Hoàng Tranh
Nguyên Phó viện trưởng, Viện Khoa học xã hội Quảng Tây, Trung Quốc
Hồ Chí Minh là nhà cách mạng vĩ đại của giai cấp vô sản, đồng thời cũng là một danh nhân văn hóa. Người đã để lại cho nhân loại một di sản quý báu của văn hóa phương Đông, đó chính là các bài thơ viết bằng chữ Hán. Bài viết này khảo sát và đánh giá sơ bộ về số lượng các bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh hiện còn lưu giữ, những nội dung tư tưởng và đặc sắc nghệ thuật trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh.
1. Thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh (hiện còn lưu giữ 173 bài).
Hồ Chí Minh yêu thơ và có tài làm thơ. Người vừa làm thơ bằng tiếng Việt, lại vừa làm thơ bằng chữ Hán, và đều có những bài thơ rất nổi tiếng.
Tài làm thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh bắt nguồn từ việc Người được tiếp xúc với nền giáo dục Hán học từ thuở nhỏ, và cũng bắt nguồn từ việc Người đã từng hoạt động cách mạng nhiều năm ở Trung Quốc. Hồ Chí Minh đã trải nghiệm và cảm nhận sâu sắc ngôn ngữ, văn tự cũng như văn hóa và xã hội Trung Quốc.
Vậy, thơ chữ Hán Hồ Chí Minh hiện còn lưu giữ được ban nhiêu bài? Theo những tài liệu mới nhất thì tổng cộng có 173 bài. Trong đó tậpNgục trung nhật ký (Nhật ký trong tù có 133 bài, còn lại các bài thơ chữ Hán khác là 40 bài.
Nhật ký trong tù là tác phẩm tiêu biểu của thơ chữ Hán Hồ Chí Minh. Tập thơ này được Hồ Chí Minh viết liên tục trong khoảng thời gian từ tháng 8-1942 đến tháng 9-1943 khi bị bắt giam tại một số nơi ở tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Bản thảo tập thơ này ban đầu được viết rải rác trong một vài mảnh giấy. Sau khi ra tù, Hồ Chí Minh tập trung lại rồi chép vào một cuốn sổ và đánh số thứ tự cho mỗi bài thơ, tổng cộng đánh số đến 133, tức là có 133 bài thơ. Ngoài ra, Hồ Chí Minh còn có 2 bài thơ cũng có mối liên hệ với tập Nhật ký trong tù. Trong đó có một bài được chép ngay ở đầu trang bìa và không có tiêu đề, Nhà xuất bản Văn học nhân dân Trung Quốc khi xuất bản cuốn Ghi chép thơ Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh (gồm 100 bài) năm 1960, đã thêm tiêu đề "khai quyển" (mở đầu tập nhật ký). Trong cuốn sổ ghi chép thơ trong tù của Hồ Chí Minh thì bài thơ này không có đánh số. Nhưng nội dung bài thơ thì rõ ràng là có vai trò dẫn dắt và cũng có liên hệ chặt chẽ với các bài thơ trong tập thơ. Cho nên bài này nên được xem là thơ trong tù. Nhưng, một bài thơ khác có tựa đề Tân xuất ngục, ngục đăng sơn (Mới ra tù, tập leo núi) được Hồ Chí Minh viết sau khi ra tù, trong cuốn sổ thơ không đanh số thứ tự và không được xếp cùng các bài thơ trong tù khác, vì thế không nên coi đó là thơ trong tù. Trong 133 bài thơ mà Hồ Chí Minh ghi chép lại và đánh số thì bài thơ có số thứ tự 100 với tiêu đề Liễu Châu ngục thì chỉ có tiêu đề mà không thấy chép thơ. Người viết đoán rằng, có thể Hồ Chí Minh đã từng viết bài thơ này, nhưng lạc mất mảnh giấy chép bài thơ, cho nên trong cuốn sổ thơ chi ghi tiêu đề của bài thơ. Vì không có bất cứ câu thơ nào, cho nên bài thơ này trên thực tế là không tồn tại. Vì vậy, nếu như trong 133 bài được đánh số thứ tự, bỏ đi một bài, nhưng lại thêm bài Khai quyển không đánh số viết ở phần đầu thì toàn bộ thơ trong tù của Hồ Chí Minh là 133 bài. Người viết đã từng chủ biên xuất bản cuốn Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (Chú thích - Thư pháp) vào năm 2004, thơ Nhật ký trong tù trong đó có ghi là 133 bài. Trước đây, trong một số cuốn Nhật ký trong tù xuất bản ở Việt Nam có biên soạn tổng cộng 135 bài, đây là điều không phù hợp với thực tế.
Về những bài thơ chữ Hán khác ngoài tập Nhật ký trong tù, sớm đã có bản sưu tầm, chỉnh lý của giáo sư Việt Nam Phan Văn Các, khi xuất bản có 36 bài. Trong 36 bài thơ chữ Hán này thì có bao gồm cả bài Tân xuất ngục, học đăng sơn (Mới ra tù tập leo núi) được Hồ Chí Minh viết sau khi ra tù, giáo sư Phan đã đổi tiêu đề của bài này thành Ức cố nhân (Nhớ người xưa), (câu cuối bài thơ này là Dao vọng Nam thiên ức cố nhân, dịch nghĩa là Trông lại trời Nam nhớ bạn xưa).
Mấy năm gần đây, có 4 bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh nằm ngoài tập Nhật ký trong tù lần lượt được phát hiện. Vì những bài thơ này chưa được đưa vào bất cứ tập thơ chữ Hán nào của Hồ Chí Minh, cho nên người viết xin được đưa ra và giới thiệu sơ lược:
Nhật xuất đông phương nhất điểm hồng,
Nga mi phụng nhãn tự toan cung.
Mãn thiên tinh đẩu anh định điếu,
Ô vân cái nguyệt ám mông lung.
Bài thơ trên của Hồ Chí Minh được phát hiện trong một cái động ở thôn Ba Mông, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây năm 1997. Bài thơ được viết trên tường trong động, không có đầu đề. Người viết đã từng hai lần vào trong động này khảo sát (trong đó có một lần khảo sát cùng với các lãnh đạo và chuyên gia bảo tàng Hồ Chí Minh Việt Nam). Theo phân tích của các chuyên gia và sự giới thiệu của nhân dân địa phương thì bài thơ này được viết vào khoảng nửa đầu năm 1941 khi Hồ Chí Minh hoạt động cách mạng ở huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây. Khi đó, Hồ Chí Minh đã sống trong động này một thời gian. Bài thơ này miêu tả khung cảnh Hồ Chí Minh nhìn thấy trong động trước lúc bình minh, gọi là Động trung tức cảnh (nhân cảnh vật trong động). Bài thơ tuy là tả cảnh, nhưng lại bao hàm ý nghĩa cuộc đấu tranh cách mạng của nhân dân Việt Nam nhất định sẽ xua tan "đêm tối trước bình minh".
Ba bài thơ chữ Hán khác của Hồ Chí Minh lần lượt được viết vào mùa xuân năm 1951 và năm 1955. Các bài thơ này được đồng chí Văn Trang - người đã từng công tác trong đoàn cố vấn Trung Quốc tại Việt Nam và làm nhiệm vụ phiên dịch Trung-Việt ở Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam lưu giữ và giới thiệu:
Hai bài thơ được viết vào mùa xuân năm 1952:
Nghênh xuân vô biệt soạn
Vi hữu tửu số tôn
Thỉnh nhĩ môn nhất túy
Cộng độ thắng lợi xuân
23-1-52
丁
Đào phù vạn hộ nghênh tân
Bộc trúc nhất thanh trừ cựu
Phụng tống hải vị số điều
Liêu cúng thưởng xuân hạ tửu
2-2
丁
Hai bài thơ này đều không có tiêu đề, phần cuối có ghi chữ "丁 - đinh", đó chính là mật hiệu mà Hồ Chí Minh sử dụng để liên lạc với các đồng chí Trung Quốc trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Khi mà Tết Nguyên đán của nhân dân hai nước Trung-Việt sắp đến, Hồ Chí Minh đã nhớ đến các đồng chí trong đoàn cố vấn Trung Quốc sang Việt Nam công tác, nên đã hai lần cử người tặng lươn và hải sản cho trưởng đoàn cố vấn Trung Quốc La Quý Ba bày tỏ thăm hỏi, đồng thời tự tay viết 2 bài thơ chữ Hán tặng La Quý Ba. Hai bài thơ này đã thể hiện một cách đầy đủ và sâu sắc tình hữu nghị và tình cảm chân thành giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí Trung Quốc.
Một bài thơ chữ Hán khác của Hồ Chí Minh được viết vào mùa Xuân năm 1955, cũng là tặng cho La Quý Ba, lúc đó La Quý Ba đã chuyển sang giữ chức vụ Đại sứ Trung Quốc nhiệm kỳ đầu tiên tại Việt Nam. Bài thơ này cũng không có đầu đề, nội dung như sau:
Bạch đậu tam cân trọng,
Chất cam nhi vị hương;
Thanh niên tăng sản đắc,
Thỉnh nhĩ thường nhất thường.
Hồ Chí Minh đã tặng đậu trắng tươi ngon do thanh niên Việt Nam trồng và chăm sóc cho Đại sứ La Quý Ba làm quà Tết, gọi là "của ít lòng nhiều". Tình cảm thân thiết chân thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với các đồng chí Trưng Quốc đã được thể hiện sâu sắc qua những dòng thơ trên.
Như đã nói ở trên, Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh có tổng cộng 133 bài thơ, và có 40 bài thơ nằm ngoài tập Nhật ký trong tù. Tổng cộng thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh gồm 173 bài.
2. Nội dung tư tưởng trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh
Thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh có nội dung phong phú, tư tưởng sâu sắc. Mỗi dòng, mỗi chữ đều tràn đầy tinh thần cách mạng cao cả của người cách mạng của giai cấp vô sản. Có thể khái quát nội dung tư tưởng của tinh thần cách mạng ấy thành các phương diện chủ yếu như sau:
a. Ý chí kiên cường, không khó khăn, gian khổ và tinh thần lạc quan cách mạng
Là một lãnh tụ của giai cấp vô sản, Hồ Chí Minh nhận thức một cách rõ ràng rằng, muốn gánh vác nhiệm vụ nặng nề của cách mạng, người làm cách mạng nhất định phải có ý chí kiên cường, phải có tinh thần quả cảm để vượt qua mọi khó khăn, trở ngại. Với tinh thần đó, người làm cách mạng có thể băng qua mọi thử thách, đưa cách mạng đến thành công. Khi ghi chép lại tập Nhật ký trong tù, Hồ Chí Minh đã chép một bài thơ ở ngay phần đầu như sau:
Thân thể tại ngục trung,
Tinh thần tại ngục ngoại,
Dục thành đại sự nghiệp,
Tinh thần cánh yếu đại.
