn toàn độc lập và thống nhất đất nước, bước đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội từ năm 1945 trở di, đồng chí Tôn Đức Thắng có những cống hơn lớn lao. Đồng chí luôn giữ những vai trò chủ chốt trong Mặt trận dân tộc thống nhất, trong Quốc hội và Nhà nước với các cương vị: Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Liên Việt từ năm 1951; Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Trưởng ban Thường trực Quốc hội từ năm 1955; Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà từ năm 1969; Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1976... Bất cứ ở cương vị nào Chủ tịch Tôn Đức Thắng cũng hoàn thành nhiệm vụ. Và ở cương vị nào Bác Tôn cũng tượng trưng cho khối đại đoàn kết toàn dân: đoàn kết giai cấp, đảng phái, dân tộc, tôn giáo, đoàn kết Bắc Nam. Bác mang trong mình cả dũng khí yêu nước anh hùng bất khuất của nông dân Việt Nam lẫn tinh thần cách mạng sáng tạo của công nhân trí thức Việt Nam; cả tinh thần yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, quý độc lập tự do, trọng chính nghĩa, yêu hoà bình của cả dân tộc Việt Nam lẫn tình đoàn kết hữu nghị với tất cả các dân tộc yêu chuộng hoà bình trên thế giới.
III
Về phẩm chất cách mạng, người công nhân Tôn Đức Thắng cũng có những nét rất đặc sắc:
Một là, Bác Tôn đã kế thừa một cách xuất sắc truyền thống “Thương người trừ bạo" của ông cha trong suốt cả cuộc đời cách mạng của mình.
Từ thời còn là học sinh, Tôn Đức Thắng đã đoàn kết với các bạn học chống lại sự bất bình đẳng của giáo dục thực dân, chống lại bọn vô lại nạt nộ học sinh. Khi bị tù đày, Tôn Đức Thắng luôn tỏ ra “Thương người như thể thương thân”, tương trợ giúp đỡ các tù nhân trong hoạn nạn, lấy đức mà cảm hoá những tù nhân "anh chị", cảm hoá cả bọn coi tù, đem trí tuệ của công nhân trí thức ra góp phần vào việc xây dựng tổ chức tù nhân, gây dựng cơ sở Đảng trong nhà tù, đem lại những thành công to lớn.
Từ những hành động bình thường như nhường cơm sẻ áo, đỡ đần gánh nặng cho đồng chí, đồng bào trong cuộc sống tù đày khổ ải cho đến khi gánh vác trọng trách lớn lao do Đảng và dân giao phó, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn tỏ rõ ý chí kiên cường, bất khuất, đức thân ái, vị tha, sống có tình có nghĩa với đồng bào, đồng chí, một lòng một dạ trung thành với nước với dân.
Hai là tinh thần khiêm tốn cách mạng.
Như chúng ta đã biết, Bác Hồ đã khiêm tốn xin chưa nhận Huân chương Sao vàng khi miền Nam còn chưa được giải phóng. Bác Tôn thì đã khiêm tốn trong việc thống nhất lấy ngày 20 tháng 7 năm 1946 làm ngày kỷ niệm thành lập Công đoàn Việt Nam. Đó là ngày hợp nhất giữa Hội Công nhân cứu quốc Bắc Kỳ và Trung Kỳ với Thanh niên Tiền phong ban xí nghiệp ở Nam Kỳ sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, mặc dầu về lịch sử thì Công hội bí mật do Tôn Đức Thắng xây dựng đã ra đời trước đó hơn 20 năm, từ 1920 – 19253.
Ở đồng chí Tôn Đức Thắng lúc nào cũng "Dân tộc trên hết, giai cấp trên hết, Đảng trên hết", nhưng công đầu của đồng chí trong xây dựng Công hội bí mật Việt Nam vẫn được ghi lại như một dấu son lịch sử.
Ngày nay, công nhân trí thức Việt Nam kế thừa và phát huy truyền thống ông cha, noi gương Bác Tôn Đức Thắng vận dụng sáng tạo lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàn cảnh mới của Việt Nam ở thế kỷ XXI, quyết tâm thực hiện sứ mạng lịch sử đưa khoa học kỹ thuật trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, hoàn thành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
_____________
* Giáo sư sử học
1. Ban Chấp hành tỉnh Đảng bộ An Giang: Bác Tôn – Cuộc đời và sự nghiệp, Nxb. Sự thật, Hà Nội, 1988, tr. 53.
2. Tìm hiểu về quá trình tổ chức là lãnh đạo Công hội bí mật của đồng chí Tôn Đức Thắng thì thấy rất trùng hợp với điều mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã viết trong tác phẩm Đường Cách mệnh.
“Tổ chức công hội làm gì?
Tổ chức công hội trước là để cho công nhân đi lại với nhau cho có cảm tình; hai là để nghiên cứu với nhau; ba là để sửa sang cách sinh hoạt của công nhân cho khá hơn bây giờ; bốn là để giữ gìn quyền lợi cho công nhân; năm là để giúp cho quốc dân, giúp cho thế giới…
Cách tổ chức công hội thế nào?
Tổ chức có hai cách, cách nghề nghiệp và cách sản nghiệp. Nghề nghiệp là ai làm nghề gì thì vào hội nghề kỷ… Sản nghiệp là bất kỳ nghề gì, hễ làm một chỗ thì vào một hội…
Cách tổ chức bí mật như thế nào?
Khi hội được công khai, các tiểu tổ cũng phải giữ bí mật. Khi không được công khai, thì phải mượn tiếng hợp tác xã, trường học hoặc câu lạc bộ (nhà xéc) vân vân, che mắt người ta. Ở Tàu, ở Nhật nhiều nơi thợ thuyền lập nhà bán nước, ngoài thì bán bánh bán nước, trong thì làm việc hội. Thợ thuyền vào uống nước ăn bánh, và bàn việc; cho nên ma tà mật thám không làm gì được. Có nơi lại giả hội cúng tế hoặc hội chơi, vân vân, để che cho công hội”.
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995. t.2, tr. 302, 307
3. Đến giữa năm 1983, Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng mới ra Quyết định lấy ngày 28 tháng 7 năm 1929, ngày họp Đại hội thành lập Tổng Công hội đỏ Bắc Kỳ dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương, làm ngày thành lập Công đoàn Việt Nam - Theo Thông báo số 222- CT/TƯ ngày 25-6-1983 của Ban Bí thư Trung ương Đảng (Đỗ Quang Hưng “Công hội đỏ Việt Nam”, Nxb Lao động, Hà Nội, 1989, tr. 130).
Tôn Đức Thắng – Người thợ máy bình thường – vĩ đại MAI VĂN TẠO*
Trong ngày trọng đại hôm nay, cả nước trân trọng kỷ niệm sinh nhật của Bác Tôn kính yêu - tôi sẽ được nghe, được biết thêm về thân thế và sự nghiệp lớn lao của Bác đối với đất nước Việt Nam, đối với cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga trên đất nước Lênin. Những tình cảm lớn, tư tưởng lớn của Bác, sự hy sinh cả cuộc đời của Bác để mang lại ánh sáng cho dân tộc, cho quê hương sẽ làm cho tôi dịu bớt cơn đau nhức nhối dai dẳng bởi những hiện tượng tiêu cực trong đời sống đầy biến động và lắm ưu phiền.
Tôi cả tin như vậy và mãi mãi muốn tin như vậy. Bởi lẽ cuộc đời của Bác không những là tấm gương trong sáng về đức độ con người, về sự hy sinh và tinh thần chiến đấu giải phóng dân tộc tinh thần quốc tế vô sản cao cả mà còn là những bài học lớn về đạo lý, nhân bản mà bất cứ thời đại nào, thế hệ nào - hôm nay và mãi mãi về sau - vẫn phải cần đến để rèn luyện phẩm hạnh làm người.
Bác Tôn sống thực sự trên đất quê hương An Giang chỉ có 18 năm - gần bằng thời gian đế quốc Pháp đày đọa Bác trong ngục tù nghiệt ngã. Thời gian còn lại của Bác cho đến hết cuộc đời - Bác sống và làm thợ ở Sài Gòn, đi lính hải quân trên nước Pháp, hoạt động ở Chiến khu Nam Bộ, Chiến khu Việt Bắc, và làm việc ở Hà Nội trên nhiều cương vị cao cấp của Nhà nước.
Thế nhưng sau ngày giải phóng miền Nam, Bác Tôn về xem lại quê hương, xã Mỹ Hòa Hưng đã trải qua biết bao biến động cuộc đời, biết bao biến đổi thiên nhiên, sắp đến nhà, Bác chỉ tay vào lùm tre ven bãi:
- Đến đó các đồng chí cho tôi đi qua chiếc cầu nhỏ cạnh bờ ao, được không?
- Thưa Bác nước chưa rút hết - và đắp đất chưa khô, xin Bác đi xuồng theo rạch vào nhà.
- A! A! Bác reo lên, Rạch Rích phải không? Đi xa lâu quá, tôi quên tháng này nước đồng chưa cạn.
Suốt cuộc đời làm cách mạng cực kỳ hiểm nguy và đầy gian khổ bằng đúng sáu, bảy mươi năm, Bác Tôn phải quên, phải nhớ biết bao nhiêu chuyện trong đời. Vậy mà khi trở lại làng quê, Bác vẫn không quên chiếc cầu nhỏ cạnh bờ ao, vẫn nhớ tên con Rạch Rích từ bến sông lặng chảy đến sàn nhà.
Tuổi thơ của Bác trôi qua với những năm tháng quê nghèo, u ám - dù rằng gia thế của Bác không đến nỗi bần chật như lắm gia đình - Bác cũng từng sống với những thành phố hiện đại châu Âu, từng biết đời sống thượng lưu nước Pháp. Nhưng làng quê nghèo trên cồn cát giữa dòng sông, chiếc cầu, bờ ao, con rạch nhỏ vẫn canh cánh trong tâm hồn người cộng sản Việt Nam, vị Chủ tịch nước Việt Nam.
Tình yêu gây nên nỗi nhớ. Có yêu thật sự, thiết tha nỗi nhớ mới trở thành một thứ cội rễ kim cương bám chặt lòng người. Tôi nghĩ tình yêu quê hương, xứ sở của Bác Tôn rất thắm thiết, dịu dàng và cụ thể, không phải thứ tình yêu đầu lưỡi, chung chung, chính vì thế Bác mới dành được trọn vẹn đời mình cho lý tưởng giải phóng quê hương.
Bác nhớ rất dai, nhớ kỹ. Cùng trong ngày về lại quê hương, khi vào nhà, bà con, láng giềng đến đứng ngồi chật ních nhà, chật cả sân. Vừa trò chuyện với bà con, Bác vừa ngắm nghía đồ vật trong nhà, Bác hỏi từng người, tuổi tác, con cái, công việc làm ăn... Tưởng như con người đang ngồi đó không phải là Chủ tịch nước Việt Nam Tôn Đức Thắng, mà chỉ là ông Hai, Bác Hai, anh Hai Thắng đang đoàn tụ với gia đình sau sáu, bảy mươi năm biền biệt, xa nhau.
Không ngồi ghế, Bác ngồi vào bộ ván mỏng kê giữa hàng ba, hai chân khẽ đong đưa, trông Bác như người còn rất trẻ. Bác nói tự nhiên:
- Hồi nhỏ trưa trưa tôi học tại bộ ván này.
Bác chăm chăm nhìn từng cây cột trong nhà, Bác hỏi:
- Tôi nhớ hàng cột bằng tràm, giờ có cây này hơi khác?
- Anh Hai nhớ kỹ quá - các Tư gái, em dâu của Bác Tôn vui vẻ cười - nó còn đó, có mất đi đâu. Hồi anh ở nhà, nó là cột cái lâu ngày đứt chân, đưa xuống làm cột hàng nhì, rồi bây giờ làm cột hàng ba.
Bác còn nhớ nhiều thứ vật dụng khác nữa và Bác hỏi khi thấy cái gì khang khác với kỷ niệm ấu thơ. Hạnh phúc xiết bao con người không rời xa ngoài nguồn cội - dù trong bão tố cuộc đời hay trong cuộc sống hiển vinh.
Bác lặng lẽ vào trong đốt mấy nén hương nên bàn thờ tổ phụ và của đấng sinh thành. Đứng lặng hồi lâu, Bác bảo bác Tư đưa Bác đi viếng mộ song thân, nhưng sau vườn lỡ nước lỡ khô, đi bộ không được, đi xuồng cũng không có chỗ vào.
- Vậy lần sau các đồng chí cho tôi về thăm mộ nhé!
Bác nhìn các cán bộ đưa Bác đi, đôi mắt thoáng buồn.
Không buồn sao được? Sáu, bảy mươi năm xa cách cha mẹ, quê hương, ngày về chỉ còn nấm mộ, dấu vết cuối cùng của người sinh ra và vất vả nuôi mình. Con người phúc hậu, chí hiếu, chí tình, chí nghĩa như Bác làm sao không chạnh từ đôi giây. Có lẽ Bác nghĩ rằng không viếng được mộ song thân, coi như chưa trọn niềm hiếu thảo.
Tôi nhớ một sự kiện đáng nhớ, đáng trân trọng nhắc lại trong ngày đáng nhớ hôm nay.
Năm 1952 tôi được cử về làm công tác quân báo vùng Chợ Mới. Anh Ba Hinh, Bí thư và anh Bảy Tôn, Phó Bí thư trao cho tôi một lá thư của Bác Tôn từ Chiến khu Việt Bắc gửi về cho mẹ. Lá thư viết tên tờ giấy pơluya xếp đôi, góc trái dán kèm bức ảnh 4x3 của Bác. Nét chữ mực xanh còn khỏe khoắn, mặc dù trong ảnh thấy Bác mặc áo đen, vai gầy, má tóp, chớ không béo tốt như sau này. Anh Hinh bảo tôi tìm cách chuyển cho được lá thư về tận gia đình của Bác ở Mỹ Hòa Hưng. Bởi vì đây là thư của người con rất đỗi yêu thương cha mẹ. Người con ấy là Bác Tôn, tuổi cũng xấp xỉ sáu mươi rồi. Anh Hinh còn nói: "Chú ráng làm thật tốt công tác này. Vì không phải là thư bình thường, mà là thư của một con người cách mạng chí trung với nước, chí hiếu với mẹ cha".
Tôi chép lại nguyên văn và bố trí đường dây bí mật chuyển cho được lá thư gốc về gia đình Bác. Hồi ấy, Mỹ Hòa Hưng còn trong vùng địch chiếm. Người chuyển thư phải học thuộc lòng nội dung thư của Bác, phòng khi rơi mất cũng nói được đầy đủ ý trong thư, và chính tôi cũng phải học thuộc hai trang thư của Bác. Sáng hôm qua tôi hỏi người cháu của Bác tại nhà lưu niệm Bác Tôn, gia đình còn giữ được lá thư ấy không. Anh ấy bảo đã thất lạc rồi. Tôi chép ra đây với trí nhớ của tôi còn tin cậy được tám chín chục phần trăm.
Thư Bác viết:
“Kính thưa mẹ? Từ nơi xa con kính gửi thư này về thăm mẹ. Con rất đỗi buồn lo không biết mẹ còn sống với con cháu không? Mẹ đã luống tuổi rồi. Chẳng may mẹ có bề nào mà chẳng được thấy mặt con, và con không thọ được tang cho phải đạo làm con, thì đau đớn biết nhường nào. Giặc còn giày xéo quê hương, con bận lo việc nước chưa tròn, chữ trung chưa trọn, chữ hiếu cũng chưa xong. Xin mẹ hiểu lòng con, tha lỗi cho con. Ngày đêm con mong sớm đến ngày độc lập, được sớm về quỳ bên chân mẹ, để nhận hết cái lỗi phải xa cha mẹ từ ngày con biết tự bước lên đường đời. Con sẽ quỳ bên chân mẹ như ngày con còn thơ ấu. Con sẽ hái cau, ngoáy trầu cho mẹ và được đốt nén hương trước mộ ông bà. Thương nước, thương con chắc mẹ sẵn sàng tha thứ cho con... còn điều này con xin thưa với mẹ: con cháu ở nhà, đứa nào nên, mẹ ngợi khen cho nó nên thêm. Đứa nào lỡ lầm điều sai quấy, mẹ ráng khuyên bảo nó trở lại nẻo thẳng đường ngay. Bao giờ cũng vậy, con cháu đứa chưa nên là đứa đáng lo đáng tội nghiệp lắm mẹ ạ”.
Chép lại nội dung bức thư này của Bác Tôn giãi bày nỗi nhớ thương day dứt trong lòng Bác đối với mẹ; tôi bâng khuâng chạnh nhớ câu hát ru của người mẹ mà tôi nhớ mãi từ thuở ấu thơ cho đến bây giờ:
"Mẹ già ở túp lều tranh
Sớm thăm tối viếng mới đành dạ con".
Cái đạo lý sáng ngời ngàn năm ấy đọng lại mãi mãi trong lời ru, và tôi đã gặp lại trong bức thư của Bác, của người con ngót sáu mươi tuổi gửi về thăm mẹ. Người mẹ lúc ấy đã trên dưới tám mươi tuổi.
Lòng Bác đối với đấng sinh thành là như vậy. Còn đối với Bác gái - người bạn đời rất mực yêu thương và thủy chung với Bác - cái tình của Bác sao đây?
Hồi bác gái chưa mất, thỉnh thoảng Bác tâm sự với bạn thân trong chuyện tâm tình.
- Tôi với ông gặp nhau mấy mươi năm, nhưng gần nhau có được bao nhiêu ngày. Ông đi như con chim bay không biết mỏi. Tôi với ông như sao Hôm chờ đợi sao Mai. Gặp nhau là lúc ông ở tù, tôi đi thăm. Ra tù nói chuyện với nhau giây lát, nhiều lắm đôi ba ngày, ông lại đi lo việc đại sự quốc gia. Tưởng đâu ông ít nghĩ đến tôi. Đâu phải vậy, càng xa nhau ông càng thương, càng nghĩ đến tôi đậm đà, đằm thắm như tuổi trẻ đầu xanh.
Đúng như lời Bác gái tâm tình. Vài tháng trước đây, anh Chín Nghiệp (bác sĩ Trần Hữu Nghiệp) kể những mẩu chuyện về Bác Tôn. Chuyện nào cũng gây cho tôi xúc động. Tôi thúc giục anh Chín Nghiệp: "Viết đi! Anh viết đi! Những chuyện này quý lắm! Trong lúc cuộc sống lắm sự nhiễu nhương, con người lắm kẻ mánh mung, nhớp nhúa, chuyện của Bác Tôn càng hết sức cần thiết như một loại thuốc hồi sinh cho bệnh suy dinh dưỡng về nhân cách và tâm hồn". Anh Chín Nghiệp đã viết. Bài của anh tôi rất thích. Thích nhất chi tiết "cái cối xay tiêu” và "Bác Tôn thăm Bác gái đang trị bệnh tại bệnh viện”.
Anh Nghiệp kể hồi anh cùng đi với Bác sang Liên Xô với tư cách bác sĩ bảo vệ sức khoẻ cho Bác. Mỗi đoàn viên được bạn cho 1 ngàn rúp cũ dán túi trong thời gian lưu lại Liên Xô. Riêng Bác, bạn trao đến những 10 ngàn. Có tiền rúp, anh em mua sắm thứ này vật nọ về làm quà cho bè bạn, vợ con. Mua sạch túi. Riêng Bác, anh Nghiệp chẳng thấy mua gì. Anh Nghiệp gợi ý và sẵn sàng đi mua giúp Bác.
- À, à! Chú giúp tôi mua một thứ. Cái cối xay tiêu. Ở nhà, bà ấy biết tôi thích ăn cá kho tiêu, bà thường mua cá về kho. Mỗi lần đâm tiêu trong cái chén, tiêu văng ra tung toé, mắt bà đã kém, lò mò lượm lại từng hột, thương quá! Anh mua dùm tôi cái cối xay tiêu.
Anh Nghiệp mua cái cối xay tiêu 7 rúp. Số rúp còn lại trong số 10 ngàn, Bác nhờ anh Chín Nghiệp trao lại tất cả cho bạn Liên Xô.
Chi tiết này có lẽ đáng để cho ta ngẫm nghĩ hàng ngày giữa cái thời mà những người có chức có quyền như đã “tàn phai" phẩm chất, vung tiền như rác, lấy của cải, lấy tiền của dân của nước làm của riêng mình.
Và chi tiết “Bác Tôn thăm Bác gái trong bệnh viện", anh Nghiệp kể lại thật cảm động, thật vui. Mỗi lần y tá bảo với Bác Tôn vào thăm Bác gái, Bác mừng vui, luýnh quýnh như người trẻ sắp gặp người yêu và hai Bác hai mái đầu bạc trắng quyện chặt lấy nhau, Bác Tôn thắm thiết hôn Bác gái như thể lần đầu.
Ai dám bảo tình già tẻ nhạt, chỉ còn cái nghĩa với nhau. Không đúng đâu. Cái nghĩa mà khuyết tình thì cũng chỉ là cái nghĩa công thức mà thôi. Vợ chồng càng lớn tuổi tình càng thắm, nghĩa càng sâu.
Yêu kính Bác Tôn, tôi cảm nhận và ghi nhớ mãi mãi những hành vi của Bác chứa chan nhân hậu, đạo lý nhân bản tuyệt vời. Bác là cái đẹp truyền thống, xa xưa mà vĩnh viễn. Dù thời đại nào cũng không thể thiếu, nhất thiết phải trân trọng, giữ gìn cái đẹp vĩnh hằng mà Bác Tôn đã hội tụ rất nhiều. Bởi vì văn minh điện tử thế giới cực thịnh tiện nghi và vật chất không thể và không bao giờ thay thế được giá trị cái đẹp tinh thần, thiếu đạo lý truyền thống Việt Nam - ấy là hành vi hiếu thảo với mẹ cho thủy chung chồng vợ, thương người như thể thương thân, quê hương đẹp hơn cả.
Bác Tôn của chúng ta vời vợi như rặng Thái Sơn, nhưng cũng rất gần gũi như sông nước, cây cối quanh ta, mà ai cũng muốn đến gần, muốn ngắm cái đẹp cội nguồn, cái đẹp vĩnh cửu, xa xưa.
* Nhà văn.
Bác Tôn - Người công nhân ưu tú, lãnh tụ công đoàn đầu tiên ở Việt Nam và ở thành phố Sài Gòn LƯU PHƯƠNG THANH *
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, khi chủ nghĩa Mác - Lênin đã chiến thắng các loại tư tưởng phản động, phi vô sản và đã trở thành hiện thực sau Cách mạng Tháng Mười Nga thì ở nhiều nước, kể cả những nước thuộc địa và phụ thuộc, giai cấp công nhân đã vượt lên giành được quyền lãnh đạo cách mạng, tổ chức ra chính đảng của mình. Ở Việt Nam cũng thế, giai cấp công nhân tuy số lượng chưa đông, tuổi đời còn trẻ nhưng đã sớm mang trong mình tất cả những đức tính ưu việt của giai cấp và sớm đứng lên giành độc quyền lãnh đạo cách mạng. Tôn Đức Thắng, người công nhân của thành phố Sài Gòn là một trong những con chim đầu đàn của giai cấp công nhân Việt Nam, đã trở thành lãnh tụ đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam và của công nhân thành phố.
Sinh trưởng tại một làng nhỏ trên một cù lao nằm giữa sông Tiền ở đồng bằng Nam Bộ. Sau khi thôi học ở địa phương, người thanh niên có chí hướng vươn lên, có hoài bão lớn, đã bỏ tỉnh nhỏ lên Sài Gòn, một thành phố lớn nhất Đông Dương, lắm thầy nhiều thợ, tìm việc làm và học tập. Gặp gỡ anh em công nhân, tiếp xúc với văn minh phương Tây, gần gũi nền công nghiệp hiện đại đang chớm nở ở thành phố, tầm mắt của anh ngày một mở rộng, sự giác ngộ dân tộc và giai cấp ở anh ngày một sâu đậm. Anh sớm có tinh thần đấu tranh chống tư bản thực dân.
Thuở đó, ngành công nghiệp cơ khí đang được phát triển nên anh đã quyết chí chọn ngành này. Anh thi vào Trường Á Đông cơ khí Sài Gòn (Ecole des mecaniciens asiatiques de Saigon) sau này đổi tên là Trường trung học kỹ thuật Cao Thắng. Anh học khoá thứ 9 kể từ ngày trường được thành lập năm 1906. Khoá 9 có 26 học sinh; trong danh sách, anh đứng thứ năm. Trong số học sinh cùng lớp anh chơi thân với anh Đoàn Công Sử, người quê ở Vĩnh Kim, Mỹ Tho.
Đáng lẽ khoá học này phải tới tháng 7 năm 1917 mới mãn khoá ra trường, nhưng đế quốc Pháp đang tham chiến trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chúng thiếu lính thợ nên đã chọn một số học sinh giỏi của nhà trường bắt đi lính thợ sang Pháp. Chúng bắt tất cả 18 người của khoá 8 và khoá 9. Là một người học giỏi nên anh cũng có tên trong 18 người này. Và từ đó, anh mang số lính 418.
Anh cùng 17 bạn thợ rời khỏi Sài Gòn ngày 9 tháng 7 năm 1916. Rời nước ra đi, lòng người thanh niên ấy không khỏi bồi hồi xúc động; nhưng ông bà ta đã nói: "đi một ngày đàng học một sàng hôn" nên anh cũng tin tưởng là chuyến đi sẽ đem đến cho mình nhiều cái mới bổ ích. Tới Mácxây, các anh được nghỉ 5 ngày rồi được đưa tới quân cảng Toulon. Và được phân bổ vào làm công nhân trong xưởng của tổ chức Acsơmanđơ Toulon (Asénal de Toulon) một cơ sở hậu cần của Hải quân Pháp. Thời gian làm ở Toulon, anh chơi thân nhất với các bạn Đoàn Công Sử, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Văn Giáo, Tô Công Nở, và Võ Văn Thể1.
Một thời gian sau, một số lính thợ ở xưởng được chuyển xuống chiến hạm France. Tại Toulon cũng như dưới chiến hạm anh đã học được nhiều điều bổ ích, nhất là về tổ chức Công hội và sự đoàn kết giai cấp của công nhân Pháp và những kinh nghiệm đấu tranh của họ. Anh thấy ở người công nhân Pháp những cái tốt đẹp mà anh chưa bao giờ thấy ở bọn thực dân Pháp khi chúng ở Việt Nam. Anh càng thương yêu giai cấp công nhân Pháp bao nhiêu thì càng căm ghét bọn thực dân Pháp bấy nhiêu. Ý thức giai cấp và tinh thần quốc tế vô sản đã nhanh chóng nảy nở ở trong anh. Khác với các bạn cùng sang Pháp như ham chơi bời, đam mê gái Pháp, anh chỉ chăm chú vào rèn luyện tay nghề và học hỏi về tổ chức cũng như hoạt động của giai cấp công nhân Pháp. Anh luôn luôn là người tiêu biểu về mẫu mực trong sống và làm việc, luôn luôn được bạn bè Việt Nam và Pháp kính nể.
Năm 1919, sau Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, Chính quyền Xôviết vừa mới thành lập, 14 nước đế quốc trong đó có đế quốc Pháp, đã câu kết với nhau vũ trang can thiệp vào nước Nga hòng bóp chết nước Cộng hoà Xôviết trẻ tuổi. Từ giữa năm 1918, một đội quân Pháp đã kéo vào Ôđétxa, nhưng bị tổn thất nặng và bị binh lính phản chiến nên chúng phải rút đơn vị này về nước để thay thế. Ngày 16-4-1919, chúng cho một hạm đội gồm các tàu Michelet, Rousseau France,v.v., tiến vào Biển Đen và ra lệnh nổ súng vào Xêvaxtôpôn. Quyết không để cho cách mạng vô sản bị đàn áp, binh sĩ trong hạm đội đã đứng lên phản chiến. Anh là một trong những người hăng hái vận động anh em binh sĩ tham gia phản chiến. Ngày 18 và 19-4-1919, cuộc phản chiến toàn diện đã nổ ra trên chiến hạm này. Anh vinh dự được cử treo lá cờ đỏ trên tàu để chào mừng Nhà nước vô sản đầu tiên trong lịch sử loài người ngày 20-4-1919, tất cả các tàu chiến của hạm đội này ra khỏi Biển Đen, và vòng vây của đế quốc Pháp bị phá vỡ.
Danh dự thay cho Việt Nam, cho giai cấp công nhân Việt Nam đã có một người con của Tổ quốc, của giai cấp đứng lên bảo vệ Cách mạng Tháng Mười - cánh cửa tương lai đi về hạnh phúc!
Sau vụ này, anh phải rời nước Pháp trở về Việt Nam.
Về sài Gòn, không thể xin việc trong các hãng xưởng công của chính quyền thuộc địa; anh vào làm công nhân trong hãng Krôff (một hãng tư của người Đức) nằm trên đường Sambanhơ2.
Khi về nước, anh xuống Vĩnh Kim báo cho gia đình người bạn thân là Đoàn Công Sử đã mất ở Pháp và trao lại những kỷ vật của bạn. Do đó mà gia đình anh Sử đã tác thành cho người chị Đoàn Kim Oanh kết hôn cùng anh Thắng và gia đình kêu anh là anh Hai.
Khi mới về Sài Gòn, anh thuê nhà ở 63 Phơlăngđe3. Nhưng sau khi lập gia đình, có nhiều người hơn nên đã dời nhà đến trước viện Pasteur4. Được hơn 1 năm, đến năm 1922 thì lại dời nhà đến 12 đường Malde5. Năm 1925, lại dời đến đường Pônlăngxi6 ở ngay dốc Cầu Kiệu phía Tân Định. Để tránh sự theo dõi của kẻ địch, năm 1926, lại dời đến ở đường Pônlăngxi nối dài số 72 ngang chợ Xã Tài7 và ở luôn đây cho tới khi bị bắt (cuối năm 1929).
Là công nhân với tiền lương không nhiều, lại phải nuôi gia đình, nhưng anh vẫn giúp đỡ các đồng chí và có khi nuôi nhiều người ở trong nhà. Do đó cuộc sống của anh luôn luôn thanh đạm, giản dị. Trong nhà rất ít đồ đạc, chỉ có vài ba cái giường, không có một cái tủ.
Chịu ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười Nga, học được kinh nghiệm đấu tranh của công nhân Pháp, điều anh suy nghĩ đầu tiên khi về nước là phải tổ chức công nhân thành đoàn thể, phải đoàn kết giai cấp lại thì mới có sức mạnh đấu tranh. Anh đứng ra vận động thành lập Công hội bí mật tại thành phố, do sự hoạt động tích cực của anh và của các đồng chí, từ năm 1920 đến năm 1925, Công hội bí mật đã phát triển tới 300 hội viên bao gồm nhiều công nhân trong các xí nghiệp và một số thợ thủ công. Ban chấp hành Công hội được Công hội bầu ra gồm có: 1) Tôn Đức Thắng - thợ máy hãng Kroff, Hội trưởng; 2) Nguyễn Văn Cần - thợ nguội hãng Faci, phó hội trưởng; 3) ... Mạnh - thợ vẽ Nhà đèn, thư ký; 4) Đặng Văn Sâm - thợ tiện Nhà đèn, thủ quỹ; 5) Kiểm sát viên (chưa rõ tên).
Công hội đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh của công nhân thành phố. Anh hoạt động không biết mệt mỏi, thường đêm và chủ nhật đi đến các xí nghiệp và các cơ sở để sinh hoạt, chỉ đạo công tác. Trong các xí nghiệp lớn như Ba Son, Faci, Nhà đèn Chợ Quán, Hãng rượu Bình Tây… Anh đều tìm được người tin cậy trao cho lãnh đạo. Bàn chân anh đi khắp mọi nẻo đường của thành phố. Anh không chỉ là lãnh tụ công nhân Ba Son mà là lãnh tụ của toàn thể giai cấp công nhân thành phố. Tại Ba Son, anh đã kết nạp anh Lê Văn Lưỡng và qua anh Lưỡng, thành lập được tổ Công hội bí mật. Dưới sự lãnh đạo của Công hội, tháng 8-1925, hơn 1.000 công nhân Ba Son đã bãi công đấu tranh đòi tăng lương, bớt giờ làm, cải thiện chỗ ăn nghỉ và điều kiện làm việc, v.v. cuộc đấu tranh nổ ra quyết liệt. Anh Lưỡng hàng ngày đến xin chỉ thị ở anh. Một mặt, chỉ đạo chặt chẽ cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son; mặt khác, lãnh đạo các tổ chức Công hội ở các xí nghiệp khác ủng hộ cuộc đấu tranh đã giành được thắng lợi, chủ phải tăng lương 10% cho công nhân và thoả mãn yêu sách của công nhân. Tuy đã giành được thắng lợi, anh vẫn chỉ đạo công nhân Ba Son tiếp tục lãn công kéo dài việc sửa chữa tàu chiến Michelet của Pháp để không cho chúng mang tàu sang đàn áp cách mạng ở Trung Quốc. Đây là cuộc bãi công đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam có lãnh đạo, có tổ chức và được sự ủng hộ của toàn thể công nhân, lao động thành phố và sự ủng hộ của nông dân ngoại thành. Nó mang tính chất chính trị rõ rệt và biểu hiện đẹp đẽ tinh thần quốc tế vô sản của giai cấp công nhân Việt Nam.
Trong những năm hoạt động trong Công hội Sài Gòn, anh luôn luôn được anh em tín nhiệm, kính nể và thường gọi là anh Hai, hoặc anh Hai Thắng. Những người gần gũi với anh nhất là Trần Trương (tức Sáu Trương), Trần Văn Hoa (tức Hoè), Trần Ngọc Giải (tức Thuận Hoà), Đặng Văn Sâm (tức Nhuận), Bùi Văn Them (tức Định), Lê Văn Lưỡng v.v. Do tài khéo tổ chức và hoạt động nên suốt từ khi tổ chức (1920) tới khi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1927), Công hội giữ được bí mật. Địch không biết và không phá được tổ chức của Công hội. Ngay cuộc đấu tranh năm 1925, chúng phải nhượng bộ và sau đó cũng không tìm ra manh mối người lãnh đạo cuộc đấu tranh đó.
Để giác ngộ giai cấp công nhân, Công hội đã liên lạc chặt chẽ với công nhân thuỷ thủ dưới tàu để nhận báo chí tiến bộ từ Pháp gửi về, trong đó có cả của anh Nguyễn, như Nhân đạo, Người cùng khổ, Đời sống thợ thuyền, Việt Nam hồn v.v Anh tổ chức cho anh em công nhân chèo thuyền ra giữa sông Sài Gòn đọc báo. Nhờ đó mà ý thức giai cấp công nhân thành phố nảy nở nhanh chóng, tinh thần cách mạng lên cao.
Do chưa có Đảng Cộng sản lãnh đạo, Công hội chưa có đường lối rõ rệt, anh mới chỉ đề ra được nhiệm vụ của Công hội là đoàn kết giai cấp công nhân, đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, chống thực dân, đế quốc. Tuy vậy, giai cấp công nhân dưới sự lãnh đạo của Công hội lúc đó không hề có tư tưởng cải lương và không bị những phần tử cơ hội lôi kéo, nó có khuynh hướng cộng sản và hướng về Liên bang Xôviết, nơi mà anh đã kéo ngọn cờ đỏ chào mừng năm xưa.
Năm 1920, khi anh Tôn Đức Thắng về nước tổ chức ra Công hội bí mật và hoạt động trong phong trào công nhân tại Sài Gòn hướng về chủ nghĩa cộng sản thì ở Pháp, anh Nguyễn (tức đồng chí Nguyễn Ái Quốc) tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và trở thành người cộng sản Việt Nam đầu tiên rồi sau đó hoạt động trong phong trào Quốc tế Cộng sản. Năm 1925, khi anh Thắng lãnh đạo công nhân Sài Gòn đấu tranh ủng hộ cuộc cách mạng ở Trung Quốc thì anh Nguyễn ở Trung Quốc thành lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức tiền thân của Đảng Cộng sản sau này. Khi anh Thắng đem báo chí cho công nhân đọc để giác ngộ ý thức giai cấp và nâng cao tinh thần cách mạng thì anh Nguyễn mở lớp huấn luyện chính trị để đào tạo cán bộ cách mạng cho Việt Nam. Năm 1926, khi chọn người cử về nước xây dựng cơ sở cho Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, anh Nguyễn không quên chọn người cử về Sài Gòn và Nam Bộ, hai người được chọn về Sài Gòn là Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi. Trước khi hai người xuống tàu về Sài Gòn, anh Nguyễn đã nhắc nhở là phải tìm cách bắt liên lạc với phong trào công nhân và tổ chức Công hội của anh Thắng.
Do đó, khi về đến Sài Gòn, Phan Trọng Bình và Nguyễn Văn Lợi tìm mọi cách bắt liên lạc với tổ chức Công hội của anh Thắng và đầu năm 1927 thì tìm được. Sau khi được các anh Bình và Lợi nói về mục đích tôn chỉ của tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và những ý kiến của anh Nguyễn Ái Quốc thì anh Tôn Đức Thắng chấp nhận ngay và đem toàn bộ tổ chức của mình gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào đầu năm 1927. Chính nhờ đó mà tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên Sài Gòn và Nam Bộ có đông người thành phần là công nhân, nó khác với tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Ở Trung Bộ, Bắc Bộ mà thành phần số đông là tiểu tư sản. Chúng ta có thể nói: Bác Hồ là người đã đem hạt giống cách mạng theo đường lối Mác - Lênin về gieo ở Việt Nam, còn Bác Tôn là người đã chuẩn bị sẵn miếng đất tốt tại thành phố Sài Gòn để cho hạt giống ấy mau nảy mầm, lên cây, ra hoa và kết trái.
Nhờ có con chim đầu đàn là Tôn Đức Thắng, phong trào giai cấp công nhân thành phố đi vào con đường cách mạng chân chính từ đấy không bị lạc lối lầm đường.
Dưới sự lãnh đạo Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, phong trào đấu tranh của công nhân phát triển ngày càng mạnh mẽ. Để hòng dập tắt phong trào, bọn thực dân Pháp đã thẳng tay khủng bố. Tháng 7-1929, chúng mở đợt khủng bố bắt các hội viên của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại Sài Gòn và Nam Bộ. Ngày 23-7-1929. chúng đã vây trụ sở của Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên tại hẻm đường Lacadơ8 và một số cơ sở ở đường Fơrelui9, bắt các đồng chí Nguyễn Kim Cương, Nguyễn Văn Phát, Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Thị Nhỏ, v.v.. Chúng vây nhà đồng chí Phạm Văn Đồng, Bí thư Kỳ bộ, nhưng ông chỉ về ngoài Trung nên mãi ngày 29 tháng 7 năm 1929 khi ở Trung vào, đồng chí mới bị chặn bắt ở ga xe lửa Sài Gòn, 5 giờ chiều ngày 23-7-1929, chúng bố trí lính kín đón tại đầu Cầu Kiệu, khi đồng chí Tôn Đức Thắng và đồng chí Trần Trương về tới đầu cầu thì bị chúng xích tay bắt đi.
Hơn một năm bị giam và tra tấn dã man tại khám lớn Sài Gòn, đồng chí luôn luôn giữ vững khí tiết của người cán bộ cách mạng, kiên cường chống lại sự khủng bố của chúng, không cho chúng moi những tin tức về tổ chức bí mật của cách mạng tại thành phố và ở Nam Bộ. Đồng chí còn động viên anh em cùng bị bắt và bị giam chung giữ vững khí tiết của người cách mạng. Đồng chí tỏ ra luôn luôn tin tưởng ở tương lai tất thắng của cách mạng.
Thực dân Pháp mở phiên toà để xử các đồng chí Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên bị bắt. Bọn quan toà của thực dân đã tuyên án:
Ngô Thiêm tử hình
Trần Văn Phòng tử hình
Trần Trương tử hình
Tôn Đức Thắng 20 năm tù giam
Phạm Văn Đồng 10 năm tù giam
Đặng Văn Sâm 10 năm tù giam
Bùi Văn Thêm 10 năm tù giam
Nguyễn Văn Ngọc 7 năm tù giam
Trần Ngọc Quế 5 năm tù giam
Nguyễn Văn Giao 5 năm tù giam
Nguyễn Văn Nguyễn 3 năm tù giam
v.v..
Sau đó một thời gian, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng đồng chí Phạm Văn Đồng và nhiều đồng chí bị chúng đày ra Côn Đảo. Tại Côn Đảo, đồng chí bị giam ở Banh I, và mang số tù 5.289. Trước khi thoát khỏi tù đày thì đồng chí ở Sở lưới. Suốt 15 năm bị tù đày trải qua muôn ngàn gian khổ, đồng chí vẫn luôn luôn tin tưởng ở tương lai của cách mạng, luôn luôn giữ vững lập trường và khí tiết của người chiến sĩ cộng sản. Cây bàng ở cạnh Sở lưới, đồng chí đã vun vén chăm sóc để giữ bóng mát cho mai sau, đến ngày nay vẫn còn xanh tốt. Trong nhà tù, đồng chí luôn luôn được các đồng chí mà cả tù thường phạm tin tưởng quý trọng, kính mến. Mọi người coi đồng chí như một người anh lớn. Không cần lý luận dài dòng, chỉ một lời nói của đồng chí là có thể đoàn kết, động viên mọi người, lý luận mác xít ở đồng chí đã ăn sâu và được thể hiện ra bằng hành động.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chúng ta đưa tàu thuyền ra đón tù Côn Đảo về đất liền. Tàu Phú Quốc và 30 thuyền buồm đã ghé bến Côn Đảo. Tất cả tù chính trị, trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng đã được đón về Đại Ngãi (Sóc Trăng). Vừa ra tù, sức còn kém, chưa kịp về thăm gia đình đồng chí đã cùng với các đồng chí bắt tay ngay vào công tác cho Đảng, cho cách mạng, cho kháng chiến.
Hội nghị cán bộ Đảng toàn xứ ở Cầu Vĩ, ngoại thị Mỹ Tho ngày 15-10-1945 đã bầu đồng chí làm Bí thư Xứ uỷ. Hội nghị phấn khởi, tin tưởng ở sức mạnh đoàn kết của đồng chí. Ngày 10-12-1945, Hội nghị quân sự của Xứ uỷ ở Vàm Cỏ Đông, cử đồng chí làm Chủ nhiệm Hậu cần của Uỷ ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam. Đầu năm 1946, trong lúc đồng chí hăng say hoạt động, góp phần tích cực cho kháng chiến chống xâm lược Pháp thì nhận được điện của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cử đồng chí ra Trung ương công tác.
Trên suốt hơn 20 năm, giữ nhiều chức vụ quan trọng, trải qua hai cuộc kháng chiến lớn chống thực dân Pháp, chống dế quốc Mỹ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng chí luôn luôn làm tròn nhiệm vụ của cách mạng trao cho. Làm tới chức Chủ tịch nước mà đồng chí vẫn giữ nếp sống thanh bạch, giản dị, trong sáng, nêu cao tấm gương về đạo đức cách mạng.
Sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đồng chí có dịp trở về thăm thành phố Sài Gòn, thăm quê hương, bóng đồng chí còn in sâu trong đáy nước Đồng Nai, Bến Nghé, Cửu Long. Đồng chí Tôn Đức Thắng đời đời sống mãi trong sự nghiệp cách mạng của chúng ta.
_____________
* Ban Nghiên cứu Lịch sử Đảng Thành phố Hồ Chí Minh
1. Đến nay, còn hình ảnh chụp chung với các bạn ở Toulon.
2. Nay là Lý Chính Thắng
3. Nay là Bà Huyện Thanh Quan
4. Nay là đường Nguyễn Thị Minh Khai.
5. Nay là Võ Thị Sáu
6. Nay là Hai Bà Trưng
7. Nay là chợ Phú Nhuận.
8. Nay là đường Nguyễn Tri Phương
9. Nay là đường Nguyễn Trãi.
Một kỷ niệm không thể quên về đồng chí Tôn Đức Thắng PHẠM THÀNH*
Là một vinh dự lớn đối với tôi, khi được viết về một đồng chí cộng sản lão thành vô cùng kính mến hơn tôi gần nửa đời người. Nhưng viết gì đây? Tôi biết rất ít, tôi muốn nói trực tiếp biết rất ít về cuộc đời hoạt động cách mạng vĩ đại và vô cùng phong phú của đồng chí. Đắn đo, suy nghĩ kỹ, cuối cùng tôi quyết định viết về một hồi ký bình dị nhưng lại nói lên những điều hết sức có ý nghĩa lịch sử không chỉ của đồng chí Tôn Đức Thắng, nhà cách mạng kiên cường được mọi người tôn trọng và ngưỡng mộ, mà còn là của một thời điểm lớn lao của dân tộc ta, thời điểm một hai năm tiếp liền sau Cách mạng Tháng Tám vĩ đại.
Trước hết tôi muốn nói đôi điều hiểu biết của tôi về đồng chí Tôn Đức Thắng. Đồng chí có một lịch sử oanh liệt mà chỉ sau Cách mạng Tháng Tám tôi mới được biết. Kể ra bọn đế quốc thực dân Pháp độc ác và quỷ quyệt cũng đã thật ranh ma trong việc bưng bít những nguồn tin rung chuyển thế giới nhưng đặc biệt vô cùng có hại cho chúng. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người công nhân bình thường đã từng làm việc vào đầu thế kỷ trước ở hãng đóng tàu Ba Son (Sài Gòn cũ) của thực dân Pháp. Đồng chí bị thực dân Pháp đưa đi lính trong thời kỳ cuối thập kỷ 2 thế kỷ trước và bị chủ nghĩa tư bản Pháp, một thành viên trong liên minh 14 nước tư bản chủ nghĩa thế giới, buộc đồng chí và những người cùng cảnh ngộ đi đánh Nhà nước Nga vô sản đầu tiên trên thế giới.
Lúc đó đồng chí là một thuỷ thủ trên một chiến hạm Pháp đang hùng hổ đi tới Biển Đen để hòng cùng bọn phản cách mạng các nước tư bản chủ nghĩa khác bóp chết Nhà nước vô sản Nga non trẻ. Nhưng chủ nghĩa đế quốc Pháp cùng bè lũ đã hoàn toàn sai lầm và thất bại. Các thuỷ thủ trên tàu chiến Pháp đã nổi dậy chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa đó. Và cùng với toàn thể thuỷ thủ trên tàu chiến France, đồng chí Tôn Đức Thắng đã hiên ngang đứng lên phản chiến quyết liệt. Đồng chí nhận nhiệm vụ vinh quang của một chiến sĩ cách mạng anh dũng treo ngọn cờ phản chiến lên cột buồm tàu chiến để chống lại cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn mà bọn đế quốc Pháp buộc những người lao động và công nhân bị áp bức phải bắn vào nhân dân lao động và công nhân Nga vừa mới giành được thắng lợi oanh liệt trong Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại - Người chiến sĩ quốc tế Việt Nam Tôn Đức Thắng đã nổi bật lên trong nhiều người chiến sĩ quốc tế khác như thế đó.
Với những thành tích cách mạng mà đồng chí Tôn Đức Thắng đã cống hiến cho cách mạng Việt Nam và cả cho Cách mạng Tháng Mười Nga, đồng chí đã bị đế quốc Pháp bắt giam và đày ra Côn Đảo làm một tù nhân khổ sai của chúng. Điều này tôi cũng chỉ biết được ít nhiều qua một vài câu chuyện kể của đồng chí Lê Duẩn vào những phút giải lao khi được làm việc với đồng chí Tổng Bí thư của Đảng trước đây. Theo đồng chí Lê Duẩn thì những người tù chính trị, nhất là những chiến sĩ cộng sản bị đày ra Côn Đảo là những người bị đế quốc Pháp kết án rất nặng; đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong số những người như vậy. Công việc khổ sai mà đồng chí thường phải làm là hàng ngày nai lưng và đổ mồ hôi ra từ sáng đến tối để kéo chiếc cối xay lúa nặng nề hàng chục tạ ở Hầm xay lúa. Không cần phải nói, ai cũng biết đây là một hình phạt dã man, thâm độc mà đồng chí Tôn Đức Thắng phải gánh chịu, dưới sự giám sát tàn bạo của bọn cai ngục luôn luôn lăm lăm trên tay những chiếc dùi cui và roi sắt. Nhưng đồng chí Tôn Đức Thắng đã khôn khéo giáo dục và vận động các bạn tù ở Hầm xay lúa buộc kẻ thù phải giảm bớt những chế độ hà khắc ở đấy.
Thế rồi Cách mạng Tháng Tám ở trên đất liền thành công rực rỡ sau bao nhiêu năm vận động cách mạng gian khổ, liên tục và tài ba của Bác Hồ vĩ đại và hàng vạn chiến sĩ cộng sản trong đó có cả những người đã và đang bị cầm tù như đồng chí Tôn Đức Thắng. Cả một dân tộc trên 20 triệu người đã đồng loạt nổi dậy ở khắp cả ba miền Bắc, Trung, Nam dưới lá cờ vinh quang của Đảng Cộng sản, phá tan xiềng xích nô lệ gần một trăm năm của đế quốc Pháp rồi đến phát xít Nhật và trở thành một dân tộc hoàn toàn độc lập và tự do. Hưởng ứng thời cơ cách mạng có một không hai ấy, Đảng bộ nhà tù Côn Đảo cũng đã lãnh đạo thành công cuộc khởi nghĩa ở trên đảo, giải phóng hoàn toàn một vạn chiến sĩ cách mạng trước đấy còn bị chủ nghĩa đế quốc kìm kẹp. Lý tưởng độc lập tự do mà mỗi người tù nung nấu hàng bao nhiêu năm được thực hiện. Đồng chí Tôn Đức Thắng cũng được giải phóng.
Ngay sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công trong cả nước, Bác Hồ, Đảng và Chính phủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mới ra đời đã cho tàu, thuyền ra Côn Đảo đưa anh chị em trước bị giam cầm là tù nhân sau đã trở thành những công dân, chủ nhân của một nước độc lập trở về đất liền, cùng với các đồng chí, đồng bào cả nước tham gia sự nghiệp bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam yêu quý của mình. Một số đồng chí khác, ở lại miền Nam công tác. Một số đồng chí khác, trong đó có đồng chí Tôn Đức Thắng được Bác Hồ, Trung ương Đảng và Chính phủ điều động ra miền Bắc để cùng các đồng chí ở ngoài đó làm việc cho Đảng và Chính phủ trong phạm vi cả nước.
Đến đây một trang sử mới tuy âm thầm và lặng lẽ nhưng lại vô cùng cấp thiết và quan trọng đã đến với đồng chí Tôn Đức Thắng. Sau Cách mạng Tháng Tám chẳng bao lâu, đất nước ta vừa mới được giải phóng đã phải đương đầu với vô vàn thử thách và khó khăn. Chẳng có câu nói nào diễn tả được tình hình này một cách sâu sắc và đúng đắn hơn câu nói mà mọi người đã từng sống vào những thời điểm gay cấn lúc ấy đều cảm nhận được: đất nước ta ở trong tình thế "ngàn cân treo sợi tóc". Ở miền Bắc hàng chục vạn quân Tưởng lấy danh nghĩa đồng minh kéo vào giải giáp vũ khí Nhật đã kéo theo chúng một lũ lâu la Việt quốc, Việt cách hòng nhằm lật đổ chính quyền nhân dân vừa mới thành lập do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ở miền Nam, quân đội Pháp nấp sau quân đội Anh cũng đã đánh chiếm Sài Gòn vào ngày 23 tháng 9 năm 1945, rồi đánh lan dần ra các tỉnh xung quanh. Thế là cuộc kháng chiến của nhân dân đã bắt đầu ở miền Nam sau hơn một tháng. Cách mạng Tháng Tám thành công trong cả nước. Câu nói quen thuộc của mọi người "miền Nam đi trước về sau” chính là có nguồn gốc từ đó.
Hồi ký chủ yếu về đồng chí Tôn Đức Thắng mà tôi trân trọng ghi lại ở đây, với các tài liệu khá phong phú và cụ thể mà tôi biết được đã thực sự chứng kiến bắt đầu từ đây và diễn ra trong hơn một năm đầy sóng gió của đất nước ta sau Cách mạng Tháng Tám. Hồi ký này cũng chỉ ghi lại một trong vô vàn sự kiện tưởng như bình thường nhưng lại hết sức điển hình trong thời điểm lúc ấy. Bởi lẽ hồi đó toàn thể nhân dân Việt Nam và Đảng Cộng sản Việt Nam đều đã làm những công việc tương tự như vậy, những công việc đã góp gió thành bão và từng bước tạo nên những thắng lợi huy hoàng của cách mạng Việt Nam sau này. Với tính cách như vậy, hồi ký này mong gợi lại cho lớp lớp sau này hiểu được phần nào công việc của cha anh khi trước. Nhân vật trung tâm của hồi ký này chính là đồng chí Tôn Đức Thắng vô vàn yêu quý của chúng ta.
Trong những năm 1945 - 1946, sau Cách mạng Tháng Tám, đất nước ta, một đất nước hoàn toàn kiệt quệ qua gần 100 năm thống trị của đế quốc, đã trở về tay với nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là một kho tàng trống rỗng. Mọi thứ đều thiếu thốn hoặc ở vào trạng thái nguy kịch. Nhân dân Việt Nam với tư thế hiên ngang của người chiến thắng, sẵn sàng đứng lên bảo vệ Tổ quốc,nhưng trong tay không có một tấc sắt. Kho bạc trống rỗng, ngân hàng vẫn trong tay tư bản nước ngoài; ruộng đồng nhiều nơi hoang hoá; lụt lội, hạn hán đe doạ mọi miền đất nước; cả một dân tộc vừa trải qua một nạn nói khủng khiếp cướp đi 2 triệu sinh mạng con người, nạn đói đi kèm với nạn mù chữ. Chính trong tình hình đó mà cả nước ta tính cực hưởng ứng 3 khẩu hiệu hết sức sáng tỏ và kịp thời của Bác Hồ và của Đảng; diệt giặc ngoại xâm; diệt giặc đói, diệt giặc dốt.
Trong tình hình đó, để tiến hành cuộc kháng chiến thần thánh bắt đầu ở miền Nam, thì cả nước ta thực sự đã gồng hết sức mình với tinh thần quyết sống mái với kẻ thù, quyết giữ vững từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc. Câu nói nổi tiếng của Bác Hồ: “miền Nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam" đã nói lên quyết tâm của nhân dân ta trong cuộc đọ sức với kẻ thù đang âm mưu chiếm lại miền Nam để từ đó đánh chiếm lại cả nước ta. Lúc đó, những đoàn tàu rầm rập suốt ngày đêm đi từ miền Bắc vào miền Nam đã chuyển hàng vạn thanh niên yêu quý của miền Bắc vào sát cánh cùng đồng bào miền Nam ruột thịt của mình để chiến đấu chống kẻ thù chung là thực dân Pháp. Tôi nhớ rất rõ những đoàn tàu này đã đưa những đoàn quân của ta hiên ngang ra mặt trận với khí thế chiến đấu hừng hực "cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", vì trong đó có người thân của tôi đang độ trên 20 tuổi vui vẻ xung phong vào Nam chiến đấu, rồi về sau hy sinh ở đó trong niềm thương tiếc của cô bác miền Nam.
Bộ phận công tác miền Nam lúc đó đã được lập ra và gọi là Phòng miền Nam do đồng chí Tôn Đức Thắng phụ trách cùng với chị Nguyễn Thị Sóc (gọi là chị Hai Sóc) có nhiệm vụ theo dõi cuộc chiến đấu của nhân dân ta ở miền Nam, giúp Đảng và Chính phủ hoạch định chiến lược, sách lược và chính sách kháng chiến ở miền Nam. Miền Bắc không chỉ có nhiệm vụ cung cấp nhân lực cho quân dân ta ở miền Nam mà còn có nhiệm vụ cung cấp vũ khí, đạn dược và của cải cho miền Nam. Nhưng sau Cách mạng Tháng Tám, với một nền kinh tế kiệt quệ của một đất nước vừa mới được giải phóng như đã nói ở trên, Đảng và Chính phủ ta lấy tiền bạc, của cải đâu ra để làm việc đó? Theo sáng kiến của Bác Hồ, của Đảng và Chính phủ ta, Tuần lễ vàng đã được phát động trong cả nước từ Bắc chí Nam. Nói đến Tuần lễ vàng, giờ đây không khỏi có người ngỡ ngàng và sửng sốt. Vàng là thứ của cải quý báu của nhân dân, ai cũng cất giữ cẩn thận và kín đáo, vậy làm thế nào để lấy ra được? Anh Trường Chinh nói đại ý rằng, tiền của ta in ra và phát hành để chi tiêu trong nước, nhân dân ta sẽ ủng hộ, không có vàng bảo đảm nhưng có sự tín nhiệm của nhân dân thì ta vẫn có thể in tiền và phát hành tiền. Đồng bạc Cụ Hồ được in ra trên cơ sở lấy sự tín nhiệm của nhân dân đối với cách mạng làm bảo đảm thay cho sự đảm bảo của vàng. Nhưng chúng ta còn phải có quan hệ kinh tế với các nước khác, phải mua sắm máy móc, súng đạn. Vậy không thể thiếu vàng. Chính uy tín của cách mạng, lòng yêu nước của nhân dân đối với Đảng là nguồn lực tạo nên dự trữ vàng cho đất nước. Thế là Tuần lễ vàng do Bác Hồ, Đảng và Chính phủ phát động đã đem lại một kết quả kỳ diệu là thu hút được vàng dưới mọi hình thức từ trong nhân dân về kho quỹ của Nhà nước. Người ta quyên góp cho Chính phủ hoa tai vàng, nhẫn vàng, vòng tay, vòng cổ vàng, cả những thỏi vàng, những lá vàng bao lâu nay nằm sâu dưới đáy hòm của nhà này nhà khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị về việc sử dụng số vàng đó như sau: "Vàng, bạc được nhân dân ủng hộ, chú phải hết sức tiết kiệm, sử dụng cho đúng. Chú báo cáo với Thường vụ trích một phần cho người đem ra nước ngoài mua một số máy vô tuyến điện phân cho các khu để bảo đảm liên lạc giữa Trung ương với các khu và chuẩn bị kháng chiến, mua phụ tùng máy móc tốt cho Đài tiếng nói Việt Nam. Còn lại dùng một phần đúc thành thỏi gửi cho Nam Bộ kháng chiến"2. Chú ở đây là anh Nguyễn Lương Bằng lúc đó phụ trách tài chính của Đảng. Về sau một số vàng đã được đúc thành thỏi để gửi nhiều lần vào Nam như Bác Hồ đã căn dặn. Công việc đúc vàng chính là do đồng chí Tôn Đức Thắng phụ trách.
Đồng chí Tôn Đức Thắng cùng chị Nguyễn Thị Sóc (tức Hai Sóc) và các nhân viên tuỳ tùng gồm có đồng chí Khuất Duy Tri, thư ký riêng của đồng chí, ông Nguyễn Văn Lựu, một người thợ đúc vàng đã hoạt động ngày đêm không mệt mỏi suốt trong thời gian Tuần lễ vàng và sau đó để phục vụ cho cuộc chiến đấu của miền Nam, đặc biệt là để sản xuất ra các thỏi vàng gửi cho Nam Bộ kháng chiến theo chỉ thị của Bác Hồ. Hồi ký do gia đình họ Khuất viết còn cho biết trong số những người đi theo đoàn của đồng chí Tôn Đức Thắng còn có anh Minh một người thợ phụ giúp ông Nguyễn Văn Lựu quạt, thổi lò than và đổ vàng đã được nung chảy trong các lọ gốm vào những khuôn dài làm bằng gang. Ngoài ra còn có ba người con của đồng chí Tôn Đức Thắng là các cô Tôn Thị Hạnh, Tôn Thị Nghiêm và Tôn Thị Tuyết Dung (con nuôi).
Trụ sở công tác chính của đồng chí Tôn Đức Thắng đóng ở Hà Nội. Trung ương Đảng, mà trực tiếp là đồng chí Trường Chinh đã luôn luôn quan tâm liên hệ với đồng chí Tôn Đức Thắng để chăm lo công việc đúc và chuyển vàng vào Nam Bộ.
