
Quản lý thống nhất toàn bộ vòng đời hệ thống thông tin
Quy định điều chỉnh toàn bộ quá trình hình thành và vận hành hệ thống thông tin, từ khi phát sinh nhu cầu, xác định bài toán nghiệp vụ, xây dựng đầu bài, lập phương án, thiết kế, triển khai, kiểm thử, nghiệm thu, bàn giao đến quản lý, vận hành, bảo trì, thay đổi, đánh giá, dừng khai thác, thay thế, chuyển giao hoặc thanh lý. Đây là căn cứ thống nhất để quản lý hệ thống theo yêu cầu nghiệp vụ, dữ liệu và kiến trúc số.
Một nguyên tắc đáng chú ý là yêu cầu nghiệp vụ phải được xác định trước yêu cầu kỹ thuật; quy trình nghiệp vụ cần được rà soát, chuẩn hóa, đơn giản hóa trước khi số hóa. Hệ thống cũng phải được thiết kế theo hướng lấy dữ liệu làm nền tảng, bảo đảm dữ liệu được tạo lập, cập nhật tại nguồn có thẩm quyền, đáp ứng yêu cầu kết nối, chia sẻ, khai thác và tái sử dụng theo đúng thẩm quyền.
Quy định cũng nêu rõ, phân loại hệ thống thông tin theo tính chất thông tin xử lý, tính chất nhiệm vụ, mức độ quan trọng, cấp độ, phạm vi phục vụ và mô hình quản trị. Trên cơ sở đó, hệ thống được áp dụng theo ba nhóm: nhóm áp dụng đầy đủ, nhóm áp dụng rút gọn và nhóm áp dụng đặc thù.
Nhóm áp dụng đầy đủ tập trung vào các hệ thống trọng yếu, quan trọng, hệ thống dùng chung, hệ thống xử lý thông tin mật, dữ liệu cá nhân, dữ liệu hạn chế truy cập hoặc có phạm vi kết nối, chia sẻ dữ liệu rộng. Nhóm áp dụng rút gọn dành cho hệ thống nội bộ quy mô nhỏ, ít người dùng, ít kết nối và không xử lý thông tin mật hoặc dữ liệu nhạy cảm. Nhóm áp dụng đặc thù thực hiện đối với phần mềm thương mại, dịch vụ công nghệ số, nền tảng dùng chung, điện toán đám mây, hệ thống thuê dịch vụ hoặc tiếp nhận chuyển giao.
Việc áp dụng rút gọn hoặc đặc thù không đồng nghĩa với giảm yêu cầu về bảo vệ bí mật nhà nước, dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và trách nhiệm vận hành. Trường hợp một hệ thống đồng thời thuộc nhiều nhóm, phải áp dụng yêu cầu kiểm soát cao hơn đối với từng nội dung liên quan.
Phân định trách nhiệm trong xây dựng, vận hành hệ thống thông tin
Văn phòng Trung ương Đảng cũng quy định phân định trách nhiệm của cơ quan chủ quản, chủ đầu tư, đơn vị chủ trì sử dụng, đơn vị chuyên trách chuyển đổi số, an ninh mạng, cơ yếu, đơn vị vận hành, chủ quản dữ liệu, nhà thầu và người sử dụng. Đối với từng hệ thống, trách nhiệm phải được xác định rõ ở từng giai đoạn, từ đề xuất nhu cầu, xây dựng đầu bài, triển khai, kiểm thử, nghiệm thu, bàn giao đến vận hành, bảo trì, xử lý sự cố và dừng khai thác.
Đặc biệt, trước khi nghiệm thu, bàn giao và đưa hệ thống vào vận hành chính thức, phải thực hiện kiểm tra, đánh giá, kiểm thử an ninh mạng phù hợp với cấp độ, mức độ quan trọng và tính chất dữ liệu. Nội dung kiểm tra bao gồm cấu hình, phân quyền, xác thực, nhật ký, lỗ hổng, khả năng chống truy cập trái phép, an ninh dữ liệu, sao lưu, phục hồi và khả năng xử lý sự cố.
Quy định cũng yêu cầu không tổ chức nghiệm thu hoặc đưa hệ thống vào vận hành chính thức nếu chưa làm rõ quyền dữ liệu, chưa đáp ứng yêu cầu bảo mật, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu hoặc chưa hoàn thành các điều kiện bắt buộc về kiểm thử, nghiệm thu, bàn giao và phương án vận hành.
Kiểm soát chặt việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo
Trong quá trình chuyển đổi số, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải phục vụ yêu cầu nghiệp vụ, đồng thời bảo đảm quản trị, bảo vệ dữ liệu, an ninh, bảo mật và có sự giám sát của con người. Quy định nêu rõ không sử dụng nền tảng trí tuệ nhân tạo công cộng để xử lý thông tin mật, dữ liệu cá nhân nhạy cảm, dữ liệu nội bộ nhạy cảm hoặc dữ liệu hạn chế truy cập khi chưa được cấp có thẩm quyền cho phép.
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký. Cục Chuyển đổi số - Cơ yếu - Văn phòng (Trung ương Đảng) được giao làm đầu mối tham mưu, hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra, đôn đốc thực hiện; đồng thời tổng hợp khó khăn, vướng mắc để báo cáo Chánh Văn phòng Trung ương Đảng hoặc cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.
Xem toàn văn Quyết định 556-QĐ/VPTW tại đây.