Dịch thơ
Thân thể ở trong lao,
Tinh thần ở ngoài lao;
Muốn nên sự nghiệp lớn,
Tinh thần càng phải cao.
Ở trong tù, Hồ Chí Minh đã dùng tinh thần cách mạng lớn lao đó để khích lệ bản thân, cả tập Nhật ký trong tù cũng bao trùm một tinh thần lớn lao" đó. Trong khoảng thời gian một năm bị chuyển đi chuyển lại qua các nhà tù, Hồ Chí Minh đã phải chịu đựng biết bao sự đau đớn, dày vò: thân thể bị trói, chân bị kìm kẹp, vất vả nặng nhọc vì phải đi đường ròng rã, ngủ trên hố xí, chịu đói chịu rét, bị muỗi và côn trùng cắn, cơ thể nổi mụn nhọt, thân mang trọng bệnh... Hồ Chí Minh đã ghi lại những khổ sai mà mình phải chịu đựng trong các bài thơ Bang (Dây trói), Cước áp (Cái cùm), Dạ lãnh (Đêm lạnh), Thu dạ (Đêm thu), Điệt lạc (Hụt chân ngã), Lại sang (Ghẻ lở), Bệnh trọng (Ốm nặng)…Nhưng, Hồ Chí Minh đã đối mặt với những sự khổ sai ấy với một ý chí kiên cường và một tinh thần quả cảm. Hồ Chí Minh đã viết bài thơTự miễn để tự khuyên mình:
Một hữu đông hàn tiều tuy cảnh,
Tương vô xuân noãn đích huy hoàng.
Tai ương bả ngã lai đoàn luyện,
Sử ngã tinh thần cánh yếu đại.
Dịch thơ
Ví không có cảnh đông tàn,
Làm sao có cảnh huy hoàng ngày xuân.
Nghĩ mình trong bước gian truân,
Tai ương rèn luyện tinh thần thêm hăng.
Theo cách nhìn của Hồ Chí Minh, mùa đông lạnh giá có thể khiến tất cả mọi vật trở nên tiều tụy, nhưng một khi mùa đông đã qua đi, mùa xuân ấm áp lại về, thì vạn vật lại căng tràn sức sống. Khổ sai có thể khiến người ta đau đớn, nhưng lại giúp con người rèn luyện ý chí và tinh thần. Hiểu được đạo lý này nên Hồ Chí Minh luôn thản nhiên, ung dung tự tại đối mặt với mọi khó khăn, gian khổ. Người có một niềm tin chắc chắn rằng, tuy lúc này đây ở trong cảnh lao tù chịu cực khổ, nhưng ánh sáng tự do nhất định rồi sẽ tới. Hồ Chí Minh đã ghi lại đạo lý rất biện chứng này trong bài thơ Tảo (Buổi sớm):
Tảo
Thái dương mỗi tảo tòng tường thượng,
Chiếu trước lung môn, môn vị khai.
Lung lý hiện thời hoàn hắc ám,
Quang minh khước diện tiền lai.
Dịch thơ
Buổi sớm
Đầu tường sớm sớm vầng dương mọc,
Chiếu cửa nhà lao, cửa vẫn cài.
Trong ngục giờ đây còn tối mịt,
Ánh hồng trước mặt đã bừng soi.
Chính bởi vì Hồ Chí Minh đã dũng cảm đối mặt với khó khăn, có thể nhìn thấy ánh sáng trong màn đêm tăm tối, thấy hy vọng trong gian khổ, nên trong khoảng một năm bị giam trong ngục, Người luôn giữ được tinh thần lạc quan cách mạng. Thậm chí trong thơ chữ Hán viết trong tù của Hồ Chí Minh, chúng ta có thể tìm thấy không ít những câu thơ hài hước và dí dỏm. Chẳng hạn, Hồ Chí Minh đem ví sợi dây trói mình với tua, đai đeo trên người quan võ trong bài Bang (Dây trói). Coi những trói buộc, kìm kẹp khi bị giải trên đường như một cuộc ngao du sơn thủy:
Lộ thượng
Hĩnh tý tuy nhiên bị khẩn bang,
Mãn sơn điểu ngữ dữ hoa hương.
Tự do lãm thưởng vô nhân cấm,
Vạn thử chinh đồ giảm tịch lương.
Dịch thơ
Trên đường
Mặc dù bị trói chân tay,
Chim ca rộn núi, hương bay ngát rừng.
Vui say ai cấm ta đừng,
Đường xa âu cũng bớt phần quanh hiu.
Coi những quan cai ngục như những vệ sĩ bên cạnh mình:
Ngật công gia phạn, thi công phòng;
Quân cảnh luân ban khử hộ tòng
Dịch thơ
Ăn cơm nhà nước, ở nhà công
Binh lính thay phiên đến hộ tòng.
Trong một bài thơ tựa đề Ngọ hậu (Quá trưa), Hồ Chí Minh thậm chí còn coi bản thân mình ở trong ngục lại giống như thần tiên tự do tự tại :
Ngọ hậu
Nhị điểm khai lưng hoán không khí,
Nhân nhân ngưỡng khán tự do thiên;
Tự do thiên thượng thần tiên khách,
Tri phủ lung trung dã hữu tiên
Dịch thơ
Quá trưa
Hai giờ ngục mở thay không khí,
Ai nấy nhìn lên: trời tự do!
Tiên khách tự do trên thượng giới;
Biết chăng, tiên cũng ở trong tù?
Chính bởi có ý chí kiên cường và tinh thần lạc quan cách mạng của người cách mạng giai cấp vô sản mà Hồ Chí Minh đã vượt qua được thử thách của cuộc sống khắc nghiệt trong tù để chờ đón mai ngày tự do.
b. Tình yêu tha thiết với Tổ quốc, đồng bào, tình cảm sâu đậm, chân thành với những người đồng chí
Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào, có một tình cảm chân thành, tha thiết với những người đồng chí là những phẩm chất quý báu của người cách mạng. Hồ Chí Minh chính là một lãnh tụ cách mạng chân chính của giai cấp vô sản. Trong các bài thơ chữ Hán của Người, những phẩm chất đáng quý ấy được thể hiện cách rất rõ nét.
Tổ quốc Việt Nam của Hồ Chí Minh từ nửa cuối thế kỷ XIX đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp. Để cứu Tổ quốc và đồng bào đang trong cơn hoạn nạn, năm 1911 khi mới 21 tuổi, Hồ Chí Minh đã ra đi tìm đường cứu nước. Trong những năm tháng sống ở nước ngoài, Hồ Chí Minh luôn nhớ mong da diết Tổ quốc, đồng bào. Nhật ký trong tù có một bài thơ tựa đề Thu dạ (Đêm thu):
Thu dạ
Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ,
Mộng nhiễu tân sầu vạn lũ ti.
Vô tội nhi tù dĩ nhân tải,
Lão phu hoà lệ tả tù nhi.
Dịch thơ
Đêm thu
Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,
Muôn tơ vương vấn mộng sầu bay.
Ở tù năm trọn thân vô tội,
Hòa lệ thành thơ tả nỗi này.
Hồ Chí Minh đã trải tấm lòng nhớ mong Tổ quốc, đồng bào trên trang giấy. Khi đó, Việt Nam vẫn nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp, thêm nữa là "móng sắt" của Nhật Bản cũng tiến vào Việt Nam, nhân dân Việt Nam vì thế phải chịu cảnh "một cổ hai tròng". Chỉ cần nghĩ đến đó thôi là Hồ Chí Minh cảm thấy đau thương tột độ, chứa chan dòng lệ mà viết nên bài thơ này. Chính bởi đau thương mất mát ấy, cộng thêm sự khắc nghiệt của khí hậu và sự cực khổ trong tù nên Hồ Chí Minh đã lâm bệnh nặng. Những câu thơ Người viết khi đang bị bệnh vẫn canh cánh nỗi lòng của người con mất nước:
Bệnh trọng
Ngoại cảm Hoa thiên tân lãnh nhiệt.
Nội thương Việt địa cựu sơn hà,
Ngục trung hại bệnh chân tân khổ,
Bản ưng thống khốc khước cuồng ca.
Dịch thơ
Ốm nặng
Ngoại cảm trời Hoa cơn nóng lạnh,
Nội thương đất Việt cảnh lầm than,
Ở tù mắc bệnh càng cay đắng,
Đáng khóc mà ta cứ hát tràn.
Tình yêu Tổ quốc, tấm lòng thương yêu đồng bào của Hồ Chí Minh quả thực vô bờ bến! Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ điều mà người xưa vẫn thường nói: "Tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc" (Lo trước nỗi lo của thiên hạ, vui sau niềm vui của thiên hạ).
Tình cảm chân thành, tha thiết của Hồ Chí Minh đối với những người đồng chí cũng được thể hiện rõ nét và vô cùng sâu sắc ở trong những bài thơ chữ Hán của Người. Người có không ít những bài thơ tả cảnh vật nhưng lại gửi gắm sự quan tâm và nhớ nhung đối với những người đồng chí và Người cũng có nhiều bài thơ viết dành tặng riêng những người bạn chiến đấu của mình. Sau khi ra tù ở Liễu Châu, tỉnh Quảng Tây, Hồ Chí Minh đã làm một bài thơ có tên là Tân xuất ngục, học đăng sơn (Mới ra tù, tập leo núi):
Tân xuất ngục, học đăng sơn
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính tịnh vô trần.
Bồi hồi độc bộ Tây Phong lĩnh,
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.
Dịch thơ
Mới ra tù, tập leo núi
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng bụi không mờ.
Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh;
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.
Tuy là tả cảnh vật những đây xứng đáng được coi là một giai tác về tấm lòng nhớ bạn. Một bài khác có tiêu đề là Ức hữu (Nhớ bạn) viết
Ức hữu
Tích quân tống ngã chí giang tân,
Vấn ngã quy kì, chỉ cốc tân;
Hiện tại tân điền dĩ lê hảo;
Tha hương ngã túc ngục trung nhân!