Suốt trong thời gian vận động Tuần lễ vàng, đoàn của đồng chí Tôn Đức Thắng, chủ yếu là đồng chí Tôn, đồng chí Hai Sóc và đồng chí Khuất Duy Tri đã thường xuyên tiến hành những chuyến đi về các tỉnh lân cận Hà Nội, đặc biệt là từ Hà Nội lên Sơn Tây để trực tiếp thực hiện cuộc vận động này. Trên hành trình Hà Nội - Sơn Tây tại làng Thuần Mỹ, gia đình cụ Khuất Duy Huyên cùng vợ là cụ Hà Thị Quyến với người con cả là Khuất Duy Địch đã có vinh dự được làm một trạm trung chuyển, nói đúng hơn là một trụ sở phụ của cơ quan đồng chí Tôn Đức Thắng. Đến đây tôi cũng xin mở một dấu ngoặc để nói vài điểm về gia đình này, không phải chủ yếu để nói đến công lao của gia đình mà để nói rõ sự sáng suốt của đồng chí Tôn Đức Thắng khi chọn gia đình này làm trụ sở phụ cho mình giữa Hà Nội và Sơn Tây. Đây là một gia đình có thể nói hầu như toàn gia làm cách mạng, trừ một số em bé. Khuất Duy Tiễn (tức Minh Tranh) là đảng viên năm 1937 của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khuất Duy Tri và Khuất Duy Tiễn đều là cán bộ cách mạng trước năm 1945. Bên cạnh gia đình cụ Khuất Duy Huyên là gia đình ông Khuất Duy Tiến, một người thân, một đảng viên cộng sản kỳ cựu, về sau có thời gian làm Chủ tịch Hà Nội, cùng với em là Khuất Thị Thuân, một cán bộ lão thành cách mạng hoạt động ngay từ thời kỳ Pháp thuộc, và Khuất Thị Bảy, vợ đồng chí Hoàng Quốc Việt cũng vậy. Từ hai gia đình họ Khuất này, tư tưởng cách mạng đã sớm toả ra trong cả làng, làm cho làng này nổi tiếng là một làng nông dân cách mạng, có một đình làng hiện nay là một nhà truyền thống cách mạng. Như vậy, trụ sở phụ mà đồng chí Tôn Đức Thắng chọn ở nhà cụ Khuất Duy Huyên thuộc làng Thuần Mỹ là hết sức đúng đắn và sáng suốt. Về sau, trong thời kỳ Pháp tạm chiếm, gia đình họ Khuất này với lớp con cháu kế tục vẫn tiếp tục hoạt động bí mật đào hầm bí mật, che giấu cán bộ, bộ đội, tiếp tế lương thực, thuốc men và đóng thuế nông nghiệp cho kháng chiến. Phải nói rằng ở nông thôn Việt Nam không ít những làng xã và gia đình cách mạng giống như làng này, gia đình này. Nhưng đây là một làng, một gia đình thực sự điển hình và có vị trí trung chuyển thuận lợi cho đồng chí Tôn Đức Thắng.
Từ Hà Nội lên Sơn Tây đường đi dài khoảng 40 - 50 kilômét. Cả đoàn đồng chí Tôn Đức Thắng gồm chủ yếu ba người là đồng chí Tôn Đức Thắng, đồng chí Hai Sóc và đồng chí Khuất Duy Tri luôn luôn phải đi xe đạp cũ kỹ. Sau khi mới giành được chính quyền thì bất cứ cán bộ nào, kể cả từ Trung ương cũng đi bộ hay đi xe đạp chứ lấy đâu ra ôtô, xăng dầu để đi công tác, cho dù là công tác khẩn cấp. Còn đi ôtô khách của tư nhân thì có nhiều khó khăn, nhất là phải giữ bí mật. Theo lời kể của đồng chí Khuất Duy Tri hiện đã 81 tuổi thì chính trong những chuyến đi xe đạp như vậy mới thấy hết tay nghề của đồng chí công nhân Ba Son Tôn Đức Thắng, và quan hệ gắn bó anh em của đồng chí cán bộ lãnh đạo đối với các nhân viên dưới quyền mình. Đồng chí Tôn Đức Thắng tuy xa nghề đã lâu nhưng vẫn không quên những thao tác điêu luyện của một người công nhân lành nghề. Trên đường đi, xe nào bị hỏng hóc gì đều qua bàn tay sửa chữa tài ba của đồng chí với túi đồ nghề giản dị và cần thiết luôn luôn mang theo xe. Một cái ốc vặn không chặt, một cái nan hoa gãy, xích líp trục trặc, lốp hay ruột xe thủng v.v. đều được đồng chí nhanh chóng sửa chữa lại như mới. Sau mấy phút dừng xe để sửa chữa, xe càng tốt hơn và đoàn người lại tiếp tục đi công tác, quan hệ trong đoàn gần gũi, thân mật và giản dị. Nhưng trong công tác, đồng chí Tôn Đức Thắng lại rất nguyên tắc. Thuở ấy, ngay sau ngày cách mạng thành công, mọi công tác còn phải rất bí mật. Đồng chí Khuất Duy Tri là thư ký riêng rất tin cậy của đồng chí Tôn Đức Thắng, thế mà không bao giờ đồng chí biết trước được kế hoạch công tác của đồng chí Tôn Đức Thắng. Phải đến tận nơi và tận giờ tiến hành công tác, đồng chí Khuất Duy Tri mới được đồng chí Tôn Đức Thắng thông báo cho biết.
Những cuộc hành trình thường xuyên qua lại giữa Hà Nội và Sơn Tây được thực hiện như vậy để vận động cho Tuần lễ vàng luôn luôn đạt kết quả mong muốn. Người miền Nam chính cống nói chuyện tâm tình với bà con miền Bắc về tình hình kháng chiến ở Nam Bộ thì đúng là người thật việc thật. Để xử lý số vàng quyên được trong các chuyến đi vận động, đồng chí Tôn Đức Thắng cùng chị Hai Sóc đều đưa vào nhà ông Khuất Duy Huyên cất giữ và chế tác. Ở đây có một chi tiết mà đồng chí Khuất Duy Tri yêu cầu đính chính. Số là ở phố Gạch cách làng Thuần Mỹ 1 kilômét lúc đó không hề có một tiệm vàng nào cả, do đó cũng không có một thợ kim hoàn nào cả. Việc đúc vàng thành thỏi hoàn toàn được làm một cách hết sức bí mật tại nhà ông Khuất Duy Huyên. Trên các thỏi vàng có khắc chữ Kim Nguyên. Ông Nguyễn Văn Lựu do chị Hai Sóc tuyển về chuyên làm việc đó với một người thợ phụ tên là Minh như đã nói ở trên. Số vàng đúc thành thỏi trong những dụng cụ thô sơ và được cất giấu dưới một cái hầm kín ngay dưới giường nằm của chị Hai Sóc, sau đó được đem mua vũ khí hay chuyển vào Nam.
Trong thời gian đoàn của đồng chí Tôn Đức Thắng ở làng Thuần Mỹ, hai ông bà Khuất Duy Huyên đã nhường cho đồng chí Tôn Đức Thắng, chị Hai Sóc cùng những người tuỳ tùng ở những gian phòng tốt nhất với những tiện nghi có thể có được lúc đó ở nông thôn. Đồng chí Tôn Đức Thắng ở gian ngoài với đồng chí Khuất Duy Tri. Chị Hai Sóc là một phụ nữ được bố trí ở buồng trong với một cái hầm cất giấu vàng bạc như đã nói ở trên. Mùa hè không có gì đáng ngại lắm, nhưng mùa đông thì thời tiết quả thật là khắc nghiệt đối với những người đã từng quen sống từ nhỏ ở miền Nam. Thường đồng chí Tôn Đức Thắng cùng đồng chí Khuất Duy Tri nằm chung một giường, cùng đắp chung một chiếc chăn chiên. Chị Hai Sóc ở trong buồng cũng đắp một chiếc chăn chiên như thế. Với cái rét miền Bắc có khi xuống dưới 10 độ thì rõ ràng đắp chăn chiên là không đủ ấm, dù rằng đó đã là tiện nghi khá tốt đối với những người đã quen với thời tiết khí hậu miền Bắc. Vì vậy, đồng chí Tôn Đức Thắng và chị Hai Sóc phải lấy ý chí, tinh thần để vượt qua mọi khó khăn gian khổ về vật chất. Ngoài ra, tuy là cán bộ lãnh đạo, các đồng chí vẫn hoàn toàn sinh hoạt như người nông dân ở làng Thuần Mỹ. Những lúc đi xa về mồ hôi nhễ nhại, hoặc bị mưa gió bất ngờ ập đến làm áo quần ướt sũng, đồng chí Tôn Đức Thắng vẫn cùng mọi người tắm nước giếng bên cạnh nhà trong những buồng tắm đơn sơ, lợp bằng lá mía, áo quần thay ra thì tự giặt hoặc có sự giúp đỡ của đồng chí Khuất Duy Tri và người trong nhà. Các bữa ăn như vợ tôi3 thường kể lại thì rất đạm bạc, gia đình có gì ăn nấy, từ dưa cà, mắm muối, những bát canh loãng, những bữa cơm độn khoai sắn. Thỉnh thoảng bữa ăn có chút cá thịt, tôm, cua bắt ở đồng đã là sang. Đối với đồng chí Tôn Đức Thắng, một người công nhân chính cống sống trong hoàn cảnh ngay sau Cách mạng Tháng Tám ở nông thôn thì đó là những điều kiện sinh hoạt bình thường hàng ngày, không có gì phải đắn đo. Cuộc sống trong mấy năm 1946 - 1947 của một người sau này là Chủ tịch nước cùng làm việc bên cạnh Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ là như vậy đấy.
Đồng chí Tôn Đức Thắng đã sống chan hoà với gia đình ông Khuất Duy Huyên một thời gian khá dài trong sự đùm bọc thương yêu của những người nông dân ở nông thôn: cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với gia đình, coi người trong gia đình như người nhà của chính mình. Đồng chí và chị Hai Sóc đặc biệt quý mến vợ tôi, lúc đó mới trạc 15, 16 và những khi đi vắng thường coi vợ tôi là “tay hòm chìa khoá" của mình. Tấm lòng của đồng chí Tôn Đức Thắng cũng như của chị Hai Sóc đối với gia đình ông Khuất Duy Huyên thật vô cùng sâu sắc và cảm động. Sau này khi đồng chí Tôn Đức Thắng đã trở thành Chủ tịch nước, đồng chí vẫn không quên thời gian chung sống trong gia đình ấy. Bức ảnh hết sức giản dị của đồng chí gửi về tặng gia đình cùng những lời đề tặng của đồng chí đã nói lên điều đó. Tôi xin phép được in lại tấm ảnh ấy cùng với những lời đề tặng ấy để bạn đọc có thể hình dung được tâm hồn cao quý của một con người vĩ đại luôn luôn gần gũi quần chúng. Tấm ảnh và những lời đề tặng ấy đã được các thế hệ ông, cha, con cháu nhà họ Khuất trịnh trọng treo lên nơi trang trọng ở trong nhà. Càng nhìn tấm ảnh tôi càng có cảm nghĩ đây là một ông tiên phúc hậu của gia đình, dù tôi luôn luôn là một người vô thần. Tôi đã nhiều lần về thăm nhà, nơi ở ngày xưa của Bác Tôn với biết bao dấu tích còn lại cách đây trên 50 năm: đây là dấu hầm cất giữ các thỏi vàng bạc, đây là những dụng cụ thô sơ dùng để đúc vàng, đây là một căn hầm bí mật nằm dưới rặng tre nay đã rất xanh tốt. Biết bao kỷ niệm vô cùng sâu sắc về một con người, về một người chiến sĩ cộng sản chân chính.
Tôi được biết cán bộ Viện Bảo tàng Tôn Đức Thắng ở Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần ra đây thu thập dấu tích, di vật của cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng4 và cũng đã nhiều lần đến nhà đồng chí Khuất Duy Tri hiện đã vào ở tại Thành phố Hồ Chí Minh để hỏi kỹ về những kỷ niệm sâu sắc mà cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng để lại trong thời gian ở nhà cụ Khuất Duy Huyên. Các cán bộ của Viện đã đào được mấy chục lọ sứ, 1 chum đựng a xít và bễ thổi lửa. Bản hồi ký này tôi viết ra đây không chỉ là một bài viết của riêng cá nhân tôi, mà có thể nói là một hồi ký tập thể của nhiều người biết về Bác Tôn kính mến của chúng ta, với rất nhiều chứng tích hùng hồn còn có thể nhận biết được một cách thực tế và cụ thể, dù rằng thời gian 1946 - 1947 hồi Bác Tôn sống và làm việc ở nhà cụ Khuất Duy Huyên thuộc làng Thuần Mỹ đã lùi rất xa so với thời điểm hiện nay. Qua bản hồi ký này, bản thân tôi cũng vô cùng xúc động, với nhiều bài học quý báu mà tự tôi rút ra được, trên mấy mặt sau đây:
1. Cuộc cách mạng Việt Nam của chúng ta có một ý nghĩa quốc tế thật sâu sắc ngay từ khi Bác Hồ vô vàn kính yêu của chúng ta ra đi tìm đường cứu nước, rồi gặp được ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lênin và Cách mạng Tháng Mười Nga soi sáng. Tính chất quốc tế ấy hoà quyện với chủ nghĩa yêu nước chân chính của con người Việt Nam không chỉ dừng lại ở lý luận và đường lối cách mạng thực tiễn của vị lãnh tụ vĩ đại của chúng ta mà còn thể hiện song hành động thực tế, trước hết là của Bác Hồ và noi gương Bác Hồ trong hành động thực tế, của đảng viên mà một người tiêu biểu nổi bật là đồng chí Tôn Đức Thắng kính yêu và sau đó là nhiều người khác như những chiến sĩ Việt Nam chiến đấu bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại và biết bao nhiêu người cộng sản Việt Nam chiến đấu trong Hồng quân Trung Quốc trong đó có cả những vị lưỡng quốc tướng quân như đồng chí Nguyễn Sơn. Thật cảm động biết bao khi tôi viết lại hồi ký này kể về một con người mang tinh thần chủ nghĩa quốc tế trong sáng của Bác Tôn.
2. Nước Việt Nam thân yêu của chúng ta cách đây hơn 50 năm còn đang ở trong tình trạng "ngàn cân treo sợi tóc", với nhưng hoạt động anh dũng, không một mỏi nhưng còn rất thủ công thô sơ như hoạt động của người cộng sản chân chính Tôn Đức thắng thì nay đã trở thành một nước Việt Nam không ngừng lớn mạnh tiến dần lên hiện đại hoá theo định hướng xã hội chủ nghĩa để sánh vai cùng các cường quốc năm châu như Bác Hồ từng tiên đoán. Quả thật đó là một kỳ tích trong lịch sử nhân loại. Đó là quá trình phát triển theo đúng quy luật của một cuộc cách mạng nhân dân mà nòng cốt là Đảng của giai cấp công nhân, của Bác Hồ vĩ đại, và của những người cộng sản chân chính như đồng chí Tôn Đức Thắng. Quả thật mỗi người Việt Nam đều có thể tự hào về kỳ tích lịch sử hiếm có này.
3. Một nước Việt Nam thống nhất với hai miền Nam - Bắc xum họp một nhà như Bác Hồ nói, một chân lý không bao giờ thay đổi. Hồi ký về đồng chí Tôn Đức Thắng nói lên thật cụ thể, rõ ràng chân lý sâu sắc đó. Để bảo vệ miền Nam, đưa miền Nam trở lại trong lòng cả nước, miền Bắc sẵn sàng hiến dâng cả máu và vàng trong khi miền Nam đi trước về sau luôn luôn chiến đấu anh dũng, sát cánh với anh em miền Bắc ruột thịt của mình. Đó là sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Đó là một nguyên nhân thắng lợi của Việt Nam trong mọi cuộc đụng đầu lịch sử với kẻ thù hung hãn và xảo quyệt hòng đè bẹp một dân tộc với những trang bị vũ khí nhiều gấp bội so với chúng ta. Điều này, kẻ thù của chúng ta đã không sao hiểu nổi, nhưng bạn bè của chúng ta thì vô cùng cảm phục và tích cực ủng hộ, vui mừng khích lệ, cổ vũ chúng ta.
4. Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo chân chính duy nhất của cách mạng Việt Nam. Nguồn sức mạnh của Đảng là sự liên minh chiến đấu của giai cấp công nhân và giai cấp nông dân Việt Nam. Kỷ niệm về đồng chí Tôn Đức Thắng có sự gắn bó điển hình và sâu sắc giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông dân mà Đảng đã dốc lòng xây dựng kể từ khi Bác Hồ tìm ra con đường cứu nước và giải phóng dân tộc, trong đó liên minh công - nông là một vấn đề có tính nguyên tắc. Bán Tôn là một hình tượng tiêu biểu điển hình của giai cấp công nhân Việt Nam, nông dân làng Thuần Mỹ là tiêu biểu của giai cấp nông dân Việt Nam. Liên minh công - nông cũng là một nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng Việt Nam mà mọi thế hệ người Việt Nam luôn luôn ghi nhớ.
Hồi ký với những cảm nghĩ trên đây của tôi, một người đã từng sống những giờ phút trước và sau Cách mạng Tháng Tám, và cũng góp phần tham gia quá trình cách mạng này, là những dòng hồi ký và cảm nghĩ chân thành. Nó để lại cho tôi một dấu ấn không bao giờ phai mờ về sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam ta cũng như về những con người cách mạng chân chính như Bác Tôn vô cùng quý mến của chúng ta.
_________________
* Nguyên Giám đốc - Tổng Biên tập Nhà xuất bản Sự thật.
1. Lúc đó là vào tháng Tư năm 1919 (T.G)
2. Trích theo bài "Những năm tháng làm việc bên anh Trường Chinh" của Trần Quốc Hương trong cuốn Trường Chinh một nhân cách lớn, một nhà lãnh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam (Hồi ký), Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.243.
3. Vợ tôi là Khuất Thị Đào, con gái đầu của ông Khuất Duy Địch tức cháu gái đầu của cụ Khuất Duy Huyên, lúc đó được coi là "tay hòm chìa khoá" của Bác Tôn những khi Bác đi vắng (T.G).
4. Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, trong niềm thương tiếc của toàn dân, Quốc hội đã bầu đồng chí Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước (T.G).
Bác Tôn Đức Thắng - Một tấm gương khiêm tốn và độ lượng TRẦN THỊ TỐN *
Trong cuộc đời tôi, suốt 30 năm làm công tác biên tập, khắc đậm một ký ức không thể phai mờ. Đó là lần dược cùng gặp Bác Tôn Đức Thắng để xin phép xuất bản một cuốn sách của Bác phục vụ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng.
Tôi còn nhớ như in những năm tháng hân hoan, phấn khởi sau ngày 30-4-1975 toàn thắng, cả nước tràn ngập niềm vui đất nước hoàn toàn độc lập thống nhất, Bác - Nam sum họp một nhà. Nhà xuất bản Sự thật cũng rộn ràng, khẩn trương triển khai xuất bản hàng loạt tác phẩm để phục vụ Đại hội Đảng sắp họp vào tháng là năm 1976, trong đó có sách về Mặt trận dân tộc thống nhất của Bác Tôn.
Ngày ấy, tôi vừa vào nghề được bốn năm. Tuổi đời và tuổi nghề còn quá trẻ. Tôi tự xác định phải vừa làm việc vừa tích cực học hỏi các bậc đàn anh đi trước. Thật bất ngờ, một hạnh phúc đã đến khi ban lãnh đạo phân công tôi cùng làm sách của Bác Tôn Đức Thắng, vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, đồng thời là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính mến. Sau ít phút hồi hộp, ngỡ ngàng, tôi tự tin bắt tay vào việc bởi lẽ hồi bấy giờ tôi đang được sự dìu dắt của anh Phan Thiện Chư, một chuyên gia làm sách chính trị vững vàng, từng trải với bề dày nhiều năm làm việc tại Nhà xuất bản của Đảng, một người con xứ Huế với phong thái nhẹ nhàng, sâu sát, một cán bộ có uy tín trong Nhà xuất bản.
Đã chuẩn bị xuất bản sách của Bác Tôn, chúng tôi liên hệ với Văn phòng Chủ tịch nước và Ban Tuyên huấn Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đề nghị cộng tác. Chúng tôi sưu tầm, tuyển chọn những bài viết, bài nói của Bác Tôn về Mặt trận dân tộc thống nhất suốt 30 năm đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ Tổ quốc, cùng với một Lời Nhà xuất bản rất trân trọng. Rất may, Chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước là đồng chí Nguyễn Việt Dũng, một người "con rể" của Nhà xuất bản Sự thật, nên việc trình xin ý kiến của Bác Tôn có nhiều thuận lợi.
Vào một buổi sáng mùa Thu năm 1976.
Đúng hẹn, anh Phan Thiện Chư và tôi đến nhà riêng của Bác Tôn tại số 35 phố Trần Phú, quận Ba Đình. Ngôi nhà hai tầng ẩn sau hàng cây sấu sum suê bóng mát. Phòng khách là một gian nhỏ xinh xắn, tường quét vôi màu kem, các khung cửa sổ vuông vức sơn xanh, được buông tấm rèm màu sáng. Tất cả đều đơn sơ, giản dị như cuộc đời của Bác Tôn.
Chúng tôi không phải chờ lâu. Bác Tôn bước vào, tươi cười bắt tay mọi người và mời ngồi. Riêng tôi cứ lúng túng mãi, hồi hộp trước vinh dự quá sức tưởng tượng của mình nên chưa dám ngồi xuống ghế. Trước mặt tôi là Bác Tôn trong bộ bà ba Nam Bộ, hiền hậu và độ lượng, với mái tóc bạc phơ và đôi mắt rất sáng. Người thủy thủ năm xưa đã từng kéo lá cờ đỏ búa liềm trên chiến hạm France ở Biển Đen, phản đối chiến tranh, bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, người chiến sĩ cách mạng từng bị giam cầm nhiều năm ở Hầm xay lúa, nhà tù Côn Đảo địa ngục trần gian, giờ đây là vị Chủ tịch nước và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, một trong những thần tượng cách mạng mà tôi hằng ngưỡng mộ, đang vui vẻ, thân mật, ân cần tiếp chúng tôi. Tự nhiên, đôi mắt tôi nhoà lệ, trào lên những giọt nước mắt vui sướng, tự hào. Tôi cảm thấy như trong mơ. Lẽ nào một cô gái ngày nào còn mò cua bắt ốc, cấy gặt và làm thuỷ lợi ở vùng đồng chiêm trũng Ninh Bình nghèo khó như tôi lại được ngồi cạnh vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc.
Giữa lúc ấy, tiếng nói chậm rãi, ấm giọng miền Nam của Bác Tôn đưa tôi quay về với thực tại. Bác nói:
- Tôi nghe đồng chí Dũng báo cáo Nhà xuất bản Sự thật muốn làm sách của tôi, có phải như vậy không? Theo ý tôi, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ của Đảng và của dân tộc ta đã viết nhiều sách, trong đó có nhiều cuốn về Mặt trận dân tộc thống nhất. Chính Người cùng với Đảng sáng lập tổ chức và lãnh đạo Mặt trận. Người còn là linh hồn của tinh thần đại đoàn kết đã đưa dân tộc Việt Nam ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Tấm gương của Người, lời nói bất hủ của Người: "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết; Thành công, thành công, đại thành công" chính là pho sách quý nhất về Mặt trận dân tộc thống nhất. Vậy có cần thiết xuất bản sách của tôi nữa hay không?
Bác Tôn vừa dứt lời, anh Phan Thiện Chư xin phép phát biểu. Bằng giọng Huế rất nhẹ và truyền cảm, anh nói:
- Thưa Chủ tịch,
Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta vừa giành được thắng lợi vĩ đại. Tổ quốc ta đã độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới với những nhiệm vụ rất nặng nề. Nhà xuất bản Sự thật được Trung ương Đảng giao nhiệm vụ tổ chức xuất bản một hệ thống sách tổng kết thành tựu về các mặt của cách mạng Việt Nam, tuyên truyền, phổ biến quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước tới đông đảo bạn đọc cả nước. Trong các vấn đề quan trọng đó, công tác Mặt trận dân tộc thống nhất có ý nghĩa to lớn trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong cách mạng xã hội chủ nghĩa ngày nay. Nhà xuất bản cùng với Ban Tuyên huấn - Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam sưu tầm, tuyển chọn các bài phát biểu của Chủ tịch, sắp xếp thành cuốn sách, nội dung chứa đựng nhiều quan điểm và kinh nghiệm sâu sắc, rất có ích cho công tác mặt trận trong giai đoạn mới. Vậy xin Chủ tịch vui lòng cho phép Nhà xuất bản Sự thật được xuất bản cuốn sách này, một tài liệu quý để phục vụ bạn đọc nước ta và bạn bè quốc tế.
Anh Phan Thiện Chư vừa nói xong, tôi đứng dậy, hai tay nâng tập bản thảo trình lên Bác Tôn.
Bác Tôn thận trọng lật từng trang bản thảo, xem qua các tít lớn. Sau đó, Bác giở lại trang đầu, đọc kỹ Lời Nhà xuất bản, rồi chậm rãi nói:
- Hoá ra các đồng chí đã làm xong bản thảo. Tôi xem qua, thấy các bài ở đây đều đã được công bố trên báo, trên đài cả rồi, như vậy có cần in lại nữa hay không?
Thấy Bác còn phân vân chưa muốn cho in sách của mình, anh Nguyễn Việt Dũng đưa mắt nhìn tôi, ý muốn bảo tôi thưa thêm với Bác. Hiểu ý anh, tôi mạnh dạn:
- Thưa Bác, trong bản thảo này, chúng cháu đã tập hợp các bài phát biểu của Bác tại Đại hội III của Đảng, tại các Đại hội Mặt trận và ở các hội nghị của Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam... Những tài liệu này đúng là đã được công bố nhưng lại công bố rải rác trong nhiều năm, trên nhiều báo, không theo hệ thống. Nay chúng cháu tập hợp để làm thành một cuốn sách, sẽ giúp cho bạn đọc hiểu được một cách có hệ thống các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về Mặt trận dân tộc thống nhất và những kinh nghiệm thực tiễn quý báu nhiều năm qua.
Thấy Bác chú ý nghe, tôi phấn khởi thưa tiếp với Bác về cách sắp xếp các tài liệu trong bản thảo.
Đôi mắt của Bác Tôn ánh lên một cái nhìn độ lượng, càng khuyến khích tôi tự tin hơn. Tôi báo cáo thêm với Bác về tên sách, rồi nhắc lại đề nghị Bác cho phép được xuất bản.
Thoáng nhìn thấy Bác gật gật đầu, chúng tôi mừng quá! Có thể Bác đã thấy anh Phan Thiện Chư và tôi trình bày có lý có lẽ và tha thiết đề nghị, cùng với sự chuẩn bị bản thảo chu đáo, đóng xén gọn gàng. Nở một nụ cười đôn hậu, Bác vui vẻ nói:
- Thôi được, tôi đồng ý. Nhưng đây là Nhà xuất bản muốn làm sách đấy nhé!
Được Bác Tôn chấp thuận, anh Nguyễn Việt Dũng và hai chúng tôi rất phấn khởi, vui mừng. Được dịp, anh Phan Thiện Chư thưa luôn với Bác:
- Thưa Chủ tịch, được Chủ tịch đồng ý cho xuất bản cuốn sách Về Mặt trận dân tộc thống nhất, Nhà xuất bản Sự thật xin hứa sẽ cố gắng hoàn thiện và tổ chức in nhanh, in đẹp. Trong tương lai Nhà xuất bản xin đề nghị Chủ tịch đứng tên chủ biên một cuốn sách khác nhằm tổng kết công tác mặt trận, kết hợp lý luận với thực tiễn, làm cẩm nang cho các thế hệ cán bộ mặt trận sau này.
Sau một phút suy nghĩ, Bác Tôn nói:
- Việc đó tôi không làm được. Song, có một điều tôi muốn dặn các đồng chí: Bác Hồ kính yêu của chúng ta, từ ngày thành lập Đảng đến nay đã có nhiều bài nói, bài viết rất hay, rất đúng về đề tài Mặt trận dân tộc thống nhất. Tư tưởng, quan điểm của Người về chiến lược đại đoàn kết và chính sách mặt trận đã được Đảng ta vận dụng sáng tạo, được toàn dân nhiệt liệt hưởng ứng, tạo nên sức mạnh to lớn để dân tộc Việt Nam vượt qua muôn ngàn khó khăn, thử thách, giành thắng lợi vẻ vang. Cần làm thêm nhiều sách để giới thiệu tư tưởng đại đoàn kết của Người. Đây là một việc rất quan trọng mà Nhà xuất bản của Đảng phải làm cho thật tốt.
“Việc đó tôi không làm được”. Lời nói mộc mạc, thẳng thắn của Bác Tôn thấm tận đáy lòng chúng tôi như một biểu hiện về đức khiêm tốn của một lãnh tụ cộng sản mang đậm bản chất giai cấp công nhân. Câu dặn dò của Bác về việc phổ biến tư tưởng đại đoàn kết của Bác Hồ kính yêu là một lời uỷ thác, giao cho chúng tôi - một nhiệm vụ trọng yếu của Nhà xuất bản - mà gần suốt trọn đời vẫn chưa làm hết.
Gian phòng khách đơn sơ càng thêm ấm cúng. Được biết Bác Tôn vừa về thăm quê Mỹ Hoà Hưng sau hơn nửa thế kỷ xa nhà; quê hương đã đón người con yêu quý với những tình cảm vô cùng thân thiết và xúc động trên đất Long Xuyên hoàn toàn giải phóng. Đầy lòng cảm phục và kính trọng, trước lúc ra về, chúng tôi xin Bác cho biết cảm tưởng khi trở lại nơi chôn sau cắt rốn, và kính chúc Bác luôn luôn mạnh khoẻ, sống lâu để cống hiến thật nhiều cho nước, cho dân.
Thấm thoắt gần 30 năm đã tôi qua kể từ buổi sáng mùa Thu đáng ghi nhớ ấy. Nhà xuất bản Sự thật (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) đã hoàn thành nhiều pho sách quý như: Mác - Ăngghen Toàn tập, Lênin Toàn tập, Hồ Chí Minh Toàn tập và Tuyển tập, Văn kiện Đảng Toàn tập, sách về các đồng chí cố Tổng Bí thư và các đồng chí lãnh đạo cấp cao qua các thời kỳ... Vẫn lắng đọng mãi trong tôi tấm gương sáng về đức khiêm tốn và độ lượng của Bác Tôn Đức Thắng. Tôi coi đây cũng là một pho sách quý mà các thế hệ mai sau cần tôn trọng, giữ gìn.
______________
* Nhà xuất bản Chính trị quốc gia.
Bác Tôn - Người cộng sản kiên cường trong nhà tù Côn Đảo NGUYỄN ĐÌNH THỐNG*
Trong Điếu văn đọc tại Lễ truy điệu ngày 4-4-1980, đồng chí Trường Chinh đã đánh giá công lao và đức độ của Chủ tịch Tôn Đức Thắng:
…
Gần 17 năm bị đế quốc giam cùm và tù đày ở Côn Đảo, đồng chí luôn nêu cao tinh thần cách mạng kiên cường, tin tưởng vững chắc vào thắng lợi của sự nghiệp giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội;
Đồng chí là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Bất kỳ ở cương vị công tác nào, mặc dù tuổi cao, đồng chí luôn luôn phấn đấu quên mình để hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và Nhà nước giao cho.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí là một tấm gương sáng về lòng trung thành, tận tuỵ, về tinh thần anh dũng, bất khuất, về đức tính khiêm tốn giản dị.
Bài viết dưới đây sẽ góp thêm tư liệu về hoạt động và đấu tranh trong ngục Côn Đảo của Bác Tôn, để góp phần hiểu rõ thêm những nhận định, đánh giá của Đảng ta, hiểu thêm lòng kính yêu mà đồng chí, đồng bào đã dành cho Bác.
1. Bác Tôn, người sáng lập ra Chi bộ và Hội tù nhân Côn Đảo
Tôn Đức Thắng bị bắt cuối năm 1929 tại Sài Gòn, bị kết án 20 năm khổ sai, tháng 6-1930 bị đày ra Côn Đảo. Năm ấy Côn Đảo có chưa đến 2.000 tù nhân, khoảng 300 người mang án chính trị bị giam ở Banh II, Bác Tôn bị giam ở Banh I cùng hơn ngàn người mang án khổ sai, trong đó có nhiều người hoạt động chính trị thuộc Việt Nam Quốc dân đảng, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Đảng Cộng sản và các xu hướng chính vị khác nhau.
Dưới thời tên chúa ngục khát máu Bouvie, chế độ nhà ngục Côn Đảo ghê rợn và ảm đạm. Năm 1930, nhà ngục Côn Đảo đã vùi xác 311 tù nhân, tỷ lệ chết là 15,6%, cao nhất trong các nhà ngục ở Đông Dương. Vốn có kinh nghiệm tổ chức Công hội đỏ ở Sài Gòn, Bác Tôn bàn với Nguyễn Hới, Tống Văn Trân và một số tù chính trị thành lập Hội người tù đỏ làm hạt nhân đoàn kết, tập hợp anh em tù nhân thương yêu giúp đỡ nhau chống chế độ lao tù. Anh em đề nghị Bác làm Hội trưởng.
Năm 1932, nhân số nhà tù tăng lên 2.146 người, phần lớn là những đảng viên cộng sản bị bắt trong cao trào 1930-1931. Với sự hoạt động tích cực của các đồng chí Nguyễn Hới, Tôn Đức Thắng, Tống Văn Trân, Tạ Uyên… Chi bộ nhà tù dã được thành lập tại Banh I năm 1932. Sau chuyến tàu đày những người vừa bị xử trong "Vụ án Đảng Cộng sản Đông Dương" ra Côn Đảo (4-5-1933), Chi uỷ được bổ sung nhiều cán bộ có năng lực như Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Chí Diểu, Trần Quang Tặng... Ngô Gia Tự được cử làm Bí thư chi bộ.
Để tập hợp rộng rãi lực lượng, Đảng uỷ đã phát triển "Hội người tù đỏ" thành Hội tù nhân thống nhất, tập hợp được trên 300 hội viên. Bác Tôn được chi uỷ cử phụ trách Hội tù nhân; Ngô Gia Tự, Nguyễn Hới, Trần Quang Tặng được bầu vào ban lãnh dạo chung toàn đảo. Tù thường phạm tham gia Hội tù nhân ngày càng nhiều, nhiều người sau đó đã trở thành cộng sản, trở về tham gia kháng chiến. Có những người đã hy sinh rất anh dũng như anh Thắm ở Nhà Bè, anh Kiệm ở Cần Giuộc...
2. Người cặp rằng cộng sản đầu tiên ở Côn Đảo
Cuối năm 1932, Bác Tôn bị phạt giam ở Hầm xay lúa. Xay lúa vốn là công việc khổ sai bình thường, nhưng bọn chúa ngục Côn Đảo đã luôn thành một hình phạt khủng khiếp. Nơi đặt cối xay lúa giống như một khám giam, tường đá dày xây kín ba mặt, nóng như một cái hầm, mặt còn lại đặt song sắt lớn để bọn gác ngục kiểm soát. Cối xay lúa chúng làm bằng thùng tônô đựng rượu vang, loại 150 lít cưa ra, phải 6 người mới quay nổi một cối. Khi xay lúa, bụi trấu bay mù mịt, nóng bức rất khó chịu. Tù nhân bị đưa vào đây đôi ba tháng là kiệt sức, toét mắt và mang bệnh lao phổi mãn tính.
Thêm vào đó là nạn áp bức của cặp rằng (caporal: cai tù). Thực dân Pháp chọn những tên lưu manh loại "anh chị" làm cặp rằng để tiếp tay cho chúng áp bức bóc lột tù nhân. Bọn này tập hợp lũ đàn em, toàn những tay "dao búa", sử dụng luật lệ giang hồ bắt tù nhân trong kíp phải phục tùng theo lệnh của chúng, cả trong công việc khổ sai lẫn trong sinh hoạt thường ngày. Trong khám, chỗ nào thoáng mát chúng nằm, có miếng ăn tươi chúng giành, công việc nặng nhọc chúng bắt những người khác làm hết. Cặp rằng ở Hầm xay lúa thường dữ dằn hơn ở các kíp khác. Hầm xay lúa được mệnh danh là "nhà tù trong nhà tù, địa ngục trong địa ngục".
Bác Tôn vào Hầm xay lúa đúng vào lúc bọn lưu manh đang thanh toán lẫn nhau. Cặp rằng Bảy Tốt bị hai tên đàn em đập bể đầu bằng khúc gỗ lim vuông cạnh. Giám thị trưởng Ferandini chỉ định ngay Bác Tôn làm cặp rằng, đẩy Bác vào chỗ chết vì tay bọn lưu manh, hoặc không làm được sẽ bị chúng trừng trị.
Trong tình thế khốn cùng, Bác Tôn vẫn nghĩ đến những khả năng tích cực nhất. Bác tổ chức anh em tù chính trị thành hạt nhân, đoàn kết toàn thể tù nhân, không phân biệt tù chính trị hay thường phạm, bố trí lại công việc cho hợp lý, người khoẻ thì đứng cối xay lúa, vác thóc; người yếu hơn thì sàng xảy, đóng bao, chuyển gạo, quét trấu; ai cũng phải làm việc, thay nhau làm những việc nặng nhọc. Công việc xay lúa không còn là nỗi kinh hoàng của người tù; Hầm xay lúa không còn là nơi để thực dân Pháp thực hiện chính sách "dùng tù trị tù” như trước.
Bác Tôn còn tổ chức gom gạo rơi vãi nấu cơm cho anh em ăn. Buổi tối, Bác cùng anh em tù chính trị dạy văn hoá cho những người chưa biết chữ. Không khí đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ nhau đã thay thế bạo lực, thù hằn, độc ác. Mãn hạn phạt hầm, Bác Tôn đã xây dựng được tổ chức Hội tù nhân ở Hầm xay lúa, mà nòng cốt là tù chính trị và một số tù thường phạm đã giác ngộ.
Mô hình cặp rằng cộng sản Tôn Đức Thắng ở Hầm xay lúa đã được chi bộ nhà tù nhân rộng. Theo chủ trương của chi bộ, tù chính trị các khám tổ chức lực lượng lật đổ chế độ cặp rằng lưu manh, bầu cặp rằng cộng sản. Ngô Gia Tự được bầu làm cặp rằng khám Chỉ Tồn (Sở lao động khổ sai làm các công việc nặng nhọc nhưng không cố định); Phạm Hùng làm cặp rằng kíp lấy san hô, Đào Gia Lựu làm cặp rằng kíp nhà bếp... Đó chính là bước khởi đầu cho việc đoàn kết tập hợp lực lượng, tổ chức tù nhân thành đội ngũ chuẩn bị cho một cao trào đấu tranh cải biến chế độ nhà tù trong những năm tiếp theo.
3. Người giao liên xuất sắc trong tù
Là người lãnh đạo có uy tín, Bác Tôn vẫn tham gia mọi hoạt động theo sự phân công của tổ chức. Khi mới ra, Bác Tôn làm khổ sai ở Sở lưới, làm các việc quét dọn trong sân Banh, đổ thùng, đem nước cho tù nhân trong các xà lim và các khám. Những hoạt động đầu tiên của Bác Tôn là liên hệ với anh em tù chính trị, những đảng viên cộng sản mới ra, nắm chắc chủ trương của Đảng, chọn người trung kiên, xây dựng hạt nhân lãnh đạo trong tù. Ngay từ giữa năm 1930, Bác Tôn đã liên lạc được với Nguyễn Văn Hoan (Tỉnh uỷ Ninh Bình), Nguyễn Hới (Uỷ viên Trung ương lâm thời, Bí thư Tỉnh uỷ Nam Định) và Tống Văn Trân (Tỉnh uỷ Nam Định), lập ra Hội người tù đỏ (1930) và Chi bộ đặc biệt (1932). Trong một ca liên lạc giữa chi bộ (ở Banh I) với tù chính trị Banh II, Bác Tôn bị gác ngục phát hiện và bị phạt vào xà lim sau đó chịu hình phạt ở Hầm xay lúa (1933).
Mãn hạn phạt ở Hầm xay lúa, Bác Tôn được chi bộ bố trí đưa ra là cũng cho chủ Sở lưới Lantali, giữ đường dây liên lạc với các đồng chí ở Sài Gòn và các thuỷ thủ Pháp - Việt. Nhiều thuỷ thủ tiến bộ của Hãng tàu Năm sao của Pháp từ Sài Gòn đi Singapo, ghé Côn Đảo đã được giác ngộ, trở thành giao liên của Đảng ta. Họ chuyển thư, tài liệu về Sài Gòn và mua sách từ Pháp cho tù chính trị. Nhờ liên lạc được với đất liền, Chi bộ Côn Đảo nhận được nhiều sách lý luận gồm những tác phẩm kinh điển của Mác - Ăngghen - Lênin do Nhà xuất ban Xã hội Pháp ấn hành và tài liệu của Đảng ta. Lê Văn Lương phụ trách biên soạn lại, thông tin cho các khám. Nhiều khi phải làm việc thâu đêm, anh nhận được một chút đường hay lưng nước cơm mà Bác Tôn đã dặn bộ phận cứu tế chuyển đến.
Giấy bút trong tù rất hiếm. Có một loại giấy mà bọn gác ngục không kiểm soát là những tờ giấy cuốn thuốc lá loại Lenil mỏng và thấm nước. Phạm Hùng sáng kiến, lấy nước cơm đặc sánh quét lên một lớp, phơi khô là viết được. Lê Văn Lương dùng ngòi bút sắt incomperap nét nhỏ, nắn nót viết, theo bề dọc được 32 hàng, theo bề ngang được 12 dòng. Tài liệu được luồn vào trong gấu quần, gấu áo, giao cho những đồng chí mãn án chuyển về đất liền làm tài liệu học tập cho các đồng chí ở trong nước. Với những manh giấy nhỏ và mỏng như vậy, các anh có thể luồn vào một bộ quần áo tù phiên bản từ một đến hai cuốn sách. Tài liệu còn được viết bằng mực tàu trên giấy khổ lớn rồi bồi vào trong bìa sách Kinh thánh để anh em mãn án công khai mang về.
Khi cần chuyển gấp tài liệu theo tàu, Phạm Hùng phải nhờ đến Bác Tôn. Bác Tôn thường nhồi tài liệu vào những con vích, đồi mồi, tẩu thuốc lá bằng cây dương nước, gậy đầu rồng, hộp thuốc lá bằng gỗ găng, nhờ các thuỷ thủ tin cậy chuyển về cơ sở ở Sài Gòn. Những vật phẩm thủ công mỹ nghệ độc đáo ấy do Bác Tôn chế ra, thường bán lấy tiền góp vào quỹ cứu tế, lúc cần sẽ dùng làm quà tặng cho các thuỷ thủ đã giúp việc giao liên.
4. Người tổ chức trường học cách mạng trong nhà tù đế quốc
Thực hiện chủ trương của Đảng uỷ về việc biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng, từ năm 1932, Tôn Đức Thắng, Nguyễn Hới, Tống Văn Trân…. đã huấn luyện cho tù chính trị Banh I những vấn đề về tổ chức Đảng, về Công hội đỏ, Nông hội đỏ, Đoàn thanh niên phản đế, về cách tổ chức quần chúng, tổ chức biểu tình, v.v.. Cuối năm 1933, Ngô Gia Tự tham gia công tác huấn luyện, tổ chức cho tù chính trị Banh I học tập thấu đáo các vấn đề của chủ nghĩa cộng sản, những đặc điểm giai cấp trong xã hội Việt Nam, sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, đường lối và phương pháp cách mạng của Đảng ta.
Sau hàng loạt cuộc đấu tranh và vượt ngục của tù nhân, tháng 3-1935, Thống đốc Nam Kỳ đã ra lệnh cấm cố toàn bộ số tù chính trị đang làm khổ sai ở các sở ngoài vào Banh I. Bác Tôn cũng bị đưa vào cấm cố tại khám 8. Đây là thời kỳ học tập lý luận và hoạt động sôi nổi, đi vào chiều sâu của tù chính trị Banh I. Lê Văn Lương, Phạm Hùng và nhiều người lãnh đạo chủ chốt của chi bộ bị cấm cố tại Khám 6 - Khám 7 Banh I. Bác Tôn đã gắn bó với Lê Văn Lương và Phạm Hùng trong suốt cuộc đời tù, trong tổ chức, đấu tranh và chỉ đạo một thế hệ tù chính trị.
Bác Tôn hơn Phạm Hùng và Lê Văn Lương hai giáp, tuổi như cha con, nhưng tình như anh em. Bác Tôn điềm đạm mà kiên quyết. Phạm Hùng sôi nổi trong hành động, gan góc và ngang tàng, võ nghệ cao cường khiến đám tù lưu manh loại anh chị cũng phải kính nể. Lê Văn Lương bằng tuổi Phạm Hùng, trầm tĩnh, tận tuỵ, kiên trì, khi bàn bạc thì cân nhắc, thuyết phục, khi hành động thì nghiêm chỉnh chấp hành chủ trương. Bộ ba Tôn Đức Thắng, Lê Văn Lương, Phạm Hùng trở thành trụ cột của tù chính trị Côn Đảo từ thuở khởi sắc đấu tranh cho đến khi thành chính quyền ở Côn Đảo (8-1945).
Biết Trần Văn Giàu nổi tiếng là cây lý luận, tốt nghiệp hạng ưu ở Trường Đại học phương Đông (Liên Xô), Bác Tôn bàn với Phạm Hùng, Lê Văn Lương, giao cho Trần Văn Giàu mở lớp dạy lý luận trong tù. Lúc này, tù chính trị mang án khổ sai đã bị tập trung cấm cố ở Banh I, nên việc tổ chức học lý luận một cách bài bản đã được chi uỷ nhất trí cao. Anh em tù chính trị phấn khởi lao vào học tập.
Hồi ở Trường Đại học phương Đông, Trần Văn Giàu được học lý luận từ nguyên bản tiếng Pháp theo sự hướng dẫn của các giáo sư viện sĩ có tên tuổi. Vốn thông minh và sáng tạo, đọc kinh điển đến đâu, Trần Văn Giàu dịch ngay ra tiếng Việt. Với bài bản sẵn có, Trần Văn Giàu đã dạy chương trình chủ nghĩa Lênin ở Trường Đại học phương Đông cho tù chính trị.
Bác Tôn, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Nguyễn Duy Trinh, đều tham gia lớp học. Bác Tôn là một học viên gương mẫu. Đến giờ học là Bác ngồi xếp chân trên sàn khám, chăm chú nghe giảng. Lối giảng của Trần Văn Giàu khiến học viên nắm bài rất chắc, học tôi đâu, nhập tâm tới đó, ngay cả đối với những người mà trình độ văn hoá không cao. Học đến phần Kinh tế chính trị, nhiều anh em không hiểu thế nào là giá trị thặng dư. Từng là công nhân, Bác Tôn đem những ví dụ cụ thể về các kiểu bóc lột của bọn chủ giảng giải cho anh em trong những giờ thảo luận.
Sau những lớp học mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc mở ở Quảng Châu (Trung Quốc), những người cộng sản đã biến ngục Côn Đảo thành trường học cách mạng đầu tiên ở trong nước. Trường học sau song sắt này đã đào tạo nên một thế hệ cán bộ có lý luận, trưởng thành trong đấu tranh gian khổ, góp phần làm nên Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945 thành công. Đó cũng là trường học cách mạng lớn nhất mà Bác Tôn đã học, sau những năm đấu tranh và thử thách trong trường đời.
Tháng 6-1936, Chính phủ phái tả của Mặt trận nhân dân Pháp lên cầm quyền. Ra đời trong cao trào nhân dân chống phát xít, Chính phủ Pháp phải thi hành một số quyền lợi cho quần chúng lao động trong nước và các thuộc địa. Trong hai năm 1936-1937 đã có khoảng 1.100 tù chính trị được ân xá. Đội ngũ cán bộ từ Côn Đảo trở về đã tăng cường cả số lượng và chất lượng lãnh đạo của Đảng ta.
Bác Tôn vẫn bị cấm cố tại Khám 6 Banh I cùng Phạm Hùng và Lê Văn Lương. Chi bộ nhận được nhiều tờ báo công khai của Đảng mà các bạn tù trở về gửi cho. Năm 1937, Nguyễn Chí Diểu gửi cho bạn tù ở Banh I một tấm ảnh lưu niệm gắn trên bìa các tông, bên trong có bức thư thông báo kết quả Hội nghị Trung ương tháng 3-1937 về chủ trương tổ chức mới của Đảng ta. Bác Tôn bàn với chi uỷ và tổ chức cho anh em học tập, nghiên cứu một cách nghiêm túc chủ trương thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương của Đảng. Bác rất tâm đắc với sách lược đấu tranh linh hoạt, phong phú và mềm dẻo mà Đảng ta chủ trương trong thời kỳ Mặt trận dân chủ. Những vấn đề lý luận học được ởtrong tù và kinh nghiệm tổ chức Công hội đỏ ở Sài Gòn, Hội tù nhân ở Côn Đảo đã giúp Bác Tôn rất nhiều khi trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Mặt trận sau này.
5. Trung tâm đoàn kết, hết lòng thương yêu con người
Trở lại thăm Côn Đảo tháng 8-1976, đồng chí Lê Duẩn đã nói chuyện thân mật với cán bộ, chiến sỹ và nhân dân Côn Đảo. Đồng chí nói nhiều về Bác Tôn:
Bác Tôn bị tù đày ở Côn Đảo 15 năm nhưng lúc nào cũng lạc quan, yêu đời. Đó là một chiến sĩ cách mạng không bao giờ và không gì lay chuyển được, một con người hết sức nhiệt thành, trung thực, quên mình, nay đã tuổi 88 rồi mà vẫn luôn nhẹ nhàng, thanh thản. Tuổi già vậy mà Bác luôn trẻ, đối với kẻ thù thì bất khuất, đối với anh em thì thương yêu vô cùng, có cọng rau, củ lạc cũng cũng chia sẻ cho nhau. Nay Bác là Chủ tịch nước, vậy mà tình nghĩa với anh em cùng ở tù ngày trước vẫn như xưa, không khác chút nào hết. Đến nay, khi gặp nhau nói chuyện, Bác vẫn yêu cầu chúng tôi phải xưng hô với Bác như ngày còn ở trong tù vậy, xưng hô khác là Bác không chịu đâu…”.
Nhiều người bạn tù cùng thời cũng giữ lại những kỷ niệm rất đẹp về Bác Tôn. Bác Tôn đi tới đâu là đem đến một không khí đoàn kết, tình thương yêu và sự giúp đỡ. Không chỉ là những đọt lá vàng non hay nhúm muối cho người bạn ở xà lim cấm cố, không chỉ là những thùng sách kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin để tổ chức nghiên cứu lý luận trong tù, ấn tượng là về Bác Tôn là một nhận cách lớn, như một người cầm lái con tàu vững vàng giữa bão táp biển khơi.
Có một người bạn tù cùng thời, xuất thân là trí thức yêu nước, đã bỏ nhiều công tìm đến các tổ chức cách mạng thời ấy: Thanh niên Cao vọng Đảng của Nguyễn An Ninh, Việt Nam Quốc dân Đảng, Tân Việt cách mạng Đảng và cuối cùng đến với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, nhưng chưa vừa ý với một tổ chức nào, vì Đảng nào cũng còn nhiều thiếu sót, từ đảng viên đến người lãnh đạo, anh có ý đi tìm một tổ chức cách mạng "hoàn thiện hoàn mỹ” hơn. Gặp Bác Tôn trong một cuộc sinh hoạt với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, anh đem những nhận xét của mình ra tâm sự. Bác Tôn nghe rồi trả lời:
“Tôi đã từng đi tìm tổ chức cách mạng ở trong nước và ngoài nước, tôi cũng thấy rằng không có một đảng nào, từ lãnh đạo đến đảng viên hoàn toàn không có khuyết điểm. Có một điều tôi thấy rõ ràng là trong các đoàn thể cách mạng hiện nay, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là tổ chức yêu nước tập hợp được nhiều thanh niên yêu nước Bắc, Trung, Nam hơn hết, vì vậy mà tôi vào tổ chức này. Mỗi người có một cái hay, nhiều người gộp lại sẽ được nhiều cái hay. Tôi sẽ học cái hay của tất cả mọi người trong Hội Việt Nam cách mạng Thanh niên. Tôi có gì hay, tôi cũng hết sức góp phần cho tổ chức này mạnh hơn, tốt hơn, để biến tổ chức này thành “lý tưởng của mình””.
Chưa dễ gì thay đổi được cách nhìn, trong thời gian sinh hoạt với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, anh bạn trẻ vẫn bỏ công đi tìm một tổ chức cách mạng "hoàn thiện hoàn mỹ hơn", nhưng rốt cuộc không thành công. Sau này, khi gia nhập Đang Cộng sản, anh mới tâm sự: "Quan niệm của tôi lúc đó thật mơ hồ, tôi không nhìn vào thực tế xã hội mà chỉ chạy theo những ảo ảnh “lý tưởng hoá”, thành ra lao đao lận đận mãi. Giá hồi đó tôi nghe anh Hai (Bác Tôn) thì đỡ tốn công vô ích mà công sức của mình đem ra phụng sự cách mạng được sớm hơn và nhiều hơn”.
Trong nhà giam, có đồng chí phạm sai lầm, bị đồng chí khác thành kiến, rất buồn phiền, Bác Tôn biết chuyện, khuyên: “Việc thành kiến như vậy, thường là do ấu trĩ của hai bên, nhưng về phía người bị thành kiến nên kiểm điểm xem mình có sai lầm khuyết điểm gì không, hoặc việc làm đúng mà thái độ không tốt khiến cho người ta thành kiến với mình. Về phía anh em, thành kiến với đồng chí là không đúng. Muốn xoá bỏ hết thành kiến chỉ có một cách: nỗ lực hoạt động cách mạng với tất cả nhiệt tình của mình. Đồng chí bị thành kiến cũng phải hăng hái làm cách mạng. Đôi ba năm sau, chậm lắm là năm mười năm sau, cả hai bên đều tiến bộ cả; hai bên sẽ cam kết thêm hơn và câu chuyện thành kiến trở thành không đáng kể. Đó là một cách có hiệu quả nhất”.
Trong tù, có nhiều lúc Bác Tôn đi đi lại lại, trầm ngâm, suy tư. Có đồng chí hỏi Bác nghĩ gì thì Bác Tôn trả lời: "Kiểm điểm lại trong đời hoạt động, tôi đã gặp rất nhiều người trong giới lao động, kể cả lao động ngoại quốc, trong đó có nhiều người rất tốt. Vậy mà có người chưa được tôi tuyên truyền gì cả, hoặc có nhưng chưa thấm vào đâu. Có người đã giác ngộ rồi mà tôi chưa tìm mọi cách để giúp đỡ họ trở thành đảng viên tốt, tôi rất ăn năn, vì như vậy là mình thiếu tinh thần trách nhiệm đối với cách mạng. Xét cho cùng, mình vẫn thiếu một nhiệt tình cách mạng đầy đủ”.
Ở tù, Bác Tôn thích chơi cờ tướng. Đối thủ đi hớ nước nào Bác chỉ cho, ai muốn hoãn nước nào cũng được. Phần mình, Bác Tôn suy nghĩ rất kỹ, đi nước nào là chắc nước ấy, không bao giờ hoãn. Thấy Bác rộng lượng, anh em hùa vào một phía, vừa đánh vừa la, nhưng Bác không bao giờ nổi nóng. Bác nói; "Tôi đánh cờ để học tập rèn luyện chứ không phải để ăn thua với anh em. Đời tôi có nhiều lần làm rồi mới biết sai, nói rồi mới biết lỡ. Những sai sót ấy không phải do mình kém khôn ngoan mà do thiếu cẩn trọng. Vì vậy, tôi đánh cờ để tập tính thận trọng. Phải tính toán hết nước, nhưng nếu trí thông minh và sức tính toán của mình chỉ đến nước ấy thôi thì đành chịu”.
6. Người lãnh đạo cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945 ở Nhà tù Côn Đảo
Mùa thu năm 1940, kíp dọn tàu nhận được tài liệu của Xứ uỷ Nam Kỳ, trong đó có Nghị quyết Hội nghị Trung ương tháng 11-1939 về vấn đề giải phóng dân tộc. Chi bộ đã quán triệt cho anh em tù chính trị cộng sản. Bác Tôn biết rằng cách mạng đang chuyển giai đoạn, bão táp cách mạng sắp bùng lên. Bọn gác ngục ngày càng lỳ lợm. Mỗi lần tù nhân đấu tranh, chúng chỉ nhượng bộ một vài yêu sách nhỏ.
Trong năm 1941, có hơn 4000 tù chính trị tham gia Khởi nghĩa Nam Kỳ bị đày ra đảo Banh I, Banh II, Banh III đều nhốt chật tù. Bọn gác ngục đánh tù như điên như dại. Chế độ cấm cố, nhốt chật, đánh đập thường xuyên và ăn uống tồi tệ làm cho sức khoẻ tù nhân suy sụp, bệnh tật phát triển. Hai căn bệnh phổ biến, lây lan nhanh và nguy hiểm chết người lúc đó là kiết lỵ và ghẻ. Hàng ngàn người đã chết thê thảm, trong đó có đồng chí Lê Hồng Phong và hai nhà yêu nước tên tuổi như Nguyễn An Ninh, Võ Công Tồn.
Chi uỷ cử Phạm Hùng làm Bí thư, thay Nguyễn Duy Trinh vừa mãn án; Thần Ngọc Danh, Võ Sĩ, Văn Viên được bổ sung vào cấp uỷ. Chi bộ tập trung mọi nỗ lực vào hoạt động cứu tế tù nhân. Bác Tôn vẫn ở trong cấp uỷ, phụ trách việc giao thông liên lạc, cứu tế và phụ trách Hội tù nhân. Chi bộ bố trí cho Bác Tôn trở lại Sở lưới. Trần Xuân Độ ở Banh II ra làm ở Bản chế. Lê Văn Lương, Phạm Hùng cũng được làm khổ sai trong sân Banh I, Lang Kiều ra chữa bệnh cho Sở Recherche (Sở truy tầm tù trốn). Lang Kiều tên thật là Nguyễn Kiều, sinh trưởng ở Cao Lãnh, học nghề thuốc gia truyền, nổi tiếng là thần đồng về Đông y từ năm 17 tuổi, bị án 20 năm khổ sai trong vụ đánh cướp tàu Nguyễn Văn Kiệu, làm "kinh tế mạo hiểm", lấy của nhà giàu tài trợ cho cách mạng. Bọn gác ngục mỉa mai: “Đ.M thầy lang mà cũng đi ăn cướp!".
Lang Kiều hóm hỉnh đẩy dóc một câu:
- Ăn cướp cũng có ba bảy đường. Tôi bị buộc tội ăn cướp vì muốn đánh tàu, lấy lại một bộ sách thuốc quý của Việt Nam mà một tay lang băm đánh cắp bán cho ngoại bang. Nghề thuốc của tôi dư sống, cần gì phải ăn cướp.
Bọn gác ngục bán tín bán nghi, nhưng chúng phục tài Lang Kiều chữa bệnh. Lần này chính Bác Tôn xin Toustou, Chủ sở Recherche đưa Lang Kiều từ Hầm cấm cố ra chữa bệnh cho Sở truy tầm tù trốn. Toustou chẳng thiện cảm gì, nhưng hắn cần Lang Kiều ra chữa bệnh cho nhân tình của hắn, cũng là vợ của một tên gác ngục khác, đang có vấn đề phụ khoa mà thầy thuốc Tây bó tay.
Lang Kiều thạo chữ Hán, đọc nhiều sách thuốc, rành y lý phương Đông, giỏi về Nam dược. Trong hoàn cảnh lao tù, anh sử dụng nhiều bài thuốc đặc trị như dùng huyết heo chữa bệnh đường ruột, dùng cơm cháy chữa bệnh bao tử, dùng cỏ tranh chữa bệnh đái đường, dùng chuối hột, cám gạo chữa bệnh kiết lỵ, thương hàn, dùng hồ tiêu, hành củ, ngải rừng chữa bệnh sốt rét… Đã có lần, Phạm Hùng đau ruột thừa tưởng chết, không dám đưa ra nhà thương, sợ bọn chúa ngục nhân cơ hội này thủ tiêu. Lang Kiều đã dùng huyết heo và phèn chua chữa cho Phạm Hùng khỏi bệnh. Phèn chua thì Lang Kiều đã trữ sẵn, còn huyết heo thì chi bộ giao cho nhóm đảng viên trong kíp nhà bếp lén lấy khi giết heo hàng ngày cung cấp cho bọn gác ngục. Đối với bọn nhân viên Recherche gian ác, anh cũng có luật chơi. Anh bốc thuốc công hiệu nhanh nhưng công phạt mạnh để hành hạ chúng.
