Hệ thống
Tư liệu - Văn kiện Đảng
Tư liệu - Văn kiện
Tin mới
Thống nhất quy trình quản lý hệ thống thông tin trong các cơ quan ĐảngMới Bộ Chính trị ban hành Quy định về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm Kết luận của Ban Bí thư về tổ chức kỷ niệm các ngày lễ lớn và sự kiện lịch sử quan trọng giai đoạn 2026 - 2030 Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới Kế hoạch của Ban Bí thư thực hiện Nghị quyết về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới Nghị quyết của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới Quy định của Ban Bí thư về đặt hàng cung cấp thông tin cho cơ sở Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát huy tính tiên phong, gương mẫu, tinh thần đổi mới, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, đảng viên trong kỷ nguyên mới Nghị quyết của Bộ Chính trị về phát triển du lịch Việt Nam trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong kỷ nguyên mới Đổi mới, nâng cao chất lượng công tác xây dựng Đảng trong khu vực kinh tế tư nhân Ban hành Bộ chỉ số đánh giá năng lực số và mức độ sẵn sàng chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng Sửa đổi, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đẩy mạnh chuyển đổi số trong hệ thống Văn phòng cấp ủy giai đoạn 2026 - 2030

(ĐCSVN) - Văn phòng Trung ương Đảng vừa ban hành Kế hoạch số 213-KH/VPTW ngày 5/9/2026 về chuyển đổi số trong hệ thống Văn phòng cấp ủy giai đoạn 2026 - 2030, nhằm hình thành môi trường làm việc số thống nhất, liên thông, an toàn; nâng cao chất lượng tham mưu, tổng hợp, phục vụ cấp ủy và quản trị, điều hành trên cơ sở dữ liệu.

Lấy nghiệp vụ làm dẫn dắt, dữ liệu làm nền tảng

Kế hoạch được triển khai trong toàn hệ thống Văn phòng cấp ủy, gồm Văn phòng Trung ương Đảng, Văn phòng các đảng ủy trực thuộc Trung ương, Văn phòng tỉnh ủy, thành ủy và các bộ phận tham mưu, giúp việc cấp ủy cơ sở được giao thực hiện nhiệm vụ văn phòng. Phạm vi tập trung vào quy trình nghiệp vụ văn phòng, môi trường làm việc số, hồ sơ điện tử, văn thư - lưu trữ, quản lý nhiệm vụ, chương trình công tác, hội nghị, báo cáo, thủ tục hành chính của Đảng, dữ liệu phục vụ công tác văn phòng, hạ tầng và nền tảng dùng chung, an ninh mạng, cơ yếu và ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).

Một trong những quan điểm xuyên suốt của Kế hoạch là chuyển đổi số phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương thức tham mưu, tổng hợp, phục vụ cấp ủy; lấy nghiệp vụ làm dẫn dắt, dữ liệu làm nền tảng, con người làm chủ thể và hiệu quả thực chất làm thước đo. Việc triển khai phải thống nhất theo Khung Kiến trúc số trong các cơ quan Đảng, ưu tiên sử dụng các thành phần dùng chung, hạn chế đầu tư trùng lặp và bảo đảm khả năng tích hợp, liên thông, an ninh mạng.

Kế hoạch đồng thời nhấn mạnh nguyên tắc “đơn giản hóa trước, số hóa sau”, không số hóa nguyên trạng những quy trình bất hợp lý. Dữ liệu được tạo lập một lần tại nguồn có thẩm quyền và được sử dụng nhiều lần theo phân quyền; hạn chế việc nhập lại, cung cấp lại hoặc báo cáo lại những dữ liệu đã có và đủ điều kiện khai thác.

Ảnh minh họa: Minh Ngọc.
 