Dịch thơ
Nhớ bạn
Ngày đi, bạn tiễn đến bên sông;
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng;
Nay đã gặt xong, cày đã khắp;
Quê người, tôi vẫn chốn lao lung!
Hai bài thơ này đều xuất phát từ tấm lòng và tình cảm tha thiết cửa Hồ Chí Minh đối với bạn bè, đồng chí. Hồ Chí Minh rất nhớ thương bạn bè, đồng chí của mình, chỉ hận một nỗi không thể ngay lập tức trở về bên cạnh những người chiến hữu, cùng sát cánh bên nhau đấu tranh vì độc lập tự do cho dân tộc Việt Nam.
Nhật ký trong tù có một bài thơ tựa đề Dương Đào bệnh trọng (Dương Đào ốm nặng) đã thể hiện tình cảm quan tâm sâu sắc của Hồ Chí Minh với một người nông dân bình thường ở Quảng Tây đã từng giúp đỡ cho cách mạng Việt Nam:
Dương Đào bệnh trọng
Vô đoàn bình địa khởi ba đào,
Tống nhĩ Dương Đào nhập tọa lao.
Thanh hỏa ngư tri kham hạo thán,
Nhi kim nhĩ hựu khái thành lao.
Dịch thơ
Dương Đào ốm nặng
Sóng dậy đất bằng hỏi cớ sao,
Đẩy anh vào ngục, anh Dương Đào.
Cháy thành lây vạ, buồn khôn xiết,
Nay lại thương anh mắc chứng lao.
Anh Dương Đào ở trong bài thơ là một thanh niên nông dân ở thôn Ba Mông, huyện Tĩnh Tây, tỉnh Quảng Tây, vì dẫn đường cho Hồ Chí Minh mà cùng bị bắt vào ngục, sau khi đến Liễu Châu thì mắc bệnh nặng. Hồ Chí Minh đã mượn một thành ngữ của Trung Quốc "Cháy thành vạ lây" đưa vào bài thơ, để thể hiện sự lo lắng trong lòng đối với bệnh tình của anh Dương Đào, người đã vì giúp mình mà bị bắt oan vào ngục. Tình cảm của Hồ Chí Minh đối với người thanh niên Trung Quốc Dương Đào được thể hiện sâu sắc trong những câu thơ. Về sau, Dương Đào mất ở Liễu Châu. Sau khi cách mạng Việt Nam giành được thắng lợi, Hồ Chí Minh vẫn thường nhớ tới Dương Đào. Trong ngày Lễ Quốc khánh của Việt Nam năm 1963 , Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mời em trai của Dương Đào là Dương Thuần Cường sang Việt Nam và đã dành cho em trai Dương Đào sự đón tiếp như những người thân thiết ruột thịt.
Trong những bài thơ chữ Hán khác nằm ngoài tập Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh, có rất nhiều bài thể hiện tình cảm sâu sắc của Hồ Chí Minh đối với đồng chí, bè bạn. Những bài thơ ấy được viết trong cuộc kháng chiến chống Pháp vào cuối những năm 40, đầu những năm 50 của thế kỷ XX, sau khi thành lập nước Trung Hoa mới và miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Tại chiến khu Việt Bắc, Hồ Chí Minh đã viết các bài thơ Tặng Bùi công và Tặng Võ công để nói lên tình cảm tha thiết giữa Hồ Chí Minh với Bùi Bằng Đoàn và Võ Liêm Sơn - những nhân sĩ lão thành cách mạng yêu nước đã kề vai sát cánh với những người cộng sản Việt Nam trong cuộc đấu tranh vì độc lập dân tộc. Mặc dù trăm công nghìn việc, nhưng Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian gặp gỡ, luôn nhớ đến các vị ấy, còn thường tặng thơ cho nhau, động viên lẫn nhau, cùng hy vọng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến. Những câu thơ như: "Tiệp báo tần lai lao dịch mã, Tư cũng tức cảnh phú tân thơ (trong bài Tặng Bùi công), "Công lai ngã han uý, công khứ ngã tu công" (trong bài Tặng Vũ công) đã nói toát lên tình cảm chân thành, tha thiết của Hồ Chí Minh đối với các vị lão thành cách mạng ấy. Hồ Chí Minh cũng dành những tình cảm yêu thương vô hạn cho bộ đội, chiến sĩ. Bài thơ Tư chiến sĩ (Nhớ chiến sĩ) có viết:
"Canh thâm lộ cấp như thu vũ, Thần tảo sương nồng tự hải vân". Người luôn lo lắng đến từng bữa ăn, giấc ngủ cửa các chiến sĩ.
Đầu những năm 50 của thế kỷ XX, Trung Quốc cử đồng chí Trần Canh sang Việt Nam để giúp đỡ tổ chức Chiến dịch Biên giới, đồng thời cử đoàn cố vấn do các đồng chí La Quý Ba và Vi Quốc Thanh dẫn đầu sang Việt Nam giúp đỡ công tác tổ chức. Đồng chí La Quý Ba về sau chuyển sang giữ chức vụ Đại sứ Trung Quốc tại Việt Nam. Hồ Chí Minh rất quan tâm, tôn trọng và tín nhiệm các đồng chí Trung Quốc sang Việt Nam công tác, Người thường đến tận nơi ở để thăm hỏi và tặng quà, có khi còn tặng cả thơ do chính tay mình viết. Như hiện nay chúng ta được biết thì Hồ Chí Minh đã tặng 3 bài thơ cho Trần Canh, 3 bài cho La Quý Ba và tặng 1 bài cho Vi Quốc Thanh. Những bài thơ ấy, hoặc thể hiện sự quan tâm và sự ghi nhận cửa Hồ Chí Minh đối với những đóng góp to lớn của các đồng chí Trung Quốc, hoặc thể hiện lòng quyết tâm chiến đấu đến cùng của người dân Việt Nam và niềm vui mừng sau mỗi thắng lợi trước kẻ thù. Tình cảm tha thiết mà Hồ Chí Minh đã dành cho các đồng chí Trung Quốc thực khiến người ta cảm động. Hồ Chí Minh còn làm thơ tặng cho các lãnh đạo Trung Quốc. Tháng 5- 1965, Hồ Chí Minh đã được Phó Chủ tịch Đổng Tất Võ dẫn đi nghỉ ở núi Hoàng Sơn. Phó Chủ tịch Đổng Tất Võ đã từng làm bài thơ Biệt Hoàng Sơn tứ tuyệt tặng Hồ Chí Minh, Hồ Chí Minh đã viết bài Hoàng Sơn Nhật ký để tặng lại đáp lễ. Bài thơ 6 câu, trong đó có câu "Đổng công tặng ngã dĩ trường thi, Ngã dục tác thi phụng hòa chi", biểu đạt tình cảm sâu sắc của Hồ Chí Minh đối với Đổng Tất Võ cũng như các đồng chí Trung Quốc. Ngày 16-7-1966, Chủ tịch Mao Trạch Đông đến Vũ Hán du ngoạn Trường Giang. Khi biết tin, Hồ Chí Minh rất vui mừng, liền viết một bài thơ để bày tỏ niềm vui sướng của mình:
Hân vấn nhĩ sướng du Trường Giang,
Quần chúng hoan hô nhĩ kiện khang.
Ngã tại Việt Nam máng kháng chiến,
Dao chúc nhĩ "vạn thọ vô cương".
Những câu thơ bộc bạch giản dị mà tràn đầy tình cảm sâu sắc giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Chủ tịch Mao Trạch Đông.
c. Luôn luôn quan tâm đến kháng chiến, quyết tâm tiến hành kháng chiến đến cùng, đồng thời tin tưởng kháng chiến nhất định thắng lợi
Ra đời năm 1930 do Hồ Chí Minh sáng lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân nhân Việt Nam tiến hành cuộc đấu tranh anh dũng, giành độc lập tự do cho dân tộc vào tháng 9-1945. Tháng 12-1946, Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, toàn quốc nổi dậy kháng chiến, đến tháng 7-1954, miền Bắc Việt Nam được giải phóng. Nhưng ngay sau đó, đế quốc Mỹ không ngừng mở rộng chiến tranh xâm lược Việt Nam, Hồ Chủ tịch tiếp tục lãnh đạo nhân dân Việt Nam tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ đầy gian khổ. Năm 1969, Người qua đời, năm 1975 cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân Việt Nam đã giành thắng lợi hoàn toàn, thống nhất hai miền Nam Bắc. Trong những bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, số lượng những bài thơ viết về đề tài kháng chiến chiếm số lượng lớn. Trong đó có những bài thơ chữ Hán viết ở Trung Quốc, thể hiện sự quan tâm của Người đối với cuộc đấu tranh nơi quê nhà. Trong bài Việt hữu tao động (Việt Nam có bạo động) trong tập Nhật ký trong tù, Người viết:
Việt hữu tao động
Ninh tử, bất cam nô lệ khổ,
Nghĩa kỳ đảo xứ hựu phiêu dương;
Khả liên dư tố tù trung khách,
Vị đắc cung thân thương chiến trường.
Dịch thơ
Việt Nam có bạo động
Thà chết chẳng cam nô lệ mãi,
Tung bay cờ nghĩa khắp trăm miền;
Xót mình giam hãm trong tù ngục,
Chưa được xông ra giữa trận tiền.
Bài thơ được sáng tác sau khi Hồ Chí Minh nhận được tin (được đăng trên một tờ báo Trung Quốc) khởi nghĩa chống Pháp, chống Nhật của nhân dân Việt Nam liên tiếp nổ ra ở các địa phương. Bài thơ đề cập và ca ngợi cuộc đấu tranh chống đế quốc của nhân dân Việt Nam, đồng thời bày tỏ sự nuối tiếc và nỗi buồn khi bản thân nhà thơ bị giam hãm trong tù ngục, không thể cùng tham gia đấu tranh với đồng bào mình. Cùng tâm trạng tương tự, năm 1965 Hồ Chí Minh viết Nhật ký Hoàng sơn:
Đổng công tặng ngã dĩ trường thi,
Ngã dục tác thi dĩ hòa chi.
Khả thi kháng Mỹ cứu quốc sự,
Hoàn toàn chiếm cứ ngã tâm tư.
Hồ Chí Minh đã dồn hết tâm trí, sức lực của mình cho cuộc kháng chiến trong nước.