Bọn Nhật thua trận thất thểu xuống tàu về Sài Gòn chờ giải giáp. Chúng đưa tất cả binh lính và gác ngục Pháp về để bàn giao cho quân Đồng Minh sắp kéo vào. Hôm đó là 25-8-1945. Trước đó chúng đã trao quyền cai trị quần đảo và nhà tù cho Lê Văn Trà trong một lễ trao trả độc lập giả hiệu. Hai trung đội lính bảo an được phái ra đảo làm nhiệm vụ giữ gìn trật tự. Người sĩ quan chỉ huy tên là Bao tìm gặp Phạm Hùng để thông báo tình hình trong nước và truyền đạt chủ trương của Xứ uỷ về việc nắm thời cơ, giành chính quyền. Lực lượng bảo an trở thành hậu thuẫn đắc lực cho tù chính trị.
Hôm sau, Lê Văn Lương, Phạm Hùng, Bác Tôn, Trần Ngọc Danh, Văn Viên, Võ Sĩ, Lã Vĩnh Lợi gặp chúa đảo Lê Văn Trà, yêu cầu bàn giao chính quyền trên đảo cho tù chính trị. Lê Văn Trà không chịu, viện cớ chưa có lệnh của Chính phủ. Nhiều anh em nôn nóng, muốn bạo động cướp chính quyền. Bác Tôn, Lê Văn Lương, Phạm Hùng giữ thái độ kiên quyết nhưng mềm mỏng, tránh đổ máu. Khi biết lực lượng bảo an đã ngả theo tù chính trị, Lê Văn Trà chịu lui một bước, đề nghị thành lập chính quyền liên hiệp, gọi là Hội động Liên hiệp quốc dân Côn Đảo. Phạm Hùng tổ chức ngay lực lượng võ trang, gọi là Đoàn phòng thủ Côn Lôn. Bác Tôn cùng một nhóm thợ giỏi lao vào sửa chữa canô mà bọn Nhật phá hỏng trước khi rút để liên lạc với đất liền và sửa rađiô để nghe tin tức.
Sau những ngày tháng trông mong cháy bỏng, đoàn ghe tàu của Uỷ ban hành chính Nam Bộ ra đón chính trị phạm đã cập bến Côn Đảo ngày 17-9-1945. Đêm 22-8-1945, đoàn ghe, tàu nhổ neo, đưa những người con ưu tú bị lưu đày trên hòn đảo địa ngục trở về đất liền. Trần Ngọc Danh, Lã Vĩnh Lợi, Tô Thúc Rịch đại diện cho chính trị phạm cộng sản trên tàu Phú Quốc; Lê Văn Lương đi trên chiếc cano mang tên Giải phóng do chính người thuỷ thủ Tôn Đức Thắng cầm lái, đưa Phạm Hùng và Ban chỉ huy Đoàn phòng thủ Côn Đảo đi hộ tống đoàn ghe.
Bác Tôn quả là người cầm lái vĩ đại, không phải chỉ trên chiếc cano này mà trong suốt 15 năm trong ngục tù Côn Đảo. Bên cạnh Bác là hai chàng trai trẻ Lê Văn Lương - Phạm Hùng đầu đội án chém, gan góc và thông minh khiến cả đám gác ngục Tây - tà đều kính nể, mà với đồng chí mình rất đỗi thân thương. Lê Văn Lương siết chặt tay Phạm Hùng, ngắm nhìn gió biển lướt trên mái tộc bạc bồng bềnh của Bác Tôn trong bình minh của Tự do - Độc lập.
______________
* Tổng thư ký Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Bác Tôn đối với công an nhân dân vũ trang và cán bộ chiến sĩ trong lực lượng đối với Bác Thiếu tướng Huỳnh Thử*
Vinh hạnh và phấn khởi vô cùng khi đã gần nửa đời người, tôi được Đảng, Nhà nước và cấp trên tin cậy giao cho công tác nghiên cứu, tổ chức, bố trí lực lượng công an nhân dân vũ trang và chỉ huy thực hành bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước kính yêu của mình. Thật không còn vinh hạnh nào hơn, trong cái chung đó, tôi lại được thêm vinh hạnh nữa là tổ chức bảo vệ Bác Tôn, mà hình ảnh của Người tôi mang trong lòng suốt chặng đường dài hơn nửa thế kỷ. Từ lúc mới tròn 20 tuổi, bắt đầu tham gia cách mạng, từ hoạt động bí mật, lúc bị tù đày trong kháng chiến đánh Pháp, đánh Mỹ, cho đến khi Tổ quốc Việt Nam thân yêu được hoà bình, thống nhất, hình ảnh của Bác đã động viên, cổ vũ, tiếp sức cho tôi vượt qua bao gian khổ hiểm nghèo. Và tôi đã giữ trọn hình ảnh Bác Tôn trong trái tim và mãi mãi giữ kỷ niệm sâu sắc này cho đến khi trái tim tôi ngừng đập.
Lực lượng công an nhân dân vũ trang bảo vệ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, hàng năm được các đồng chí đến thăm hỏi, động viên. Có năm chúng tôi được vinh dự đón mừng Bác Hồ hay Bác Tôn, hoặc các đồng chí lãnh tụ khác. Ở đây, tôi xin kể về Bác Tôn kính yêu đến thăm Trung đoàn 600 (Tân Trào). Bác đến cùng đơn vị mừng Xuân, mừng Quốc khánh, cho quà, nói chuyện. Anh em được động viên, khen ngợi, gửi lời thăm hỏi, chúc Tết gia đình cán bộ, chiến sĩ, được nghe căn dặn về cần, kiệm, về cảnh giác đề phòng bệnh hoạn, thậm chí được Bác kiểm tra tiêu chuẩn ăn, ăn Tết và ngày lễ, trật tự, vệ sinh doanh trại, v.v
Những tình cảm Bác Tôn dành cho lực lượng công an nhân dân vũ trang nói chung và đơn vị trực tiếp bảo vệ Bác nói riêng thật thân thiết, chu đáo như tình cảm của người cha, người ông đối với con cháu trong gia đình, không giấy bút nào kể cho hết được.
Tôi chỉ xin kể mấy mẩu chuyện ngắn như những kỷ niệm sâu sắc về Bác.
- Bác Tôn coi cán bộ, chiến sĩ phân đội bảo vệ trực tiếp mình như con cháu trong nhà, Bác thường đến tận nơi đóng quân thăm nơi ăn, chỗ ở, nơi làm việc, nơi canh gác, sản xuất tăng gia, trật tự vệ sinh. Bác tìm hiểu cán bộ chỉ huy rất cặn kẽ: cán bộ có mấy người, tên tuổi, tính tình, phong thái làm việc của từng người ra sao, quan hệ với cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị như thế nào, điểm mạnh điểm yếu của mỗi người v.v... Có dịp Bác đến thăm hỏi sức khoẻ và nghe báo cáo tình hình đơn vị. Bác khen ngợi điều mạnh, nhắc nhở điểm yếu như cha dạy con. Cán bộ đơn vị vô cùng mến phục và biết ơn. Anh em cán bộ trao đổi với nhau: Bác Tôn sâu sát đơn vị hơn cấp trên của mình, được gặp Bác là niềm vinh dự, nhưng cũng lo không báo cáo được đầy đủ tình hình đơn vị, nhất là về hoàn cảnh, tâm tư của từng chiến sĩ trong đơn vị với Bác. Vì thế cán bộ chỉ huy đã tích cực, chủ động nắm khá kỹ tình hình mọi mặt trong đơn vị mình. Đối với các chiến sĩ, Bác quen mặt từng người, biết trình độ văn hoá của họ đến đâu, biết họ có nghề gì, cha mẹ, vợ con của họ ra sao, họ có tâm tư gì... Bác nhắc cán bộ chỉ huy quan tâm gần gũi cán bộ, chiến sĩ của mình. Có lần, đơn vị thay chiến sĩ mới và quên báo cáo với Bác. Một hôm người chiến sĩ mới đến gác được Bác gọi lại cho quà, thăm hỏi gia đình, quê quán v.v. thật là một việc dạy bảo cán bộ vừa nhẹ nhàng vừa sâu sắc, cán bộ chỉ huy đơn vị khó quên được, mà cán bộ các cấp trong lực lượng cũng được Bác Tôn nhắc nhở gián tiếp về việc này. Các chiến sĩ thì rất phấn khởi, trao đổi với nhau: phước đức ông bà để lại mới "được vinh dự bảo vệ Bác Chủ tịch nước". Có chiến sĩ khi viết thư về gia đình đã khóc vì vinh dự được bảo vệ Chủ tịch nước, được Bác gửi lời thăm sức khoẻ gia đình, hứa hẹn với cha mẹ, gia đình là sẽ yên tâm công tác, không còn xin ra đơn vị chiến đấu v.v. .
- Những năm đế quốc Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại miền Bắc, chúng dùng nhiều loại máy bay khác nhau ngày đêm liên tục ném bom, bắn tên lửa mà trung tâm là Thủ đô Hà Nội và trọng điểm là mục tiêu các đồng chí lãnh tụ Đảng, Nhà nước (nơi làm việc, ăn ở, kho lưu trữ, nơi giải trí...).
Thời gian nào chúng ném bom bắn phá ác liệt Thủ đô Hà Nội, thì các đồng chí lãnh tụ được lực lượng công an nhân dân vũ trang bảo vệ đưa đi sơ tán, đến nơi tương đối an toàn.
Ngoài lực lượng phòng không của đơn vị chiến đấu bảo vệ, lực lượng công an nhân dân vũ trang bảo vệ trực tiếp phải tổ chức bắn máy bay địch bảo vệ "mục tiêu” tại chỗ cũng như lúc đi đường.
Bộ Tư lệnh công an nhân dân vũ trang vạch sẵn một phương án đánh trả máy bay để bảo vệ lãnh tụ giao cho ban chỉ huy Tân Trào tổ chức bảo vệ khi ở tại chỗ cũng như lúc đi đường, trước khi sơ tán cũng như khi trở về Thủ đô, đồng chí chỉ huy phải báo cáo kế hoạch đi đường, đề phòng và chiến đấu đánh trả máy bay địch.
Có lần Bác Tôn đi sơ tán, đồng chí chỉ huy trung đoàn và cán bộ bảo vệ tiếp cận đến báo cáo với Bác về thời gian, ngày giờ bắt đầu đi, thứ tự các chiếc xe, khẩu lệnh, ám hiệu, liên lạc, nhận lệnh báo động của lực lượng phòng không dọc đường, cách báo tin cho đoàn, cách đánh trả máy bay khi chúng quần bắn tên lửa, ném bom... Bác Tôn chăm chú lắng nghe, rồi Bác hỏi đồng chí chỉ huy bảo vệ báo cáo kế hoạch khi có máy bay bắn. Thưa Bác, phương châm kế hoạch "Chủ động đề phòng là chính. Đơn vị sẽ bắt liên lạc với các trạm dọc đường, tự mình nghe và kịp thời sơ tán, giữ bí mật, không hút thuốc, bấm đèn pin... Trường hợp bắt buộc phải chiến đấu thì bộ phận tiếp cận sẽ đưa Bác đến nơi an toàn (xa mục tiêu). Bộ phận chiến đấu nổ súng vào máy bay địch, thu hút nó về mình". Nghe xong Bác khen: "Kế hoạch bảo vệ như vậy khá chu đáo. Điều cốt yếu là phải tránh nổ súng. Nổ súng thì các chú có người bị thương, hay hy sinh thì Bác buồn lắm"!.
Sáng hôm sau, sương mù còn dày đặc, chiến sĩ trực ban báo cáo cho đồng chí chỉ huy bảo vệ: Bác Tôn đến thăm đơn vị. Nghe tin, đồng chí chỉ huy vội vã chuẩn bị đón Bác, không ai ngờ Bác lại đến sớm thế. Với giọng dịu dàng, như cha hỏi thăm con, Bác gặp đồng chí chỉ huy liền hỏi ngay, đêm hôm qua đến nơi anh em ăn gì? Có ngủ được không? Và Bác bảo đưa Bác đi thăm chỗ ăn, ở, trước hết xem việc che, phòng máy bay. Sau khi xem các nơi xong, Bác khen: "Các chú đi bảo vệ đêm khuya mà vẫn sắp xếp ăn, ở, che phòng chu đáo như vậy là tốt, các chú lo cho Bác nhưng phải lo cho đơn vị, lo cho mình thật chu đáo như vậy mới đầy đủ, toàn diện". Bác Tôn - người chiến sĩ cách mạng lào thành kính yêu, tóc bạc trắng, tuổi sao sức yếu, vậy mà vẫn không quản ngại trời còn mờ sương, Bác đến thăm những đứa con được giao nhiệm vụ bảo vệ mình. Bác đi rồi cán bộ chiến sĩ vẫn còn xúc động - đơn vị vô cùng phấn khởi được Bác quan tâm chăm sóc mình. Đồng chí chỉ huy sau đó tập hợp anh em lại, lấy việc Bác Tôn đến thăm động viên anh em ra sức hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ cơ quan đầu não.
- Một buổi sáng mùa hè năm 1960, Bác Tôn đi thăm doanh trại đơn vị bảo vệ Tam Đảo. Bác vừa xuống xe, Ban chỉ huy phân đội đã chờ sẵn, đứng nghiêm chào Bác, đồng chí chỉ huy hướng dẫn Bác vào doanh trại, mấy chục cán bộ, chiến sĩ đứng thành hai hàng hô vang: Kính chúc Bác Tôn sống lâu muôn tuổi! Những tràng pháo tay chào mừng liên hồi nổ vang, kéo dài.
Theo kế hoạch, đồng chí cán bộ đưa đoàn đến thăm nhà bếp. Anh em dỡ chảo cơm, nồi cá đang bốc hơi nghi ngút. Bác xem xong, bắt tay và khen chiến sĩ nấu ăn giỏi. Đoàn của Bác ghé qua nhà ăn, ra vườn chè xanh, ruộng rau muống. Khi Bác đến ao cá, hai chiến sĩ chờ sẵn đưa lưới xuống ao kéo cá, cá chép, cá trắm con nhỏ, con to thi nhau vùng vẫy... Bác vào hội trường, ra hiệu cho cán bộ, chiến sĩ ngồi xuống. Bác cùng ngồi xuống ghế uống cốc nước chè ngon. Chậm rãi và ân cần, Bác khen chú cán bộ chỉ huy đơn vị, những việc đã báo cáo với Bác đều đúng. Vậy là tốt. Cán bộ, chiến sĩ gọn gàng, lanh lẹn. Nhà ăn, nhà bếp, hội trường ngăn nắp trật tự. Tăng gia cải thiện như vậy là đúng với khẩu hiệu cần, kiệm xây dựng Tổ quốc giàu mạnh, nhưng tăng gia để cải thiện cho đơn vị, tránh đãi đằng quà biếu là không tốt. Công tác bảo vệ an toàn, nhưng không được lơ là. Nhiều năm an toàn nhưng chỉ cần mấy phút lơ là thì thiệt hại to đấy. Bác gửi lời thăm hỏi gia đình các chú, chúc gia đình lao động sản xuất giỏi, mạnh khoẻ, các chú công tác giỏi, học tập tốt, đoàn kết tốt, tăng gia giỏi. Bác gửi lời cám ơn các chú đã biếu Bác con cá trắm. Nhân đây, Bác gửi tặng các chú món quà đơn vị cùng vui.
Mấy chục anh em cán bộ an ninh vũ trang miền Nam được đưa ra Thủ đô để bồi dưỡng văn hoá, học nghiệp vụ. Sau hơn 3 năm học văn hoá bổ túc hết cấp II và được bồi dưỡng nghiệp vụ an ninh vũ trang, mọi người đều phấn khởi, hăng hái chuẩn bị về Nam tiếp tục chiến đấu.
Trước khi ra về, anh em có nguyện vọng duy nhất được Bác Tôn cho phép đến chúc thọ Người, lúc đó Bác là Chủ tịch nước. Nguyện vọng thiết tha và chính đáng đó của anh em được chuyển đến Bác. Mặc dầu rất bận, Bác Tôn vẫn thu xếp thời gian để đón tiếp anh em.
Vào một sáng mùa Xuân năm 1971, tại Phủ Chủ tịch, Bác Tôn đứng chờ sẵn ở cửa. Các đồng chí cán bộ báo cáo với Bác, Bác nói thân mật: Biết rồi - biết rồi, Bác lại ân cần thăm hỏi từng người, ai ở tỉnh nào, địa phương nào; hoạt động ở đâu... không bỏ qua một lời giới thiệu nào của người chỉ huy đơn vị. Cử chỉ thân mật ấy làm mọi người cảm thấy thoải mái, tự nhiên không còn bỡ ngỡ như lúc đầu mới bước lên thềm Phủ Chủ tịch. Bác bắt tay anh em và chỉ chỗ cho ngồi, mời anh em uống nước như cha già gặp các con mới đi xa về. Bác âu yếm xoa đầu từng người và hỏi: ở miền Nam hoạt động như thế nào; gian khổ ra sao, bọn địch gian ác và chiến tranh khốc liệt, đồng bào mình chịu đựng, chiến đấu và đời sống ra sao?... Bác đều hỏi thăm cả và lắng nghe anh em báo cáo, chú ý từng chi tiết. Trong đoàn có đồng chí Tửng 18 tuổi (nhỏ tuổi nhất) được Bác gọi đến gần và ôm vào lòng. Nghe báo cáo kế hoạch của đoàn, Bác căn dặn anh em đi đường nên cẩn thận. Về đến nơi cố gắng phấn đấu thực hành những điều đã được học, anh em có người lấy sổ tay ghi những lời chỉ dạy của Bác, có người ghi nhớ trong lòng, để khi vào Nam sẽ thuật lại cho đồng bào, đồng chí. Cuộc gặp gỡ diễn ra hết sức thân mật, ấm cúng, nhiều lúc rộ lên tiếng cười vui vẻ. Thấy Bác vui, mọi người chăm chú nghe, kết thúc buổi gặp mật Báo nói như một lời tiên đoán: Cách mạng miền Nam còn nhiều gian khổ hy sinh, nhưng thắng lợi cuối cùng ngày càng sáng sủa, và đó là điều chắc chắn như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói. Những phút được gặp và ở bên Bác Tôn Chủ tịch nước mau chóng quá, giờ chia tay với Bác đã đến. Đồng chí hướng dẫn đoàn đứng lên nói những lời tạm biệt cảm động, nước mắt lưng lòng. Bác Tôn vỗ nhẹ vào lưng một chiến sĩ căn dặn: Mọi người bền gan chiến đấu đến ngày thắng lợi. Cho Bác được vào miền Nam thăm lại quê hương. Anh em vỗ tay thật lâu, lòng đầy sung sướng phấn khởi và sau đó Bác chụp cùng anh em một tấm ảnh kỷ niệm.
Những năm 1960, trước chiến tranh phá hoại, hàng năm Bộ Tư lệnh công an nhân dân vũ trang mời gia đình Bác Tôn vào nghỉ mát tại nhà nghỉ của lực lượng ở Sầm Sơn. Lúc bấy giờ Bác đã trên 70 tuổi, nhưng vẫn còn khoẻ. Buổi sáng, buổi chiều nào Bác cũng ra biển tắm, đi bách bộ dọc theo bờ biển, đến thăm các bè, ghe đi đánh cá về đang phân phối, hay đến thăm hỏi ngư dân đang xông hà, sửa ghe, bè. Bác ân cần thăm hỏi về nghề nghiệp, đời sống của ngư dân. Các bác ngư dân già rắn rỏi, nước da đen bóng tập hợp lại, thưa chuyện với Bác. Bà con lúc đầu có người chưa nhớ ra, về sau biết là Bác, bà con vui lắm, câu chuyện của Bác Tôn tắm biển, thăm hỏi ngư dân chẳng mấy lúc đã lan truyền khắp vùng. Những năm chiến tranh, Bác không đi nghỉ ở đây nữa. Bà con làm nghề biển, nhất là các cụ già, hỏi thăm và nhờ đơn vị gửi lời kính chúc Bác Tôn sống lâu.
Lần nào đến Sầm Sơn cũng vậy, sau khi tắm biển, thăm ngư dân, hàng ngày lần lượt Bác đến các nhà nghỉ của cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân vũ trang thăm hỏi từng người, hỏi về đơn vị, về đồng bào các dân tộc. Anh em hỏi Bác vụ kéo cờ ở Biển Đen... Bác vui vẻ trả lời nhưng nói rất ít về mình, thật là một hạnh phúc đối với cán bộ, chiến sĩ. Được gặp Bác, nghe Bác nói chuyện, anh em cảm thấy Bác thật giản dị, gần gũi, hiền từ. Từ đó về sau, nhiều cán bộ, chiến sĩ lực lượng công an nhân dân vũ trang, ở biên giới Tây Bắc, biên giới phía Bắc cố nài xin Bộ Tư lệnh cho anh em về nghỉ ở Sầm Sơn, để được gặp Bác. Những năm chiến tranh phá hoại, cảnh tượng lãnh tụ gặp chiến sĩ dạt dào tình cảm ấy không còn tiếp tục. Mọi người căm thù bọn đế quốc gây chiến tranh phá hoại, nhà nghỉ mát phải ngừng hoạt động, nên cán bộ chiến sĩ, không được may mắn gặp Bác.
Ngoài những kỷ niệm của Bác Tôn đối với lực lượng công an nhân dân vũ trang tôi xin phép nói một chút về trí nhớ tuyệt vời và sự hóm hỉnh, vui tính của Bác Tôn chúng ta.
Lần đó được tin Bác Tôn mệt, hai vợ chồng anh Thanh Sơn và vợ chồng tôi cùng rủ nhau đến thăm Bác tại nhà riêng. Lúc chúng tôi vào nhà, Bác đang nằm bên giường, người còn mệt nhọc nhưng Bác cố gượng dậy - một cử chỉ đáp lại việc chúng tôi đến thăm - rồi sau đó mới chịu nằm nghỉ. Chúng tôi đến bên giường hỏi thăm sức khoẻ của Bác, Bác nói vui, mấy cháu coi Bác được như vậy thì biết rồi. Thấy Bác có phần khoẻ hơn, chúng tôi mừng quá.
Đột nhiên bằng một cử chỉ thân tình như cha con trong nhà, anh Thanh Sơn chỉ vào tôi rồi cười vui hỏi Bác:
- Bác coi xem thằng này là ai?
Bác Tôn nhìn một lúc, rồi cũng bằng cử chỉ thân tình, hóm hỉnh, Bác nheo mắt nói vui:
- Ai còn lạ gì cái "thằng tù Côn Đảo" này! Thủ là nó chứ còn ai nữa.
Rồi Bác cười rất vui, chúng tôi cùng cười theo. Sở dĩ có chuyện đố vui hỏi Bác như vậy, là vì hôm đó tôi đến thăm Bác, cùng đi có “bà xã" nữa nên không tiện mặc quân phục.
Trong không khí thân tình bên giường bệnh, tôi hỏi tiếp: Thưa Bác, Bác có ngủ được không ạ? Bác gật đầu nói ngủ được độ 4-5 tiếng đồng hồ. Buột miệng tôi hỏi dồn, như con hỏi cha, chẳng giữ ý:
- Thưa Bác, Bác có ngủ được một lèo không? Nghe hỏi, Bác trở mình, gượng cười và chậm rãi nói: "Người ta có ngủ ngon hay không thôi, chớ ngủ "một lèo" thì có vấn đề rồi, cháu ơi! Cả bốn chúng tôi cùng cười, hai chị thì bụm miệng lại không dám cười to trước câu hỏi vô ý của tôi với câu trả lời hàm xúc của Bác.
Tôi đến thăm Bác Tôn ĐINH THỊ TIẾU*
Mấy năm làm công tác lịch sử phong trào phụ nữ với chị Thập, năm nào tôi cũng phải ra họp ở Hà Nội vài đợt nên mỗi chủ nhật đều có dịp theo chị Thập đến thăm Bác Tôn.
Bác ơi! Chị Tư ở Long Xuyên đó, hôm mới ra có đến thăm Bác, hôm nay sắp về, đến thăm Bác để mai chị đi về Nam.
Bác nói "về Nam cô nói với các đồng chí, các cháu, tôi gửi lời thăm và các đồng chí cố gắng học tập, công tác tiến bộ, tình hình xây dựng chủ nghĩa xã hội còn khó khăn. Các đồng chí phải phấn đấu nhiều”.
Bác nói chậm chậm từng tiếng một. Nhìn Bác, thương quá đỗi thương.
Chị Thập hỏi: "Bác có đi chơi đâu không?"
- Trước kia tuần lễ đi hai lần, bây giờ Bác không đi nữa, vì không được đi một mình. Mỗi lần đi phải có người đi theo, xe mình đi trước lại phải có xe theo sau, tốn công tốn của lắm.
Chị Thập đang bưng tách nước uống, vội vàng để xuống cười: “Vậy chứ, Bác làm Chủ tịch nước ai dám để Bác đi một mình".
Bây giờ tôi mới lên tiếng: "Thưa Bác, hôm tháng năm cháu có đi công tác ra Côn Đảo, có đến xem Hầm xay lúa mà hồi trước chúng nó cấm cố Bác bao nhiêu năm trong đó. Cháu còn gặp chị Nguyệt trong vụ án Barbier. Chị nói hồi đó chị có ở nhà Bác ở Sài Gòn để nhờ Bác gái dạy nói tiếng Pháp, vì chị định đi may cho đầm để làm công tác trong giới bồi bếp, thêu và may".
Nhắc lại chuyện cũ, Bác trầm ngâm giây lát Bác nói: "Tôi không dính gì với vụ Barbier, hồi bị bắt nó hỏi riết tôi không nói gì, nó cầm cây đập mạnh lên đây (Bác ra dấu phía vai qua ngang cổ), tôi bất tỉnh một ngày một đêm. Sau ra toà nó kết án hai mươi năm rồi đày ra Côn Đảo. Có kỳ nó định đưa ra đảo Guam cùng một số Quốc dân Đảng. Nhưng có anh bác sĩ "bờ lô" bây giờ không biết có còn không, anh giả bộ mổ bụng tôi, mổ có máu chứ không mổ sâu, băng bó lại bắt nằm nhắm mắt. Anh ấy dặn: có ai gọi thì mở mắt nhìn rồi nhắm mắt lại đừng trả lời. Bọn nó hỏi bác sĩ, anh ấy nói: người ta sắp chết rồi, đưa đi mất công. Thế là nó để tôi lại. Còn nói là Hầm xay lúa, nhưng không phải hầm mà là một căn phòng bốn phía xây tường kín mít không có lỗ thông hơi, chỉ có cửa nhỏ ra vào mà nó đóng kín".
Tôi nhích gần chị Thập, hỏi nho nhỏ “Bác nhớ kỹ quá”. Chị Thập hỏi: "Bác ăn có ngon không? Đêm Bác ngủ mấy tiếng?". Bác nói: ăn không biết ngon, đêm ngủ một giấc, dậy rửa mặt xoa bóp tập thể dục rồi ngủ lại, chớ nằm lâu... Bác lắc đầu và chỉ máu không chạy đều được.
Bác đứng dậy, dẫn hai chị em vào chỗ phòng rửa mặt, hai tay bám vịn vào bồn rửa mặt, hai chân Bác nhảy nhè nhẹ từng bước cho hai chị em xem.
- Mấy giờ Bác mới ngủ?
- Mười giờ.
- Sao Bác không ngủ sớm hơn, độ tám chín giờ ấy!
- Ban ngày có ngủ nên mười giờ cũng được.
Chị Thập xem đồng hồ lắc đầu, bây giờ mới sáu giờ ba mươi, mà thức tới mười giờ thì lâu quá.
Bác nói: "Tám giờ ba mươi bác sĩ còn làm môn xoa bóp nữa.
- Trước khi ngủ Bác có uống gì không?
- Uống một cốc rượu, à các chị uống rượu với tôi nhé!
- Thưa Bác, thôi, uống sợ say lắm.
- Không mà, rượu vang của Liên Xô không say".
Bác vừa nói vừa đứng dậy đi vào phòng bên cạnh, cầm chai rượu ra Bác rót cho chị Thập hơn nửa ly, rót qua ly tôi, tôi vội đỡ tay Bác. Thưa Bác, hai chị em bấy nhiêu đủ rồi. Tôi cầm ly rượu chị Thập sẻ phân nửa qua ly của tôi. Bác quay lại rót vào ly của Bác.
Tôi chưa uống, ý định gần về sẽ uống, đề phòng nếu có say thì ra ngồi xe về nhà luôn. Tôi cầm chai rượu Bác để trên bàn đậy nút lại để dưới chân bàn, ngồi nhìn Bác.
Bác cầm chai rượu lên từ từ dỡ nút ra, tôi nhìn Bác mãi xem Bác làm gì. Bác nói: "Đồng hương Long Xuyên thì uống thêm ly nữa với Bác". Câu nói tình cảm quá, tôi không dám từ chối, đưa ly lên cho Bác rót phần rượu Long Xuyên.
Chị Thập hỏi: "Bác có uống rượu sâm không Bác?
- Có, Trung ương có cấp sâm hàng tháng.
- Tự tay Bác pha chế thôi hả Bác?
- Ừ, tự tay pha chế uống.
- Bác uống rượu, bác sĩ không can thiệp sao?
- Không thấy nói gì, thì chắc là được.
Tôi nói: Tháng tám năm ngoái, hai chị em đến đây Bác có cho uống rượu sâm.
- À, bây giờ các cô uống rượu sâm nhé.
- Thưa Bác, thôi, uống rượu này được rồi, tôi giữ tay Bác lại không cho Bác đứng dậy đi lấy rượu sâm".
Ngồi nhìn gian phòng Bác trang trí vô cùng giản dị, đã ăn sâu vào tâm trí tôi, mãi tới bây giờ tôi không sao quên được.
Chiếc giường nằm với tấm nệm mỏng, trải thêm chiếc chiếu bông. Bộ bàn ghế nơi Bác tiếp chúng tôi rất bình thường. Nhìn lên tường chị Thập chỉ một chỗ còn dấu trống, nói: "Chỗ này hôm tuần trước có ai tặng Bác con đồi mồi to và đẹp lắm. Bác kêu cho tôi, tôi không lấy, tôi nói: để đó thỉnh thoảng Bác nhìn cho vui mắt, nhưng hôm nay Bác cho ai rồi".
Bác cười nụ cười rất phúc hậu.
Ra về, tôi bâng khuâng mãi, cảm thấy Bác ở vậy rất cô đơn. Ngồi trên xe tôi hỏi: "Đêm ai ngủ với Bác, chị Mười?
Có bác sĩ, nhưng buồn quá, không có ai trò chuyện, phải có trẻ con nô đùa cho Bác vui.
Chị Thập nói: thỉnh thoảng cũng có cháu ngoại con của mấy cô, nhưng không thường xuyên đến được, vì chúng cũng đi học, chiều về cha mẹ chúng cũng đủ thứ chuyện nhà, mà còn sợ Bác mệt nữa.
Tôi bỗng nhớ mấy năm trước lúc còn ở trong rừng, gặp chị Kim Chi vượt Trường Sơn về, tôi hỏi sức khoẻ Bác, chị nói: "Hôm chị đến thăm Bác thì Bác khoẻ, thấy Bác mặc chiếc áo ấm cũ rút ngắn, Bác nối thêm một khúc, chị hỏi, Bác ơi, làm Chủ tịch nước sao Bác lại mặc áo nối thế này?".
Bác trả lời: Chủ tịch nước mặc áo nối thì dân mới có cơm ăn.
Nay Bác mà về quê, giống như Bác Hồ - Chủ tịch nước cũng chỉ mặc bộ kaki và mang đôi dép cao su giản dị; suốt đời chỉ có một mong muốn lớn nhất là làm sao dân có cơm ăn, áo mặc và được học hành.
Trước mắt tôi cứ thấy hình dáng Bác Tôn, bộ đồ Bác mặc, chiếc giường Bác nằm, gian phòng trang nhã, đơn sơ, thể hiện ở câu nói: “Chủ tịch nước mặc áo nối thì dân mới có đủ cơm ăn".
Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sĩ cách mạng tiên phong TRIỆU QUANG TIẾN*
Nghiên cứu tiểu sử Chủ tịch Tôn Đức Thắng, chúng tôi thấy một điều đặc biệt: trong cuộc đời cách mạng của Người có nhiều hoạt động mang ý nghĩa mở đầu. Ở nhiều công việc, Tôn Đức Thắng luôn là người đầu tiên hoặc một trong những người đầu tiên. Điều đó không phải là ngẫu nhiên mà chính là do phẩm chất cách mạng, năng lực cách mạng, trí tuệ và đạo đức cách mạng trong sáng của Người.
- Tôn Đức Thắng, người Việt Nam đầu tiên tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười Nga vĩ đại, cuộc cách mạng vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới.
Sau khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, 14 nước đế quốc đưa quân đến, câu kết với bọn phản động trong nước Nga. Âm mưu tiêu diệt chính quyền Xôviết non trẻ. Nhân dân Xôviết, dưới sự lãnh đạo của Đảng Bônsêvích do V.I.Lênin đứng đầu đã kiên cường chiến đấu chống thù trong giặc ngoài, bảo vệ thành quả cách mạng. Đồng thời, trên thế giới, phong trào ủng hộ và đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười đã bùng lên ở nhiều nước. Lúc đó, Tôn Đức Thắng là lính thợ trên chiến hạm France trong hạm đội Hải quân Pháp tiến vào Biển Đen, chuẩn đi tiến công đảng Xêvaxtôpôn. Vốn là công nhân một nước thuộc địa của Pháp, đã từng đấu tranh chống áp bức, bóc lột, Tôn Đức Thắng không muốn chống lại những người anh em vô sản Nga, không muốn tiến công vào nước Nga Xôviết, thành quả của Cách mạng Tháng Mười. Tôn Đức Thắng đã dũng cảm tham gia cuộc phản chiến của thuỷ thủ trên tàu, phản đối việc gây chiến với nước Nga Xôviết và đòi đưa tàu trở về Pháp. Tôn Đức Thắng được cử kéo lá cờ đỏ lên đỉnh cột cờ của chiến hạm vào sáng ngày 20-4-1919, thể hiện sự phản đối chính sách của các nước đế quốc can thiệp vào nước Nga, đồng thời bày tỏ tình đoàn kết với những người anh em Xôviết. Sau này Tôn Đức Thắng đã kể lại suy nghĩ của mình khi kéo lá cờ đỏ lên một cờ chiến hạm: "Chúng tôi chào các bạn bằng lá cờ đỏ được giương lên ở Biển Đen. Tôi mơ ước cùng với lá cờ đỏ này tuần dương hạm sẽ cập bến Nga, tôi sẽ lên bờ và được dịp tham gia cuộc cách mạng và học tập các bạn Nga, để trở về Tổ quốc giúp đỡ dân tộc tôi vứt bỏ ách nô lệ...”1. Việc kéo cờ đỏ trên chiến hạm France đã khởi đầu cho cuộc phản chiến của toàn hạm đội Pháp lên Biển Đen. Cuộc phản chiến thắng lợi, Chính phủ Pháp buộc phải rút toàn bộ hạm đội về nước.
- Tôn Đức Thắng, người đầu tiên lập tổ chức Công hội ở Việt Nam, đồng thời là Hội trưởng đầu tiên của có tổ chức này.
Năm 1920, Tôn Đức Thắng dời Pháp về Sài Gòn, làm thợ sửa chữa xe hơi. Chịu ảnh hưởng Cách mạng Tháng Mười Nga và học tập kinh nghiệm của công nhân Pháp, Tôn Đức Thắng đã liên hệ với công nhân một số nhà máy ở Sài Gòn, vận động thành lập Công hội. Cuối năm 1920, Công hội đã được lập ra ở Sài Gòn. Đây là tổ chức Công hội đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam. Ban Chấp hành Công hội gồm 5 người do Tôn Đức Thắng làm Hội trưởng. Đến đầu năm 1925, Công hội đã có trên 300 hội viên ở nhiều nhà máy như Ba Son, FACI, Nhà đòn Chợ Quán, Hãng rượu Bình Tây, v.v... Công hội do Tôn Đức Thắng làm Hội trưởng đã lãnh đạo nhiều cuộc đấu tranh. Tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của công nhân Ba Son (tháng 8-1925), cuộc đấu tranh có tiếng vang trong nước và quốc tế, thể hiện rõ tinh thần quốc tế vô sản của công nhân Việt Nam. Tại Đại hội lần thứ VI (1928) Quốc tế Cộng sản, đại biểu Đông Dương đã đề cao cuộc bãi công này: "Công nhân Ba Son không chịu sửa chữa tàu Michelet, mà bọn đế quốc Pháp dùng để tàn sát nhân dân Trung Quốc". Sau cuộc đấu tranh này, các cơ sở của Công hội lan rộng tới một số thị trấn ở Nam Bộ, Công hội Sài Gòn là mảnh đất tốt tiếp nhận tư tưởng Mác - Lênin do đồng chí Nguyễn Ái Quốc truyền bá.
- Tôn Đức Thắng một trong số chi uỷ viên đầu tiên của Chi bộ cộng sản nhà tù Côn Đảo.
Tôn Đức Thắng bị địch bắt năm 1929 và bị đày ra Côn Đảo tháng 6-1930. Đồng chí là người đề xướng việc thành lập tổ chức Hội cứu tế tù nhân (Hội tù) đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo để đoàn kết các tù nhân, giúp đỡ nhau trong đấu tranh và trong cuộc sống hàng ngày, trên cơ sở đó giác ngộ những người tù không phải là cộng sản. Nhiều tù nhân đã được giác ngộ, một số tù lưu manh cũng được cảm hoá. Tôn Đức Thắng đã tích cực đấu tranh để thành lập Chi bộ cộng sản đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo vào khoảng đầu năm 1930 tại khám Chỉ Tôn, Banh I, Ban Chấp hành Chi bộ ban đầu có đồng chí Nguyễn Hới - Bí thư, và các uỷ viên: Tôn Đức Thắng, Tống Phương Chiều, Tạ Uyên, Tống Văn Thân. Chi bộ cộng sản được thành lập mở ra một thời kỳ đấu tranh mới của tù nhân Côn Đảo, thời kỳ đấu tranh có tổ chức, có phương pháp, nhằm những yêu cầu cụ thể trước mắt và mục tiêu lâu dài. Chi bộ chủ trương "biến nhà tù đế quốc thành trường học cách mạng". Tôn Đức Thắng tích cực hưởng ứng, gương mẫu học tập và giúp nhiều đồng chí học tập có kết quả. Đồng chí còn là người tổ chức tiếp nhận nhiều báo chí cách mạng, sách kinh điển, để làm tài liệu học tập do Đảng Cộng sản Pháp, Quốc tế cứu tế đỏ cung cấp.
Gần 6.000 ngày bị thực dân Pháp giam cầm ở "địa ngục trần gian" Côn Đảo, hình ảnh người cộng sản Tôn Đức Thắng lẫm liệt, bất khuất, sáng ngời bản lĩnh cách mạng không những được đồng chí ngưỡng mộ, mà đến kẻ thù cũng phải khâm phục.
- Tôn Đức Thắng, Trưởng ban đầu tiên của Ban Thi đua ái quốc Trung ương.
Để đẩy nhanh cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, theo sáng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tháng 3-1948, Ban Thường vụ Trung ương Đảng ra Chỉ thị phát động phong trào Thi đua ái quốc. Tiếp đó, ngày 1-6-1948, Bác Hồ ký Sắc lệnh thành lập Ban Thi đua ái quốc Trung ương và cử Tôn Đức Thắng là Trưởng ban. Tôn Đức Thắng đã chỉ đạo các ngành, các ban, các địa phương động viên, hướng dẫntoàn dân, toàn quân sôi nổi thực hiện phong trào thi đua toàn quốc với bao tấm gương tập thể, cá nhân tiêu biểu vừa kháng chiến vừa kiến quốc, góp phần quan trọng đưa cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi hoàn toàn.
- Tôn Đức Thắng, Chủ tịch đầu tiên của Mặt trận Liên Việt và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Thực hiện chủ trương tăng cường khối đoàn kết toàn dân, đáp ứng yêu cầu của cuộc kháng chiến trong giai đoạn mới, tháng 3-1951, Đại hội toàn quốc thống nhất Việt Minh (thành lập tháng 5-1941) và Liên Việt (thành lập tháng 5-1946), thành mặt trận lấy tên là Mặt trận Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Mặt trận Liên Việt), Tôn Đức Thắng được Đại hội nhất trí bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Liên Việt toàn quốc.
Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, để phù hợp với hoàn cảnh mới của cách mạng nước ta, tháng 9-1955, Đại hội Mặt trận dân tộc thống nhất toàn quốc đã quyết định thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tôn Đức Thắng được bầu làm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận. Người đảm đương trọng trách này đến năm 1977.
Với cương vị Chủ tịch Mặt trận, bằng phẩm chất và năng lực của mình, Tôn Đức Thắng đã thực hiện một cách xuất sắc tư tưởng chiến lược đại đoàn kết dân ta của Hồ Chí Minh:
“Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết
Thành công, thành công, đại thành công".
Đại đoàn kết dân tộc đã tạo nên sức mạnh to lớn đưa cách mạng nước ta vượt qua muôn trùng khó khăn, thử thách, giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trong công cuộc đổi mới hiện nay, đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn sức mạnh và động lực to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tôn Đức Thắng là người tiêu biểu của khối đại đoàn kết toàn dân.
- Tôn Đức Thắng, Chủ tịch đầu tiên của Hội Hữu nghị Việt – Xô.
Đầu năm 1950, sau khi Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà ra tuyên bố và đường lối ngoại giao (14-1-1950), các nước xã hội chủ nghĩa và dân chủ nhân dân đã lần lượt công nhận Chính phủ ta, Chính phủ Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết công nhận Chính phủ ta ngày 31-l-1950. Để phát huy thắng lợi ngoại giao to lớn này và không ngừng phát triển quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới, Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hoà đã thành lập Hội hữu nghị giữa Việt Nam với các nước. Hội Hữu nghị Việt - Xô được thành lập ngày 17-5-1950, Tôn Đức Thắng được cử làm Hội trưởng. Trong quá trình hoạt động ở cương vị này, Tôn Đức Thắng đã có nhiều đóng góp trong việc mở rộng và thắt chặt quan hệ hữu nghị, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai Đảng, hai Chính phủ và nhân dân hai nước; là người suốt đời phấn đấu cho sự phát triển tình đoàn kết chiến đấu và tình hữu nghị anh em giữa nhân dân ta với nhân dân Liên Xô, cũng như nhân dân các nước anh em khác và phát triển tình hữu nghị với các dân tộc trên thế giới vì hoà bình, độc lập, dân chủ, tiến bộ xã hội.
- Tôn Đức Thắng, người Việt Nam đầu tiên đươc trao tặng Giải thưởng Hoà bình quốc tế và Huân chương Lênin.
Là một trong những người có công lao đặt nền móng xây dựng phong trào bảo vệ hoà bình thế giới ở nước ta, trong Đại hội nhân dân Việt Nam bảo vệ hoà bình, Tôn Đức Thắng đã được bầu làm Chủ tịch danh dự của Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam. Tháng 7-1955, tại Đại hội hoà bình thế giới họp ở Henxinhki (Phần Lan), Tôn Đức Thắng được bầu làm Uỷ viên Hội đồng hoà bình thế giới. Với những đóng góp to lớn cho sự nghiệp đấu tranh vì hoà bình, hữu nghị giữa các dân tộc trên thế giới, Tôn Đức Thắng đã được Uỷ ban giải thưởng hoà bình quốc tế quyết định trao tặng Giải thưởng hoà bình quốc tế (tháng 12-1955). Lễ trao tặng được tổ chức ngày 21-l-1956 tại Điện Kremli (Liên Xô).
Tháng 11-1967, nhân dịp Kỷ niệm 50 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười, Đoàn Chủ tịch Xô viết tối cao Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xôviết đã tặng Tôn Đức Thắng Huân chương Lênin, Huân chương cao quý nhất của Liên Xô vì những hoạt động cách mạng góp phần vào cuộc đấu tranh bảo vệ Chính quyền Xô viết trong thời kỳ nội chiến. Lễ trao tặng Huân chương được tổ chức tại Hà Nội ngày 6-11-1967.
- Tôn Đức Thắng, người Việt Nam đầu tiên được tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta.
Do những cống hiến xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, Tôn Đức Thắng đã được Uỷ ban Thường trực Quốc hội và Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quyết định tặng thưởng Huân chương Sao vàng, nhân dịp đồng chí tròn 70 tuổi. Lễ trao tặng Huân chương được tổ chức trọng thể tại Hà Nội vào ngày 20-8-1958. Trong buổi lễ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát biểu: "Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao vàng là huân chương cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và rất xứng đáng được tặng huân chương ấy"2.
- Tôn Đức Thắng, Chủ tịch đầu tiên có nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, Quốc hội khoá III, kỳ họp đặc biệt vào tháng 9-1969 đã nhất trí bầu Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Khi nhận trách nhiệm này, Tôn Đức Thắng xúc động nói: "Được kế tiếp chức vụ của Hồ Chủ tịch là điều rất vinh quang đối với tôi”.
Sau khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc, Quốc hội khoá VI, kỳ họp thứ nhất tháng 6-1976 đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nhất trí bầu Tôn Đức Thắng làm Chủ tịch nước. Người đã đảm nhiệm chức vụ này cho đến khi qua đời (1980). Ở cương vị cao nhất của Nhà nước ta, Tôn Đức Thắng là tấm gương sáng về sự khiêm tốn, lối sống giản dị và về tình thương yêu giai cấp, đồng chí, đồng bào.
Trong quá trình hoạt động cách mạng, Tôn Đức Thắng đã đảm nhận nhiều chức vụ quan trọng ở bất kỳ cương vị công tác nào. Người cũng rất xứng đáng với sự tín nhiệm của Đảng và nhân dân. Sự trùng lặp tính mở đầu ở nhiều công việc, nhiều sự kiện trong cuộc đời Tôn Đức Thắng có rất nhiều ý nghĩa, mà ý nghĩa lớn nhất đó là sự thể hiện trong thực tế tính tiên phong cách mạng của người công nhân - cộng sản Tôn Đức Thắng. Tính tiên phong, một trong những phẩm chất quý báu của giai cấp công nhân Việt Nam đang được hàng triệu đảng viên cộng sản phát huy trong công cuộc đổi mới hiện nay.
_____________
* Tổng Biên tập Tạp chí Lịch sử Đảng
1. Trích bài của Tôn Đức Thắng viết cho báo Người thuỷ thủ Xôviết, nhân dịp kỷ niệm lần thứ 40 Cách mạng Tháng Mười Nga (T.G).
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.9, tr.221.
Tôn Đức Thắng - Một chiến sĩ cộng sản gương mẫu, một cuộc đời trọn vẹn thủy chung HOÀNG TRANG *
Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20 tháng 8 năm 1888, xã Mỹ Hoà Hưng, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên - nay là xã Mỹ Hoà Hưng thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
Sinh ra trong lúc nước nhà bị thực dân Pháp xâm lược và thống trị, Bác Tôn lớn lên trong cuộc đấu tranh bi hùng của dân tộc nhằm giành lại độc lập ở cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Vừa 18 tuổi Bác đã đi vào cuộc đời người thợ. Tròn 20 tuổi Bác đã bước vào trường đấu tranh cách mạng cho đến khi trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 92. Cuộc đời Bác đẹp như bông hồng, rực rỡ như đoá hướng dương, sáng chói như sao Bắc đẩu. Bác sống trọn gần một thế kỷ, cả cuộc đời Bác là một tấm gương mẫu mực của người cách mạng. Như Bác Hồ đã nói: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc… Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và cách mạng thế giới,…. Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu mực đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân"1. Nhìn lại cuộc đời Bác Tôn là như vậy - đó cũng là niềm tự hào của dân tộc, của một người dân Việt Nam. Hơn thế, các thế hệ hậu duệ của cách mạng Việt Nam phải biết học tập và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà gương Bác Tôn là một điển hình mẫu mực. Muốn thế, trước hết phải hiểu về con người và sự nghiệp của Bác Tôn - "một người con rất ưu tú của Tổ quốc” là thế nào.
Trước hết, Bác Tôn là một người yêu nước đã đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa quốc tế vô sản. Bác Tôn sinh ra và lớn lên trong không khí hừng hực của các cuộc khởi nghĩa chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương và những cuộc vận động cứu nước của phong trào Đông Du, Duy Tân, Đông Kinh nghĩa thục. Và hẳn Bác Tôn biết rõ những thập niên trước đó khi quân Pháp xâm chiếm Nam Bộ thì khắp nơi nổi dậy - như Trương Định (ở Tân An, Gò Công); Thiên Hộ Dương, Đốc Binh Kiều (ở Đồng Tháp Mười); Thần Văn Thành (ở Bắc An Giang); Đỗ Thừa Long, Đỗ Thừa Tư (ở U Minh); Phan Tôn, Phan Liêm (ở Bến Tre, Trà Vinh); Thủ Khoa Huân (ở Giao Hoà - Chợ Gạo); Nguyễn Trung Trực (ở Tây Kiên Giang, vùng Hòn Chồng)... Ngay Cù lao ông Hổ quê Bác Tôn và khắp vùng nông thôn An Giang, thanh niên luyện tập võ nghệ, sẵn sàng tiếp ứng cho các cuộc chiến đấu.
Trong hoàn cảnh đất nước như vậy, mặc dù sinh ra ở một gia đình tương đối khá giả, có tiền gạo cho Bác Tôn đi học hết sơ học yếu lược - tức là đã có thể làm thầy - thầy ký, thầy giáo. Nhưng Bác Tôn đã không chọn hướng "làm thầy" mà Bác lên Sài Gòn vào Trường Bách nghệ, học kỹ thuật, thợ máy, thợ điện, chọn hướng lao động. Quyết định này của Bác Tôn trên thực tế là Bác đã đứng về phía "minh tân", "minh tân công nghệ", duy tân chống lại thủ cựu đang diễn ra ở Nam Bộ khi đó. Bác đã đứng vào đội ngũ những người lao động ngay từ đầu.
Ngay từ khi còn học nghề ở Sài Gòn, cái chất yêu nước của Bác Tôn đã thể hiện luôn bênh vực kẻ yếu, chống mọi sự hiếp đáp, mọi sự bất bằng. Tinh thần đó lại được thể hiện ở Bác Tôn là một người có năng lực tổ chức và tinh thần đấu tranh. Chính vì vậy, mới 21 tuổi còn đang là người học nghề, Bác đã lãnh đạo những cuộc đấu tranh đầu tiên của công nhân giành thắng lợi - năm 1909 là cuộc đấu tranh của học sinh thuỷ thủ, năm 1910 là cuộc đấu tranh của công nhân kiến trúc cầu đường; và năm 1912 là cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son. Với cuộc đấu tranh năm 1912, để tránh sự lùng bắt của thực dân Pháp, Bác Tôn "đã bị buộc phải cải trang và thay đổi tên, họ trốn tránh trên một chiếc tàu thuỷ của Pháp đúng vào lúc mà cuộc bãi công của học sinh Trường Bách nghệ, Sài Gòn và của công nhân Ba Son giành được thắng lợi"2. Bác Tôn viết: "Từ ngày đó bắt đầu cuộc sống của tôi trên biển cả, với lòng yêu quê hương tha thiết và với nguyện vọng học tập để sau này trở về đấu tranh mạnh mẽ hơn, nhiều lần tôi cố tìm gặp đồng chí Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh), song tôi đã không gặp được đồng chí"3. Không gặp được Bác Hồ khi đó, nhưng Bác Tôn đã gặp và gắn bó với phong trào công nhân Pháp. Từ năm 1916, Bác Tôn được đưa vào phục vụ trong Hải quân Pháp và Bác đã gắn bó với phong trào đấu tranh của Hải quân Pháp. Tiêu biểu nhất là Bác đã tham gia "khởi nghĩa Biển Đen" vào ngày 20-4-1919, khi Hải quân Pháp cùng quân đội các nước đế quốc khác bao vây, tiến đánh, hòng tiêu diệt Nhà nước Xôviết non trẻ. Trong cuộc khởi nghĩa này của Hải quân Pháp, Bác Tôn là người kéo cờ đỏ trên chiến hạm France chào mừng Nhà nước vô sản đầu tiên. Sau sự kiện này, ngày 24-4-1919, tất cả tàu chiến của hạm đội Pháp rút khỏi Biển Đen, vòng vây của các nước đế quốc bị vỡ. Bằng hành động của mình tham gia khởi nghĩa Biển Đen, người thanh niên yêu nước Tôn Đức Thắng "là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười vĩ đại", góp phần mở ra hướng đúng đắn gắn cách mạng Việt Nam với cách mạng thế giới, tạo nên sức mạnh tất yếu đưa cách mạng Việt Nam đến đỉnh cao của thắng lợi.
Sau khi tham gia và học hỏi kinh nghiệm đấu tranh của giai cấp công nhân Pháp và thế giới năm 1920, Bác Tôn trở về Sài Gòn. Tại đây những kinh nghiệm học hỏi được đã đưa Bác Tôn trở thành người yêu nước đầu tiên tổ chức ra Công hội ở Việt Nam. Công hội ra đời, công nhân Việt Nam bắt đầu có ý thức và sức mạnh của mình. Tháng 8-1925, có Bác Tôn, có Công hội sức mạnh phi thường qua công nhân Việt Nam đã biểu hiện cuộc bãi công của hơn 11.000 thợ đình công ở Xưởng Ba Son giam tàu chiến của Pháp hàng tháng, không kịp sang Trung Quốc đàn áp Cách mạng Trung Hoa. Từ khởi nghĩa Biển Đen, năm 1919 đến bãi công ở Sài Gòn năm 1925, Bác Tôn đã đi từ người tham gia đến người lãnh đạo và quy mô quần chúng bãi công ở Sài Gòn lớn hơn, và chiến lược, chiến thuật hoàn chỉnh. Nhưng cả hai đều là thắng lợi của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam đến với tinh thần quốc tế chủ nghĩa vĩ đại ở Bác Tôn.
Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 2-9-1945, Bác Tôn được Đảng và nhân dân đón từ Côn Đảo về đất liền. Từ đó cho đến năm 1980, Bác giữ nhiều trọng trách trong cách mạng Việt Nam. Đặc biệt từ tháng 3-1946, Bác Tôn được Bác Hồ và Đảng cử ra đảm nhiệm công tác Mặt trận dân tộc thống nhất. Dưới sự tổ chức điều hành trực tiếp của Bác, Mặt trận bước vào thời kỳ phát triển toàn diện và ngày càng được củng cố vững chắc. Đây cũng là thời kỳ Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam tham gia tích cực vào các mặt trận quốc tế, liên minh quốc tế. Trước hết phải kể đến đóng góp của Bác Tôn vào Liên minh ba nước Đông Dương. Năm 1951, Bác Tôn đã dự Hộì nghị liên minh ba nước Việt Nam - Lào – Campuchia, đã đóng góp tích cực để củng cố khối liên minh ba nước dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, giúp đỡ lẫn nhau và tôn trọng chủ quyền của nhau, cùng nhau xây dựng chương trình hành động. Những nguyên tắc này ngày nay vẫn là cơ sở để chúng ta xây dựng khối đoàn kết Việt - Lào – Campuchia. Năm 1955, Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch danh dự Uỷ ban bảo vệ hoà bình thế giới của Việt Nam. Tháng 7 năm 1955, Đại hội hoà bình thế giới họp ở Henxinki (Phần Lan) đã bầu Bác Tôn làm Uỷ viênHội đồng hoà bình thế giới. Và đương nhiên, Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam trở thành một thành viên của tổ chức quốc tế này. Bác Tôn là người tiêu biểu cho khối đại đoàn kết dân tộc và cho sự gắn bó chặt chẽ chủ nghĩa yêu nước Việt Nam với chủ nghĩa quốc tế trong sáng. Mọi người dân Việt Nam đều thấy mình, thấy Tổ quốc trong Bác Tôn. Anh em, bạn bè quốc tế khắp bốn biển, năm châu lại tìm thấy ở Bác Tôn tinh thần quốc tế vô sản cao cả, tinh thần quý trọng độc lập tự do của các dân tộc và tinh thần đấu tranh không mệt mỏi cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Với công lao to lớn đó, Bác Tôn đã vinh dự là người đầu tiên được Đảng và Nhà nước ta tặng thưởng Huân chương Sao vàng, huân thương cao quý nhất của Việt Nam. Bác Tôn cũng rất xứng đáng khi Đoàn chủ tịch Xôviết Tối cao Liên Xô trao tặng Huân chương Lênin và Uỷ ban Giải thưởng hoà bình quốc tế trao tặng Giải thưởng Lênin Vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc.
Hai là, Bác Tôn là một gương mẫu mực đạo đức cách mạng
Bác Tôn là người hành động theo cách mạng vô sản trước khi đến với chủ nghĩa cộng sản. Và có lẽ vì thế khi tiếp cận tổ chức cách mạng theo học thuyết Mác – Lênin, Bác Tôn đã nhận ra ngay đó là con đường, là lý tưởng của mình. Và cũng từ đó cho đến trọn đời, Bác Tôn đã chiến đấu kiên cường, suốt đời phục vụ cách mạng phục vụ nhân dân; suốt đời cần, kiệm, liêm, chính. Những phẩm chất đó muôn đời con cháu cần phải noi theo.
Những năm hoạt động trong phong trào công nhân và Hải quân Pháp, Bác Tôn đã nhiều lần cố tìm gặp Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) với nguyện vọng học tập để sau này trở về Tổ quốc đấu tranh mạnh mẽ hơn, nhưng rất tiếc không gặp được. Ngược lại, sau khi thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên vào năm 1925 ở Trung Quốc, năm 1926, Bác Hồ đã phái người về nước xây dựng cơ sở cách mạng. Trong việc này, Bác Hồ rất chú ý tới phong trào của công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn và căn dặn những người được cử về nước tìm cách liên lạc với phong trào công nhân Sài Gòn và tổ chức Công hội của Tôn Đức Thắng. Đầu năm 1927, khi gặp các đại biểu của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Bác Tôn đã đưa toàn bộ tổ chức Công hội bí mật của mình ra nhập tổ chức cách mạng này. Từ đây, Bác Tôn bước vào cuộc chiến đấu mới, dưới lá cờ chủ nghĩa cộng sản khoa học, đánh đuổi thực dân Pháp và tay sai giành lại độc lập dân tộc và tự do hạnh phúc cho nhân dân.
Liên tục những năm 1927, 1928, 1929, Bác Tôn là Uỷ viên Thành bộ Sài Gòn và Uỷ viên Kỳ bộ Nam Kỳ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và được phân công phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ lớn. Trung tuần tháng 7-1929, Bác Tôn bị địch bắt tại Sài Gòn. Bọn Tây coi Bác Tôn là loại tù nguy hiểm cần phải nhốt riêng không cho liên lạc với ai. Bọn chủ khám thấy cách giam riêng tốt nhất là đưa Bác Tôn vào khám vị thành niên. Bác Tôn xót xa và đem lòng thương yêu, gần gũi đám trẻ bị xã hội tàn nhẫn, bất công làm cho hư hỏng. Chẳng bao lâu đám tù vị thành niên lại tỏ lòng yêu thương, kính nể Bác. Một năm sau Toà đại hình kết án Bác Tôn 20 năm tù khổ sai và tháng 6-1930 chúng đày Bác ra Côn Đảo với số tù 5289. Cuộc đời của Bác Tôn suốt những năm tù đày ở Côn Đảo (1930-1945) là cả một bản anh hùng ca thể hiện tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường với kẻ địch và tình cảm nồng thắm, đầy tính nhân văn với đồng đội và với những người tù khác. Liệt vào loại tù nguy hiểm, vừa ra tới Côn Đảo, Bác Tôn đã bị bọn chủ ngục giam vào cầm cố ở "Sở tải" thuộc Banh I. Đây là một kíp dọn vệ sinh trong phạm vi lao, gồm số đông tù nặng án thuộc loại hình sự như cướp của, giết người, trộm cắp chuyên nghiệp…, họ rất hung dữ và đôi khi chỉ vì xích mích nhỏ, giết nhau là chuyện thường. Bác Tôn là người cộng sản đầu tiên ở nhà tù Côn Đảo phải sống chung với bọn côn đồ ở Banh I. Ở Sở tải, Bác Tôn còn phải làm những công việc nặng nhọc, nhất là khiêng những thùng nước cả trăm lít. Mỗi ngày Bác phải khiêng hàng trăm thùng. Bằng tư cách đạo đức cách mạng và bằng trái tim, khối óc của người cộng sản, Bác Tôn đã dần dần cảm hoá bọn tù lưu manh ở Sở tải. Về sau chúng tỏ ra kính trọng và gọi Bác là “anh Hai", “cậu Hai". Chúng không bắt Bác khiêng nước nữa là chỉ phải làm việc quét dọn, nhờ vậy Bác có cơ hội liên lạc với tù chính trị ở Banh II.