Hình thành môi trường làm việc số thống nhất, liên thông, an toàn

Theo Kế hoạch, đến năm 2030, hệ thống Văn phòng cấp ủy phấn đấu hình thành môi trường làm việc số thống nhất, liên thông, an toàn; phần lớn quy trình đủ điều kiện được thực hiện toàn trình trên môi trường số; hồ sơ điện tử được quản lý theo vòng đời; dữ liệu được chuẩn hóa, kết nối và tái sử dụng. Hoạt động báo cáo, theo dõi, giám sát và tham mưu từng bước dựa trên dữ liệu; cán bộ sử dụng thành thạo các công cụ số và AI phù hợp.

Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2028, tối thiểu 90% hồ sơ công việc đủ điều kiện được lập, xử lý và quản lý điện tử; tối thiểu 80% giao dịch, hồ sơ thuộc các quy trình ưu tiên được thực hiện toàn trình trên môi trường số. Tối thiểu 95% dữ liệu chủ yếu thuộc phạm vi phải cập nhật được cập nhật đúng hạn và ít nhất 60% trường dữ liệu, giao dịch đủ điều kiện được tái sử dụng từ nguồn dữ liệu có thẩm quyền.

Đến năm 2030, 100% văn bản thuộc phạm vi và đủ điều kiện được xử lý, ký số, phát hành, trao đổi và lưu trữ trên môi trường số; tối thiểu 95% hồ sơ công việc đủ điều kiện được quản lý điện tử và tối thiểu 95% giao dịch, hồ sơ thuộc các quy trình ưu tiên được thực hiện toàn trình. Tối thiểu 80% trường dữ liệu, giao dịch đủ điều kiện được tái sử dụng; 90% báo cáo định kỳ có nội dung định lượng, đủ điều kiện được hình thành trực tiếp hoặc tự động từ dữ liệu hệ thống.

Đối với thủ tục hành chính của Đảng, Kế hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030, 100% thủ tục thuộc phạm vi được giao và đủ điều kiện được cung cấp trên môi trường số; 100% hồ sơ được theo dõi trạng thái trực tuyến; tối thiểu 90% hồ sơ được giải quyết đúng hạn và tối thiểu 80% tổ chức đảng, đảng viên, người sử dụng thuộc phạm vi khảo sát hài lòng với việc thực hiện thủ tục, dịch vụ số của Đảng.

Tăng tốc số hóa hồ sơ, dữ liệu và ứng dụng AI

Trong năm 2026, Kế hoạch xác định tập trung hoàn thiện các ứng dụng số, cơ sở dữ liệu trong lĩnh vực công tác văn phòng và hệ thống thông tin báo cáo tổng hợp; phấn đấu 100% văn bản điều hành được xử lý điện tử, ít nhất 95% lịch công tác, báo cáo được số hóa. Đồng thời, 100% cán bộ, công chức, viên chức và chức danh chủ chốt thuộc phạm vi được cấp chữ ký số chuyên dùng công vụ; ít nhất 90% văn bản điện tử được ký số.

Cùng với đó, các phần mềm dùng chung và chuyên ngành sẽ được rà soát để tránh trùng lặp; tiếp tục hoàn thiện 4 thủ tục hành chính của Đảng trên môi trường điện tử; khắc phục những tồn tại về đăng nhập, tốc độ xử lý, giao diện, chữ ký số, thanh toán và tăng cường hỗ trợ người dùng.

Công tác số hóa hồ sơ, tài liệu được triển khai gắn với quản lý toàn bộ vòng đời hồ sơ, từ tạo lập, xử lý, kết thúc, nộp lưu, bảo quản đến khai thác. Hiệu quả số hóa không chỉ được đánh giá bằng số lượng trang tài liệu được quét mà còn bằng khả năng tìm kiếm, khai thác, liên kết với hồ sơ, tái sử dụng và giảm thời gian tra cứu.