Không ít bài thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh biểu hiện quyết tâm kháng chiến, dù phải hy sinh của nhân dân Việt Nam. Trong Chiến dịch biên giới năm 1950, Hồ Chí Minh đã có hai bài thơ tặng đồng chí Trần Canh. Bài thứ nhất là bài Đăng sơn:
Đăng sơn
Huề trượng đăng sơn quan trận địa
Vạn trùng sơn ủng vạn trùng vân
Nghĩa binh tráng khí thôn Ngưu Đầu
Thệ diệt sài lang xâm lược quân.
Dịch thơ
Lên núi
Chống gậy lên non xem trận địa
Vạn trùng núi đỡ vạn trùng mây
Quân ta khí mạnh nuốt Ngưu Đẩu
Thề diệt xâm lăng lũ sói cầy.
Bài thứ hai là bài Tại Việt Bắc tặng đồng chí Trần Canh:
Hương tân mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tì bà lập tức thôi,
Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu,
Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.
Hai câu thơ "Thề diệt báo lang quân xâm lược, Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi" chính là khắc họa tinh thần quyết tâm đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược trong chiến dịch biên giới của quân dân Việt Nam.
Không ít thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ thể hiện niềm tin mãnh liệt của Người, rằng cuộc kháng chiến vĩ đại của nhân dân Việt Nam ắt giành thắng lợi cuối cùng. Tháng 1-1950, Hồ Chí Minh bí mật sang thăm Trang Quốc. Tháng 3-1950, Hồ Chí Minh rời Bắc Kinh về nước. Trên đường qua huyện Long Châu, tỉnh Quảng Tây, Hồ Chí Minh đã sáng tác bài thơ với tựa đề Cận Long Châu:
Viễn cách Long Châu tam thập lý,
Dĩ văn pháo hưởng dữ cơ thanh.
Việt Nam dân chúng chân anh dũng,
Kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành.
Hồ Chí Minh tin tưởng rằng cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam nhất định sẽ giành được thắng lợi.
Trong bài Tặng Võ công, Người viết:
Công lai ngã hẩn úy,
Công khứ ngã tư công.
Tặng công chỉ nhất cú
Kháng chiến tất thành công.
Bài thơ này một lần nữa thể hiện niềm tin mãnh liệt của Hồ Chí Minh vào sự tất thắng cua cuộc kháng chiến.
Có thể nói, thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh không ít những câu thơ hay, phản ánh một cách sinh động tình hình kháng chiến của Việt Nam. Ví dụ câu thơ trong bài Vô đề
Quân cơ quốc kế thương đàm liễu;
Huề dũng giai đồng quán thái viên.
Dịch thơ
Việc quân, việc nước đã bàn,
Xách bương, dắt trẻ ra vườn tưới rau.
Hay trong bài Nguyên tiêu có câu:
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
Dịch thơ
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
hoặc trong bài Đối nguyệt:
Quân cơ, quốc kế thương đàm liễu,
Huề chẩm song bàng đối nguyệt miên.
Dịch thơ
Việc quân, việc nước bàn xong,
Gối khuya ngon giấc bên song trăng nhòm.
Những vần thơ này diễn tả cảnh Hồ Chí Minh và những người bạn kháng chiến đang bàn bạc đường lối cách mạng. Một câu thơ khác trong bài Vô đề:
Sơn kính khách lai hoa mãn địa,
Tùng lâm quân đảo điểu xung thiên.
Dịch thơ
Đường non khách tới hoa đầy,
Rừng sâu quân đến, tung bay chim ngàn.
Những câu thơ trên đã thể hiện hoàn cảnh quân dân Việt Nam tiến hành điều động quân đội ở vùng rừng núi Việt Bắc. Bài thơ Thu dạ có câu:
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng,
Du kích quy lai lưu vị tàn.
Dịch thơ
Còi thu bỗng rúc vang từng núi,
Du kích về thôi, rượu chửa vơi.
Viết về một lần phục kích quân xâm lược của quân du kích Việt Nam trong bài Báo tiệp:
Sơn lâu chung hưởng kinh thu mộng,
Chính thị Liên khu báo tiệp thì.
Trong bài Tặng Võ công có câu:
Báo tiệp tần lai lao dịch mã.
Tư công tức cảnh tặng tân thi.
Trong bài Tết Mậu thân có câu:
Thiên thượng nhàn vân lai hựu khứ,
Mang bả Nam phương tiệp báo truyền.
Dịch thơ
Trên trời mây đến rồi đi,
Miền Nam thắng trận báo về tin vui.
Trong bài Thiên đề có câu:
Hỉ kiến nam phương liên đại thắng,
Nhất hiện quý đô xuân thiên.
Những câu thơ đó nói lên tâm trạng vui mừng sau những thắng lợi liên tiếp của quân dân ta. Những câu thơ này đến cho nhịp đập của người đọc như cùng hòa nhịp với quân dân Việt Nam trên chiến trường chống Pháp và chống Mỹ.
d. Tình cảm yêu mến Trung Quốc trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh
Là một người bạn cũ của Trung Quốc, Hồ Chí Minh rất có cảm tình với nhân dân Trung Quốc, Hồ Chí Minh luôn cảm thông sâu sắc và ủng hộ sự nghiệp đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc, bày tỏ vui mừng khôn xiết trước những thành tựu Trung Quốc đã đạt được trong công cuộc xây dựng đất nước. Và tất cả những điều ấy đã được phản ánh một cách rõ nét trong thơ chữ Hán của Người. Thông qua thơ ca, Hồ Chí Minh ca ngợi tình hữu nghị truyền thống Việt - Trung và mong muốn tăng cường hơn nữa tình hữu nghị ấy.
Nhật ký trong tù được viết ra từ những trải nghiệm thực tế của Hồ Chí Minh tại Quảng Tây, Trung Quốc. Tập thơ đã phản ánh hiện thực xã hội Trung Quốc lúc bây giờ, đồng thời cũng thể hiện sự thấu hiểu cửa Hồ Chí Minh đối với cuộc sống của nhân dân Trung Quốc. Mùa thu năm 1942, vùng Tây Nam, tỉnh Quảng Tây đại hạn. Khi Hồ Chí Minh bị giải tới vùng này, Người đã viết bài thơ Long An - Đồng Chính:
Thử gian thổ địa quảng nhi bần,
Sở dĩ nhân dân kim xuân phùng đại hạn;
Thính thuyết kim xuân phùng đại hạn,
Thập phân thu hoạch lưỡng tam phân.
Dịch thơ
Vừng đây tuy rộng, đất khô cằn,
Vì thế nhân dân kiệm lại cần;
Nghe nói xuân nay trời đại hạn,
Mười phần thu hoạch chỉ đôi phần.
Ở trong tù, Hồ Chí Minh đã tận mắt chứng kiến cảnh vợ một người tù đến thăm chồng, không kìm được cảm xúc, Người đã viết tên những vần thơ chứa chan cảm xúc:
Nạn hiu chi thê thám giam
Quân tại thiết song lý,
Thiếp tại thiết song tiền;
Tương cận tại chỉ xích,
Tương cách tự thiên uyên;
Khẩu bất năng thuyết đích,
Chỉ tại nhân truyền nghiên (ngôn);
Vị ngôn lệ dĩ mãn,
Tình cảnh chân khả liên!
Dịch thơ
Vợ người bạn tù đến nhà lao thăm chồng
Anh ở trong song sắt
Em ở ngoài song sắt;
Gần nhau chỉ tấc gang,
Mà cách nhau trời vực;
Miệng nói chẳng nên lời,
Chỉ còn nhờ khóe mắt;
Chưa nói, lệ tuôn tràn,
Cảnh tình đáng thương thật!
Những dòng thơ này tràn đầy sự cảm thông sâu sắc của Hồ Chí Minh đối với nhân dân lao động Trung Quốc trong xã hội cũ. Tuy nhiên, cảm xúc của Hồ Chí Minh đối với cuộc sống của người dân Trung Quốc đã thay đổi trong một bài thơ khác, đó là vào đầu những năm 1950 sau khi nước Trung Quốc mới được thành lập, khi trở về nước sau chuyến thăm Bắc Kinh bí mật đi qua Hồ Bắc, Hồ Chí Minh đã viết một bài thơ với tựa đề Quá Hồ Bắc:
Ngã khứ điền gian đô bạch tuyết,
Ngã lai điền mạch dĩ thanh thanh.
Minh thiên cơ giới thế mộc giới,
Ức triệu nông gia lạc thái bình.
Lời thơ bộc bạch mềm vui mừng khôn xiết của Hồ Chí Minh trước cuộc sống hạnh phúc, yên bình của nhân dân Trung Quốc trong thời đại mới.
Khi Hồ Chí Minh viết tập thơ Nhật ký trong tù thì nhân dân Tnmg Quốc đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Nhật đầy gian khổ. Trong một số bài thơ, Hồ Chí Minh đã bày tỏ sự đồng cảm và ủng hộ cuộc kháng chiến thần thánh của nhân dân Trung Quốc. Trong bài Song thập nhất, tác giả viết:
Trung Hoa kháng chiến tương lục tải,
Liệt liệt oanh oanh cử thế tri;
Thắng lợi tuy nhiên hữu bả ác,
Nhưng tu nỗ lực phản công thì.
Qua lời thơ trên, Hồ Chí Minh đã ca ngợi tinh thần chiến đấu anh dũng của nhân dân Trung Quốc, đồng thời tin tưởng rằng cuộc kháng chiến của Trung Quốc sẽ nhanh chóng chuyển sang giai đoạn tấn công chiến lược và nhất định giành được thắng lợi cuối cùng. Hồ Chí Minh còn có một trường ca mang tên Cứu Trung Quốc thị cứu tự kỷ đã vạch trần tội ác tày trời của chủ nghĩa đế quốc Nhật xâm lược Trung Quốc, kêu gọi nhân dân Việt Nam cũng vùng dậy, đứng về phía nhân dân Trung Quốc. Bài thơ có đoạn:
Việt Nam huynh đệ tỷ muội a,
Khoái khoái khởi lai cứu Trung Quốc.
Nỗ lực bang trợ Trung Quốc nhân,
Việt Nam Trung Quốc như thần xỉ .
Bài thơ đã thể hiện tình cảm của Hồ Chí Minh và nhân dân Việt Nam luôn quan tâm đến cuộc đấu tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc, đồng thời hết sức ủng hộ nhân dân Trung Quốc đấu tranh giành thắng lợi trong cuộc chiến này.
Trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh có không ít bài thơ ca ngợi vẻ đẹp tráng lệ của núi non Trung Quốc, thể hiện tình cảm nồng nhiệt của Hồ Chí Minh với đất nước Trung Hoa. Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa được thành lập, đặc biệt sau khi miền Bắc Việt Nam được giải phóng 1954, Hồ Chí Minh nhiều lần đến thăm Trung Quốc, nhất là các danh lam thắng cảnh. Khi được chứng kiến cảnh đẹp của thiên nhiên Tnmg Quốc, với ngòi bút đầy cảm xúc, Hồ Chí Minh đã ca ngợi vẻ đẹp mỹ lệ của thiên nhiên cũng như những di sản văn hóa lâu đời nơi đây. Tháng 6-1955, Hồ Chí Minh lần đầu tiên thăm chính thức Trung Quốc, trên tàu trở về sau khi thăm Vạn lý Trường thành, Người đã viết bài thơ:
Vịnh Vạn lý Trường thành
Thính thuyết Trường Thành vạn lý trường,
Đầu tiên Đông hải vĩ Tây Cương.
Kỷ thiên bạch vạn lao động giả,
Kiến trúc tư thành trấn nhất phương!
Dịch thơ
Nghe nói Trường Thành vạn dặm,
Chạy từ Đông Hải đến Tân Cương.
Hàng bao nhiêu triệu người lao động,
Xây đắp thành này trấn một phương!
Bài thơ đã thể hiện sự đồ sộ, nguy nga của Trường Thành, đồng thời ca ngợi trí tuệ và sức mạnh của nhân dân Trung Quốc. Tháng 8-1959, Hồ Chí Minh từ Mátxcơva về Tân Cương, Trung Quốc, Người viết một bài thơ với tiêu đề Vọng Thiên san:
Dao vọng Thiên san phong cảnh hảo,
Tử hà, bạch tuyết bão thanh san.
Triêu dương sơ xuất xích như hỏa,
Vạn đạo hồng quang chiếu thế gian.
Trong bài thơ, các hình ảnh thanh sơn, bạch tuyết, triều dương (núi xanh, tuyết trắng, mặt trời) cùng lấp lánh bên nhau, đã dệt nên một bức tranh thiên nhiên Trung Quốc kỳ thú, tráng lệ. Tháng 5-1961, khi Hồ Chí Minh đang trên thuyền ngắm cảnh Ly Giang ở Quế Lâm, Người ngẫu hứng làm bài thơ Quế Lâm phong cảch:
Quế Lâm phong cảnh giáp thiên hạ,
Như thi trung họa họa trung thi.
Sơn trung tiều phu xướng,
Giang thượng khách thuyền quy.
Kỳ!
Khi trở về nhà khách, Hồ chí Minh còn nhờ nhân viên nhà khách tìm giấy bút và phác họa bài thơ này thành một bức họa thư pháp. Tháng 5-1965, khi Hồ Chí Minh cùng với Phó Chủ tịch Đổng Tất Vũ đến thăm Hoàng Sơn, Người đã viết Hoàng sơn nhật ký (lục thủ) gồm 6 bài, trong đó có hai bài như sau:
Hoàng sơn xã viên đa chủng trà,
Trà hiệp nhuận trạch hương vị đa.
Đông tây nam bắc du sơn khách,
Âm bôi sơn trà thính sơn ca.
Và bài:
Hoàng sơn phong cảnh phi thường hảo,
Nhất thiên hạ vũ ngũ thiên tình.
Triệu tùy tân khách tống lão khách,
Dạ thính tuyền thanh họa điều thanh.
Hồ Chí Minh đã cảm nhận được vẻ đẹp đích thực của phong cảnh Hoàng Sơn, thể hiện dạt dào lên trang giấy tình cảm tha thiết đối với cảnh sông núi hùng vĩ, tráng lệ của đất nước Trung Quốc.
Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh thể hiện một cách sâu đậm tình cảm với đất nước, con người Trung Quốc. Hồ Chí Minh đã dùng chữ Hán để làm thơ, làm thơ về Trung Quốc, viết tặng các đồng chí Trung Quốc, thông qua thơ muốn xây nhịp cầu hữu nghị Trung - Việt. Như trên đã trình bày, Hồ Chí Minh đã từng viết thơ tặng các đồng chí lãnh đạo như Mao Trạch Đông, Đổng Tất Vũ, Trần Canh, La Quý Ba, Vi Quốc Thanh v.v… thể hiện tình cảm nồng hậu của Hồ Chí Minh đối với các đồng chí Trung Quốc. Đồng thời, các đồng chí như Diệp Kiếm Anh, Trần Nghị, Quách Mạt Nhược, Tiêu Tam cũng đã từng viết thơ tặng Hồ Chí Minh, thể hiện tình cảm kính trọng, mến yêu đối với Người. Các thế hệ lãnh đạo hai nước Việt - Trung đã dùng thơ để giao lưu với nhau, càng làm cho tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước ngày thêm thắm thiết.
3. Đặc sắc nghệ thuật trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh
Trung Quốc và Việt Nam là hai nước núi liền núi, sông liền sông, đều là cái nôi của văn minh phương Đông, đều thuộc về văn hóa phương Đông. Trong lịch sử, văn hóa Trung - Việt có mối quan hệ vô cùng mật thiết. Suốt chiều dài của lịch sử phong kiến Việt Nam, chữ Hán của Trung Quốc đã được sử dụng phổ biến trong các văn tự mang tính chất nhà nước, và điều đó kéo dài đến thời cận đại. Sự hình thành hệ thống văn hóa lấy Nho giáo làm hạt nhân trong xã hội phong kiến hai nước đã có ảnh hưởng sâu sắc đến hai dân tộc. Chế độ khoa cử và việc sáng tác thơ ca cổ điển có thể coi là hình thức biểu hiện bên ngoài của dòng văn hóa này. Hồ Chí Minh xuất thân trong một gia đình chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn hóa Nho giáo. Cụ thân sinh ra Hồ chí Minh đã từng tham gia khoa cử của triều đình phong kiến và đỗ phó bảng. Chịu ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo, học chữ Hán, nghiên cứu Hán học, làm thơ bằng chữ Hán có thể coi là nền tảng, sự nghiệp cơ bản mà những người con trong gia đình này vun đắp. Hồ Chí Minh cũng không ngoại lệ. Do đó, Hồ Chí Minh viết thơ chữ Hán có ngọn nguồn từ ảnh hưởng của văn hóa phương Đông, và một cách tự nhiên, tác phẩm của Người đã trở thành di sản của văn hóa phương Đông.
Một trong những hình thức biểu hiện của văn hóa phương Đông là lấy chữ Hán để sáng tác thơ cổ điển. Mặc dù sáng tác thơ phải tuân theo vần luật chặt chẽ nhưng mỗi người khi sáng tác đều có phong cách riêng. Hồ Chí Minh không chỉ là một nhà văn hóa thông thường, ban đầu Người là nhà cách mạng vô sản, trang bị trên mình chủ nghĩa Mác-Lênin, Người suốt đời vì sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, là người cách mạng đã qua trải nghiệm, có cách nhìn nhận vấn đề độc đáo. Do đó, thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh mang những nét đặc sắc nghệ thuật rất đặc trưng.
Hồ Chí Minh có 173 bài thơ chữ Hán, chúng ta có thể khái quát một số đặc sắc nghệ thuật trong thơ chữ Hán của Người như sau:
a. Sự kết hợp gĩưa chất "Thép" và chất "Tình"
Hồ Chí Minh đọc rất nhiều thơ cổ Trung Quốc. Ngay cả khi ở trong tù, Người vẫn mang theo bên mình quyển Thiên gia thi. Hồ chí Minh yêu sáng tác thơ, nhưng không tự coi mình là nhà thơ. Người có cách nhìn riêng về việc sáng tác thơ. Trong bài Cảm tưởng đọc Thiên gia thi,Người viết:
Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp,
Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông;
Nay ở trong thơ nên có thép,
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
Hồ Chí Minh cho rằng thơ truyền thống khắt khe về niêm luật, nội hàm tư tưởng giản đơn, đại đa số lấy đề tài núi sông, trăng, hoa để ngâm vịnh. dù có nói tới ý tình, những phần lớn trong đó thể hiện tư tưởng tình cảm ủy mỵ, đau khổ, thiếu tinh thần "thép", Hồ Chí Minh cho rằng, nhà thơ thời nay phải mang tinh thần thép", tinh thần cách mạng vào trong thơ của mình. Và thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh đã hiện thực hóa quan điểm đó. Trong tập thơ chữ Hán gồm 173 bài của Hồ Chí Minh, chúng ta không thấy một bài nào đơn thuần nói về mây, gió, trăng hoa, cũng chưa thấy một bài nào thể hiện tinh thần ủy mị. Trên hết, chúng ta thấy trong tập thơ tràn đầy tinh thần "thép", tinh thần cách mạng. Ở phần đầu, chúng ta đã đề cập đến nội dung tư tưởng của thơ Hồ Chí Minh, đã nêu ra không ít tác phẩm tràn đầy tinh thần cách mạng. Tuy nhiên, thơ văn Hồ Chí Minh không phải là các tác phẩm mang tính chất hô khẩu hiệu cách mạng một cách đơn thuần, mà còn chứa đựng trong đó chất trữ tình. Có điều chất trữ tình này luôn kết hợp chặt chẽ với tư tưởng cách mạng. Dưới đây là hai bài thơ có thể nói là biểu hiện nổi bật cho quan điểm nghệ thuật đó:
Tân xuất ngục, học đăng sơn
Vân ủng trùng sơn, sơn ủng vân,
Giang tâm như kính tịnh vô trần.
Bồi hồi độc bộ Tây Phong lĩnh,
Dao vọng Nam thiên ức cố nhân.
Dịch thơ
Mới ra tù, tập leo núi
Núi ấp ôm mây, mây ấp núi,
Lòng sông gương sáng, bụi không mờ.
Bồi hồi dạo bước Tây Phong lĩnh;
Trông lại trời Nam, nhớ bạn xưa.
Ức hữu
Tích quân tống ngã chí giang tân,
Vấn ngã quy kỳ, chỉ cốc tân,
Hiện tại tân điền cư lê hảo,
Tha hương ngã tác ngục trung nhân .
Dịch thơ
Nhớ bạn
Ngày đi bạn tiễn đến bên sông,
Hẹn bạn về khi lúa đỏ đồng;
Nay gặt đã xong, cày đã khắp,
Quê người, tôi vẫn chốn lao lung.