Bác sĩ Pêlixiee, Trưởng bệnh viện - Côn Đảo - một người thày thuốc có cảm tình với người tù cách mạng cũng sẵn lòng giúp đỡ Bác Tôn. Đó là giữa năm 1931 đế quốc Pháp quyết định đưa một số tù ở Côn Đảo đi Guyam, một thuộc địa của Pháp ở Nam Mỹ để bóc lột nhân công. Trong số tù đi Guyam có Bác Tôn. Anh em tù tìm cách giữ Bác lại bằng cách đưa Bác đi cấp cứu ở bệnh viện mặc dù Bác không bị ốm. Tại bệnh viện, Bác Tôn đã được thầy thuốc Pêlixie rạch bụng ra rồi khâu lại như vừa mổ cấp cứu ca dạ dày. Giám đốc nhà tù và chủ ngục tức tối đến tận bệnh viện nhưng không làm gì được và phải để Bác Tôn ở lại.
Bác Tôn tổ chức đường dây liên lạc bằng đường cống ngầm giữa Banh I và Banh II. Cuối năm 1932 tuy không bắt được quả tang nhưng bọn chủ ngục cũng phạt giam Bác vào Hầm xay lúa. Ở Côn Đảo, Hầm xay lúa là địa ngục của địa ngục trần gian. Người tù bị giam trong Hầm xay lúa phải lao động nặng nhọc trong hầm tối tăm và bị cặp rằng hành hạ. Năm 1933 cặp rằng Bẩy Tốt tàn ác bị anh em tù trong Hầm xay lúa giết chết. Địch bắt tù cộng sản Tô Chấn làm gặp bằng, nhưng anh kiên quyết từ chối. Bọn chủ ngục nhốt Tô Chấn vào hầm tối. Chúng buộc Bác Tôn phải làm cặp rằng với âm mưu mượn tay những người tù lưu manh giết Bác. Sự kiện này lại càng bộc lộ tài năng, tính cách và đức độ của Bác Tôn. Buộc phải nắm lấy "chính quyền" trong nhà. Hầm xay lúa nên Bác Tôn đã thực hiện một cuộc "cách mạng" ở đây. Bác đã kiên trì giáo dục, giác ngộ, dìu dắt anh em tù đứng lên đấu tranh đòi cải thiện chế độ làm việc nặng nhọc, sinh hoạt khổ sở của người tù bị nhốt trong Hầm xay lúa. Kết quả số lượng lúa xay mà bọn chủ khoán đã giảm; việc nặng thay nhau làm, có thời gian nghỉ trưa; người ốm được chăm sóc; mọi xích mích được Bác Tôn hoà giải êm thấm, không khí đoàn kết được xây dựng. Bọn tù lưu manh anh chị không dám dở thói hống hách, côn đồ với các tù khác, ngược lại chúng cũng tỏ ra kính trọng Bác. Thế là Bác đã phá tan được âm mưu đen tối, độc ác của tên chủ ngục Pherăngđini.
Ở Côn Đảo, Bác Tôn nhiều tuổi hơn các anh em tù khác. Bác thường tìm cách chăm sóc các đồng chí mình. Tháng 6-1930, đồng chí Nguyễn Văn Hoan (người giới thiệu đồng chí Trường Chinh vào Đảng) trong đoàn 128 người bị đày Côn Đảo sớm nhất. Vì "là một tên tù cộng sản rất nguy hiểm” nên ra đến đảo đồng chí Hoan bị nhốt ở xà lim số 12 Banh I. Trong xà lim với sàn ximăng giá lạnh, không quần, không áo, không chăn, không chiếu và bị cùm chặt hai chân suốt ngày đêm, tháng này qua tháng khác, chỉ được thấy ánh sáng mỗi ngày một vài giây khi bọn giám thị mở cửa quẳng vào cho đồng chí một nắm cơm gạo mục trộn với muối mặn. Một tuần đồng chí được dội nước tắm tại chỗ không đầy 3 phút. Đầu năm 1931, Bác Tôn được vào dội nước cho đồng chí Hoan tắm. Biết được “lý lịch” của đồng chí Hoan và nghe đồng chí nói “Anh ơi, bị giam lâu ngày, ăn muối hoài, xót ruột lắm, anh cho tôi ít lá rau”. Đúng một tuần sau, Bác Tôn lại vào dội nước cho đồng chí Hoan tắm. Bị canh gác nghiêm ngặt hai người không nói được gì với nhau. Tắm xong, đồng chí Hoan thấy ở phía sau có mấy búp lá bàng non (thứ rau xanh lý tưởng của người tù ở Côn Đảo). Mấy búp lá bàng non do Bác Tôn để vào trong thùng nước mang vào, mặc dù Bác biết việc đó nếu bị phát hiện thì không bị nhốt vào hầm tối cũng bị đánh đòn nhừ tử.
Bác Tôn là anh Hai Thắng hay già Thắng tính tình kiên quyết, nhân nghĩa, trong sáng, hiền hoà, trầm tĩnh, giản dị…, không nề hà bất cứ một công việc gì. Làm dân vận, nhất là ở trong tù, những trường hợp nào mà các tay lý luận sắc sảo khó thành công, nếu đưa cho già Thắng thì bảo đảm thành công. Ở nhà tù Côn Đảo các hoạt động của tù cách mạng đều mang dấu ấn sâu sắc của Bác Tôn. Cuối năm 1932, chi ủy đầu tiên ra đời ở Khám số 9, Banh I, nơi giam giữ Bác Tôn do Nguyễn Hới làm Bí thư và Bác Tôn cùng 5 đồng chí khác là chi uỷ viên. Trước hết, chi uỷ đã xuất bản tờ báo Ý kiến chung phương tiện tuyên truyền, chỉ đạo các hoạt động của những người tù cộng sản. Khoảng đầu năm 1935, chi bộ nhà tù lại cho ra đời tạp chí Tiến lên là cơ quan thông tin và hướng dẫn đấu tranh đã được bí mật lưu truyền rộng rãi trong tù. Bác Tôn thay mặt chi uỷ chỉ đạo Ban biên tập hai tờ báo trên. Là người làm những công việc tự do ở Sở tải, nên Bác Tôn có điều kiện đi lại, tiếp xúc với hầu hết các loại tù. Vì thế Bác đã thực hiện xuất sắc vai trò người thu thập bài vở và phát hành đến tay người sử dụng. Không có Bác Tôn, chi bộ khó có thể duy trì được hai tờ báo như vậy. Bác Tôn còn là một cây bút viết khá nhiều bài cho hai tờ báo đó. Hai tờ báo đóng vai trò quan trọng trong việc thống nhất tư tưởng và hành động của những người tù cộng sản ở nhà tù Côn Đảo. Cũng thời kỳ này, Bác Tôn còn chuyển được nhiều bài tố cáo chế độ tàn khốc của nhà tù Côn Đảo tới các báo tiến bộ ở Sài Gòn và bên nước Pháp. Việc làm này của Bác đã làm cho phong trào đấu tranh của người tù Côn Đảo không bị đơn độc, họ có diễn đàn từ nước Pháp và đất liền đấu tranh ủng hộ.
Có tổ chức Đảng ở nhà tù, các cuộc đấu tranh được tổ chức chu đáo, có chỉ huy, có mục tiêu, có khẩu hiệu và phương pháp đấu tranh. Tất nhiên không có cuộc đấu tranh nào không bị kẻ thù đàn áp dã man. Trong những cuộc đấu tranh lưu huyết ấy, Bác Tôn lúc đó đã gần 50 tuổi vẫn xung phong vào đội tiền phong chịu đòn và chăm sóc những đồng chí yếu. Nhiều cuộc đấu tranh đã giành thắng lợi tiêu biểu, đúc rút được những kinh nghiệm quý cho cuộc đấu tranh thường kỳ của tù nhân trên đảo. Tiêu biểu như những cuộc đấu tranh thực hiện "đảo chính" bếp ăn Banh I đã đưa được đồng chí Đào Gia Hựu làm cặp rằng mới của nhà bếp, từ đây đời sống của tù nhân được cải thiện đáng kể. Cuộc đấu tranh thực hiện chủ trương "đảo chính" trong các khám, đoạt quyền lãnh đạo các khám vào tay các tù cộng sản tạo điều kiện cải thiện sinh hoạt tinh thần trong nhà tù. Đến cuộc đấu tranh tháng 7-1934 là bước tiến mới về tính tổ chức, tinh thần tập thể đoàn kết và có lãnh đạo chặt chẽ giành thắng lợi của những người tù chở củi từ An Hải về lò than. Trước đây chỉ có 5 người đẩy xe củi không vòng bi lại bị mã tà luôn đánh đập, sau cuộc đấu tranh bọn cai ngục phải chấp nhận 7 người đẩy một xe và mã tà không được đánh đập. Tiến lên cao hơn tổ chức Đảng nhà tù tổ chức đấu tranh chống khủng bố trắng và đòi ân xá chính trị phạm (cuộc đấu tranh ngày 12-8-1934); phát động tuyệt thực toàn đảo ủng hộ cuộc đấu tranh của 27 tù chính trị bị đưa đi đốn cây ở Bãi bàng đã bị phạt nhốt xà lim và ăn cơm nhạt. Cuộc đấu tranh tuyệt thực toàn đảo đã giành thắng lợi, chủ ngục Crênadi phải nhượng bộ, mở ra một thời kỳ "dễ chịu nhất" trong nhà tù Côn Đảo. Đến ngày 15-5-1936, Bouvier trở lại nhận thức chúa đảo đã thẳng tay thủ tiêu tất cả những gì người tù đấu tranh giành được trước đó. Lập tức ngày 18-5-1936, những người tù cộng sản ở Khám 6, 7 Banh I đấu tranh và nhanh chóng lan ra toàn đảo thành cuộc tổng bãi công chưa từng có. Ngày 28-5-1936, chúa dảo Bouvier phải chấp nhận tất cả nhưng yêu sách của những người tù đấu tranh.
Năm 1933, chi bộ tổ chức cho đồng chí Ngô Gia Tự cùng nhiều đồng chí khác vượt ngục. Tên chúa đảo ra lệnh dùng canô đuổi theo. Theo chủ trương của chi bộ nhà tù, Bác Tôn hì hục "chữa" canô hàng giờ mới xong. Khi canô vượt trên mặt biển máy lại trục trặc. Đoàn tù vượt ngục đã đi thoát. Năm 1935, chi bộ lại tổ chức vượt ngục, lần này có Bác Tôn. Không may trên đường đến điểm hẹn, Bác bị địch bắt lại và lập tức chúng lại nhốt Bác ở Hầm xay lúa. Tháng 6-1935, chúa đảo thực hiện chủ trương tập trung tù chính trị để dễ bề đàn áp. Bác Tôn lại về Khám số 9, tại đây chẳng bao lâu đã trở thành (văn phòng) của Đảng bộ nhà tù Côn Đảo mà Bác Tôn là nhân vật trụ cột. Đảng bộ bắt tay ngay vào việc thành lập các tổ chức công khai: ban trật tự vệ sinh, các lớp học văn hoá, chính trị do Bác Tôn được đảng bộ phân công phụ trách. Một thời kỳ hoạt động sôi nổi, bền bỉ, có tổ chức chặt chẽ của các lớp học trong tù. Đúng như Bác Hồ nhận xét: các đồng chí ta đã biến cái rủi thành cái may, biến nhà tù thành trường học. Sau này ra khỏi nhà tù Côn Đảo, nhiều đồng chí đã trở thành những nhà lý luận xuất sắc của Đảng, nhiều đồng chí đạt trình độ văn hoá và ngoại ngữ cao. Bác Tôn và đảng bộ nhà tù tổ chức liên lạc, đón nhận, cất giấu và sử dụng những sách lý luận kinh điển từ Pháp, từ đất liền chuyển tới quả là một kỳ công có một không hai.
15 năm ở nhà tù Côn Đảo, Bác Tôn đã sống cực kỳ gian khổ nhưng cùng vô cùng oanh liệt, vẻ vang. Bác đã biến ngục tù thành lò luyện ý chí đấu tranh, thành trường học cộng sản. Cuộc đấu tranh kiên cường suốt 15 năm ở nhà tù Côn Đảo làm rực sáng lên những phẩm chất tận trung với nước, tận hiếu với dân của Bác, làm sáng lên tình người, tình đồng chí và Bác đã nêu một gương sáng về tinh thần bền bỉ rèn luyện, học tập cho muôn đời con cháu. Đồng chí Lê Duẩn cùng ở Côn Đảo với Bác nhận xét: "Trong tù đầy vô cùng khắc nghiệt, vậy mà Bác Tôn luôn luôn lạc quan, giữ lòng tin tưởng, sống với anh em chân tình, ấm áp".
Cách mạng Tháng Tám thành công, Đảng và Chính phủ tổ chức ra Côn Đảo đón Bác Tôn và các đồng chí tù chính trị trở về đất liền. Ngày 23-9-1945, Bác Tôn và những chiến sĩ tù Côn Đảo anh hùng về đến đất liền. Nhưng thời gian đó cũng là ngày thực dân Pháp trở lại nổ súng xâm lược nước ta một lần nữa. Do đó, Bác Tôn chưa thể về thăm vợ con, mà đến ngay Cần Thơ nhận nhiệm vụ và phải đến năm 1954, tại Hà Nội, gia đình Bác mới được trùng phùng. Thật là một trường hợp tiêu biểu nhất về gương sáng “vì nước quên nhà”.
Năm 1946, theo điều động của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bác Tôn ra nhận công tác ở ngoài Bắc. Ở vị trí công tác mới - là người đứng đầu Mặt trận dân tộc thống nhất, Phó Chủ tịch rồi sau này thay Bác Hồ làm Chủ tịch nước. Bất kỳ ở vị trí nào, Bác Tôn vẫn luôn luôn hết lòng vì công việc, nêu một tấm gương sáng và đạo đức cách mạng. Bác Tôn luôn luôn "là người tiêu biểu nhất cho chính sách đại đoàn kết của Đảng và của Chủ tịch Hồ Chí Minh". Và như Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận xét: “Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu mực về đạo đức cách mạng, suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân". Là người đứng đầu Mặt trận và Nhà nước, sống giữa Thủ đô, Bác Tôn vẫn giữ được nếp sống, tác phong và đạo đức của người công nhân. Chủ nhật hoặc ngày lễ vẫn thấy Bác tự sửa chữa, lau chùi chiếc xe đạp và Bác vẫn thường sử dụng hoặc mài dũa, chữa đồ dùng trong gia đình. Ở nhà, lúc nào vợ chồng Bác cũng mặc quần áo nâu sồng và nghỉ ở nhà ngang. Mẫu mực về đạo đức của Bác Tôn chẳng những con gái, con rể Bác noi theo mà còn là điểm chuẩn cho các thế hệ mãi mãi phấn đấu, rèn luyện để trở thành con người có ích góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước Việt Nam muôn ngàn yêu quý ngày càng giàu đẹp.
Dù công việc bận nhiều, song hàng tháng, hàng quý, Bác Tôn vẫn dành thời gian thăm bạn bè. Nhất là những người bạn tù đã nghỉ hưu, Bác thường chủ động đến thăm hỏi chân thành, cởi mở như bạn bè khi còn cùng tù đày, xoá đi tâm lý cách biệt giữa lãnh tụ và người dân.
Nhân dân Việt Nam, thế hệ trẻ Việt Nam tự hào đã có Bác Tôn - một chiến sĩ cộng sản gương mẫu, suốt đời vì nước quên thân, vì dân quên nhà. Bác đã sống một cuộc đời cực kỳ gian truân và Bác đã chiến thắng vẻ vang. Cuộc đời Bác Tôn là cuộc đời trọn vẹn thuỷ chung với nước, với dân, với lý tưởng cộng sản, với bạn bè, đồng đội, với bạn bè quốc tế và với gia đình.
____________
* Phó Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, t.9, tr.220-221.
2,3. Ban liên lạc tù chính trị: Côn Đảo - Ký sự, Sở Văn hoá - Thông tin và Nxb. Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 1996, tr.197.
Những bước chuyển biến tư tưởng của đồng chí Tôn Đức Thắng từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin ĐỨC VƯỢNG *
Xã hội Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX có thể ví như một người nô lệ gầy gò, rác rưởi, đói khát đang oằn oại dưới ngọn roi của "ông chử”. Đó là một xã hội thuộc địa, nửa phong kiến. Trong xã hội này, người nông dân suốt ngày phơi lưng lên cánh đồng, vậy mà vẫn không đủ ăn. Người công nhân bị bóc lột giá trị thặng dư ngày một tăng. Những người dân lao động vất vả với cuộc sống nhọc nhằn mà chẳng kiếm được miếng cơm, manh áo. Trong lúc dân tình điêu đứng, thì “các bậc đại thần ăn dầm nằm dề ở chốn triều đình, chỉ biết quan hệ cho xong việc; quan lại ở các tỉnh, thì chỉ lo cho vững thân thế mà hà hiếp bóp nặn ở chốn hương thôn; đám sĩ phu thì ganh đua nhau vào con đường luồn cúi, nịnh hót, không còn biết liêm sỉ là gì… đến bây giờ thì sự thế hư hỏng, nhân dân lìa tan, phong tục suy đồi, lễ nghĩa bại hoại". Những dòng trên đây đã được nhà yêu nước Phan Chu Trinh nêu trong Thư gửi Toàn quyền Đông Dương. Năm 1906, Toàn quyền Đông Dương Anbe Xaro trâng tráo nói rằng: "Người thợ nặn muốn nặn ra hình người, thì phải cần có đất sét, có đất rồi mới nặn thành người được. Xã hội An Nam cũng ví như là đất, còn người Pháp ví như người thợ nặn. Cái tay nước Pháp lấy cái đất nước Nam ấy mà nặn ra người có nhân cách để giữ được quyền lợi, vì đã có luật pháp cao hơn mà che chở cho”. Rõ ràng chúng đã xúc phạm dân tộc ta, đã dùng những lời hoa mỹ để che đi cái dã tâm của chúng với chính sách ngu dân.
Anh thanh niên Tôn Đức Thắng là một trong những nạn nhân của chính sách thuộc địa của thực dân Pháp ở Đông Dương. Lớn lên ở vùng sông nước An Giang, anh đã chứng kiến bộ mặt tàn ác của thực dân trên quê hương anh, Nam Kỳ đầm đìa nước một rồi "lục tỉnh” và cả miền nam lần lượt nằm dưới làn roi "trực trị” của lũ quỷ Tây Dương.
Không thể cam chịu nhục mãi được, hãy vùng lên! Hãy rút gươm ra khỏi bao để chặn lại bàn tay đẫm máu của quân thù. Đó là những trận chiến đấu một sống một chết của nhân dân ta ngay từ năm 1958, khi Pháp nổ súng chiếm thành phố Đà Nẵng. Sau đó, năm 1959, nhân dân Gia Định xông ra cản giặc khi chúng chiếm thành. Những hình ảnh của Trường Công Định, Nguyễn Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Phan Tâm, Phan Ngũ, Nguyễn Hữu Huân, Lê Công Thành… cùng với hình ảnh của hàng nghìn trận chiến đấu khác của nhân dân cả nước, "Sát thát” xông lên khi quân thù chiếm lấn quê hương đều có ảnh hưởng không nhỏ đến tư tưởng và tình cảm của người thanh niên yêu nước Tôn Đức Thắng. Rõ ràng, chủ nghĩa yêu nước của nhân dân ta hồi đầu thế kỷ XX, cuồn cuộn nổi lên như nhưng đợt sóng trào. Điều này càng chứng minh cho luận điểm của Lênin: "Chủ nghĩa yêu nước là một trong những tình cảm sâu sắc nhất, đã được củng cố qua hàng trăm, hàng nghìn năm tồn tại của các Tổ quốc biệt lập". Đó là lòng trung thành của nhân còn đối với Tổ quốc mình. Lòng trung thành ấy đã trở thành ngọn cờ đấu tranh chống ngoại xâm.
An Giang, quê hương của nhiều nhà yêu nước từ các địa phương khác đến, đã dấy lên nhiều sự kiện kháng Pháp, mà tiếng vang của nó còn vọng mãi trong lịch sử dân tộc. Những tấm gương tiêu biểu như Thoại Ngọc Hầu, người đề xuất và thực hiện công trình kênh Vĩnh Tế, vừa để phát triển giao thông, phát triển nông nghiệp, vừa để làm chiến tuyến chống giặc và như Trương Gia Mô, nhà yêu nước đầy chí khí lẫm liệt, đã tử tiết tại Núi Sam khi giặc Pháp đến vây bắt. Những tấm gương tiên liệt đó mãi mãi ghi vào sử sách.
Tinh hoa của quê hương, bản anh hùng của dân tộc đã làm thức dậy trong lòng anh thanh niên Tôn Đức Thắng một tư tưởng cứu nước, cứu nhà. Sự hình thành chủ nghĩa yêu nước của anh bắt nguồn từ nhân tố đó.
Nghiên cứu những bước phát triển tư tưởng của đồng chí Tôn Đức Thắng từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin, chúng ta thấy rằng đồng chí đã từ lòng căm thù giặc sâu sắc, đến cảm thông với dân tộc, thương yêu nhân dân lao động, dần dần đi từ giác ngộ về giai cấp và đến với chủ nghĩa Mác – Lênin. Quá trình chuyển biến của đồng chí từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin mang tính chất tiên tiến, qua các bước "quá độ" trước khi tạo ra bước nhảy vọt về chất.
Bước chuyển thứ nhất: Sống trong đội ngũ thợ thuyền Việt Nam. Một đặc điểm nổi bật trong cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Tôn Đức Thắng là gia nhập rất sớm vào hàng ngũ của giai cấp công nhân Việt Nam. Đặc điểm này, phân tích về mặt lôgíc nó sẽ dẫn đến tính triệt để giai cấp và ý thức tổ chức kỷ luật cao. Ngay từ năm 18 tuổi, đồng chí đã đến Sài Gòn để học nghề thợ máy. Năm 22 tuổi, đồng chí vào làm trong xưởng Cơrốp, thuộc Sở kiến trúc cầu đường và nhà cửa ở Sài Gòn. Sau đó đồng chí vào học Trường cơ khí Á châu (Sài Gòn) rồi làm công nhân xưởng Ba Son... Ngay cả những lúc bị bọn mật thám theo dõi, đồng chí phải tạm lánh về nông thôn ở Mỹ Tho, làm nghề dạy học, song vẫn liên lạc với anh chị em công nhân ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Có thể nói rằng, cuộc đời của đồng chí lúc nào cũng mang duyên nợ với công nhân.
Sống trong lòng giai cấp công nhân, đồng chí Tôn Đức Thắng mang trong lòng ý thức tổ chức kỷ luật, tính năng động cao và giàu tính sáng tạo. Đồng chí đã chủ động tổ chức những cuộc bãi công của công nhân, mặc dù tính chất của những cuộc bãi công này mới chỉ là tự phát. Ngay từ những ngày đầu bước chân vào làm việc ở xưởng Cơrốp, đồng chí đã tham gia vào cuộc đấu tranh của công nhân chống đánh đập, cúp phạt, đòi tăng lương, đồng thời tổ chức ra các hội ái hữu, cứu tế… Năm 1912, đồng chí đã cùng một số anh em tổ chức cuộc bãi công của học sinh trường Kỹ nghệ có sự phối hợp với công nhân xưởng sửa chữa tàu thuỷ Ba Son. Cuộc bãi công đó thu được thắng lợi buộc bọn thực dân Pháp phải giải quyết các yêu sách của anh em, tuy rằng chúng vẫn tìm mọi cách để khủng bố.
Bãi công là một hình thức đấu tranh giai cấp, ảnh hưởng trực tiếp đến tư tưởng công nhân. Lênin nói rằng, chính "bãi công dạy cho công nhân biết đoàn kết với nhau, nó chỉ cho công nhân thấy rằng, chỉ có cùng nhau chung sức lại mới có thể cùng nhau chống bọn tư bản được. Lênin còn nói: "Bãi công dạy cho công nhân thấy rõ được đâu là sức mạnh của bọn chủ và đâu là sức mạnh của mình".
Sống và làm việc với công nhân và được mục kích những cuộc bãi công của công nhân, đồng chí Tôn Đức Thắng hiểu rằng dân tộc Việt Nam và công nhân Việt Nam không có một dấu hiệu gì để nói nó yếu hèn mà bọn thực dân vẫn tuyên truyền. Việc bọn chủ xưởng phải chấp nhận yêu sách của công nhân trong lúc chúng có lưỡi lê và súng, chứng tỏ chúng yếu chứ không phải dân tộc Việt Nam yếu; chúng hèn chứ không phải công nhân Việt Nam hèn. Đây là bước chuyển thứ nhất của đồng chí Tôn Đức Thắng. Bước chuyển này tuy chưa tiếp nhận được sự giác ngộ giai cấp và chủ nghĩa Mác - Lênin, mà nó vẫn còn nằm trong phạm vi của chủ nghĩa yêu nước, nhưng lại rất quan trọng vì nó tạo mầm mống để đồng chí bước tiếp sang một nhận thức tư tưởng cao hơn, mới hơn. Thực chất đây là bước "quá độ" đầu tiên về tư tưởng của Người.
Bước chuyển thứ hai: Sống trong đội ngũ thợ thuyền quốc tế.
Vào khoảng cuối năm 1912, sau khi tổ chức thành công cuộc bãi công của học sinh Trường Kỹ nghệ và của công nhân Xưởng sửa chữa tàu Ba Son, đồng chí Tôn Đức Thắng bị địch lùng bắt, phải lánh sang Pháp, làm thủy thủ lên tàu Lacoóc của công ty tàu biển chạy trên Đại Tây Dương. Mục đích đi của đồng chí đã được xác định rõ: “Tôi nhớ ngày tôi rời đất nước… Lúc cuộc bãi công của học sinh trường Kỹ nghệ Sài Gòn và thợ thuyền Ba Son thắng lợi, cũng là lúc tôi cải trang xuống tàu Pháp làm để trốn sự truy nã của địch. Từ đó bắt đầu cuộc đời lên mặt biển. Với nhiệt tình yêu nước, tôi mong học hỏi được nhiều để sau này về nước đấu tranh có kết quả hơn".
Đồng chí Tôn Đức Thắng đã sang Pháp và một số nước khác.
Nếu như khi còn ở nước nhà, tình cảm và tư tưởng của đồng chí Tôn Đức Thắng còn nằm trong phạm vi dân tộc, thì lúc ra nước ngoài, tình cảm và tư tưởng ấy đã mở rộng ra quốc tế. Lúc còn ở trong nước, tình yêu của đồng chí là nhân dân lao động Việt Nam, khi ra nước ngoài, tình yêu của Người là nhân loại cần lao. Khi còn ở nước nhà, Người tiếp xúc với công nhân Việt Nam, khi ra nước ngoài, Người tiếp xúc với công nhân quốc tế. Lúc còn ở nước nhà, Người thấy kẻ thù là thực dân Pháp, bóc lột nhân dân Việt Nam, khi ra nước ngoài, Người thấy kẻ thù là chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa dế quốc, chúng bóc lột nhân dân lao động thế giới. Tầm nhìn của Người được mở rộng từ sông Tiền, sông Hậu toả ra Thái Bình Dương. Đây là bước chuyển biến tư tưởng thứ hai của đồng chí. Bước chuyển này tuy chưa đạt tới sự giác ngộ về giai cấp và giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, song so với lúc còn ở nước nhà, trong tư tưởng của Người rõ ràng đã có những bước phát triển mới. Sự “quá độ” từ dân tộc đến quốc tế làm cho tư tưởng của Người đi gần tới chân lý của thời đại. Tuy ở vào thời điểm này, tư tưởng của Người vẫn còn mang sắc thái của chủ nghĩa yêu nước, song chất của nó được nâng lên bởi từ tình cảm dân tộc, tình cảm giai cấp trong phạm vi quốc gia, được toả sáng và phát triển ra quốc tế, ra nhân loại cần lao.
Trong những ngày làm thuỷ thủ, đồng chí Tôn Đức Thắng luôn luôn gần gũi công nhân Pháp và tiếp xúc với công nhân nhiều nước khác. Hoàn cảnh sống ở nước ngoài càng giúp cho đồng chí thấy rõ hơn sự thâm độc của chính sách ngu dân và bộ mặt xảo trá, tàn ác của thực dân ở các nước thuộc địa. Điều này càng nung nấu tinh thần yêu nước, ý chí đấu tranh cách mạng hoà cùng với tình cảm quốc tế trong sáng.
Khi bị động viên vào Hải quân Pháp, làm thợ máy (1916) đồng chí Tôn Đức Thắng thấy rõ tệ phân biệt màu da và cách đối xử tàn bạo của những tên chỉ huy đối với binh lính. Xúc động trước cuộc sống của những người cùng khổ, đồng chí tích cực tham gia vào cuộc vận động chính trị trong hàng ngũ thuỷ thủ Pháp, đấu tranh chống bọn chỉ huy và bí mật liên lạc với tổ chức công đoàn Pháp để hoạt động.
Sự kiện năm 1919, khi đoàn chiến hạm vượt qua eo biển Đácđanen để vào Biển Đen, tiến công nước Nga, gây sự lo ngại cho nhiều người. Lúc ấy đồng chí Tôn Đức Thắng làm thợ máy trong một chiến hạm đó, đã cùng anh em binh lính trong chiến hạm Pháp dũng cảm đứng lên phản chiến từ chối thi hành mệnh lệnh tiến công nước Nga. Đồng chí đã kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm để chào mừng Nhà nước của giai cấp vô sản thắng lợi đầu tiên trên thế giới. Vốn là công nhân ở một nước thuộc địa đã từng lăn lộn với cuộc đấu tranh của dân tộc chống áp bức, bóc lột, đồng chí không muốn cho nước Nga Xôviết, thành trì của cách mạng thế giới bị giày xéo, bị tàn phá, thành quả cách mạng của công nhân và nông dân Nga vừa mới giành được đã bị cướp mất. Điều này tỏ rõ tinh thần quốc tế của đồng chí đã xích lại gần với tinh thần quốc tế vô sản. Sau đó đồng chí đã kể lại: "Chúng tôi chào các bạn bằng lá cờ đỏ được giương lên ở Biển Đen. Tôi mơ ước cùng với lá cờ đỏ này tuần dương hạm sẽ cập bến Nga, tôi sẽ lên bờ và được dịp tham gia cuộc cách mạng và học tập các bạn Nga, để trở về Tổ quốc, giúp đỡ dân tộc ta vứt bỏ ách nô lệ… Tôi tin rằng ở đó nhân dân lao động đã vùng lên để quét sạch mọi áp bức, bất công, và tôi, một công nhân của dân tộc thuộc địa da màu, đã từng phải chịu đựng. Tôi tin rằng ở đó người ta đang xây dựng một thế giới đẹp đẽ, thật sự công bằng".
Vì sao trong lúc chưa tiếp thu được chủ nghĩa Mác - Lênin, đồng chí Tôn Đức Thắng đã nhìn thấy nước Nga cách mạng, với tất cả tình cảm tốt đẹp của nó? Điều này đã được đồng chí để lại: "Tôi tin rằng bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen không thể hành động khác tôi. Bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười". Đây chính là sự "gặp gỡ tự nhiên" giữa tư tưởng yêu nước và tư tưởng quốc tế chủ nghĩa, yêu nước dạy cho người dân thuộc địa biết yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, căm thù giai cấp bóc lột. Chủ nghĩa Mác - Lênin cũng dạy cho nhân dân những vấn đề cơ bản đó. Đồng chí Tôn Đức Thắng thấm đượm lòng yêu nước nên khi bắt gặp Cách mạng Tháng Mười - mặc dù ở vào thời điểm này, nhận thức của đồng chí Tôn Đức Thắng về Cách mạng Tháng Mười mới chỉ là “cảm tính tự nhiên", song đã có sức hấp dẫn đối với đồng chí.
Cuộc phản chiến ở Biển Đen đã chấm dứt sự can thiệp của đế quốc Pháp vào miền Nam nước Nga, góp phần vào phong trào đấu tranh mạnh mẽ của nhân dân lao động toàn thế giới đứng lên chống đế quốc, bảo vệ Cách mạng Tháng Mười. Thắng lợi của cuộc phản chiến ở Biển Đen đã chứng minh sức mạnh của nhân dân lao động và binh lính Pháp, có thiện chí với nước Nga cách mạng. Trong sự kiện lịch sử này, hình ảnh đồng chí Tôn Đức Thắng nổi lên như một bản anh hùng ca chói lọi của chiến trận.
Sau cuộc phản chiến ở Biển Đen, ra khỏi Hải quân Pháp, đồng chí Tôn Đức Thắng vào làm thợ máy cho xưởng ôtô Rơnôn ở Pháp (xưởng này có thời gian đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã từng vào làm việc và trở thành đoàn viên công đoàn). Tại đây, đồng chí gia nhập Tổng công đoàn Pháp và cùng với giai cấp công nhân Pháp đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Hoạt động của đồng chí, một lần nữa càng thắt chặt mối tình anh em với giai cấp công nhân Pháp.
Bước chuyển thứ ba: Tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin bằng việc gia nhập tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên.
Cho đến nay, vẫn còn một số ý kiến khác nhau về việc đồng chí Tôn Đức Thắng tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin vào thời điểm nào? Tổng lược lại thấy có hai loại ý kiến:
- Đồng chí tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin ngay sau khi kéo lá cờ đỏ trên chiến hạm France và tuyên bố ủng hộ nước Nga cách mạng.
- Đồng chí tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, qua các sách, báo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc và đặc biệt là khi đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (1926).
Theo chúng tôi, ý kiến thứ nhất chưa có cơ sở lịch sử để khẳng định. Vì vậy, việc khẳng định đồng chí tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin vào năm 1926, khi đồng chí gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên là có cơ sở lịch sử hơn. Nếu ý kiến của chúng tôi mà được chấp nhận thì rõ ràng đồng chí Tôn Đức Thắng đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin bằng con đường tổ chức mà con đường ấy do đồng chí Nguyễn Ái Quốc vạch ra.
Như các đồng chí đã biết, tại Việt Nam trong những năm 1925-1926, phong trào giải phóng dân tộc đứng trên lập trường vô sản phát triển, đồng thời với phong trào giải phóng dân tộc trên lập trường tư sản. Song, đường lối của Việt Nam Quốc dân Đảng không lôi cuốn được phong trào công nhân vì nó không có khả năng đáp ứng được nguyện vọng của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam là độc lập tự do thật sự. Sức quyến rũ đối với công nhân Việt Nam lúc bấy giờ chẳng phải là khẩu hiệu "không thành công thì thành nhân" mà là khẩu hiệu: "Việt Nam độc lập hoàn toàn". Tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác - Lênin và đường lối cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh thật sự cuốn hút công nhân Việt Nam và cuộc đấu tranh oanh liệt nhằm mục tiêu giải phóng dân tộc và giải phóng giai cấp công nhân. Tư tưởng bất hủ của chủ nghĩa Mác - Lênin: dân tộc luôn luôn với giai cấp đã tạo tiền đề cho giai cấp công nhân Việt Nam đấu tranh vừa đòi quyền lợi cho dân tộc, vừa đòi quyền lợi cho giai cấp.
Trong những năm 1925 - 1929, phong trào cách mạng theo xu hướng vô sản tràn vào trong nước. Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và mở lớp lý luận Mác - Lênin nhằm đào tạo cán bộ cách mạng Việt Nam, chuẩn bị cho sự ra đời của chính Đảng của giai cấp công nhân Việt Nam, đồng chí Tôn Đức Thắng lúc bấy giờ đã về nước để hoạt động, đã hoà mình vào không khí sôi động của cách mạng Việt Nam. Với ý thức tạo điều kiện để hoạt động lâu dài, đồng chí đã cùng với một số anh em công nhân lập ra Xưởng sửa chữa xe hơi ở Phú Nhuận, dùng nơi này để tập hợp anh em, đồng thời cũng là giải quyết công ăn việc làm cho một số người thất nghiệp. Việc làm của đồng chí đã mang lại kết quả tốt. Mạng lưới liên lạc với anh chị em công nhân và học sinh được tổ chức, đặc biệt là với Trường Bách nghệ và xưởng Ba Son.
Với kinh nghiệm hoạt động trong phong trào công nhân và công đoàn Pháp, đồng chí tiếp tục những cơ sở công hội ở Nam Kỳ với mục đích đoàn kết tương trợ, bênh vực quyền lợi cho giai cấp công nhân và đấu tranh chống sự áp bức bóc lột của đế quốc và bọn tay sai. Đồng chí Tôn Đức Thắng được các hội viên cử làm Hội trưởng. Mặc dù những tổ chức trong hội do đồng chí Tôn Đức Thắng lập ra ở Nam Kỳ mới chỉ mang tính chất tự phát, song nó vẫn lôi cuốn được nhiều công nhân tham gia vào cuộc đấu tranh. Công hội có cơ sở ở khắp Sài Gòn. Đến đầu năm 1925, số hội viên đã lên tới 300 người. Xưởng Ba Son, Nhà đèn Sài Gòn, Nhà đèn Chợ Quán là những cơ sở có công hội hoạt động mạnh nhất. Những công hội này là nòng cốt trong cuộc bãi công sôi nổi của thuỷ thủ và công nhân Xưởng Ba Son nổ ra vào tháng 8 năm 1925. Mặc dù Công hội không có trụ sở riêng, nhưng hàng tháng vẫn sinh hoạt đều đặn.
Hoạt động trong tổ chức Công hội, đồng chí Tôn Đức Thắng có điều kiện được các báo Luymanitê, Đời sống thợ thuyền, do Đảng Cộng sản Pháp và Tổng công đoàn Pháp gửi sang. Từ năm 1922 đến năm 1925, ngoài những sách báo của Đảng Cộng sản Pháp và Tổng Công hội Pháp gửi sang, đồng chí Tôn Đức Thắng và công nhân Sài Gòn còn được đọc báo Le Pari và tác phẩm Bản án chế độ thực dân Phápcủa đồng chí Nguyễn Ái Quốc.
Cuối năm 1926. Đồng chí Tôn Đức Thắng bắt liên lạc được với Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, một tổ chức cách mạng tiền thân của Đảng ta do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập. Vốn có cảm tình sâu sắc với Cách mạng Tháng Mười, lại được rèn luyện trong phong trào công nhân, đồng chí hoàn toàn tán thành đường lối của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và tình nguyện gia nhập tổ chức này. Những cán bộ của Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên được đồng chí Nguyễn Ái Quốc huấn luyện chủ nghĩa Mác – Lênin, nay họ mang kiến thức ấy truyền đạt lại cho đồng chí Tôn Đức Thắng. Việc đồng chí Tôn Đức Thắng gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên đã đánh dấu bước chuyển biến tư tưởng có tính chất quyết định của đồng chí: Từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác – Lênin. Từ đây trong sự nghiệp cách mạng vô cùng gian khổ của đời mình, mặc cho phong ba bão táp, mặc cho tra tấn, tù đày, đồng chí không lúc nào chịu rời bỏ lý tưởng cách mạng. Đồng chí nói: "Lý tưởng xã hội chủ nghĩa của Mác - Lênin cao quý lắm. Đảng của lý tưởng đó là một điều không thể thiếu của chúng ta".
Sau khi gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đồng chí Tôn Đức Thắng tích cực tuyên truyền và tổ chức những người hăng hái, tích cực trong các cơ sở công hội vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Năm 1927, đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Thành bộ Sài Gòn và Kỳ bộ Nam Kỳ của Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và được phân công trực tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn. Trong thời gian này, đồng chí đã cùng các đồng chí của mình ra sức truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin trong giai cấp công nhân Nam Bộ, làm cho phong trào công nhân và tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ngày càng vững mạnh.
Quá trình từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác - Lênin của đồng chí Tôn Đức Thắng là quá trình rèn luyện, học tập gian khổ và rất xứng đáng được đứng vào hàng ngũ những chiến sĩ tiên phong cách mạng.
* Thư ký Hội đồng lý luận Trung ương
Tuổi trẻ hôm nay tự hào và học tập tấm gương yêu nước của Bác Tôn vĩ đại HUỲNH TUYẾT PHƯỢNG*
NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG **
“Thật không có gì hạnh phúc hơn khi được sống trong thời đại ngày nay, thời đại mà những lý tưởng đẹp đẽ nhất của loài người đang được chúng ta từng ngày, từng giờ biến thành hiện thực…". Chúng tôi xin được mượn lời phát biểu của Bác Tôn trong buổi lễ kỷ niệm lớn thứ 30 ngày thành lập Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26-3-1961) để mở đầu cho bài viết nhân kỷ niệm ngày sinh của Bác.
Quả thật, ngày nay, những lý tưởng đẹp đẽ đó đang dần hiện ra trước mắt chúng ta. Đất nước ta đang từng ngày thay da đổi thịt, giàu hơn, mạnh hơn, đời sống nhân dân được nâng lên đáng kể; tuổi trẻ chúng ta sẽ không bị ám ảnh bởi giặc đói, giặc dốt. Để được như vậy, đồng bào chiến vĩ đã phải tốn bao nhiêu mất mát, hy sinh xương máu, tài sản, phải đổ bao nhiêu nước mắt và mồ hôi.
Tuổi trẻ chúng ta luôn tự hào về truyền thống tốt đẹp của dân tộc và đặc biệt tuổi trẻ An Giang càng tự hào hơn nữa khi được sinh ta và lớn lên trên mảnh đất đã sinh thành và hun đúc nên một lãnh tụ cách mạng, một tâm hồn vĩ đại - Bác Tôn Đức Thắng, người cộng sản kiên cường; tấm gương sáng và đức hy sinh và tấm lòng yêu nước nồng nàn, thì chúng ta càng phải phấn đấu sao cho xứng danh cháu con của Bác. Thế hệ trẻ chúng ta học tập được gì trước tấm gương sáng ngời và lòng yêu nước, đức hy sinh cao ca của Bác Tôn Đức Thắng.
Sinh ra và lớn lên lúc đất nước trong cơn lầm than, binh biến, nhân dân phải chịu ách đô hộ của bọn thực dân, Bác đã chứng kiến cuộc sống khốn cùng của nhân dân ta, đồng thời cũng chứng kiến những tấm gương anh dũng đấu tranh giành tự do cho đất nước như Thoại Ngọc Hầu, Trương Gia Mô, như Trương Công Định, Nguyễn Trung Trực… Cùng các phong trào đấu tranh như Đông Kinh nghĩa thục do Cử Hoành khởi xướng, phong trào Duy Tân của cụ Phan Bội Châu, qua lời kể của người thầy yêu nước – thầy Năm Khách - đã hình thành trong lòng cậu thanh niên Tôn Đức Thắng tư tưởng yêu nước, thương dân, ghét bọn thực dân xâm lược cùng bè lũ tay sai.
Tình yêu nước của Bác được thể hiện trước tiên bằng tấm lòng đối với quê hương xứ sở, nơi đã gắn bó với bao kỷ niệm thời thơ ấu. Quê hương với Bác là cồn cát giữa dòng sông, là chiếc cầu, bờ ao, con rạch nhỏ…, những hình ảnh mà khi xa cách chẳng hề phai mờ trong tâm trí. Để sau 30 năm trở lại thăm quê, Bác vẫn bồi hồi xúc động. Tình yêu gây nên nỗi nhớ, có thật sự yêu thương thì nỗi nhớ một trở thành cột rễ bám chặt vào tâm hồn đến vậy.
Yêu quê hướng xứ sở, không cam lòng nhìn cảnh quê hương chịu sự giày xéo của bọn thực dân, Bác từ giã quê nhà, bước vào cuộc sống tự lập. Không chọn cho mình con đường "làm thầy", "làm quan", Bác hoà mình vào cuộc sống của những người thợ. Để từ đó, Bác càng tha thiết yêu đất nước, yêu con người Việt Nam, những con người cả cuộc đời cần cù lao động, nhưng phải sống trong cảnh khốn cùng: cơm không đủ ăn, áo không đủ ấm mà nguyên nhân duy nhất chính là ách cai trị của đế quốc thực dân.
Tấm lòng của Bác đối với nhân dân không chỉ thể hiện trong thời chiến mà ngay cả khi cách mạng thành công, thấy cảnh thầy mo niệm chú, bắt quyết rồi vung roi quất lấy quất để vào người bệnh để đuổi tà, Bác đã thất lên: cách mạng thành công rồi mà đời sống đồng bào như thế sao? Đôi mất hiền từ ẩn chứa một nỗi buồn sâu xa. Khi đọc những tư liệu về cuộc đời của Bác, ấn tượng mạnh mẽ nhất để lại trong tôi là câu nói: "Chủ tịch nước mặt áo nối thì dân mới đủ ăn”, Bác Tôn là như thế, quên cả bản thân, quên cả địa vị của mình, suốt cuộc đời vì nước vì dân.
Tình yêu nước của các rất thắm thiết, nó không là thứ tình yêu chung chung, mà được Bác thể hiện bằng những hành động hết sức cụ thể. Yêu đất nước, yêu con người, khát vọng cháy bỏng trong lòng cậu thanh niên Tôn Đức Thắng là phải giải phóng: giải phóng đất nước khỏi ách thống trị; giải phóng người dân khỏi sự bóc lột, bất công. Bác đã chọn cho mình một con đường, đó là đứng lên làm cách mạng để giành lấy tự do, một con đường đầy hy sinh, lắm thử thách nhưng vô cùng vinh quang. Để đi đến thắng lợi cuối cùng, Bác đã trải qua không biết bao như gian khổ. Hơn tám năm bôn ba nơi xứ người với ao ước được nhìn thấy nước Pháp ra sao? Người dân họ cỡ nào mà họ đô hộ nước mình? Với suy nghĩ chắc họ cũng có những cái hay, nếu học được biết đâu sau này lại chẳng hữu dụng? Mười bảy năm sống trong nhà tù đế quốc, chịu những trận đòn dã man, luôn bị bỏ đói, phải làm việc nặng nhọc, vất vả..., tất cả đều không thể làm lay chuyển lòng Bác, Bác vẫn vững vàng ý chí, vẫn đoàn kết cùng các chiến sĩ trong nhà tù tổ chức và lãnh đạo các cuộc đấu tranh chống chế độ hà khắc của nhà tù thực dân. Chặng đường ấy, để có thể vượt qua hẳn phải có một ý chí, nghị lực phi thường và hơn hết là tấm lòng yêu nước nồng nàn.
Và với Bác, yêu nước không có nghĩa là chỉ làm cách mạng trong nước mà yêu nước còn có nghĩa là phải đoàn kết, phải bao vệ những thành quả mà người dân lao động các nước đã dùng sức lực của mình để vùng lên quét sạch mọi áp bức, bất công, xây dựng một thế giới đẹp đẽ, thật sự công bằng. Và Bác đã là niềm tự hào của cả giai cấp công nhân Việt Nam khi ủng hộ Cách mạng Tháng Mười Nga bằng hành động kéo cờ phản chiến trên Biển Đen. Bởi theo Bác "yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù nhưng kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười”.
Thế hệ của Bác là thế hệ người mở đường, dựng nước. Thế hệ chúng ta có trọng trách nối tiếp sự nghiệp xây dựng quê hương, đất nước. Lòng yêu nước ngày nay không chỉ là việc chúng ta cầm súng ra chiến trường đánh đuổi giặc ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc. Tuổi trẻ chúng ta hôm nay nhận một nhiệm vụ lịch sử vô cùng trọng đại đó là năng động, sáng tạo vươn lên làm chủ khoa học công nghệ, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Và tuổi trẻ chúng ta ngày nay luôn tự hỏi mình đã làm gì để xứng đáng với sự hy sinh cao cả của cha anh, để thể hiện lòng yêu nước của chính mình?
Nhìn lại chặng đường của thanh niên Việt Nam trong những năm gần đây, chúng ta rất đỗi tự hào. Những gương mặt tiêu biểu về tinh thần phấn đấu không ngừng trong lao động, học tập, mang về cho đất nước những tấm huy chương quốc tế về học tập, sáng tạo như các tấm Huy chương Vàng, Huy chương Bạc trong các kỳ thi Vật lý, Hoá học, Tin học, Thể dục thể thao khu vực, quốc tế…, cùng hàng loạt các phong trào được Đoàn thanh niên phát động đã được sự ủng hộ nhiệt tình và đạt nhưng thành quả không nhỏ, luôn là niềm hãnh diện của mỗi thanh niên chúng ta.
Và chỉ riêng trong Tháng Thanh niên (4-2003) vừa qua, hoà cùng với thanh niên cả nước, tuổi trẻ An Giang tự hào tiễn chân hơn 1.000 sinh viên của Trường Đại học An Giang lên đường tham gia chiến địch "Phát triển nông thôn”, hơn 200 sinh viên đường Cao đẳng Sư phạm tham gia phong trào "Mùa hè tình nguyện"... Những thanh niên đó đã chọn cho mình con đường tiếp bước cha anh. Nhưng bên cạnh nhưng tấm gương đó vẫn còn một số bạn trẻ chỉ biết sống vị kỷ, chỉ nghĩ đến quyền lợi của bản thân mà quên đi lợi ích chung của cộng đồng; trốn tránh trách nhiệm của bản thân đối với gia đình và xã hội. Thái độ đáng phê phán hiện nay của một bộ phận thanh niên là dựa dẫm, ỷ lại vào người khác, gặp khó khăn không đủ nghị lực để vượt qua mà lại chán nản buông xuôi; không xác định được mục tiêu, ý nghĩa sống. Nên chăng, đây là lúc mà mỗi thanh niên chúng ta cần nhìn nhận lại thái độ sống của chính mình.
Ý nghĩ sống của tuổi trẻ hôm nay là phải phấn đấu không ngừng để trở thành lực lượng xung kích, góp phần to lớn vào mục tiêu phấn đấu của toàn dân tộc. Nếu như thế hệ của Bác Hồ, Bán Tôn đã nêu cao bản lĩnh cách mạng, bất khuất trước quân thù, dám đứng lên đương đầu với kẻ địch tàn bạo, thì ngày nay tuổi trẻ chúng ta phải phát huy truyền thống ấy, phải nỗ lực phấn đấu, vượt qua mọi thách thức, khó khăn để hoàn thành nhiệm vụ.
Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã từng nói: tuổi trẻ cần lấy việc mang lại hạnh phúc cho nhân dân làm niềm vui lớn, là hạnh phút lớn cho đời mình, "Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình". Có lời một bài hát: “Đừng hỏi Tổ quốc đã làm gì cho ta mà hãy hỏi ta đã làm gì cho Tổ quốc hôm nay”, câu hát ấy đã trở thành khẩu hiệu hành động của không ít thanh niên hôm nay.
_____________
* Trường Chính trị Tôn Đức Thắng tỉnh An Giang
Trên quê hương Bác Tôn ngày nay LÊ PHÚ HỘI *
Cùng với nhân dân cả nước, ngày 20-8 năm nay, Đảng bộ và nhân dân An Giang long trọng tổ chức kỷ niệm 115 năm ngày sinh cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người con ưu tú của quê hương An Giang và dân tộc Việt Nam, nhà yêu nước lớn, người công nhân - người cộng sản kiên cường mẫu mực, người lãnh đạo kính mến của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người chiến sĩ trung thành của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, người bạn lớn của nhân dân yêu chuộng hoà bình trên toàn thế giới.
Dù cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Bác Tôn không có nhiều thời gian gắn bó với quê hương An Giang nhưng hình ảnh của Người không bao giờ phai mờ trong tâm trí người dân vùng đất này. Những chuyến về thăm quê hương đột xuất, ngắn ngủi của Bác luôn để lại bao niềm thương mến, lòng kính trọng trong tâm khảm các thế hệ An Giang về một con người bình thường - vĩ đại.
Kể từ lúc Bác Tôn về An Giang lần cuối sau ngày quê hương được hoàn toàn giải phóng năm 1975 cho đến khi Bác đi xa, trên quê hương Mỹ Hoà Hưng nói riêng, An Giang nói chung đã có nhiều thay đổi. Ước nguyện của Bác Tôn về một quê hương giàu đẹp đã và đang được các lớp cháu con không ngừng phấn đấu biến thành hiện thực, không ngừng vượt qua thử thách, khó khăn để ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân ngày càng được cải thiện, nâng lên.
Là một tỉnh nằm ở đầu nguồn sông Cửu Long, mặc dù được thiên nhiên ưu đãi cho việc phát triển nông nghiệp, nhưng An Giang phải thường xuyên đối phó với thiên tai lũ lụt, trong đó có những năm liên tiếp (từ 1994-1997) lũ lớn, nhất là cơn lũ năm 2000, đã gây thiệt hại nặng nề cho nhân dân An Giang về người và của. Dựa vào thế mạnh của mình và với sự hỗ trợ giúp đỡ có hiệu quả của Trung ương, những năm qua, tỉnh đã tập trung đầu tư khai thác mọi tiềm năng để đưa nền kinh tế nông nghiệp phát triển vượt bậc. Từ một tỉnh thiếu lương thực lúc giáp hạt trong những năm đầu sau giải phóng, đến nay An Giang là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về sản lượng lương thực với trên 2,6 triệu tấn năm 2002, góp phần bảo đảm an ninh lương thực quốc gia và tăng sản lượng gạo xuất khẩu. Hiện có nhiều huyện đã đạt giá trị sản xuất bình quân trên 50 triệu đồng/ha/năm
Các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản, du lịch - dịch vụ, kinh tế biên mậu .. đã có bước phát triển khá, khai thác ngày càng tốt hơn lợi thế của An Giang, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động ổn định và cải thiện cuộc sống. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực năm, 2002 nông - lâm - thuỷ sản chiếm tỷ trọng 40,2%, công nghiệp - xây dựng chiếm 12,1%, dịch vụ chiếm 47,7% trong GDP.
Những năm qua, với sự hỗ trợ của Trung ương và phát huy nguồn nội lực của địa phương, thực hiện tốt phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm”, An Giang đã phát triển khá nhanh về kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế và phúc lợi xã hội, đặc biệt là đối với các vùng nông thôn sâu, vùng căn cứ kháng chiến, vùng núi, biên giới, dân tộc. Tỉnh đã tập trung ưu tiên nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở trường lớp, bệnh viện, trạm y tế, chợ, điện, nước sạch nông thôn. Đến nay toàn tỉnh có gần 90% số hộ có điện sử dụng (riêng nông thôn gần 80%); 100% trung tâm các xã, phường được điện khí hoá. Nhiều xã đã nối mạng thông tin chung của tỉnh. Khoảng cách giữa nông thôn và thành thị được thu hẹp dần.
Hệ thống thuỷ lợi kết hợp với giao thông, với các tuyến, các cụm dân cư đã được đầu tư phát triển tương đối đồng bộ ở các địa bàn trong tỉnh. Chương trình thoát lũ ra biển Tây (với hệ thông kênh T5, T6, Tuần Thống…) được thực hiện có ý nghĩa thiết thực và có tác dụng to lớn với nhân dân vùng lũ. Phần lớn các tuyến giao thông nông thôn đã được tôn cao, nhựa hoá, bê tông hoặc rải cát, đá, bảo đảm đi lại thuận tiện trong mùa lũ. Đặc biệt là chủ trương "chung sống hoà bình với lũ”, khai thác lợi thế của lũ, thực hiện với quyết tâm cao, được nhân dân đồng tình hưởng ứng. Đã có trên 89.000 hộ dân được vay trên 425 tỷ đồng để tôn nền và làm sàn nhà trên cọc; trên 80 cụm, tuyến dân cư vượt lũ đã và đang được triển khai xây dựng với tổng chi phí đầu tư trên 225 tỷ đồng, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển ổn định lâu dài cho nhân dân vùng bị ngập lũ sâu của tỉnh; đã xuất hiện nhiều hộ có thu nhập cao và vươn lên làm giàu trong lợi thế của lũ.
Chính sách đền ơn đáp nghĩa, chương trình xoá đói, giảm nghèo được thực hiện không chỉ bằng nguồn vốn ngân sách của tỉnh, của Trung ương mà còn có sự tham gia tích cực, tự giác ngày càng cao, càng rộng trong các tầng lớp nhân dân, đạt được hiệu quả chính trị - xã hội khá tốt. Số hộ nghèo hàng năm giảm 1-2%, năm 2002 chỉ còn 6,6%.
Các tỉnh vực y tế, giáo dục và đào tạo, văn hoá - thông tin, thể dục thể thao... có nhiều tiến bộ. Tất cả xã, phường đều có trạm y tế và bác sĩ.
Niên học 2002-2003 toàn tỉnh có 400 ngàn sinh viên, học sinh, tăng 4,7% so với niên học trước; trên 85% phòng học được kiên cố hoá. Trường Đại học An Giang được thành lập năm 2000 đang từng bước trở thành trung tâm đào tạo cho hàng ngàn con em các tỉnh An Ciang. Kiên Giang, Đồng Tháp và một phần tỉnh Cần Thơ.
An ninh quốc phòng được bảo đảm, biên giới ổn định hữu nghị, thân thiện. Khối đoàn kết toàn dân được tăng cường. Đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc trong tỉnh không ngừng được nâng lên. Quyền làm chủ của nhân dân được tôn trọng và phát huy là nhân tố quyết định trong việc giữ gìn an ninh - chính trị, trật tự, an toàn xã hội và thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương.
Những thành tựu nổi bật nói trên có ý nghĩa rất quan trọng, là sự kết tinh công sức, trí tuệ của nhân dân và Đảng bộ An Giang đã đoàn kết phấn đấu khắc phục nhiều khó khăn, vượt qua nhiều thử thách, tạo tiền đề để tiếp tục đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế và tăng trưởng kinh tế. Tiếp tục phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật, cơ sở phúc lợi xã hội; huy động mạnh mẽ mọi nguồn nội lực cho đầu tư phát triển. Tập trung thực hiện có hiệu quả hơn các chương trình: khuyến công, khuyến nông, khuyến ngư, khuyến mại, khuyến học, khuyến thiện…. Đẩy mạnh hơn nữa công tác xoá đói, giảm nghèo; thực hiện có hiệu quả các mục tiêu văn hoá - xã hội, chăm sóc tốt hơn cho các đối tượng chính sách, các gia đình có công với nước, nâng cao dân trí, sức khoẻ, thể lực của tầng lớp nhân dân.
Tiếp tục cải cách hành chính, thực hiện tốt Quy chế dân chủ ở cơ sở, tăng cường dân chủ trực tiếp của nhân dân, coi đây là một trong những nội dung cải cách chính trị hết sức quan trọng, làm cho người dân có điều kiện làm chủ một cách toàn diện tại địa bàn dân cư, tích cực góp phần xây dựng chính quyến thực sự “của dân, do dân, vì dân". Đồng thời tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ vững kỷ cương phép nước; mở rộng và nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, xây dựng môi trường sống văn hoá, văn minh, kiên quyết ngăn chặn và đẩy lùi tiêu cực, tệ nạn xã hội, trong đó cán bộ, đảng viên công nhân viên chức nhà nước phải là những người gương mẫu, đi đầu trong thực hiện.
Trước mắt còn không ít khó khăn, thử thách, nhưng nhân dân và Đảng bộ An Giang quyết tâm tiếp tục nêu cao tinh thần yêu nước, truyền thống đấu tranh cách mạng, học tập tấm gương lao động chiến đấu, hy sinh của Bác Hồ và Bác Tôn để thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới. Với truyền thống chung sức chung lòng, nêu cao ý chí tự lực tự cường. phát huy tinh thần năng động sáng tạo, biến niềm tin thắng lợi thành hiện thực, nhất định nhân dân An Giang và Đảng bộ sẽ xây dựng quê hương Bác Tôn kính mến ngày thêm giàu đẹp, góp phần tích cực vào sự phát triển chung của đất nước.
____________
* Bí thư Tỉnh uỷ An Giang.
Đảng bộ và nhân dân Long Xuyên quyết tâm đi theo con đường Bác Hồ và Bác Tôn đã chọn NGUYỄN VIỆT HÙNG*
Thành phố Long Xuyên nằm bên bờ hữu ngạn sông Hậu, nơi cửa ngõ của tỉnh An Giang, tiếp giáp với tỉnh Cần Thơ, Đồng Tháp, Kiên Giang: đầu mối giao thông đi Campuchia và các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long. Long Xuyên và tỉnh lỵ trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học - kỹ thuật của tỉnh An Giang và vùng kinh tế tứ giác Long Xuyên. Là một thành phố trẻ của miền sông nước (thành lập Thành phố vào ngày 1-3-1999), diện tích tự nhiên 107km2 với 260.000 nhân khẩu ở 9 phường và 3 xã. Cù lao Ông Hổ (xã Mỹ Hoà Hưng) nằm giữa dòng sông Hậu quanh năm cây trái xanh tươi, phong cảnh hữu tình và là quê hương của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.