Kế hoạch nêu rõ, trước mắt, AI được ưu tiên thí điểm ở các bài toán rủi ro thấp hoặc trung bình như tra cứu, tổng hợp thông tin, hỗ trợ rà soát văn bản, theo dõi nhiệm vụ, chuẩn hóa biểu mẫu, phát hiện sai lệch dữ liệu, hỗ trợ lập báo cáo và tìm kiếm hồ sơ. Mỗi bài toán AI phải xác định rõ mục tiêu nghiệp vụ, nguồn dữ liệu, mức độ rủi ro, yêu cầu kiểm chứng, tiêu chí chất lượng và trách nhiệm của con người.

Tuy nhiên, AI chỉ là công cụ hỗ trợ, không thay thế thẩm quyền và trách nhiệm của cá nhân, cơ quan trong tham mưu, quyết định, phê duyệt hoặc ban hành văn bản. Việc sử dụng dữ liệu mật, dữ liệu nhạy cảm chỉ được thực hiện khi đáp ứng yêu cầu và giải pháp bảo mật của cấp có thẩm quyền.

Đánh giá kết quả bằng hiệu quả thực chất

Theo Kế hoạch, trong tháng 9/2026, tập trung hoàn thành các nhiệm vụ thuộc hệ thống Văn phòng cấp ủy có thời hạn đến hết tháng 9. Từ ngày 1/10 đến 30/11/2026, tiếp tục hoàn thành các nhiệm vụ còn lại thuộc giai đoạn 100 ngày, tập trung xử lý dứt điểm các điểm nghẽn thuộc thẩm quyền. Tháng 12/2026 sẽ tổng hợp, đánh giá kết quả trên cơ sở sản phẩm, dữ liệu vận hành và minh chứng thực tế.

Giai đoạn 2027 - 2030 được triển khai theo hướng từng bước hoàn thiện nền tảng, mở rộng xử lý toàn trình, kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu; tự động hóa báo cáo, hợp nhất hoặc thay thế các thành phần trùng lặp, đồng thời củng cố an ninh mạng và khả năng phục hồi. Năm 2029 tiếp tục tối ưu quy trình, dữ liệu và nền tảng, mở rộng tự động hóa, AI đối với những bài toán đã chứng minh hiệu quả; đến năm 2030 hoàn thành các mục tiêu, chỉ tiêu và vận hành ổn định môi trường làm việc số, quản trị và tham mưu dựa trên dữ liệu.

Kế hoạch cũng xác định rõ trách nhiệm của từng cấp, từng cơ quan. Văn phòng Trung ương Đảng giữ vai trò chủ trì tham mưu, hướng dẫn, điều phối, theo dõi, kiểm tra và tổng hợp kết quả; đồng thời chủ trì xây dựng, phát triển, quản lý và vận hành Hệ thống ứng dụng tác nghiệp dùng chung. Văn phòng tỉnh ủy, thành ủy có trách nhiệm tổ chức triển khai tại địa phương, bảo đảm hạ tầng, tài khoản, chữ ký số, dữ liệu, số hóa, hỗ trợ người dùng và an ninh trong phạm vi quản lý. Cấp cơ sở tập trung sử dụng các nền tảng dùng chung, thực hiện nghiệp vụ trên môi trường số và cập nhật dữ liệu đầy đủ, chính xác, kịp thời.

Việc theo dõi, đánh giá kết quả được thực hiện dựa trên dữ liệu vận hành, nhật ký hệ thống, trạng thái hồ sơ, kết quả kiểm tra tự động và phản hồi của người dùng. Kế hoạch nhấn mạnh không đánh giá chuyển đổi số chỉ bằng số lượng phần mềm, văn bản hay số trang tài liệu được số hóa, mà tập trung vào mức độ sử dụng thực tế, chất lượng dữ liệu, khả năng xử lý toàn trình, hiệu quả giảm thao tác thủ công, an ninh và mức độ hài lòng.

Xem toàn văn Kế hoạch 213-KH/VPTW tại đây.


Thương Huyền

Các tin khác

Không có dữ liệu

Chủ trương, chính sách mới

Hồ sơ - Sự kiện - Nhân chứng