Nếu so sánh nghệ thuật của hai bài thơ này với thơ thời Đường, Tống của Trung Quốc thì cũng không kém chút nào, hơn nữa hai bài thơ còn thể hiện được tinh thần cách mạng trong đó. Phần đầu của bài thơ này được viết khi Hồ Chí Minh mới thoát khỏi nhà tù Liễu Châu đang leo núi để rèn luyện sức khỏe. Mỗi lần leo lên ngọn núi Tây Phong Lĩnh, đứng trên đỉnh núi ngắm nhìn mây trắng bay cuồn cuộn, phía dưới là dòng sông nước trong vắt chảy từng ngày, lại hướng về phía trời Nam, Hồ Chí Minh trào dâng cảm xúc trong lòng. Người nhớ tới những đồng chí của mình ở phương trời xa, đang chiến đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Lúc này, Hồ Chí Minh chỉ muốn ngay lập tức trở về Việt Nam đê kề vai sát cánh cùng các chiến hữu, nghênh đón cao trào mới của phong trào giải phóng dân tộc. Hình ảnh "vân ủng trùng sơn sơn ủng vân" khiến cho người ta liên tưởng đến làn sóng đấu tranh giải phóng dân tộc vô cùng mạnh mẽ của nhân dân Việt Nam. Bài thơ sau, cả về mặt tư tưởng và nghệ thuật cũng đều rất thành công. Vẻ đẹp của bài thơ ở đây chính là sự kết hợp tuyệt vời giữa tình cảm chân thành tha thiết và nội dung của tinh thần cách mạng. Vào trung tuần tháng 8-1942, Hồ Chí Minh đã chia tay những người bạn chiến đấu của mình ở biên giới để sang Quảng Tây. Lúc này, hoa màu trên đồng đang kỳ phát triển. Hồ Chí Minh chỉ tay vào cánh đồng hoa màu và nói với các đồng chí của mình rằng có thể trở về khi đến mùa thu hoạch mới. Khi Hồ Chí Minh viết bài thơ này cũng là lúc nông dân đã thu hoạch mùa vụ xong, nhưng Hồ Chí Minh vẫn không thể trở về bên cạnh các đồng chí của mình, mà trở thành "người trong tù". Khi đó Hồ Chí Minh luôn đau đáu nỗi nhớ quê hương đất nước, chỉ muốn được về nước ngay lập tức cùng các đồng chí của mình tham gia đấu tranh chống Pháp, chống Nhật. Thơ Hồ Chí Minh là sự kết hợp chặt chẽ giữa vẻ đẹp chất trữ tình và tinh thần cách mạng cao cả. Điều đó làm cho thơ của Hồ Chí Minh có sức cảm hóa lớn.
b. Vần 1uật tự do, kết hợp khuôn mẫu và cách điệu
Thơ cổ điển truyền thống Trung Quốc có yêu cầu khá khắt khe về âm vận và cách luật, và cũng chú trọng tính cân xứng, hài hòa về ngữ âm. Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã làm quen với loại thơ này, do đó, Người nắm được cách sử dụng. Nhưng Hồ Chí Minh cho rằng, nhà thơ thời nay nên thể hiện tinh thần "thép", đó là tinh thần cách mạng, đây là điều cốt lõi và cần được chú trọng khi làm thơ. Về mặt cách luận, âm vận thì có thể phóng khoáng hơn, không cần quá câu nệ. Hồ Chí Minh sáng tác 173 bài thơ chữ Hán, nhìn về hình thức chủ yếu có các thể thơ Thất luật, Thất tuyệt, Ngũ tuyệt và thể thơ tự do, trong đó phần nhiều là thể thơ Thất ngôn tuyệt cú. Hồ Chí Minh rất ít khi viết thơ Thất luật, bởi vì thể thơ này thường trói buộc tư tưởng. Người thích viết thể thơ cú tuyệt, bao gồm thất ngôn tuyệt cú và ngũ ngôn tuyệt cú. Trong thơ chữ Hán của Hồ Chí Minh, cũng có những tác phẩm tuân theo yêu cầu khắt khe về cách luật. Như bài thơ Thu dạ trong tập Nhật ký trong tù:
Thu dạ
Môn tiền vệ sĩ chấp thương lập,
Thiên thượng tàn vân bạng nguyệt phi;
Mộc sắt tung hoành như thản khắc,
Mân trùng tụ tán tự phi ky (cơ);
Tâm hoài cố quốc thiên đường lộ,
Mộng nhiễu tân sầu, vạn lũ ti;
Vô tội nhi tù nhất tải,
Lão phu hòa lệ tả tù thi.
Dịch thơ
Đêm thu
Trước cửa lính canh bồng súng đứng,
Trên trời trăng lướt giữa làn mây;
Rệp bò ngang dọc như xe cóc,
Muỗi lượn hung hăng tựa máy bay;
Nghìn dặm bâng khuâng hồn nước cũ,
Muôn tơ vương vấn mộng sầu nay;
Ở tù năm trọn thân vô tội,
Hòa lệ thành thơ tả nỗi này.
Bài thơ này chính là thể thơ thất ngôn theo nghĩa truyền thống, tính đối xứng của âm vận và văn tự đều rất hoàn hảo. Còn về thể Thất ngôn tuyệt cú, trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh có rất nhiều các bài thơ hay. Ví dụ như bài Thu dạ sáng tác ở chiến khu Việt Bắc:
Trù hoạch canh thâm tiệm đắc nhàn,
Thu phong thu vũ báo thu hàn.
Hốt văn thu địch sơn tiền hưởng,
Du kích quy lai tửu vị tàn.
Dịch thơ
Bàn việc canh chầy mới tạm ngơi,
Gió mưa thu báo lạnh thu rồi.
Còi thu bỗng rúc vang rừng núi,
Du kích về thôi, rượu chửa vơi.
Đây là bài thơ trữ tình, nội dung đến vần luật đều rất hay. Với thể thơ tuyệt cú trong đa số thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, gieo vần đều rất hoàn hảo, không ít bài thơ không chỉ gieo vần câu đầu mà còn gieo nhất vần đến cuối bài. Bài thơ Thu dạ vừa nêu trên là một ví dụ, các bài thơ như thế còn rất nhiều. Xuất phát từ yêu cầu về gieo vần, có trường hợp Hồ Chí Minh đảo vị trí của từ ngữ. Như bài thơ Nhất cá đổ phạm "ngạnh" 1iễu (Một người tù cờ bạc chết cứng) trong tập Nhật ký trong tù có câu:
Tha thân chỉ hữu cốt bao bì,
Thống khổ cơ hàn bất khả chi.
Dịch thơ
Thân anh da bọc lấy xương,
Khổ đau, đói rét hết phương sống rồi.
Để gieo vần, Hồ Chí Minh có ý đảo chữ "bì bao cốt" viết thành "cốt bao bì". Cũng thế với bài thơ Cột công lý, cả bài có 10 câu, bắt đầu gieo vần với chữ "Vương ở cuối câu 2. Để gieo vần, Hồ Chí Minh đã đảo vị trí chữ "Phương hướng" ở cuối câu 6 thành "Hướng phương", đảo vị trí chữ "bất vương nhĩ" viết thành "bất nhĩ vương", từ đó vần "ương" được gieo đến cuối bài. Đây là cách xử lý gieo vần rất riêng của Hồ Chí Minh. Cũng có một số bài thơ Hồ Chí Minh không coi trọng tính thống nhất của âm vận. Như bài thơ Cứu tế Trung Quốc thị cứu tự kỷ, cả bài thì có 20 dòng, không thống nhất về vần, xuất hiện nhiều vần khác nhau. Có trường hợp, Hồ Chí Minh bứt khỏi hình thức bên ngoài của thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn mà dùng thể tạp không theo khuôn mẫu, hay còn gọi là thể tự do, câu thơ dài, ngắn khác nhau... Như trong bài thơ Phong cảnh Quế Lâm, cả bài thơ có 5 câu, 2 câu đầu 7 chữ, 2 câu sau 5 chữ, câu cuối lại chỉ có 1 chữ. Hay như bài thơ Bốn tháng rồi trong tập Nhật ký trong tù, cả bài có 4 câu 7 chữ, 15 câu 5 chữ, ngoài ra còn 3 dòng, mỗi dòng chỉ có 2 chữ. Đây chính là phong cách thơ độc đáo "kết hợp giữa chuẩn mực và cách điệu" của Hồ Chí Minh.
c. Cảm xúc tự nhiên, lời thơ mộc mạc, rõ ràng dễ hiểu
Trong sáng tác thơ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh nêu bật nội dung tư tưởng, mà không coi trọng tính hoa lệ và thâm thúy của ngôn từ. Hồ Chí Minh không trọng hình thức mà mộc mạc giản dị trong việc sử dụng ngôn từ. Hồ Chí Minh qua thơ để bày tỏ tâm tư, với cảm xúc tự nhiên, lời thơ mộc mạc, rất đỗi quen thuộc, dễ hiểu, và đó chính là phong cách thơ đặc sắc của Người. Trong thơ Hồ Chí Minh không có câu hay từ ngữ tối nghĩa khó hiểu. Thơ của Người xuất phát từ những trải nghiệm của bản thân, những điều được nghe được thấy, kết hợp suy nghĩ và cảm nhận, Người viết những gì mình thấy và mình nghĩ. Trong tập Nhật ký trong tù có bài thơ với tựa đề Bốn tháng rồi:
Tứ cá nguyệt liễu
"Nhất nhật tù thiên thu tại ngoại",
Cổ nhân chi thoại bất sai ngoa!
Tứ nguyệt phi nhân loại sinh hoạt,
Sử dư tiều tụy thập niên đa.
Nhân vị:
Tứ nguyệt ngật bất bão,
Tứ nguyệt thụy bất hảo,
Tứ nguyệt bất hoán y,
Tứ nguyệt bất tẩy tảo.
Sở dĩ:
Lạc liễu nhất chích nha,
Phát bạch liễu hứa đa,
Hắc sấu tượng ngã quỷ,
Toàn thân thị là sa.
Hạnh nhi:
Trì cửu hoà nhẫn nại,
Bất khẳng thoái nhất phân,
Vật chất tuy thống khổ,
Bất động dao tinh thần...
Dịch thơ
Bốn tháng rồi
"Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài",
Lời nói người xưa đâu có sai;
Sống khác loài người vừa bốn tháng,
Tiều tuỵ còn hơn mười năm trời.
Bởi vì:
Bốn tháng cơm không no,
Bốn tháng đêm thiếu ngủ,
Bốn tháng áo không thay,
Bốn tháng không giặt giũ.