Do vị trí huyết mạch về quân sự và kinh tế, trên một trăm năm dưới ách xâm lược của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Long Xuyên là trung tâm đầu não bộ máy cai trị. Chúng áp đặt chính sách khủng bố dã man hòng khuất phục nhân dân, biến Long Xuyên thành “đất thánh" với đủ loại binh lính, công an, mật vụ, đảng phái, tôn giáo phản động, có lúc lên đến 2.000 tên, và bọn tay sai ăn bám ngoại bang. Nhưng với truyền thống yêu nước, với hào khí quật khởi của quê hương với lòng tự hào, tôn kính Bác Tôn, Long Xuyên đã trải qua những giai đoạn lịch sử hào hùng trên bước đường đấu tranh giành độc lập dân tộc và xây dựng phát triển quê hương.
Sớm tiếp thu, kế thừa, phát triển những tư tưởng yêu nước và phong trào yêu nước của Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn Thương Khách (thầy dạy Bác Tôn học chữ Nho), giữa năm 1928 Long Xuyên đã thành lập được chi hội Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và đến giữa tháng 4-1930 thành lập chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam.
Từ khi thành lập cho dân ngày giải phóng miền Nam, mặc dù liên tục bị đánh phá ác liệt, nhưng với niềm tin mãnh liệt đối với Đảng, với Bác Hồ và Bác Tôn, với ý chí kiên cường bất khuất, tổ chức động ở Long Xuyên vẫn tồn tại trong lòng nhân dân. Ngay trong sào huyệt của địch, Đảng bộ vẫn lãnh đạo quân dân liên tục đấu tranh chính trị, quân sự, binh vận, đạt nhiều chiến công, gây cho địch nhiều tổn thất. Các cuộc đấu tranh của công nhân trại cưa Quảng Nguyên Lợi, Quảng Thuận Phát, từ những năm đầu thành lập Đảng, cho đến phong trào của nông dân, tiểu thương chống cường hào ác bá, sưu cao thuế nặng trong chống Pháp, phong trào học sinh, sinh viên chống quân sự hoá học đường, dồn quân bắt lính, bẻ gãy chiến dịch Phượng Hoàng trong giai đoạn chống Mỹ, đã tạo nên tiếng vang lớn trong cả nước.
Về đấu tranh vũ trang, từ năm 1959, Long Xuyên đã có tổ chức tiền thân và đến tháng 6-1962 chính thức thành lập Đội biệt động thị xã, sau đó là Thị đội Long Xuyên, liên tiếp lập được nhiều chiến công ngay tại sào huyệt của địch và phối hợp lập thành tích trên các trận địa trong tỉnh. Tiêu biểu là các trận đánh vào Toà hành chính, Ty thông tin, căn cứ hải quân, cư xá Mỹ gây tổn thất lớn về lực lượng và tinh thần, làm cho bọn Mỹ ngụy bớt hung hăng. Trong chống Mỹ, quân và dân Long Xuyên đánh trên 100 trận lớn nhỏ, trong đó có 30 trận ở nội ô và vùng ven, diệt và làm bị thương, tan rã 2.660 tên địch (có 10 cố vấn Mỹ, hàng chục tên biệt kích Đại Hàn), thu 2.100 súng các loại, phá huỷ nhiều tàu chiến, đồn bốt. Trên 100.000 lượt quần chúng các giới xuống đường đấu tranh, biểu tình, bãi công, bãi khoá.
Góp phần to lớn vào thành công của Cách mạng Tháng Tám và giải phóng miền Nam, hàng ngàn cán bộ, chiến sĩ và đồng bào yêu nước dã dũng cảm hy sinh hoặc góp phần xương máu cho cách mạng. Đảng bộ và nhân dân Long Xuyên tri ân 22 bà mẹ Việt Nam anh hùng, 1 đơn vị và 2 cá nhân được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, 643 liệt sĩ, 667 thương binh, 1.120 gia đình có công với cách mạng, góp phần mang lại độc lập cho dân tộc, thống nhất Tổ quốc.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đứng nước vô vàn khó khăn do trước kia là một thị xã tiêu thụ và phục vụ chiến tranh, kinh tế thấp kém, cộng với những tàn dư của chế độ cũ để lại trên 8.000 ngụy quân, viên chức rã ngũ và từ nơi khác về làm cho Long Xuyên gánh chịu hậu quả nặng nề, an ninh trật tự và tệ nạn xã hội rất phức tạp, trên 10.000 hộ phải cứu đói trong 6 tháng liền, kết cấu hạ tầng rất yếu kém, trên 4.000 căn nhà ổ chuột, 5.000 căn nhà trên sông rạch, đường sá lầy lội, ô nhiễm trầm trọng; trên 80% hộ dân không có điện, nước sạch để sử dụng. Trong khi đó Đảng bộ Long Xuyên lúc mới giải phóng chỉ có 25 đảng viên, ít lâu sau được chi viện thêm 34 đảng viên từ các nơi khác đến. Quá trình khắc phục hậu quả, ảnh hưởng nặng nề của chiến tranh chống Mỹ và chiến tranh biên giới Tây Nam, sự chống phá của các tổ chức phản cách mạng, lũ lụt lớn nhiều năm, dịch bệnh hoành hành làm cho nơi đây vốn đã khó khăn lại chồng chất thêm khó khăn.
Trước tình hình đó, xác định rõ trách nhiệm nặng nề trước nhân dân, đặc biệt là trên quê hương Bác Tôn kính mến, phải làm sao để xứng đáng với địa bàn trọng yếu của tỉnh và khu vực, Đảng bộ Long Xuyên đã nỗ lực tiếp thu, quán triệt các chỉ thị, nghị quyết của cấp trên, lãnh đạo, tổ chức thực hiện, phát động các phong trào cách mạng của nhân dân, vừa xây dựng vừa củng cố, nâng cao chất lượng và vai trò lãnh đạo của hệ thống chính trị, vừa cải tạo vừa xây dựng, phát triển, qua 8 nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ với 10 năm vượt khó trong thời kỳ cao cấp (1975 – 1985), 17 năm đổi mới (1986 – 2002) đã đạt được những thành tích to lớn, làm đổi thay căn bản và toàn diện các mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, an ninh quốc phòng trên quê hương Bác Tôn kính yêu.
Trước giải phóng Long Xuyên chỉ có vài trăm cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp hoạt động bấp bênh, nông nghiệp thì độc canh cây lúa, năng suất chỉ 3 tấn/ha/năm, đời sống nhân dân hoàn toàn lệ thuộc các nguồn viện trợ. Đến nay Long Xuyên đã hình thành cơ cấu kinh tế đa dạng, sản phẩm phong phú, từ khi đổi mới đến nay đều đạt mức tăng trưởng kinh tế xấp xỉ 10%/năm, năm cao nhất trên 14%, tỷ trọng công nghiệp - xây dựng tăng lên 26%, dịch vụ 66%, nông nghiệp giảm còn 8%. Đến cuối năm 2002 giá trị sản phẩm nông nghiệp đạt 33 triệu đồng/ha, giá trị tổng sản phẩm xã hội bình quân đạt 9.3 triệu đồng/người, thu ngân sách Thành phố 103 tỷ đồng. Hộ nghèo từ 25% năm 1995 đến nay giảm còn 2,7%. Nhiều mô hình sản xuất kinh doanh hiệu quả cao, khí thế thi đua làm giàu, chuyển đổi cơ cấu kinh tế… diễn ra sôi nổi khắp các lĩnh vực, các phường, xã.
Được sự hỗ trợ, giúp đỡ của tỉnh cộng với tinh thần chủ động, tự lực tự cường khai thác, đẩy mạnh xã hội hoá lĩnh vực cải tạo, xây dựng, phát triển đô thị đã làm thay đổi căn bản bộ mặt thành phố quê hương Bác Tôn, nhất là trong 10 năm gần đây. Theo quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi tiết, Long Xuyên đã di dời, giải toả, sắp xếp gần 10.000 căn nhà (trong đó có gần 4.000 nhà trên sông rạch, số còn lại ở các khu ổ chuột, như vi phạm lộ giới, nhà ở các khu quy hoạch...), xây dựng 19 khu dân cư mới, ổn định chỗ ở cho 6.500 hộ dân với điều kiện sinh hoạt khá tốt. Những năm qua, từ ngân sách nhà nước và các nguồn khác, mỗi năm thành phố đã đầu tư khoảng 100 tỷ đồng xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế và phúc lợi xã hội. Ngoài ra tỉnh đầu tư hàng chục tỷ đồng mỗi năm cho các công trình xây dựng cơ bản trên địa bàn. Từ đó hệ thông đường nội ô, trường học, khu lưu niệm Bác Tôn, các công trình văn hoá - giải trí… nay đã tương đối khang trang. Tượng đài Chủ tịch Tôn Đức Thắng, thể hiện lòng tự hào và tấm lòng của người dân An Giang, đã được dựng ở trung tâm thành phố.
Lĩnh vực văn hoá - xã hội ở Long Xuyên cũng có nhiều tiến bộ. Long Xuyên đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học từ năm 1995, đến nay có 4 phường đạt chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, 1 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá phát triển sớm với nhiều mô hình phong phú. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hạ xuống còn 1,2%, trẻ em suy dinh dưỡng còn 19%, trên 90% hộ dân cư sử dụng nước sạch, có điện thắp sáng, xử lý rác đúng quy định. Các phường xã đều làm tốt công tác chính sách, hầu hết đối tượng chính sách có mức sống tương đối khá, phong trào từ thiện, xây nhà tình thương phát triển sâu rộng (mỗi năm huy động trên 1 tỷ đồng), hầu hết các nhóm ấp đều không còn tội phạm và tệ nạn xã hội nghiêm trọng.
Hệ thống chính trị từ thành phố đến cơ sở lớn mạnh nhanh. Tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận và các đoàn thể luôn được tăng cường về cả lượng và chất, đủ sức đảm đương nhiệm vụ lãnh đạo địa phương vươn lên trước tình hình mới. Đảng bộ thành phố đến nay có 2.600 đảng viên, sinh hoạt ở 43 cơ sở đảng, gấp 45 lần so với ngày đầu giải phóng; tất cả các khóm ấp đều có chi bộ, các trường học, lực lượng công an, quân sự phường - xã đều có chi bộ hoặc tổ đảng. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của cơ sở đảng và chi bộ ngày càng tốt hơn, đảng viên gắn bó với địa bàn dân cư, được nhân dân tín nhiệm. Đội ngũ cán bộ chủ chốt của thành phố và dưới cơ sở hầu hết đều tốt nghiệp đại học chuyên ngành, tốt nghiệp cử nhân hoặc cao cấp lý luận chính trị.
Trên nền phát triển chung của cả nước, xã Mỹ Hoà Hưng, quê hương Bác Tôn từ một vùng đất cù lao nghèo khó, tối tăm, lầy lội, đang chuyển mình tiến lên giàu có, văn minh. Nơi đây hiện là điển hình về chuyển dời cơ cấu kinh tế nông nghiệp với mô hình đa dạng; lúa chất lượng cao, rau sạch, vườn du lịch sinh thái, nuôi bò, cá bè, nuôi tôm ven bãi bồi... nâng giá trị sản phẩm lên 35 triệu đồng/ha/năm. Đường giao thông thuận tiện, sạch sẽ, không còn bị ngập lũ, lưới điện quốc gia phủ khắp xã. Hầu hết các ấp đề đạt tiêu chuẩn là ấp văn hoá, sinh hoạt văn hoá phong phú. Khu lưu niệm Chủ tịch Tôn Đức Thắng được mở rộng, đầu tư thêm nhiều công trình từ năm 1998 trên diện tích 6 ha, kinh phí gần 20 tỷ đồng. Mỗi dịp lễ tết và cả ngày thường, Cù lao ông Hổ trở thành điểm tham quan hấp dẫn cho nhân dân thành phố cũng như du khách trong và ngoài nước.
Thành tựu đạt được hơn 73 năm qua của Đảng bộ và nhân dân Long Xuyên, do đóng góp của nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố rất quan trọng là có động lực tinh thần to lớn từ truyền thống cách mạng, sự tôn kính, tình cảm và lòng tự hào của nhân dân Long Xuyên đối với Bác Tôn. Từ việc học tập, thực hiện những lời dạy của Bác Hồ và Bác Tôn tạo nên truyền thống, bản lĩnh, sức mạnh của Đảng bộ để vượt qua khó khăn, giành thắng lợi. Nhân dân quê hương Bác Tôn đã rút ra bốn nhân tố, đồng thời là bốn kinh nghiệm quý giá: Thứ nhất, đoàn kết thống nhất. Đây là nguồn lực to lớn, xuyên suốt, đã gắn kết các tầng lớp cán bộ, giữa cán bộ đương chức và hưu trí, giữa Đảng với các tầng lớp nhân dân, tạo thành một khối keo sơn, bền chặt. Thứ hai, kiên định vững vàng. Trong mọi tình huống, cấp uỷ và cán bộ, đảng viên luôn kiên định quan điểm, lập trường, bình tĩnh, không dao động trước sự đàn áp, khủng bố của kẻ thù trước kia và các trở ngại trên bước đường phát triển hiện nay. Thứ ba, sâu sát với quần chúng, luôn gần gũi, lắng nghe tôn trọng, học tập ở nhân dân để đề ra chủ trương, nghị quyết đúng đắn, tìm được giải pháp tốt khắc phục khó khăn. Thứ tư, năng động, sáng tạo, không chùn bước trước thử thách, ngay cả trong thời kỳ đánh Mỹ, cũng như xây dựng phát triển kinh tế hiện nay luôn có những phương thức mới và hiệu quả.
Quyết tâm đi theo con đường độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - con đường do Bác Hồ và Bác Tôn đã chọn - Đảng bộ và nhân dân Long Xuyên rất trân trọng thành quả đạt được. Trước yêu cầu của tình hình, để tiếp tục phát triển nhanh, thành phố đã có quy hoạch tổng thể đến năm 2010 – 2020, xúc tiến nhanh quy hoạch chi tiết phủ kín các khu vực nhằm đẩy nhanh tốc độ đô thị hoá. Trước mắt từ năm 2001 đến năm 2005, phấn đấu giữ vững tăng trưởng kinh tế bình quân 11%/năm, tổng vốn đầu tư xã hội 5.800 tỷ đồng. Đến năm 2005, GDP bình quân/người đạt 12 tỷ đồng, cơ bản không còn hộ nghèo, hoàn thành nâng cấp đường giao thông nông thôn và hẻm dân cư, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở, thực hiện đạt các tiêu chí để được công nhận là đô thị loại 2, tạo bước phát triển mới trên bước đường xây dựng thành phố quê hương Bác Tôn giàu đẹp và văn minh.
_________
* Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Phó Bí thư Thành uỷ Thành phố Long Xuyên.
Nhớ lại lần kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20-8-1888 – 20-8-1988) NGUYỄN MINH ĐÀO *
Từ sau năm 1988, đúng vào dịp nhân dân ta chào mừng Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, ngày 20-8 hàng năm, nhân dân An Giang đều có những hình thức tổ chức lễ kỷ niệm ngày sinh Bác Tôn Đức Thắng. Với niềm kính trọng vị lãnh tụ bình dị và vĩ đại của dân tộc, người bạn chiến đấu thân thiết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm nay được sự chỉ đạo của Trung ương, Đảng bộ và nhân dân An Giang tổ chức trọng thể lễ kỷ niệm 115 năm ngày sinh của Bác Tôn (20-8-1888 - 20-8-2003).
Trong không chí khẩn trương chuẩn bị cho ngày hội lớn của tỉnh, chúng tôi không thể nào quên lần đầu tới An Giang tổ chức lễ kỷ niệm 100 ngày sinh Bác Tôn Đức Thắng (20-8-1888 - 20-8-1988). Vì lúc đó (đầu năm 1987) chưa nhận được sự chỉ đạo của Trung ương nên trong cuộc họp Ban Thường vụ Tỉnh uỷ còn có những băn khoăn như Ban Bí thư có đồng ý cho tổ chức hay không? Kinh phí tổ chức lấy từ nguồn nào? Quy mô tổ chức ra sao cho tương xứng với vị trí Bác Tôn v.v.. Tuy có khó khăn nhiều mặt nhưng trước tấm lòng thiết tha của các tầng lớp nhân dân, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quyết tâm tổ chức lễ kỷ niệm trọng thể, ra Thông tư số 06/TT-TU ngày 13-3-1987 về việc "Chuẩn bị kỷ niệm 100 năm ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20-8-1888 - 20-8- 1988) với những nội dung cụ thể là:
1. Sưu tầm, biên soạn những sự kiện về cuộc đời và hoạt động của Bác Tôn.
2. Sưu tầm các bài viết trong và ngoài nước nói về Bác Tôn và những hồi ức của những người gần gũi Bác.
3. Trùng tu ngôi nhà cũ của Bác Tôn và xây nhà lưu niệm Bác tại xã Mỹ Hoà Hưng.
Các nhiệm vụ trên được giao cho Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Sở Văn hoá - Thông tin, Hội Văn nghệ, Thị uỷ Long Xuyên và chi bộ xã Mỹ Hoà Hưng tổ chức thực hiện.
Quả thực đây là một trách nhiệm hết sức nặng nề đối với Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ cũng như các cơ quan hữu trách lúc bấy giờ. Mọi việc hầu như bắt đầu từ con số không: ngôi nhà thời niên thiếu của Bác xuống cấp trầm trọng; mặt bằng xây dựng nhà lưu niệm chưa có; các tài liệu, sách báo viết về Bác Tôn trong tỉnh quá thiếu… mà thời gian chuẩn bị thì không được nhiều. Với tinh thần Thông tư: "Tỉnh ta sẽ tổ chức trọng thể ngày kỷ niệm này nhằm giáo dục cán bộ, đảng viên và nhân dân trong tỉnh tấm gương chiến đấu, hy sinh và đạo đức cách mạng cao cả của Người…”, chúng tôi động viên nhau “vừa chạy vừa mặc áo” thực hiện cho được những nhiệm vụ Tỉnh uỷ giao phó để đền đáp công ơn to lớn mà Bác Tôn đã mang lại cho quê hương, đất nước.
Tôi lúc bấy giờ là Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ An Giang, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ được giao nhiệm vụ Trưởng ban chỉ đạo lễ kỷ niệm, nên trong lòng rất lo lắng vì phải trực tiếp lãnh đạo cùng một lúc nhiều công việc, trong đó có những việc chưa quen. Thời gian đầu chúng tôi bám vào ba nhiệm vụ của Thông tri nên chưa thành lập các bộ phận chuyên trách, chỉ phân công thực hiện theo chức năng chuyên môn của từng đơn vị. Có thể nói, nhiều việc chúng tôi làm trong năm 1987 chưa phối hợp thật nhịp nhàng vì đây là lần đầu tiên An Giang chuẩn bị cho một cuộc lễ, mà nói theo ngôn từ ngày nay là "có quy mô tầm cỡ quốc gia”. Rất mừng là đội ngũ cán bộ chuyên môn tuy không nhiều nhưng rất nhiệt tình, năng nổ, nhất là anh em của Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ, Bảo tàng tỉnh, Hội Văn nghệ tỉnh, Thị uỷ Long Xuyên đã đóng góp nhiều ý kiến về công việc chuyên môn cũng như tổ chức kịp thời giải quyết các vấn đề phát sinh. Qua đầu năm 1988, những phần việc chuyên môn dần dần định hình, đáp ứng được yêu cầu mở rộng quy mô các hạng mục công trình theo nguyện vọng của nhân dân trong tỉnh và tỉnh bạn.
Trước hết là việc trùng tu ngôi nhà thời niên thiếu của Bác Tôn, là di tích lịch sử cấp quốc gia được công nhận vào ngày 15-9-1984, đã được hoàn thành sớm nhất bởi sự chăm chút của Giáo sư Lâm Bình Tường, một nhà Bảo tàng học nổi tiếng của nước ta, cũng là con em của quê hương An Giang. Ông quan sát tỉ mỉ từng vết nứt trên thân cột nhà bằng cây tràm có tuổi đời trên trăm năm; từng viên ngói lợp âm dương đầy rêu xanh vì năm tháng..., ghi ghi, chép chép vào sổ tay. Dù tuổi đã cao, nhà ở tận thành phố Hồ Chí Minh nhưng ông thường xuyên về Mỹ Hoà Hưng trực tiếp chỉ huy công nhân thực hiện công việc phục chế cho đúng quy trình công nghệ bảo tồn bảo tàng.
Việc xây dựng nhà lưu niệm gặp nhiều khó khăn, phức tạp vì phải “vừa thiết kế vừa thi công”: từ việc xác định vị trí, quy mô của mặt bằng để san lập những đìa, hầm, mương đầy nước cho đến việc định hướng hình thức, vật liệu xây dựng ngôi nhà như thế nào để phù hợp với cảnh quan khu di tích; từ việc thiết kế, tập kết vật tư, thi công nhà lưu niệm cho đến việc mở đường, xây cầu, kéo điện ở xã Mỹ Hoà Hưng… là những hạng mục mới phát sinh, hầu như phải thực hiện song song với nhau. Ngay cả việc xác định ai là chủ đầu tư công trình xây dựng thì cho đến tháng 3-1988 mới có quyết định chính thức thành lập Ban quản lý công trình do các thành viên của Uỷ ban nhân dân thị xã Long Xuyên chịu trách nhiệm với sự tham gia của Sở Văn hoá - Thông tin, Uỷ ban nhân dân xã Mỹ Hoà Hưng. Có thể nói, vào những giờ phút sau cùng thì nhà lưu niệm mới hoàn thành phần trang trí nội thất. Vì vậy, đến chiều ngày 19-8-1988 các hiện vật, hình ảnh về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Tôn mới được chuyên chở từ Bảo tàng An Giang qua và cấp tốc trưng bày ngay trong đêm để kịp ngày mai tổ chức khánh thành.
Công tác sưu tầm tài liệu, hiện vật, đặt bài viết về Bác Tôn gặp không ít khó khăn vì phải đi nhiều nơi, gặp nhiều người, tốn nhiều thời gian, công sức. Rất may là chúng tôi nhận được sự nhiệt tình đóng góp của các bậc lão thành cách mạng, các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu lịch sử, nhà bảo tàng... trong và ngoài tỉnh nên nhiều đầu sách về Bác ra đời đúng kế hoạch với nhiều thể loại: nghiên cứu, tiểu thuyết, thơ, truyện ký, chuyên đề… như các tập Người thợ máy Tôn Đức Thắng, Người thuỷ thủ già trên hòn đảo lưu đầy, Bác Tôn của chúng ta, Ánh lửa Ba Son, Chủ tịch Tôn Đức Thắng v.v..
Đến giữa năm 1988, mọi việc chuẩn bị cho lễ kỷ niệm tưởng chừng gói gọn theo nội dung Thông tri của Tỉnh uỷ, thì xuất phát từ những yêu cầu tha thiết của nhiều cá nhân, đơn vị, địa phương có tình cảm sâu đậm với Bác Tôn, quy mô của cuộc lễ ngày càng mở rộng với nhiều hình thức phong phú, sinh động như tổ chức hội thảo khoa học để làm sáng tỏ hơn các sự kiện lịch sử về cuộc đời và sự nghiệp của Bác Tôn Đức Thắng, và những phẩm chất cao quý của Người; tổ chức cuộc đua xe đạp Thành phố Hồ Chí Minh - Mỹ Tho - Vĩnh Long - Cần Thơ - Long Xuyên - Thành phố Hồ Chí Minh; các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao quy tụ đông đảo lực lượng nghệ sĩ, vận động viên trong khu vực tham dự.
Càng gần đến ngày lễ, công việc chuẩn bị vô cùng khẩn trương khiến Ban chỉ đạo chúng tôi phải động viên anh em các cơ quan, đơn vị có liên quan làm thêm ban đêm mới chạy kịp với thời gian. Ngày 02-8-1988 tại Uỷ ban nhân dân tỉnh, Ban chỉ đạo họp mở rộng các ngành có liên quan để rà soát lần cuối các công việc chuẩn bị cho buổi lễ. Trong cuộc họp này đã quyết định thành lập Ban tổ chức lễ kỷ niệm và các tiểu ban: Tiếp tân, Khánh tiết, Nội dung, Hội thảo, Bảo vệ, Sinh hoạt chính trị…
Từ ngày 1-8-1988, An Giang hân hoan đón mừng hàng trăm vị khách quý về tham gia hội thảo, dự míttinh, tham quan khu lưu niệm Mỹ Hoà Hưng. Đêm 10-8-1988, trên đường phố thị xã Long Xuyên có hàng chục ngàn người dân An Giang và các tỉnh Đồng Tháp, Kiên Giang, Cần Thơ về đây hân hoan vui chơi chờ đón ánh pháo bông do nghệ nhân của Long Xuyên tự chế tạo, bừng sáng trên bầu trời.
Hôm nay ngồi nhớ lại, chúng tôi thấy rằng những vất vả, lo toan cho việc tổ chức lễ kỷ niệm đầu tiên đó đã mang lại những hiệu quả to lớn cả về mặt tinh thần lẫn vật chất. Cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong và ngoài tỉnh có sự hiểu biết nhiều hơn, rõ hơn về cuộc đời sự nghiệp và tấm gương đạo đức sáng ngời của Bác Tôn để học tập, rèn luyện. Đối với Mỹ Hoà Hưng - quê hương của Bác, không chỉ có khu di tích mà trong dịp này đã có cầu, đường khang trang và điện lưới quốc gia vượt qua sông Hậu, xoá bỏ ánh đèn tù mù hàng trăm năm qua tên đất Cù lao ông Hổ. Cũng từ đó, Mỹ Hoà Hưng ngày càng thay da, đổi thịt để trở thành khu tham quan, du lịch "về nguồn" nổi tiếng ở miền Tây Nam Bộ.
Lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh Bác Tôn năm 1988 thành công là một cố gắng lớn của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân An Giang mong hoàn cảnh có nhiều khó khăn. Thành công đó có những đóng góp không nhỏ của các bậc lão thành cách mạng, các nhà sử học, nhà nghiên cứu, nhà báo, các văn nghệ sĩ. Ở Trung ương, Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh bạn như các đồng chí Dương Quang Đông, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Hoan, Nguyễn Sô, Trần Hữu Nghiệp, Lâm - Bình Tường, Phạm Xanh, Đào Phiếu, Đặng Hoà, Nguyên Thành, Đức Vượng, Nguyễn Linh, Văn Tạo, Vũ Lân, Viễn Phương, Mai Văn Tạo, Nguyễn Quang Sáng, Bảo Định Giang, Trần Thanh Phương, Đoàn Giỏi, Lê Minh... giúp chúng tôi có những bài viết, những báo cáo giá trị để Ban Tuyên giáo Tỉnh uỷ An Giang xuất bản tập kỷ yếu hội thảo về Bác Tôn mang tên Một con người bình thường - vĩ đại vào năm 1989.
Chúng tôi cũng không quên sự hỗ trợ của Nhà xuất bản Sự thật Hà Nội (nay là Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) đã chủ động liên kết với địa phương, kịp thời xuất bản cuốn sách Bác Tôn (1888-1980) Cuộc đời và sự nghiệp làm tài liệu học tập, tuyên truyền trong cả nước lúc bấy giờ; của Xí nghiệp Ba Son đóng tặng An Giang chiếc ca nô theo nguyên bản chiếc ca nô Bác lái từ Côn Đảo về Sóc Trăng ngày 23-8-1945 cũng như hỗ trợ một phần chi phí cho cuộc đua xe đạp mà sau này trở thành cuộc đua truyền thống Cúp Đồng bằng Sông Cửu Long. Ngoài ra còn có sự đóng góp nhiệt tình của các cơ quan, đơn vị những địa phương có in dấu hoạt động của Bác Tôn như Thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Sóc Trăng, Vũng Tàu - Côn Đảo, Tiền Giang, Thủ đô Hà Nội, v.v.. Và chúng tôi cũng không bao giờ quên công sức của cán bộ, công nhân, viên chức, chiến sĩ các cơ quan, đơn vị, địa phương trong và ngoài tỉnh đã đóng góp cho sự thành công của buổi lễ kỷ niệm ngày sinh Bác Tôn đầu tiên trên đất An Giang năm 1988 cho dù hiện nay, nhiều đồng chí đã nghỉ hưu, từ trần, chuyển ngành hay chuyển công tác.
Với tấm lòng trân trọng công lao xương máu của các bậc tiền nhân, cứ mỗi dịp tháng tám hàng năm trở về, Đảng bộ và nhân dân An Giang lại mở đợt học tập về tấm gương đạo đức, về tình bạn thân thiết của Bác Hồ và Bác Tôn... để nêu quyết tâm "Xây dựng quê hương An Ciang giàu mạnh theo con đường Bác Hồ, Bác Tôn đã chọn”.
________
* Nguyên Phó Bí thư Tỉnh uỷ An Giang
Côn Đảo với những kỷ niệm về Bác Tôn Hứa Phước Ninh*
Chủ tịch Tôn Đức Thắng - người đồng chí, người bạn chiến đấu thân thiết, gần gũi và đáng kính của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác Tôn đã trọn một đời chiến đấu, hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Bác Tôn đã có 17 năm bị tù đày trong Khám lớn Sài Gòn và địa ngục Côn Đảo. Năm tháng cứ thế trôi qua nhưng mảnh đất Côn Đảo vẫn mãi khắc ghi về những kỷ niệm cao đẹp một thời của người cộng sản kiên trung, bất khuất và mẫu mực như Bác Tôn kính mến.
Chủ tịch Tôn Đức Thắng sinh ngày 20-8-1888 tại An Giang. Cuối năm 1929, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn. Tháng 6-1930, địch kết án Bác 20 năm tù khổ sai và đày ra Côn Đảo. Vào thời điểm này, nhà tù Côn Đảo có gần 2.000 tù nhân, trong đó có khoảng 300 người mang án tù chính trị bị chúng giam ở Banh II, riêng Bác Tôn bị chúng giam ở Banh I cùng với hơn 1.000 tù án khổ sai, trong đó có nhiều người hoạt động chính trị thuộc các đảng phái khác nhau như Việt Nam Quốc dân Đảng, Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, đảng viên Đảng Cộng sản và các xu hướng chính trị khác. Năm 1932, số tù nhân ở Côn Đảo tăng lên trên 2.000 người, phần lớn là những đảng viên Đảng Cộng sản bị địch bắt giữ trong Cao trào 1930-1931. Trước yêu cầu tiếp tục hoạt động của những đảng viên cộng sản, Chi bộ nhà tù Côn Đảo được thành lập tại Banh I năm 1932, trong đó nhờ có sự hoạt động tích cực của đồng chí Nguyễn Hới, Tống Văn Trân, Tạ Uyên…, và đồng chí Tôn Đức Thắng. Sau chuyến tàu đày những người vừa bị địch xử lý trong vụ án "Đảng Cộng sản Đông Dương" ra Côn Đảo ngày 4-5-1933, Chi uỷ Chi bộ nhà tù tiếp tục được bổ sung thêm nhiều đồng chí có năng lực cao như Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Nguyễn Chí Diểu, Trần Quang Tặng… Đồng chí Ngô Gia Tự được cử làm Bí thư Chi bộ, Bác Tôn được Chi uỷ cử phụ trách Hội tù nhân.
Cuối năm 1932, Bác Tôn bị chúng phạt giam ở Hầm xay lúa. Xay lúa là một công việc quen thuộc với nông dân Việt Nam. Nhưng tại nơi đây bọn Chúa ngục Côn Đảo đã biến nó thành một hình phạt đối với tù nhân. Tù nhân bị nếm hình phạt này thì chỉ đôi ba tháng là kiệt sức, toét mắt và mang bệnh lao phổi. Bởi vậy nên Hầm xay lúa được mệnh danh là "nhà tù trong nhà tù, địa ngục trong địa ngục".
Vào thời kỳ này, thực dân Pháp chọn những tên lưu manh “loại anh chị” làm cặp rằng (caporal: cai tù) để tiếp tay cho chúng áp bức bóc lột tù nhân. Bọn này tập hợp lũ đàn em, toàn những tay "dao búa" sử dụng "luật giang hồ" bắt tù nhân trong kíp phải phục tùng theo lệnh chúng. Trong khám, chỗ nào thoáng mát chúng nằm, có miếng ăn tươi chúng giành, công việc nặng nhọc chúng bắt người khác làm. Cặp rằng ở Hầm xay lúa lại còn dữ dằn hơn các chỗ khác. Trong tình thế khó khăn, Bác Tôn đã cùng với anh em tù chính trị vô hiệu hoá chế độ cặp rằng, tập hợp đoàn kết lực lượng tù nhân, bất kể là tù nhân thuộc diện nào. Đó chính là bước khởi đầu cho việc đoàn kết, tập hợp lực lượng, tổ chức tù nhân thành đội ngũ, chuẩn bị cho cao trào đấu tranh cải biến chế độ lao tù trong những năm tiếp theo. Mãn hạn phạt ở Hầm xay lúa, Bác Tôn được ra lao động khổ sai ở bên ngoài, tranh thủ sự sơ hở của địch, Bác tạo dựng và giữ đầu mối thông tin liên lạc với đất liền qua đó, Chi bộ nhà tù tiếp nhận được nhiều thông tin và sách báo mang tính lý luận quan trọng.
Sau hàng loạt cuộc đấu tranh và vượt ngục của tù nhân, tháng 3-1935, Thống đốc Nam Kỳ ra lệnh cấm cố toàn bộ số tù chính trị đang làm ở các sở ngoài vào Banh I. Bác Tôn cũng bị đưa vào cấm cố ở tại Khám 8. Đây là thời kỳ học tập lý luận và hoạt động sôi nổi, đi vào chiều sâu của tù chính trị Banh I. Bác Tôn rất tâm đắc với sách lược đấu tranh linh hoạt, phong phú và mềm dẻo mà Đảng ta chủ trương trong thời kỳ mặt trận dân chủ. Những vấn đề lý luận học được ở trong tù và kinh nghiệm tổ chức Công hội đỏ ở Sài Gòn cũng như thực tiễn đấu tranh của Hội tù nhân Côn Đảo đã giúp Bác Tôn rất nhiều khi trở thành người lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước ta sau này.
Cũng là một cựu tù chính trị Côn Đảo, trong lần trở lại thăm Côn Đảo vào ngày 27-8-1976, đồng chí Lê Duẩn đã nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Côn Đảo về Bác Tôn: Bác Tôn bị tù đày ở Côn Đảo 15 năm nhưng lúc nào cũng lạc quan, yêu đời. Đó là một chiến sĩcách mạng không bao giờ và không gì lay chuyển được, một con người hết sức nhiệt thành, trung thực, quên mình, nay đã tuổi 88 rồi mà luôn nhẹ nhàng, thanh thản. Tuổi già vậy mà Bác luôn trẻ, đối với kẻ thù thì bất khuất, đối với anh em thì thương yêu vô cùng, có cọng rau, củ lạc cũng chia sẻ cho nhau. Nay Bác là Chủ tịch nước, vậy mà tình nghĩa với anh em cùng ở tù ngày trước vẫn như xưa, không khác chút nào hết. Đến nay, khi gặp nhau nói chuyện, Bác vẫn yêu cầu chúng tôi phải xưng hô với Bác như ngày còn ở trong tù vậy, xưng hô khác là Bác không chịu đâu”.
Sau ngày giải phóng, nhà tù Côn Đảo từng bước được trùng tu, tôn tạo, bảo vệ và tổ chức phát huy giá trị của một Khu di tích lịch sử đặc biệt quan trọng của quốc gia. Do vậy, ngay sau khi Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo được thành lập (30-5-1979), trong một công văn đề ngày 20-01-1980, đồng chí Lê Quang Thành, nguyên Bí thư Đặc khu uỷ thay mặt Ban Thường vụ Đặc khu báo cáo với Bác Tôn, Chủ tịch nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam rằng: “Ngoài nhiệm vụ phát triển kinh tế và quốc phòng, Đảng bộ và nhân dân Đặc khu còn có trách nhiệm nặng nề là phải xây dựng Vũng Tàu - Côn Đảo, nhất là Côn Đảo thành một bảo tàng cách mạng. Đây là một công việc lớn lao, phải có sự đóng góp của các ngành, các cấp, đồng bào đồng chí trong cả nước, nhưng chúng ta xác định sự nỗ lực chủ quan của mình là quan trọng… Chúng cháu quyết định làm một số việc thiết thực cho Khu bảo tàng cách mạng Côn Đảo, trong đó có việc sưu tầm hồi ký, bút tích, lời phát biểu của các đồng chí đã từng bị giam cầm, đày ải tại Côn Đảo. Bắt tay vào việc này, chúng cháu nhớ ngay đến Bác Tôn kính yêu, người đồng chí cộng sản nhiều tuổi, một trong những người tù cộng sản đầu tiên bị địch giam cầm lâu nhất tại Côn Đảo, đã để lại nhiều kỷ niệm sâu sắc tại ngục tù nổi tiếng năm xưa, nhưng mai đây nhân dân ta sẽ xây dựng thành viên ngọc quý của đất nước như đồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn đã chỉ thị”.
Thực hiện lời hứa trên đây, Đảng bộ và nhân dân Đặc khu Vũng Tàu - Côn Đảo nói chung và Côn Đảo nói riêng đã từng bước đưa các hoạt động bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của Khu di tích lịch sử cách mạng nhà tù Côn Đảo đi vào nền nếp, tích cực sưu tầm các tư liệu, hiện vật, tổ chức trùng tu tôn tạo các khu, các điểm di tích tương xứng với giá trị lịch sử của nó, đặc biệt với các điểm di tích là nơi giam cầm, đày ải Bác Tôn trong những tháng năm tại ngục tù Côn Đảo. Tất cả các địa điểm đó đều được lưu giữ một cách trân trọng, nhất là các điểm như Hầm xay lúa (trại II), Sở lưới, v.v..
Để tỏ lòng ghi nhớ công lao của Bác Tôn cũng như ghi nhớ những kỷ niệm của Bác Tôn tại Côn Đảo, Đảng bộ và nhân dân Côn Đảo đã lấy tên Bác đặt cho một con đường - đường Tôn Đức Thắng - con đường đẹp nhất Côn Đảo hiện nay. Trong thời gian tới, lãnh đạo huyện Côn Đảo sẽ triển khai thực hiện chủ trương: Phối hợp với Bảo tàng Tôn Đức Thắng ở Thành phố Hồ Chí Minh hình thành một phòng lưu niệm về Bác Tôn, đồng thời thực hiện dự án cải tạo, nâng cấp công viên Bác Tôn trên đường Tôn Đức Thắng và đặt ở đây một tượng đài Bác Tôn với hy vọng các công trình này sẽ góp phần giáo dục, nhắc nhở các thế hệ nhân dân Côn Đảo và du khách đến Côn Đảo có thêm hiểu biết về công ơn trời biển của Bác Tôn ngay trên mảnh đất Côn Đảo thiêng liêng này.
___________
* Bí thư Huyện uỷ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện Côn Đảo
15 năm - Một chặng đường TRẦN THỊ THUÝ PHƯỢNG*
Vâng, đúng là một chặng đường đầy gian nan vất vả, không có hoa hồng.
Nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người - 20-8-1988 - Nhà trưng bày cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng ra đời. Sau đó hai năm đã được Bộ Văn hoá quyết định đổi tên thành Bảo tàng Tôn Đức Thắng.
Năm 1988 - xã hội đang ở vào thời điểm nhạy cảm của bước chuyển mình, đang phải chịu đựng thử thách nghiệt ngã của cơ chế thị trường. Sự mở cửa giao lưu rộng rãi, sự cám dỗ của vật chất tạo ra một cơn lốc xoáy "kiếm tiền" như đẩy xã hội đi xa giá trị vốn có xuất hiện một số người sẵn sàng quay lưng lại quá khứ - truyền thống tốt đẹp, đánh mất lòng tự hào dân tộc. Đã vậy cho đến 10 năm sau ngày Bác Tôn mất, việc thành lập Bảo tàng của Người mới được tiến hành, nên khó khăn là điều khó tránh khỏi. Dẫu biết rằng, cuộc đời hoạt động cách mạng của Bác Tôn là một bài ca về chủ nghĩa anh hùng yêu nước đã để lại một vết son chói lọi trong trang sử vàng dân tộc. Là một người con rất ưu tú của Tổ quốc đã cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng đất nước. Là một tấm gương sáng về đạo đức cách mạng, cần, kiệm, liêm, chính, cho muôn đời sau noi theo. Chúng ta có thể kể lại cuộc đời và sự nghiệp của Người cũng như diễn tả những tình cảm kính phục, yêu thương đối với Bác Tôn hết ngày này qua tháng nọ. Hoặc có thể viết hàng ngàn trang sách về Bác nhưng bằng ngôn ngữ của Bảo tàng để thể hiện cho được “chất Tôn Đức Thắng" là một điều cực kỳ khó.
Đã có không ít ý kiến băn khoăn: Có nên thành lập Bảo tàng này không? Bảo tàng sẽ hoạt động và phát triển ra sao?
Vốn liếng ban đầu là hai phòng trưng bày và vài chục hiện vật với đội ngũ cán bộ công chức đầy nhiệt tình và tâm huyết với nghề. Sự quyết tâm của lãnh đạo Thành phố Hồ Chí Minh và nguyện ước của nhân dân Thành phố đã gặp nhau ở một ý tưởng thật tuyệt vời đó là "Sự sống hôm nay và mai sau sẽ làm cho Bác Tôn của chúng ta trở thành bất tử" đã được khẳng định trong điếu văn do đồng chí Võ Văn Kiệt đọc tại lễ truy điệu Bác Tôn tại Thành phố Hồ Chí Minh (tháng 4-1980).
Do điều kiện khách quan nên hầu như hiện vật, tư liệu, tài liệu nằm phân tán khắp nơi, năm qua lực lượng cán bộ, công chức của Bảo tàng đã miệt mài lần theo dấu chân Bác Tôn đi khắp mọi miền đất nước để sưu tầm hiện vật tư liệu, tài liệu, hình ảnh… về Người. Đi đến đâu chúng tôi cũng nhận được những tình cảm hết sức quý báu - sự cảm thông và chia sẻ nỗi nhọc nhằn trong quá trình công tác. Có đi, có tiếp xúc mới thấy hết sức sống thật mãnh liệt của Bác Hồ - Bác Tôn trong tâm khảm mỗi người dân, nên dù phải đi lại nhiều lần nhưng chúng tôi vẫn say mê với công việc.
Đến nay Bảo tàng đã có được trên 10.000 hiện vật, tư liệu, tài liệu, hình ảnh được lưu giữ, bảo quản theo đúng quy định của Nhà nước.
Với hai phòng trưng bày lúc mới mở cửa, cho đến nay Bảo tàng đã có một hệ thống trưng bày thường trực gồm 7 phòng và hơn 10 lượt trưng bày các chuyên đề phục vụ nhiệm vụ chính trị, các ngày lễ lớn với phương pháp trưng bày ngày càng nâng cao đáp ứng yêu cầu của tình hình. Đó là các tổ hợp tái hiện lại những sự kiện lịch sử quan trọng; tổ hợp phục dựng lại một phần di tích hoặc trưng bày sưu tập có kết hợp âm thanh, ánh sáng làm tăng thêm sức hấp dẫn cho người xem.
Sẽ là một thiếu sót rất lớn nên chúng ta không đề cập những di tích lưu niệm của Người đã được hồi sinh và trở thành địa điểm sinh hoạt truyền thống của các địa phương trong những năm gần đây. Bởi là một nhân vật lịch sử trong cuộc đời mình có thể sống và làm việc ởnhiều nơi cho nên có nhiều di tích - do sức có hạn nên bước đầu chúng tôi lựa chọn những địa điểm gắn với sự kiện lớn, tiêu biểu rồi cùng địa phương phối hợp lập hồ sơ khoa học.
Đến nay có 12 tỉnh thành phố trong cả nước có di tích lưu niệm, có nhà trưng bày về cuộc đời và sự nghiệp, có nhà tưởng niệm Bác Tôn, và trong tương lai gần sẽ có thêm nhiều điểm nữa: Hà Nội, Hà Tây, Hải Phòng, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bình Thuận, Thành phố Hồ Chí Minh, Côn Đảo, Đồng Tháp, An Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ…
Đã thành thông lệ từ 15 năm qua, theo tập tục truyền thống của ông bà, cứ vào tháng Ba - lễ tưởng niệm Bác là dịp để cho nhiều thế hệ gặp gỡ, ôn lại những kỷ niệm về người công nhân Tôn Đức Thắng - niềm tự hào của dân tộc - là dịp để lớp người đi trước răn dạy lớp con cháu đang tiếp bước cha ông. Và Tháng Tám là ngày hội tưng bừng của giai cấp công nhân, của nhân dân Thành phố để báo công dâng Bác bằng nhiều hình thức sinh động, vui tươi. Đã có hàng ngàn đảng viên, đoàn viên, đội viên được kết nạp tại đây. Cùng với hệ thống thông tin đại chúng, bộ phim Viên ngọc Côn Sơn gồm 4 tập cùng với 3 phim tài liệu, phóng sự và 3 chương trình ca nhạc do Bảo tàng phát hành đã được chiếu rộng rãi và liên tục trong dịp lễ tết.
Con số trên 1.600.000 lượt khách tham quan đã đến với Bảo tàng có thể sẽ còn là rất nhỏ đối với một số nơi khác nhưng đó lại là kết quả của cả một chặng đường tự tìm hướng đi - khẳng định mình không có hoa hồng và nhiều nước mắt - Tại sao?
Chỉ xin nêu một việc: đó là việc sưu tầm hiện vật có liên quan đến Bác Tôn. Có đơn vị, có địa phương còn đang lưu giữ những hiện vật và chỉ để trong cho, bụi và mạng nhện phủ đầy năm này qua năm khác. Nhưng khi "đụng" vào thì chao ôi bỗng chốc trở thành "báu vật của địa phương" không cho được..., mặc dù có ý kiến của cấp lãnh đạo cao nhất. Thậm chí có những cơ quan cùng trong ngành - đó là điều day dứt xen lẫn ngậm ngùi của đội ngũ cán bộ công chức chúng tôi…
Nhu cầu tìm hiểu một cách sâu sắc hơn, đầy đủ hơn về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng của mọi tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước ngày một cao. Đáp ứng yêu cầu đó, vừa qua Bảo tàng đã được mở rộng thêm diện tích trưng bày do ngân sách của Thành phố để đáp ứng thêm một phần nhu cầu nói trên.
Chúng tôi còn thiếu kinh nghiệm trong hoạt động, dù đã có rất nhiều cố gắng cộng với sự giúp đỡ tận tình của các cấp lãnh đạo của các cơ quan hữu quan, của các bạn đồng nghiệp nhưng những gì đạt được vẫn chưa xứng với công lao to lớn của Bác Tôn. Chúng tôi không thoả mãn với thành tích nhiều năm liền đạt Bằng khen của Uỷ ban nhân dân Thành phố, của Bộ Văn hoá-Thông tin; Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ và Huân chương Lao động hạng Ba.
Trước đòi hỏi của tình hình mới, hôm nay, việc kế thừa truyền thống của những bậc tiền bối cách mạng để xây dựng và hoàn thiện nhân cách, nâng cao trình độ kiến thức, rèn luyện phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng là một điều cấp bách - mà như cố nhà văn Mai Văn Tạo đã nói "Cuộc đời của Bác Tôn không những là tấm gương trong sáng về đức độ, con người, về sự hy sinh và tinh thần chiến đấu giải phóng dân tộc; tinh thần quốc tế vô sản mà còn là bài học lớn lao về đạo lý, nhân bản mà bất cứ thời đại nào, thế hệ nào hôm nay và mãi mãi và sau luôn cần đến để rèn luyện nhân cách làm người".
Mười lăm năm - một chặng đường, Bảo tàng Tôn Đức Thắng đã khẳng định được vị trí của mình trong hệ thống bảo tàng cả nước, từng bước làm cho thân thế, sự nghiệp, nhân cách Tôn Đức Thắng như một viên ngọc quý được hun đúc bằng tình cảm, bằng tâm huyết của tất cả chúng ta ngày càng toả sáng long lanh hơn. Để Bác Tôn trở thành bất tử không chỉ là nhiệm vụ của chúng tôi mà là của tất cả chúng ta.
_______________
* Giám đốc Bảo tàng Tôn Đức Thắng.
Nhân - dũng một gương sáng của Bác Tôn DƯƠNG ÁI DÂN *
Trên mảnh đất Cù lao ông Hổ, giữa dòng sông Hậu hiền hoà, một vùng đất bồi phù sa màu mỡ, thuận lợi cho trồng trọt chăn nuôi, bên cạnh dòng nước ngọt có nhiều nguồn lợi cá tôm, đã tạo cho người dân nơi đây một cuộc sống sung túc. Cũng từ đó, gia đình Cụ ông Tôn Văn Đề và Cụ bà Nguyễn Thị Dị đã từ bàn tay và sức lao động xây đắp nên gia thế gọi là khá giả lúc bấy giờ. Cũng từ đây, năm 1888, cậu Hai Thắng chào đời là đứa con trai đầu lòng, chắc hẳn cậu được sự chăm sóc thương yêu của cha mẹ, chòm xóm và họ hàng - tuổi ấu thơ là như vậy. Đến tuổi đi học, cậu được cho sang bên ngoại ở rạch Cái Sơn - Long Xuyên để học chữ Nho với thầy Năm Khách - một nhà Nho tiến bộ chịu ảnh hưởng phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Thứ bảy, chủ nhật cậu về Mỹ Hoà Hưng sống với cha mẹ và thôn lân vui chơi cùng bè bạn. Từ đây cậu đã hấp thụ được nếp sinh hoạt làng quê "tối lửa tắt đèn có nhau” và một tính cách người Nam Bộ sống hoà nhập nghĩa tình, “đất đai rộng, thức ăn nhiều, không biết chứa cất…, tính quen chịu nóng, thích ăn vị mặn”, “Quân tử thì trọng trung nghĩa danh tiết”1… . Những khi nhà hoặc họ hàng có đám tiệc hay lễ hội đình làng cậu cũng được cha mẹ cho đi đến những nơi này để hiểu biết nếp sinh hoạt cộng đồng…, qua đó đã tạo nên tính cách nhân hậu, nghĩa tình, giản dị, yêu lao động. Từ nền tảng tính cách này lại được thầy Năm Khách chỉ dạy đạo lý Thánh hiền của tinh thần Nho học, lòng yêu nước, ý chí quật cường, sớm hình thành nơi cậu những bài học về người quân tử khí tiết, kẻ sĩ của Nho giáo: “kiến nghĩa bất vi vô dũng giả”, “Phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Tất cả đã chắp thêm cho cậu tính cách dũng cảm cùng với nhiệt tình tuổi trẻ tạo nên tính cách của cậu Hai Thắng thời niên thiếu. Khi học tiểu học, sẵn lòng vị tha, quên mình vì việc nghĩa, cậu thường giúp đỡ bạn học kém, bênh vực bạn quê bị ức hiếp, sẵn sàng đánh lại kẻ cậy thế làm càn. Lòng yêu nước, tính trung thực, sự khiêm tốn thuỷ chung với bè bạn, với người giúp mình là những tính tốt của cậu thời trẻ tuổi. Cuộc sống ở vùng Long Xuyên trong thời thực dân đô hộ, Hai Thắng luôn chứng kiến cảnh Tây miệt thị người bản xứ, những bóc lột áp bức mà người dân lao động phải gánh chịu. Tuy nhỏ nhưng những điều mắt thấy tai nghe và những bài học yêu nước của thầy Năm Khách đã hình thành trong cậu thái độ ghét Tây. Trường cậu học cũng do Đốc học Tây, khi thấy hai bạn học quỳ gối ngoài trời giữa nắng trưa vì tội hái mấy trái me sót lại trong vườn trường, cậu đã biểu lộ sự tức giận "mấy trái me lại quý hơn mạng con người sao?”2và đã rủ các bạn bỏ học, đây là một nghĩa cử đầy dũng khí của cậu học trò còn ở bậc tiểu học. Một lần khác, cậu chống lại thầy dạy bằng hành động "cạo trọc đầu” vì bị thầy giáo nắm tóc, cậu đã nói: "cái đầu của tôi là quyền của tôi”3, nếu không có dũng khí thì hẳn cậu đã không dám làm và rủ các học sinh bỏ học - một hình thức bãi khoá (ngày nay).
Năm 1906, tốt nghiệp tiểu học với tấm bằng sơ học yếu lược, với 200 đồng gia đình cho Bác lên Sài Gòn, thay vì theo học các trường đào tạo khi ra làm thầy thông, thầy ký hay bác sĩ, kỹ sư hoặc làm quan chức cho thực dân như một số người cùng thời, Bác đã không làm như vậy. Bác chọn nghề thợ để làm công nhân, điều này cho thấy Bác đã có một quyết định đầy dũng khí, bởi con đường sự nghiệp tương lai của kẻ làm thầy, làm quan sẽ thuận lợi nhiều hơn so với người thợ, cả về đời sống vật chất lẫn tinh thần.
Mặc dù, cha ông ta đã dạy “nhất nghệ tinh nhất thân vinh” song với điều kiện kinh tế - xã hội những năm đầu thế kỷ XX thì việc để một người thợ trở thành ông chủ quả là rất khó khăn, bởi số người thành đạt từ thợ trở thành ông chủ là con số rất ít ỏi. Điều đó đã thể hiện một nghị lực và dũng khí lớn của Bác trong việc quyết định cho tương lai sự nghiệp của cuộc đời mình.
Tiếp theo là các hoạt động của Bác trong giai cấp công nhân ở Sài Gòn, là người tổ chức các cuộc đình công của công nhân Ba Son và học sinh Trường Bách nghệ (1912) trong lúc chưa được tiếp xúc với đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam - đây cũng là hành động biểu hiện của ý chí và dũng lực, bởi thành công của cuộc đấu tranh sẽ mang lại lợi ích cho tập thể và cá nhân mình, nhưng nếu thất bại hay bị chủ cho là thành phần chống đối, thì nguy cơ mất việc, bỏ nghề là lẽ tất nhiên. Điều này hẳn Bác phải có sự suy nghĩ khi quyết định.
Một lần nữa, hành động dũng cảm của Bác được thể hiện khi tham gia phản chiến ở Biển Đen ủng hộ Cách mạng Tháng Mười và nước Nga Xôviết, phản ánh sự tự giác của cá nhân Bác mà về sau nói về sự kiện này Bác đã viết: "Tôi tin rằng bất kỳ người Việt Nam nào yêu nước, nhất là công nhân, được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen không thể hành động khác tôi”. Bác là người trao cờ đỏ phản chiến trên chiến hạm France - một việc làm vô cùng dũng cảm bởi đây cũng là giờ phút quyết định. Có thể nói là giữa cái sống và cái chết, vì nếu cuộc phản chiến thất bại và không được tổ chức chu đáo thì bọn chỉ huy chiến hạm có thể giết Bác tại chỗ mà không cần đến xét xử. Sau này khi bị tù ở Côn Đảo và lúc nhận làm "cặp rằng" ở Hầm xay lúa, nếu không có dũng khí, lòng nhân ái biết lo cho tù khổ sai và giác ngộ họ bằng lời lẽ chí tình, bằng hành động cụ thể chẳng hạn như: chịu đòn thay cho người yếu, chống bọn cai ngục ác ôn, giúp đỡ bạn tù, tổ chức thành lập Chi bộ trong nhà tù Côn Đảo… thì Bác không thể giác ngộ được những người tù từ đối nghịch với Bác chuyển sang phục tùng Bác. Một việc không thể không kể đến là khi Bác sang Liên Xô nhận Giải thưởng Lênin vì hoà bình và hữu nghị giữa các dân tộc - một giải thưởng của Uỷ ban Giải thưởng hoà bình quốc tế Lênin do Liên Xô thành lập để xét tặng cho những người có công đóng góp cho phong trào hoà bình thế giới. Giải thưởng gồm một tấm bằng và 100.000 rúp. Ngoài ra, khi đến Liên Xô phía bạn còn tặng Bác Tôn 10.000 rúp và các thành viên đoàn mỗi người 1.000 rúp để chi dùng, ai cũng sử dụng hết số tiền của bạn cho, riêng Bác chỉ nhờ mua chiếc cối xay hạt tiêu (7 rúp), còn lại 9.993 rúp Bác giao lại cho phía bạn Liên Xô. Số tiền 100.000 rúp Bác đã tặng lại cho Uỷ ban Thiếu niên nhi đồng Hà Nội, nó chứng tỏ rằng Bác Tôn không bị tiền tài chi phối dù đó là những đồng tiền chính đáng.
Có thể nói, trong bất cứ hoàn cảnh nào, bất cứ công việc gì được Đảng và Nhà nước giao, Bác đều hoàn thành và nêu gương tốt, xứng đáng cho các thế hệ chúng ta noi theo về đạo đức và nhân cách.
Từ một vài lý giải kể trên, chúng ta có thể thấy thói thường “mấy ai không bị danh vọng, địa vị và tiền tài lôi cuốn", nhưng với Bác Tôn điều này Bác đã vượt qua để đạt đến cái cao cả của một tấm lòng vì dân vì nước, vì thế hệ đi sau. Bác Hồ đã nói về Bác Tôn: Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người con rất ưu tú của Tổ quốc..., là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân”4... Hẳn là Bác phải có cái dũng, cái nhân như bậc hiền nhân quân tử, vượt lên đời thường của một con người để nêu gương một nhân cách lớn cho các thế hệ đi sau.
______________
* Bảo tàng An Giang
1. Xem: Đại Nam thống nhất chí (T.G)
2. Hồ Ngọc Hương: Bước đi tìm hiểu sự hình thành nhân cách của Bác Tôn (T.G).
3. Lê Quang: Tìm hiểu những động lực và nhân tố quyết định một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Bác Tôn.
4. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr.220-221.
Bác Tôn với mẹ hiền NGUYỄN VĂN TRI*
Cuối năm 1929, Bác Tôn bị thực dân Pháp bắt và bị kết án 20 năm tù khổ sai. Sau một năm bị giam cầm tại Khám lớn Sài Gòn, tháng 6-1930, chúng đày Bác ra Côn Đảo. Tháng 9-1945, Bác về thăm quê, 17 năm trôi qua, biết bao cuộc đổi thay nơi quê nhà, nhưng có lẽ nỗi đau đớn nhất đối với Bác là đã nhận được tin cha không còn nữa và hình ảnh người mẹ già đang mong mỏi tin con từng ngày đã in sâu vào ký ức của Người trong những tháng năm.
Niềm trăn trở ấy đã thúc giục chân Bác bước nhanh, vượt qua cụm lau sậy vào tới sân nhà. Sau 17 năm bị lưu đày biệt xứ, cậu thanh niên năm xưa đã trở về với mẹ (lúc này Bác Tôn ở tuổi 57). Bác bước đến quỳ xuống bên giường, úp mặt vào lòng bàn tay mẹ già như tìm lại hơi ấm đã bị mất hơn năm ngàn ngày qua. Trên giường, đôi mắt mẹ nhoà lệ, bà cất giọng rưng rưng: "Thằng Hai, mày về tao mừng quá, tưởng đâu lần này tao theo ông theo bà không có mày tiễn đưa”. Ngắm nhìn mẹ hồi lâu, Bác bước nhẹ ra hiên ngoài, ngồi trên lan can dựa lưng vào cột hàng ba, đôi mắt đỏ hoe nhìn thẳng về phía chân trời… Sáng hôm sau, gia đình và hàng xóm đến mở tiệc mừng, tiệc chưa xong Bác lại giã từ mọi người thân để tiếp tục ra đi. Lúc ấy có ông Tôn Văn Khái là người bà con chú bác ruột với Bác Tôn gạn hỏi: "Anh ở tù lâu năm mới về, cách mạng đã giành được chánh quyền, còn gì nữa mà anh đi gấp vậy?...”. Bác Tôn trả lời: "chưa êm đâu các chú, các anh à, thằng Pháp bây giờ như cái đèn hết dầu, nó còn chớp lên mấy trận nữa mới tắt…”. Thế rồi một lần nữa mẹ lại nhỏ lệ tiễn con đi, mẹ cố ngồi lên, kéo khăn lau lệ, dõi mắt nhìn theo bước con khuất dần sau khóm trúc... Chiếc xuồng ba lá rẽ sóng thẳng hướng Long Xuyên qua khỏi cầu Hăngri, Bác bước lên bờ quay lại chào lần cuối cha con ông Tôn Văn Các. Tiếng súng kháng chiến nổ ra khắp quê hương Nam Bộ, mẹ lại phải tiếp tục chờ đợi đằng đẵng nối tiếp những ngày nhớ đêm mong; tuổi mẹ càng cao, sức lực kiệt dần và đến ngày 31-5-1947 mẹ đã hút hơi thở cuối cùng. Như vậy, người con Tôn Đức Thắng đã không được gần bên mẹ để tiễn đưa lần cuối như mẹ mong ước. Vì nghĩa nước gác tình nhà, nơi chín suối chắc mẹ sẽ mỉm cười tha thứ cho người con Tôn Đức Thắng.