Cho nên:
Răng rụng mất một chiếc,
Tóc bạc thêm mấy phần,
Gầy đen như quỷ đói,
Ghẻ lở mọc đầy thân.
May mà:
Kiên trì và nhẫn nại,
Không chịu lùi một phân,
Vật chất tuy đau khổ,
Không nao núng tinh thần...
Đây rõ ràng là làm thơ dưới hình thức độc thoại. Từ tiêu đề đến tất cả các câu thơ đều rõ ràng dễ hiểu. Bài thơ tặng La Quý Ba được viết tháng 1 năm 1955:
Bạch đậu tam cân trùng,
Chí cam nhi vị hương.
Thanh niên tăng sản đắc,
Thỉnh nhĩ thưởng nhất thưởng.
Bài thơ Gửi chủ tịch Mao Trạch Đông sáng tác tháng 7-1966:
Hân vấn nhĩ sướng vịnh Trường Giang,
Quần chúng hoan hô nhĩ kiện khang.
Ngã tại Việt Nam máng kháng Mỹ,
Dao chúc nhĩ "vạn thọ vạn cương".
Hai bài thơ này câu chữ đều rất rõ ràng, dễ hiểu. Hai bài thơ khá dài là Cứu Trung Quốc thi cứu tự kỷ sáng tác trong thời kỳ kháng chiến chống Nhật và Nhật ký Hoàng Sơn viết tháng 5-1965 lại nghiêng về sử dụng hình thức ca dao. Bởi vì phần lớn thơ của Hồ Chí Minh là mộc mạc dễ hiểu, nên trong mỗi tập thơ chữ Hán của Người không cần nhiều chú thích. Chính người viết đã thấy rõ điều này trong quá trình chủ biên cuốn sách Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh (Chú thích - Thư pháp).
Hồ Chí Minh là vị lãnh tụ của nhân dân, Người sống giản dị, hòa nhã, gần gũi, thân thiết với dân, hết thảy nghĩ cho dân. Thơ Hồ Chí Minh cũng giống như bản thân Người - mộc mạc, gần gũi, hòa đồng với nhân dân.
d. Vận dụng điển cố lịch sử, thành ngữ, lời thơ hay và phương ngôn của Trung Quốc
Hiểu biết về Hán học của Hồ Chí Minh tương đối sâu sắc, Người đã từng đọc qua nhiều thơ văn nổi tiếng và cổ điển của Trung Quốc, tiếp thu được nhiều điển cố lịch sử, thành ngữ và lời thơ đẹp; đồng thời Hồ Chí Minh cũng thông hiểu tiếng địa phương Quảng Đông, Người thường xuyên vận dụng và chuyển tải vào thơ ca của mình, từ đó làm cho thơ của Hồ Chí Minh in đậm dấu ấn văn hóa phương Đông.
Về phương diện vận dụng các điển cố lịch sử, trong tập Nhật ký trong tù có bài thơ Hưu nhất cá (Lại một người nữa), được viết sau khi thấy một người tù bị chết đói. Bài thơ viết đoạn:
Di, Tề bất thực Chu triều túc,
Đổ phạm bất ngật công gia chúc;
Di, Tề ngã tử Thú Dương sơn,
Đổ phạm ngã tử công gia ngục.
Dịch thơ
Di, Tề chẳng ăn gạo nhà Chu,
Tù bạc chẳng ăn cháo nhà nước;
Di, Tề chết đói ngàn Thú Dương,
Tù bạc chết đói trong nhà ngục.
Trong bài thơ, Hồ Chí Minh đã sử dụng điển cố liên quan đến Bá Di, Thúc Tề trong lịch sử Trung Quốc. Bá Di, Thúc Tề là con vua nước Cô Trúc đời Thương, Trung Quốc, do phản đối Chu Vũ Vương đánh phá nhà Thương, sau khi Vũ Vương chiếm ngôi nhà Thương lập nên nhà Chu, Bá Di, Thúc Tề không chịu ăn gạo nhà Chu, lên núi Thú Dương ở ẩn, ăn rau vi, rồi chết đói ở đó. Hồ Chí Minh sử dụng điền cố này, đưa 2 câu "Di, Tề ngã tử Thú Dương sơn, "Di, Tề bất thực Chu triều túc" vào trong thơ, qua đó phản ánh được hiện tượng người tù trong ngục bị chết đói.
Vận dụng thành ngữ Trung Quốc, đưa các nội dung tư tưởng của chúng vào trong thơ cũng là cách thức thường thấy trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh. Bài thơ Dương Đào bệnh trọng (Dương Đào ốm nặng) trong tập Nhật ký trong tù là một ví dụ khá điển hình:
Vô đoàn bình địa khởi ba đào,
Tống nhĩ Dương Đào nhập tọa lao;
"Thành hỏa trì ngư" kham hao thán,
Nhi kim nhĩ hưu khái thành lao.
Dịch thơ
Sóng dậy đất bằng hỏi cớ sao,
Đẩy anh vào ngục, anh Dương Đào;
Cháy thành lây vạ, buồn khôn xiết,
Nay lại thương anh mắc chứng lao.
Trong bài thơ, Hồ Chí Minh đã sử dụng ý nghĩa của thành ngữ "Cháy thành vạ lây" đưa "Thành hỏa trì ngư" vào trong câu thơ, đã diễn tả nỗi niềm của Hồ Chí Minh đối với việc người thanh niên nông dân Quảng Tây Dương Đào vô cớ bị liên lụy vào tù, chịu khổ sai mà dẫn tới lâm bệnh nặng. Thành ngữ này đã được sử dụng một cách rất phù hợp, tình cảm sâu đậm của Hồ Chí Minh đối với Dương Đào cũng được thể hiện rõ nét.
Đưa trực tiếp hoặc có cải biến đôi chút các câu thơ nổi tiếng của thơ cổ điển Trung Quốc vào trong thơ của mình cũng là cách thức làm thơ mà Hồ Chí Minh thường sử dụng. Trong kho tàng thơ chữ Hán Hồ Chí Minh có rất nhiều ví dụ cho điều này. Trong đó, Thanh minhtrong tập Nhật ký trong tù và Tại Việt Bắc tặng đồng chí Trần Canh được sáng tác ở khu giải phóng Việt Bắc là hai bài thơ khá điển hình:
Thanh minh
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lung lý tù nhân dục đoạn hồn;
Tá vấn tự do hà xứ hữu?
Vệ binh dao chỉ biện công môn.
Dịch thơ
Tiết thanh minh
Thanh minh lất phất mưa phùn
Tù nhân nghe thấm nỗi buồn xót xa
Tự do, thử hỏi đâu là?
Lính canh trỏ lối thẳng ra công đường.
Bài thơ này, thấy rõ là dựa theo câu thơ nổi tiếng lưu truyền đã lâu trong bài thơ Thanh minh của nhà thơ Trung Quốc đời Đường Đỗ Mục :
Thanh minh thời tiết vũ phân phân,
Lộ thượng hành nhân dục đoạn hồn.
Tá vấn tửu gia hà xứ hữu?
Mục đồng dao chỉ Hạnh Hoa thôn.
Dịch thơ
Thanh minh lất phất mưa phùn
Khách đi đường thấm nỗi buồn xót xa
Hỏi thăm quán rượu đâu à?
Mục đồng chỉ lối Hạnh Hoa thôn ngoài.
Hồ Chí Minh đã mượn câu thơ đầu trong bài thơ của Đỗ Mục, 3 câu sau có sự cải biến đôi chút, trở thành bài thơ Thanh minh trong ngục.
Bài thơ Tặng đồng chí Trần Canh viết tại chiến khu Việt Bắc:
"Hương tân" mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm, tỳ bà mã thượng thôi.
Túy ngoa sa trường quân mạc tiếu,
Địch nhân hưu phóng nhất nhân hồi.
Dịch thơ
Sâm banh rượu ngọt chén lưu ly,
Toan nhắp, tì bà ngụa giục đi.
Say khướt sa trường cười chớ vội,
Chẳng cho địch thoát một tên về.
Bài thơ này có nguồn gốc từ bài thơ Lương Châu từ của nhà thơ Tnmg Quốc đời Đường Vương Hàn:
Bồ đảo mỹ tửu dạ quang bôi,
Dục ẩm tì bà mã thượng thôi.
Túy ngoa sa trường quân mạc tiếu,
Cổ lai chinh chiến kỷ cá hồi.
Hồ Chí Minh đã thay đổi đôi chút câu đầu và câu cuối của bài thơ này, qua đó diễn tả tâm trạng của mình sau khi chiến thắng kẻ địch, Hồ Chí Minh cho rằng, không nên quá vui mừng khi chưa giành chiến thắng cuối cùng. Trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, cách mượn câu chữ như thế, dẫn các ý thơ hay của thơ cổ Trung Quốc có trong không ít bài thơ.
Khả năng ngôn ngữ của Hồ Chí Minh là rất đáng khâm phục. Người biết nhiều thứ tiếng nước ngoài, thậm chí có thể nói một số phương ngôn (tiếng địa phương), như tiếng Quảng Đông. Hồ Chí Minh từng tiếp xúc với tiếng Quảng Đông thông qua người Hoa ở Việt Nam, rồi khi tiến hành hoạt động cách mạng ở Quảng Châu, Hồng Kông, Người đã tiếp xúc với tiếng địa phương Quảng Đông và nói được tiếng địa phương Quảng Đông.
Trong thơ chữ Hán Hồ Chí Minh, nhiều lần từ ngữ địa phương Quảng Đông được đưa vào trong thơ, giúp câu thơ biểu hiện càng thêm chuẩn mực. Bài thơ Thu cảm trong tập Nhật ký trong tù có câu:
Tù nhân bất quản thu lai vị,
Chỉ quản tù lung hà thời khai."
Dịch thơ
Thân tù đâu thiết thu sang chửa,
Chỉ thiết hôm nao mở cửa tù.
"Thu lai vị" là từ ngữ địa phương Quảng Đông, ý muốn hỏi mùa thu "đã đến chưa "có đến hay không?".
Trong bài Trần khắc trưởng lai thám có câu thơ: "Nhã nhân sử ngã tâm hưng phấn, Ngã phát hắc phản lưỡng tam phân". Trong đó, chữ 黑反 Hắc phản chính là chữ 黑 Hắc phản" trong tiếng địa phương Quảng Đông, "Phản hắc" trong tiếng phổ thông có nghĩa là "chuyển mà thành đen rồi". Trong bài thơ Chiều tối có câu thơ "Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc" (Cô em xóm núi xay ngô tối). "Bao túc" vốn là tên gọi cây ngô trong tiếng địa phương Quảng Đông. Ngoài ra, chữ "ngạnh" xuất hiện trong tiêu đề bài thơ Nhất cá đổ phạm "ngạnh" liễu (Một người tù cờ bạc chết cứng), từ "song mã" (hai chân) trong một số bài thơ, "mục sắt" (con rệp), "thành nhật" (suốt cả ngày)... đều là từ địa phương tiếng Quảng Đông. Đưa ngôn từ địa phương vào trong thơ là một điểm rất độc đáo của thơ chữ Hán Hồ Chí Minh.
đ. Nghệ thuật dùng từ, kết hợp ngữ nghĩa và phép so sánh tài tình
Hồ Chí Minh thành thạo tiếng Trung, trình độ Hán học rất cao, có khả năng sử dụng chữ viết Trung Quốc rất tài tình. Trong thơ chữ Hán của Người, thường xuất hiện cách sử dụng từ ngữ đặc sắc, kết hợp ngữ nghĩa, vừa tinh tế, vừa rất phù hợp, làm tăng sức gợi cảm của câu thơ. Tập Nhật ký trong tù có bài thơ Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh:
Tại Túc Vinh nhai bi khấu lưu
Túc Vinh khước sử dư mông nhục,
Cố ý trì diên ngã khứ trình;
Gián điệp hiềm nghi không niết tạo,
Bả nhân danh dự bạch hy sinh.
Dịch thơ
Bị bắt giữ ở phố Túc Vinh
Túc Vinh mà để ta mang nhục,
Cố ý dằng dai, chậm bước mình;
Bịa chuyện tình nghi là gián điệp,
Cho người vô cớ mất thanh danh.
Túc Vinh là một địa danh, thuộc huyện Đức Bảo, Quảng Tây, chính tại đây Hồ Chí Minh bị bắt giam. Mà trong tiếng Hán, "vinh" và "nhục" là hai từ có ý nghĩa tương phản rõ rệt.
Hồ Chí Minh sử dụng thành thạo tiếng Trung, trong bài thơ Người đã sử dụng địa danh Túc Vinh cách rất sắc sảo, ngữ nghĩa song hành, biểu thị tâm trạng phẫn uất của bản thân vô cớ bị bắt giam, làm cho câu thơ sinh động, khôi hài. Lại lấy bài thơ Nguyên tiêu được sáng tác ở chiến khu Việt Bắc làm ví dụ:
Nguyên Tiêu
Kim dạ nguyên tiêu nguyệt chính viên,
Xuân giang xuân thủy tiếp xuân thiên.
Yên ba thâm xứ đàm quân sự,
Dạ bán quy lai nguyệt mãn thuyền.
Dịch thơ
Rằm tháng giêng
Rằm xuân lồng lộng trăng soi,
Sông xuân nước lẫn màu trời thêm xuân.
Giữa dòng bàn bạc việc quân,
Khuya về bát ngát trăng ngân đầy thuyền.
Câu thứ 2 của bài thơ dùng liên tiếp 3 chữ "xuân" với hàm ý khác nhau. Chữ "Xuân Thủy", không những chỉ sông nước đầu mùa xuân, mà còn là tên một người, một chiến hữu của Hồ Chí Minh, khi đó cũng ngồi cùng Hồ Chí Minh trên thuyền. Hồ Chí Minh đã rất tinh tế đưa tên người chiến hữu cũng sát cánh bên mình vào trong thơ, tạo thành câu thơ tả cảnh trữ tình. Đây là một lối chơi chữ của Hồ Chí Minh.
Lối chơi chữ tinh tế như thế còn có trong các bài thơ Đồng chính trong tập Nhật ký trong tù và Trường Sa (được viết năm 1 950):
Đồng Chính
Đồng Chính chính đồng Bình Mã ngục,
Mỗi xan nhất chúc đỗ không không;
Thủy hòa quang tuyến hẩn sung túc,
Nhật nhật hoàn khai lưỡng thứ lung.
Dịch thơ
Bình Mà thế nào Đồng Chính vậy,
Bữa lưng bát cháo bụng cồn cào;
Nước và ánh sáng thì dư dật,
Ngày lại hai lần mở cửa lao.
Quá Trường Sa
Trường Sa quá khứ thị sa trường,
Nhất khối lâu đài nhất điềm thương.
Trung Quốc nhi kim dĩ giải phóng,
Trường Sa thử hậu miễn tang thương.
"Bình Mã" trong câu đầu cửa bài thơ là một địa danh (khi đó thuộc huyện thành Điền Đông, Quảng Tây), Hồ Chí Minh từng bị giam giữ ở nhà tù nơi này. "Đồng Chính" cũng là tên một địa danh, Hồ Chí Minh sau khi rời Bình Mã, bị giam cầm ở đây. Hiểu biết về Hán học uyên thâm của Hồ Chí Minh đã tạo từ, tạo câu cách rất độc đáo trong thơ, chuyển danh từ chỉ địa danh "Đồng Chính" thành phó từ, sử dụng liên tiếp địa danh Đồng Chính, tạo nên ý nghĩa "nhà tù Đồng Chính cũng giống như nhà tù Bình Mã". Câu thơ "Trường Sa quá khứ thị sa trường" (qua Trường Sa là sa trường) trong bài thơ sau cùng thể hiện khả năng sử dụng từ ngữ độc đáo của Hồ Chí Minh. "Trường Sa" và "Sa Trường" đều là danh từ, đem đảo vị trí các chữ của một từ thì khi phát âm hai từ hoàn toàn giống nhau. Dùng liên tiếp hai từ đó (khi đảo một từ thì có phát âm giống nhau) trong cùng câu thơ đã làm cho câu thơ thêm sinh động, qua đó người đọc cảm nhận được kỹ xảo dùng từ của Hồ Chí Minh.
Tài tình trong phép so sánh, thông qua miêu tả một sự vật, ngầm ý suy ra một tầng ý nghĩa khác, qua đó biểu lộ suy nghĩ của bản thân. Đây là bút pháp biểu hiện thường được Hồ Chí Minh sử dụng trong thơ chữ Hán. Bài thơ Lại sang (Ghẻ lở) trong tập Nhật ký trong tù:
Lại sang
Mãn thân hồng lục như xuyên cẩm,
Thành nhật lao tao tựa cổ cầm;
Xuyên cẩm, tù trung đồ quý khách,
Cổ cầm, nạn hữu tận tri âm.
Dịch thơ
Ghẻ lở
Đầy mình đỏ tím như hoa gấm,
Sột soạt luôn tay tựa gảy đàn;
Mặc gấm, bạn tù đều khách quý,
Gảy đàn, trong ngục thảy tri âm.
Trong bài thơ, Hồ Chí Minh dùng hai câu đầu hàm ý chỉ những người bạn tù mắc chứng ghẻ lở đầy mình. Trong xã hội xưa, điều kiện y tế trong nhà tù rất hạn chế, dẫn đến việc tù nhân thường bị ghẻ lở, vô cùng ngứa ngáy, đành phải gãi cả ngày ("lao tao tựa cổ cầm" - sột soạt tựa tiếng đàn), đến nỗi vết thương sung phù, sinh mủ thối rữa. Từ việc so sánh đó, hai câu sau của bài thơ thể hiện tinh thần cách mạng của Hồ Chí Minh trước những khổ sai trong ngục tù. Bài thơ Văn thung mễ thanh (Nghe tiếng giã gạo) trong tập Nhật ký trong tù cũng sử dụng rất thành công phép so sánh:
Văn thung mễ thanh
Mễ bị thung thì, hản thống khổ,
Ký thung chi hậu, bạch như miên;
Nhân sinh tại thế dã giá dạng,
Khốn nạn thị nhĩ ngọc tại thiên.
Dịch thơ
Nghe tiếng giã gạo
Gạo đem vào giã, bao đau đớn,
Gạo giã xong rồi, trắng tựa bông;
Sống ở trên đời người cũng vậy,
Gian nan rèn luyện mới thành công.
Trong bài thơ, Hồ Chí Minh đã dùng việc giã gạo để so sánh với những gian truân mà con người trải qua. Thực tế cuộc sống đúng là như vậy, hạt thóc đem giã, trải qua "thay xương đổi thịt", trở thành hạt gạo trắng tinh như bông. Người lấy hình ảnh đó để so sánh, trong cuộc sống, trải qua khó khăn gian khổ, ý chí và tinh thần của con người càng được rèn 1uyện đạt được những bước nhảy vọt ngày càng tiến dần đến thắng lợi. Cũng thế, trong bài Học đánh cờ, Hồ Chí Minh mượn việc đánh cờ ngầm so sánh với ý: nhà cách mạng cần phải có những phẩm chất ra sao. Hồ Chí Minh cho rằng, chỉ khi giống như cao thủ đánh cờ - "Tấn công thoái thủ ung thần tốc" (Tấn công, thoái thủ nên thần tốc), "Nhãn quang ưng đại tâm ung tế" (Phải nhìn cho rộng suy cho kỹ), "Công thủ vận trù vô lâu trước, (Tấn công, phòng thủ không sơ hở), mới có thể xứng là "anh hùng đại tướng quân".
Thơ chữ Hán Hồ Chí Minh là một phần di sản văn hóa Người để lại cho nhân dân thế giới. Nội dung phong phú và đầy sự uyên bác. Tìm hiểu thơ chữ Hán Hồ Chí Minh là một việc làm có ý nghĩa, có thể mang lại nhiều giá trị tinh thần. Nội dung tư tưởng, tinh thần cách mạng cao cả mà nhà cách mạng của giai cấp vô sản thể hiện trong thơ có thể giáo dục và cảm hóa chúng ta cách mạnh mẽ, nâng cao sức mạnh tinh thần, ý chí vươn lên cho chúng ta. Những đặc sắc nghệ thuật được thể hiện trong thơ giúp chúng ta có thêm tri thức về văn hóa phương đông, nâng cao hiểu biết về mối quan hệ văn hóa mật thiết trong lịch sử hai nước Trung - Việt, qua đó tăng cường mối quan hệ hữu nghị truyền thống hai nước Trung - Việt. Nhân dân Trung Quốc và nhân dân thế giới chân thành biết ơn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại cho nhân loại di sản văn hóa quý báu đó.