Sau lần ra đi ấy, Bác Tôn đã được Trung ương điều động ra Hà Nội và sau đó lên chiến khu Việt Bắc làm việc với Bác Hồ và Trung ương Đảng. Chiến tranh tiếp tục nổ ra trong cả nước, cuộc kháng chiến trường kỳ cắt đứt sự liên lạc giữa Bác và gia đình, thỉnh thoảng có lá thư tay được bí mật chuyển về thăm mẹ và người thân nhưng chẳng bao giờ Bác nhận được hồi âm. Tháng năm càng dài càng tràn ngập nỗi nhớ nhung của người con xa xứ. Lịch sử còn ghi lại được những tấm ảnh Bác chụp ở chiến khu Việt Bắc, nhìn ảnh chúng ta có thể đoán được ở phía sau đôi kính ấy đang chất chứa một tâm trạng sâu lắng tình người... Có một tấm ảnh Bác đã gửi về đến gia đình, phía sau ảnh Bác ghi "Kính biếu mẹ già và mấy em! Ngày 9-4-1951”. Ảnh này Bác đã không đeo kính, có lẽ Bác muốn làm yên lòng mẹ giấu đi những nét già của năm tháng phong sương. Nhưng cảm động thay mẹ của Bác đâu còn nữa, bởi bà Nguyễn Thị Dị trên mảnh đất Cù lao ông Hổ đã vĩnh viễn ra đi được 4 năm rồi. Mãi đến tháng 10-1975 Bác mới trở về thăm lại cha mẹ bằng nén hương kính cẩn nước bàn thờ!
Ngày 30-3-1980, Bác Tôn đã vĩnh biệt chúng ta về cõi vĩnh hằng cùng cha mẹ, để lại cho chúng ta biết bao thương tiếc. Có rất nhiều chuyện về Bác Tôn thật là cảm động và chúng ta học tập được rất nhiều từ tấm gương đạo đức, nhân cách của Người như: Bác Tôn với người bạn có tên Ba Sứ, chuyện Bác kéo cờ đỏ ở Biển Đen, chuyện Bác chung thuỷ với vợ hiền, chuyện Bác chịu đòn roi thay cho các bạn tù, chuyện Bác thích đi xe đạp… và bây giờ đến chuyện Bác Tôn với mẹ già khiến chúng ta thật sự xúc động. Chúng ta - những lớp người đi sau là con cháu của Bác sẽ học tập những đức tính cao cả, toàn diện của Bác, nhất là bản lĩnh chính trị về tấm gương phấn đấu không biết mệt mỏi cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, cũng như về mối quan hệ giữa người với người ở Bác. Thật cảm kích trước một nghĩa cử vì nghĩa cả “nợ nước trước tình nhà”, Bác đã lưu lại cho hậu thế một tấm gương đạo đức tuyệt vời và cao cả. Khi đến chúc thọ Bác Tôn 70 tuổi, Bác Hồ đã nói: "Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm, chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân...”.
_______________
* Giám đốc Khu lưu niệm Bác Tôn tại Cù lao ông Hổ, xã Mỹ Hòa Hưng, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
1. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002, t.9, tr.221.
Di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo – những kỷ niệm và dấu ấn về Bác Tôn NGUYỄN THANH VÂN*
Sau khi nổ súng đánh chiếm Đà Nẵng không thành (1858), thực dân Pháp đã đổi hướng, tiến đánh chiếm Gia Định (1859), Định Tường (1860) và Biên Hoà (1861) đồng thời chiếm luôn quần đảo Côn Đảo bằng một bản "Tuyên cáo xâm lược” vào lúc 10 giờ sáng ngày 28-l1-1861. Chỉ sau đó hai tháng, ngày 1-2-1862 Thống đốc Nam Kỳ Bonard ký quyết định chính thức thành lập nhà tù Côn Đảo. Từ đó chúng biến Côn Đảo núi non hùng vĩ, biển trời trong lành thành "Địa ngục trần gian”.
Từ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đã có những "Quốc sự phạm" ở các phong trào Cần Vương, Văn Thân, Đông Kinh nghĩa thục… bị đày ra Côn Đảo như: Lã Xuân Oai, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Đặng Nguyên Cẩn… Các sĩ phu yêu nước này đã xemnhà tù Côn Đảo là một "Trường học thiên nhiên". Tiếp đến là những chiến sĩ cách mạng kiên cường của Đảng ta như: Nguyễn Hới, Tống Văn Trân, Tôn Đức Thắng, Ngô Gia Tự, Phạm Hùng, Nguyễn Văn Cừ, Tạ Uyên, Lê Văn Lương, Lê Duẩn, Lê Hồng Phong, Phạm Văn Đồng, Hà Huy Giáp, Nguyễn Văn Linh…. Tiếp theo sau còn hàng vạn đồng chí, đồng bào yêu nước, những phụ nữ, thanh niên, sinh viên, học sinh đấu tranh chống Mỹ đòi hoà bình, độc lập, tự do lần lượt bị đày ra nhà tù Côn Đảo.
Những chiến sĩ cách mạng kiên trung ấy đã biến “Hòn đảo địa ngục” trở thành “Bản hùng ca” giữ nước của dân tộc, biến nhà tù của đế quốc thành "Trường học cách mạng". Nơi đây còn là "Lò lửa thử vàng" để rèn luyện phẩm chất và khí tiết của người cộng sản, là nơi chọn lọc những tinh hoa ưu tú ở khắp mọi miền đất nước để bổ sung cho đội ngũ trung kiên của Đảng ta. Trong đó có Bác Tôn của chúng ta đã trải qua hơn 5.550 ngày đêm ở Địa ngục trần gian này.
Cuối năm 1929, phiên toà xử vụ án đường Barbié tuyên án Tôn Đức Thắng 20 năm tù khổ sai. Tháng 6-1930 con tàu Ác Măng Rút Xô chở những người tù từ Sài Gòn đi Côn Đảo trong đó có Tôn Đức Thắng với số tù 5289. Từ đó đến ngày 23-9-1945, suốt 15 năm ròng rã, Bác đã sống qua các chế độ tù đày của các chúa đảo: Bouvier, Cremazy, Tiseeyre. Bác đã tồn tại, đã sống, và đã chiến đấu chống lại kẻ thù, chống lại bệnh tật, chết chóc, và mọi thứ độc ác khác mà kẻ thù đã tạo ra nhằm giết dần giết mòn thể xác, tinh thần của người tù cộng sản, nhằm làm nhụt ý chí chiến đấu, phai nhạt lý tưởng cộng sản. Nhưng ba đời chúa đảo ấy đều thất bại, Tôn Đức Thắng đã chiến đấu với tinh thần đầy trách nhiệm của người cộng sản ở mọi nơi, mọi lúc.
Từ phút đầu tiên đặt chân lên Cầu tàu 914 (tháng 7-1930), Tôn Đức Thắng đã trải qua các khám trong Banh I, rồi đến Sở lưới, Sở Bản chế, kể cả chỗ đáng sợ nhất đối với người tù Côn Đảo lúc bấy giờ là "Hầm xay lúa".
Hết hạn ở Hầm xay lúa, Bác lại về Banh I, để lại đó những dấu ấn đậm nét về cuộc sống, nhân cách của một người cộng sản. Sếp Phêrăngđini lúc ấy đã hết sức ngạc nhiên thốt lên: "Tôn Đức Thắng còn sống đấy à! Tưởng chết rồi chứ”.
Đối với người cộng sản trung kiên không may sa vào tay giặc, cái quan trọng không phải bảo tồn được tính mạng mà là tạo mọi điều kiện để tiếp tục hoạt động cho Đảng, cho dân.
Sống tại Banh I, lợi dụng những công việc Sở tại của mình, Tôn Đức Thắng đã cố gắng tìm mọi cách để liên lạc với những người cộng sản bị giam cầm tại Banh I và bên Banh II. Song đâu chỉ có các khám giam và Hầm xay lúa trong Banh I, đâu chỉ di tích Sở lưới, Sở Bản chế hay Cầu tàu 914 mới gắn bó với Bác, mà có thể nói những gộp đá, những gốc cây Bàng từ Cầu tàu lịch sử 914, qua các Sở tù khổ sai dẫn đến Banh I đều có thể trở thành hộp thư bí mật của Bác, nhờ đó mà chi bộ Banh I có được tủ sách khá đầy đủ để tổ chức cho các lớp học chính trị và văn hoá trong tù.
Bác Tôn và người cầm lái vững vàng suốt 15 năm trong ngục tù Côn Đảo, và sau đó Bác cũng là người cầm lái vững chắc chiếc ca nô mang tên "Giải phóng" đưa đoàn tù chính trị trở về đất liền an toàn vào ngày 23-9-1945.
Sau ngày đất nước thống nhất, ngày 27-8-1976 đồng chí Lê Duẩn trở lại thăm Côn Đảo, trong buổi nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Côn Đảo, đồng chí đã nói về Bác Tôn: "Bác Tôn bị tù đày ở Côn Đảo 15 năm nhưng lúc nào cũng lạc quan, yêu đời. Đó là một chiến sĩ cách mạng không bao giờ và không gì lay chuyển được, một con người hết sức nhiệt thành, trung thực, quên mình, nay đã tuổi 88 rồi mà vẫn luôn nhẹ nhàng, thanh thản. Tuổi già vậy mà Bác luôn trẻ, đối với kẻ thù thì bất khuất, đối với anh em thì thương yêu vô cùng, có cọng rau, củ lạc cũng chia sẻ cho nhau. Này Bác là Chủ tịch nước, vậy mà tình nghĩa với anh em cùng ở tù ngày trước như xưa, không khác chút nào hết. Đến nay, khi gặp nhau nói chuyện, Bác yêu cầu chúng tôi phải xưng hô với Bác như ngày còn ở trong tù vậy, xưng hô khác là Bác không chịu đâu…”.
Khi đến với Khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo, từ những Đoàn thanh niên, sinh viên, học sinh tổ chức "Về nguồn" đến những đoàn khách đi du lịch hoặc những đoàn công tác tranh thủ thời gian thăm Khu di tích, các cựu tù nhân chính trị về thăm lại “chiến trường xưa"..., hầu như ai cũng đều dành những phút giây lặng nhìn những tấm bia di tích có ghi dòng chữ "Nơi đây đã từng giam giữ đồng chí Tôn Đức thắng", nhiều người tranh thủ chụp ảnh, quay phim ghi lại những hình ảnh của mình bên cạnh những di tích, những tấm bia ấy với một niềm tự hào đã được đến nơi mà vị lãnh tụ kính yêu của mình đã từng sống ở nơi đây, một niềm tự hào kiêu hãnh về dân tộc mình có những con người vĩ đại đã vượt qua mọi gian khổ, mọi cực hình khủng khiếp, mọi âm mưu thâm độc của kẻ thù để giành lại độc lập tự do cho dân tộc.
Không ít người đã say sưa nghe những chuyện kể về Bác Tôn ở nhà tù Côn Đảo và cảm thấy rất mãn nguyện khi trong đời mình đã được một lần đến Côn Đảo thăm Khu di tích lịch sử cách mạng vĩ đại này.
Có những người khách sau khi trải qua 12-14 tiếng đồng hồ lênh đênh trên biển bị vật vã, bị nôn mửa vì say sóng, nhưng sau một buổi đầu tiên đi tham quan: Cầu tàu lịch sử 914, Phòng trưng bày di tích lịch sử nhà tù Côn Đảo và Banh I thì đã thốt lên những lời rất chân tình rằng:
- “Khi nghe những chuyện kể về Bác Tôn đã cuốn hút tôi đến nỗi quên đi những mệt mỏi của cơn say sóng".
- “Nếu như không có Khu di tích lịch sử cách mạng này chắc tôi không bao giờ mua vé đi du lịch Côn Đảo đâu!”
Ngày 14-1-1979, Đại diện cho đoàn cán bộ Công an nhân dân Vũng Tàu đến tham quan Khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo đã xúc động và tự hào ghi lại những dòng cảm xúc: "… Côn Đảo - niềm tự hào kiêu hãnh của cách mạng Việt Nam, của nhân dân Việt Nam anh hùng. Càng cảm động và tự hào hơn khi được đi viếng thăm Khu di tích lịch sử. Nơi đây là đỉnh cao nhất của tội ác của đế quốc Pháp và Mỹ ngụy, những tên cướp nước và bán nước cầu vinh đối với các chiến sĩ cách mạng Việt Nam và nhân dân yêu nước. Nơi đây cũng chứng minh cho nhân loại về lòng hy sinh, tinh thần dũng cảm, lòng trung thành bất khuất của các lãnh tụ cách mạng: Đồng chí Tôn Đức Thắng, Lê Duẩn, Phạm Hùng, Lê Đức Thọ, Lê Văn Lương…, và bao nhiêu nam nữ chiến sĩ cách mạng, những người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã kiên trinh quên mình cho dân tộc được sống lại; cho độc lập tự do của Tổ quốc, cho hạnh phúc của nhân dân, và cho chủ nghĩa Mác - Lênin toàn thắng…".
Những người dân ở quê Bác (An Giang) đến Côn Đảo cũng rất đỗi tự hào ngồi ngay trong khám giam ở Banh I (nơi Bác từng bị giam cầm) ghi lại những dòng cảm tưởng: "Đoàn huyện Tân Châu – tỉnh An Giang đến Côn Đảo với ngôi trường Đại học cách mạng lớn nhất của nhân dân. Chúng tôi tự hào là quê hương của Bác Tôn - những dấu chấm son lãnh tụ cách mạng nơi đây mở đường cho đất nước hôm nay đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Chúng tôi chân thành biết ơn các đồng chí ngành du lịch và Ban bảo vệ khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo - đang bảo vệ một tài sản vô giá của lịch sử cách mạng mà chỉ có Côn Đảo mới có mà thôi... ".
(14-12-1996 - Mười Trị (TM. Đoàn Tân Châu - An Giang).
Là những người đang công tác tại Ban quản lý Khu di tích lịch sử cách mạng được giao trách nhiệm thiêng liêng là gìn giữ "Bàn thờ của Tổ quốc", chúng tôi luôn trăn trở rằng mình sẽ làm gì để gìn giữ và phát huy tác dụng Khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo sao cho nơi đây thực sự trở thành vùng đất thiêng của Việt Nam, luôn dành cho mọi người tìm đến để nhớ lại cội nguồn, để giáo dục truyền thống cách mạng cho tuổi trẻ hôm nay và mãi mãi mai sau... Vì bên cạnh những niềm tự hào, những tình cảm sâu sắc, những cảm xúc trào dâng khi được thấy, được nghe những kỷ niệm về Bác thì cũng không ít người đã ngỡ ngàng, thậm chí tỏ vẻ bức xúc khi không tìm thấy di tích Sở lưới ở đâu! và cây Bàng ở cạnh Sở lưới từng được nhiều thế hệ tù nhân, nhiều tác phẩm thơ ca gọi một cách thân thương là "Cây Bàng Bác Tôn” cũng không còn nữa (vì cơn bão số 1 năm 1993 đã quật đổ).
Các đồng chí lãnh đạo địa phương đã kịp thời chỉ đạo cho trồng lại cây Bàng khác trong lòng gốc Bàng cổ thụ, cảm động biết bao khi có những người đã tìm đến vuốt ve lên gốc Bàng xưa hoặc chụp ảnh bên cây Bàng con ngày nay và tự hứa với lòng mình như cây Bàng con, là thế hệ đi sau, nguyện nối tiếp truyền thống của ông cha mình, nối tiếp truyền thống của Bác.
Riêng di tích Sở lưới, vì nằm cạnh bờ biển phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió bão, của muối biển nên đã sớm bị xuống cấp nặng. Năm 1995, Sở lưới đã được phép của lãnh đạo ngành cho tháo dỡ và thay vào đó, chính quyền địa phương cho xây dựng một công viên.
Tháng 12-2001 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch tổng thể bảo tồn, tôn tạo và phát huy tác dụng của Khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo”, được bắt đầu triển khai năm 2001 và kết thúc năm 2005 với mức đầu tư là: 60,732 tỷ đồng, bao gồm:
1. Khoanh vùng bảo vệ di tích.
2. Bảo tồn trọng điểm một số di tích quan trọng (trong đó có Banh I được xếp hàng đầu).
3. Thiết bị nội thất.
4. Công trình tôn tạo.
5. Các di tích không được xem là trọng điểm nhưng vẫn phải được đầu tư kinh phí để bảo tồn.
Được tin này, quân và dân Côn Đảo nói chung, các cán bộ Khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo nói riêng rất phấn khởi, vui mừng.
NHỮNG TÌNH CẢM CỦA ĐẢNG BỘ, NHÂN DÂN CÔN ĐẢO DÀNH CHO BÁC TÔN ĐỨC THẮNG
Để tỏ lòng ghi nhớ công ơn trời biển của Bác cũng như ghi nhớ những kỷ niệm về Bác tại Côn Đảo, Đảng bộ và nhân dân Côn Đảo đã lấy tên Bác đặt cho một con đường đẹp nhất Côn Đảo hiện nay (con đường đi qua Sở lưới trước đây). Được biết dự kiến trong thời gian tới lãnh đạo huyện Côn Đảo sẽ triển khai thực hiện chủ trương: Phối hợp với Bảo tàng Tôn Đức Thắng ở Thành phố Hồ Chí Minh để tổ chức Phòng trưng bày lưu động về cuộc đời, thân thế, sự nghiệp của Bác Tôn và sau đó sẽ hình thành "Phòng lưu niệm Bác Tôn", đồng thời thực hiện dự án cải tạo nâng cấp Công viên Bác Tôn trên đường Tôn Đức Thắng - (ngay vị trí Sở lưới) và đặt ở đây một tượng đài Bác Tôn.
Đây là công trình góp phần giáo dục, nhắc nhở các thế hệ nhân dân Côn Đảo và du khách đến Côn Đảo có thêm hiểu biết về công ơn của Bác ngay trên mảnh đất Côn Đảo thiêng liêng này.
______________
* Ban quản lý Khu di tích lịch sử cách mạng Côn Đảo.
Nhớ những lời dặn dò của Bác Tôn NGUYỄN VĂN HOÀNH*
Tôi sinh năm 1927, từ xã Thành Triệu, huyện Sóc Sải (nay là huyện Châu Thành), tỉnh Bến Tre, trong một gia đình thuộc giai cấp bần cùng trong xã hội, hàng ngày đi xin cơm thừa của xóm làng để nuôi thân. Áo cũng không có để mặc, chỉ độc một chiếc quần xà lỏn và không được học hành, vừa lớn lên đã đi ở đợ nhiều nơi...
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến, tôi tham gia thanh niên tiền phong. Sau đó, tôi xin địa phương nhập ngũ đi bộ đội, tại đại đội 978 - trung đoàn 109 ở Thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp. Trong năm 1947, tôi tham gia đánh được sáu trận rất gan dạ, không hề sợ hy sinh, khi xung phong tôi chạy lên hàng đầu, cướp được vũ khí của giặc. Vì thế tôi được trung đoàn khen ngợi.
Tháng 10-1947, tôi được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam.
Tháng 2-1948, khu 8 chọn mỗi trung đoàn hai chiến sĩ chiến đấu gan dạ về khu, tôi đã được chọn. Về đến khu, tôi được vào tiểu đội bảo vệ trang bị vũ khí đầy đủ. Đến ngày 15-3-1948, đồng chí Trần Văn Trà, Tư lệnh khu, họp tiểu đội căn dặn: "Các đồng chí giữ gìn sức khoẻ tốt để bảo vệ phái đoàn Nam Bộ ra Trung ương ở chiến khu Việt Bắc, báo cáo tình hình miền Nam cho Trung ương và Bác Hồ". Tôi mừng như được phần thưởng cao quý, đêm đó thao thức không ngủ được.
Đoàn ra Việt Bắc gồm tám đại biểu, đồng chí Trần Văn Trà làm Trưởng đoàn, đồng chí Trần Bửu Kiếm, ông linh mục Nguyễn Bá Kính, đồng chí Khung, đồng chí Lăm, đồng chí Quyền, đồng chí Trộng, đồng chí Trần và 12 đồng chí bảo vệ.
Tháng 4-1948, đoàn rời Đồng Tháp Mười, mãi đến tháng 10-1948 đoàn chúng tôi mới đến Việt Bắc. Chúng tôi vượt Trường Sơn bằng đôi chân, với hành trang, thức ăn, nước uống, tài liệu, vũ khí... Ròng rã mấy tháng trời vất vả, nhiều lần băng qua những đồn bốt của địch, nhưng ai nấy đều quên hết mọi cực nhọc nguy hiểm, mà chỉ thấy vô cùng hào hứng. Sức lực tiếp cho chúng tôi trong hành trình từ Nam ra Bắc chính là tình cảm mong mỏi được gặp Bác Hồ, Bác Tôn và các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Cuối cùng, sau gần sáu tháng trèo đèo, lội suối, đoàn ra đến Việt Bắc.
Đoàn chúng tôi được vinh dự gặp Bác Hồ vào cuối tháng 10-1948, mà cho đến nay vẫn còn khắc sâu vào lòng mỗi người chúng tôi.
Trong cuộc gặp tại Việt Bắc, Bác Hồ để riêng thời gian cho đoàn chúng tôi và ân cần bảo: "Các cháu đến chào và gặp Bác Hai của các cháu đi (tức là Bác Tôn Đức Thắng)”. Thật là vô cùng sung sướng và hạnh phúc, đoàn chúng tôi được gặp Bác Hồ và gặp cả Bác Tôn, một cuộc gặp có một không hai, và chúng tôi nhớ mãi suốt đời. Chúng tôi cùng xúm xít vây quanh lấy Bác Tôn, dưới ánh mắt vui sướng của Bác Hồ. Thật gần gũi biết bao khi nghe Bác Tôn tự giới thiệu về mình là: "Thợ Ba Son". Ngồi bên cạnh Bác Tôn, chúng tôi ngước lên nhìn Bác với tất cả một lòng tôn kính, yêu mến. Bác Tôn đã bước sang tuổi thứ sáu mươi mốt, người gầy, má hóp, tóc đã bạc phơ…, nhưng tinh thần rất sảng khoái.
Sau đó, Bác Tôn mời đoàn về cơ quan Phòng liên lạc Nam Bộ, đóng tại làng Hiệp Hoà, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, buổi tiếp tràn đầy không khí vui vẻ thân mật... Tuy xa Nam Bộ một thời gian khá dài, nhưng miền Nam là mối quan tâm, là kỷ niệm, là nỗi nhớ hàng ngày của Bác. Khi tâm tình, Bác lộ rõ lòng cảm phục đồng bào miền Nam đã chịu nhiều hy sinh, chiến đấu gian khổ. Vì vậy, Bác đã xin ý kiến Bác Hồ cho thành lập Phòng liên lạc Nam bộ tại chiến khu Việt Bắc.
Bác Tôn là Chủ tịch danh dự, cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng và ông Hoàng Hữu Nam Thứ trưởng chỉ đạo phòng trực thuộc Bộ Nội vụ. Trong cơ quan có các đồng chí Khuất Duy Tri là Trưởng phòng1. Đồng chí Nguyễn Thị Sóc2. Đồng chí Đinh Nho Hân và một số đồng chí khác… Phòng có nhiệm vụ thường xuyên chuyển tài liệu liên lạc về miền Nam.
Cuối buổi gặp Bác Tôn mời đoàn dùng cơm. Bác dặn chị Hai Sóc làm món ăn khẩu vị miền Nam (chị Hai Sóc quê Bà Điểm – Hoóc Môn), gồm canh chua cá, cá kho tiêu, gà xé phay trộn rau răm. Nhìn chúng tôi với nét mặt trìu mến. Bác Tôn nói: "Bác xa quê hương, gia đình đã lâu, hôm nay gặp các cháu như một gia đình đoàn tụ, chưa bao giờ Bác thấy sung sướng như lúc này".
Trước khi tạm chia tay đoàn, Bác dặn dò các cháu từ Nam Bộ ra đây, thời tiết khí hậu lạnh lẽo, nên các cháu chú ý giữ gìn sức khoẻ. Mỗi người đi làm một nhiệm vụ, nhưng phải ráng chú ý học hỏi tiếp thu thật nhiều để đưa về áp dụng, phục vụ đồng bào miền Nam.
Sau năm tháng công tác, tháng 2-1949, đoàn từ Tân Trào thuộc huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang lên đường đi bộ trở về Nam. Bác Tôn tiễn đoàn chúng tôi rời Việt Bắc, ra về mọi người vô cùng xúc động, lưu luyến, có người khóc. Bác Tôn như muốn hẹn với chúng tôi ngày gặp lên đất Sài Gòn, có xưởng Ba Son nơi Bác Tôn đã từng làm thợ và hoạt động cách mạng. Lúc bấy giờ có ai nghĩ được điều này sẽ trở thành sự thật.
Tháng 6-1949, tôi được phân công tác về tiểu đoàn 307, được đề bạt làm Trung đội trưởng. Chưa kịp quen biết với đơn vị mới là bao, thì cuối tháng 6-1949, tôi được phân công bảo vệ và phục vụ đồng chí Lê Duẩn. Tháng 6-1952, từ miền Đông Nam Bộ, đồng chí Lê Duẩn và một số cán bộ đi ra Việt Bắc. Một lần nữa, tôi lại được lội bộ xẻ dọc Trường Sơn về chiến khu Việt Bắc, đến An toàn khu (ATK) nơi cơ quan Trung ương Đảng đóng.
Ngày 20-11-1952, được Bác Hồ đến thăm, Bác ôm anh Ba Duẩn mừng rỡ và hỏi thăm sức khoẻ cả đoàn, ân cần dặn dò mọi người giữ gìn sức khoẻ.
Đoàn ra đến Việt Bắc, ở Văn phòng Trung ương Đảng. Đồng chí Lê Duẩn phân mỗi người được đi công tác một nơi. Người đi nước ngoài, người đi học, chỉ còn một mình tôi ở lại bảo vệ và phục vụ đồng chí Lê Duẩn. Suốt hai mùa đông ở chiến khu Việt Bắc phía Quảng Nạp, huyện Đại Từ và xã Điềm Mặc, huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.
Từ cuối năm 1952 đến đầu năm 1954, đồng chí Lê Duẩn làm việc ở Văn phòng Trung ương Đảng, ở Việt Bắc. Trong thời gian này đồng chí Lê Duẩn thường xuyên làm việc với Bác Tôn ở Phòng liên lạc Nam Bộ tại Việt Bắc. Có khi sáng qua làm việc, chiều về, có rất nhiều lần làm việc ngủ luôn lại nhà Bác Tôn. Giường ngủ nhà Bác Tôn lát bằng cây bương, chỉ có chiếu lót lưng, không có nệm, nhà vách nứa, đêm đêm gió lùa vào rất lạnh, nhất là mùa đông trời rét thấu xương, thường phải đốt lửa sưởi ấm. Bác Tôn sáng nào cũng thức dậy sớm tập thể dục. Tôi thưa với Bác, thức dậy sớm dễ bị cảm lạnh. Bác Tôn nói: “Bác đã quen rồi, nếu ở đây tập thể dục đều giữ được sức khoẻ tốt".
Sau đó đồng chí Lê Duẩn thức dậy cùng Bác Tôn tập thể dục. Rửa mặt, ăn sáng xong, khi chia tay Bác Tôn ôm hôn đồng chí Lê Duẩn, quyến luyến hẹn ngày gặp lại tại miền Nam. Tôi thưa Bác cháu về, Bác Tôn bắt tay và dặn: "Cháu giữ gìn sức khỏe để về đến nơi". Bác Tôn chuyển lời thăm hỏi đến toàn thể đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Đầu năm 1954, anh Ba Duẩn từ chiến khu Việt Bắc về miền Nam. Đến liên khu 5, làm việc với các đồng chí Khu uỷ, đồng thời mở lớp chỉnh huấn tại huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi cho cán bộ Trung, Cao cấp của Nam Bộ và Nam Trung Bộ. Sau đó, tôi tiếp tục phục vụ và bảo vệ anh Ba Duẩn trong thời kỳ anh Ba bí mật ở lại miền Nam hoạt động đến khi anh Ba ra miền Bắc (quý II năm 1957).
Đến năm 1959, tôi lại được các anh lãnh đạo gọi ra Hà Nội làm nhiệm vụ bảo vệ và phục vụ anh Ba Duẩn.
Ngày 20-8-1960, nhân ngày sinh lần thứ 72 của Bác Tôn, tôi đến thăm Bác. Gặp tôi, Bác nhớ liền bắt tay đưa vào phòng khách. Bác hỏi rất nhiều..., từ mấy năm nay cháu công tác ở đâu? Sao không thấy cháu đến thăm Bác. Tôi thưa với Bác đầu năm 1954, cháu chào Bác ở Việt Bắc, đi về miền Nam cùng với đồng chí Lê Duẩn. Cháu ở lại chiến trường miền Nam, đến năm 1959, cháu được các anh lãnh đạo cho ra Hà Nội, hiện nay bảo vệ và phục vụ anh Ba Duẩn. Hôm nay cháu đến mừng sinh nhật Bác và chúc Bác mạnh khoẻ. Cháu nhớ hồi ở Việt Bắc, Bác gầy, má hóp, hôm nay, thấy Bác da dẻ hồng hào, mập hơn, khoẻ mạnh, cháu rất mừng. Bác nói: "Hồi đó, lo công việc nhiều, thời tiết khí hậu bất thường, bồi dưỡng cũng thất thường. Cháu nhắc lại Bác nhớ hồi ở Việt Bắc có đồng chí nữ gọi là cô Hai Sóc (người Nam Bộ), công tác rất tốt, tận tình chu đáo, chăm lo sức khoẻ cho Bác rất đầy đủ. Năm 1950, đồng chí bị bệnh, bác sĩ và cơ quan tận tình chạy chữa nhưng không qua khỏi. Bác rất buồn và nhớ mãi, sau này Bác vẫn nhớ kỷ niệm ngày mất của đồng chí ấy. Bác đề nghị đồng chí Khuất Duy Tri lên Việt Bắc đón đồng chí Hai Sóc về nghĩa trang Hà Nội để tiện việc đi lại thăm viếng thường xuyên". Tôi chào ra về, Bác Tôn còn căn dặn: “Sắp Đại hội lần thứ III của Đảng, chú Ba (tức đồng chí Lê Duẩn) làm việc chuẩn bị Đại hội Đảng vất vả nhiều, cháu chú ý chăm lo sức khoẻ cho chú ấy".
Năm 1963, tôi được đi học bổ túc văn hoá; giữa năm 1964, tôi được điều qua làm Chủ nhiệm nhà khách Hồ Tây, Hà Nội. Mùa hè hàng năm, Bác Tôn thường lên nghỉ ở nhà khách Hồ Tây. Một hôm, tôi đến chào Bác, gặp tôi Bác nói liền: "Cháu lên đây làm việc rồi à?”. Tôi thưa với Bác, được anh Ba Duẩn đồng ý để Văn phòng Trung ương điều cháu lên làm Chủ nhiệm nhà khách Hồ Tây. Bác dặn: "Ở Hà Nội có khu này nghỉ rất tốt, vì có nước hồ, khí hậu trong lành, ngủ được một đêm, sáng ra thấy nhẹ nhàng. Cháu cố gắng tổ chức bảo quản cho tốt, phục vụ được lâu dài, đồng thời chú ý chăm lo đời sống cán bộ, công nhân viên".
Trưa ngày 30-4-1975, chính quyền Sài Gòn đầu hàng vô điều kiện và miền Nam được hoàn toàn giải phóng.
Sáng 1-5-1975, Văn phòng Trung ương Đảng gọi tôi và báo chuẩn bị để vào Sài Gòn. Sáng 2-5-1975, đoàn chúng tôi ra sân bay Gia Lâm, đi máy bay IL-18 bay vào Tân Sơn Nhất. Xe đón chúng tôi và Uỷ ban quân quản thành phố Sài Gòn, gặp đồng chí Võ Văn Kiệt, trình bày nhiệm vụ của đoàn tiếp nhận cơ sở vật chất cho Văn phòng Trung ương Đảng để chuẩn bị đón tiếp các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng và Nhà nước vào thăm và làm việc tại thành phố. Đồng chí Võ Văn Kiệt rất hoan nghênh và cho người đưa chúng tôi đến căn nhà số 78 đường Trương Minh Giảng (nay là đường Trần Quốc Thảo, Quận 3) vốn là trụ sở văn phòng của hãng Shell. Chúng tôi tạm đặt nơi này là T.78 - có nghĩa là tạm ở số nhà 78, sau này ký hiệu đó được giữ luôn là Cơ quan T78, Cục quản trị B, thuộc Ban Tài chính Quản trị Trung ương Đảng. Cơ quan T.78 có nhiệm vụ phục vụ các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước và các Ban của Đảng.
Từ ngày miền Nam được giải phóng, Bác Tôn thấy trong lòng khoẻ hẳn. Ngày 13-5-1975, Bác Tôn đáp máy bay vào Thành phố Sài Gòn thăm đồng bào miền Nam và dự lễ mừng chiến thắng vĩ đại của dân tộc. Bác Tôn vào thành phố, nghỉ ở nhà khách T.78. Chiều ngày 14-5-1975, Bác Tôn đến nghỉ ở Dinh Độc Lập (nay là Dinh Thống Nhất). Tôi được các đồng chí lãnh đạo phân nhiệm vụ cùng với Ban tổ chức đón tiếp và phục vụ Bác Tôn.
Lúc này, Dinh Thống Nhất bị quả bom của Nguyễn Thành Trung ném trúng cầu thang trước ngày 30-4-1975, chưa kịp sửa chữa nên nước mưa chảy vào rất nhiều. Vì vậy, cũng gặp khó khăn về phục vụ ăn nghỉ cho một số các đồng chí lãnh đạo. Đêm nghỉ của Bác Tôn ở Dinh không được yên giấc lắm. Tôi thấy Bác thức giấc mấy lần và dậy rất sớm tập thể dục. Tôi thưa với Bác: “Đêm qua Bác ít ngủ”. Bác Tôn nói: "Bác thường dậy sớm tập thể dục, đồng thời mừng đất nước được giải phóng, Bác rất vui".
Sáng 15-5, Bác Tôn xuất hiện giữa rừng cờ và hoa ngay trong lòng Thành phố Sài Gòn, trong muôn ngàn tiếng ca chiến thắng vĩ đại. Tại buổi lễ Bác Tôn đã đọc lời chào mừng, vạch rõ thắng lợi rực rỡ vĩ đại của nhân dân ta ngày nay là kết quả của tinh thần yêu nước nồng nàn, được thể hiện trong cuộc kháng chiến suốt 30 năm qua của đồng bào và chiến sĩ cả nước, là thắng lợi của đường lối đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta, là thắng lợi của khối đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quốc tế. Sau mấy ngày lễ Bác ra Hà Nội.
Tháng 11-1975, Bác Tôn Đức Thắng vào công tác tại thành phố và các tỉnh phía Nam. Bác nghỉ tại nhà khách cơ quan T.78. Thời gian này Bác thường nhắc nhở chúng tôi, những người phụ trách: "Nhờ đồng bào và chiến sĩ không quản hy sinh xương máu, chúng ta mới thắng lợi. Tiếp quản các nhà tài sản còn nguyên vẹn. Các cháu phải giữ gìn và bảo quản cho tốt để cán bộ ở các nơi về có chỗ ăn, ở, làm việc. Đây là tài sản của nhân dân giao cho các cháu quản lý, phải làm tốt công tác và phát huy hiệu quả của các cơ sở mà mình phụ trách".
Chiều ngày 18-11, Bác Tôn báo tôi: ngày mai đi thăm nhà máy Ba Son. Đúng vào ngày 19-11-1975, sau không bao lâu trong thời gian đầu Sài Gòn mới giải phóng, Bác Tôn về thăm lại nhà máy Ba Son, nơi trước đây Bác từng làm thợ. Toàn thể cán bộ, công nhân nhà máy Ba Son vô cùng phấn khởi đón tiếp Bác Tôn về thăm. Người thợ cả Tôn Đức Thắng chào hỏi mọi người và nói ân tình: "Sau nửa thế kỷ xa cách, hôm nay tôi có dịp về thăm nhà máy Ba Son, nơi trước đây tôi làm nhiều việc và hoạt động cách mạng". Bác Tôn để dành nhiều thời gian đi lại, nhìn tận mắt từng ngôi nhà, góc xưởng, ụ cầu tàu. Khi đến xưởng cơ khí, nơi Bác làm thợ, Bác kể: "Khi Bác làm thợ ở đây, nơi này là bãi đất ướt, chỉ có vài thanh sắt với vải bạt che tạm, nắng cũng như mưa, anh em thợ phải đứng gò lưng làm việc suốt ngày". Bác Tôn lần lượt đi thăm các phân xưởng sản xuất. Bác kể cho anh em nghe những cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son thuở trước và động viên anh chị em số gắng phấn đấu thi đua lao động sản xuất, mãi mãi xứng đáng với truyền thống Ba Son anh hùng.
Cuối năm 1976, Bác Tôn vào công tác các tỉnh phía Nam. Bác ở nhà khách T.78, tôi mời Bác nghỉ nhà vila trệt, không có lầu, tôi hiểu ý Bác sáng nào cũng tập thể dục và để Bác đi lại thuận tiện, Bác vừa ý. Sau đó làm việc với Thành ủy và Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, các đồng chí lãnh đạo mời Bác đi thăm một số cơ sở trong nội thành. Một hôm Bác hỏi tôi, Bác nghe một cháu nói nhà Bác ở là để dành riêng khi nào vào Nam Bác ở, phải vậy không? Tôi thưa với Bác, đây là nhà khách khi nào Bác vào thành phố, cháu mời Bác nghỉ ở đây. Khi Bác về Hà Nội, nếu có khách thì cháu mời khách ở. Bác Tôn nói: "Thế là được, còn chỉ để riêng mình Bác ở, sau này Bác vào sẽ không nghỉ ở đây nữa". Từ chi tiết này, tôi hiểu thêm nhân cách người lãnh đạo cách mạng không muốn dành cho mình đặc quyền, đặc lợi gì.
Trước khi Bác Tôn về Hà Nội, Bác dặn dò: "Chú ý về công tác, nhớ chăm lo cho đơn vị quản lý các mặt thật an toàn chu đáo, xây dựng nề nếp công tác cho tốt. Đặc biệt, phải lo đời sống của anh chị em trong cơ quan". Nhớ lời chỉ bảo của Bác Tôn, chúng tôi cố gắng xây dựng đơn vị T.78 thật tốt, nên đời sống cán bộ, công nhân viên cũng được chăm lo và khá hơn nhiều.
Vậy mà, thoắt đã hơn 20 năm, Bác Tôn từ giã chúng ta. Nhớ cái ngày 30-3-1980 ấy, tôi vô cùng đau đớn, xúc động bần thần cả ngày. Tôi cứ hình dung Bác Tôn đang đứng trước mặt mình, những lời nói, nhân cách, tấm lòng của người cộng sản với đồng bào đồng chí, với quê hương đất nước.
Nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 115 của Bác Tôn Đức Thắng, tôi viết những dòng để tưởng nhớ Bác Tôn, người thợ Ba Son, một người cộng sản sống giản dị, chân thành, trong sáng, đậm nét phong cách công nhân, và cũng vui mừng báo với Bác rằng, từ những lời dạy - lời dặn dò ân cần của Bác, cháu và các đồng chí đã sống, làm việc theo gương Bác đến cuối đời.
____________
* Nguyên Cục phó Cục Quản trị T.78, Ban Tài chính quản trị Trung ương.
1. Hiện nay đồng chí 86 tuổi ở quận Phú Nhuận - Thành phố Hồ Chí Minh (T.G).
2. Thường gọi chị Hai Sóc đã bị bệnh chết năm 1950 tại Việt Bắc.
Người công nhân số (1) LÊ HỮU LẬP*
Niềm vinh dự lớn nhất trong cuộc đời tôi là nhiều năm được phục vụ trực tiếp và gần gũi Bác Hồ, Bác Tôn - hai vị Chủ tịch nước đầu tiên của nước ta; hai vị Chủ tịch được toàn Đảng, toàn dân quý mến, bạn bè nước ngoài kính yêu; hai tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng, suốt đời vì nước, vì dân.
Tháng 6-1958, tôi đang công tác ở Văn phòng Trung ương Đảng thì được cử sang phụ trách Trưởng phòng Văn thư Phủ Chủ tịch. Nói là Văn phòng Phủ Chủ tịch, thực ra là Văn phòng riêng của Bác Hồ. Văn phòng Phủ Chủ tịch thời đó chỉ có 4 cán bộ. Đồng chí Vũ Kỳ là Chánh Văn phòng và ba anh em chúng tôi ở Phòng Văn thư. Kể cả nấu ăn, cần vụ, lái xe, làm vườn có hơn mười người. Để đáp ứng được những yêu cầu về công tác và sinh hoạt hàng ngày của Bác Hồ, chúng tôi phải làm việc hết sức mình.
Tháng 7-1960, Bác Tôn được Quốc hội bầu làm Phó Chủ tịch nước. Năm đó Bác Tôn đã 72 tuổi. Bác không chịu nhận 1 thư ký riêng giúp việc với lý do công việc không nhiều, sử dụng 1 cán bộ là lãng phí, rỗi rãi cán bộ sẽ không yên tâm. Bác Hồ rất quan tâm đến Bác Tôn, song cũng tán thành ý kiến đó và nói anh em Văn phòng chúng tôi sắp xếp công việc để có người lo thêm công việc bên Bác Tôn. Thế là đầu năm 1962, tôi được giao thêm nhiệm vụ phục vụ Bác Tôn. Mỗi ngày tôi sang bên Bác Tôn 1, 2 tiếng để báo cáo công việc hàng ngày với Bác; chuẩn bị giúp Bác những cuộc tiếp khách, nhận quốc thư, đi thăm địa phương, v.v..; họp với anh em, lo sinh hoạt hàng ngày với bộ phận bảo vệ an ninh, bảo vệ sức khỏe của Bác v.v.. Phần lớn thì giờ của tôi vẫn là làm việc bên Bác Hồ. Cho đến tháng 9-1969, sau khi Bác Hồ qua đời, Bác Tôn lên thay, tôi sang làm thư ký Bác Tôn. Cũng năm này, Chủ tịch Tôn Đức Thắng thấy mình đã cao tuổi, bác cho gia đình hai cô con gái (từ ngày hoà bình lập lại vẫn sống chung), chuyển ra khỏi 35 Trần Phú (Hà Nội) để khi mình qua đời sẽ trả ngôi nhà cho Nhà nước1. Để tiện cho công việc của tôi, gia đình tôi cũng được chuyển về 24-26 Cao Bá Quát ở cùng gia đình Bác Tôn. Khu nhà này có lối thông sang 35 Trần Phú.
Từ khi còn công tác ở Văn phòng Trung ương Đảng, tôi thấy các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng, nhất là Bác Hồ có sự quý mến, trân trọng rất đặc biệt đối với Bác Tôn. Năm 1955, Liên Xô tặng Việt Nam Giải thưởng hoà bình quốc tế Lênin, Bác Tôn xứng đáng được cử là người đại diện cho Việt Nam nhận giải thưởng lớn đó. Tháng 8-1958, mừng thọ Bác Tôn 70 tuổi, Ủy ban thi đua Trung ương muốn dành Huân chương Sao vàng, huân chương cao nhất tặng Bác Hồ, nên đề nghị tặng Bác Tôn Huân chương Độc lập hạng nhất. Thời kỳ đó chưa ai được nhận Huân chương Độc lập. Chính Bác Hồ đã quyết định và được tập thể lãnh đạo đồng ý tặng Bác Tôn Huân chương Sao vàng. Trong buổi lễ tại Câu lạc bộ Ba Đình, Bác Hồ đã nói: “Thay mặt nhân dân và Chính phủ, tôi trân trọng trao tặng đồng chí Tôn Đức Thắng Huân chương Sao vàng, là huân chương cao nhất của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, mà đồng chí Tôn Đức Thắng là người đầu tiên và người rất xứng đáng được tặng Huân chương ấy”2.
Bác Tôn rất ít nói về mình. Quá trình phục vụ Bác giúp tôi ngày càng được biết rõ thêm về sự nghiệp cách mạng của Bác. Đồng chí Nguyễn Văn Lợi kể lại, năm 1926 từ Quảng Châu cùng với đồng chí Trần Trọng Bình được Bác Hồ cử về Sài Gòn gây cơ sở Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, Bác Hồ đã dặn phải tìm liên lạc với anh công nhân Tôn Đức Thắng. Người chiến sĩ Biển Đen, người công nhân đó từ năm 1920 đã tổ chức ra Công hội bí mật, người đứng đầu phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn. Qua Công hội bí mật, những hội viên ưu tú được kết nạp vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Tổ chức này nhanh chóng phát triển khắp lục tỉnh và Bác Tôn được bầu làm Chủ tịch Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Đồng chí Lê Văn Lương cũng kể với chúng tôi thời kỳ đó khi đồng chí vàhoạt động ở Sài Gòn, tổ chức ngoài Bắc này cùng dặn phải tìm bắt liên lạc với Tôn Đức Thắng. Nhiều đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng như Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Duy Trinh, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, v.v.. đều đã ở Côn Đảo với Bác Tôn. Bác Tôn là một trong những người sáng lập ra Chi bộ nhà tù Côn Đảo đầu tiên và luôn luôn giữ cương vị lãnh đạo quan trọng cho tới Cách mạng Tháng Tám. Mười bảy năm tù đày trong nhà giam đế quốc và địa ngục Côn Đảo, Bác Tôn là người đấu tranh không nhượng bộ với địch và là người hết lòng thương yêu giúp đỡ anh em.
Tôi được đến phục vụ Bác Tôn khi tuổi Bác đã cao, ở cương vị đứng đầu Nhà nước song vẫn thấy ở Bác phong cách công nhân: khiêm tốn, giản dị, ghét xa hoa hình thức, giàu lòng nhân hậu thương người. Trong việc công, việc riêng, cách giải quyết của Bác Tôn có những ý nghĩa thật sâu sắc.
Ở bên Bác Hồ hơn mười năm, tôi thấy Bác Hồ và Bác Tôn có nhiều điểm giống nhau nhưng không bao giờ Bác Tôn so sánh với Bác Hồ. Ở cương vị Chủ tịch nước, trong công việc lần nào đó thấy Bác suy nghĩ lâu, tôi thưa với Bác là trước đây Bác Hồ cũng đã làm như thế. Bác Tôn ôn tồn bảo tôi: "Ông cụ là lãnh tụ, có những việc ông cụ làm được mà mình phải cân nhắc".
Theo Bác, khi đi thăm địa phương nào phải có yêu cầu thiết thực và không gây phiền hà, tốn kém cho địa phương, cơ sở. Có lần Bác nói với tôi: "Vài năm đầu về Hà Nội (sau hoà bình 1954) mình hay xách xe chạy xuống mấy nhà máy. Sau xem lại thấy chẳng giúp cho cơ sở được bao nhiêu lại phiền phức cho họ nên phải rút kinh nghiệm". Ở cương vị Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch nước, Bác đã đi thăm nhiều tỉnh như Thái Nguyên, Hoà Bình, Vĩnh Phú, Hà Bắc, Hà Tây, Hà Nam Ninh, Thanh Hoá, Hải Phòng, Quảng Ninh…, song không lần nào Bác nhận quà biếu của địa phương. Một lần Bác đi Bãi Cháy, đồng chí Nguyễn Đức Tâm lúc đó là Bí thư Quảng Ninh sang thăm, biết bác hay uống trà, có đưa chúng tôi 2 cân chè để biếu Bác. Chúng tôi đã nói là Bác không cho nhận quà đồng chí Tâm nói đây là đặc sản của Quảng Ninh vẫn gửi cho đoàn đại biểu ở Hội nghị Pari. Nể lời, tôi mang lên báo cáo Bác. Bác cám ơn và gửi lại. Anh Tâm định cho chúng tôi nhưng chúng tôi đâu có dám nhận.
Chuyến thăm dài ngày của Bác là đi thăm đồng bào miền Nam sau ngày giải phóng thực hiện Di chúc của Bác Hồ. Bác đi Huế, Đà Nẵng, Nha Trang, Thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Long Xuyên, Mỹ Tho. Không đến được từng tỉnh thì Bác triệu tập đại biểu đến một địa điểm trung tâm như gặp các đại biểu Tây Nguyên ở Nha Trang, các tỉnh miền Đông Nam Bộ ở Vũng Tàu, các tỉnh miền Tây ở Cần Thơ. Từ ngày giải phóng miền Nam đến đầu năm 1979, Bác vào Nam 5 lần, cũng vẫn là làm những việc cần thiết, không phiền phức, lãng phí tiền của công sức của dân. Mấy lần mời Bác đi thăm Đà Lạt, Bác đều từ chối. Quân đội sẵn sàng chuẩn bị cho Bác thăm lại Côn Đảo, Bác cũng không đi.
Cũng như ở ngoài Bắc, Bác ra Bãi Cháy nhiều lần, nhưng không một lần ra đảo Hạ Long, vì theo Bác, những chuyến thăm chơi không thật cần thiết của mình cũng tốn nhiều công sức, tiền bạc. Hàng tuần Bác vẫn thường đi chơi ra ngoài Hà Nội: Đường số 1 phía Bắc đến Bắc Ninh, phía Nam đến Phú Xuyên, Thường Tín; đường số 5 đến Phố Nối, Hải Dương, phía Tây đến Sơn Tây... Trên xe commăngca, Bác - cháu đều mũ áo bộ đội, thường dừng lại ngắm nhìn đồng ruộng xem nông dân thu gặt mùa màng. Vào Thành phố Hồ Chí Minh, Bác cũng thích "vi hành” ra ngoại thành vào nhà nông dân ven đường, đi thăm vườn cây đầy hoa trái. Chủ nhà nhận ra Bác rất sung sướng, hái quả tươi trong vườn, chủ - khách, Bác - cháu ngồi ăn trái cây chuyện trò vui vẻ ngay dưới bóng cây mát mẻ.
Lòng nhân hậu, thương yêu giúp đỡ mọi người của Bác Tôn, tôi được nghe nhiều người kể lại, từ thời thanh niên ở Sài Gòn, những năm ở tù Côn Đảo và suốt sau này khi Bác ở cương vị đứng đầu Nhà nước mà tôi được chứng kiến.
Năm 1962, mới đến với Bác tôi đã được chứng kiến một việc. Một bà bạn miền Nam đến thăm hai Bác kể câu chuyện: có một cặp vợ chồng vừa cưới xong thì chồng đi tập kết. Những tưởng 2 năm sẽ trở về đoàn tụ, ai ngờ mòn mỏi trông chờ suốt mấy năm trời và biết đến bao giờ. Đến năm 1959 chị vợ quyết ra Bắc tìm chồng. Không ngờ sang đến Nông Pênh - Campuchia thì bị kẹt phải làm thuê cho một nhà buôn Hoa kiều ở đó. Anh chồng đang là quân y sĩ ở quân y viện 103. Biết chuyện, Bác nhờ Văn phòng Bộ Ngoại giao liên hệ với đại diện của ta ở Campuchia xem lại và giúp đỡ giấy tờ cho chị trở về Việt Nam. Được chủ trả tiền công mua vé máy bay qua đường Quảng Châu, chị ta đã về đến Hà Nội. Vợ chồng chị được gặp nhau sung sướng thật không ngờ. Bác đã vào thị xã Hà Đông mấy lần xem họ sống ra sao. Bác khuyên chị nên học lấy một nghề để có việc làm ổn định lâu dài. Chị vâng lời xin học lớp y tá và vào làm việc trong một bệnh viện. Những người biết chuyện tưởng vợ chồng anh y sĩ có họ hàng với Bác Tôn.
Giải phóng miền Nam, Bác Tôn vào Sài Gòn dự lễ mừng chiến thắng. Ngày 13-5-1975 Bác tới Sài Gòn. Đông đảo các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục miền Nam và Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam đón Bác ở sân bay Tân Sơn Nhất. Thật mừng mừng tủi tủi. Tin Bác Tôn vào dự lễ mừng chiến thắng chưa được công bố. Bác và chúng tôi ở Dinh Độc Lập trong dãy phòng rộng rãi sang trọng của Thiệu3. Ngày 14-5-1975, anh em đưa Bác đi thăm Thành phố. Hơn 2 tiếng trên xe, Bác đi qua những đường phố chính của Sài Gòn - Chợ Lớn rực rỡ cờ hoa. Sáng 15-5-1975, trong buổi lễ Bác Tôn đọc lời chào mừng và đứng trên lễ đài suốt mấy tiếng đồng hồ vẫy chào quân dân Sài Gòn diễu hành, như muốn dừng lại trước lễ đài, hừng hực hân hoan vui sướng, vẫy cờ hoa, hoan hô không biết mỏi. Từ lúc đó qua quyền hình, truyền thanh mọi người đầu biết Bác Tôn vào dự lễ mừng chiến thắng. Thật vui mừng và tự hào biết bao khi nhìn thấy Bác Tôn, người công nhân số một, người dân chủ cộng hoà, ở tuổi 87 vẫn mạnh khoẻ và có mặt trong lễ mừng chiến thắng vĩ đại mà dân tộc Việt Nam sau 30 năm chiến đấu gian khổ mới giành được.
Sáng 16-5-1975, nhiều người đến phòng tiếp dân ở Dinh Độc Lập để tìm người nhà. Đồng chí Ninh - Cục phó Cục Cảnh vệ vào gặp tôi nói có một bà khoảng 70 tuổi, tên là Bảy Lương đến phòng thường trực nói là có bà con với Bác Tôn xin được vào gặp Bác. Bà có đưa một bức ảnh Bác Tôn gái chụp với chị Hạnh, chị Nghiêm lúc 5, 6 tuổi. Tôi vào thưa với Bác. Nghe tên và xem ảnh, Bác rất xúc động nói: "Nó là cô Mụ (nữ hộ sinh), Lập ra xem cho nó vào". Tôi ra phòng thường trực, ở đây có khá đông người. Bà Bảy, một bà má miền Nam mảnh khảnh, hiền hậu, mặc bộ đồ trắng áo dài đang ngồi chờ, vẻ mặt băn khoăn hồi hộp. Bà kêu tôi bằng thầy và kể lại, lúc nhỏ nhà nghèo, mấy chị em cùng quê Mỹ Tho phải ra Sài Gòn kiếm kế sinh nhai. Được Bác cưu mang, người có việc làm, người được tiếp tục học hành. Bà và một người nữa đỗ nữ hộ sinh Đông Dương. Bà vẫn sống ở Sài Gòn. Gần 50 năm, nay thấy Bác trên ti vi mừng vô hạn. Biết là Sài Gòn mới giải phóng, nhưng lại là người sống trong vùng địch, nên khó lòng được gặp Bác Tôn, song không đến không chịu nổi. Đến đây, ít nhất Bác cũng biết bà còn sống và vẫn nhớ công ơn nuôi dạy của Bác. Khi biết tôi ra đón, bà vào gặp Bác Tôn, bà mừng đến tái mặt run người. Vào Dinh Độc Lập, bước lên tầng một đã thấy Bác đứng chờ ở hành lang trong bộ quần áo bà ba cộc tay giản dị. Bà Bảy Lương vừa tiến đến vừa nhìn kỹ người Anh Hai, hai mắt bà đẫm lệ. Bác xoa đầu bà và bảo "Sao mà khóc? Con Ba Ngỗi giờ sao?" - Bà nhớ đô hộ sinh cũng đã được Bác cho ăn học trong Dinh Độc Lập, cuộc gặp gỡ biết bao xúc động…
Thì ra từ những năm 20 của thế kỷ XX, Bác Tôn - Anh công nhân Tôn Đức Thắng đã giúp nhiều thanh niên nhà nghèo vượt khó, trai hay gái phải được học hành, có nghề nghiệp. Bác có nhiều em nuôi như thế. Trong số này phải kể đến ông Mười Đức, người thanh niên quê ở Long Xuyên, nhà nghèo, học giỏi phải về Sài Gòn kiếm việc làm lấy tiền ăn học. Bị cấm thi 3 năm vì làm bài thuê trong kỳ thi, được Bác Tôn giúp đỡ tập tục học, sau được học bổng. Ông ra Hà Nội học đỗ kỹ sư cầu đường, lấy bà Bình là con gái phố Hàng Đào. Khi ông trở về Sài Gòn, Bác Tôn ở Côn Đảo, ông đi tìm Bác gái để giúp đỡ. Sài Gòn tạm chiếm, ông cung cấp cho ta cả bản đồ hệ thống cống ngầm Sài Gòn. Ông bà có 3 con gái, Bình Minh ở lại chăm sóc bố mẹ, dạy nhạc ở Sài Gòn, Bình Thanh, Bình Trang ra Bắc đi kháng chiến. Bình Thanh sau làm đại diện của ta ở Liên hợp quốc. Lễ mừng chiến thắng ông còn nhìn thấy Bác Tôn lên ti vi nhưng không kịp gặp. Cuối năm, Bác vào thì mắt ông đã hỏng. Mỗi lần Bác vào Thành phố Hồ Chí Minh đều cho người đón ông bà đến chơi. Anh em hàn huyên, ôn lại chuyện cũ. Biết sau giải phóng kinh tế ông gặp nhiều khó khăn, Bác lấy tiền tiết kiệm tặng ông mỗi lần vài trăm đồng.
Đối với bạn cũ, Bác Tôn trước sau như một, thân mật chân tình, dù bất cứ ở cương vị nào. Khi về Hà Nội vẫn thường đi lại thăm hỏi nhau. Từ khi Bác làm Phó Chủ tịch nước, chế độ bảo vệ ngày một chặt chẽ hơn. Tuy không có chuyện gây khó khăn phiền phức nhưng bạn bè cũng ít đến với Bác hơn. Thế là Bác lại chủ động đến với bạn bè. Không phải chỉ ở nội thành Hà Nội, mà ngày nghỉ trên chiếc commăngca Bác đi thăm các bạn ở các tỉnh lân cận. Bác đi Vĩnh Yên thăm ông lang Kiều. Bác kể ông Kiều rất giỏi thuốc Nam, ở Côn Đảo, hàng năm người đã được ông cứu khỏi qua những dịch đường tiêu hoá bằng các thứ lá cây. Sau ông lang Kiều được Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn cấp kinh phí mở trường Tuệ Tĩnh ở Đông Quan, đào tạo thầy thuốc Nam cho bộ đội biên phòng và chữa bệnh miễn phí cho người nghèo. Khi ông lang Kiều mất, Bác cho tôi mang vòng hoa đến viếng và mấy lần Bác đến thăm mộ.
Ông Lê Văn Lưỡng - người bạn phụ trách Công hội Ba Son bí mật năm xưa, về hưu ở nông trường Lương Sơn - Hoà Bình, mấy lần Bác cho đón về Hà Nội chơi, mấy lần Bác lên Lương Sơn thăm. Vào nhà ông Lưỡng, Bác không đồng ý cho mời ông đến gặp ở trụ sở nông trường mà phải đi bộ qua mấy quãng đường đồi.
Ông Ba Mãng từ Côn Đảo, Cách mạng Tháng Tám về công tác ở Trung ương Cục Miền Nam, do trình độ hạn chế nên ông chỉ làm những công việc tạp vụ. Tập kết ra Bắc, ông về Văn phòng Trung ương Đảng, hàng ngày cắt tóc cho anh em. Ông đã vài lần cắt tóc cho Bác Hồ. Tuổi già sức yếu, ông được đi Trung Quốc dưỡng bệnh. Trước khi đi ông có nguyện vọng được gặp Bác Tôn. Nghe tôi báo cáo, Bác bảo: "Hai anh em nó là công nhân. Nó là cộng sản thật đấy". Và Bác xuống bệnh viện Việt - Xô gặp ông Ba Mãng, ôm hôn và chúc đi dưỡng bệnh mau khoẻ. Sau Bác cho tôi xuống thăm ông ở với con gái gần cổng sau Bệnh viện Bạch Mai. Biết mùa đông ông nằm không đủ ấm, Bác cho mua một bộ đệm mút mang đến tặng ông. Người đảng viên trung thành đó vô cùng xúc động. Trước khi trở về Nam, ông đã gửi tặng Bảo tàng Hồ Chí Minh gói tóc Bác Hồ mà ông đã thận trọng gìn giữ mấy năm trời.
Bộ trưởng Nguyễn Văn Tạo qua đời, ông đã từng là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp. Hai gia đình biết nhau từ lâu, thường qua lại thăm hỏi thân thiết. Bác bảo tôi đến gặp chị Tạo hỏi xem có khó khăn gì. Chị Tạo rất xúc động nhưng biết tấm lòng chân tình của Bác nên cũng nói thật vì hai cháu còn chưa ra trường, tính toán chi ly mọi thứ, mỗi tháng thiếu mất 20 đồng. Từ đó khi nhận tiền lương hàng tháng, Bác đưa tôi số tiền đó cầm đến tận nhà đưa cho chị Tạo. Gần 2 năm sau khi các cháu ra trường, chị xin cảm ơn và xin thôi không nhận sự giúp đỡ của Bác nữa.
Chị Tạo là một phụ nữ miền Nam rất giàu tình cảm, nấu ăn, bánh trái rất giỏi. Chị có 1 con gái, 1 con trai. Cháu trai học Đại học Quân sự cũng khéo tay không kém mẹ. Thỉnh thoảng chị vẫn mang biếu Bác Tôn chút đặc sản thơm thảo của quê hương.
Chị Hai Sóc, một trong những người lãnh đạo Nam Kỳ khởi nghĩa năm xưa, năm 1950 được Trung ương điều từ miền Nam ra định giao nhiệm vụ Bí thư phụ nữ Trung ương. Không may ra đến trạm giao thông gần đèo Kháng Nhật (dẫy Tam Đảo, tiếp giáp Lập Thạch - Sơn Dương) bị bệnh nặng qua đời. Về Hà Nội, mỗi năm Bác lên thăm mộ chị một lần, đường đi lại khó khăn vất vả. Năm 1965, Bác đồng ý cho chúng tôi chuyển mộ chị về Khu A Nghĩa trang Văn Điển. Lâu lâu Bác lại đến viếng thăm. Sau ngày Giải phóng miền Nam, gia đình chuyển di hài chị về 18 thôn Vườn Trầu.
Sau giải phóng miền Nam, Bác nhận được nhiều thư, trong đó có thư của ông Võ Văn Thể ở Gia Định cũng là lính thợ đã đi Pháp với Bác, kèm theo bức ảnh cùng chụp chung ở Toulon năm 1916, ông Nguyễn Lung Linh - thư ký Sở dây thép Sài Gòn, được Bác tuyên truyền vào Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuối năm 1975 vào Thành phố Hồ Chí Minh, Bác muốn gặp hai ông. Thời điểm đó ở Sài Gòn đang có Hội nghị Hiệp thương chính trị giữa hai miền, mà đồng chí Trường Chinh, Chủ tịch Quốc hội là Trưởng đoàn đại diện cho Việt Nam dân chủ cộng hoà. Vì phải giữ bí mật, nên tôi đến gặp hai ông nói là Bác Tôn đã nhận được thư của các ông. Nay vị đại diện của Chính phủ vào họp mời hai ông ngày mai đến gặp. Hai ông rất mừng. Ông Linh - công chức cũ điềm đạm ít nói, ông Thể - công nhân hơn 80 tuổi song vẫn rất khoẻ, mở cửa hàng sửa chữa xe máy. Ông mừng rối rít mời tôi vào nhà trong. Biết tôi là người giúp việc cho Bác Tôn, ông say sưa kể chuyện: “Ông cụ là người dìu dắt tôi từ lúc tôi mới bước vào nghề. Dạy tôi sửa chữa từ cái máy nhỏ đến máy lớn. Tay nghề ông rất siêu, nhìn máy, nghe tiếng máy nổ ông biết máy hỏng chỗ nào. Hãng Kroff phải trả ông 150 đồng 1 tháng lương, ngày đó 3 đồng bạc Đông Dương 1 tạ gạo. Ông bênh vực giúp đỡ anh em, ai cũng yêu mến ông. Ông làm cơ khí trưởng trên chiến hạm France, tôi ở với ông mấy năm ở Pháp. Tuổi trẻ bọn tôi cũng có chơi bời lăng nhăng đôi chút. Nhưng ông thì không, sống rất đứng đắn. Ông để thì giờ học hành đọc sách, đi thăm đây đó. Tôi coi ông là người anh Hai…”. Câu chuyện không dứt, định chỉ đến hẹn mời ông, song tôi phải ngồi gần 2 tiếng nghe câu chuyện hấp dẫn. Ra về hẹn gặp lại ông để được nghe chuyện.
Hôm sau tôi đến đón hai ông, cả hai đều đã complê, cravát chỉnh tề để đi gặp vị đại diện cấp cao của Chính phủ. Xe đi một lát, tôi hỏi hai ông: "Chắc hai bác muốn được gặp Bác Tôn lắm?". Ông Thể nói ngay: "Tôi chỉ mong được gặp lại ông một lần rồi về chết cũng được". Tôi cười: "Thực ra bữa nay Bác Tôn cho cháu đón hai bác đến chơi với Bác Tôn. Sợ đêm hai bác mất ngủ nên giờ cháu mới dám nói". Hai ông sững người, ông Thể hỏi tôi giờ phải kêu Cụ như thế nào. Hai ông biết ngoài Bắc mọi người đều gọi là Bác Tôn.
Ô tô vào thẳng ngôi nhà 1 tầng ở T.78. Xuống xe đã thấy Chủ tịch Tôn Đức Thắng đứng chờ trên thềm với trang phục thường, áo sơ mi trắng cộc tay, quần lụa trắng. Bác ôm hôn từng người rồi hai tay dắt hai ông bạn già vào phòng khách, mỗi ông ngồi một bên trên chiếc sa lông dài. Tiếp khách nước trà, bánh ngọt đơn giản. Thăm hỏi sức khoẻ đời sống gia đình. Câu chuyện mỗi lúc một thêm sôi nổi. Ông Thể say sưa kể lại những kỷ niệm xưa. Bác ngồi nghe miệng tủm tỉm. Đến đoạn cao hứng, ông Thể cười ha hả, quên hẳn bên cạnh mình là vị Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng, ông vỗ đùi Bác hỏi: "Anh Hai có nhớ không?", Bác cười hiền hậu, nắm chặt tay ông. Sau buổi gặp gỡ, Bác vui như sống lại một đoạn thời thanh niên. Hai ông bạn ra về, Bác không quên gửi mỗi người một gói kẹo cho các cháu nhỏ.
Bác thích làm việc chân tay, hai ngăn kéo dưới tủ áo là nơi để bộ đồ nghề. Đủ cả cưa gỗ, cưa sắt, kìm búa, khoan mũi lớn nhỏ. Mọi thứ đều được bảo quản dầu mỡ cẩn thận. Lúc rỗi rãi cần sửa gì Bác tự tay làm lấy. Anh em phục vụ sửa chữa vào mượn, làm xong phải lau chùi sạch sẽ trả vào chỗ cũ. Ngày chủ nhật, anh em sửa xe đạp ngoài sân, Bác đứng xem thấy ngứa mắt kéo ghế ngồi làm giúp. Nhìn bàn tay Bác sử dụng đồ nghề thật ngon mắt. Bác có chiếc xe đạp Junior của Tiệp mua giá tự do 18 đồng4, dùng mười mấy năm vẫn như mới. Một hôm tôi đang ngồi làm việc với Bác trong phòng, bỗng Bác ngừng lại nói: "Thằng Chuân (người nấu ăn già của Bác) đang phá cái dũa". Thì ra ở ngoài sân, ông Chuân đang dùng chiếc dũa sắt dũa trục xe đạp. Đi thăm Cung Thiếu nhi Hà Nội, Bác dừng lại trong phòng học nghề, uốn nắn tư thế lao động cho các cháu, vui vẻ đứng làm mẫu cho các cháu xem. Bác vẫn là người công nhân.
Bác Tôn rất kiên trì rèn luyện thân thể. Đến 80 tuổi Bác vẫn từ chối không chịu để xoa bóp. Bác gọi đó là "kiểu Hoàng Cao Khải”. Thể dục thường ngày của Bác là đi bộ. Từ 4 giờ sáng đi từ Trần Phú đến Cống Vọng. Có bữa gặp bộ đội đi tập buổi sáng, Bác bước kịp theo đoàn. Một dạo mỗi sáng đi quanh sân Cột Cờ một tiếng. Thấy ra vào lính gác cứ đứng nghiêm chào, Bác trở về đi trong sân nhà. Đi bộ của Bác là đi toát mồ hôi chứ không phải là đi dạo. Ngày mưa Bác tập thể dục trong nhà với những động tác mạnh. Một hôm Hội đồng sức khoẻ đến thăm, khuyên Bác không nên tập động tác uốn lưng ra sau nó ảnh hưởng cột sống. Bác đứng dậy uốn lưng luôn mấy cái và cười nói động tác này Bác vẫn tập hàng ngày. Bác thích đi xe đạp: 4 giờ sáng đi một vòng Hồ Tây, về đến Trần Phú là 5 giờ sáng, quãng đường hơn l5 cây số. Cái thú nhất của Bác có lẽ là bơi trên biển. Sinh ra và lớn lên ở Cù lao ông Hổ giữa sông Hậu mênh mông như biển, mọi người đều quen sông nước. Bác lại là công nhân thủy thủ trên tàu Đại Dương, hàng ngày phải tập luyện bơi lặn giữa biển khơi trong vòng lưới chống cá mập. Mỗi lần Bác ra tắm biển ở Đồ Sơn, Sầm Sơn, anh em bảo vệ phải vất vả bơi theo Bác. Bác lại hay đùa lặn lâu dưới nước. Lần cuối cùng Bác bơi là năm 1978, khi đã 90 tuổi. Ra Đồ Sơn, theo lời khuyên của bác sĩ, mấy ngày Bác đã không bơi, chỉ từ 4 đến 5 giờ sáng, áo lá5 quần đùi đi bộ trên bãi cát. Hôm đó lúc quay về, Bác đi ra mép nước, bước dần ra chỗ sâu rồi đột ngột lao xuống nước bơi ngụp. Tiếp cận đi bên chỉ kịp bỏ súng ngắn, lao theo Bác. Trên bãi biển sớm hôm đó có đoàn chuyên gia Trung Quốc và Cu Ba được tận mắt thấy Chủ tịch Tôn Đức Thắng 90 tuổi bơi lặn trên biển.
Khác với Bác Hồ, Bác Tôn có gia đình và những năm tuổi già Bác được sống với gia đình, vui với con cháu. Tôi không quên được bữa đầu tôi đến Bác. Một ngày nghỉ, đầu mùa hè năm 1962. Bóng mát cây si ở góc sân, dưới mái nhà cầu, Bác Tôn quần cộc áo lá đang nằm trên võng, cháu trai 5,6 tuổi ngồi trên bụng, ông cháu đang vui đùa. Bác gái đang ngồi khâu chiếc áo cánh trắng. Chị Hạnh mang cho tôi cốc nước chanh đá pha mật ong. Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu nói chuyện với hai Bác và những người trong gia đình thật ấm cúng.
Gia đình chị Hạnh, chị Nghiêm, vợ chồng đều là cán bộ trung cao cấp. Chị Hạnh có 1 con trai, 1 con gái. Chị Nghiêm có 3 gái. Để ở chung với Bác, mỗi gia đình ở 1 phòng diện tích không quá 20 thước vuông. Sau này chuyển xuống 24-26 Cao Bá Quát cũng vậy. Ngôi nhà có 2phòng rộng hơn (38m2) hai chị nhất định nhường cho tôi vì gia đình tôi đông người hơn.
Thời bao cấp tem phiếu định lượng theo từng cấp. Sổ mua hàng của Chủ tịch nước thuộc loại gần như theo yêu cầu. Hết chỗ ghi, thay sổ khác. Nhưng sổ mua hàng của gia đình Bác Tôn mỗi năm chỉ một quyển mà nhiều trang còn bỏ trắng. Chỉ mua chè tiếp khách, kẹo bánh cho trẻ con, thỉnh thoảng cân đường, cân bột làm bánh ngọt biếu bạn già, chiếc bút Trung Quốc, cái xoong cái chậu mừng anh nhân viên lấy vợ, hộp thuốc bổ Đông y cho người phục vụ có bố mẹ già, khi đi phép.
Như mọi cán bộ, các con Bác Tôn phải tự lực. Chị Hạnh còn đỡ vất vả vì anh Phúc có phiếu B. Chị Nghiêm phải xếp hàng hàng giờ để mua cân đường. Anh Trúc, Phó tiến sĩ, Chủ nhiệm khoa Đại học Y, khoẻ mạnh chuyên đi xếp hạng từ thật sớm mua gạo, mua thực phẩm để kịp giờ đi làm.
Các cháu cũng vậy, không dựa vào ông cha. Một lần, đồng chí Lê Duẩn đến thăm Bác Tôn ở Đồ Sơn, thấy Bác đi nghỉ có một mình, anh bảo tôi: Bác có con cháu gái là bác sĩ có đứa con nhỏ 3, 4 tuổi, điều nó về để đi đâu có đức cháu nhỏ cho Bác vui. Tôi nói với Bác. Bác bảo nó phải làm việc của nó. Đi theo tôi sau này nó làm gì để sống.
Giải phóng miền Nam, 5 cháu của Bác đều đã lớn, 3 cháu đã đi làm, 2 cháu đang học đại học. Chỉ có cháu gái Hoài Nam sĩ quan quân đội nhân dịp nghỉ phép được cùng ông về thăm quê. Còn 4 cháu đến năm 1980 vẫn chưa có dịp vào miền Nam mặc dù ông đã 5 lần vào trong đó bằng chuyên cơ.
Tôi rất mừng là 5 cháu đều học hành đến nơi đến chốn. Thằng cháu trai ngồi trên bụng ông năm nào, suốt những năm học phổ thông vào phòng ông lấy hết những bản tin Thông tấn xã Việt Nam ngồi vẽ súng ống xe tăng tàu bay tàu bò…, nay đã là Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam và là sĩ quan giỏi về kỹ thuật khí tài.
Nghĩ đến gia đình Bác Tôn không thể không nghĩ tới Bác Tôn gái - bà Đoàn Thị Giàu. Bác thật xứng đáng là người Phụ nữ Việt Nam trung hậu, đảm đang. Thời thanh niên Bác đã giúp Bác trai nuôi bao nhiêu bạn bè, em út trong phong trào vận động công nhân… Chồng đi tù đã tần tảo, gian khổ nuôi hai người con gái lớn khôn. Sau Cách mạng Tháng Tám chồng con ra Bắc, Bác ở lại, ra bưng biền công tác. Thắng Pháp, Bác mới được sum họp gia đình. Ở tuổi ngoài 60 đáng ra phải được nghỉ ngơi, ở địa vị phu nhân rồi "đệ nhất phu nhân”, Bác vẫn cần cù lao động. Có người nấu ăn, Bác vẫn tự tay làm những món ăn miền Nam mà Bác trai thích như cá trê, cá lóc. Quần áo tự tay cắt khâu lấy, đường kim mũi chỉ không khác gì máy. Quần áo tự tay giặt lấy. Năm 70 tuổi Bác còn tự giặt tấm khăn trải giường. Chúng tôi học Bác cách giải tấm khăn trải giường, vừa nhẹ nhàng vừa thật phẳng phiu. Bác trai cười bảo đó là nghề của Bà thời kỳ đi "làm mọi". Có thể Bác khâu chiếc áo bà ba một tháng mới xong nhưng không sao. Hàng ngày Bác còn đọc sách báo, hướng dẫn các cháu nhỏ học. Ngày xưa Bác đã từng là cô giáo. Bác đọc đơn thuốc tiếng Pháp, phát âm rất chuẩn. Khi Bác bị tai biến mạch máu não lần thứ nhất mới phải có người giúp việc. Chị em nhân viên lao động ở Văn phòng rất ngại giúp việc gia đình riêng. Song với gia đình Bác Tôn thì khác. Chị Nguyễn Thị Liễn bị cảm xin nghỉ. Bác gái cầm hộp sữa bảo tôi: "Chị Liễn ốm, tôi không đến thăm được. Tôi nhờ đồng chí giúp. Bảo chị cứ nghỉ đến khi nào khoẻ hãy đi làm". Hai hôm sau chị Liễn đến làm việc, Bác ân cần hỏi han, bảo khoẻ hơn hãy làm đừng gượng.
Bác gái bao giờ cũng gọi tôi là đồng chí vì tôi là Bí thư chi bộ. Nhận tôi vào giúp hàng tháng, Bác đều tìm gặp tôi đóng Đảng phí.
Cũng như khi ở với Bác Hồ, tôi không thấy Bác Tôn cáu gắt một lần nào. Những đồng chí ở Côn Đảo với Bác nhiều năm cũng nói Bác Tôn không cáu gắt, nói nặng hoặc to tiếng với ai bao giờ. Tôi được nghe câu chuyện: Năm 1946 trên đường ra Bắc vì Pháp đã chiếm đóng Nam Bộ nên phải di thuyền bằng đường biển từ Cà Mau ra miền Trung. Tàu thuyền cũ ấy, la bàn sọc sệch, Bác phải giúp chủ thuyền và trở thành người chỉ huy chính. Giữa biển khơi mênh mông sóng gió, chưa tìm được con đường chính xác. Thuyền đông mọi người đều lo lắng. Bác Tôn với chiếc la bàn trên tay, quan sát trời biển, bàn bạc với anh em thuỷ thủ. Trên thuyền có vị phái viên Chính phủ (cũng xuất thân Trường Bách nghệ thực hành Hà Nội, khi đó giữ cương vị khá cao trong Đảng) vốn tính nóng nảy, sốt ruột ông luôn luôn quát: "Làm ăn như trò trẻ con". Bác Tôn vẫn bình tĩnh tập trung làn công việc của mình. Cuối cùng thuyền cập bến ở Tung Hoà. Bác trả lại chiếc la bàn cho anh em và nói: "Tôi trả lại các anh cái trò trẻ con".
Những người giúp việc có sai sót gì Bác đều nhẹ nhàng chỉ bảo. Bác biết đến những cố gắng của anh em. Đồng chí Nguyễn Văn Chuân người Ninh Bình, cùng một số đảng viên biết nghề nấu bếp được các tỉnh chọn lên Việt Bắc phục vụ Đại hội Đảng lần thứ II năm 1951. Khi về Hà Nội nấu ăn cho Bác nhiều năm rất tận tuỵ. Đồng chí Nguyễn Văn Mùi, người lái xe cho Bác Hồ 10 năm không sai sót, được sangphục vụ Bác Tôn từ cuối năm 1969. Sáng sớm chủ nhật Bác cũng thấy đồng chí Mùi có mặt. Bác bảo: "Biết mình không đi đâu mà ngày nghỉ cũng phải đến. Làm cái công việc gò bó". Bác nhắc tôi phải bố trí cho anh em có ngày nghỉ. Nhìn thấy đồng chí Hà Huy Chế cần vụ, người Hà Tĩnh đang leo trên mái ngói quét lá khô trong máng nước, Bác nói với anh em đứng bên: “Thằng Chế trông nhỏ con mà nó cặm cụi suốt ngày". Đồng chí Nguyễn Thị Liễn tận tuỵ giúp việc. Bác gái bị bệnh nặng, Bác nói với chị: "Tôi không biết là gì cảm ơn chị". Bản thân tôi cũng nhiều lần được nghe Bác nói với các đồng chí đến thăm Bác: "Bây giờ Anh này giúp tôi tất cả mọi việc". Bán rất yêu cháu nhỏ. Con cháu người ta cũng như con cháu mình. Buổi tối từ khi truyền hình có chương trình thực nghiệm, các cháu con anh em phục vụ được ngồi xem với Bác.
Như thế, những anh em được phục vụ Bác, ai cũng cố gắng làm tròn nhiệm vụ. Chúng tôi làm việc không chỉ là vì trách nhiệm mà là cả tấm lòng quý mến, tình cảm chân thành. Lo lắng lớn nhất của chúng tôi về sức khoẻ của Bác là những bất ngờ xảy ra. Ở tuổi tám chín mươi sao có thể tính hết mọi chuyện. Việc bố trí chăm sóc phải chu đáo tỉ mỉ. Canh gác trước sau do anh em công an vũ trang đảm nhận. Theo sát bên Bác đêm ngày là lực lượng cảnh vệ. Đêm Bác thức dậy mấy lần, Bác ho mấy tiếng…, đều được anh em cảnh vệ ghi vào sổ trong giờ trực của mình. Bác không muốn phiền mọi người nên đêm thường khoá chặt cửa phòng. Nhưng khoá cửa sau phòng rửa mặt đã bị tháo chốt, đèn ngủ đầu giường đã nối với đèn hành lang. Khi Bác bật đèn ngủ là cảnh vệ đã sẵn sàng bên Bác khi có sự cố. Song, tất cả kế hoạch chuẩn bị đều không phải thực hiện. Bác giữ sức khoẻ tốt.
Giải phóng miền Nam, tôi nghĩ Bác và gia đình sẽ chuyển vào Nam, vì Bác Tôn sinh ra ở miền Nam, quê hương họ hàng nội ngoại đều sống ở miền Nam. Chúng tôi biết Bác rất ghét chủ nghĩa địa phương, cục bộ, phân biệt miền Nam, miền Bắc. Song cũng biết Bác luôn nghĩ tới miền Nam. Bác tiếp các đoàn miền Nam ra Bắc, gặp chia tay các chiến sĩ miền Bắc lên đường vào Nam làm nhiệm vụ đặc biệt. Trong phòng Bác treo bức ảnh chụp chung với anh hùng dũng sĩ miền Nam. Vợ chồng bác sĩ Trần Nam Hưng, có họ hàng với Bác gái, tuổi đã lớn, những năm 1960 đã đeo ba lô vượt Trường Sơn trở về Nam làm nhiệm vụ, 2 người con gái có con nhỏ ở lại công tác tại Hà Nội. Qua thư từ, Bác khuyến khích, theo dõi cuộc hành trình của vợ chồng ông, đi lại thăm nom các cháu, giúp đỡ giải quyết lúc khó khăn.
Cuối năm 1976, Bác vào công tác ở Thành phố Hồ Chí Minh đến ngày giáp Tết Nguyên đán. Bao nhiêu năm không ăn Tết ở Sài Gòn, mọi người đều mời Bác ở lại, Bác không đồng ý. Đồng chí Hoàng Quốc Việt và Xuân Thuỷ sang thuyết phục Bác. Chuyện trò trong phòng lúc lâu, hai ông ra vui vẻ bảo chúng tôi: "Bác đồng ý rồi, các cậu thu xếp đón cả các cháu vào ăn Tết với Bác”. Tôi rất mừng vì thật lòng cũng muốn biết cái Tết ở miền Nam. Tôi vào hỏi lại Bác, Bác bảo mai ta ra Hà Nội, ở địa vị mình các ông ấy cũng không làm như thế.
Đồng chí Phạm Hùng là người đã cùng ở tù với Bác nhiều năm ở Côn Đảo. Những cuộc đấu tranh trong nhà tù, địch đánh đập rất dã man. Đồng chí Phạm Hùng và Bác Tôn là những người gan dạ nhất, thường vẫn lấy thân mình đỡ đòn cho anh em phần đông là thư sinh, trí thức. Tình cảm hai người sau này càng gắn bó. Đồng chí muốn Bác Tôn trở về Nam an dưỡng tuổi già. Đồng chí Nguyễn Quang Xiển phụ trách T.78 (Văn phòng Trung ương ở Thành phố Hồ Chí Minh) một hôm dẫn tôi đi thăm ngôi nhà đã chuẩn bị cho Bác. Đây là ngôi nhà một tầng thuộc khu biệt thự An Phú, nhà ở sát sông Sài Gòn gió mát lồng lộng. Anh em đã lát xong con đường quanh nhà để Bác tập thể dục hàng ngày. Đồng chí Xiển chỉ 3 ngôi biệt thự dọc liền phía trong nói: "Đây là nhà chị Hạnh, chị Nghiêm, ông Lập". Tôi về mời Bác đi xem nhà, Bác bảo ta có ở trong này đâu mà đi xem. Bác không đi xem. Sau này tôi mới biết, trước đó đồng chí Phạm Hùng đã gọi anh Dương Văn Phúc, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Thủ tướng là chồng chị Hạnh, đến giao nhiệm vụ: "Ông già tuổi đã cao cần chuyển vào Nam an dưỡng, sống thêm nhiều năm nữa. Cậu không được ngăn cản mà phải thuyết phục để ông cho chuyển cả gia đình vào trong đó”. Anh Phúc về nói với Bác, Bác hỏi: "Sao? Đánh nhau không được vào Nam giờ hoà bình lại vào chiếm nhà à?".
Năm 1978, Bác Tôn đã sang tuổi 90, Trung ương định xây ngôi nhà nghỉ cho Bác ở ngay Hà Nội. Địa điểm được chọn là khuôn viên chùa Trích Sài, phường Bưởi trên bờ Hồ Tây, cảnh vật thật đẹp, yên tĩnh mát mẻ. Nhà đã thiết kế, vật liệu đã chuẩn bị, sắp khởi công thì Bác biết. Bác cho gọi ông Nguyễn Việt Dũng, Chủ nhiệm Văn phòng Phủ Chủ tịch sang hỏi: "Các anh định xây nhà cho tôi?" Ông Việt Dũng làm như không biết: "Không ạ. Cháu nghe như Phủ Thủ tướng định xây nhà khách ạ". Bác: "Thế là chuyện khác, còn nếu định xây nhà cho tôi thì để các anh ở" và Bác nói sang chuyện khác. Thế là kế hoạch bị vỡ.
Những món quà các đoàn quốc tế gửi tặng, Bác không giữ lại trong nhà thứ gì mà dùng biếu lại những nhân sĩ tiêu biểu trong Mặt trận. Ông đại diện Thiên chúa giáo được Bác tặng tấm thảm len, vị đại diện Phật giáo được Bác tặng chiếc khay đồng trạm trổ. Các vị rất xúc động khi được Chủ tịch nước quan tâm6.
Tuổi cao, đất nước đã thống nhất, Bác muốn xin nghỉ. Một lần vào Thành phố Hồ Chí Minh, Bác sang thăm đồng chí Lê Duẩn. Hai vị nói chuyện phòng trong. Một lát sau đồng chí Lê Duẩn ra gọi anh Việt Dũng và tôi vào bảo: "Các anh ngồi cả đây cùng nghe. Tôi xin nói với Bác. Bác nghỉ cũng là làm việc, làm việc cũng là nghỉ ngơi, xin Bác đứng đằng trước cho chúng tôi làm. Hiện nay đất nước vẫn đang rất cần có Bác”. Và đồng chí quay bảo chúng tôi hãy chăm sóc tốt sức khoẻ cho Bác.
Khi nhận nhiệm vụ Bác luôn lo làm tròn. Ở tuổi 90 Bác vẫn phải phát biểu trước công chúng, tiếp khách quốc tế. Làm những việc tưởng như đơn giản đó song bao giờ cũng chuẩn bị thật chu đáo, vì thế chưa bao giờ để xảy ra sơ suất, sai sót nhỏ. Thời kỳ đó ngoại giao ta chưa mở rộng. Đại sứ các nước xã hội chủ nghĩa, các nước dân tộc chủ nghĩa được Bác tiếp đều có chung ấn tượng rất tốt: cởi mở, chân tình.
Bác Tôn được mọi người quý mến. Các đồng chí chủ chốt của Đảng thường đến thăm và thông báo những việc cần thiết với Bác. Sáng mồng một Tết năm nào đồng chí Võ Nguyên Giáp cũng đến mừng tuổi Bác. Anh Văn bảo tôi: "Tết mình không đi đâu, đến Bác rồi sang thắp hương bên Bác Hồ".
Người bạn tâm đắc của Bác Tôn trong những năm cuối là Phó Chủ tịch Nguyễn Lương Bằng - Anh Cả, cái tên được anh em đồng chí suy tôn từ thời kỳ Đảng còn trứng nước và được dùng suốt cả sau này vì phẩm chất cách mạng cao quý của Anh. Có lần đồng chí Trường Chinh nói với tôi: "Cũng là học trò của Bác Hồ. Nhưng Anh Cả học ở Bác nhiều hơn chúng tôi". Đồng chí Nguyễn Lương Bằng lo mọi việc của Phủ Chủ tịch và bao giờ cũng giữ đúng vị trí người trợ giúp Chủ tịch. Hai vị hợp nhau nhiều mặt, thường ngồi đàm đạo. Giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, mọi người vui mừng vô hạn. Hai vị càng vui mừng. Tôi nghe hai vị tâm sự: trước thắng lợi to lớn này cần đề phòng chủ quan, dễ mắc sai lầm lớn.
Đầu năm 1979, sức khoẻ anh Cả giảm sút nhanh, Bác Tôn đi lại thăm nom và cho tôi hàng ngày đến nhà, dự những cuộc hội chẩn của Hội đồng sức khoẻ, về báo cáo lại Bác. Trước khi vào bệnh viện lần cuối, Anh Cả ngồi nói chuyện với tôi khá lâu như dặn dò: Con đường cách mạng gian khổ quanh co, khúc khuỷu, khi lên khi xuống, không bao giờ được để mất lòng tin ở thắng lợi cuối cùng. Bác Tôn là người rất đáng quý, hãy hết lòng chăm sóc Bác. Anh Cả qua đời ngày 20-7-1979.
Anh Cả mất, nỗi xúc động lớn ở Bác Tôn. Bệnh u sơ tiền liệt tuyến ở Bác lâu nay ổn định bỗng bùng phát. Vì bí tiểu tiện, ngày 13-8-1979 phải đưa vào cấp cứu ở Quân y viện 108. Tuổi Bác cao sợ không chịu nổicra phẫu thuật lớn, mà đất nước vừa chịu một quốc tang nên Hội đồng sức khoẻ không dám mổ, chỉ dẫn lưu để giữ Bác lại. Bác cố gắng phấn đấu chống bệnh tật. Bảy tháng trời nằm viện, Bác vẫn đi bộ hàng ngày quanh hành lang bệnh viện. Sang năm 1980, bệnh không thuyên chuyển, sức khoẻ kém thêm. Trong lúc lơ mơ, Bác nhớ nhiều về quê hương, Bác bảo bố trí cho Bác về Long Xuyên. Bác nói: "Long Xuyên là nơi tôi sinh ra và lớn lên. Tôi rất nhớ Long Xuyên". Các đồng chí lãnh đạo Đảng luôn vào thăm Bác nhắc lại những kỷ niệm xưa. Đồng chí Lê Duẩn kể lại: "Tôi không bao giờ quên Bác - lần thứ nhất khi tôi ở Côn Đảo trở về Bác có mấy chục đồng bạc dành dụm được, đưa cả cho tôi để về đất liền có tiền hoạt động".
Buổi đi bộ hôm 23-3-1980, ra đến cuối hành lang, Bác không quay lại mà bước thẳng xuống cầu thang gác. Anh em đi kèm hai bên không giữ lại được. Xuống dưới nhà, Bác bước ra sân và đi ra phía trước. Các bệnh binh ở dãy ngoài trông thấy Bác, gọi nhau chạy ra vỗ tay chào Bác. Bác giơ tay chào rồi quay lại. Đến cầu thang Bác không bước lên được mà phải ngồi ghế chuyển lên. Từ buổi đó, bệnh Bác trầm trọng hẳn. Những lúc áp huyết tụt, truyền thuốc lại qua được. Không lấy được tĩnh mạch ở tay chân, phải lấy ven đòn vai rất đau đớn. Chúng tôi và cả gia đình cũng không chịu nổi. Nhưng ai dám ra lệnh cắt thuốc. Năm trước, khi Bác gái đau nặng, biết không qua khỏi, với người bạn đời vô cùng yêu quý, Bác đã đề nghị cắt thuốc để khỏi kéo dài đau đớn vô ích.
Sáng 29-3, đồng chí Lê Duẩn vào thăm Bác. Thấy bệnh tình Bác như vậy không cầm nổi xúc động…
Quá nửa đêm 29-3, áp huyết của Bác lại tụt và Bác ra đi lúc 6 giờ 35 phút ngày 30-3-1980.
Bác Tôn ra đi rất thanh thản. Mọi chuyện Bác đã sắp xếp xong từ lâu. Nhà cửa, tiện nghi sinh hoạt - mọi thứ Nhà nước cung cấp đều trả lại Nhà nước. Con cháu là cán bộ nhà nước hưởng theo chế độ chung không chờ ưu tiên, ưu đãi.
Bác Tôn Đức Thắng, người công nhân Việt Nam số 1 đã trọn đời cống hiến cho dân cho nước, suốt đời một phong cách công nhân trong sáng, cao đẹp biết bao.
_____________
* Nguyên thư ký riêng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.
1. Bác Tôn có một người con trai ra đời lúc Bác bị giam trong Khám lớn Sài Gòn. Trước khi bị đày đi Côn Đảo đã nhìn thấy mặt con, không may năm 3 tuổi con trai bác đã mất (T.G).
2. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội. 2002, t.9, tr.221.
3. Nguyên Tổng thống chính quyền Việt Nam Cộng hoà (B.T)
4. Phân phối cung cấp 13 đồng (T.G).
5. Áo lá: áo lót miền Nam, như may ô 3 lỗ may bằng vải mỏng, có 2 túi cài cúc như áo bà ba (T.G).
6. Cũng dịp này tôi mới biết trong nhà thờ Đa Minh có gian phòng thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh theo truyền thống dân tộc: chân dung, bát hương, tam sự. Tôi được tiếp ở phòng đó (T.G)
Kể về cuộc đời trong sáng của một vị Chủ tịch nước (1) NGUYỄN HOÀNG LONG *
Đơn vị chúng tôi vinh dự được Đảng, Nhà nước, ngành công an, lực lượng an ninh, lực lượng cảnh vệ giao nhiệm vụ bảo vệ Bác Tôn, chăm lo sức khoẻ cho Bác Tôn trong hơn 10 năm cuối đời. Tôi được giao phụ trách đơn vị này. Bác Hồ và Bác Tôn là hai vị lãnh tụ của nhân dân ta, đồng thời là hai người bạn chí cốt, thân thiết, một tấm gương về tình đồng chí, tình cảm cách mạng trong sáng. Tôi có sự may mắn và hết sức vinh dự là được phục vụ bảo vệ Bác Hồ trong hơn chục năm, đến khi Bác Hồ qua đời, tôi lại được phục vụ bảo vệ Bác Tôn.
Bác Tôn là một đồng chí lão thành cách mạng lớn của nhân dân ta và đồng thời là một nhà cách mạng quốc tế. Năm 1919 Bác tham gia khởi nghĩa chống đế quốc ở Biển Đen, là một trong những người cộng sản kiên trung, bị tù đày dưới chế độ thực dân đế quốc rất lâu (17 năm tù đày trong nhà giam đế quốc và địa ngục Côn Đảo). Bác Tôn là một người nhân đức, phúc hậu và một lòng vì Đảng. Người ta thường nói: "Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại", nhưng Bác Tôn là một người cộng sản bị tù đày trong khoảng thời gian rất dài, không phải là mấy tháng, mấy năm, mà là hàng mấy chục năm song vẫn sống, đấu tranh, kiên trung bất khuất và chiến thắng. Tôi luôn suy nghĩ, chúng tôi phải làm gì và làm như thế nào để hoàn thành được nhiệm vụ vinh quang mà Đảng và nhân dân giao cho là bảo vệ được một con người trung kiên, một trong những tinh tuý của Đảng, của Nhà nước, một lãnh tụ xuất sắc của dân tộc ta.
Sau khi Bác Hồ qua đời, Bác Tôn kế tục chức vụ Chủ tịch nước. Các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước như anh Hoàng Quốc Việt, Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng... thường đến thăm và báo cáo với Bác tình hình công tác sau mỗi chuyến đi công tác, bất kỳ công tác ở đâu về, Bác cũng rất quan tâm và quý trọng các anh. Tôi nhớ, có một lần sinh nhật Bác vào năm 1978, khi ấy Bác được 90 tuổi. Các anh trong Bộ Chính trị và một số các anh ở phía Nam ra công tác, trong đó có anh em nhà anh Mai Chí Thọ, anh Tố Hữu… đến chúc mừng Bác. Anh Xuân Thuỷ đã chúc Bác mấy câu thơ, mà theo tôi, bài thơ đó đã gói ghém bọn cuộc đời của một vị Chủ tịch nước trong cả quá trình hoạt động, với 90 tuổi đời:
Hắc Hải, Côn Lôn đã mấy người
Hai lần kháng chiến một niềm vui
Chín mươi tuổi chẵn gương trong sáng
Ngắm cảnh non sông Bác mỉm cười
Bác là người kéo cờ phản chiến ở Biển Đen, là một trong những người tù chính trị ở Côn Đảo lâu nhất. Chúng tôi sống với Bác không nhiều so với các bậc lão thành cách mạng cùng hoạt động và với cả cuộc đời 90 tuổi của Bác. Được trực tiếp phục vụ Bác là vinh dự của ngành giao cho chúng tôi. Bác Tôn là một lãnh tụ hết sức trong sáng và vô cùng đức độ, dù bất cứ ở hoàn cảnh nào, lúc nào Người cũng đặt lợi ích của nhân dân, đất nước lên trên hết.
Trong cuộc sống đời thường, Bác Tôn rất giản dị. Bác Tôn gái và gia đình cũng vậy, hết sức cần kiệm, ăn uống, sinh hoạt rất đơn giản. Trang phục thường ngày của Bác Tôn là bộ đồ cao cổ khi đi họp, dự lễ, về nhà thì áo gụ hoặc áo cánh chuồn... Đặc biệt, Bác rất quan tâm và thương yêu anh em, bạn bè, đồng chí, các cháu trong gia đình và con em cán bộ, chiến sĩ. Lúc nào Bác cũng hết sức gần gũi, ưu ái với mọi người, ở Bác luôn toát lên sự đôn hậu, mẫu mực. Đó là một điều khiến chúng tôi luôn tâm niệm là phải học tập, nêu gương Bác, cố gắng cao nhất để đảm bảo công tác bảo vệ an toàn đối với Bác.
Được sống và làm việc với Bác nhưng chúng tôi thấy Bác rất ít nói về mình. Khi anh em chúng tôi gợi hỏi thì Bác cũng có kể lại một số mẩu chuyện nhỏ rất thân tình như ông kể cho cháu, như cha kể cho con trong nhà nghe. Có một lần tôi hỏi về cái bướu ở đằng sau gáy của Bác, Bác kể với tôi rằng: "Lúc bấy giờ chúng nó kèm tôi ghê lắm, nó đánh tôi, nó quất tôi, tôi bực quá mới quật lại nên bị chúng đánh trọng thương chỗ gáy. Anh em trong tù đã tìm thuốc đắp cho tôi, nếu không có lẽ tôi chết mất. Sau đó, chúng đưa tôi vào Hầm xay lúa…”.
Bác Tôn rất thương, rất chân tình với những anh em phục vụ như chúng tôi. Khi chúng tôi có gì cần sửa chữa, nhất là khi sửa ôtô, xe máy, xe đạp, thì Bác hay đến xem và có lúc Bác xắn tay áo lên bảo: "Thôi, các anh đứng sang một bên". Rồi Bác xắn vào làm. Hình ảnh một lãnh tụ thật là đặc biệt và rất gần gũi với anh em. Vào những ngày mùa đông giá rét, anh em làm việc lúc đêm hôm, Bác hay hỏi chúng tôi rằng các cháu có rét lắm không, có đủ áo ấm mặc không? Có lần Bác lấy cái áo mà các anh trong đoàn của anh Lê Đức Thọ công tác ở Pari về tặng Bác đưa cho tôi và bảo: "Cháu lấy cái áo này khoác cho ấm, chứ đêm lạnh lắm, thấy các cháu lạnh Bác không ngủ được, cháu còn thức cả đêm!”.
Những lời nói chân tình của một vị lãnh tụ như vậy, làm cho chúng tôi thật sự xúc động và không bao giờ có thể quên được. Chúng tôi tự nhủ phải làm tốt nhiệm vụ hơn nữa để đáp lại tình cảm bao la của Bác dành cho chúng tôi. Đối với các cháu nhỏ trong gia đình và cả con cháu của chúng tôi, Bác cũng rất quan tâm. Bác luôn hỏi thăm về tình hình học tập, rèn luyện cũng như sự phấn đấu của các cháu. Phương pháp giáo dục của Bác nghiêm khắc nhưng không áp đặt, mà là phân tích, động viên, khuyến khích, dạy cho các cháu rèn luyện tính tự lập và ý thức tổ chức kỷ luật, đồng thời luôn tôn trọng các cháu. Trong nhà bấy giờ có các cháu con anh Lập, con anh Trúc, con chị Hạnh. Bác đều quý các cháu như nhau. Đặc biệt, tình cảm của Bác Tôn đối với Bác Tôn gái thật là cảm động, lúc nào cũng quan tâm, chăm sóc khi có thời gian. Bác rất vui tính, dí dỏm và hay đùa với bác gái. Tính bác gái thì rất hiền lành, tỉ mỉ, cứ quanh quẩn dọn dẹp, lo ăn uống trong nhà. Có một lần anh em ở miền Nam ra biếu hai Bác một ít tổ yến, Bác gái ngồi nhặt bỏ sang một bên rồi loay hoay đi làm việc khác, thì Bác đùa lấy bớt giấu đi chỗ khác. Bác gái quay lại thấy ít mới hỏi: “Nhặt được bao nhiêu, sao đâu hết rồi?". Bác bảo: “Bà nhặt thế nào, tôi nhặt theo cho kịp hết rồi?”. Rồi Bác lại bảo: "Bà ngồi đấy mà người ta làm gì, bà không biết!".
Bác luôn quan tâm đến cuộc sống của người dân mình, nhất là đối với bà con nông dân. Thường những ngày chủ nhật hoặc ngoài giờ làm việc, Bác bảo chúng tôi đưa Bác ra vùng ngoại thành để tìm hiểu đời sống của nhân dân. Có một lần, Bác đi từ nhà lên Xuân Mai, về Sơn Tây học thường thấy bà con làm ăn vất vả, Bác hỏi thăm và suy nghĩ rất nhiều. Sau này, mỗi lần anh em chúng tôi về phép thăm quê, Bác đều hỏi về tình hình làm ăn, sinh sống của bà con ở quê như thế nào.
Trước khi chính thức được phục vụ Bác Tôn thì chúng tôi vinh dự phục vụ Bác Hồ, khi ấy Bác Tôn là Phó Chủ tịch, chúng tôi chỉ phục vụ gián tiếp. Sau này được phục vụ trực tiếp Bác Tôn, tôi thấy hai Bác có phong cách rất giống nhau. Nhiều đồng chí đã sống và làm việc trước đó với hai Bác có nhiều tư liệu cũng nhận định như vậy chứ không riêng gì anh em chúng tôi. Trong đó, anh Lập và tôi có may mắn là cùng phục vụ Bác Hồ, sau khi Bác Hồ mất, lại được phân công về với Chủ tịch mới là Bác Tôn. Vì vậy, tôi luôn suy nghĩ phải làm gì, sống như thế nào, rèn luyện phấn đấu từng bước trưởng thành, tự lực cánh sinh, tự thân vận động, lấy cái khuyết của người khác để răn đe mình, lấy cái ưu của người khác để mình phát huy trong công việc cũng như trong cuộc sống để xứng đáng với sự tin cậy của Đảng, Nhà nước. Tôi luôn nhận được những lời khuyên bảo của Bác, trong đó có một điều mà chúng tôi luôn tâm niệm: "Trong cuộc đời con người ta, trước hết là sống làm sao cho có tình có nghĩa; hay là mình có quyền nhưng phải nói thế nào để cho đồng chí, đồng đội, anh em, con cháu mình nghe được, tiếp thu được. Phải làm sao mà trong công việc: nóng nhưng không được cáu, vội nhưng không được cuống?".
Đó là những lời dạy ân cần, thực sự xúc động và thấm thía đối với tôi mỗi dịp sinh nhật Bác.
___________
1. Tên bài là của Ban biên tập
* Nguyên Phó Tư lệnh cảnh vệ.
Những ngày tôi làm thầy thuốc riêng cho Bác Tôn TRẦN HỮU NGHIỆP*
Thứ trưởng Phạm Ngọc Thạch tự lái xe đưa tôi đi ăn sáng. Và trước khi đi lên Bệnh viện A làm việc, anh dặn tôi đến văn phòng Bộ lấy giấy giới thiệu đi may áo quần mới, đóng giày. Tôi được cử làm thầy thuốc riêng tuỳ tùng cho Bác Tôn sang Đức chúc thọ Chủ tịch Vin Hempích tròn 80 tuổi rồi về Liên Xô nhận giải thưởng hoà bình Lênin mà Bác Tôn vừa được tặng. Thật là khoái chí tử!. Đáp ứng mong ước của tôi là trở lại thăm châu Âu sau 16 năm, từ lúc về nước hành nghề và cũng để xem sau Chiến tranh thế giới có gì mới. Tuy nhiên, tôi cũng đẩy đưa vài lời lấy lệ:
- Tôi chưa phải đảng viên, cũng chẳng phải bác sĩ được phân công theo dõi sức khoẻ Bác Tôn. Làm vậy anh em khác có thắc mắc không?
Bác sĩ Thạch liền trợn mắt, "mày tao" với tôi ngay:
- Đừng có dở trò mại hơi! Quen nhau lâu trước ngày đi kháng chiến, tao biết rõ tẩy của tụi mày mà! Nếu để tao quyết định thì mày còn đi cải cách mút mùa mới rửa sạch được cái nợ đã sống quá sung sướng trước Cách mạng Tháng Tám. Nhưng tao phải thi hành lệnh của Cụ Hồ, theo đề nghị cụ thể của Bác Tôn. Bác sĩ theo dõi sức khoẻ hai Cụ chính là tao. Nói cho mày biết, Bác Tôn chẳng có bệnh tật gì cả, còn rất khoẻ. Cử mày đi theo Bác Tôn, nhiệm vụ Bộ giao chỉ có hai việc: tránh nhiễm lạnh cho Bác và can Bác nhậu ít thôi. Rõ chưa cha nội?
- Vâng, nếu đấy là lệnh của tổ chức thì tôi xin triệt để chấp hành.
Bỗng nhiên tôi nhớ lại chuyện cũ ở thị xã Mỹ Tho mười năm về trước, khi tôi còn làm bác sĩ có phòng mạch tư ở đó.
Cuối tháng 9-1945, Sài Gòn đã lao vào cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng thành phố Mỹ Tho vẫn còn trong cảnh thanh bình. Cũng như mọi người hằng ngày đọc bản tin "Ta thắng, địch thua", phía Nam Sài Gòn có Đệ tam Sư đoàn oai hùng của Nguyễn Hoà Hiệp trấn giữ, chưa kể một sư đoàn - theo tin đồn - dàn sẵn ở Bến Lức, Gò Đen, làm sao giặc Pháp dám kéo xuống. Nào ngờ, về sau chúng tôi phải rút bởi giặc đánh úp theo đường sông Tiền.
Một buổi sáng, anh ba Nguyễn Văn Tiếp, Chủ tịch tỉnh đến nói với tôi:
- Có anh Hai Thắng là bạn chí thân của tôi về đây, nhà anh rộng, cho tôi gửi ở đậu ít bữa và xem anh Hai có bệnh gì thì chữa luôn thể.
Tôi dành cho Bác Tôn một buồng, sáng Bác đi sớm sau điểm tâm, chiều mới về với tôi và ngủ. Khám qua sức khoẻ, thấy chẳng có vấn đề gì phải lo, tôi chỉ tranh thủ chích cho Bác mấy ống campolon, thuốc bổ rất hiếm thời ấy. Chiều chiều, Bác Tôn cùng tôi lai rai lave với khô mực hay nem chua, trước khi cầm đũa. Đâu độ một tuần, Bác ra đi luôn do có người đến đón. Tất nhiên là, dù tôi còn làm tư, ai lại đả động tới chuyện tiền bạc ở trường hợp này, xem kỳ cục quá!
Đề nghị cho tôi đi "Tây" cùng Bác khi tôi vừa ở chiến trường Nam Bộ ra Hà Nội! rõ ràng sau mười năm, Bác Tôn vẫn nhớ tôi. Câu chuyện này đủ minh hoạ rằng, trong suốt cuộc đời hành nghề bác sĩ dài nửa thế kỷ, chưa bao giờ tôi gặp một "thân chủ” nào thù lao cực kỳ hậu hĩ đến như thế, kể cả các tỉ phú Âu châu đối với những danh sư lừng lẫy tiếng tăm!
*
* *
Thời ấy, đi Tây phải theo con đường xe lửa đến Bắc Kinh trước, rồi đổi tàu. Tổ chức mua vé cho Bác Tôn trọn một cabin, đáng lẽ dành cho 4 người nằm thành hai tầng. Chúng tôi, những người theo phục vụ, ngoài tôi còn có phiên dịch tiếng Đức (là một người Đức, lính lê dương sang hàng ngũ ta từ năm 1946 và có vợ Việt Nam), tiếng Nga và thư ký riêng của Chủ tịch Quốc hội. Tuy nhiên, suốt trên các đoạn đường, Bác Tôn bảo tôi qua nằm chung cabin cho vui, để tôi kể chuyện Nam Bộ thời chống Pháp đủ loại vui, buồn, gồm cả tiếu lâm, Tam quốc, Đông Chu và tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh, theo trí nhớ…
Mấy ngày lưu ở Bắc Kinh, Bác Tôn là khách của Thị trưởng Bành Chân kiêm Phó Chủ tịch Quốc hội. Tại khách sạn quốc tế gần Thiên An Môn, bạn dành cho Bác ba buồng, gồm cả phòng khách và phòng làm việc. Tôi là kẻ "ăn theo” sát nhất, với tư cách là bác sĩ riêng của Bác Tôn, có riêng một phòng có bày đủ nho, lê, táo, thuốc hút, trà "Thiết Quan Âm"...
Thời Tam quốc ở bên Tàu, khi Quan Công phò nhị tẩu qua Hứa Đô, Tào Tháo muốn mua chuộc "Ông” nên xử sự cực kỳ lịch sự, “Năm ngày bày đại yếu, ba bữa lại tiểu yếu”. Tôi phò Bác Tôn đi Bắc Kinh còn sướng hơn Vân Trường nhiều, bởi ngoài yến tiệc linh đình, thời xưa "ông phải cưỡi ngựa xích thố đi rong phố, còn tôi ngồi xe hơi Mécxêđéc êm như ru, xem kinh kịch, việt kịch và nghệ sĩ Mai Lan Phương biểu diễn kinh kịch. Có lần dự tiệc trưa trên Vạn Lý trường thành, thời Quan công đã có nhưng “Ông" chưa hề được đến bao giờ.
Hồi còn nhỏ đọc truyện Càn Long du Giang Nam tôi từng nghe kể đến những món ăn đặc sản của Trung Hoa, mang nhiều tên hấp dẫn lạ lùng. Vua cải trang thành anh lái buôn Cao Thiện Tứ, vi hành cùng con nuôi Châu Nhật Thanh đi khắp nơi, đã mấy phen choảng nhau với bọn cường hào địa phương do giành giựt nhau ăn trước các món ăn ấy ở cao lâu. Nếu không có thần linh kịp đi gọi người đến cứu giá chắc vua Càn Long đã khó thoát khỏi cái chết. Giờ đây, nhờ núp theo Bác Tôn, các món ăn lịch sự, mà tên được phiên dịch đọc ra từ thực đơn mỗi bữa, lần lượt diễu hành trước mặt tôi, tha hồ mà húp, nếm, kể ra không xuể: Ví dụ, cái món "Bách điểu quy sào" (trăm con chim quay đầu về ổ), nó như thế nào? Đó là một đĩa to gồm đúng một trăm đầu con chim sẻ rôti từ cổ trở lên đồng hướng mỏ về ổ mẹ. Ổ chim kết bằng củ cải trắng băm nhỏ, ở giữa có một đống “trứng chim” làm bằng dưa củ kiệu gọt thật tròn! Cái món “Nam hải long hổ hội"lúc bưng lên mới hay chỉ là canh thỏ hầm. Các bạn mê Đường thi hẳn là nhớ câu "bồ đào mỹ tửu dạ quan bôi” và tưởng tượng ra thứ rượu gì cao quý lắm, bồ đào là nho và mỹ tửu ấy thua xa các loại mác chát đỏ danh tiếng của Pháp bán ở Sài Gòn ngày trước.
Làm khách của Bành Chân được một tuần lễ, tôi lại tháp tùng Bác Tôn lên xe lửa đi Liên Xô. Thời ấy chặng đường đi Bắc Kinh - Mátxcơva phải đi hết chín ngày. Ở biên giới chuyển xa từ đường ray hẹp một thước hai sang một thước tư. Lòng chúng tôi sung sướng tràn ngập khi đi khỏi thị trấn Mãn Châu Lý của Trung Quốc, đọc hàng chữ to trên bảng rộng "Liên bang Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết kính chào và chúc sức khoẻ các bạn". Lần đầu tôi đứng tên đất nước Lênin. Một tuần lễ dài trên xe, hết ăn lại nằm bên ngoài là tuyệt phủ trùng trùng, rừng thông điệp điệp, xen lẫn bạch dương trụi lá. Phải hàng trăm cây số mới có một nhà ga mà khách đi xe rất ngại xuống, bởi phải chuẩn bị kỹ mũ, áo rét để từ 20 độ dương trong toa xe bước ra gặp 20 độ âm.
Bác Tôn nói vắn tắt ý kiến rồi bảo tôi dựa vào đó mà viết sẵn một vài đáp từ bằng tiếng Pháp, nhỡ có ai ra đón và đọc lời chào mừng, ta khỏi bị động, sau đó đưa văn bản cho bạn sử dụng nếu họ cần. Do việc ấy, tôi biết Bác Tôn còn nắm rất vững tiếng Pháp sau những năm tù ở Côn Đảo. Bác đã "sửa lưng" tôi, một tú tài Tây từng viết luận án y khoa bằng tiếng "mẫu quốc”, ở nhiều chỗ dùng chữ không chính xác. Ví dụ tôi dịch câu “Nhân dân Việt Nam yêu chuộng hoà bình" là "aimant la paix" thì Bác gạch bỏ từ aimant la thay bằng từ "épris de paix". Thấy tôi ngượng quá, Bác an ủi: "Tại anh ít đọc báo chính trị đó thôi. Ngôn ngữ chính trị khác hơn nói chuyện".
*
* *
Đến thủ đô Mátxcơva 10 giờ tối chủ nhật. Trong chuyến này, Bác Tôn chỉ là khách mượn đường đi Béclin, cho nên không có cuộc đón tiếp chính thức. Trung ương Đảng bạn xem Bác như người trong gia đình đi xa về! Ngay buổi tiếp xúc đầu tiên, hai đồng chí Uỷ viên Trung ương ra đón Bác tại sân ga đã tỏ ngay tình cảm giản dị mà đậm đà. Không có diễn văn, thiếu nữ dâng hoa gì cả. Sau khi ôm hôn thắm thiết Bác Tôn, một đồng chí nói qua phiên dịch: "Biết hôm nay đồng chí đến và ở Việt Nam ai cũng thích ăn cá hơn thịt nên suốt ngày tôi đã đục băng ngồi câu cá giữa sông. Tôi được mấy con béo lắm. Tôi đã giao cho bà quản gia đồng chí muốn ăn cách nào thì bảo đầu bếp nấu”. Ai cũng biết, ở châu Âu, giữa mùa rét cá thịt treo ngoài cửa sổ không bao giờ ươn.
Chúng tôi được bố trí ở một biệt thự riêng của tổ chức Đảng. Bà quản gia là một đồng chí tóc bạc trắng, ngày xưa từng phục vụ cho Lênin, theo bà nói lại. Sau khi dùng cùng chúng tôi cơm tối, các Uỷ viên Trung ương ra về, để lại một cán bộ tổ chức tên là Pôpốp, nói được tiếng Pháp, để luôn theo phục vụ Bác Tôn. Họ nói: “Chúng tôi có nấu bếp, nhưng các anh muốn ăn theo Việt Nam thì tự nấu”.
Sáng hôm sau, khách đến gõ cửa xin gặp Bác Tôn, đầu tiên là anh thợ cắt tóc, xách theo túi đồ nhỏ đựng dao kéo, tông đơ; tiếp đó là bác thợ may, đề nghị cho kiểm tra lại áo quần xem đã đủ và bảo đảm chống rét chưa; cuối cùng là hai nữ bác sĩ... Dù tôi được giới thiệu là thầy thuốc riêng của Bác Tôn, họ vẫn cứ lờ đi mà lo đi đo huyết áp, nghe tim phổi, làm điện tâm đồ,và làm các xét nghiệm khác.
Sau những ngày ăn cơm Tàu, rồi lại ăn cơm Tây trên xe lửa, suy bụng ta ra bụng người, tôi nghĩ Bác Tôn cũng muốn dùng cơm ta. Trong nhà bếp của biệt thự, có đủ các nguyên liệu cần thiết: gạo, rau, củ hành, dấm… Cô gái Nga tuy tốt nghiệp đại học nấu ăn cũng trố mắt ra nhìn tôi thao diễn món ăn Việt Nam, rồi nồi canh chua cá măng với cà chua và dấm. Thay cho mắm, tôi chế biến bằng trứng cá đen (cavia). Thật vui sướng khi Bác Tôn ăn cho là ngon miệng, khen tôi khéo tay và dồi dào sáng kiến! Ôi, Bác sẽ còn vui biết bao nhiêu, nếu biết rằng sau nhiều năm kháng chiến ở Nam Bộ, tôi phải tự lo sắm để công tác tốt với hai giạ lúa và một cân muối hàng tháng như mọi anh chị em khác thời ấy. Tôi đã thông thạo thêm nhiều nghề mà chưa hề được ai dạy ở trường đại học nào, nào phải chỉ có kỹ thuật nấu ăn mà còn nuôi heo, chèo xuồng, xay lúa, giã gạo, bửa củi, cắm câu... Về sau, thời kỳ chống Mỹ ở R… tài nghệ ấy còn được bổ túc thêm bằng cách biết bẫy cheo, bắn khỉ, tát suối, phát hiện măng tre, măng le trước khi mọc lên khỏi mặt đất mà gây ra sự chú ý của người khác.
Tổ chức Đảng ở Liên Xô đã giữ Bác Tôn lại để đón Nôen năm 1955, bởi sinh nhật Chủ tịch Vin Hempích là ngày 3 tháng giêng năm 1956. Tất nhiên là trong những ngày ở Mátxcơva rất ấm cúng, khỏi nghi lễ gì cả, lúc nào bạn cũng sắp xếp cho đi xem nơi này nơi nọ. Trước nhất là viếng lăng Lênin, thăm cung điện, nơi làm việc của Lênin... nơi Người sống những ngày cuối cùng ở làng Góocki, ngoại ô phía Nam thành phố. Bác lặng lẽ đứng trước giường nằm, trên tường treo tấm lịch ghi ngày 21-1-1924, đồng hồ kim dừng lại tại 18 giờ 50 phút, tuyển tập Giắc Lơnđơn mà cụ bà đang đọc cho Người nghe ở truyện Tình yêu và cuộc sống. Có lẽ Bác đang nhớ tới bác gái ở nhà đã chung thuỷ với Bác cũng như thế! Bạn còn mời xem vũ kịch, xiếc với các diễn viên nổi danh khắp thế giới như nghệ sĩ Ulanôva và vua hề Pôpôp. Chúng tôi nhớ mãi ông già rất tâm lý và đầy lòng nhân hậu. Khi tuyết rơi quá dày, bên ngoài quá lạnh, Cụ ở nhà nhưng lại đề nghị bạn cứ đưa anh em chúng tôi đi chơi. Bác nói: "Dễ gì có dịp sang đây, lại có sẵn xe hơi và vé mời chỗ tốt trong rạp, có sức thì cứ đi".
Sau đêm Nôen hết sức thân tình với vài đồng chí Uỷ viên Trung ương Đảng, Bác Tôn lên xe lửa đi Béclin ngày 27 tháng mười hai. Xe lửa đổi từ đường rộng sang hẹp hơn tại Bretx để đi vào nước Ba Lan. Cảm động xiết bao, khi đi ngang thủ đô Vácsava vào lúc 11 giờ đêm, trời rất lạnh và đang có tuyết rơi mà đã sẵn một số người chờ đón chào Bác: các Uỷ viên đoàn Chủ tịch Quốc hội và nhiều Uỷ viên Trung ương Đảng Công nhân thống nhất Ba Lan. Hầu hết người ra mừng Bác đều nói thạo tiếng Pháp, nên cuộc tiếp xúc chủ và khách vô cùng thoải mái hỏi phiên dịch. Một tiệc rượu tẩy trần đã dọn sẵn trong phòng khách nhà ga Đoàn xe lửa Vácsava chậm mất nửa giờ sau mấy đợt còi thúc hối inh ỏi nhưng không dám lăn bánh. Những lời đáp từ tôi viết sẵn không được dùng, bởi khi cuộc gặp gỡ diễn ra chân tình, cởi mở từ cái bắt tay đầu tiên, không có ai trịnh trọng giấy tờ gì cả.
*
* *
Qua sông Ôđe, vào lãnh thổ nước Cộng hoà dân chủ Đức, Bác Tôn trở thành quốc khách. Ngay từ ga đầu tiên ở biên giới, đã có hai đại diện cho Đảng và Mặt trận dân tộc Đức đến đón cùng đi chung về Béclin. Chúng tôi đón giao thừa tại nhà khách chính phủ, sau khi dự một buổi ca vũ nhạc mừng năm mới 1956 và đoàn thiếu nhi tặng hoa chúc thọ Bác Tôn. Theo tục lệ nước này, ngày mồng một ăn toàn cá chép luộc và chiên với món canh quý nhất là súp rùa nhập từ Nam Mỹ. Tiếc rằng không ai mời tôi nấu ăn nữa khi đã "đổi chất" thành khách Chính phủ. Tổ chức ở đây vô cùng chu đáo. Trong buồng ngủ, ngoài vật dụng hàng ngày như xà bông, dầu thơm, dao cạo… họ còn nhớ đến đồ cắt móng tay và dây giày để thay.
Hai hôm sau, buổi lễ chính thức chúc thọ tám mươi tuổi Chủ tịch Vin Hempích diễn ra trọng thể tại một hội trường gần cổng lớn phân chia Đông - Tây Béclin. Từ thống chế Vôrôsilốp thay mặt cho Liên Xô và Chu Đức thay mặt cho Trung Quốc, đại biểu các nước khác phải thu xếp nói trong 10 phút trở lại vì buổi lễ không kéo dài quá 3 giờ. Bài Bác Tôn đọc bằng tiếng Việt, gọn và súc tích nhưng rất chậm rãi. Các đại biểu nghe trực tiếp bằng tiếng nước họ bằng ống nghe thông qua phiên dịch ở hội trường. Tôi biết trước điều này, bởi Bác Tôn có lần dặn tôi: "Khi anh nói cho người ta dịch, phải hết sức chậm rãi và gọn ý. Phải nhớ tiếng Việt đơn âm, còn tiếng các nước châu Âu thì đa âm. Ví dụ, tiếng bạn dịch ra tiếng Pháp là a-ni (hai âm)". Tiếc thay, cho tới ngày nay khối cán bộ khi ra nước ngoài vẫn chưa biết điều kỵ này, tỏ vẻ hùng biện, phát biểu như gió cuốn, rốt cuộc thiệt cho mình, bởi phiên dịch chỉ tóm tắt mà bỏ rơi ý chính. Tôi muốn nhắc lại đây lời Bác Tôn thuở ấy mà tôi còn nhớ mãi.
Sau ngày lễ, các bạn Đức còn mời Bác Tôn ở lại trọn 3 tuần lễ cùng các lãnh tụ bạn đặt tràng hoa lên mộ Các Lepnich nhân dịp kỷ niệm ngày hy sinh của vị lãnh tụ anh hùng của giai cấp công nhân Đức đầu thế kỷ XX; đưa Bác di thăm nhiều nơi, nhiều thành phố khắp đất nước, đặc biệt dừng lại ở các thành phố mà phong trào ủng hộ Việt Nam mạnh nhất như Các Mácstac. Ở Đơrétđen, chúng tôi vào thăm trường dành cho các thiếu nhi Việt Nam ở ngoại ô. Học sinh của trường hầu hết là các cháu cha mẹ còn ở lại miền Nam hay là con liệt sĩ. Tại trại giam Bukenvan - trại tập trung giết người khét tiếng của phát xít Hitle trước kia - nơi lãnh tụ Tenlơman bị giết, chúng tôi tham quan lò thiêu người, viện bảo tàng trưng bày vô số vật dụng gia đình và trang sức làm bằng da người! Ấn tượng rùng rợn mang theo trong một buổi xế chiều từ trại tập trung giết người phát xít rộng mấy mẫu chỉ vơi đi khi chúng tôi được đón tiếp niềm nở tại thành phố Vâyma gần đó, tối đến xem biểu diễn nhạc kịch sau buổi cơm chiêu đãi. Đây là một thành phố cổ kính, có thời từng là thủ đô nước Đức, với nhiều di tích lịch sử. Phải ngắm các lâu đài hàng trăm năm tuổi xây bằng đá xám xịt với đủ thứ tượng người đội tuyết trắng long lanh mới cảm thụ được cái mỹ lệ của kiến trúc cổ!
Tất nhiên, như mọi khách từ xa đến, chúng tôi xuống hầm ngôi mộ chôn Gớt (Goethe) và bạn thân là thi sĩ Sile (Schiller). Bên ngoài âm u trời đất nhưng ở đây ấm và ánh sáng chan hoà. Anh bạn Đức hướng dẫn đoàn chỉ ngọn đèn trên ngôi mộ nhà đại văn hào và nói cho biết, bất cứ lúc nào, trong hoàn cảnh nào, ngọn đèn này không bao giờ tắt. Rồi anh kể cho chúng tôi nghe, một đêm đông năm 1882, khi thi hào Gớt 83 tuổi hấp hối bên giường, đã luôn miệng kêu gào: "Hãy đem tới cho ta ánh sáng, nhiều ánh sáng hơn nữa!".
Buổi thăm viếng này về sau tôi nhớ mãi. Không phải vì uy vũ của người nằm trong mộ (bởi lẽ, thời đi học, tôi cũng đã từng viếng mộ Napôlêông, đồn Patrêông ở Pháp, mộ xây bằng vàng nén của hàng chục giáo hoàng ở Vaticăng, thập tam lăng, của các vua nhà Minh...)mà bởi một lời bình của Bác Tôn. Trên đường về khách sạn, Bác hỏi:
- Anh làm bác sĩ, giải thích tại sao người sắp chết cứ đòi ánh sáng?
Tôi chịu "bí", vì không có sách y học nào nói tới. Tôi trả lời:
- Đây là trường hợp cá biệt của một đại văn hào, một triết gia lớn, một trí thức uyên thâm nhất ở Âu châu thời ấy. Suốt đời, qua bao nhiêu tác phẩm để lại, ta thấy ông đi tìm hiểu ý nghĩa của cuộc đời, làm sao để vươn tới chân – thiện - mỹ, nhưng cuối cùng không tìm được lối ra cho suy tư.
Bác Tôn có dáng trầm ngâm suy nghĩ, rồi vỗ vai tôi nói:
- Trí thức dù lớn đến cỡ nào, học vấn uyên thâm quảng đại bao nhiêu, mà chưa được ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin soi đường, thì mãi mãi vẫn mò đi trong đêm tối!
Câu nói giản dị ấy đã lưu lại ký ức tôi một vết hằn sâu sắc. Về sau, trong đời làm thầy thuốc ở R. tôi không muốn cho những tấm lòng cao cả vì dân vì nước, những đại trí thức của thời đại Bác Hồ và Bác Tôn, vĩnh biệt chúng ta trong bóng tối. Đêm 7-11-1968, người Bộ trưởng kính mến của chúng tôi - bác sĩ Phạm Ngọc Thạch - vừa trở lại Nam Bộ ba tháng trước đó để nắm tình hình sau tết Mậu Thân, đã hấp hối trong một túp lều giữa rừng dày của huyện Tân Biên (Tây Ninh) sau một cơn bệnh cực kỳ hiểm nghèo. Rồi đến tháng 4-1972, ở bệnh viện quân - dân - y Sóc chùa trong một khu rừng đất bạn, kỹ sư Cao Văn Bổn, Bộ trưởng kinh tế - tài chính trong Chính phủ cách mạng lâm thời, thở những nhịp cuối cùng sau một thời gian mắc chứng ung thư phổi. Nếu hồi ký này được các anh em y sĩ, y tá ở buổi trực đêm ấy đọc, thì xem đây là lời cảm ơn của tôi, các em đã ngoan ngoãn chạy tìm tập trung tất cả các đèn bão lại, đốt làm sáng lên cả một góc rừng, mà chẳng thắc mắc tìm hiểu lý do, bởi máy bay Mỹ đến thình lình làm sao tắt kịp... Do tìm ánh sáng cho đất nước, cho đồng bào, mà các anh đã lìa bỏ gia đình ở chốn thị thành và cảnh giàu sang. Không có ai là người thân trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời! Tôi muốn tiễn các anh ra đi trong ánh sáng, như Gớt đã đòi hỏi ngày xưa!
Từ Hà Nội, lúc ra đi, đoàn đã chuẩn bị quà lưu niệm cho các nhân viên của bạn phục vụ mình. Bác Tôn căn dặn không nên để quên sót một ai. Mà nào có tốn hao gì cho lắm đâu! Cứ tập theo thơ Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu thì "Trai thời mành trúc làm đầu; Gái có bướm lạc làm câu lưu tình!” Mành trúc có hình tháp rùa, Chùa Một cột, cậu bé cưỡi trâu bên bụi tre… chỉ có ba hào thôi. Bướm bạc đắt tiền hơn - hai đồng - tặng các chị cài trước áo hay ghim vào tóc. Những cái hôn lúc chia tay thì chia đều cho các nam nữ già trẻ như nhau. Ấy thế mà các bà, các chị đều ướm lệ khi đoàn xe ra về nước.
Sắp hết tháng giêng 1956, gần Tết bên nhà. Sau khi các giáo sư Đức khám lại sức khoẻ toàn diện tại bệnh viện Chính phủ, họ đồng ý cho Bác sử dụng máy bay không có trở ngại gì. Thế là một chuyên cơ của bạn đưa đoàn đi Mátxcơva vào một buổi sáng, tuy rét nhưng thời tiết rất đẹp.
Trở lại thủ đô của Liên Xô lần này, Bác Tôn là khách của Uỷ ban Bảo vệ Hoà bình Thế giới đến nhận giải thưởng. Cuộc đón tiếp ở sân bay khác hẳn lần trước, với đầy đủ nghi lễ tiếp tân, có thiếu nữ tặng hoa. Nơi cư trú là nhà khách Chính phủ, khách sạn Saviétcaia. Bạn dành cho Bác Tôn hai buồng rộng, có ti vi, điện thoại. Xuống phòng ăn gặp nhiều đoàn ngoại giao nước bạn cũng như các nước đế quốc, nên không còn tự do thoải mái bông đùa như lần nước ở nhà riêng của Đảng với bà cụ đảng viên già gọi Bác Tôn là đồng chí và nói với chúng tôi thân mật như người nhà “Bọn mày cần gì, muốn ăn gì thêm, cứ nói với tao”.
Lễ trao giải thưởng Lênin tổ chức trọng thể trong Điện Cờremli, có diễn văn nêu công lao đóng góp của Bác Tôn trong phong trào Hoà Bình, từ ngày còn là lính trên tàu đế quốc ở Biển Đen. Và tất nhiên, Bác Tôn có lời đáp cảm ơn các bạn bè quốc tế. Sau cuộc chiêu đãi của ban tổ chức cuộc lễ, Bác Tôn với tư cách Trưởng đoàn Quốc hội Việt Nam đến chào Nguyên soái Vôrôsilốp, Chủ tịch Đoàn chủ tịch Xôviết tối cao Liên Xô. Hai cụ đã quen nhau, đã nói chuyện với nhau vài lần khi ở Đức.
Thời gian lưu lại Mátxcơva chỉ có 3 ngày, chúng tôi đi các cửa hàng bách hoá để sử dụng món tiền 100 rúp, (1.000 rúp cũ) bạn mới tặng cho mỗi đoàn viên. Theo lời khuyên của sứ quán từ trước, để giữ thể diện quốc gia chỉ nên mua mỹ nghệ phẩm kỷ niệm, nên tôi chỉ mua một đồng hồ báo thức, nước hoa cho vợ, búp bê cho con, nho khô và thuốc lá cho bạn... Tư tưởng mang về đồ nặng như đầu máy may, tủ lạnh, ti vi... thời ấy chưa có ở cán bộ đi nước ngoài, chỉ xuất hiện từ ngày hoà bình trở lại, sau một thời gian dài chịu đựng sự thống trị của vitamin B.12, thuốc lộc nhung pantocrin, bàn ủi, cối xay thịt và quạt tai voi...
Giải thưởng Lênin bằng tiền là mười vạn rúp cũ. Ngoài số tiền đó bạn còn tặng Bác mười ngàn rúp cũ để mua quà đem về tặng gia đình, bầu bạn. Chỉ còn một ngày nữa là phải đáp chuyên cơ về Bắc Kinh nhưng số tiền lớn Bác nhờ tôi giữ dùm vẫn còn y nguyên. Tôi nhắc Bác mua quà về cho bác gái, muốn gì tôi sẽ ra G.U.M. (Cửa hàng bách hoá tổng hợp Mátxcơva) mua đủ. Bác suy nghĩ hồi lâu mới bảo tôi:
- Tính tôi ưa ăn nhất là cá kho tộ bỏ nhiều tiêu. Chiều nào bả cũng đem tiêu hột ra đâm trong cái chén, văng tùm lum ra ngoài. Mắt bà kém rồi, nên cứ mò mò lượm từng hột bỏ vô. Vậy anh tìm mua cho tôi một cái máy xay tiêu đem về tặng chắc là bả mừng lắm!
Tôi đã chọn cối quay tay bằng gỗ đẹp nhất ở G.U.M, nhưng cũng chỉ mất có 7 rúp. Còn lại 9.993 rúp đem trao lại cho Bác Tôn.
Chuyên cơ của Chính phủ Liên Xô đưa chúng tôi đến sân bay Iếccút lúc chiều tối. Tổ chức Đảng thành phố đến chào và chiêu đãi cơm tối, để sáng hôm sau máy bay đi Bắc Kinh. Bác đã giao lại số tiền gần nguyên vẹn qua bạn đưa cho bỏ túi ở Mátxcơva, nhờ trả lại cho tổ chức. Bác cũng bảo chúng tôi làm như vậy bởi không được đem ngoại tệ về nước. Các đoàn viên khác đã rỗng túi, tôi may còn ít rúp chưa kịp mua thuốc lá ở sân bay vì quá vội.
Việc tặng cối xay tiêu để cho bác gái đỡ nhọc khi nấu ăn, gợi cho tôi nhớ lại một chuyện mà một bệnh nhân của tôi, quê làng Vĩnh Kim đã kể lại cho tôi nghe thời còn làm ở phòng mạch ở Mỹ Tho:
- Suốt thời gian dài chồng bị đày ở Côn Đảo, bác gái tần tảo nuôi hai con gái bằng cách hằng ngày mua trái cây, gà vịt chở lên Sài Gòn hay chợ Mỹ Tho bán. Sau ngày Cách mạng Tháng Tám thành công, Bác Tôn về đến Vĩnh Kim vào lúc đỏ đèn. Bác gái đang đi bắt gà ở xóm trên, nghe tin chồng bương bả chạy về nhà, buông cả mấy con gà đã trả tiền rồi, đang xách trên tay xuống đất chạy mất. Khách khứa đến khá đông. Bác hai ngồi đó trên bộ ván dầu. Bác gái nhìn chồng xa nhau đã 17 năm, nghẹn ngào không nói được nên lời nào chỉ đứng ôm cột nhà mà khóc...
Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Khoa học xã hội định nghĩa: khóc là chảy nước mắt vì đau đớn hay xót thương. Chưa đủ. Còn có cái khóc của nỗi vui mừng đột ngột đến, cái khóc lúc trùng phùng của người nông dân Việt Nam nặng tình chung thuỷ!.
Sau khi Cụ Hồ mất, Bác Tôn được bầu lên làm Chủ tịch nước, khi có đồng nghiệp từ Hà Nội vào R. tôi hay hỏi thăm sức khoẻ của hai Bác. Có anh em kể lại, bác gái bệnh vào nằm ở Quân y viện 108, hôm nào Viện nhận được điện thoại báo là bác trai hôm ấy sẽ vào thăm và chuyển tin cho bác gái, thì Cụ bà vội thay quần áo mới để đón chồng. Khó mà không xúc động khi thấy một vị chủ tịch nước 80 tuổi, ôm hôn vợ thắm thiết như đôi lứa còn xuân xanh, tóc bạc ấp ủ lên tóc bạc! Tôi đã từng đọc bao nhiêu tiểu thuyết tả nhiều cảnh trùng phùng khác nhau của những cặp vợ chồng xa nhau lâu, nói lên những mối tình già… song chưa thấy nhà văn nào viết nên cảnh này, dù đấy làmột việc hoàn toàn chân thực đã xảy ra trong xã hội Việt Nam. Bác gái mất năm 1974, thọ 76 tuổi, lúc chúng tôi còn ở chiến trường Nam Bộ.
*
* *
Sáng 18-5-1975, tại thành phố Sài Gòn giải phóng rực rỡ cờ hoa, tôi trút bỏ bộ quần áo xanh lá mạ xùng xình và đôi dép râu của anh cán bộ tiếp quản, ăn diện khá sang trọng, thắt cavát, đội nón panama của bạn hữu vừa cho, hoà vào trong dòng người đổ xô về trước Dinh Độc Lập. Tôi đóng vai nhà tư sản để quan sát trong chi tiết và bắt mạch đúng tâm lý quần chúng Sài thành qua cử chỉ, nói năng riêng tư của họ với nhau. Xa xa trên lễ đài đầy khách, có tiếng loa vang lên, Bác Tôn tóc màu bạc trắng, dáng đi đĩnh đạc, bên cạnh là luật sư Nguyễn Hữu Thọ, Chủ tịch Mặt trận giải phóng miền Nam. Trong tiếng hò reo, vỗ tay ầm ĩ, tôi không còn để tâm nghe diễn văn khai mạc… Trí nhớ tôi đang vướng vít trong hai cảnh ở Hà Nội năm nào, hôm nay bỗng chốc xuất hiện...
Cảnh thứ nhất: Câu lạc bộ Ba Đình, tháng Tám 1958, một nhóm khách đông tới hàng trăm được Phủ Chủ tịch mời đến dự lễ gắn Huân chương Sao vàng cho Bác Tôn nhân dịp mừng thọ thất tuần. Tôi được mời đến dự với tư cách là Uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc và đồng hương với Bác Tôn. Chủ tịch Hồ Chí Minh nói mấy lời, nêu thành tích và công lao của Bác Tôn, gắn huân chương và ôm hôn giữa tiếng vỗ tay vang dậy. Hôm ấy Bác mặc bộ đồ khá giản dị may kiểu đại cán. Trước tim bên ngực trái là Huân chương Sao vàng vừa gắn lóng lánh dưới ánh điện. Phía ngực phải là các huân chương nước ngoài theo quy ước quốc tế, trong đó có Huân chương Cách mạng Tháng Mười của Liên Xô. Mắt Bác như rớm lệ, tay run run khi nâng ly rượu mừng và đáp từ: "Tôi xuất thân từ một gia đình nông dân Nam Bộ, từ lúc nhỏ đã lên Sài Gòn học nghề tha phương cầu thực. Chưa lần nào tưởng tượng ra được mình có vinh dự tột đỉnh của chiều hôm nay. Không biết nói gì hơn là tự đáy lòng xin mãi mãi ghi ơn Đảng, Hồ Chủ tịch và sự có mặt của tất cả các đồng chí đến chúc mừng tôi!”.
Cảnh thứ hai, mùa hè năm 1965, Bác Tôn - Chủ tịch Mặt trận Tổ quốc Trung ương - đã nhận đơn xin từ chức Uỷ viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc của tôi, bởi lần đi công tác này chắc chắn là sẽ phải kéo dài nhiều năm, không hẹn ngày trở lại.
Một buổi chiều, chị tám Nguyễn Thị Lựu, Phó Tổng thư ký Mặt trận, mời tôi đến trụ sở Mặt trận dùng bữa cơm thân mật tiễn chân. Thực vậy, bởi ngoài chị Tám chỉ có thêm hai người dự nữa là Bác Tôn và đồng chí Trần Hữu Duyệt - Tổng thư ký Mặt trận. Xong, Bác tiễn tôi ra tận cổng 48 phố Tràng Thi, giọng nói run run chậm chạp, đầy xúc động, như năm nọ nhận Huân chương:
- Anh về trỏng nói với đồng bào Nam Bộ và tất cả đồng chí anh em, rằng tôi rất nhớ quê hương, chỉ mong đợi ngày về. Nhưng tôi sắp đến tám mươi rồi, còn có ai cho đi nữa!
Từ buổi gặp mặt lần chót ấy đến hôm nay 18-5-1975, trước sinh nhật lần thứ tám mươi lăm của Bác Hồ một ngày, thấm thoắt đã mười năm! Tóc tôi cũng bạc rồi. Tôi vui mừng còn được thấy mặt Bác, còn khoẻ mạnh, dù từ xa, dù ít, mà nhiều hơn là bởi Bác được thoả lòng ước mơ, chờ đợi, thiết tha từ hằng chục năm qua! Kia lồng lộng trên lễ đài, đứa con quang vinh, người nông dân của Đồng bằng Sông Cửu Long, anh thợ Ba Son năm xưa... đang đứng đó, tươi cười vẫy tay chào đồng bào, chiến sĩ. Cách nay gần nửa thế kỷ, con người vĩ đại hôm nay ấy, cũng ra đi tại chỗ này, chỉ cách đây vài trăm thước, bên kia đường Nguyễn Du, từ Toà án Đại hình của đế quốc thực dân, tay bị còng, áo vải tù xanh, chân đất, với cái án khổ sai chung thân. Bác Tôn trở về nơi cũ với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, tột đỉnh của vinh quang, xem các binh chủng diễu hành điệp trùng trong tiếng nhạc.
Để có ngày hôm nay, ba mươi năm trời, đồng bào chiến sĩ phải tốn bao nhiêu mất mát hy sinh, xương máu, tài sản, phải đổ bao nhiêu nước mắt và mồ hôi mới hoàn thành tấm thảm hoa đài bạn tượng rực rỡ nhất trong lịch sử dân tộc!
Lòng tôi rộn lên một niềm sung sướng. Dệt nên tấm thảm đỏ đầy hào hoa kia cũng có phần đóng góp của mình, dù chỉ làm các công việc dù ít vất vả là chuyền tay cho những ai đó một vài sợi chỉ mong manh, hành nghề bác sĩ.
Những chuyện cảm động về gia đình Bác Tôn TÔN THỊ HẠNH *
Mẹ tôi tên là Đoàn Thị Giàu, tên thường gọi là Hai Oanh, mẹ tôi lấy ba tôi không phải là việc thường tình của người con trai và người con gái lấy nhau, mà là việc đền ơn trả nghĩa. Vì khi ba tôi sang Pháp cùng đi có một người tên là Ba Sử, sau này là cậu của tôi (em ruột của mẹ tôi). Khi còn sống, cậu tôi có viết thư về gia đình bảo ông ngoại tôi nên gả mẹ tôi cho ba tôi. Đến khi cậu Ba tôi ốm rồi chết, ba tôi đã chăm sóc và tổ chức chôn cất chu đáo. Khi ba tôi về nước có tìm đến gia đình đưa ảnh của cậu. Ba tôi đang nằm trong quan tài và một số đồng đội đứng cạnh quan tài, trong đó có ba tôi (ảnh đưa cho ông bà cố và ông ngoại tôi). Để trả đáp ơn trên, ông bà cố tôi và ông ngoại tôi quyết định gả mẹ tôi cho ba tôi.
Sau khi bố mẹ tôi cưới nhau, đưa nhau lên Sài Gòn ở, má tôi chỉ biết ba tôi ngày hai buổi đi làm và mỗi tháng đưa cho mẹ tôi 150 đồng, còn việc ba tôi hoạt động cách mạng thì mẹ tôi không biết. Nhưng dần dà rồi cũng biết. Mẹ tôi lo ăn ngày ba bữa cơm nước phục vụ cho mọi người trong nhà, trong đó có những người hoạt động cách mạng (Sáu Trương, Hai Nguyệt, Thọ Cụt. v.v.). Sau vụ đường Barbi, mặc dù ba tôi không tham gia nhưng ba tôi biết thế nào cũng bị bắt nên nói thật với mẹ tôi. Mẹ tôi bảo "Anh đi làm cách mạng, làm việc phải, lẽ nào tôi lại ngăn anh, anh yên lòng đi". Sau lần ấy, ba tôi đưa má tôi về quê, ở nhờ nhà ông Sáu tôi ở Vĩnh Kim, lúc bấy giờ mẹ tôi đang có thai đứa con thứ ba. Khi bụng to sắp đến ngày đẻ thì được tin ba tôi bị bắt, mẹ tôi buồn muốn chết, nhưng nhìn lại hai đứa con còn nhỏ và bụng mạng dạ chửa, mẹ tôi cố nguôi ngoai để sống nuôi con (theo lời mẹ tôi kể). Sau khi mẹ tôi sinh đứa con thứ ba, nó là con trai, mẹ tôi đặt tên là Tôn Đức Liêm, lúc bấy giờ mới nghĩ đến việc làm ăn buôn bán, nuôi thỏ, nuôi gà, nuôi lợn. Mỗi tháng một lần gánh gà, gánh thỏ lên Sài Gòn bán, đồng thời dò thăm tin tức của ba tôi. Được biết ba tôi bị giam ở bót Catina. Một hôm mẹ tôi đưa tôi và thằng em thứ ba lên bót Catina để thăm ba tôi. Khi đến cửa bót, mẹ tôi dặn tôi “con có gặp ba thì đừng khóc mà ba buồn". Vào đến nơi gặp ba tôi, thấy ba tôi bị còng chân, tôi cúi đầu xuống muốn khóc, nhưng mẹ tôi thì cười nói tự nhiên và đưa thằng em tôi cho ba tôi bế. Ngồi chơi một tí thì lính mã tà đến đuổi mẹ con tôi ra, ra khỏi cổng bót mẹ con tôi mới dám khóc và từ đấy cứ mỗi tháng một lần mẹ tôi lại gánh gà, gánh thỏ lên Sài Gòn bán.
Hôm toà đại hình đưa ba tôi và nhiều người nữa ra xử, mẹ tôi lại dắt tôi và hai em tôi lên xem xử ba tôi, cốt để ba tôi được trông thấy mặt chúng tôi, mỗi khi lính dẫn ba tôi đi qua, thế nào mẹ tôi cùng cố đưa chúng tôi đến gần để ba tôi được trông thấy mặt. Phiên toà ban sáng kêu xử tử ba tôi, mẹ con tôi chỉ biết khóc, đến chiều toà lại xử khác, kêu án ba tôi 10 năm khổ sai đày đi Côn Đảo.
Sau phiên toà, mẹ tôi lại về ở Vĩnh Kim, trong nhà có nuôi một bà già tên là bà Sáu, khi mẹ tôi đi Sài Gòn bán gà, thỏ, ba chị em tôi phải ở nhà với bà ấy. Về sau có bà Bảy Nhu và đàn con nhỏ cùng về ở đấy; ông Bảy Nhu cũng làm cách mạng, bị Pháp truy nã. Một hôm có người cho mẹ tôi biết chúng nó định bắt bà Bảy Nhu để quy ra ông Bảy Nhu. Mẹ tôi bảo bà Bảy Nhu nên ra chợ giữa ở tạm, rồi tìm cách trốn đi. Bà Bảy Nhu nghe lời trốn ra chợ giữa. Ngay đêm hôm ấy một thằng cò Tây và hai thằng lính mã tà đến nhà tôi, hỏi mẹ tôi "Vợ Nhu đâu?", mẹ tôi bảo "Vợ Nhu đi Mỹ Tho chữa bệnh". Nó hỏi đi hỏi lại nhiều lần, mẹ tôi vẫn nói thế, chúng nó bèn đưa nhau về Mỹ Tho, thế là bà Bảy Nhu chạy thoát, ông Bảy Nhu trốn lên Nam Vang không bị bắt.
Ba tôi ở ngoài Côn Đảo, thỉnh thoảng gửi thư về. Có lần qua thư ba tôi khuyên mẹ tôi nên tái giá, mẹ tôi giận bảo với tôi "Ba mày coi thường tao quá”. Sau đấy mẹ tôi viết thư bảo với ba tôi “Tôi có chồng rồi, có ba đứa con, đứa lớn tên Hạnh, đứa thứ hai tên Nghiêm, đứa út còn lại tên Liêm", đọc thư, ba tôi biết mẹ tôi giận, viết thư xin lỗi.
Nói về thằng em trai tôi lúc bấy giờ nó mới lên ba tuổi, do mẹ tôi mải lo buôn bán kiếm sống để ba chị em tôi ở nhà với bà Sáu – thằng em tôi đột nhiên bị sốt, bà tôi cho em tôi uống thuốc không đúng bệnh. Khi mẹ tôi về thì em tôi trong tình trạng ốm nặng, không cách cứu chữa, nó chết trên tay mẹ tôi, mẹ tôi đau khổ vô cùng, từ hôm ấy bỏ nghề đi buôn Sài Gòn. Có người bảo mẹ tôi về Kim Sơn, ở đấy ông tôi còn để lại hơn một mẫu vườn; về đấy trồng trọt, chăn nuôi may ra đủ sống - Mẹ tôi nghe lời dời nhà về Kim Sơn, nuôi lợn, nuôi gà, trồng trọt và bán trái cây ở trong vườn để sống. Được vài năm thì cậu Sáu tôi lấy vợ, đưa vợ về ở đấy, mẹ tôi nhường nhà cho cậu tôi, đưa tôi và em tôi về Vĩnh Kim, cất một cái chòi bằng lá gần đường để bán bánh tét và nuôi lợn. Ít lâu sau, cậu Sáu tôi bị bắt lính, mợ Sáu tôi đưa con về bên ngoại. Mẹ tôi thôi nghề bán bánh tét lại dọn nhà về Kim Sơn ở trên mảnh vườn cũ. Mảnh vườn này cậu tôi đi cầm cố cho người ta, thành ra hàng năm mẹ tôi vừa phải trả tiền thuê vườn, vừa phải lo đóng thuế vườn cho chính quyền sở tại, thu hoạch bán trái xây trong vườn không sao đủ sống, mẹ tôi làm thêm nghề bán quán, mua một cái nhà nhỏ gần đường để bán hàng tạp hoá như đỗ xanh, đỗ đen, muối, nước mắm, dầu lửa, v.v. Tiền mua nhà và vốn liếng buôn bán là tiền đi vay. Có vay mà không có trả, mẹ tôi phải để quán lại cho người ta rồi đưa tôi lên Nam Vang kiếm sống. Lúc đầu ở nhờ nhà người em họ để buôn bán. Mẹ tôi bán tháo, bán chè. Làm nghề này vất vả phải đi khắp phố phường, rao rã họng mà vẫn ế, không bán được. Có người rủ mẹ tôi đi làm mướn. Mẹ tôi và tôi phải đi làm bồi cho nhà Tây sếp, chuyên quét dọn, giặt giũ quần áo cho nhà nó; nhà nó đông người phục vụ vất vả, hai mẹ con tôi làm đến tối mịt vẫn không hết việc. Tối ngủ phải nằm dưới đất, gần cầu thang, gần chỗ nấu bếp. Con mẹ chủ nhà, vợ thằng sếp, là người Việt lai Ấn Độ, người ăn người ở làm gì trái ý nó thì nó thét lác chửi bới. Một hôm mẹ tôi nấu nước giặt quần áo quên để cạn nước, suýt cháy quần áo của nó, nó thét lác to tiếng với mẹ tôi. Tối hôm ấy khi đi ngủ, tôi ôm mẹ tôi và bảo "Má ơi! Ba làm cách mạng mà làm gì để mẹ con mình phải khổ như thế này!”; mẹ tôi trầm tĩnh bảo tôi "Mẹ con mình khổ, ba con ở tù còn khổ hơn mẹ con mình nhiều, thôi ngủ đi con". Làm bồi được hơn một năm thì may quá có người báo tin cho ông Nguyễn Tài Đức (Mười Đức), người là trước đây ba má tôi nuôi ăn học đỗ kỹ sư, nay nghe mẹ tôi đi ở, chú Đức gửi cho mẹ tôi 100 đồng và bảo mẹ tôi về, không nên đi ở. Mẹ tôi có được 100 đồng liền báo với chủ, xin thôi việc, nó cho mẹ tôi thôi việc mà vẫn giữ tôi ở lại vừa làm bồi vừa thêu, khâu cho nó. Được nửa năm tôi xin nghỉ về thăm mẹ rồi ở luôn dưới quê không lên Nam Vang nữa.
Mẹ tôi có được 100 đồng đủ trang trải nợ nần, từ đấy sống yên ở quê không đi đâu nữa. Một lần nghe tin ba tôi vượt Côn Đảo về Cà Mau, mẹ tôi một mình đi xuống Cà Mau tìm ba tôi nhưng không gặp. Và một lần nghe một lãnh tụ Tờrốtkít (xin phép không nếu tên) nhắn tin cho mẹ tôi "Nếu mẹ tôi muốn cho ba tôi được về thì sang Long Xuyên gặp ông ấy, ông ấy sẽ bày cách". Mẹ tôi và em gái tôi đi Long Xuyên tìm gặp được ông ấy, ông ấy bảo mẹ tôi làm đơn gửi cho Nhật xin cho ba tôi ra tù và hứa khi ba tôi ra tù sẽ làm việc cho Nhật. Mẹ tôi bảo "Không được đâu ông ạ, tôi mà làm thế thì ba sắp nhỏ tôi rầy lắm", thế là mẹ tôi bỏ về không đơn từ gì cả.
Thời gian này mẹ tôi chả buôn bán gì, chỉ làm vườn và nuôi lợn, có một máy khâu, tôi khâu vá thêm cũng đủ sống qua ngày cho đến khi ba tôi về.
Ba tôi về chỉ ở nhà với mẹ con tôi có một ngày rồi ra đi công tác. Hai chị em tôi cũng được đoàn thể dìu dắt, vào đội công tác tuyên truyền xung phong đi các tỉnh rồi ra Bắc. Mẹ tôi ở nhà một mình, sau rồi cũng được đoàn thể đưa lên căn cứ địa (Đồng Tháp Mười) làm công tác nuôi trẻ cho đến năm 1954 thì tập kết ra Bắc. Hai mươi sáu năm xa cách, lúc gặp lại nhau, ba me tôi đều già cả, mẹ tôi già không làm được gì, chỉ ở nhà giúp con, nuôi cháu và giúp ba tôi khi ốm đau. Ba tôi tuy có người giúp việc, nhưng mẹ tôi vẫn tự lao động lấy; từ giặt quần áo đến cơm nước, làm được việc gì thì làm không hề sai ai cả. Cho đến khi mẹ tôi bị bệnh liệt, mới chịu để người giúp việc giặt quần áo cho mình.
… Về cách sống giản dị của cha mẹ tôi? Theo tôi chuyện ấy dĩ nhiên thôi; vì ngày xưa ba mẹ tôi sống khổ quá, nay sống trong hoàn cảnh mới, ba mẹ tôi vẫn giữ nếp suy nghĩ, nếp sống gần như trước, sống tự lực, tự lao động, không muốn phiền hà người khác, không muốn "sai phái" ai. Riêng tôi, tôi học gương mẹ tôi về đức tính thuỷ chung, chờ chồng, nuôi con, dù phải gặp nhiều gian khổ cũng chịu, không kêu ca phàn nàn gì. Mẹ tôi còn có đức tính thương người, khi giàu cũng như lúc nghèo; giàu có nuôi người đã đành, nhưng khi nhà tôi nghèo lắm, ai đến cần nương tựa, mẹ tôi cũng nuôi, có rau ăn rau, có cháo ăn cháo, vui vẻ như thường.
___________
1. Trích Bài đăng trên Tạp chí: Thất Sơn, Hội văn học nghệ thuật tỉnh An Giang, số 44, 1-1999, tr. 8-9.
* Con gái lớn của Chủ tịch Tôn Đức Thắng
Nhưng mẩu chuyện trong đời thường của Bác Tôn (1) TÔN THỊ TUYẾT DUNG*
BÁC ĐÃ GIÁO DỤC TÔI NÊN NGƯỜI 2
Người cộng sản chân chính đầu tiên tôi được gặp, được biết là Bác Tôn. Tôi chịu sự giáo dục nhiều nhất, hoàn thiện nhất những phẩm chất tốt đẹp cũng ở Bác Tôn. Cứ mỗi ngày một ít, một lần một chút, Bác đã giáo dục tôi thành người Cộng sản lúc nào không hay. Không lý luận cao xa, “không đao to búa lớn" mà bằng những câu chuyện, những việc làm nho nhỏ, những thái độ cử chỉ ôn hoà, những lời nói giản dị trong đời thường của Bác đã giáo dục tôi nên người hữu ích cho xã hội, cho gia đình.
Hàm ơn gia đình Bác! Bác đã dạy tôi sống phải biết yêu thương, tôn trọng con người. Bác dạy cho tôi biết sống bằng sức lao động của chính mình, không dựa dẫm ỷ lại; phải kiên trì, nhẫn nại, không đầu hàng trước khó khăn, không khuất phục trước kẻ thù và bất cứ một uy lực nào, Bác thường nói: "Nếu hướng đi đúng đắn ta đã chọn, tâm hồn ta trong sáng, ý chí, quyết tâm ta mạnh mẽ thì không chướng ngại nào ta không vượt qua được; không có gì ta không làm nên!”. Bác là người cha đã dạy tôi như thế đó.
Cũng như các anh chị trong gia đình, tôi hiểu biết về cuộc đời hoạt động cách mạng của cha mình rất ít, thậm chí còn ít hơn sự hiểu biết của người ngoài rất nhiều. Nhớ lại nhưng lời nói, việc làm, thái độ đối với con cháu trong gia đình, tôi bồi hồi xúc động.
Trước hết tôi xin mạo muôi giới thiệu về mình. Tôi sinh ta trong một gia đình “hữu sản"3. Ông chú ruột tôi là Giáo chủ đạo Cao đài Phạm Cộng Tắc, ông nội tôi thứ hai, ông chú tôi thứ tám. Cha tôi có một thời làm Thanh tra cho Toà thánh Tây Ninh. Thuở nhỏ, tôi có sống ở Toà thành với ông chú, bà thím tôi về tháng (1942). Có một lần ông Dương Bạch Mai4 nói chuyện với Bác Tôn ở nhà riêng tại Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (đường Tràng Thi Hà Nội).
Ông Mai nói: "đáng lẽ tôi nuôi cháu mới phải. Vì ba cháu là anh bạn thân của tôi”.
Bán Tôn nói lại:
- Tôi hay anh nuôi cháu cùng vậy thôi. Tôi thương cháu còn nhỏ mà đã sớm có lòng yêu nước.
Tôi tham gia ca hát để ủng hộ "Tuần lễ vàng", tham gia vào bộ đội Nam tiến làm liên lạc cứu thương; rồi trôi dạt theo đoàn ra Bắc. Việc làm đó được Bác Tôn đánh giá: đó là nghĩa cử yêu nước.
Thật ra, lúc đó còn nhỏ, tôi chưa ý thức sâu sắc được như vậy.
Sống trong tình thương yêu đùm bọc của gia đình Bác Tôn, dần dà tôi khôn lớn và trưởng thành theo cách mạng. Vào thời điểm (1946) mà ranh giới giữa ta và địch chưa phân minh; nguồn gốc lý lịch gia đình còn đè nặng lên sự phấn đấu của bản thân mà Bác Tôn vẫn nhận tôi làm con, tôi mới thấy hết tình cảm cao cả, bao la của Bác.
Có một lần Bác bảo: "Bây giờ con lấy Họ" của Ba. Mai kia về Nam con muốn lấy lại "Họ gia đình" cũng được. Vì Ba khai vào lý lịch con là con của Ba". Bác lại căn dặn thêm: "Vào lúc này con không nên liên lạc với gia đình trong Nam; tôi không sao, nhỡ có sự cố gì xấu, làm ảnh hưởng đến tư tưởng công tác, không lợi". Bác nói ít, nhưng tôi hiểu.
Thế là suốt ba mươi năm ở miền Bắc, tôi đau đáu nhớ gia đình, nhớ quê hương, song tôi không hề tìm hiểu để liên lạc và không biết gì về gia đình mình cả.
Từ lúc còn nhỏ cho đến khi khôn lớn, mỗi lần gặp Bác là tôi hỏi đủ điều. Và điều gì cũng được Bác giải đáp rõ ràng, cặn kẽ. Bác đang nói gì về cộng sản… tôi hỏi:
- Ba ơi, chú Nguyễn Văn Tạo5 có phải là cộng sản không?
Bác đáp: Có.
- Thế còn chú Trần Văn Giàu?
- Cũng phải!
- Còn chú Trần Công Trường - Luật sư thì sao?
- Cũng là đảng viên? Sao con hỏi nhiều thế?
- Con hỏi để con thương.
Người cộng sản ban đầu tôi nhận thức được là người chịu đựng gian khổ, biết hy sinh vì nghĩa lớn. Người cộng sản có lòng thương người bao la như Bác Tôn đáng để kính yêu. Thấy người ta gây gổ, hục hặc với nhau tôi cũng thắc mắc và than phiền. Bác thường giải đáp: “Vì vậy ta mới phải giác ngộ cho mọi người và phải làm cách mạng để đời đời và làm cho con người tốt hơn". Những điều Bác giảng giải gần gũi, dễ hiểu tôi đều nhập tâm. Cho tới bây giờ, trải qua nhiều năm tháng, tiếp xúc với nhiều đảng viên già, từ xưa và nay tôi mới có dịp để so sánh và nhận biết đâu là đảng viên chân chính, đâu là đảng viên cơ hội và đâu là đảng viên giả danh….
Được gia đình Bác nuôi dưỡng và giáo dục, lúc nào tôi cũng tâm niệm "sống sao cho xứng đáng". Cho đến lúc này, tôi dám khẳng định rằng: Tôi đã sống theo gương Bác.
Với tuổi trẻ tôi đã sống mãnh liệt, hết mình vì lý tưởng: học tập và cống hiến; yêu thương, giúp đỡ đồng nghiệp, bạn bè thân sơ. Và cũng đã được đồng chí, đồng nghiệp, bạn bè và học sinh thương yêu. Những thành quả giáo dục mà tôi đã đạt được, những niềm vui trong cuộc sống tôi có nhiều, xin dâng lên Bác để thể hiện lòng biết ơn.
Một vài bức thư trong những bức thư Bác gửi cho vợ chồng tôi trong thời điểm khó khăn nhất - để quốc Mỹ đánh phá ra miền Bắc - và giáo dục, động viên chúng tôi rất nhiều về mọi mặt. Tôi xin gửi để đăng vào quyển sách này.
Hơn nữa, tôi nhận thấy một khía cạnh trong cuộc sống ngày nay, nhiều người còn thiếu, còn thờ ơ hay quên lãng, đó là sự chăm lo giáo dục con em trong gia đình. Bác Tôn bận việc nước nhưng vẫn dành thời gian cho con cháu, nhất là khi chúng gặp khó khăn. Gia đình là tế bào của xã hội. Gia đình bất ổn "suy vong" thì xã hội đâu có "hưng thịnh" được!
BỨC THƯ BỊ TRẢ LẠI
Những năm đầu kháng chiến chống Pháp (1947-1988-1949...) Chính phủ ta rất nghèo, hầu hết hưởng lương bằng gạo. Bộ, Thứ trưởng đều phải ăn một bữa cơm, bữa cháo. Ngay chú Lê Văn Hiến - Bộ trưởng Bộ Tài chính của nước ta lúc ấy cũng vậy; một bữa cơm và một bữa cháo bắp, rau ăn là rau rừng, măng tre... Cùng một chế độ như vậy, Bác Tôn cũng gặp khó khăn khi phải nuôi tôi đi học. Hai chị Hạnh, Nghiêm lúc ấy đã phải đi làm. Cho nên Bác viết thư khuyên tôi về, đợi khi nào gia đình có điều kiện hãy tiếp tục học. Nhận được thư tôi rất buồn. Tôi liền đi mua giấy pelure thật trắng, cắt đăng ten xung quanh cẩn thận và viết thư thật dài gửi về, tha thiết xin được ở lại học.
Sau một tháng, tôi lại nhận được chính bức thư mình gởi đi và trên phong bì cũ có đóng dấu ghi địa chỉ ATK. Như vậy là thư này đã đến nơi, chứ không phải không có người nhận!?. Tôi vội bóc ra xem với tâm trạng hoang mang chưa hiểu vì sao? Chắc Bác Tôn không cho đi học rồi, mới gửi trả lại như vậy...
Thế nhưng không phải. Bác viết lại mặt sau mà tôi bỏ trắng.
Nội dung thư của Bác đồng ý cho tôi tiếp tục học có sự giúp đỡ của các chú, các tác ở ATK (an toàn khu ở Tuyên Quang lúc ấy) và còn kể nhiều chuyện vui vẻ gia đình như nuôi được dê để lấy sữa, phát hiện được một nơi có nhiều rau rừng để ăn… Bác không bảo phải tiết kiệm giấy. Song tôi hiểu.
Từ đó trở đi, mỗi lần viết thư về gia đình tôi không dám viết gì một mặt nữa và tự làm phong bì bằng giấy báo rồi dán lên một tờ giấy trắng nhỏ để ghi địa chỉ. Đó là năm đầu cách mạng, mọi mặt đều thiếu thốn.
A DUA HAY YÊU NƯỚC?
Đầu năm 1950, chuẩn bị mở chiến dịch “Biên giới"; Lệnh tổng động viên của Chính phủ và Bộ tổng Tư lệnh được ban hành: các phái đoàn tuyển quân lần lượt về các trường trung học tuyên truyền, giáo dục và tuyển quân. Tuy chưa xin phép gia đình nhưng tôi cũng ghi tên tòng quân vào dịp này. Bởi tôi nghĩ, Bác Tôn là Trưởng ban thi đua yêu nước thì việc đầu quân của tôi là đúng đắn. Mặt khác, do không hiểu biết gì về chiến sự nên tôi cứ đinh ninh rằng chiến tranh sắp kết thúc. Việc trở lại đi học của tôi chẳng còn bao lâu nữa!
Thế rồi gần một năm, Chiến dịch "Biên giới” đã thắng lợi rực rỡ. Nhưng chiến tranh thì vẫn còn tiếp diễn. Các chiến dịch khác (Trung du, Hoà Bình...) vẫn tiếp tục mở rộng. Các trường học lại bắt đầu khai giảng, bạn bè tôi lục tục kẻ trước, người sau kéo về đi học. Tâm trạng tôi lúc này thật xao xuyến, dao động. Tôi bèn quyết định xin nghỉ phép để về xin Bác Tôn cho đi học lại. Lòng hăm hở ra về, hy vọng với lòng thương con, thế nào Bác cũng đồng ý. Ở nhà được vài hôm, nhân một buổi tối, thấy không khí gia đình vui vẻ tôi liền mạnh dạn đề xuất:
- Ba ơi các bạn của con lần lượt đi về học cả rồi. Tình hình này – chiến tranh còn kéo dài - con sợ còn nhỏ không học mai này lớn tuổi học không vào.
Lặng im nghe tôi nói, chờ dứt lời, Bác ôn tồn bảo:
- Thế con đi tòng quân là a dua hay con yêu nước? Nếu con yêu nước thì còn tiếp tục đi. Mai kia nước nhà được giải phóng, nếu con đi học với động cơ là để làm việc tốt thì dù con có lớn tuổi, tổ chức vẫn cứ bắt con đi học, không đi, không được đâu. Còn nếu con a dua theo chúng bạn, thấy bạn đi thì mình đi, thấy bạn về thì con xin về….
Yên lặng một lát, Bác nói tiếp:
- Ba nói như vậy nghe có phải không? Tuỳ con quyết định. Thế rồi Bác vui vẻ nói sang chuyện khác. Còn tôi, tôi cảm thấy ân hận vì những ý nghĩ nông nổi với việc làm thiếu chín chắn của mình. Nghiêm túc mà nói là tôi a dua chứ còn gì nữa!? Nghĩ vậy, hai hôm sau, lòng hăm hở, dứt khoát tôi lại vác ba lô con cóc lên đường.
Cách giáo dục đối với con cháu của Bác là thế đó, Bác không nhiều lời, không yêu cầu một cách áp đặt mà nhẹ nhàng giảng giải, để cho mình tự suy nghĩ, tự quyết định. Tôi nhớ có một lần với cháu ngoại, Bác cũng vậy. Tôi thấy Bác Tôn đi đi lại lại như đang suy nghĩ một việc gì hệ trọng lắm; tôi liền hỏi:
- Thưa Ba, chắc Ba có việc phải nghĩ?
- Ba đang nghĩ xem nên nói với cháu Vân như thế nào để cháu nhận thức ra vấn đề. Chứ cái lối dạy con của Nghiêm (chị thứ ba con gái Bác) là không có được. Rầy mắng, la lối om xóm mà chẳng giải thích cho nó biết tại sao không được thế, và làm như thế có hại gì? Hơn nữa, phải xem nó nghĩ gì mà hành động như vậy, để gỡ ra cho nó chứ!...
Thế đấy, từ việc nhỏ đến việc lớn, với con hay với cháu tuy chưa phải là người lớn, nhưng Bác Tôn đều tôn trọng mà giáo dục.
TRONG CHIẾN TRANH CÒN CÓ NHIỀU ĐIỀU ĐAU ĐỚN HƠN
Cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ leo thang ra miền Bắc trong nhưng năm l965, 1966 rất khốc liệt. Chúng trút bom xuống bất kỳ mục tiêu nào: quân sự, kinh tế hay cả dân lành (các tàu chở khách, ô tô đi lại trên đường, kể cả xe đạp nữa...). Thời gian đầu chúng hoạt động còn theo quy luật: hoặc sáng hoặc chiều... Về sau, hung hãn hơn, chúng đánh phá bất kỳ, gây nhiều đau thường, tang tóc. Báo chí thế giới đưa tin hàng ngày, khiến cho các phái đoàn nước ngoài sang ta đều có ý nghĩ rằng: đến Việt Nam sẽ chứng kiến "một thung lũng đầy nước mắt, các hoạt động đều đình trệ và khăn tang chít trắng đầu người mẹ, người vợ”6. Thế nhưng sự sống ở miền Bắc lúc bấy giờ thật kỳ diệu: Cuộc sống vẫn nhộn nhịp, tưng bừng, khẩn trương hơn bao giờ hết!
Năm ấy vào khoảng tháng 10-1966, Phú Thọ có cử một đoàn hầu hết là nữ về học ở Hưng Yên. Học xong, chúng tôi phải ra về bằng xe đạp. Từ Hà Nội về Phú Thọ (quãng đường dài hơn 100 km), tuy vẫn có xe khách, nhưng đoàn đã bàn bạc là đi xe đạp "cơ động hơn", dễ tránh máy bay hơn. Quyết định đó đã được tập thể chấp nhận. Và điểm xuất phát của chúng tôi là từ nhà Bác Tôn. Chúng tôi được gia đình chuẩn bị cho cơm nắm và thức ăn đi đường. Ý thức được là sẽ khó khăn nhiều, nhưng vì xa nhà đã lâu nên người nào cùng hăm hở trở về, không ai nói với ai nhưng tâm trạng của mỗi người đều đượm chất lãng mạn của thời chiến: "sự thử thách”.
Chúng tôi phải ra đi từ 8 giờ sáng ngày hôm trước cho đến 8 giờ sáng ngày hôm sau mới đến thị xã Phú Thọ. Suốt ngày hôm đó địch đánh phá liên tiếp, đoàn chúng tôi cứ phải dừng lại rất nhiều lần để tránh. Và cực nhất là đoạn đường từ cầu Việt Trì (khu công nghiệp Việt Trì) về thị xã Phú Thọ. Đêm ấy, chúng dội bom liên tục. Chúng tôi phải đi vòng qua huyện Lập Thạch để về, đường xa gấp rưỡi lần.
Theo đoàn mệt quá sức, đến thị xã Phú Thọ thì tôi bị ngã từ trên xe xuống, dập hết mặt mày, tay chống xuống đất, không gẫy nhưng bị liệt, không cử động được... Trở về gia đình với đầy "thương tích" nhiều cảm nghĩ lẫn lộn trong con tim tôi. Vốn chưa được thử thách nhiều, lại pha chút "lãng mạn" thời chiến, tôi nghĩ mình như Vaxili trong tác phẩm Ngày mùa sau chiến tranh trở về. Tôi cho rằng đây là "một chiến công". Chắc gia đình được tin sẽ thương và xót xa lắm. Sau đó, bao nhiêu ý nghĩ về "cái tôi nhỏ bé" đã tan biến đi khi nhận được thư của Bác.
“…Ba đã nhận được thư báo về tin của Dung rồi... Về tai nạn thương tật của Dung theo Ba thì không gì quan trọng lắm, trong chiến tranh còn có nhiều cái đau đớn hơn nhiều, có khi còn phải hy sinh, chết chóc nữa là khác.
Chúng ta nên xem thường nó. Sau khi thương tật đã chữa rồi. Ta nên coi đó là một thử thách nhỏ thôi…" (Kèm thư Bác gửi?).
NGƯỜI TA BẢO XUỐNG THÌ XUỐNG
Năm 1967, là năm thứ ba nhân dân ta anh dũng chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ leo thang ra miền Bắc. Để phát huy vai trò của phụ nữ ở hậu phương, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết về bồi dưỡng, đề bạt, sử dụng cán bộ nữ (Nghị quyết 152-153/NQ). Tôi được đề bạt làm Phó ty Giáo dục tỉnh Vĩnh Phú (3 tỉnh hợp nhất: Phú Thọ + Vĩnh Yên + Phúc Yên). Tôi lo ngại không đảm đương được, một công việc quá sức mình vì địa bàn quá rộng và đang trong giai đoạn chống chiến tranh phá hoại rất ác liệt; bỏ gia đình, bà con để đi công tác tôi không muốn… Nhưng rồi tôi về Hà Nội để xin ý kiến Bác Tôn và các anh, chị. Khi tôi trình bày tỷ mỉ về nội dung công việc sẽ làm và những nỗi niềm băn khoăn của mình, Bác bảo:
- Phó ty là gì nhỉ? À, thôi Ba biết rồi, là sous directeuse chứ gì? Được thôi, nếu tổ chức tin cậy, con làm được thì nhận, con không làm được thì từ chối. Nhưng nếu từ chối chỉ vì sợ khó, sợ khổ thì không nên mà phải cố gắng khắc phục. Và nên nhớ một điều là: khi nào người ta bảo “đồng chí không làm việc được nữa" phải xuống là con xuống nhé! Rồi Bác cười, vẫn nụ cười đôn hậu của người cha, người ông đối với con cháu.
Lời dạy của Bác thật giản dị, dễ hiểu, nhưng đối với tôi là cả một bài học sâu sắc, là một phương châm sống. Tôi suy nghĩ: sẽ cố gắng để không bao giờ trở thành "hòn đá tảng" của Đảng của Tổ quốc của tổ chức và luôn luôn phấn đấu để mãi mãi sẽ không bao giờ là "vật chướng ngại" cho mọi người, mà người ta: "bỏ thì thương, vương thì tội!".
KHÔNG Ỷ LẠI
Năm 1965, chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ đã lan đến tỉnh Phú Thọ. Trường sư phạm chúng tôi phải di sơ tán vào xã Văn Bán huyện Cẩm Khê. Mặc chúng đánh phá án liệt, gây thiệt hại không nhỏ, nhưng cũng như mọi hoạt động khác, nhà trường vẫn tiếp tục dạy và học. Tình hình thông tin liên lạc lúc ấy vốn đã yếu, ở một tỉnh trung du, bây giờ lại khó khăn hơn. Không có đài để nghe mà báo chí thì hàng tuần mới được đọc. Địch đánh phá mỗi ngày một ác liệt hơn. Nhiệm vụ giáo dục cho giáo sinh phải tiến hành hàng ngày mà sống trong tình trạng "không biết, không nghe gì”, thật đáng lo ngại. Chúng tôi nghĩ điều trước tiên là phải mua đài. Lúc đó chỉ có một loại đài bán dẫn khoẻ nhất là "Orionton" của Hung. Song giá những 305 đồng. Làm gì có đủ tiền để mà mua? Gia đình tôi bàn với nhau hay về xin Bác Tôn. Với lý do chính đáng này, thế nào Bác cũng cho...
Khi về Hà Nội, tôi trình bày nguyện vọng xong, Bác bảo: thôi được để Ba hỏi xem có không đã, và Bác hỏi thêm:
- Thế Dung có được bao nhiêu tiền rồi?
Tôi nói:
- Thưa Ba, con có được 120 đồng.
- Thế con đưa đây cho Ba Má, nếu thừa thì Ba gửi trả lại, còn thiếu bao nhiêu thì Ba Má bù vào cho đủ. Lúc nào mua được Ba nhắn con về lấy hoặc tiện thì gửi lên. Như không yên tâm Bác lại hỏi:
- Thế con còn tiền về không?
Tôi cười... Bác bảo.
- Thôi Ba đưa lại cho Dung 5 đồng để đi về (lúc ấy, tàu hoả về Phú Thọ có 2 đồng).
Thế đấy, Bác Tôn rất yêu thương con cháu. Những nguyện vọng gì chính đáng Bác đều giải quyết, làm cho con cháu vui lòng, song đều có giới hạn. Tâm lý ỷ lại, dựa vào thần thế… trong gia đình Bác không có đất nảy nở.
Từ hai Bác cho đến các anh, các chị, con Bác đều có một nếp sống thật giản dị, tiết kiệm, và biết quý trọng công sức lao động, quý trọng của công… Bác trai đi đâu thì lễ phục, nhưng về nhà thì hầu hết chỉ mặc quần đùi nâu và áo sơ mi ngắn tay. Bác gái thì quanh năm suốt tháng chỉ mặc bộ đồ bà ba đen. Những ngày nóng nực thì mới mặc áo túi trắng. Những năm chiến tranh, vải vóc rất đắt đỏ, mà công việc thì phải đi lại nhiều nên các chị (con gái Bác Tôn) may cả quần kaki đen để mặc. Nhiều khi về nhà chơi, tôi thấy mình ăn mặc không giống các chị tôi rất ngại. Biết suy nghĩ của tôi, các chị bảo để tôi yên tâm: "Công việc của Dung khác, Dung phải ăn mặc tử tế, đẹp đẽ chứ ! Đứng trước học sinh mà ăn mặc như chúng tôi coi sao được".
Những năm học ở Hà Nội tôi đi xe đạp về nhà. Lúc nào rảnh rỗi là Bác lại ra xem xe. Bác chê xe lung lay như răng bà lão - đàn bà con gái gì mà để tóc quấn đầy maiơ, xích, líp! Rồi Bác lại lấy phụ tùng ra, tháo chữa. Các anh phục vụ đề nghị:
- Bác để đấy chúng cháu chữa cho, chúng cháu chữa được.
Nhưng Bác không chịu, Bác nói.
- Việc gì tôi làm được để tôi làm. Thay đổi hình thức làm việc cũng là một dịp nghỉ ngơi mà!
Tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều về cách sống này. Việc gì làm được là tôi tự làm. Ngay cả với các con, tôi cũng ít khi sai phái, nhờ vả.
Có lúc cúc áo đứt, hoặc sứt chỉ, Bác tự ngồi khâu lấy. Bác cũng không cho con cháu làm. Có lần về thăm nhà, tôi thấy Bác gái đang ngồi vá gối. Mặt trước rách nát, Bác vẫn không bỏ mà ngồi vá lại. Thấy vậy, tôi lén đo kích thước gối. Về Phú Thọ tôi may và thêu rồi gửi về biếu Bác. Bác gái viết thư ân cần chuyện tôi nên để thời gian nghỉ ngơi. Bác tỏ ra ái ngại về thời gian tôi bỏ ra để thêu gối cho Bác mà Bác coi là không cần đến thế! (có thư kèm theo).
______________
1,2. Đầu đề là của Ban biên tập.
* Được Bác Tôn nhận làm con nuôi từ năm 1946 (B.T).
3. Bức thư Bác trả lời cho chi bộ Trường phổ thông Lao động Phú Thọ, trước khi tôi được kết nạp Đảng (T.G).
4. Ông Dương Bạch Mai lúc ấy là Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt - Xô (T.G).
5. Bộ trưởng Bộ Lao động trước đây (T.G).
6. Báo đưa tin (T.G)
1A Hùng Vương, Ba Đình, Hà Nội
E-mail: congdcsvn@vptw.dcs.vn
Bản quyền thuộc Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu